Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 39

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB02C039)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Họ dùng chỉ màu tím, đỏ điều, đỏ sặm mà chế bộ áo định cho sự tế lễ trong nơi thánh, và bộ áo thánh cho A-rôn, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.

2. Vậy, họ chế ê-phót bằng kim tuyến, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và vải gai đậu mịn. 3. Họ căng vàng lá ra, cắt thành sợi chỉ mà xen cùng chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và chỉ gai mịn, chế thật cực xảo. 4. Họ may hai đai vai ê-phót, đâu hai đầu dính lại. 5. Đai để cột ê-phót, phía ngoài, làm nguyên miếng một y như công việc của ê-phót: bằng kim tuyến, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và bằng chỉ gai đậu mịn, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se. 6. Họ khảm trong khuôn vàng các bích ngọc có khắc tên các chi phái Y-sơ-ra-ên, như người ta khắc con dấu. 7. Họ để các ngọc đó trên đai vai ê-phót đặng làm ngọc kỷ niệm về dân Y-sơ-ra-ên, y như lời Đức Giê-hô-va phán dặn Môi-se.

8. Họ cũng chế bảng đeo ngực cực xảo, như công việc ê-phót: bằng kim tuyến, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và chỉ gai đậu mịn. 9. Bảng đeo ngực may lót, hình vuông, bề dài một em-ban, bề ngang một em-ban. 10. Họ nhận bốn hàng ngọc: hàng thứ nhất, ngọc mã não, ngọc hồng bích, và ngọc lục bửu; 11. hàng thứ nhì, ngọc phỉ túy, ngọc lam bửu, và ngọc kim cương; 12. hàng thứ ba, ngọc hồng bửu, ngọc bạch mã não, và ngọc tử tinh; 13. hàng thứ tư, ngọc huỳnh bích, ngọc hồng mã não, và bích ngọc. Các ngọc nầy đều khảm vàng. 14. Số ngọc là mười hai, tùy theo số danh của các con trai Y-sơ-ra-ên. Mỗi viên ngọc có khắc một tên trong mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên như người ta khắc con dấu.

15. Đoạn, trên bảng đeo ngực họ chế các sợi chuyền bằng vàng ròng, đánh lại như hình dây. 16. Cũng làm hai cái móc và hai cái khoanh bằng vàng, để hai khoanh nơi hai góc đầu bảng đeo ngực; 17. cùng cột hai sợi chuyền vàng vào hai khoanh đó. 18. Rồi chuyền hai đầu của hai sợi chuyền vào móc gài nơi đai vai ê-phót, về phía trước ngực. 19. Cũng làm hai khoanh vàng khác để vào hai góc đầu dưới của bảng đeo ngực, về phía trong ê-phót. 20. Lại làm hai khoanh vàng khác nữa để nơi đầu dưới của hai đai vai ê-phót, về phía trước, ở trên đai, gần chỗ giáp mối. 21. Họ lấy một sợi dây màu tím, cột hai cái khoanh của bảng đeo ngực lại cùng hai cái khoanh ê-phót, hầu cho nó dính với đai và đừng rớt khỏi ê-phót, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.

22. Họ cũng chế áo dài của ê-phót bằng vải thường toàn màu tím. 23. Cổ để tròng đầu vào, ở về chính giữa áo, như lỗ áo giáp, có viền chung quanh cho khỏi tét. 24. Nơi trôn áo, thắt những trái lựu bằng chỉ xe mịn màu tím, đỏ điều, đỏ sặm; 25. lại làm chuông nhỏ bằng vàng ròng, gắn giữa hai trái lựu, vòng theo chung quanh trôn áo; 26. cứ một trái lựu, kế một cái chuông nhỏ, vòng theo chung quanh trôn áo dùng để hầu việc, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.

27. Họ cũng chế áo lá mặc trong bằng vải gai mịn, dệt thường, cho A-rôn cùng các con trai người; 28. luôn cái mũ, đồ trang sức của mũ, và quần lót trong, đều bằng vải gai đậu mịn; 29. cùng cái đai bằng vải gai đậu mịn, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, có thêu, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.

30. Họ cũng dùng vàng lá ròng chế cái thẻ thánh, khắc trên đó như người ta khắc con dấu, rằng: Thánh Cho Đức Giê-hô-va! 31. Rồi lấy một sợi dây tím đặng cột để trên mũ, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.

32. Các công việc của đền tạm và hội mạc làm xong là như vậy. Dân Y-sơ-ra-ên làm y như mọi lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se. 33. Họ đem đền tạm đến cho Môi-se: Trại và các đồ phụ tùng của Trại, nọc, ván, xà ngang, trụ và lỗ trụ; 34. bong da chiên đực nhuộm đỏ, bong da cá nược và cái màn; 35. hòm bảng chứng và đòn khiêng, cùng nắp thi ân; 36. bàn và đồ phụ tùng của bàn cùng bánh trần thiết; 37. chân đèn bằng vàng ròng, thếp đèn đã sắp sẵn, các đồ phụ tùng của chân đèn và dầu thắp, 38. bàn thờ bằng vàng, dầu xức, hương liệu, tấm màn của cửa Trại; 39. bàn thờ bằng đồng và rá đồng, đòn khiêng, các đồ phụ tùng của bàn thờ, thùng và chân thùng; 40. các bố vi của hành lang, trụ, lỗ trụ, màn của cửa hành lang, dây, nọc, hết thảy đồ phụ tùng về việc tế lễ của đền tạm; 41. bộ áo lễ đặng hầu việc trong nơi thánh, bộ áo thánh cho A-rôn, thầy tế lễ cả, và bộ áo của các con trai người để làm chức tế lễ.

42. Dân Y-sơ-ra-ên làm mọi công việc nầy y như mạng lịnh của Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se. 43. Môi-se xem các công việc làm, thấy họ đều làm y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn; đoạn Môi-se chúc phước cho họ.

Bản Dịch 2011

Làm Ê-phót

(Xuất 28:1-14)

1 Người ta dùng chỉ xanh dương, chỉ tím, và chỉ đỏ thắm may một bộ lễ phục thật trang trọng để dùng khi hành lễ trong Nơi Thánh. Họ may một bộ lễ phục thánh cho A-rôn, như CHÚA đã truyền cho Môi-se.

2 Ông làm chiếc ê-phót bằng vàng, chung với chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, và vải dệt bằng sợi gai mịn. 3 Họ lấy vàng lá, dát mỏng, cắt thành sợi, rồi thêu với chỉ xanh dương, chỉ tím, và chỉ đỏ thắm trên vải dệt bằng sợi gai mịn, làm thành một tác phẩm rất mỹ thuật. 4 Họ làm hai cầu vai cho ê-phót và nối liền chúng với hai thân ở hai mép. 5 Ðai cột ê-phót cũng được làm bằng các vật liệu đó và với cách đó, tức làm bằng vàng, chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, và vải dệt bằng sợi gai mịn, như CHÚA đã truyền cho Môi-se.

6 Họ lấy các viên bạch bảo ngọc có vân đã được cắt mài sẵn, gắn vào các khuôn bằng vàng, rồi khắc vào đó theo cách người ta khắc con dấu tên các con trai của I-sơ-ra-ên. 7 Rồi ông gắn các khuôn đó vào hai cầu vai của ê-phót, để làm các viên ngọc tưởng nhớ các con trai của I-sơ-ra-ên, như CHÚA đã truyền cho Môi-se.

Làm Túi Ðeo Ngực

(Xuất 28:15-30)

8 Ông cũng làm túi đeo ngực một cách rất mỹ thuật, như cách làm ê-phót, tức dùng vàng, chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, và vải dệt bằng sợi gai mịn. 9 Túi ấy hình vuông; túi đeo ngực ấy có hai lớp, chiều dọc một gang tay và chiều ngang một gang tay; cả hai lớp đều như thế. 10 Họ gắn vào đó bốn hàng bửu ngọc. Hàng thứ nhất: hồng bửu ngọc, hoàng bích ngọc, và lam bích ngọc; 11 hàng thứ nhì: lam lục ngọc, lam bảo ngọc, và nguyệt quang ngọc; 12 hàng thứ ba: hoàng hồng ngọc, bạch lục ngọc, và tử bửu ngọc; 13 và hàng thứ tư: lục bích ngọc, bạch bảo ngọc, và lục bửu ngọc. Các viên ngọc ấy được khảm vào những ổ của một khuôn vàng. 14 Có cả thảy mười hai viên ngọc; mỗi viên đều có khắc tên các con trai của I-sơ-ra-ên theo thứ tự. Những viên ngọc đó giống như những con dấu, mỗi viên đều có tên riêng, theo tên mười hai chi tộc.

15 Họ làm những dây chuyền bằng vàng, xoắn lại như kiểu dây thừng, rồi gắn trên túi đeo ngực. 16 Họ làm hai khuôn bằng vàng và hai khoen bằng vàng, rồi gắn hai khoen đó vào hai mép của túi đeo ngực. 17 Họ lấy hai sợi dây chuyền vàng gắn một đầu vào hai khoen ở hai mép của túi đeo ngực. 18 Còn hai đầu kia của hai sợi dây chuyền vàng họ gắn vào phía trước hai khuôn, trên hai cầu vai của ê-phót. 19 Họ làm hai khoen bằng vàng, rồi gắn chúng vào hai mép, bên lớp trong của túi đeo ngực, tức sát với ê-phót. 20 Họ cũng làm hai khoen bằng vàng khác, rồi gắn chúng vào mặt dưới trước của hai cầu vai ê-phót, nơi chỗ giáp mối, bên trên giải nịt vai của ê-phót. 21 Người ta lấy một rẻo vải xanh dương buộc các khoen vàng của túi đeo ngực với những khoen vàng của ê-phót lại với nhau, để túi đeo ngực nằm bên trên đai của ê-phót, và để túi đeo ngực sẽ không rời khỏi ê-phót, y như CHÚA đã truyền cho Môi-se.

May Áo Choàng

(Xuất 28:31-35)

22 Ông làm một chiếc áo choàng dệt toàn bằng chỉ xanh dương để mặc bên dưới ê-phót. 23 Ở giữa áo ấy có một lỗ làm cổ để chui đầu vào như áo giáp; xung quanh cổ được viền lại thật chắc để khỏi rách. 24 Phía dưới lai áo người ta làm những trái lựu bằng chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, và vải dệt bằng sợi gai mịn. 25 Người ta cũng làm những chuông nhỏ bằng vàng ròng, rồi đính chúng vào dưới lai áo, xen kẽ giữa những trái lựu quanh lai áo. Họ đính chúng xen kẽ giữa những trái lựu, 26 cứ một cái chuông thì đến một trái lựu, một cái chuông thì đến một trái lựu, quanh dưới lai áo choàng, để mặc vào khi cử hành thánh lễ, như CHÚA đã truyền cho Môi-se.

May Các Lễ Phục

(Xuất 28:40-43)

27 Họ làm cho A-rôn và các con trai ông những áo lễ dài, dệt bằng vải gai mịn, 28 chiếc mũ tế bằng vải gai mịn, các mão phụng vụ bằng vải gai mịn, các quần đùi bằng vải gai, tức vải do sợi gai mịn dệt lại, 29 và đai lưng bằng chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, thêu cách mỹ thuật trên vải gai mịn, như CHÚA đã truyền cho Môi-se.

Làm Thẻ Thánh

(Xuất 28:36-39)

30 Họ làm một thẻ bằng vàng ròng để làm biểu tượng cho sự thánh khiết, rồi khắc trên đó một hàng chữ như cách khắc con dấu rằng, “Thánh cho CHÚA.” 31 Rồi họ dùng một sợi dây làm bằng chỉ xanh dương buộc thẻ đó trên mũ tế, như CHÚA đã truyền cho Môi-se.

Công Việc Ðược Hoàn Tất

(Xuất 35:10-19)

32 Như vậy mọi công việc xây dựng Ðền Tạm, tức Lều Hội Kiến, đã hoàn tất. Dân I-sơ-ra-ên đã làm mọi việc y như CHÚA đã truyền cho Môi-se. 33 Ðoạn họ trình cho Môi-se mọi vật họ đã làm cho Ðền Tạm: cái lều và mọi dụng cụ cho lều, các móc, các tấm ván tường, các thanh ngang, các cây trụ, các đế trụ, 34 tấm bạt che bên trên bằng da chiên nhuộm đỏ, tấm bạt làm bằng da thượng hạng để che bên trên tấm ấy, bức màn, 35 Rương Giao Ước, các đòn khiêng, và Nắp Thi Ân, 36 bàn thờ dâng bánh, các dụng cụ của bàn thờ, và Bánh Hằng Hiến, 37 cây đèn bằng vàng ròng, các đèn vàng gắn trên cây đèn, mọi dụng cụ cho cây đèn, và dầu thắp đèn, 38 bàn thờ bằng vàng, dầu dùng cho phép xức dầu, và hương thơm, tấm màn chắn nơi cửa vào lều, 39 bàn thờ bằng đồng, rá lưới bằng đồng, các đòn khiêng, và mọi dụng cụ cho bàn thờ đó, cái đỉnh đồng và đế đỉnh, 40 các tấm màn làm tường vải che quanh sân, các cây cột, các đế cột, tấm màn chắn nơi cổng vào sân đền, các dây thừng, các cây cọc, và mọi dụng cụ cần thiết cho sự phụng vụ trong Ðền Tạm, tức Lều Hội Kiến, 41 các lễ phục may tuyệt khéo dùng cho sự phụng vụ trong Nơi Thánh, tức bộ lễ phục thánh cho Tư Tế A-rôn, các bộ lễ phục cho các con trai ông để họ mặc vào khi thi hành chức vụ tư tế. 42 Dân I-sơ-ra-ên đã hoàn tất mọi công việc như CHÚA đã truyền cho Môi-se. 43 Khi Môi-se thấy họ đã thực hiện xong mọi việc như CHÚA đã truyền, ông chúc phước cho họ.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu