Nê-hê-mi: Chương 13

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB16C013)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch Đại Chúng

Ngày hôm đó, họ đọc sách của Môi-se cho dân chúng nghe, và đã khám phá trong sách có chép rằng không một người Am-môn hay người Mô-áp nào được vào hội của Đức Chúa Trời, bởi vì những dân tộc này đã không đem bánh và nước tiếp đãi dân Y-sơ-ra-ên, nhưng đã mướn Ba-la-am đến nguyền rủa họ. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời của chúng tôi đã đổi sự nguyền rủa thành phước lành.


Do đó, sau khi họ nghe đọc luật pháp, họ đã phân rẽ tất cả những dân lai tạp khỏi Y-sơ-ra-ên.

Trước đó, thầy tế lễ Ê-li-a-síp - người có thẩm quyền trên những phòng trong kho của đền của Đức Chúa Trời của chúng tôi - gần gũi với Tô-bi-gia, và ông đã cấp cho Tô-bi-gia một phòng lớn, là nơi trước đây người ta dùng để chứa tế lễ chay, nhũ hương, những vật dụng, những phần mười về lúa mì, rượu mới và dầu, là những vật theo quy định được ban cho người Lê-vi, các ca sĩ và người gác cổng, cùng với lễ vật dành cho thầy tế lễ.

Nhưng khi tất cả những điều này xảy ra, tôi không ở tại Giê-ru-sa-lem, bởi vì vào năm thứ ba mươi hai đời Ạt-ta-xét-xe, vua của Ba-by-lôn, tôi phải trở về với vua. Sau đó một thời gian, tôi đã xin phép rời vua, tôi đã trở lại Giê-ru-sa-lem và biết được điều tệ hại mà Ê-li-a-síp đã làm vì Tô-bi-gia, tức là cấp cho hắn một phòng trong hành lang của đền của Đức Chúa Trời.

Điều này làm tôi thật đau buồn nên tôi đã ném các vật gia dụng của Tô-bi-gia ra khỏi căn phòng. Rồi tôi ra lệnh cho họ thanh tẩy những căn phòng, và tôi đã đem những vật dụng của nhà Ðức Chúa Trời, cùng với các của lễ chay và nhũ hương, vào trở lại những phòng đó.

Tôi cũng nhận biết rằng khẩu phần của người Lê-vi đã không được cấp cho họ; do đó những ca sĩ và những người Lê-vi phục vụ đều phải trở về đồng ruộng của mình. Tôi đã khiển trách các quan chức và nói: “Tại sao đền của Đức Chúa Trời bị bỏ bê như vậy?” Và rồi tôi đã họp những người đó lại và phục hồi địa vị cho họ. Sau đó tất cả người Giu-đa đã đem vào kho một phần mười về lúa mì, rượu mới và dầu. Tôi đã chỉ định thầy tế lễ Sê-lê-mia, thầy thông giáo Xa-đốc và một người thuộc dòng Lê-vi tên là Phê-đa-gia làm các thủ kho để trông coi kho, và kế họ là Ha-nan, con trai của Xác-cua, cháu Mát-ta-nia, bởi vì họ được xem là những người trung thành, và nhiệm vụ của họ là phân phát cho anh em của mình.

“Đức Chúa Trời của con ôi! Vì điều nầy, xin nhớ đến con, và đừng xóa bỏ những việc tốt lành mà con đã làm cho đền của Đức Chúa Trời, và cho những hoạt động của nó.”

Giữ Ngày Sa-bát

Trong những ngày đó, tôi thấy trong dân Giu-đa có những người dùng máy ép nho trong ngày sa-bát, mang lúa, cũng như chở rượu, trái nho, trái vả và đủ loại sản vật trên lưng lừa, mà họ đã mang về Giê-ru-sa-lem trong ngày sa-bát. Tôi đã cảnh cáo họ, không được bán các thực phẩm ấy trong ngày sa-bát. Những người Ty-rơ ở tại đó cũng đem cá và đủ loại hàng hóa đến bán cho người Giu-đa ngay tại Giê-ru-sa-lem trong ngày sa-bát.

Bấy giờ tôi khiển trách những quý tộc của Giu-đa rằng: “Các ông làm điều gian ác gì thế! Không phải các ông làm ô uế ngày sa-bát sao? Không phải tổ phụ các ông cũng đã làm như vậy đến nỗi Đức Chúa Trời giáng tai họa trên chúng ta và trên thành nầy hay sao? Nhưng các ông lại làm ô uế ngày sa-bát khiến cơn thịnh nộ của Ngài gia tăng trên Y-sơ-ra-ên!”

Kể từ đó, tại các cổng thành của Giê-ru-sa-lem, mỗi khi trời bắt đầu tối trước ngày Sa-bát, tôi ra lệnh đóng tất cả các cổng thành và không được mở ra cho tới sau ngày Sa-bát. Tôi cũng đặt các tôi tớ của tôi ở các cổng thành, để không cho ai mang vật gì nặng vào trong ngày Sa-bát. Một hai lần, những thương nhân và những người bán đủ thứ hàng hóa đã ngủ qua đêm ở ngoài thành Giê-ru-sa-lem. Tôi đã cảnh cáo họ: “Tại sao các ông ngủ đêm quanh tường thành như vậy? Nếu các ông còn làm như thế, tôi sẽ thẳng tay với các ông.” Từ đó về sau, họ không đến trong ngày sa-bát nữa. Tôi ra lệnh cho người Lê-vi phải thanh tẩy chính mình và họ đến canh giữ các cổng, để thánh hóa ngày sa-bát ra.

“Đức Chúa Trời của con ôi! Xin cũng hãy nhớ đến điều này, và xin thương xót con tùy theo sự nhân từ lớn lao của Ngài.”

Lên án việc kết hôn với người ngoại

Cũng trong những ngày ấy, tôi thấy những người Do Thái cưới vợ người Ách-đốt, Am-môn và Mô-áp. Phân nửa con cái của họ nói tiếng Ách-đốt, hoặc nói tiếng của các dân tộc khác, nhưng không thể nói tiếng Giu-đa.

Tôi quở trách và rủa sả họ, đánh một vài người hoặc bứt tóc họ, và bảo họ chỉ Đức Chúa Trời mà thề rằng: “Chúng con sẽ không gả các con gái chúng con cho các con trai của họ, hoặc cưới con gái họ cho con trai chúng con hay cho chính mình! Không phải Sa-lô-môn, vua Y-sơ-ra-ên, đã phạm tội như vậy sao? Trong nhiều quốc gia, không có vua nào giống như ông, được Đức Chúa Trời yêu mến, đặt làm vua trên cả Y-sơ-ra-ên. Nhưng chính những người vợ ngoại đạo nầy đã khiến cho ông phạm tội! Lẽ nào chúng tôi còn phải nghe các ông làm điều đại ác, chống lại Đức Chúa Trời bằng cách lấy vợ ngoại đạo sao?”

Một trong những con trai của Giô-gia-đa, cháu thầy tế lễ thượng phẩm Ê-li-a-síp, là con rể của San-ba-lát, người Hô-rôn, nên tôi đuổi hắn khỏi tôi.

“Đức Chúa Trời của con ôi! Hãy nhớ rằng họ đã làm ô uế chức tế lễ, và giao ước của chức vụ tế lễ và những người Lê-vi.”

Như vậy, tôi đã thanh tẩy họ khỏi mọi điều liên quan đến ngoại giáo. Tôi cũng phân các trách nhiệm cho những thầy tế lễ và những người Lê-vi, mỗi người theo nhiệm vụ của họ. và dâng củi và sản vật đầu mùa theo kỳ định.

“Đức Chúa Trời của con ôi! Xin nhớ đến con vì điều tốt lành!”

Bản Dịch Việt Ngữ

Cuộc cải cách cuối cùng của Nê-hê-mi

1. Ngày hôm đó, họ đọc sách Môi-se cho dân chúng nghe, và khám phá trong đó có chép rằng không một người Am-môn hay người Mô-áp nào được vào hội của Đức Chúa Trời, 2. Bởi vì những người này đã không đem bánh và nước tiếp đãi dân Y-sơ-ra-ên, nhưng đã mướn Ba-la-am đến nguyền rủa họ. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời của chúng tôi đã đổi sự nguyền rủa thành phước lành. 3. Vì vậy, sau khi họ nghe luật pháp, họ đã phân rẽ tất cả số đông dân lai tạp khỏi Y-sơ-ra-ên.

4. Trước việc này, thầy tế lễ Ê-li-a-síp - người có thẩm quyền trên những phòng kho của đền Đức Chúa Trời của chúng tôi - gần gũi với Tô-bi-gia, 5. và ông đã cấp cho hắn một cái phòng lớn, là nơi trước đây người ta dùng để chứa tế lễ chay, nhũ hương, các vật dụng, những phần mười về lúa mì, rượu mới và dầu, là những vật theo quy định được ban cho người Lê-vi, các ca sĩ và người gác cổng, cùng với lễ vật dành cho thầy tế lễ. 6. Nhưng khi tất cả những điều này xảy ra thì tôi không ở tại Giê-ru-sa-lem, bởi vì vào năm thứ ba mươi hai đời Ạt-ta-xét-xe, vua của Ba-by-lôn, tôi phải trở về với vua. Sau đó một thời gian, tôi đã xin phép rời vua, 7. tôi trở lại Giê-ru-sa-lem và biết được điều tệ hại mà Ê-li-a-síp đã làm vì Tô-bi-gia, tức là cấp cho hắn một phòng trong hành lang của đền của Đức Chúa Trời. 8. Điều này làm tôi thật đau buồn nên tôi đã ném các vật gia dụng của Tô-bi-gia ra khỏi căn phòng. 9. Rồi tôi ra lệnh cho họ thanh tẩy những căn phòng, và tôi đã đem những vật dụng của nhà Ðức Chúa Trời, cùng với các của lễ chay và nhũ hương, vào trở lại những phòng đó.

10. Tôi cũng nhận biết rằng khẩu phần của người Lê-vi đã không được cấp cho họ; do đó các ca sĩ và những người Lê-vi phục vụ đều trở về đồng ruộng của mình. 11. Tôi đã khiển trách các quan chức và nói: “Tại sao đền của Đức Chúa Trời bị bỏ bê như vậy?” Rồi tôi đã triệu tập họ lại và phục hồi địa vị của họ. 12. Sau đó tất cả người Giu-đa đã đem vào kho một phần mười về lúa mì, rượu mới và dầu. 13. Tôi đã chỉ định thầy tế lễ Sê-lê-mia, thầy thông giáo Xa-đốc và một người thuộc dòng Lê-vi tên là Phê-đa-gia làm các thủ kho để trông coi kho, và kế họ là Ha-nan, con trai của Xác-cua, cháu Mát-ta-nia, bởi vì họ được xem là những người trung thành, và nhiệm vụ của họ là phân phát cho anh em của mình.

14. “Đức Chúa Trời của con ôi! Vì điều nầy, xin nhớ đến con, và đừng xóa bỏ những việc tốt lành mà con đã làm cho đền của Đức Chúa Trời, và cho những sự phục vụ của nó.”

Giữ Ngày Sa-bát

15. Trong những ngày đó, tôi thấy trong dân Giu-đa có những người dùng máy ép nho trong ngày sa-bát, mang lúa, cũng như chở rượu, trái nho, trái vả và đủ loại sản vật trên lưng lừa, mà họ đã mang về Giê-ru-sa-lem trong ngày sa-bát. Tôi đã cảnh cáo họ, không được bán các thực phẩm ấy trong ngày sa-bát. 16. Những người Ty-rơ ở tại đó cũng đem cá và đủ loại hàng hóa đến bán cho người Giu-đa ngay tại Giê-ru-sa-lem trong ngày sa-bát. 17. Bấy giờ tôi khiển trách những quý tộc của Giu-đa rằng: “Các ông làm điều gian ác gì vậy, không phải các ông làm ô uế ngày sa-bát sao? 18. Không phải tổ phụ các ông cũng đã làm như vậy đến nỗi Đức Chúa Trời giáng tai họa trên chúng ta và trên thành nầy hay sao? Nhưng các ông lại làm ô uế ngày sa-bát khiến cơn thịnh nộ của Ngài gia tăng trên Y-sơ-ra-ên!”

19. Kể từ đó, tại các cổng của Giê-ru-sa-lem, mỗi khi trời bắt đầu tối trước ngày Sa-bát, tôi ra lịnh đóng tất cả các cổng thành và không được mở cho tới sau ngày Sa-bát. Tôi cũng đặt các tôi tớ của tôi ở các cổng thành, để không cho ai mang vật gì nặng vào trong ngày Sa-bát. 20. Một hai lần, những thương nhân và những người bán đủ thứ hàng hóa đã phải ngủ qua đêm ở ngoài thành Giê-ru-sa-lem. 21. Tôi đã cảnh cáo họ: “Tại sao các ông ngủ đêm quanh tường thành như vậy? Nếu các ông còn làm như thế, tôi sẽ thẳng tay với các ông.” Từ đó về sau, họ không đến trong ngày sa-bát nữa. 22. Tôi ra lệnh cho người Lê-vi phải thanh tẩy chính mình và họ đến canh giữ các cổng, để thánh hóa ngày sa-bát ra.

“Đức Chúa Trời của con ôi! Xin cũng hãy nhớ đến điều này, và xin thương xót con tùy theo sự nhân từ lớn lao của Ngài.”

Lên án việc kết hôn với người ngoại

23. Cũng trong những ngày ấy, tôi thấy những người Do Thái cưới vợ người Ách-đốt, Am-môn và Mô-áp. 24. Phân nửa con cái của họ nói tiếng Ách-đốt, hoặc nói tiếng của các dân tộc khác, nhưng không thể nói tiếng Giu-đa.

25. Tôi quở trách và rủa sả họ, đánh một vài người hoặc bứt tóc họ, và bảo họ chỉ Đức Chúa Trời mà thề rằng: “Chúng con sẽ không gả các con gái chúng con cho các con trai của họ, hoặc cưới con gái họ cho con trai chúng con hay cho chính mình! 26. Không phải Sa-lô-môn, vua Y-sơ-ra-ên, đã phạm tội như vậy sao? Trong nhiều quốc gia, không có vua nào giống như ông, được Đức Chúa Trời yêu mến, đặt làm vua trên cả Y-sơ-ra-ên. Nhưng chính những người vợ ngoại đạo nầy đã khiến cho ông phạm tội! 27. Lẽ nào chúng tôi còn phải nghe các ông làm điều đại ác, chống lại Đức Chúa Trời bằng cách lấy vợ ngoại đạo sao?”

28. Một trong những con trai của Giô-gia-đa, cháu thầy tế lễ thượng phẩm Ê-li-a-síp, là con rể của San-ba-lát, người Hô-rôn, nên tôi đuổi hắn khỏi tôi.

29. “Đức Chúa Trời của con ôi! Hãy nhớ rằng họ đã làm ô uế chức tế lễ, và giao ước của chức vụ tế lễ và những người Lê-vi.”

30. Như vậy, tôi đã thanh tẩy họ khỏi mọi điều liên quan đến ngoại giáo. Tôi cũng phân các trách nhiệm cho những thầy tế lễ và những người Lê-vi, mỗi người theo nhiệm vụ của họ. 31. và dâng củi và sản vật đầu mùa theo kỳ định.

“Đức Chúa Trời của con ôi! Xin nhớ đến con vì điều tốt lành!”

Bản Dịch 1925

1. Trong ngày đó, người ta đọc sách Môi-se có dân sự nghe; trong đó có chép rằng người Am-môn và người Mô-áp đời đời không được vào hội của Đức Chúa Trời, 2. bởi vì chúng nó không đem bánh và nước đến đón dân Y-sơ-ra-ên, song dùng bạc thỉnh Ba-la-am đến rủa sả dân Y-sơ-ra-ên (nhưng Đức Chúa Trời chúng tôi đổi sự rủa sả ra sự phước hạnh). 3. Xảy khi chúng đã nghe luật pháp rồi, bèn phân rẽ khỏi Y-sơ-ra-ên các dân ngoại bang.

4. Vả, trước việc đó, thầy tế lễ Ê-li-a-síp, mà đã được lập coi sóc các phòng của đền Đức Chúa Trời chúng tôi, 5. và là bà con với Tô-bi-gia, có sắm sửa cho người ấy một cái phòng lớn, là nơi trước người ta dùng để những của lễ chay, hương liệu, khí dụng, thuế một phần mười về lúa mì, rượu mới, và dầu, tức những vật theo lệ đã định cho người Lê-vi, kẻ ca hát, và người canh giữ cửa, luôn với của lễ dâng giơ lên của thầy tế lễ. 6. Khi các điều đó xảy đến thì không có tôi ở tại Giê-ru-sa-lem; vì nhằm năm thứ ba mươi hai đời Ạt-ta-xét-xe, vua Ba-by-lôn, tôi mắc phải trở về cùng vua; cuối một ít lâu, tôi có xin phép vua đặng đi.

7. Tôi đến Giê-ru-sa-lem, bèn hiểu điều ác mà Ê-li-a-síp vì Tô-bi-gia đã làm ra, vì có sắm sửa cho người một cái phòng trong hành lang của đền Đức Chúa Trời. 8. Tôi thấy điều đó lấy làm cực tệ, nên quăng ra khỏi phòng ấy các vật dụng của nhà Tô-bi-gia. 9. Đoạn, tôi biểu người ta dọn cái phòng ấy cho sạch sẽ; kế ấy tôi đem vào lại các khí dụng của đền Đức Chúa Trời, của lễ chay và hương liệu.

10. Tôi cũng hay rằng người ta không có cấp các phần của người Lê-vi cho họ; vì vậy, những kẻ ca hát và người Lê-vi hầu việc, ai nấy đều đã trốn về đồng ruộng mình. 11. Tôi bèn quở trách các quan trưởng, mà rằng: Cớ sao đền của Đức Chúa Trời bị bỏ như vậy? Đoạn, tôi hiệp lại chúng mà đặt họ trong chức cũ mình. 12. Bấy giờ, cả Giu-đa đều đem đến trong kho thuế một phần mười về lúa mì, rượu mới, và dầu. 13. Tôi đặt Sê-lê-mia, thầy tế lễ Xa-đốc, ký lục, và Phê-đa-gia trong các người Lê-vi, coi các kho tàng; còn Ha-nan, con trai của Xác-cua, cháu Mát-ta-nia, làm phó; các người ấy được kể là trung thành, và bổn phận chúng là phân phát vật cho anh em mình.

14. Đức Chúa Trời tôi ôi! vì cớ điều này, xin nhớ đến tôi, và chớ bôi xóa các việc tốt lành mà tôi đã làm vì đền của Đức Chúa Trời tôi và về điều phải gìn giữ tại đó.

15. Về lúc đó, tôi thấy trong Giu-đa, mấy người ép nho nơi máy ép rượu nhằm ngày sa-bát, đem bó lúa mình vào, chở nó trên lừa, và cũng chở rượu, trái nho, trái vả, và các vật nặng, mà đem về Giê-ru-sa-lem trong ngày sa-bát. Ngày chúng nó bán vật thực ấy, tôi có làm chứng nghịch cùng chúng nó. 16. Cũng có người Ty-rơ ở tại đó, đem cá và các thứ hàng hóa đến bán cho người Giu-đa và tại thành Giê-ru-sa-lem trong ngày sa-bát. 17. Bấy giờ tôi quở trách các người tước vị Giu-đa, mà rằng: Việc xấu xa các ngươi làm đây là chi, mà làm cho ô uế ngày sa-bát? 18. Tổ phụ các ngươi há chẳng đã làm như vậy sao? Nên nỗi Đức Chúa Trời há chẳng có dẫn tai họa kia đến trên chúng ta và trên thành này ư? Còn các ngươi làm ô uế ngày sa-bát mà tăng thêm cơn thạnh nộ cho Y-sơ-ra-ên!

19. Ấy vậy, khi các cửa Giê-ru-sa-lem khởi khuất trong bóng tối trước ngày sa-bát, tôi bèn truyền người ta đóng cửa lại và dặn biểu chúng nó chỉ mở nó ra sau ngày sa-bát; lại cắt đặt mấy kẻ trong đầy tớ tôi giữ cửa để không ai gánh chở đồ vào thành trong ngày sa-bát. 20. Vậy, kẻ buôn người bán các thứ hàng hóa một hai lần ban đêm phải ngủ ở ngoài thành Giê-ru-sa-lem. 21. Đoạn, tôi quở trách chúng nó mà rằng: Cớ sao các ngươi ban đêm ngủ tại trước vách thành như vậy? Nếu các ngươi còn làm nữa, tất ta sẽ tra tay trên các ngươi. Từ lúc đó về sau, chúng nó không có đến nhằm ngày sa-bát nữa. 22. Tôi dạy biểu người Lê-vi hãy dọn mình cho thánh sạch và đến canh giữ các cửa, đặng biệt ngày sa-bát ra thánh. Hỡi Đức Chúa Trời tôi ôi! xin hãy vì tôi nhớ đến điều đó, và xin thương xót tôi tùy sự nhân từ lớn lao của Ngài.

23. Cũng trong lúc đó, tôi thấy những người Giu-đa lấy đàn bà Ách-đốt, Am-môn, và Mô-áp, làm vợ; 24. con cái của chúng nó nói phần nửa tiếng Ách-đốt, không biết nói tiếng Giu-đa, nhưng nói tùy theo tiếng của dân này hay là dân kia. 25. Tôi quở trách chúng nó, rủa sả chúng nó, đánh đập một vài người trong chúng nó, nhổ tóc chúng nó, biểu chúng nó chỉ Đức Chúa Trời thề, mà rằng: Các ngươi sẽ không gả con gái mình cho con trai họ, hay là cưới con gái họ cho con trai mình, hoặc là cưới cho chính mình các ngươi! 26. Sa-lô-môn, vua Y-sơ-ra-ên há chẳng có phạm tội trong điều đó sao? Vả, trong nhiều dân tộc không có một vua nào giống như người; người được Đức Chúa Trời của mình thương yêu, và Đức Chúa Trời đặt người làm vua trên cả Y-sơ-ra-ên: dẫu vậy, người cũng bị đàn bà ngoại bang xui cho phạm tội! 27. Chúng ta há sẽ nghe theo các ngươi mà làm những điều ác lớn này, lấy người đàn bà ngoại bang mà vi phạm cùng Đức Chúa Trời chúng ta sao? 28. Có một trong các con trai của Giô-gia-đa, cháu Ê-li-a-síp, thầy tế lễ thượng phẩm, là rể của San-ba-lát, người Hô-rôn; vì cớ ấy tôi đuổi hắn khỏi tôi. 29. Hỡi Đức Chúa Trời tôi ôi! xin nhớ lại chúng nó, vì chúng nó đã làm ô uế chức tế lễ và sự giao ước của chức tế lễ và của người Lê-vi.

30. Như vậy, tôi dọn sạch chúng cho khỏi các kẻ ngoại bang, và định ban thứ cho những thầy tế lễ và người Lê-vi, mỗi người trong chức việc mình; 31. cũng khiến dân sự dâng củi theo kỳ nhất định và các thổ sản đầu mùa.

Đức Chúa Trời tôi ôi, xin hãy nhớ đến tôi mà làm ơn cho tôi!

Bản Dịch 2011

Tách Rời Những Người Dị Chủng Không Thờ CHÚA

1 Ngày hôm đó họ đọc trong sách của Môi-se cho dân nghe. Họ khám phá trong sách đó viết rằng không một người Am-môn hay một người Mô-áp nào được vào hội của Ðức Chúa Trời, 2 vì chúng đã không dùng bánh và nước tiếp đãi dân I-sơ-ra-ên, ngược lại, chúng đã mướn Ba-la-am đến nguyền rủa họ. Dầu vậy Ðức Chúa Trời của chúng tôi đã biến sự nguyền rủa đó ra một phước hạnh. 3 Khi dân I-sơ-ra-ên nghe luật pháp nói như thế, họ tự động tách rời khỏi mọi người ngoại quốc sống giữa họ.

Cải Cách Khác của Nê-hê-mi

4 Trước lúc đó Tư Tế Ê-li-a-síp, người được lập lên để coi sóc các phòng kho cho nhà Ðức Chúa Trời của chúng tôi, và ông lại là một đồng minh của Tô-bi-a. 5 Ông đã tự ý dành riêng cho Tô-bi-a một phòng lớn, đó là phòng trước kia được dùng để chứa các của lễ chay, nhũ hương, các vật dụng của Ðền Thờ, các của dâng một phần mười về lúa gạo, rượu, và dầu, mà theo điều răn thì phải dành cho những người Lê-vi, những người ca hát, và những người giữ cửa, và để chứa các lễ vật được chia cho các tư tế. 6 Việc ấy đã xảy ra khi tôi không có mặt tại Giê-ru-sa-lem, vì năm thứ ba mươi hai của Ạc-ta-xẹc-xe vua Ba-by-lôn tôi phải trở về chầu vua. Sau một thời gian tôi xin phép vua được ra đi nữa. 7 Tôi về lại Giê-ru-sa-lem và biết được việc tồi tệ mà Ê-li-a-síp đã làm khi ưu đãi Tô-bi-a, tức dành riêng cho hắn một phòng trong sân của Ðền Thờ Ðức Chúa Trời. 8 Tôi rất giận về việc ấy, nên tôi quăng tất cả đồ đạc của Tô-bi-a ra khỏi phòng. 9 Kế đó tôi truyền lịnh thanh tẩy các phòng ấy và đem vào lại các phòng ấy những vật dụng của nhà Ðức Chúa Trời, cùng với các của lễ chay và nhũ hương. 10 Tôi cũng được biết những người Lê-vi đã không nhận được phần của dâng dành cho họ, nên tất cả người Lê-vi và những người ca hát đã trở về làm ruộng. 11 Vì thế tôi quở trách những người lãnh đạo của dân và hỏi họ, “Tại sao nhà Ðức Chúa Trời lại bị bỏ bê?” Sau đó tôi mời những người Lê-vi và những người ca hát đến và tái lập họ vào chức vụ của họ khi trước. 12 Thấy vậy toàn dân Giu-đa đem một phần mười lúa gạo, rượu, và dầu đến dâng vào các kho của Ðền Thờ. 13 Tôi lập Tư Tế Sê-lê-mi-a, Giáo Sư Kinh Luật Xa-đốc, và một người Lê-vi tên Pê-đa-gia làm các thủ kho của các kho Ðền Thờ. Ngoài ra có Ha-nan con của Xác-cua, con của Mát-ta-ni-a, làm phụ tá cho họ, vì những người ấy được xem là đáng tin cậy. Nhiệm vụ của họ là phân chia các của dâng cho các anh em cùng phục vụ với họ.

14 “Lạy Ðức Chúa Trời của con, xin nhớ đến con trong việc này, và xin đừng xóa bỏ những hành vi tốt đẹp này của con, mà con đã làm cho nhà Ðức Chúa Trời của con và cho sự phục vụ Ngài tại đó.”

Áp Dụng Triệt Ðể Luật Ngày Sa-bát

15 Trong những ngày ấy tôi thấy có mấy người Giu-đa đạp nho nơi bồn ép nho trong ngày Sa-bát; có người đã chất những bó lúa trên lưng lừa; có những người khác lại bắt lừa chở các vò rượu, các thùng nho, các thùng trái vả, và những bao sản phẩm nặng nề đem vào Giê-ru-sa-lem trong ngày Sa-bát. Vì thế tôi cảnh cáo họ trong ngày họ đem lương thực đến bán. 16 Một số người quê ở Ty-rơ đang cư ngụ trong miền đó cũng đem cá và các thứ hàng hóa đến bán cho dân Giu-đa ở Giê-ru-sa-lem trong ngày Sa-bát. 17 Thấy vậy tôi quở trách các nhà quyền quý của Giu-đa và nói với họ, “Việc tồi tệ này mà các ông đã làm cho ngày Sa-bát phải ra phàm tục là gì vậy? 18 Há chẳng phải vì tổ tiên của các ông đã làm như thế mà Ðức Chúa Trời chúng ta đã đem tất cả các tai họa này giáng xuống trên chúng ta và trên thành này hay sao? Ðã vậy bây giờ các ông còn muốn gia thêm cơn thịnh nộ cho dân I-sơ-ra-ên bằng cách làm cho ngày Sa-bát trở nên phàm tục hay sao?”

19 Kể từ đó tại các cổng thành Giê-ru-sa-lem, mỗi khi trời bắt đầu tối trước ngày Sa-bát, tôi ra lịnh đóng tất cả các cổng thành lại và chỉ mở ra khi ngày Sa-bát đã qua rồi. Tôi cũng đặt các tôi tớ của tôi ở các cổng thành, để không cho ai mang vật gì nặng vào thành trong ngày Sa-bát. 20 Vì thế các thương gia và những người bán đồ tạp hóa đã đôi phen phải qua đêm bên ngoài cổng thành. 21 Thấy vậy tôi cảnh cáo họ và nói, “Tại sao các người đã qua đêm ở bên ngoài cổng thành? Nếu các người còn tiếp tục làm thế, tôi sẽ thẳng tay đấy.” Từ đó trở đi họ không đến trong ngày Sa-bát nữa. 22 Sau đó tôi truyền cho những người Lê-vi hãy thanh tẩy chính họ, rồi đến canh gác ở các cổng thành, để giữ ngày Sa-bát ra thánh.

“Lạy Ðức Chúa Trời của con, xin nhớ đến con trong việc này nữa, và xin ban phước cho con theo tình thương vô lượng của Ngài.”

Phản Ðối Những Cuộc Hôn Nhân Dị Chủng và Dị Giáo

23 Trong những ngày ấy tôi thấy các đàn ông Do-thái cưới các phụ nữ Ách-đốt, Am-môn, và Mô-áp làm vợ. 24 Phân nửa con cái của họ chỉ nói được tiếng Ách-đốt và không nói được tiếng Giu-đa. Chúng chỉ nói được tiếng của mẹ chúng, những người thuộc các giống dân khác không tin thờ Chúa. 25 Vì thế tôi đã tranh luận với họ, nguyền rủa họ, đánh đập một vài người trong bọn họ, và bứt tóc họ. Tôi bắt họ lấy danh Ðức Chúa Trời mà thề sẽ không làm như thế nữa. Tôi nói với họ, “Các ông không được gả con gái của các ông cho con trai của chúng, hay cưới con gái của chúng cho con trai của các ông hoặc cho chính các ông. 26 Há chẳng phải Sa-lô-môn vua I-sơ-ra-ên đã phạm tội vì những phụ nữ như thế sao? Giữa nhiều quốc gia, không một vua nào được như ông ấy. Ông ấy đã được Ðức Chúa Trời của mình yêu thương, và Ðức Chúa Trời đã lập ông ấy làm vua trên cả I-sơ-ra-ên. Nhưng các phụ nữ ngoại quốc không tin thờ Chúa đã làm cho ông ấy phạm tội. 27 Thế thì chúng ta há sẽ hành động bội nghịch chống lại Ðức Chúa Trời chúng ta, mà cưới những người phụ nữ ngoại quốc không tin thờ Ngài hay sao?”

28 Một trong các con trai của Giê-hô-gia-đa, con của Thượng Tế Ê-li-a-síp, đã làm con rể của San-ba-lát người Hô-rô-ni. Vì thế tôi đã đuổi hắn đi khỏi tôi.

29 “Lạy Ðức Chúa Trời của con, xin nhớ đến họ, vì họ đã làm bất khiết chức vụ tư tế; họ đã vi phạm quy luật đặc biệt dành cho các tư tế và những người Lê-vi.”

30 Như vậy tôi đã loại sạch tất cả những ai ngã theo ngoại giáo do mối liên hệ hôn nhân với các dân ngoại không tin thờ Chúa. Tôi thiết lập rõ ràng nhiệm vụ của các tư tế và những người Lê-vi, đúng theo phần việc của mỗi người. 31 Tôi tổ chức việc cung cấp củi theo định kỳ cho việc dâng của lễ, và tái lập việc dâng hiến các trái cây đầu mùa.

“Lạy Ðức Chúa Trời của con, xin nhớ đến con và ban phước cho con.”

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành