Ê-xơ-ra: Chương 2

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB15C002)
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Trong con cháu các dân tỉnh Giu-đa bị Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, bắt dẫn qua Ba-by-lôn, nầy những người bị đày đó trở lên Giê-ru-sa-lem và xứ Giu-đa, mỗi người về trong thành mình, 2. có Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, Sê-ra-gia, Rê-ê-la-gia, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mít-bạt, Biết-vai, Rê-hum và Ba-a-na dẫn dắt. Vậy, nầy là sổ dựng những người nam của Y-sơ-ra-ên.

3. Họ Pha-rốt, hai ngàn một trăm bảy mươi hai; 4. họ Sê-pha-ti-a, ba trăm bảy mươi hai; 5. họ A-rách, bảy trăm bảy mươi lăm; 6. họ Pha-hát-Mô-áp, con cháu của Giê-sua và Giô-áp, hai ngàn tám trăm mười hai; 7. họ Ê-lam, một ngàn hai trăm năm mươi bốn; 8. họ Xát-tu, chín trăm bốn mươi lăm; 9. họ Xác-cai, bảy trăm sáu mươi; 10. họ Ba-ni, sáu trăm bốn mươi hai; 11. họ Bê-bai, sáu trăm hai mươi ba; 12. họ A-gát, một ngàn hai trăm hai mươi hai; 13. họ A-đô-ni-cam, sáu trăm sáu mươi sáu; 14. họ Biết-vai, hai ngàn năm mươi sáu; 15. họ A-đin, bốn trăm năm mươi bốn; 16. họ A-te, về gia quyến Ê-xê-chia, chín mươi tám; 17. họ Bết-sai, ba trăm hai mươi ba; 18. họ Giô-ra, một trăm mười hai; 19. họ Ha-sum, hai trăm hai mươi ba; 20. họ Ghi-ba, chín mươi lăm; 21. họ Bết-lê-hem, một trăm hai mươi ba; 22. người Nê-tô-pha, năm mươi sáu; 23. người A-na-tốt, một trăm hai mươi tám; 24. người Ách-ma-vết, bốn mươi hai, 25. người Ki-ri-át-A-rim, Kê-phi-ra, và Bê-ê-rốt, bảy trăm bốn mươi ba; 26. người Ra-ma và Ghê-ba, sáu trăm hai mươi mốt; 27. người Mích-ma, một trăm hai hai mươi hai; 28. người Bê-tên và A-hi, hai trăm hai mươi ba; 29. họ Nê-bô, năm mươi hai; 30. họ Mác-bi một trăm năm mươi sáu; 31. họ Ê-lam khác, một ngàn hai trăm năm mươi bốn; 32. họ Ha-rim, ba trăm hai mươi; 33. họ Lô-đơ, họ Ha-đít, và họ Ô-nô, bảy trăm hai mươi lăm; 34. người Giê-ri-cô, ba trăm bốn mươi lăm; 35. họ Sê-na, ba ngàn sáu trăm ba mươi.

36. Những thầy tế lễ: họ Giê-đa-gia, thuộc về nhà Giê-sua, chín trăm bảy mươi ba; 37. họ Y-mê, một ngàn hăm mươi hai; 38. họ Pha-su-rơ, một ngàn hai trăm bốn mươi bảy; 39. họ Ha-rim, một ngàn mười bảy.

40. Các người Lê-vi: họ Giê-sua và Cát-mi-ên, con cháu của Hô-đa-via, bảy mươi bốn.

41. Những người ca hát: họ A-sáp, một trăm hai mươi tám.

42. Các con cháu kẻ giữ cửa: con cháu Sa-lum, con cháu A-te, con cháu Tanh-môn, con cháu A-cúp, con cháu Ha-ti-ta, con cháu Sô-bai, cộng hết thảy là một trăm ba mươi chín người.

43. Kẻ phục dịch trong đền thờ: Con cháu Xi-ha, con cháu Ha-su-pha, con cháu Ta-ba-ốt, 44. con cháu Kê-rốt, con cháu Sia-ha, con cháu Ba-đôn, 45. con cháu Lê-ba-na, con cháu Ha-ga-ba, con cháu A-cúp, 46. con cháu Ha-gáp, con cháu Sam-lai, con cháu Ha-nan, 47. con cháu Ghi-đên, con cháu Ga-cha, con cháu Rê-a-gia, 48. con cháu Rê-xin, con cháu Nê-cô-đa, con cháu Ga-xam, 49. con cháu U-xa, con cháu Pha-sê-a, con cháu Bê-sai, 50. con cháu A-sê-na, con cháu Mê-u-nim, con cháu Nê-phu-sim, 51. con cháu Bác-búc, con cháu Ha-cu-pha, con cháu Ha-rua, 52. con cháu Ba-lút, con cháu Mê-hi-đa, con cháu Hạt-sa, 53. con cháu Bạt-cô, con cháu Si-sê-ra, con cháu Tha-mác, 54. con cháu Nê-xia, con cháu Ha-ti-pha.

55. Con cháu của các tôi tớ Sa-lô-môn: con cháu Sô-tai, con cháu Sô-phê-rết, con cháu Phê-ru-đa, 56. con cháu Gia-a-la, con cháu Đạt-côn, con cháu Ghi-đên, 57. con cháu Sê-pha-ti-a, con cháu Hát-tinh, con cháu Bô-kê-rết-Ha-xê-ba-im, con cháu A-mi.

58. Tổng cộng những người phục dịch trong đền thờ và các con cháu của những tôi tớ Sa-lô-môn, đều là ba trăm chín mươi hai người.

59. Nầy là những người ở Tên-Mê-la. Tên-Hạt-sa, Kê-rúp-A-đan, và Y-mê trở lên, không thể nói rõ gia tộc và phổ hệ mình, đặng chỉ rằng mình thuộc về dòng dõi Y-sơ-ra-ên hay chăng: 60. con cháu Đê-la-gia, con cháu Tô-bi-gia, con cháu Nê-cô-đa, đều sáu trăm năm mươi hai người. 61. Trong dòng dõi thầy tế lễ: con cháu Ha-ba-gia, con cháu Ha-cốt, con cháu Bạt-xi-lai. Người ấy có cưới một con gái của Bạt-xi-lai ở Ga-la-át, nên được gọi bằng tên ấy. 62. Các người ấy tìm gia phổ mình, nhưng chẳng tìm đặng; nên người ta kể họ là ô uế, và họ bị truất khỏi chức tế lễ. 63. Quan tổng đốc cấm chúng ăn những vật chí thánh cho đến chừng nào có thầy tế lễ cậy U-rim và Thu-mim mà cầu hỏi Đức Chúa Trời.

64. Cả hội chúng đếm được bốn vạn hai ngàn ba trăm sáu mươi người, 65. chẳng kể những tôi trai tớ gái; số chúng nó là bảy ngàn ba trăm ba mươi bảy. Cũng có hai trăm người nam nữ ca hát theo cùng họ nữa. 66. Chúng có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la, 67. bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu ngàn bảy trăm hai mươi con lừa.

68. Có nhiều trưởng tộc, khi đã đến đền thờ của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, thì dâng những của lễ lạc ý cho nhà Đức Chúa Trời, để xây cất nó lại chỗ cũ. 69. Tùy theo sức mình, chúng dâng vào kho của cuộc xây cất đền sáu mươi mốt ngàn đa-riếc vàng, năm ngàn min bạc, và một trăm bộ áo thầy tế lễ.

70. Vậy, những thầy tế lễ, người Lê-vi, mấy người dân, người ca hát, kẻ giữ cửa, những người phục dịch trong đền thờ, và cả dân Y-sơ-ra-ên, thảy đều ở trong bổn thành mình.

Bản Dịch 2011

Danh Sách Những Người Hồi Hương
(Nê 7:4-72)
1. Sau đây là những người đã từ các tỉnh ở nơi lưu đày trở về. Họ là những người đã bị bắt đem đi lưu đày, tức bị Nê-bu-cát-nê-xa vua Ba-by-lôn bắt đem sang Ba-by-lôn để lưu đày, và được trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, ai về thành nấy. 2. Cùng trở về với Xê-ru-ba-bên có Giê-sua, Nê-hê-mi-a, Sê-ra-gia, Rê-ê-lai-a, Mộc-đê-cai, Bin-san, Mít-pa, Bích-vai, Rê-hum, và Ba-a-nát.
Ðây là số những người hồi hương trong dân I-sơ-ra-ên:
3. Con cháu của Pa-rốt, hai ngàn một trăm bảy mươi hai người.
4. Con cháu của Sê-pha-ti-a, ba trăm bảy mươi hai người.
5. Con cháu của A-ra, bảy trăm bảy mươi lăm người.
6. Con cháu của Pa-hát Mô-áp, tức con cháu của Giê-sua và Giô-áp, hai ngàn tám trăm mười hai người.
7. Con cháu của Ê-lam, một ngàn hai trăm năm mươi bốn người.
8. Con cháu của Xát-tu, chín trăm bốn mươi lăm người.
9. Con cháu của Xác-cai, bảy trăm sáu mươi người.
10. Con cháu của Ba-ni, sáu trăm bốn mươi hai người.
11. Con cháu của Bê-bai, sáu trăm hai mươi ba người.
12. Con cháu của A-xơ-gát, một ngàn hai trăm hai mươi hai người.
13. Con cháu của A-đô-ni-cam, sáu trăm sáu mươi sáu người.
14. Con cháu của Bích-vai, hai ngàn năm mươi sáu người.
15. Con cháu của A-đin, bốn trăm năm mươi bốn người.
16. Con cháu của A-te, gia tộc của Hê-xê-ki-a, chín mươi tám người.
17. Con cháu của Bê-xai, ba trăm hai mươi ba người.
18. Con cháu của Giô-ra, một trăm mười hai người.
19. Con cháu của Ha-sum, hai trăm hai mươi ba người.
20. Con cháu của Ghi-ba, chín mươi lăm người.
21. Con cháu của Bết-lê-hem, một trăm hai mươi ba người.
22. Dân Nê-tô-pha, năm mươi sáu người.
23. Dân A-na-thốt, một trăm hai mươi tám người.
24. Con cháu của A-ma-vết, bốn mươi hai người.
25. Con cháu của Ki-ri-át A-rim, Kê-phi-ra, và Bê-e-rốt, bảy trăm bốn mươi ba người.
26. Con cháu của Ra-ma và Ghê-ba, sáu trăm hai mươi mốt người.
27. Dân Mích-mác, một trăm hai mươi hai người.
28. Dân Bê-tên và Ai, hai trăm hai mươi ba người.
29. Con cháu của Nê-bô, năm mươi hai người.
30. Con cháu của Mắc-bích, một trăm năm mươi sáu người.
31. Con cháu của Ê-lam khác, một ngàn hai trăm năm mươi bốn người.
32. Con cháu của Ha-rim, ba trăm hai mươi người.
33. Con cháu của Lô, Ha-đi, và Ô-nô, bảy trăm hai mươi lăm người.
34. Con cháu của Giê-ri-cô, ba trăm bốn mươi lăm người.
35. Con cháu của Sê-na-a, ba ngàn sáu trăm ba mươi người.
36. Về các tư tế: con cháu của Giê-đa-gia, gia tộc của Giê-sua, chín trăm bảy mươi ba người.
37. Con cháu của Im-me, một ngàn năm mươi hai người.
38. Con cháu của Pát-khua, một ngàn hai trăm bốn mươi bảy người.
39. Con cháu của Ha-rim, một ngàn mười bảy người.
40. Những người Lê-vi: con cháu của Giê-sua và Cát-mi-ên, gia tộc của Hô-đê-va, bảy mươi bốn người.
41. Những người ca hát thờ phượng: con cháu của A-sáp, một trăm hai mươi tám người.
42. Con cháu của những người canh cửa: con cháu của Sanh-lum, con cháu của A-te, con cháu của Tanh-môn, con cháu của Ạc-cúp, con cháu của Ha-ti-ta, con cháu của Sô-bai, một trăm ba mươi chín người.
43. Những người phục vụ tại Ðền Thờ: con cháu của Xi-ha, con cháu của Ha-su-pha, con cháu của Ta-ba-ốt, 44. con cháu của Kê-rô, con cháu của Si-a-ha, con cháu của Pa-đôn, 45. con cháu của Lê-ba-na, con cháu của Ha-ga-ba, con cháu của Ạc-cúp, 46. con cháu của Ha-gáp, con cháu của Sam-lai, con cháu của Ha-nan, 47. con cháu của Ghít-đên, con cháu của Ga-ha, con cháu của Rê-a-gia, 48. con cháu của Rê-xin, con cháu của Nê-cô-đa, con cháu của Ga-xam, 49. con cháu của U-xa, con cháu của Pa-sê-a, con cháu của Bê-sai, 50. con cháu của Át-na, con cháu của Mê-u-nim, con cháu của Nê-phi-sim, 51. con cháu của Bác-búc, con cháu của Ha-cu-pha, con cháu của Hạc-hưa, 52. con cháu của Ba-xơ-lút, con cháu của Mê-hi-đa, con cháu của Hạc-sa, 53. con cháu của Ba-cốt, con cháu của Si-sê-ra, con cháu của Tê-ma, 54. con cháu của Nê-xi-a, con cháu của Ha-ti-pha.
55. Con cháu của các tôi tớ Sa-lô-môn: con cháu của Sô-tai, con cháu của Hạc-sô-phê-rết, con cháu của Pê-ru-đa, 56. con cháu của Gia-a-la, con cháu của Ðạc-côn, con cháu của Ghít-đên, 57. con cháu của Sê-pha-ti-a, con cháu của Hát-tin, con cháu của Pô-kê-rết Ha-xê-ba-im, con cháu A-mi.
58. Tất cả những người phục vụ ở Ðền Thờ và con cháu của các tôi tớ Sa-lô-môn là ba trăm chín mươi hai người.
59. Có những người từ Tên Mê-la, Tên Hạc-sa, Kê-rúp, Át-đôn, và Im-me cùng đi lên, nhưng vì họ không thể chứng minh được tổ tiên của họ hoặc liên hệ huyết thống trong gia tộc của họ, nên người ta không thể xác định họ có phải là người I-sơ-ra-ên chính thống hay không.
60. Con cháu của Ðê-la-gia, con cháu của Tô-bi-a, con cháu của Nê-cô-đa, sáu trăm năm mươi hai người.
61. Con cháu của các tư tế: con cháu của Hô-ba-gia, con cháu của Hắc-cô, con cháu của Ba-xi-lai. (Ông nầy là người đã cưới một trong các con gái của Ba-xi-lai người Ghi-lê-át làm vợ, và ông đã đổi họ để theo họ vợ.) 62. Những người ấy đã truy lục gia phả của họ, nhưng họ không tìm thấy gia tộc của họ được liệt kê trong đó, nên họ bị loại ra khỏi hàng tư tế và bị xem là không được tinh ròng để thi hành chức vụ thánh. 63. Do đó quan tổng trấn truyền cho họ không được ăn các món ăn cực thánh cho đến khi được một tư tế đứng ra dùng u-rim và thu-mim để xác quyết.
64. Tổng cộng cả hội chúng được bốn mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi người, 65. không kể bảy ngàn ba trăm ba mươi bảy tôi trai và tớ gái. Trong vòng họ cũng có hai trăm người, cả nam lẫn nữ, là thành viên của ca đoàn thờ phượng.
66. Họ có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la, 67. bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu ngàn bảy trăm hai mươi con lừa.
68. Khi về đến Ðền Thờ CHÚA ở Giê-ru-sa-lem, một số vị trưởng gia tộc đã tự động quyên góp một số tiền và lập quỹ tái thiết Ðền Thờ Ðức Chúa Trời ở vị trí cũ. 69. Tùy theo khả năng của mỗi người, họ đã dâng vào quỹ tái thiết sáu mươi mốt ngàn miếng vàng, năm ngàn thỏi bạc, và một trăm bộ lễ phục cho các tư tế.
70. Vậy các tư tế, những người Lê-vi, những người ca hát, những người canh cửa, và những người phục vụ ở Ðền Thờ đều định cư trong các thị trấn của họ quanh thủ đô, còn tất cả những người I-sơ-ra-ên còn lại đều trở về định cư trong các thành của họ khắp nơi trong xứ.

Tài Liệu