Nê-hê-mi: Chương 10

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB16C010)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch Đại Chúng

Danh Sách Những Người Kết Ước

Những người đã đóng ấn của mình vào giao ước là Tổng trấn Nê-hê-mi, con trai của Ha-ca-lia, cùng với Sê-đê-kia, Sê-ra-gia, A-xa-ria, Giê-rê-mi, Pha-su-rơ, A-ma-ria, Manh-ki-gia, Hát-tút, Sê-ba-nia, Ma-lúc, Ha-rim, Mê-rê-mốt, Áp-đia, Đa-ni-ên, Ghi-nê-thôn, Ba-rúc, Mê-su-lam, A-bi-gia, Mi-gia-min Ma-a-xia, Binh-gai, Sê-ma-gia – những người này là những thầy tế lễ.

Những người Lê-vi là Giê-sua, con trai của A-xa-nia; Bin-nui, con trai của Hê-na-đát; Cát-mi-ên, và những anh em của họ là Sê-ba-nia, Hô-đi-gia, Kê-li-ta, Phê-la-gia, Ha-nan, Mi-chê, Rê-hốp, Ha-sa-bia, Xác-cua, Sê-rê-bia, Sê-ba-nia, Hô-đia, Ba-ni và Bê-ni-nu.

Những lãnh đạo của dân chúng là Pha-rốt, Pha-hát Mô-áp, Ê-lam, Xát-tu, Ba-ni, Bu-ni, A-gát, Bê-bai, A-đô-ni-gia, Biết-vai, A-đin, A-te, Ê-xê-chia, A-xu-rơ, Hô-đia, Ha-sum, Bết-sai, Ha-ríp, A-na-tốt, Ni-bai, Mác-bi-ách, Mê-su-lam, Hê-xia, Mê-sê-xa-bê-ên, Xa-đốc, Gia-đua, Phê-la-tia, Ha-nan, A-na-gia, Ô-sê, Ha-na-nia, Ha-súp, Ha-lô-hết, Bi-la, Sô-béc, Rê-hum, Ha-sáp-na, Ma-a-xê-gia, A-hi-gia, Ha-nan, A-nan, Ma-lúc, Ha-rim và Ba-a-na.

Tái Cam Kết Với Chúa

Phần còn lại của dân chúng, của những thầy tế lễ, của những người Lê-vi, những người gác cổng, những ca sĩ, những người phục vụ đền thờ, và những người đã cùng với vợ, con trai, con gái của họ tách biệt với các dân tộc trong xứ để vâng theo luật pháp của Đức Chúa Trời; mọi người có tri thức và hiểu biết, đều hiệp nhất với những anh em và những quý tộc của mình thề hứa đi theo luật pháp của Đức Chúa Trời đã ban qua Môi-se, đầy tớ Ngài, và gìn giữ, và thực hành tất cả những điều răn của Giê-hô-va, là Chúa của chúng con, cùng với những luật lệ của Ngài và những mạng lịnh của Ngài:

Chúng con sẽ không gả các con gái của chúng con cho dân địa phương, và cũng không cưới các con gái của họ cho các con trai của chúng con.

Nếu dân địa phương đem hàng hóa hoặc bất kỳ lương thực nào đến bán trong ngày sa-bát, chúng con sẽ không mua từ những người đó trong ngày sa-bát hay trong ngày thánh. Vào năm thứ bảy, chúng con sẽ nghỉ canh tác và xóa tất cả các món nợ.

Chúng con cũng quy định cho chính mình, mỗi năm dâng một phần ba siếc-lơ bạc để dùng vào những công việc của đền thờ Đức Chúa Trời như: bánh cung hiến, tế lễ chay thường kỳ, tế lễ thiêu hằng hiến trong ngày sa-bát, ngày trăng mới, và những lễ được quy định, những vật thánh, tế lễ chuộc tội của dân Y-sơ-ra-ên, và tất cả những công việc khác trong nhà của Đức Chúa Trời của chúng con.

Chúng con bắt thăm giữa vòng các thầy tế lễ, những người Lê-vi, và dân chúng để đem củi dâng vào nhà của Đức Chúa Trời, tùy theo mỗi gia tộc, vào những thời điểm được chỉ định, từ năm nầy sang năm khác, để đốt trên bàn thờ của Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng con, đúng như đã chép trong luật pháp.

Chúng con cũng lập những quy định sẽ mang sản vật đầu mùa của đất và những trái đầu mùa của tất cả các cây của chúng con, từ năm này sang năm khác, đến đền thờ của Đức Giê-hô-va; và cũng theo điều đã chép trong luật pháp, chúng con sẽ đem con trai đầu lòng và con đầu lòng trong súc vật chúng con, cùng chiên và bò sinh đầu lòng đến đền thờ của Đức Chúa Trời để giao cho các thầy tế lễ đang phục vụ trong nhà của Đức Chúa Trời của chúng con; cũng đem bột nhồi đầu tiên của chúng con, những tế lễ, hoa quả của tất cả các loại cây, rượu mới và dầu, cho những thầy tế lễ, để chứa trong các kho của nhà của Đức Chúa Trời; và một phần mười hoa lợi của đất chúng con cho người Lê-vi, bởi vì người Lê-vi sẽ nhận một phần mười tại tất cả miền quê của chúng con. Thầy tế lễ, con cháu A-rôn, sẽ đi với những người Lê-vi khi họ thu nhận một phần mười, rồi những người Lê-vi sẽ đem một phần mười của một phần mười đó đến nhà của Đức Chúa Trời của chúng con, đặt trong các căn phòng của nhà kho.

Vì vậy dân Y-sơ-ra-ên và người Lê-vi sẽ đem những lễ vật bằng lúa, rượu mới và dầu vào trong những phòng của kho, là nơi có các vật dụng của đền thánh, là nơi cư ngụ của những thầy tế lễ đang phục vụ, những người gác cổng và những ca sĩ; và chúng con sẽ không bỏ bê nhà của Đức Chúa Trời của chúng con.

Bản Dịch Việt Ngữ

Danh Sách Những Người Kết Ước

1. Những người đã đóng ấn của mình vào giao ước là Tổng trấn Nê-hê-mi, con trai của Ha-ca-lia, cùng với Sê-đê-kia, 2. Sê-ra-gia, A-xa-ria, Giê-rê-mi, 3. Pha-su-rơ, A-ma-ria, Manh-ki-gia, 4. Hát-tút, Sê-ba-nia, Ma-lúc, 5. Ha-rim, Mê-rê-mốt, Áp-đia, 6. Đa-ni-ên, Ghi-nê-thôn, Ba-rúc, 7. Mê-su-lam, A-bi-gia, Mi-gia-min, 8. Ma-a-xia, Binh-gai, Sê-ma-gia – những người này là những thầy tế lễ.

9. Những người Lê-vi là Giê-sua, con trai của A-xa-nia; Bin-nui, con trai của Hê-na-đát; Cát-mi-ên, 10. và những anh em của họ là Sê-ba-nia, Hô-đi-gia, Kê-li-ta, Phê-la-gia, Ha-nan, 11. Mi-chê, Rê-hốp, Ha-sa-bia, 12. Xác-cua, Sê-rê-bia, Sê-ba-nia, 13. Hô-đia, Ba-ni và Bê-ni-nu.

14. Những lãnh đạo của dân chúng là Pha-rốt, Pha-hát Mô-áp, Ê-lam, Xát-tu, Ba-ni, 15. Bu-ni, A-gát, Bê-bai, 16. A-đô-ni-gia, Biết-vai, A-đin, 17. A-te, Ê-xê-chia, A-xu-rơ, 18. Hô-đia, Ha-sum, Bết-sai, 19. Ha-ríp, A-na-tốt, Ni-bai, 20. Mác-bi-ách, Mê-su-lam, Hê-xia, 21. Mê-sê-xa-bê-ên, Xa-đốc, Gia-đua, 22. Phê-la-tia, Ha-nan, A-na-gia, 23. Ô-sê, Ha-na-nia, Ha-súp, 24. Ha-lô-hết, Bi-la, Sô-béc, 25. Rê-hum, Ha-sáp-na, Ma-a-xê-gia, 26. A-hi-gia, Ha-nan, A-nan, 27. Ma-lúc, Ha-rim và Ba-a-na.

Tái Cam Kết Với Chúa

28. Phần còn lại của dân chúng, của những thầy tế lễ, của những người Lê-vi, những người gác cổng, những ca sĩ, những người phục vụ đền thờ, và những người đã cùng với vợ, con trai, con gái của họ tách biệt với các dân tộc trong xứ để vâng theo luật pháp của Đức Chúa Trời; mọi người có tri thức và hiểu biết, 29. đều hiệp nhất với những anh em và những quý tộc của mình thề hứa đi theo luật pháp của Đức Chúa Trời đã ban qua Môi-se, đầy tớ Ngài, và gìn giữ, và thực hành tất cả những điều răn của Giê-hô-va, là Chúa của chúng con, cùng với những luật lệ của Ngài và những mạng lịnh của Ngài:

30. Chúng con sẽ không gả các con gái của chúng con cho dân địa phương, và cũng không cưới các con gái của họ cho các con trai của chúng con.

31. Nếu dân địa phương đem hàng hóa hoặc bất kỳ lương thực nào đến bán trong ngày sa-bát, chúng con sẽ không mua từ những người đó trong ngày sa-bát hay trong ngày thánh. Vào năm thứ bảy, chúng con sẽ nghỉ canh tác và xóa tất cả các món nợ.

32. Chúng con cũng quy định cho chính mình, mỗi năm dâng một phần ba siếc-lơ bạc để dùng vào những công việc của đền thờ Đức Chúa Trời như: 33. bánh cung hiến, tế lễ chay thường kỳ, tế lễ thiêu hằng hiến trong ngày sa-bát, ngày trăng mới, và những lễ được quy định, những vật thánh, tế lễ chuộc tội của dân Y-sơ-ra-ên, và tất cả những công việc khác trong nhà của Đức Chúa Trời của chúng con.

34. Chúng con bắt thăm giữa vòng các thầy tế lễ, những người Lê-vi, và dân chúng để đem củi dâng vào nhà của Đức Chúa Trời, tùy theo mỗi gia tộc, vào những thời điểm được chỉ định, từ năm nầy sang năm khác, để đốt trên bàn thờ của Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng con, đúng như đã chép trong luật pháp.

35. Chúng con cũng lập những quy định sẽ mang sản vật đầu mùa của đất và những trái đầu mùa của tất cả các cây của chúng con, từ năm này sang năm khác, đến đền thờ của Đức Giê-hô-va; 36. và cũng theo điều đã chép trong luật pháp, chúng con sẽ đem con trai đầu lòng và con đầu lòng trong bầy súc vật chúng con, cùng chiên và bò sinh đầu lòng đến đền thờ của Đức Chúa Trời để giao cho các thầy tế lễ đang phục vụ trong nhà của Đức Chúa Trời của chúng con; 37. cũng đem bột nhồi đầu tiên của chúng con, những tế lễ, hoa quả của tất cả các loại cây, rượu mới và dầu, cho những thầy tế lễ, để chứa trong các kho của nhà của Đức Chúa Trời; và một phần mười hoa lợi của đất chúng con cho người Lê-vi, bởi vì người Lê-vi sẽ nhận một phần mười tại tất cả miền quê của chúng con. 38. Thầy tế lễ, con cháu A-rôn, sẽ đi với những người Lê-vi khi họ thu nhận một phần mười, rồi những người Lê-vi sẽ đem một phần mười của một phần mười đó đến nhà của Đức Chúa Trời của chúng con, đặt trong các căn phòng của nhà kho.

39. Vì vậy dân Y-sơ-ra-ên và người Lê-vi sẽ đem những lễ vật bằng lúa, rượu mới và dầu vào trong những phòng của kho, là nơi có các vật dụng của đền thánh, là nơi cư ngụ của những thầy tế lễ đang phục vụ, những người gác cổng và những ca sĩ; và chúng con sẽ không bỏ bê nhà của Đức Chúa Trời của chúng con.

Bản Dịch 1925

1. Nầy là tên của các người có đóng dấu mình trong giao ước ấy: Nê-hê-mi, làm quan tổng trấn, là con trai của Ha-ca-lia, và Sê-đê-kia, 2. Sê-ra-gia, A-xa-ria, Giê-rê-mi, 3. Pha-su-rơ, A-ma-ria, Manh-ki-gia, 4. Hát-túc, Sê-ba-nia, Ma-lúc, 5. Ha-rim, Mê-rê-mốt, Áp-đia, 6. Đa-ni-ên, Ghi-nê-thôn, Ba-rúc, 7. Mê-su-lam, A-bi-gia, Mi-gia-min, 8. Ma-a-xia, Binh-gai, Sê-ma-gia; ấy là những thầy tế lễ.

9. Những người Lê-vi là: Giê-sua, con trai của A-xa-nia; Bin-nui, con trai của Hê-na-đát; Cát-mi-ên, 10. và các anh em của họ, Sê-ba-nia, Hô-di-gia, Kê-li-ta, Bê-la-gia, Ha-nan, 11. Mi-chê, Rê-hốp, Ha-sa-bia, 12. Xác-cua, Sê-rê-bia, Sê-ba-nia, 13. Hô-đia, Ba-ni, và Bê-ni-nu. 14. Các quan trưởng của dân sự là: Pha-rốt, Pha-ba-Mô-áp, Ê-lam, Xát-tu, Ba-ni, 15. Bu-ni, A-gát, Bê-bai, 16. A-đô-ni-gia, Biết-vai, A-đin, 17. A-te, Ê-xê-chia, A-xu-rơ, 18. Hô-đia, Ha-sum, Bết-sai, 19. Ha-ríp, A-na-tốt, Ni-bai, 20. Mác-bi-ách, Mê-su-lam, Hê-xia, 21. Mê-sê-xa-bê-ên, Xa-đốc, Gia-đua, 22. Phê-la-tia, Ha-nan, A-na-gia, 23. Ô-sê, Ha-na-nia, Ha-súp, 24. Ha-lô-hết, Bi-la, Sô-béc, 25. Rê-hum, Ha-sáp-na, Ma-a-xê-gia, 26. A-hi-gia, Ha-nan, A-nan, 27. Ma-lúc, Ha-rim, và Ba-a-na. 28. Dân sự còn sót lại, những thầy tế lễ, người Lê-vi, kẻ canh giữ cửa, kẻ ca hát, người Nê-thi-nim, các người đã chia rẽ cùng các dân tộc của xứ đặng theo luật pháp của Đức Chúa Trời, và vợ, con trai, con gái của họ, tức các người có sự tri thức và sự thông sáng, 29. đều hiệp theo các anh em và các tước vị của mình, mà thề hứa đi theo luật pháp của Đức Chúa Trời đã cậy Môi-se, tôi tớ Ngài ban cho, và gìn giữ làm theo các điều răn của Đức Giê-hô-va, là Chúa chúng tôi, cùng lệ luật và phép tắc của Ngài. 30. Chúng tôi hứa không gả các con gái chúng tôi cho dân tộc của xứ, và chẳng cưới con gái chúng nó cho con trai chúng tôi; 31. lại hứa rằng nếu trong ngày sa bát hay ngày thánh nào, dân của xứ đem hoặc những hóa vật, hoặc các thứ lương thực đặng bán cho, thì chúng tôi sẽ chẳng mua; và qua năm thứ bảy, chúng tôi sẽ để cho đất hoang, và chẳng đòi nợ nào hết.

32. Chúng tôi cũng định lấy lệ buộc chúng tôi mỗi năm dâng một phần ba siếc-lơ dùng về các công việc của đền Đức Chúa Trời chúng tôi, 33. về bánh trần thiết, về của lễ chay thường dâng, về của lễ thiêu hằng hiến, về của lễ dâng trong ngày sa-bát, trong ngày mồng một, và trong các ngày lễ trọng thể, lại dùng về các vật thánh, về của lễ chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên, và về các công việc làm trong đền Đức Chúa Trời của chúng tôi. 34. Chúng tôi, là những thầy tế lễ, người Lê-vi, và dân sự khác, bắt thăm về việc dâng củi lửa, đặng mỗi năm, theo kỳ nhất định, tùy nhà tổ phụ mình, mà đem những củi đến đền của Đức Chúa Trời chúng tôi, hầu cho đốt trên bàn thờ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng tôi, y như đã chép trong luật pháp vậy. 35. Chúng tôi cũng định mỗi năm đem vật đầu mùa của đất chúng tôi, và các thứ trái đầu mùa của các cây chúng tôi đến đền của Đức Giê-hô-va;

36. lại chiếu theo luật pháp, đem luôn con đầu lòng trong vòng các con trai chúng tôi, và con đầu lòng của súc vật chúng tôi, hoặc chiên hay bò, đến đền thờ Đức Chúa Trời chúng tôi mà giao cho những thầy tế lễ hầu việc trong đền của Đức Chúa Trời chúng tôi. 37. Chúng tôi cũng hứa đem của đầu mùa về bột nhồi của chúng tôi, về của lễ giơ lên, bông trái của các thứ cây, rượu mới, và dầu, mà giao cho những thầy tế lễ, trong các kho tàng của đền Đức Chúa Trời chúng tôi; còn một phần mười huê lợi đất của chúng tôi thì đem nộp cho người Lê-vi; vì người Lê-vi thâu lấy một phần mười trong thổ sản của ruộng đất về các thành chúng tôi. 38. Thầy tế lễ, con cháu của A-rôn, sẽ đi với người Lê-vi, khi họ thâu lấy thuế một phần mười; rồi họ sẽ đem một phần mười của trong thuế một phần mười ấy đến đền của Đức Chúa Trời chúng tôi, để tại nơi phòng của kho tàng. 39. Vì dân Y-sơ-ra-ên và người Lê-vi sẽ đem các của lễ giơ lên bằng lúa mì, rượu, và dầu mới vào trong những phòng ấy, là nơi có các khí dụng của đền thánh, những thầy tế lễ hầu việc, kẻ canh cửa và những người ca hát. Vậy, chúng tôi sẽ chẳng lìa bỏ đền của Đức Chúa Trời chúng tôi đâu.

Bản Dịch 2011

'

1 Trên mặt văn kiện được đóng ấn ấy có tên của Tổng Trấn Nê-hê-mi con của Ha-ca-li-a, và Xê-đê-ki-a, 2 Sê-rai-a, A-xa-ri-a, Giê-rê-mi, 3 Pát-khua, A-ma-ri-a, Manh-ki-gia, 4 Hát-túc, Sê-ba-ni-a, Manh-lúc, 5 Ha-rim, Mê-rê-mốt, Ô-ba-đi-a, 6 Ða-ni-ên, Ghin-nê-thôn, Ba-rúc, 7 Mê-su-lam, A-bi-gia, Mi-gia-min, 8 Ma-a-xi-a, Bin-gai, Sê-ma-gia. Ðây là các tư tế.

9 Những người Lê-vi có Giê-sua con của A-xa-ni-a, Bin-nui một trong các con của Hê-na-đát, Cát-mi-ên, 10 và những người cộng sự của họ gồm: Sê-ba-ni-a, Hô-đi-a, Kê-li-ta, Pê-la-gia, Ha-nan, 11 Mi-ca, Rê-hốp, Ha-sa-bi-a, 12 Xác-cua, Sê-rê-bi-a, Sê-ba-ni-a, 13 Hô-đi-a, Ba-ni, và Bê-ni-nu.

14 Các nhà lãnh đạo của dân có Pa-rốt, Pa-hát Mô-áp, Ê-lam, Xát-tu, Ba-ni, 15 Bun-ni, A-xơ-gát, Bê-bai, 16 A-đô-ni-gia, Bích-vai, A-đin, 17 A-te, Hê-xê-ki-a, A-xua, 18 Hô-đi-a, Ha-sum, Bê-xai, 19 Ha-ríp, A-na-thốt, Nê-bai, 20 Mặc-pi-ách, Mê-su-lam, Hê-xia, 21 Mê-sê-xa-bên, Xa-đốc, Gia-đua, 22 Pê-la-ti-a, Ha-nan, A-na-gia, 23 Hô-sê, Ha-na-ni-a, Hạc-súp, 24 Ha-lô-hết, Pin-ha, Sô-béc, 25 Rê-hum, Ha-sáp-na, Ma-a-sê-gia, 26 A-hi-a, Ha-nan, A-nan, 27 Manh-lúc, Ha-rim, và Ba-a-na.

Tóm Lược Giao Ước

28 Những người còn lại trong dân gồm các tư tế, những người Lê-vi, những người giữ cửa, những người ca hát, những người phục vụ trong Ðền Thờ, và tất cả những ai đã tự tách rời ra khỏi các dân khác chủng tộc trong xứ để hết lòng vâng giữ luật pháp của Ðức Chúa Trời đã cùng với vợ, các con trai, các con gái, và tất cả thiếu niên đủ hiểu biết 29 hiệp với những người thân của họ, tức những nhà quyền quý, để lập một lời nguyền rủa và một lời thệ nguyện, hầu bước đi trong luật pháp của Ðức Chúa Trời, là luật đã ban cho Môi-se tôi tớ của Ðức Chúa Trời, vâng giữ và thực thi mọi điều răn của CHÚA, Ðức Chúa Trời của chúng tôi, cùng các luật lệ và các mạng lịnh của Ngài.

30 Chúng tôi sẽ không gả con gái chúng tôi cho dân trong xứ và cũng không cưới con gái của họ cho con trai chúng tôi.

31 Nếu các dân khác chủng tộc trong xứ mang các hàng hóa hay lúa gạo đến bán trong ngày Sa-bát, chúng tôi sẽ không mua của họ bất cứ vật gì trong ngày Sa-bát hay trong ngày lễ thánh.

Cứ mỗi năm thứ bảy chúng tôi sẽ nghỉ canh tác và sẽ xóa mọi món nợ của nhau.

32 Chúng tôi tự buộc mình mỗi năm phải đóng góp một số tiền nhất định để trang trải các chi phí cho việc phục vụ nhà Ðức Chúa Trời của chúng tôi. 33 Ðó là các chi phí để làm bánh dâng trên bàn thờ hằng tuần, những của lễ chay định kỳ, những của lễ thiêu định kỳ, chi phí cho những ngày Sa-bát, những ngày lễ đầu tháng, những ngày đại lễ, mua sắm những vật thánh, chi phí cho những của lễ chuộc tội để chuộc tội cho dân I-sơ-ra-ên, và những chi phí khác cho mọi công việc của nhà Ðức Chúa Trời chúng tôi.

34 Chúng tôi cũng bắt thăm giữa vòng các tư tế, những người Lê-vi, và dân chúng để dâng củi và mang củi đến nhà Ðức Chúa Trời chúng tôi, cứ theo từng chi tộc, vào những thời điểm nhất định, năm này qua năm khác, để đốt trên bàn thờ CHÚA, Ðức Chúa Trời của chúng tôi, y như đã ghi trong luật pháp.

35 Chúng tôi cũng tự buộc mình hằng năm phải đem đến dâng trong nhà CHÚA những hoa quả đầu mùa của ruộng đất chúng tôi và những trái cây đầu mùa của mọi cây ra trái của chúng tôi.

36 Chúng tôi sẽ đem đến nhà Ðức Chúa Trời của chúng tôi, tức đem đến cho các tư tế đang thi hành chức vụ trong nhà Ðức Chúa Trời của chúng tôi, con trai đầu lòng của chúng tôi và con vật đầu lòng của súc vật chúng tôi, y như đã ghi trong luật pháp, tức các con vật đầu lòng của đàn bò đàn lừa chúng tôi và của đàn chiên đàn dê chúng tôi.

37 Ngoài ra chúng tôi sẽ đem phần bột thượng hạng, những của dâng, những trái cây của mỗi cây, rượu và dầu đến các tư tế, tức đem vào các kho của nhà Ðức Chúa Trời của chúng tôi, và đem đến những người Lê-vi một phần mười các sản vật của ruộng đất chúng tôi, vì những người Lê-vi được hưởng nhận các của dâng một phần mười trong các thành ở miền quê. 38 Một tư tế trong dòng dõi của A-rôn sẽ có mặt với những người Lê-vi khi những người Lê-vi tiếp nhận các của dâng một phần mười. Những người Lê-vi sẽ lấy ra một phần mười từ các của dâng một phần mười để đem đến nhà Ðức Chúa Trời của chúng tôi, tức đem đến các phòng chứa của nhà kho. 39 Dân I-sơ-ra-ên và các con cháu Lê-vi sẽ đem các của dâng lấy ra từ gạo, rượu, và dầu mang đến các phòng chứa, nơi có các vật dụng của đền thánh, nơi các tư tế thi hành chức vụ, và nơi những người giữ cửa và những người ca hát phục vụ. Chúng tôi sẽ không bỏ bê nhà Ðức Chúa Trời của chúng tôi.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành