I Tê-sa-lô-ni-ca: Chương 2

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB52C002)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch Việt Ngữ

1. Anh em! Chính anh em biết rằng việc chúng tôi đến với anh em không phải là vô ích; 2. dù chúng tôi đã bị đau đớn và bị sỉ nhục tại Phi-líp - như anh em đã biết - nhưng chúng tôi đã mạnh dạn trong Đức Chúa Trời của chúng ta, công bố cho anh em Phúc Âm của Đức Chúa Trời giữa nhiều chống đối.

3. Vì lời khẩn khoản trình bày của chúng tôi không phải do lỗi lầm, cũng không bất khiết, cũng không lường gạt; 5. nhưng chỉ vì chúng tôi đã được chấp thuận bởi Đức Chúa Trời, được ủy thác với Phúc Âm, cho nên chúng tôi nói, không phải để làm hài lòng loài người, nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng dò xét lòng của chúng tôi.

5. Như anh em biết, và Đức Chúa Trời làm chứng, chúng tôi không bao giờ dùng những lời dua nịnh hoặc vì động cơ tư lợi; 6. hoặc tìm kiếm vinh quang từ loài người, không phải từ anh em cũng không phải từ những người khác, mặc dù với tư cách sứ đồ của Đấng Christ, chúng tôi có quyền đó.

7. Nhưng ở giữa anh em, chúng tôi dịu dàng như một người mẹ chăm sóc trìu mến các con của mình. 8. Vì chúng tôi yêu mến anh em tha thiết, chúng tôi sẵn lòng trao cho anh em không phải chỉ Phúc Âm của Đức Chúa Trời, nhưng cả mạng sống của chúng tôi, bởi vì anh em đã trở thành những người thân yêu của chúng tôi.

9. Anh em! Anh em còn nhớ chúng tôi vất vả và nhọc nhằn, làm việc đêm ngày, để không trở thành gánh nặng cho một ai trong anh em, trong khi chúng tôi truyền Phúc Âm của Đức Chúa Trời cho anh em. 10. Anh em, và Đức Chúa Trời, làm chứng, chúng tôi đã cư xử cách thánh khiết, công chính, không chỗ trách được với anh em, là những tín hữu; 11. Như anh em vẫn biết, chúng tôi đã đối đãi với mỗi người trong anh em như một người cha đối với các con của mình,12. khích lệ, an ủi và thúc giục anh em sống xứng đáng với Đức Chúa Trời, là Đấng đã gọi anh em vào vương quốc và vinh quang của Ngài.

13. Và vì điều này, chúng tôi không ngừng cảm tạ Đức Chúa Trời: lúc lắng nghe và tiếp nhận lời Đức Chúa Trời từ chúng tôi, anh em đã chấp nhận, không như lời của loài người, nhưng thật sự đó là lời của Đức Chúa Trời, là điều đang hành động trong anh em, là những người tin.

14. Anh em! Anh em đã trở thành những người noi theo các hội thánh của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ tại Giu-đê, bởi vì anh em đã chịu khổ bởi đồng bào của mình, giống như họ bởi người Do Thái, 15. là những người đã giết cả Chúa, là Đức Chúa Jesus, và những tiên tri của họ, và đã xua đuổi chúng tôi, làm buồn lòng Đức Chúa Trời, và mâu thuẩn với mọi người, 16. cấm chúng tôi rao giảng cho những người ngoại quốc để những người đó có thể được cứu, luôn làm cho tội lỗi họ đầy dẫy; để kết cuộc, cơn thạnh nộ đổ trên họ.

17. Anh em! Mặc dầu chúng tôi đang xa cách anh em một thời gian - xa mặt nhưng không cách lòng - chúng tôi rất nôn nóng khao khát gặp mặt anh em. 18. Vì vậy chúng tôi mong ước đến với anh em, chính tôi, Phao-lô, một hai lần muốn đến với anh em, nhưng Sa-tan đã ngăn trở chúng tôi. 19. Bởi vì niềm hy vọng, hoặc niềm vui, hoặc mão miện hãnh diện của chúng tôi là gì? Không phải là anh em tại trước mặt Chúa chúng ta là Đức Chúa Jesus khi Ngài đến sao? 20. Chính anh em là vinh quang và là niềm vui của chúng tôi.

Bản Dịch 1925

1. Hỡi anh em, chính anh em biết rõ rằng chúng tôi đã đến nơi anh em, ấy chẳng phải là vô ích đâu; 2. nhưng sau khi bị đau đớn và sỉ nhục tại thành Phi-líp, như anh em đã biết, thì chúng tôi trông cậy Đức Chúa Trời, cứ rao truyền đạo Tin Lành của Đức Chúa Trời cách dạn dĩ giữa cơn đại chiến. 3. Vì sự giảng đạo của chúng tôi chẳng phải bởi sự sai lầm, hoặc ý không thanh sạch, cũng chẳng dùng điều gian dối. 4. Nhưng vì Đức Chúa Trời đã xét chúng tôi là xứng đáng giao cho việc giảng Tin Lành, nên chúng tôi cứ nói, không phải để đẹp lòng loài người, nhưng để đẹp lòng Đức Chúa Trời, là Đấng dò xét lòng chúng tôi. 5. Vả, anh em có biết, chúng tôi không hề dùng những lời dua nịnh, cũng không hề bởi lòng tư lợi mà làm, có Đức Chúa Trời chứng cho. 6. Dẫu rằng chúng tôi có thể bắt anh em tôn trọng chúng tôi, vì là sứ đồ của Đấng Christ, song cũng chẳng cầu vinh hiển đến từ loài người, hoặc từ nơi anh em, hoặc từ nơi kẻ khác. 7. Nhưng chúng tôi đã ăn ở nhu mì giữa anh em, như một người vú săn sóc chính con mình cách dịu dàng vậy. 8. Vậy, vì lòng rất yêu thương của chúng tôi đối với anh em, nên ước ao ban cho anh em, không những Tin Lành Đức Chúa Trời thôi đâu, song cả đến chính sự sống chúng tôi nữa, bởi anh em đã trở nên thiết nghĩa với chúng tôi là bao. 9. Hỡi anh em, anh em còn nhớ công lao, khó nhọc của chúng tôi; ấy là trong khi chúng tôi giảng Tin Lành cho anh em, lại cũng làm việc cả ngày lẫn đêm, để cho khỏi lụy đến một người nào trong anh em hết. 10. Anh em làm chứng, Đức Chúa Trời cũng làm chứng rằng cách ăn ở của chúng tôi đối với anh em có lòng tin, thật là thánh sạch, công bình, không chỗ trách được. 11. Anh em cũng biết rằng chúng tôi đối đãi với mỗi người trong anh em, như cha đối với con, 12. khuyên lơn, yên ủi, và nài xin anh em ăn ở một cách xứng đáng với Đức Chúa Trời, là Đấng gọi anh em đến nước Ngài và sự vinh hiển Ngài.

13. Bởi vậy, chúng tôi tạ ơn Đức Chúa Trời không thôi về sự anh em tiếp nhận lời của Đức Chúa Trời mà chúng tôi đã truyền cho, không coi như lời của loài người, bèn coi như lời của Đức Chúa Trời, vì thật là lời Đức Chúa Trời, cũng hành động trong anh em có lòng tin. 14. Hỡi anh em, anh em thật đã trở nên người bắt chước các hội thánh của Đức Chúa Trời tại xứ Giu-đê, là các Hội thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ: anh em đã chịu khổ bởi người đồng xứ mình, cũng như chính các Hội Thánh ấy chịu khổ bởi người Giu-đa, 15. là người đã giết Đức Chúa Jêsus và các Đấng tiên tri, đã bắt bớ chúng tôi; làm trái ý Đức Chúa Trời và thù nghịch với mọi người nữa, 16. ngăn trở chúng tôi giảng dạy dân ngoại cho được cứu, lại hằng đầy dẫy cái lượng tội lỗi mình. Nhưng cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời sau hết đã đến trên họ.

17. Hỡi anh em, về phần chúng tôi, đã xa cách anh em ít lâu nay, thân tuy cách nhưng lòng không cách, chúng tôi đã nôn nả biết bao, tìm phương để thỏa lòng ao ước, lại thấy mặt anh em. 18. Vì vậy, đã hai lần, chúng tôi, nhất là tôi, Phao-lô, muốn đi đến cùng anh em; nhưng quỉ Sa-tan đã ngăn trở chúng tôi. 19. Vì sự trông cậy, vui mừng và mão triều thiên vinh hiển của chúng tôi là gì, há chằng phải là anh em cũng được đứng trước mặt Đức Chúa Jêsus chúng ta trong khi Ngài đến sao? 20. Phải, anh em thật là sự vinh hiển và vui mừng của chúng tôi vậy.

Bản Dịch 2011

Tinh Thần Phục Vụ của Phao-lô Khi Ở Thê-sa-lô-ni-ca

1 Thưa anh chị em, chính anh chị em đã biết rõ, lần chúng tôi đến thăm anh chị em trước đây thật không uổng phí chút nào. 2 Vì như anh chị em đã biết, sau khi chúng tôi đã bị thương khó và bị làm nhục tại Phi-líp, chúng tôi vẫn lấy can đảm trong Ðức Chúa Trời chúng ta để rao giảng Tin Mừng của Ðức Chúa Trời cho anh chị em giữa nhiều chống đối. 3 Vì những lời khẩn khoản kêu gọi của chúng tôi không do chủ tâm bất chính, hoặc động cơ không trong sạch, hoặc với dụng ý lừa gạt, 4 nhưng vì Ðức Chúa Trời đã thử nghiệm chúng tôi và giao cho chúng tôi trọng trách rao giảng Tin Mừng, nên chúng tôi cứ giảng dạy, không phải để làm vừa lòng người ta, nhưng để làm vui lòng Ðức Chúa Trời, Ðấng dò xét lòng dạ chúng ta.

5 Vì như anh chị em đã biết, chúng tôi không dùng những lời dua nịnh và cũng không rao giảng vì động cơ tham muốn điều gì – có Ðức Chúa Trời làm chứng cho chúng tôi. 6 Chúng tôi không tìm kiếm vinh hiển từ loài người, dù là vinh hiển đó đến từ anh chị em hay từ những người khác, 7 mặc dù chúng tôi có quyền hưởng nhận đặc quyền đó vì là các sứ đồ của Ðấng Christ, nhưng khi ở giữa anh chị em chúng tôi đã cư xử dịu dàng, như người mẹ trìu mến chăm sóc các con mình. 8 Chúng tôi thương mến anh chị em đến nỗi không những đã vui vẻ rao truyền Tin Mừng của Ðức Chúa Trời cho anh chị em mà còn vui lòng chia sẻ chính mạng sống chúng tôi cho anh chị em, vì anh chị em đã trở thành những người rất yêu dấu của chúng tôi.

9 Thưa anh chị em, chắc anh chị em vẫn còn nhớ công lao vất vả và nỗi khó nhọc của chúng tôi: trong khi rao giảng Tin Mừng của Ðức Chúa Trời cho anh chị em, chúng tôi đã làm việc cả ngày lẫn đêm, để khỏi trở thành gánh nặng cho bất cứ người nào trong anh chị em. 10 Có anh chị em và Ðức Chúa Trời làm chứng, thể nào chúng tôi đã sống cách trong sạch, ngay lành, và không gì có thể chê trách được giữa anh chị em là những tín hữu. 11 Như anh chị em đã biết, thể nào chúng tôi đã đối xử với mỗi người trong anh chị em như cha với con, 12 khuyên bảo, khích lệ, và nài xin anh chị em sống xứng đáng là những người thuộc về Ðức Chúa Trời, Ðấng đã gọi anh chị em vào vương quốc và vinh hiển của Ngài.

13 Vì lý do đó chúng tôi luôn cảm tạ Ðức Chúa Trời, vì anh chị em đã tiếp nhận lời Ðức Chúa Trời do chúng tôi truyền cho như tiếp nhận chính lời của Ðức Chúa Trời, chứ không phải lời của loài người, và thật vậy, đó chính là lời Ðức Chúa Trời đang hành động trong anh chị em, những người có lòng tin.

14 Thưa anh chị em, anh chị em đã trở thành những người theo gương các hội thánh của Ðức Chúa Trời trong Ðức Chúa Jesus Christ ở Giu-đê, vì anh chị em cũng đã chịu khổ những điều tương tự bởi đồng bào mình, cũng như họ đã chịu khổ bởi đồng bào họ là người Do-thái. 15 Những người Do-thái ấy đã giết Ðức Chúa Jesus và các vị tiên tri, và bách hại chúng tôi đến nỗi phải ra đi. Họ làm phật lòng Ðức Chúa Trời và chống nghịch với mọi người. 16 Họ ngăn cản chúng tôi rao giảng cho các dân ngoại để các dân ngoại có thể được cứu; như thế họ đã làm cho tội lỗi của mình luôn đầy ắp; nhưng cuối cùng, cơn thịnh nộ đã đến với họ.

Phao-lô Mong Trở Lại Thê-sa-lô-ni-ca

17 Về phần chúng tôi, thưa anh chị em, tuy lâu nay chúng tôi phải xa cách anh chị em một thời gian, xa mặt nhưng chẳng cách lòng, chúng tôi nôn nóng mong được gặp lại anh chị em, mặt tận mặt. 18 Vì thật vậy, tôi, Phao-lô, đã hơn một lần muốn đến thăm anh chị em, nhưng Sa-tan đã ngăn trở chúng tôi. 19 Vì hy vọng, niềm vui, và mão miện hãnh diện của chúng tôi là gì, nếu không phải là anh chị em trước mặt Ðức Chúa Jesus, Chúa chúng ta, trong ngày Ngài hiện đến? 20 Vì anh chị em là vinh hiển và niềm vui của chúng tôi.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành