Ê-xơ-ra: Chương 8

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB15C008)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch Việt Ngữ

1. Đây là các trưởng tộc theo gia phả, là những người đã từ Ba-by-lôn trở về với tôi dưới triều Vua Ạt-ta-xét-xe:

2. Về con cháu Phi-nê-a có Ghẹt-sôn; về con cháu Y-tha-ma có Đa-ni-ên; về con cháu Đa-vít có Hát-túc; 3. về con cháu Sê-ca-nia, là con cháu của Pha-rốt, có Xa-cha-ri và những người cùng với ông theo số ghi danh là một trăm năm mươi người nam. 4. Về con cháu Pha-hát Mô-áp có Ê-li-ô-ê-nai, con trai của Xê-ra-hi-gia, cùng với ông có hai trăm người nam; 5. về con cháu Sê-ca-nia có con trai Gia-ha-xi-ên, cùng với ông có ba trăm người nam; 6. về con cháu A-đin có Ê-bết, con trai Giô-na-than, cùng với ông có năm mươi người nam; 7. về con cháu Ê-lam có Ê-sai, con trai A-tha-lia, cùng với ông có bảy mươi người nam; 8. về con cháu Sê-pha-tia có Xê-ba-đia, con trai Mi-ca-ên, cùng với ông có tám mươi người nam; 9. về con cháu Giô-áp có Áp-đia, con trai Giê-hi-ên, cùng với ông có hai trăm mười tám người nam; 10. về con cháu Sê-lô-mít có con trai Giô-si-phia, cùng với ông có một trăm sáu mươi người nam; 11. về con cháu Bê-bai có Xa-cha-ri, con trai của Bê-bai, cùng với ông có hai mươi tám người nam; 12. về con cháu A-gát có Giô-ha-nan, con trai của Ha-ca-tan, cùng với ông có một trăm mười người nam; 13. về con cháu A-đô-ni-cam - những người cuối cùng - tên của họ là: Ê-li-phê-lết, Giê-i-ên, và Sê-ma-gia, cùng với họ có sáu mươi người nam; 14. về con cháu Biết-vai có U-thai và Xáp-bút, cùng với họ có bảy mươi người nam.

15. Tôi đã tập hợp họ bên cạnh dòng sông chảy về A-ha-va. Chúng tôi đóng trại tại đó ba ngày, và khi tôi kiểm tra giữa vòng dân chúng và các thầy tế lễ, tôi không thấy một người Lê-vi nào cả. 16. Tôi đã triệu tập Ê-li-ê-xe, A-ri-ên, Sê-ma-gia, Ê-na-than, Gia-ríp, Ên-na-than, Na-than, Xa-cha-ri, và Mê-su-lam, là những lãnh đạo, cùng với Giô-gia-ríp và Ên-na-than, là các học giả. 17. Tôi truyền cho họ đến với Y-đô, người lãnh đạo tại Ca-si-phia; tôi dặn họ những điều họ cần nói với Y-đô và những anh em của ông, tức là những người phục vụ đền thờ đang ở tại Ca-si-phia, để họ đem đến cho chúng tôi những người phục vụ trong đền thờ Đức Chúa Trời của chúng ta.

18. Nhờ tay nhân từ của Đức Chúa Trời ở trên chúng tôi, họ đã đem đến cho chúng tôi một người khôn ngoan, thuộc dòng dõi Mách-li, là hậu tự của Lê-vi, con trai của Y-sơ-ra-ên, tên là Sê-rê-bia và các con trai cùng anh em của ông, là mười tám người; 19. và Ha-sa-bia, cùng với ông có Ê-sai, thuộc dòng dõi Mê-ra-ri, cùng các anh em và những con trai của họ, gồm hai mươi người. 20. Ngoài ra cũng có những người phục vụ đền thờ mà Đa-vít và các triều thần đã bổ nhiệm để phụ giúp những người Lê-vi, danh sách tên của tất cả những người phục vụ đền thờ được biệt riêng ra là hai trăm hai mươi người.

21. Tại đó, bên dòng sông A-ha-va, tôi đã công bố một cuộc kiêng ăn, chúng tôi hạ mình xuống trước Đức Chúa Trời của chúng tôi, và cầu xin Ngài chỉ cho chúng tôi, các con nhỏ của chúng tôi, cùng với tài sản của chúng tôi một con đường đúng. 22. Bởi vì tôi đã hổ thẹn, không xin vua một toán quân và kỵ binh để bảo vệ chúng tôi khỏi những kẻ thù lúc đi đường, vì chúng tôi có nói với vua rằng: “Tay của Đức Chúa Trời chúng tôi ở trên những người tìm kiếm Ngài để ban điều tốt lành, nhưng quyền năng và thạnh nộ của Ngài chống lại những kẻ lìa bỏ Ngài.” 23. Vì vậy, chúng tôi đã kiêng ăn và cầu xin Đức Chúa Trời về điều này, và Ngài đã nhậm lời cầu xin của chúng tôi.

24. Và rồi tôi đã biệt riêng ra mười hai thầy tế lễ lãnh đạo, là Sê-rê-bia, Ha-sa-bia cùng với mười anh em của họ. 25. Tôi đã cân cho họ bạc, vàng và những vật dụng, là những lễ vật đã được dâng cho nhà Đức Chúa Trời của chúng ta, mà vua, các cố vấn, các triều thần của vua, cùng tất cả những người Y-sơ-ra-ên đang hiện diện tại đó, đã dâng. 26. Vì vậy, tôi đã cân và giao cho họ sáu trăm năm mươi ta-lâng bạc, những vật dụng bằng bạc trị giá một trăm ta-lâng, và một trăm ta-lâng vàng, 27. hai mươi chén bằng vàng trị giá một ngàn đa-riếc, và hai vật dụng bằng đồng được đánh bóng thật đẹp, quý như vàng.

28. Rồi tôi nói với họ: “Anh em là người thánh của Đức Giê-hô-va, những vật dụng nầy là thánh; bạc và vàng nầy là một lễ vật tự nguyện được dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta. 29. Hãy canh giữ chúng cho đến khi anh em cân lại trước mặt những lãnh đạo, những thầy tế lễ, và những người Lê-vi, và những trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên trong các phòng của nhà Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem.”

30. Vì vậy, những thầy tế lễ và những người Lê-vi đã nhận bạc, vàng, và những vật dụng đã cân để đem vào nhà Đức Chúa Trời của chúng ta tại Giê-ru-sa-lem,.

31. Ngày mười hai tháng giêng, chúng tôi khởi hành từ sông A-ha-va để đi đến Giê-ru-sa-lem. Tay của Đức Chúa Trời đã ở trên chúng tôi, và Ngài đã giải cứu chúng tôi khỏi tay các kẻ thù và sự phục kích dọc đường. 32. Vì thế chúng tôi đã đến Giê-ru-sa-lem và ở tại đó ba ngày. 33. Ngày thứ tư, bạc, vàng, và những vật dụng đã được cân trong nhà của Đức Chúa Trời, rồi giao cho Mê-rê-mốt, con trai U-ri, thầy tế lễ, cùng với ông có Ê-lê-a-sa, con trai của Phi-nê-a, và cùng với họ có Giô-xa-báp, con trai Giê-sua, và Nô-a-đia, con trai Bin-nui, là những người Lê-vi. 34. Tất cả đều được đếm và cân; trọng lượng của mỗi vật đã được ghi chép vào lúc đó.

35. Những người tha hương, là những người từ chốn lưu đày trở về, đã dâng những tế lễ thiêu cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, gồm mười hai bò đực cho cả Y-sơ-ra-ên, chín mươi sáu cừu đực, bảy mươi bảy chiên con, và mười hai dê đực để làm tế lễ chuộc tội: tất cả đều dâng làm tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va.

36. Họ đã trao những chiếu chỉ của vua cho các tỉnh trưởng và cho các tổng đốc của vua ở phía bên kia sông. Những vị nầy đã giúp đỡ dân chúng và nhà của Đức Chúa Trời.

Bản Dịch Đại Chúng

Đây là các trưởng tộc theo gia phả, là những người đã từ Ba-by-lôn trở về với tôi dưới triều Vua Ạt-ta-xét-xe:

Về con cháu Phi-nê-a có Ghẹt-sôn; về con cháu Y-tha-ma có Đa-ni-ên; về con cháu Đa-vít có Hát-túc; về con cháu Sê-ca-nia, là con cháu của Pha-rốt, có Xa-cha-ri và những người cùng với ông theo số ghi danh là một trăm năm mươi người nam. Về con cháu Pha-hát Mô-áp có Ê-li-ô-ê-nai, con trai của Xê-ra-hi-gia, cùng với ông có hai trăm người nam; về con cháu Sê-ca-nia có con trai Gia-ha-xi-ên, cùng với ông có ba trăm người nam; về con cháu A-đin có Ê-bết, con trai Giô-na-than, cùng với ông có năm mươi người nam; về con cháu Ê-lam có Ê-sai, con trai A-tha-lia, cùng với ông có bảy mươi người nam; về con cháu Sê-pha-tia có Xê-ba-đia, con trai Mi-ca-ên, cùng với ông có tám mươi người nam; về con cháu Giô-áp có Áp-đia, con trai Giê-hi-ên, cùng với ông có hai trăm mười tám người nam; về con cháu Sê-lô-mít có con trai Giô-si-phia, cùng với ông có một trăm sáu mươi người nam; về con cháu Bê-bai có Xa-cha-ri, con trai của Bê-bai, cùng với ông có hai mươi tám người nam; về con cháu A-gát có Giô-ha-nan, con trai của Ha-ca-tan, cùng với ông có một trăm mười người nam; về con cháu A-đô-ni-cam - những người cuối cùng - tên của họ là: Ê-li-phê-lết, Giê-i-ên, và Sê-ma-gia, cùng với họ có sáu mươi người nam; về con cháu Biết-vai có U-thai và Xáp-bút, cùng với họ có bảy mươi người nam.

Tôi đã tập hợp họ bên cạnh dòng sông chảy về A-ha-va. Chúng tôi đóng trại tại đó ba ngày, và khi tôi kiểm tra giữa vòng dân chúng và các thầy tế lễ, tôi không thấy một người Lê-vi nào cả. Tôi đã triệu tập Ê-li-ê-xe, A-ri-ên, Sê-ma-gia, Ê-na-than, Gia-ríp, Ên-na-than, Na-than, Xa-cha-ri, và Mê-su-lam, là những lãnh đạo, cùng với Giô-gia-ríp và Ên-na-than, là các học giả. Tôi truyền cho họ đến với Y-đô, người lãnh đạo tại Ca-si-phia; tôi dặn họ những điều họ cần nói với Y-đô và những anh em của ông, tức là những người phục vụ đền thờ đang ở tại Ca-si-phia, để họ đem đến cho chúng tôi những người phục vụ trong đền thờ Đức Chúa Trời của chúng ta.

Nhờ tay nhân từ của Đức Chúa Trời ở trên chúng tôi, họ đã đem đến cho chúng tôi một người khôn ngoan, thuộc dòng dõi Mách-li, là hậu tự của Lê-vi, con trai của Y-sơ-ra-ên, tên là Sê-rê-bia và các con trai cùng anh em của ông, là mười tám người; và Ha-sa-bia, cùng với ông có Ê-sai, thuộc dòng dõi Mê-ra-ri, cùng các anh em và những con trai của họ, gồm hai mươi người. Ngoài ra cũng có những người phục vụ đền thờ mà Đa-vít và các triều thần đã bổ nhiệm để phụ giúp những người Lê-vi, danh sách tên của tất cả những người phục vụ đền thờ được biệt riêng ra là hai trăm hai mươi người.

Tại đó, bên dòng sông A-ha-va, tôi đã công bố một cuộc kiêng ăn, chúng tôi hạ mình xuống trước Đức Chúa Trời của chúng tôi, và cầu xin Ngài chỉ cho chúng tôi, các con nhỏ của chúng tôi, cùng với tài sản của chúng tôi một con đường đúng. Bởi vì tôi đã hổ thẹn, không xin vua một toán quân và kỵ binh để bảo vệ chúng tôi khỏi những kẻ thù lúc đi đường, vì chúng tôi có nói với vua rằng: “Tay của Đức Chúa Trời chúng tôi ở trên những người tìm kiếm Ngài để ban điều tốt lành, nhưng quyền năng và thạnh nộ của Ngài chống lại những kẻ lìa bỏ Ngài.” Vì vậy, chúng tôi đã kiêng ăn và cầu xin Đức Chúa Trời về điều này, và Ngài đã nhậm lời cầu xin của chúng tôi.

Và rồi tôi đã biệt riêng ra mười hai thầy tế lễ lãnh đạo, là Sê-rê-bia, Ha-sa-bia cùng với mười anh em của họ. Tôi đã cân cho họ bạc, vàng và những vật dụng, là những lễ vật đã được dâng cho nhà Đức Chúa Trời của chúng ta, mà vua, các cố vấn, các triều thần của vua, cùng tất cả những người Y-sơ-ra-ên đang hiện diện tại đó, đã dâng. Vì vậy, tôi đã cân và giao cho họ sáu trăm năm mươi ta-lâng bạc, những vật dụng bằng bạc trị giá một trăm ta-lâng, và một trăm ta-lâng vàng, hai mươi chén bằng vàng trị giá một ngàn đa-riếc, và hai vật dụng bằng đồng được đánh bóng thật đẹp, quý như vàng.

Rồi tôi nói với họ: “Anh em là người thánh của Đức Giê-hô-va, những vật dụng nầy là thánh; bạc và vàng nầy là một lễ vật tự nguyện được dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta. Hãy canh giữ chúng cho đến khi anh em cân lại trước mặt những lãnh đạo, những thầy tế lễ, và những người Lê-vi, và những trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên trong các phòng của nhà Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem.”

Vì vậy, những thầy tế lễ và những người Lê-vi đã nhận bạc, vàng, và những vật dụng đã cân để đem vào nhà Đức Chúa Trời của chúng ta tại Giê-ru-sa-lem,.

Ngày mười hai tháng giêng, chúng tôi khởi hành từ sông A-ha-va để đi đến Giê-ru-sa-lem. Tay của Đức Chúa Trời đã ở trên chúng tôi, và Ngài đã giải cứu chúng tôi khỏi tay các kẻ thù và sự phục kích dọc đường. Vì thế chúng tôi đã đến Giê-ru-sa-lem và ở tại đó ba ngày. Ngày thứ tư, bạc, vàng, và những vật dụng đã được cân trong nhà của Đức Chúa Trời, rồi giao cho Mê-rê-mốt, con trai U-ri, thầy tế lễ, cùng với ông có Ê-lê-a-sa, con trai của Phi-nê-a, và cùng với họ có Giô-xa-báp, con trai Giê-sua, và Nô-a-đia, con trai Bin-nui, là những người Lê-vi. Tất cả đều được đếm và cân; trọng lượng của mỗi vật đã được ghi chép vào lúc đó.

Những người tha hương, là những người từ chốn lưu đày trở về, đã dâng những tế lễ thiêu cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, gồm mười hai bò đực cho cả Y-sơ-ra-ên, chín mươi sáu cừu đực, bảy mươi bảy chiên con, và mười hai dê đực để làm tế lễ chuộc tội: tất cả đều dâng làm tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va.

Họ đã trao những chiếu chỉ của vua cho các tỉnh trưởng và cho các tổng đốc của vua ở phía bên kia sông. Những vị nầy đã giúp đỡ dân chúng và nhà của Đức Chúa Trời.

Bản Dịch Ngữ Căn

1. Đây là các trưởng tộc theo gia phả, là những người đã từ Ba-by-lôn trở về với tôi dưới triều Vua Ạt-ta-xét-xe:

2. Về con cháu Phi-nê-a có Ghẹt-sôn; về con cháu Y-tha-ma có Đa-ni-ên; về con cháu Đa-vít có Hát-túc; 3. về con cháu Sê-ca-nia, là con cháu của Pha-rốt, có Xa-cha-ri và những người cùng với ông theo số ghi danh là một trăm năm mươi người nam. 4. Về con cháu Pha-hát Mô-áp có Ê-li-ô-ê-nai, con trai của Xê-ra-hi-gia, cùng với ông có hai trăm người nam; 5. về con cháu Sê-ca-nia có con trai Gia-ha-xi-ên, cùng với ông có ba trăm người nam; 6. về con cháu A-đin có Ê-bết, con trai Giô-na-than, cùng với ông có năm mươi người nam; 7. về con cháu Ê-lam có Ê-sai, con trai A-tha-lia, cùng với ông có bảy mươi người nam; 8. về con cháu Sê-pha-tia có Xê-ba-đia, con trai Mi-ca-ên, cùng với ông có tám mươi người nam; 9. về con cháu Giô-áp có Áp-đia, con trai Giê-hi-ên, cùng với ông có hai trăm mười tám người nam; 10. về con cháu Sê-lô-mít có con trai Giô-si-phia, cùng với ông có một trăm sáu mươi người nam; 11. về con cháu Bê-bai có Xa-cha-ri, con trai của Bê-bai, cùng với ông có hai mươi tám người nam; 12. về con cháu A-gát có Giô-ha-nan, con trai của Ha-ca-tan, cùng với ông có một trăm mười người nam; 13. về con cháu A-đô-ni-cam - những người cuối cùng - tên của họ là: Ê-li-phê-lết, Giê-i-ên, và Sê-ma-gia, cùng với họ có sáu mươi người nam; 14. về con cháu Biết-vai có U-thai và Xáp-bút, cùng với họ có bảy mươi người nam.

15. Tôi đã tập hợp họ bên cạnh dòng sông chảy về A-ha-va. Chúng tôi đóng trại tại đó ba ngày, và khi tôi kiểm tra giữa vòng dân chúng và các thầy tế lễ, tôi không thấy một người Lê-vi nào. 16. Tôi đã triệu tập Ê-li-ê-xe, A-ri-ên, Sê-ma-gia, Ê-na-than, Gia-ríp, Ên-na-than, Na-than, Xa-cha-ri, và Mê-su-lam, là những lãnh đạo, cùng với Giô-gia-ríp và Ên-na-than, là các học giả. 17. Tôi truyền cho họ đến với Y-đô, người lãnh đạo tại Ca-si-phia; tôi dặn họ những điều họ cần nói với Y-đô và những anh em của ông, tức là những người phục vụ đền thờ đang ở tại Ca-si-phia, để họ đem đến cho chúng tôi những người phục vụ trong đền thờ Đức Chúa Trời của chúng ta. 18. Nhờ tay nhân từ của Đức Chúa Trời ở trên chúng tôi, họ đã đem đến cho chúng tôi một người khôn ngoan, thuộc dòng dõi Mách-li, là hậu tự của Lê-vi, con trai của Y-sơ-ra-ên, tên là Sê-rê-bia và các con trai cùng anh em của ông, là mười tám người; 19. và Ha-sa-bia, cùng với ông có Ê-sai, thuộc dòng dõi Mê-ra-ri, cùng các anh em và những con trai của họ, gồm hai mươi người. 20. Ngoài ra cũng có những người phục vụ đền thờ mà Đa-vít và các triều thần đã bổ nhiệm để phụ giúp những người Lê-vi, danh sách tên của tất cả những người phục vụ đền thờ được biệt riêng ra là hai trăm hai mươi người.

21. Tại đó, bên dòng sông A-ha-va, tôi đã công bố một cuộc kiêng ăn, chúng tôi hạ mình xuống trước Đức Chúa Trời của chúng tôi, và cầu xin Ngài chỉ cho chúng tôi, các con nhỏ của chúng tôi, cùng với tài sản của chúng tôi một con đường đúng. 22. Bởi vì tôi đã hổ thẹn, không xin vua một toán quân và kỵ binh để bảo vệ chúng tôi khỏi những kẻ thù lúc đi đường, vì chúng tôi có nói với vua rằng: “Tay của Đức Chúa Trời chúng tôi ở trên những người tìm kiếm Ngài để ban điều tốt lành, nhưng quyền năng và thạnh nộ của Ngài chống lại những kẻ lìa bỏ Ngài.” 23. Vì vậy, chúng tôi đã kiêng ăn và cầu xin Đức Chúa Trời về điều này, và Ngài đã nhậm lời cầu xin của chúng tôi.

24. Và rồi tôi đã biệt riêng ra mười hai thầy tế lễ lãnh đạo, là Sê-rê-bia, Ha-sa-bia cùng với mười anh em của họ. 25. Tôi đã cân cho họ bạc, vàng và những vật dụng, là những lễ vật đã được dâng cho nhà Đức Chúa Trời của chúng ta, mà vua, các cố vấn, các triều thần của vua, cùng tất cả những người Y-sơ-ra-ên đang hiện diện tại đó, đã dâng. 26. Vì vậy, tôi đã cân và giao cho họ sáu trăm năm mươi ta-lâng bạc, những vật dụng bằng bạc trị giá một trăm ta-lâng, và một trăm ta-lâng vàng, 27. hai mươi chén bằng vàng trị giá một ngàn đa-riếc, và hai vật dụng bằng đồng được đánh bóng thật đẹp, quý như vàng. 28. Rồi tôi nói với họ: “Anh em là người thánh của Đức Giê-hô-va, những vật dụng nầy là thánh; bạc và vàng nầy là một lễ vật tự nguyện được dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta. 29. Hãy canh giữ chúng cho đến khi anh em cân lại trước mặt những lãnh đạo, những thầy tế lễ, và những người Lê-vi, và những trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên trong các phòng của nhà Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem.” 30. Vì vậy, những thầy tế lễ và những người Lê-vi đã nhận bạc, vàng, và những vật dụng đã cân để đem vào nhà Đức Chúa Trời của chúng ta tại Giê-ru-sa-lem,.

31. Ngày mười hai tháng giêng, chúng tôi khởi hành từ sông A-ha-va để đi đến Giê-ru-sa-lem. Tay của Đức Chúa Trời đã ở trên chúng tôi, và Ngài đã giải cứu chúng tôi khỏi tay các kẻ thù và sự phục kích dọc đường. 32. Vì thế chúng tôi đã đến Giê-ru-sa-lem và ở tại đó ba ngày. 33. Ngày thứ tư, bạc, vàng, và những vật dụng đã được cân trong nhà của Đức Chúa Trời, rồi giao cho Mê-rê-mốt, con trai U-ri, thầy tế lễ, cùng với ông có Ê-lê-a-sa, con trai của Phi-nê-a, và cùng với họ có Giô-xa-báp, con trai Giê-sua, và Nô-a-đia, con trai Bin-nui, là những người Lê-vi. 34. Tất cả đều được đếm và cân; trọng lượng của mỗi vật đã được ghi chép vào lúc đó.

35. Những người tha hương, là những người từ chốn lưu đày trở về, đã dâng những tế lễ thiêu cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, gồm mười hai bò đực cho cả Y-sơ-ra-ên, chín mươi sáu cừu đực, bảy mươi bảy chiên con, và mười hai dê đực để làm tế lễ chuộc tội: tất cả đều dâng làm tế lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va.

36. Họ đã trao những chiếu chỉ của vua cho các tỉnh trưởng và cho các tổng đốc của vua ở phía bên kia sông. Những vị nầy đã giúp đỡ dân chúng và nhà của Đức Chúa Trời.

Bản Dịch 1925

1. Nầy những trưởng tộc và gia phổ của các ngươi từ Ba-by-lôn đi lên với ta, trong đời vua Ạt-ta-xét-xe trị vì. 2. Về con cháu Phi-nê-a có Ghẹt-sôn; về con cháu Y-tha-ma có Đa-ni-ên; về con cháu Đa-vít có Hát-túc; 3. về con cháu Sê-ca-nia, con cháu Pha-rốt có Xa-cha-ri, và những kẻ ở với người; theo gia phổ sổ được một trăm năm mươi nam đinh; 4. về con cháu Pha-hát-Mô-áp có Ê-li-ô-ê-nai, con trai của Xê-ra-hi-gia, và với người được hai trăm nam đinh; 5. về con cháu Se-ca-nia có con trai Gia-ha-xi-ên, và với người được ba trăm nam đinh; 6. về con cháu A-đin có Ê-bết, con trai Giô-na-than, và với người được năm mươi nam đinh; 7. về con cháu Ê-lam có Ê-sai, con trai A-tha-lia, và với người được bảy mươi nam đinh; 8. về con cháu Sê-pha-ti-a có Xê-ba-đia, con trai Mi-ca-ên, và với người được tám mươi nam đinh; 9. về con cháu Giô-áp có Áp-đia, con trai Giê-hi-ên, và với người được hai trăm mưới tám nam đinh; 10. về con cháu Sê-lô-mít có con trai Giô-si-phia, và với người được một trăm sáu mươi nam đinh; 11. về con cháu Bê-bai có Xa-cha-ri, con trai của Bê-bai, và với người được hai mươi tám nam đinh. 12. về con cháu A-gát có Giô-ha-ham, con trai của Ha-ca-tan, và với người được một trăm mười nam đinh; 13. những kẻ thuộc về con cháu A-đô-ni-cam đến sau hết; tên chúng là Ê-li-phê-lết, Giê-hi-ên, và Sê-ma-gia, và với họ được sáu mươi nam đinh; 14. về con cháu Biết-vai có U-tai cùng Xáp-bút, và với họ được bảy mươi nam đinh.

15. Ta nhóm hiệp chúng gần bên sông chảy về A-ha-va, rồi chúng ta hạ trại tại đó ba ngày. Đoạn ta xem xét dân sự và thầy tế lễ, song chẳng thấy một người Lê-vi nào hết. 16. Ta bèn sai gọi các trưởng tộc Ê-li-ê-xe, A-ri-ên, Sê-ma-gia, Ê-na-than, Gia-ríp, Ên-na-than, Na-than, Xa-cha-ri, và Mê-su-lam, luôn Giô-gia-ríp và Ên-na-than, là thầy giáo sư; 17. Ta sai các người ấy đi đến trưởng tộc Y-đô ở tại Ca-si-phia, biểu họ phải dạy Y-đô và các anh em người, tức người Nê-thi-nim, ở tại Ca-si-phia, phải dẫn đến cùng chúng ta những kẻ giúp việc nơi đền thờ của Đức Chúa Trời chúng ta. 18. Vì nhờ tay Đức Chúa Trời chúng ta phù trợ, các người ấy dẫn đến cùng chúng ta một người khôn ngoan, thuộc về dòng Mách-li, là hậu tự của Lê-vi, con trai của Y-sơ-ra-ên, luôn Sê-rê-bia, và các con trai cùng anh em người, số được mười tám tên; 19. lại được Ha-sa-bia và Ê-sai, thuộc về dòng Mê-ra-ri, cùng các anh em và các con trai người, số là hai mươi tên; 20. còn trong những người Nê-thi-nim mà Đa-vít và các quan trưởng đã đặt giúp việc người Lê-vi, thì có được hai trăm hai mươi người, thảy đều gọi đích danh.

21. Tại đó, gần bên sông A-ha-va, ta truyền kiêng cữ ăn, để chúng hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời chúng ta, và cầu xin Ngài chỉ cho biết đường chánh đáng chúng ta, con cái chúng ta, và tài sản mình phải đi. 22. Vả lại, ta lấy làm thẹn, chẳng dám xin vua một đạo quân và lính kỵ binh vực chúng ta khỏi kẻ thù nghịch trong lúc đi đường; vì chúng ta có nói với vua rằng: Tay của Đức Chúa Trời chúng tôi phù trợ mọi kẻ nào tìm kiếm Ngài; nhưng quyền năng và thạnh nộ Ngài kháng cự nhũng kẻ nào lìa bỏ Ngài. 23. Ấy vậy, chúng ta kiêng cữ ăn và cầu xin Ngài điều ấy; Ngài bèn nhậm lời chúng ta.

24. Trong những thầy tế lễ, ta bèn chọn mười hai người trưởng, là Sê-rê-bia, Ha-sa-bia và mười người anh em họ; 25. đoạn, ta cân cho chúng các bạc, vàng, và những khí dụng mà vua, các mưu thần, các quan trưởng vua, cùng cả dân Y-sơ-ra-ên có mặt tại đó, đã dâng cho đền của Đức Chúa Trời chúng ta. 26. Vậy, ta cân giao cho họ sáu trăm năm mươi ta lâng bạc, khí dụng bằng bạc giá một trăm ta lâng, và một trăm ta-lâng vàng, 27. hai mươi cái chén bằng vàng giá một ngàn đa-riếc, và hai cái chậu vằng đồng bóng láng tốt nhất, cũng quí như vàng. 28. Rồi ta nói với chúng rằng: Chính các ngươi đã được biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, và các khí dụng nầy cũng là thánh. Bạc và vàng nầy là lễ vật lạc ý dâng cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi. 29. Khá gìn giữ nó kỹ lưỡng cho đến chừng các ngươi cân lại trước mặt những thầy tế lễ cả, và người Lê-vi, cùng trước mặt các trưởng tộc của Y-sơ-ra-ên tại Giê-ru-sa-lem, trong kho đền thờ của Đức Giê-hô-va. 30. Vậy, những thầy tế lễ và người Lê-vi, sau khi đã kiểm soát lại sự cân nặng của bạc, vàng, và những khí dụng rồi, bèn thâu nhận đặn đem đến Giê-ru-sa-lem, trong đền thờ của Đức Chúa Trời chúng ta.

31. Ngày mười hai tháng giêng, chúng ta ở sông A-ha-va khởi-hành, đặng đi đến Giê-ru-sa-lem. Tay của Đức Chúa Trời chúng ta phù trợ chúng ta, giải cứu chúng ta khỏi tay kẻ thù nghịch, và khỏi kẻ rình phục dọc đường. 32. Đoạn, chúng ta đến Giê-ru-sa-lem, ở tại đó ba ngày. 33. Ngày thứ tư, chúng ta cân lại bạc, vàng, và những khí dụng trong đền của Đức Chúa Trời, rồi giao cho Mê-rê-mốt, con trai U-ri, thầy tế lễ (với người có Ê-lê-a-sa, con trai của Phi-nê-a, Giô-xa-báp, con trai Giê-sua, và Nô-a-đia, con trai Bin-nui, người Lê-vi), 34. cứ theo số và cân; số cân nặng đều biên chép trong một kỳ ấy.

35. Những người đã bị bắt làm phu tù được trở về, dâng của lễ thiêu cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên bằng mười hai con bò đực vì cả Y-sơ-ra-ên, chín mươi sáu con chiên đực, bảy mươi bảy con chiên con, và mười hai con dê đực để làm của lễ chuộc tội: cả thảy đều dâng lên làm của lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va. 36. Chúng giao chiếu chỉ của vua cho các quan trấn, và cho các quan cai của vua ở phía bên nầy sông họ bèn giúp đỡ dân sự và việc đền thờ của Đức Chúa Trời.

Bản Dịch 2011

Danh Sách Các Vị Trưởng Tộc Cùng Hồi Hương với Ê-xơ-ra

1 Ðây là danh sách các vị trưởng tộc theo gia phả của họ đã rời Ba-by-lôn đi lên với tôi dưới triều đại Vua Ạc-ta-xẹc-xe:

2 Dòng dõi của Phi-nê-a: Ghẹt-sôm.

Dòng dõi của I-tha-ma: Ða-ni-ên.

Dòng dõi của Ða-vít: Hát-túc.

3 Dòng dõi của Sê-ca-ni-a, con cháu của Pa-rốt: Xa-cha-ri-a, cùng đi với ông có một trăm năm mươi người nam theo gia phả của họ.

4 Dòng dõi của Pa-hát Mô-áp: Ê-li-ê-hô-ê-nai con cháu của Xê-ra-hi-a và hai trăm người nam đi với ông.

5 Dòng dõi của Xát-tu: Sê-ca-ni-a con của Gia-ha-xi-ên và ba trăm người nam đi với ông.

6 Dòng dõi của A-đin: Ê-bết con của Giô-na-than và năm mươi người nam đi với ông.

7 Dòng dõi của Ê-lam: Giê-sa-gia con của A-tha-li-a và bảy mươi người nam đi với ông.

8 Dòng dõi của Sê-pha-ti-a: Xê-ba-đi-a con của Mi-ca-ên và tám mươi người nam đi với ông.

9 Dòng dõi của Giô-áp: Ô-ba-đi-a con của Giê-hi-ên và hai trăm mười tám người nam đi với ông.

10 Dòng dõi của Ba-ni: Sê-lô-mít con của Giô-si-phi-a và một trăm sáu mươi người nam đi với ông.

11 Dòng dõi của Bê-bai: Xa-cha-ri-a con của Bê-bai và hai mươi tám người nam đi với ông.

12 Dòng dõi của A-xơ-gát: Giô-ha-na con của Hát-ca-tan và một trăm mười người nam đi với ông.

13 Dòng dõi của A-đô-ni-cam: (những người nầy không thể đi cùng một lượt nhưng đến sau) tên của họ là Ê-li-phê-lết, Giê-u-ên, và Sê-ma-gia, và sáu mươi người nam đi với họ.

14 Dòng dõi của Bích-vai: U-thai con của Xác-cua và bảy mươi người nam đi với ông.

Những Người Lê-vi

15 Tôi tập họp họ lại ở bờ sông chảy về hướng A-ha-va, và chúng tôi đóng trại tại đó ba ngày. Khi tôi duyệt qua danh sách những người hồi hương, tôi thấy có dân và các tư tế, nhưng không thấy ai trong con cháu của Lê-vi cả. 16 Do đó tôi sai người đến mời Ê-li-ê-xe, A-ri-ên, Sê-ma-gia, Ên-na-than, Gia-ríp, Ên-na-than, Na-than, Xa-cha-ri-a, và Mê-su-lam, các nhà lãnh đạo, cùng với Giô-gia-ríp và Ên-na-than, hai người thông minh khôn sáng. 17 Tôi nhờ họ đến gặp I-đô người lãnh đạo ở một nơi gọi là Ca-si-phi-a. Tôi dặn họ những lời phải nói với I-đô và bà con dòng họ của ông ấy, những người phục vụ Ðền Thờ đang sống ở Ca-si-phi-a, đại khái là xin họ gởi cho chúng tôi một số người để cùng trở về quê hương lo việc phục vụ nơi Ðền Thờ Ðức Chúa Trời. 18 Nhờ tay nhân lành của Ðức Chúa Trời ở trên chúng tôi, nên họ đã đem về cho chúng tôi một người thông minh khôn sáng thuộc dòng dõi của Mác-li, con cháu của Lê-vi, con của I-sơ-ra-ên tên là Sê-rê-bi-a, cùng với các con trai của ông ấy và bà con dòng họ gồm mười tám người nam. 19 Ngoài ra còn có Ha-sa-bi-a; cùng đi với ông ấy có Giê-sa-gia thuộc dòng dõi của Mê-ra-ri, với bà con dòng họ của ông và các con trai của họ được hai mươi người nam.

Những Người Phục Vụ Ðền Thờ

20 Ngoài ra còn có hai trăm hai mươi người phục vụ Ðền Thờ mà Ða-vít và các triều thần của ông đã biệt riêng họ ra để phụ giúp những người Lê-vi. Tất cả những người đó đều đã được chỉ định đích danh.

Kiêng Ăn Cầu Nguyện Xin Ðức Chúa Trời Che Chở

21 Bấy giờ tôi tuyên bố một cuộc kiêng ăn ở tại đó, bên bờ Sông A-ha-va, để chúng tôi hạ mình xuống trước mặt Ðức Chúa Trời và để cầu xin Ngài ban ơn che chở chúng tôi, con cháu chúng tôi, và tài sản của chúng tôi được an toàn trong chuyến hành trình, 22 vì tôi cảm thấy hổ thẹn khi phải xin vua cho một đoàn bộ binh và kỵ binh hộ tống để bảo vệ chúng tôi khỏi bị quân thù tấn công dọc đường. Số là tôi đã thưa với nhà vua rằng tay của Ðức Chúa Trời sẽ ban phước cho tất cả những ai tìm kiếm Ngài, nhưng quyền năng và cơn thịnh nộ của Ngài sẽ giáng xuống tất cả những kẻ lìa bỏ Ngài. 23 Vậy chúng tôi kiêng ăn và cầu nguyện xin Ðức Chúa Trời ban cho chúng tôi điều chúng tôi cầu xin, và Ngài đã nhậm lời cầu nguyện của chúng tôi.

Trao Các Của Dâng cho Các Tư Tế

24 Sau đó tôi mời mười hai vị trưởng tế đến gặp tôi; đó là quý ông Sê-rê-bi-a và Ha-sa-bi-a, cùng mười anh em của hai ông ấy. 25 Tôi cân cho họ số bạc, số vàng, và các món đồ mà vua, các mưu sĩ của vua, các đại quan của vua, và toàn dân ở đó đã dâng cho Ðền Thờ Ðức Chúa Trời của chúng tôi. 26 Tôi cân và trao vào tay họ hai mươi hai ngàn một trăm ký bạc, các bửu vật bằng bạc cân nặng ba ngàn bốn trăm ký, và ba ngàn bốn trăm ký vàng, 27 hai mươi cái bát vàng trị giá một ngàn a-đạc-côn, hai món đồ bằng đồng đánh bóng rất quý chẳng kém gì vàng. 28 Tôi nói với họ, “Quý vị và các món đồ nầy đều đã được biệt riêng ra thánh cho CHÚA. Bạc và vàng là những lễ vật lạc ý mà người ta đã dâng lên CHÚA, Ðức Chúa Trời của tổ tiên quý vị. 29 Quý vị phải canh giữ chúng cẩn thận cho đến khi cân lại cho các vị trưởng tế, những người Lê-vi, và các vị trưởng tộc của dân I-sơ-ra-ên tại Giê-ru-sa-lem trong các kho báu ở Ðền Thờ CHÚA.”

30 Vậy các tư tế và những người Lê-vi nhận lấy bạc, vàng, và các món đồ đã cân, để đem chúng đến Ðền Thờ Ðức Chúa Trời của chúng tôi ở Giê-ru-sa-lem.

Hành Trình Trở Về Giê-ru-sa-lem

31 Ngày mười hai tháng giêng, chúng tôi lên đường rời khỏi bờ Sông A-ha-va để trở về Giê-ru-sa-lem. Tay của Ðức Chúa Trời ở trên chúng tôi. Ngài đã bảo vệ chúng tôi khỏi quân thù và khỏi bọn cướp phục kích ở dọc đường. 32 Cuối cùng chúng tôi đã về đến Giê-ru-sa-lem bình an và nghỉ ngơi ở đó ba ngày. 33 Ngày thứ tư, tại Ðền Thờ Ðức Chúa Trời, chúng tôi đã cân bạc, vàng, và các món đồ, và trao vào tay của Tư Tế Mê-rê-mốt con của U-ri-gia và Ê-lê-a-xa con của Phi-nê-a, người có mặt với ông tại đó. Ngoài ra còn có hai người Lê-vi là Giô-xa-bát con của Giê-sua và Nô-a-đi-a con của Bin-nui cũng có mặt ở đó và tiếp nhận các món đồ với họ. 34 Số lượng và trọng lượng đều được chuyển giao đầy đủ. Một biên bản bàn giao đã ghi rõ tổng số trọng lượng lúc bấy giờ.

35 Sau đó con cháu những người từ chốn lưu đày trở về đã dâng các của lễ thiêu lên Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên: mười hai con bò đực cho toàn dân I-sơ-ra-ên, chín mươi sáu con chiên đực, bảy mươi bảy con chiên con, và mười hai con dê đực để làm các của lễ chuộc tội. Tất cả đều đã được dâng lên CHÚA dưới hình thức của lễ thiêu.

36 Kế đó họ trao cho các thủ hiến và các tổng trấn của tỉnh Bên Kia Sông sắc lệnh của vua. Những người ấy bèn giúp đỡ dân và Ðền Thờ Ðức Chúa Trời.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành
  • Thánh Kinh Lược Khảo - Nhà Xuất Bản Tin Lành Sài Gòn (1970)