Khi Xem Muôn Vật - How Great Thou Art

Từ Thu Vien Tin Lanh
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

How Great Thou Art là một trong những bài thánh ca được nhiều người ưa thích nhất trên thế giới. Tại Hoa Kỳ, vào năm 1974 How Great Thou Art đứng đầu danh sách những bài thánh ca được ưu chuộng. Vào năm 2001, một cuộc thăm dò trong cộng đồng Tin Lành nói tiếng Anh khắp thế giới, How Great Thou Art được sắp hạng thứ hai trong những bài thánh ca được yêu thích nhất từ xưa đến nay. Bài hát này chỉ đứng sau bài Amazing Grace.

Tác Giả

Tác giả của bài thánh ca How Great Thou Art là Karl Gustav Boberg (1859-1940), thường được viết trong tiếng Anh là Carl Boberg. Carl Boberg là một nhà thơ, nhà văn, là thượng nghị sĩ và cũng là một mục sư người Thụy Điển.

Carl Boberg sinh ngày 16/8/1855 tại thị trấn Mönsterås, quận Kalmar, tỉnh Småland, Thụy Điển. Carl Boberg là con trai của ông bà Olaf và Bittner Boberg. Cụ Olaf Boberg, cha của Carl Boberg, là một người thợ mộc. Từ thời trẻ, Carl Boberg làm thủy thủ một thời gian ngắn. Năm 19 tuổi, Carl Boberg theo học thần học tại Kristinehamm. Sau khi tốt nghiệp, mặc dù dòng họ Boberg là tín hữu Lutheran nhưng Carl Boberg đã nhận lời làm mục sư cho Hội Thánh Mission Covenant tại Mönsterås từ năm 1881 đến 1889.

Bên cạnh chức vụ hầu việc Chúa, Mục sư Carl Boberg cũng viết văn và làm thơ. Mục sư Carl Boberg làm chủ nhiệm tờ Sanningsvittnet (Chứng Nhân Chân Lý), một tuần báo Tin Lành, từ năm 1890 đến 1916. Từ năm 1912 đến 1931, Mục sư Carl Boberg đắc cử và trở thành thượng nghị sĩ của Quốc Hội Thụy Điển. Ông về với Chúa vào năm 1940, để lại hơn 60 thi ca và thánh ca.

Hoàn Cảnh Sáng Tác

Mục sư Carl Boberg kể lại rằng ông đã sáng tác bài thánh ca How Great Thou Art vào năm 1885. Vào một chiều Chúa Nhật, sau lễ thờ phượng, Mục sư Carl Boberg cùng vài người thân rời nhà thờ đang trên đường trở về nhà. Nắng chiều tại Thụy Điển, nơi gần cực bắc của trái đất, có những nét đẹp lung linh, kỳ ảo. Nắng ấm của mùa xuân làm chim hót khắp nơi. Thình lình có một cơn giông nổi lên; sấm vang rền, chớp lấp lánh, sấm sét trên khắp tầng mây. Gió thổi mạnh trên thảo nguyên khiến đồng cỏ và những cánh đồng lúa mì xao động như mặt biển đầy sóng. Mọi người vội vàng tìm chỗ trú ẩn, lánh cơn giông. Không bao lâu sau đó mưa kéo đến đem lại sự tươi mát. Một chặp sau, cơn bão qua đi, một cầu vồng xuất hiện trên bầu trời.

Khi về đến nhà, Mục sư Carl Boberg mở cửa sổ, nhìn ra vịnh Mönsterås phẳng lặng như gương. Ông nghe tiếng chuông nhà thờ ngân vang trong cái tĩnh lặng của ban chiều. Tối hôm đó, Mục sư Carl Boberg sáng tác bài thơ O Store Gud.

Nội dung của bài thơ O Store Gud lấy ý từ Thi Thiên 8:1, 3-4, và Thi Thiên 19:1-4. Tác giả Thi Thiên đã viết như sau: “Các tầng trời rao truyền vinh hiển của Ðức Chúa Trời; bầu trời công bố công việc tay Ngài làm. Ngày ngày truyền rao sứ điệp, đêm đêm bày tỏ tri thức; không dùng lời, chẳng cần tiếng, chẳng ai nghe giọng nói của chúng ra sao nhưng âm thanh của chúng đã lan truyền khắp đất, lời của chúng đã vang đến cùng tận địa cầu.” (Thi Thiên 19:1-4)

“Lạy CHÚA! Chúa của chúng con. Danh Ngài thật oai nghi trên khắp đất biết bao! Ngài đã đặt vinh quang của Ngài trên các tầng trời. Khi con lặng ngắm cõi trời cao: công việc của ngón tay Ngài; mặt trăng và các ngôi sao mà Ngài đã đặt trên không trung. Loài người là gì mà Ngài phải quan tâm đến? Con của loài người là chi mà Ngài phải bận lòng?”(Thi Thiên 8:1,3-4).

Dựa trên ý nghĩa của Lời Chúa trong Thi Thiên, cộng với quan sát các hiện tượng thiên nhiên vào chiều hôm đó Mục sư Carl Boberg đã sáng tác bài thơ O Store Gud.

Mục sư Carl Boberg cho phổ biến bài thơ O Store Gud trên tờ Mönsterås Tidningen vào ngày 13/3/1886. Bài thơ gồm chín phiên khúc. Nguyên văn như sau:

1. O store Gud, när jag den verld beskådar
Som du har skapat med ditt allmaktsord,
Hur der din visdom leder lifvets trådar,
Och alla väsen mättas vid ditt bord;

Refrain:

Då brister själen, ut i lofsångsljud:
O store Gud! O store Gud!
Då brister själen, ut i lofsångsljud:
O store Gud! O store Gud!
2. När jag betraktar himlens höga under,
Der gyllne verldsskepp plöja etern blå,
Och sol och mane mäta tidens stunder
Och vexla om, som tvänne klockor gå;
3. När jag hör åskans röst i stormen brusa
Och blixtens klingor springa fram ur skyn,
När regnets kalla, friska vindar susa
Och löftets båge glänser för min syn;
4. När vestanvindar susa öfver fälten,
När blommor dofta omkring källans strand,
När trastar drilla i de gröna tälten
Ur furuskogens tysta, dunkla rand;
5. När jag i bibeln skådar alla under,
Som Herren gjort sen förste Adams tid,
Hur nådefull han varit alla stunder
Och hjälpt sitt folk ur lifvets synd och strid;
6. När jag hör dårar i sin dårskaps dimma
Förneka Gud och håna hvad han sagt,
Men ser likväl, att de hans hjälp förnimma
Och uppehållas af hans nåd och makt;
7. Och när jag ser hans bild till jorden sväfva
Och göra väl och hjälpa öfverallt,
När jag ser satan fly och döden bäfva
För Herren i förklarad korsgestalt:
8. När tryckt af syndens skuld jag faller neder
Vid nådens tron och ber om nåd och frid
Och han min själ på rätta vägen leder
Och frälsar mig från all min synd och strid;
9. När slutligt alla tidens höljen falla,
Och i åskådning byter sig min tro,
Och evighetens klara klockor kalla
Min frälsta ande till dess sabbatsro;

Sau khi O Store Gud được phổ biến, bài thơ nhanh chóng được nhiều người yêu thích. Vì được yêu chuộng, bài thơ được nhiều người hát. Năm 1888, trong một lần dự hội đồng tại Värmland, Mục sư Carl Boberg nghe một nhóm tín hữu hát một bài dân ca Thụy Điển. Điều làm ông bất ngờ là lời ca chính là bài thơ mà ông đã viết; với vài thay đổi nhỏ.

Năm 1890, tám câu thơ của bài O Store Gud cùng với nốt nhạc được in trong tập Sions Harpan. Năm 1890, Mục sư Carl Boberg bắt đầu làm chủ bút cho tờ Sanningsvittnet. Nhạc và lời của bài thánh ca O Store Gud sau đó được xuất bản trên tờ báo Sanningsvittnet vào ngày 16/4/1891.

Một thời gian sau, Mục sư Carl Boberg trao quyền xuất bản bài thánh ca cho Hội Thánh Mission Covenant Thụy Điển. Toàn bộ chín phiên khúc và nhạc được xuất bản trong tập nhạc của Hội Thánh Covenant vào năm 1891. Ban đầu bài thánh ca được hát theo nhịp ¾. Đến năm 1894, Hội Thánh Mission Covenant Thụy Điển cho in bài thánh ca với nhịp 4/4. Vì thế, bài thánh ca được hát theo nhịp 4/4 kể từ đó cho tới nay.

Dưới đây là hình chụp nguyên văn thánh ca O Store Gud trong cuốn Svenska Missionsförbundets sångbok xuất bản năm 1894. Phiên khúc đầu tiên được in chung với nhạc, những phiên khúc còn lại chỉ in lời thánh ca nhưng không có nhạc.

Bản Dịch Tiếng Đức

Vài năm sau, bài thánh ca O Store Gud được các tín hữu Tin Lành Thụy Điển truyền sang Estonia, một quốc gia nằm đối diện với Thụy Điển bên kia bờ Baltic.

Vào đầu thế kỷ 20, rất nhiều người Đức sống tại Estonia. Tiếng Thụy Điển vốn có nguồn gốc từ tiếng Đức. Đến năm 1907, bài thánh ca O Store Gud được dịch sang tiếng Đức. Bài hát được đặt tên là Wie groß bist Du, dựa theo dòng đầu tiên của bài hát. Bản dịch thánh ca sang tiếng Đức do Manfred von Glehn phiên dịch.

Manfred von Glehn (1867-1924) là một nhà quý tộc người Đức. Ông là một người rất yêu mến Chúa. Trong thời gian sống tại Estonia, Manfred von Glehn đã thực hiện nhiều nỗ lực để thành lập các hội thánh mới và trường Kinh Thánh. Trong những năm cuối đời, Manfred von Glehn cộng tác với Hội Thánh Baptist. Ông sưu tầm, biên soạn và dịch thánh ca sang tiếng Đức. Cuốn thánh ca tiếng Đức do Manfred von Glehn phát hành được dùng rộng rãi tại Estonia và một số quốc gia Bắc Âu. Lời thánh ca mà Manfred von Glehn đã dịch sang tiếng Đức như sau:

1. Du großer Gott, Wenn ich die Welt betrachte,
Die du geschaffen Durch dein Allmachtswort,
Wenn ich auf alle Jene Wesen achte,
Die du regierst Und nährest fort und fort.

Refrain:

Dann jauchzt mein Herz. Dir, großer Herrscher, zu:
Wie groß bist du, Wie groß bist du!
Dann jauchzt mein Herz. Dir, großer Herrscher, zu:
Wie groß bist du, Wie groß bist du!
2. Blick ich empor Zu jenen lichten Welten
Und seh der Sterne Unzählbare Schar,
Wie Sonn und Mond Im lichten Äther zelten,
Gleich gold’nen Schiffen Hehr und wunderbar.
3. Wenn mir der Herr In seinem Wort begegnet,
Wenn ich die großen Gnadentaten seh,
Wie er das Volk Des Eigentums gesegnet,
Wie ers geliebt, Begnadigt je und je:
4. Und seh ich Jesum Auf der Erde wandeln
In Knechtsgestalt Voll Lieb und großer Huld,
Wenn ich im Geiste Seh sein göttlich Handeln,
Am Kreuz bezahlen Vieler Sünder Schuld.
5. Wenn schwerer Bürden Last mich niederbeuget,
Wenn meine Seel Betrübt ist bis zum Tod,
Und er in Lieb Und Huld sich zu mir neiget,
Mich tröstet und Errettet aus der Not.
6. Und wenn der Herr Von hinnen mich gerufen,
Wenn ich von seinem Glanz geblendet steh’,
Anbetend niederfall Zu seinen Stufen,
Den König dort In seiner Schöne seh’.

Bản Dịch Tiếng Nga

Từ Estonia, bài thánh ca Wie groß bist Du được truyền sang Nga. Mục sư Ivan Stepanovic Prochanov đã dịch bài thánh ca này từ tiếng Đức sang tiếng Nga và đặt tên là Великий Бог (Great God). Bài thánh ca được phát hành lần đầu trong cuốn Kymvali xuất bản tại St. Petersburg vào năm 1912. Kymvali là một tập thánh ca nhỏ có tiêu đề “tuyển tập những bài thánh ca được dịch từ nhiều ngôn ngữ.” Tên gọi của cuốn thánh ca Kymvali – Chập Chỏa – lấy ý từ Thi Thiên 150:5 “Hãy dùng chập chỏa dội tiếng, khánh chiêng vang rền mà ca ngợi Ngài.”

Vào đầu thế kỷ 20, Mục sư Ivan S. Prochanov (1869-1935) được xem như là Martin Luther của nước Nga. Mục sư Ivan S. Prochanov là mục sư của Hội Thánh Baptist. Giống như Manfred von Glehn tại Estonia, Mục sư Ivan S. Prochanov là người đã dốc lòng mở mang các chi hội mới, xây dựng trường Kinh Thánh và thành lập các chủng viện tại Nga. Mục sư Ivan S. Prochanov cũng sáng tác và phiên dịch rất nhiều thánh ca. Về sau, Mục sư Ivan S. Prochanov được các nhà nghiên cứu công nhận là người đã sáng tác và dịch nhiều thánh ca nhất tại Nga từ trước đến nay. Vì những hoạt động đó, Mục sư Ivan S. Prochanov bị chính quyền cách mạng Nga bỏ tù nhiều lần, và sau đó ông bị trục xuất khỏi nước Nga.

Năm 1922 một số tập thánh ca do Mục sư Ivan S. Prochanov xuất bản đã được tổng hợp lại thành một cuốn thánh ca lớn. Cuốn thánh ca mới mang tên là Những Bài Hát Của Người Tin Chúa, được xuất bản bằng tiếng Nga tại New York, do những người bạn của Mục sư Ivan S. Prochanov tại Thánh Kinh Hội bảo trợ. Trong tuyển tập thánh ca này có bài Великий Бог.

Đến năm 1927, cuốn Những Bài Hát Của Người Tin Chúa được phép chính thức xuất bản tại Nga. Từ đó, cuốn thánh ca Tin Lành trong tiếng Nga không chỉ phổ biến tại Nga nhưng được dùng tại nhiều quốc gia Đông Âu, nơi nước Nga chiếm đóng. Qua cuốn thánh ca này, bài thánh ca Великий Бог được truyền sang Đông Âu.

Bản Dịch Tiếng Anh

Bản dịch đầu tiên bài thánh ca O Store Gud sang tiếng Anh do E. Gustav Johnson (1893-1974), một giáo sư của North Park College tại Illinois thực hiện. Giáo sư Johnson đã dịch năm phiên khúc 1, 2, 7, 8, 9 từ tiếng Thụy Điển và đặt tên bài thánh ca trong tiếng Anh là O Mighty God. Bài thánh ca O Mighty God được xuất bản trong cuốn Covenant Hymnal của Giáo hội Covenant vào năm 1925; tuy nhiên bản dịch thánh ca này chỉ phổ biến trong cộng đồng của Giáo hội Covenant chứ không được đón nhận rộng rãi từ công chúng.

Lời Thánh Ca Anh

Lời thánh ca thứ hai trong tiếng Anh mà chúng ta dùng phổ biến ngày nay là How Great Thou Art do Mục sư Stuart Wesley Keene Hine viết. Bài thánh ca How Great Thou Art, lấy ý từ bài thơ O Store Gud, nhưng không phải là bản dịch của bài thánh ca này. Mục sư Stuart K. Hine (1899-1989) thuật lại hoàn cảnh ông viết lời tiếng Anh cho bài How Great Thou Art tóm tắt như sau.

Stuart K. Hine là mục sư của Hội Thánh Tin Lành Giám Lý tại Anh Quốc. Từ nhỏ, cha mẹ ông đã cầu nguyện dâng ông cho Chúa để sau này hầu việc Chúa với Salvation Army, một cơ quan từ thiện Tin Lành. Stuart K. Hine tin Chúa vào năm 1914. Thuở nhỏ, Stuart K. Hine thường đi nhà thờ và chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những bài giảng của Mục sư Charles Spurgeon. Lớn lên, ông theo học trường Kinh Thánh và cộng tác với Hội Thánh Tin Lành Giám Lý Anh Quốc.

Vào giữa thập niên 1920, Mục sư Stuart K. Hine và vợ là Edit Hine đến làm giáo sĩ tại miền tây của nước Ukraine. Trong thời gian hầu việc Chúa với người Ukraine, Mục sư Stuart K. Hine đã nhiều lần hát bài thánh ca Великий Бог trong tiếng Nga.

Mục sư Stuart K. Hine cho biết nguyên nhân của việc viết câu đầu tiên của bài thánh ca trong tiếng Anh diễn ra vào dịp ông đến thăm một ngôi làng nhỏ trong rặng núi Carpathian tại Czechoslovakia, gần biên giới Ukraine vào năm 1931. Trên đường đến ngôi làng này, Mục sư Stuart K. Hine đã gặp một trận bão kinh hoàng và ông phải tìm chỗ trú qua đêm. Kinh nghiệm đó làm Mục sư Stuart K. Hine nhớ lại lời thánh ca Великий Бог trong tiếng Nga mà ông vẫn hát.

Mặc dầu kinh nghiệm của Mục sư Stuart K. Hine không hoàn toàn giống kinh nghiệm của Mục sư Carl Boberg, ông đã được nhắc nhở về những công trình kỳ diệu trong thiên nhiên mà Chúa đã tạo dựng. Sau đó, Mục sư Stuart K. Hine viết lại những cảm nhận của mình thành lời ca trong tiếng Nga. Một thời gian sau, ông viết lại những điều đó trong tiếng Anh.

Câu thứ hai trong bài thánh ca How Great Thou Art được sáng tác khi Mục sư Stuart K. Hine đến thăm các tín hữu trong vùng núi Bukhovina tại Romania. Tại đây ông được ngắm cảnh hùng vĩ của núi rừng. Trong đêm đó, ông nghe những thanh niên của hội thánh địa phương hát đi hát lại bài Великий Бог. Lời bài hát quyện với tiếng đàn guitar và mandolin trong đêm tối giữa cánh rừng trên núi cao làm Mục sư Stuart K. Hine cảm động. Cảm xúc đó giúp ông viết câu thứ hai về thiên nhiên kỳ vĩ mà Chúa đã tạo dựng.

Mục sư Stuart K. Hine cho biết câu thứ ba của bài thánh ca được viết trong một hoàn cảnh khá đặc biệt. Trước khi đến thăm những ngôi làng tại Ukraine để truyền giáo, Mục sư và bà Stuart K. Hine thường hỏi tại nơi đó có người nào tin Chúa chưa. Trong một lần như vậy, người dẫn đường cho biết nơi họ sắp đến có vợ chồng của ông bà Dmitri và Lyudmila đã tin Chúa. Bà Lyudmila là một người ở miền quê nhưng biết đọc tiếng Nga. Đây là một trường hợp rất đặc biệt vào thời đó. Lý do bà Lyudmila biết đọc chữ là nhờ một người lính Nga từng trú đóng tại vùng này, khi rút quân đã để lại một cuốn Kinh Thánh. Bà Lyudmila tự tập đọc bằng cách đọc Kinh Thánh. Sau một thời gian, Chúa cho bà đọc thành thạo tiếng Nga, dù bà chưa bao giờ đến trường.

Khi Mục sư và bà Stuart K. Hine đến thăm gia đình này, lúc ông bà đến ngoài sân, họ nghe bên trong nhà bà Lyudmila đang đọc Phúc Âm Giăng về sự hy sinh của Chúa trên thập tự để gánh thay hình phạt cho mọi người. Những người khách Ukraine đang đến thăm bà Lyudmila nghe và xúc động sâu xa về tình yêu thương của Đức Chúa Trời; vì tình yêu đó Đức Chúa Trời đã sai chính Con Ngài đến thế gian hy sinh vì tội lỗi của họ. Những người Ukraine sau khi được nghe lời Kinh Thánh đã cầu nguyện lớn tiếng bày tỏ sự ăn năn thống hối.

Vì không muốn quấy rầy buổi nhóm đang được Đức Thánh Linh thăm viếng, ông bà Stuart K. Hine tiếp tục đứng bên ngoài. Mục sư Stuart K. Hine đã ghi lại lời cầu nguyện ăn năn của những người Ukraine vang ra từ ngôi nhà của bà Lyudmila vào cuốn sổ tay của mình. Những lời cầu nguyện đó chính là ý của câu số ba trong bài thánh ca How Great Thou Art.

Mục sư Stuart K. Hine cho biết câu thứ tư của bài thánh ca chỉ được sáng tác sau khi Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc. Do ảnh hưởng của kế hoạch diệt chủng của Stalin bằng cách để hàng triệu người Ukraine chết đói vào mùa đông năm 1932, Mục sư Stuart K. Hine bị buộc phải rời khỏi Ukraine. Đến năm 1939, ông bà rời Đông Âu trở về Anh quốc. Mục sư Stuart K. Hine rất buồn và trăn trở với Chúa vì sao công việc truyền giáo tại Ukraine và Đông Âu phải bị gián đoạn.

Đệ Nhị Thế Chiến diễn ra. Hàng triệu người tỵ nạn Đông Âu tràn vào nước Anh. Lúc đó, Mục sư Stuart K. Hine mới biết rằng Chúa đã có một kế hoạch khác. Thay vì ông bà đến truyền giáo tại Đông Âu, Chúa mang những người Đông Âu đến cho ông bà chăm sóc họ.

Sau đó, Mục sư và bà Stuart K. Hine tiếp tục công tác truyền giáo cho người tỵ nạn. Mặc dầu những người Đông Âu được bình an trong cuộc sống mới tại Anh, nhiều người vẫn buồn và hỏi rằng khi nào họ được về lại quê hương.

Có một tân tín hữu Ukraine lạc mất vợ trong những năm chiến tranh. Lúc hai người lạc nhau, vợ của ông đã tin Chúa còn ông lúc ấy chưa tin Chúa. Tân tín hữu này biết chắc là ông không thể nào gặp lại người vợ của mình trên đất này, ông đã nói với Mục sư Stuart K. Hine rằng ông trông chờ ngày Chúa trở lại để gặp Chúa và người vợ yêu dấu của mình trên thiên đàng. Câu chuyện của người tín hữu này là nguồn cảm hứng cho Mục sư Stuart K. Hine viết thêm câu thứ tư của bài How Great Thou Art vào năm 1948.

Nguyên văn lời thánh ca How Great Thou Art mà Mục sư Stuart K. Hine đã viết trong tiếng Anh như sau:

1. O Lord my God, when I in awesome wonder
Consider all the works Thy Hand hath made,
I see the stars, I hear the mighty thunder,
Thy pow’r throughout the universe displayed;

Refrain:

Then sings my soul, My Saviour God, to Thee,
How great Thou art! How great Thou art!
Then sings my soul, My Saviour God, to Thee,
How great Thou art! How great Thou art!
2. When through the woods and forest glades I wander
I hear the birds sing sweetly in the trees;
When I look down from lofty mountain grandeur
And hear the brook and feel the gentle breeze,
3. But when I think that God, His Son not sparing,
Sent Him to die, I scarce can take it in,
That on the cross my burden gladly bearing
He bled and died to take away my sin.
4. When Christ shall come, with shouts of acclamation,
And take me home, what joy shall fill my heart!
Then I shall bow in humble adoration
And there proclaim, “My God! How great Thou art!”

Phổ Biến Rộng Rãi

Bốn câu của bài thánh ca How Great Thou Art mà Mục sư Stuart K. Hine đã sáng tác, sau đó được ông xuất bản trong tạp truyền giáo Grace and Peace trong tiếng Nga vào năm 1949. Tạp chí truyền giáo này được phổ biến trong cộng đồng tỵ nạn Nga tại 15 quốc gia trên thế giới. Sau khi tờ báo được phát hành, bài hát được loan truyền rộng rãi trong cộng đồng tín hữu nói tiếng Nga. Các giáo sĩ người Anh có dịp đọc tạp chí này, từ khắp nơi trên thế giới các nhà truyền giáo đã gởi thư về London yêu cầu xin tái bản bài thánh ca.

Bài thánh ca được giới thiệu lần đầu tại Hoa Kỳ vào năm 1951. Giáo sĩ James Caldwell, một nhà truyền giáo tại Trung Phi đã hát thánh ca này trong đại hội truyền giáo tại Stony Brook, New York vào năm đó.

Năm 1954, Đoàn Truyền Giảng của Mục sư Billy Graham đến tổ chức chương trình truyền giảng Tin Lành tại London. Một ấn bản của bài thánh ca How Great Thou Art được George Gray trao cho George Beverly Shea, một trong hai người đặc trách âm nhạc của Đoàn Truyền Giáo Billy Graham. Tuy nhiên vì thời gian quá ngắn không kịp chuẩn bị, bài thánh ca đã không được trình bày trong chương trình truyền giảng tại London vào năm đó.

Năm sau, Cliff Barrows cùng ban hợp xướng hàng trăm người đã hát bài thánh ca này trong chương trình truyền giảng của Đoàn Truyền Giáo Billy Graham tại Toronto, Canada (1955). Sau đó, bài thánh ca được Đoàn Truyền Giáo Billy Graham dùng trong chương trình phát thanh Giờ Quyết Định và các chương trình truyền giảng khác tại Hoa Kỳ. Theo Cliff Barrows, đến năm 1957 khi chương trình truyền giảng tại New York được tổ chức, ông và ban hợp xướng của Đoàn Truyền Giáo Billy Graham đã hát bài thánh ca này 99 lần.

Từ đó, bài thánh ca How Great Thou Art được phổ biến rộng rãi và được công chúng tại Hoa Kỳ yêu thích. Theo một thống kê, bài How Great Thou Art đã được các phòng thu thanh ghi âm hơn 1700 lần. Bài thánh ca đã được trình bày rất nhiều lần bởi nhiều ca sĩ nổi tiếng. Bài thánh ca được phổ biến trên hàng trăm đài phát thanh, truyền hình và xuất hiện trong nhiều bộ phim.

Chính ca sĩ Elvis Presley, người được mệnh danh là vua nhạc rock, cũng đã nhiều lần trình bày bài thánh ca How Great Thou Art. Ca sĩ Elvis Presley đã thắng hai giải Grammy Award vào năm 1967 và 1974 vì trình diễn bài thánh ca này. Tháng 4/2011, ca sĩ Carrie Underwood đã trình bày bài thánh ca How Great Thou Art trong đêm trao giải American Country Music Award dành cho các nữ ca sĩ. Sau khi chương trình phát hình của đài CBS kết thúc, How Great Thou Art trở thành bài hát xếp hạng nhất trong danh sách iTunes Gospel Songs và được lọt vào Top 40 iTunes cho mọi thể loại âm nhạc. Trong nhiều tháng liên tục, bài thánh ca How Great Thou Art được liệt vào danh sách nhiều người xem nhất trên YouTube tại hơn 30 quốc gia.

Dịch Sang Tiếng Việt

Bài How Great Thou Art được Mục sư Vũ Văn Cư (1915-1977) dịch sang tiếng Việt. Mục sư Vũ Văn Cư là giáo sư đặc trách âm nhạc của Trường Kinh Thánh Đà Nẵng và Thánh Kinh Thần Học Viện Nha Trang.

Mục sư Vũ Văn Cư vốn là một thanh niên tại Hà Nội. Từ thời còn trẻ, ông có năng khiếu về âm nhạc. Thanh niên Vũ Văn Cư tin nhận Chúa vào năm 19 tuổi (1934). Hai năm kế tiếp, ông sinh hoạt với Hội Thánh Hà Nội và có dịp học biết thêm về thánh nhạc. Sau đó, thanh niên Vũ Văn Cư quyết định dâng mình trở thành người hầu việc Chúa. Ông được nhận vào học thần học tại Trường Kinh Thánh Đà Nẵng từ 1936-1938. Sau đó, ông được bổ nhiệm về làm Truyền Đạo Sinh tại Sapa, Lạng Sơn, lo mở mang công việc Chúa giữa người Thổ, Mán và Nùng trong hai năm. Sau hai năm tập sự, tháng 9 năm 1940, ông được gọi về trường hoàn tất chương trình huấn luyện thần học.

Mục sư Vũ Văn Cư tốt nghiệp Trường Kinh Thánh Đà Nẵng vào mùa hè năm 1941. Nhận biết khả năng âm nhạc của ông, Ban Đốc Học Trường Kinh Thánh Đà Nẵng đã giữ ông lại trường, làm phụ giáo, đặc trách việc dạy âm nhạc cho các sinh viên thần học. Bên cạnh đó, ông được cử làm một thành viên trong Ủy Ban Biên Soạn Thánh Ca cho Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Mười năm sau, Truyền đạo Vũ Văn Cư được phong chức mục sư vào năm 1951, cùng năm với cuốn thánh ca mới của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam được xuất bản.

Mục sư Vũ Văn Cư tiếp tục chức vụ giảng dạy tại Trường Kinh Thánh Đà Nẵng (1941-1960), và sau đó tại Thánh Kinh Thần Học Viện Nha Trang (1960-1975). Bên cạnh việc dạy âm nhạc, Mục sư Vũ Văn Cư đã dạy các môn Lịch Sử Thánh Nhạc, Thánh Kinh Địa Lý và Lịch Sử Hội Thánh.

Bài thánh ca How Great Thou Art được Mục sư Vũ Văn Cư dịch sang tiếng Việt vào thập niên 1960 với tựa đề là Lớn Bấy Duy Ngài. Trong thời gian đầu, bài hát được giới thiệu cho các sinh viên Thần Học Viện, sau đó được phổ biến trong cộng đồng sinh viên học sinh Tin Lành. Bài hát được in trong tập Ca Khúc Muôn Đời, Phúc Âm Ca, và rất nhiều tập thánh nhạc với những tên gọi khác nhau như Khi Xem Muôn Vật, Hồn Ngợi Khen Chúa, Lớn Bấy Duy Ngài, và sau cùng Thánh Chúa Siêu Việt. Lời Việt của bài thánh ca được Mục sư Vũ Văn Cư dịch như sau:

1. Khi xem muôn vật do tay Thiên Chúa sáng tạo chúng.
Cứu Chúa của tôi! Lòng cảm xúc bao kinh sợ.
Tôi xem sao trời. Tôi nghe muôn tiếng sấm rền nổ.
Khắp khắp đó đây, quyền của Chúa ôi vô bờ!

Điệp Khúc:

Hồn ngợi khen Chúa! Cứu Chúa tôi: Ðức Chúa Trời.
Chúa Đấng siêu việt! Quyền bính vô cùng!
Hồn ngợi khen Chúa! Cứu Chúa tôi: Ðức Chúa Trời.
Duy Ngài đại năng, cao cả quyền oai.
2. Khi tôi lên tận non cao trông xuống dưới vực thẳm.
Suối róc rách reo hoà tấu khúc ca êm đềm.
Tôi vô trong rừng, muôn cây chen chúc cỏ mọc xanh.
Riú rít tiếng chim mừng hót khúc ca thanh bình.
3. Khi tôi suy nghiệm Cha sai Con giáng thế chịu chết
Chúa chẳng tiếc Con, Ngài phó cả cho tôi rồi.
Ôi ơn sâu rộng, xưa tôi đâu nghĩ đến dường ấy!
Chúa chết huyết tuôn, Ngài gánh thế tôi muôn tội.
4. Khi Christ lai hồi vang vang muôn ức tiếng tụng tán
Ðến tiếp rước tôi về với Chúa trên Thiên Ðàng
Tâm tôi vui mừng khiêm nhu cung kính bái phục mãi
Ở đó chúc tôn, Ngài lớn bấy ơn tuôn tràn.

Trên thế giới, How Great Thou Art được công nhận là thánh ca và được in trong các thánh ca chính thức của nhiều hội thánh. Tại Việt Nam, vì bài thánh ca được dịch sau khi cuốn Thánh Ca của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam xuất bản, do đó bài hát được liệt vào danh sách những bài biệt thánh ca. Sau năm 1975, bản dịch Việt Ngữ của Mục sư Vũ Văn Cư đã được Giáo hội Baptist, Giáo hội Giám Lý và Giáo hạt Tin Lành Việt Nam tại Hoa Kỳ chọn làm thánh ca và xuất bản trong các cuốn thánh ca của các hội thánh này với vài sửa đổi nhỏ. Năm 2011, bài Lớn Bấy Duy Ngài được chính thức in trong cuốn Thánh Ca của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (Miền Nam).

Tài Liệu