Ê-xơ-ra: Chương 2

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB15C002)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch Việt Ngữ

Thống kê những người hồi hương

1. Đây là thống kê những người nam ở trong tỉnh, là những người đã trở về từ nơi bị lưu đày. Nê-bu-cát-nết-sa là vua của Ba-by-lôn. Nê-bu-cát-nết-sa là người đã đưa những người này đến lưu đày tại Ba-by-lôn. Họ đã trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, mỗi người về trong thành của mình. 2. Họ là những người đã về cùng với Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, Sê-ra-gia, Rê-ê-gia, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mít-bạt, Biết-vai, Rê-hum và Ba-a-na.

Đây là số liệu của những người nam thuộc về dân Y-sơ-ra-ên:


3. Những người nam thuộc về Pha-rốt: hai nghìn một trăm bảy mươi hai người.

4. Những người nam thuộc về Sê-pha-tia: ba trăm bảy mươi hai người.

5. Những người nam thuộc về A-rách: bảy trăm bảy mươi lăm người.

6. Những người nam thuộc về Pha-hát Mô-áp, còn gọi là những người nam thuộc về Giê-sua và Giô-áp: hai nghìn tám trăm mười hai người.

7. Những người nam thuộc về Ê-lam: một nghìn hai trăm năm mươi bốn người.

8. Những người nam thuộc về Xát-tu: chín trăm bốn mươi lăm người.

9. Những người nam thuộc về Xác-cai: bảy trăm sáu mươi người.

10. Những người nam thuộc về Ba-ni: sáu trăm bốn mươi hai người.

11. Những người nam thuộc về Bê-bai: sáu trăm hai mươi ba người.

12. Những người nam thuộc về A-gát: một nghìn hai trăm hai mươi hai người.

13. Những người nam thuộc về A-đô-ni-cam: sáu trăm sáu mươi sáu người.

14. Những người nam thuộc về Biết-vai: hai nghìn không trăm năm mươi sáu người.

15. Những người nam thuộc về A-đin: bốn trăm năm mươi bốn người.

16. Những người nam thuộc về A-te, thuộc về Ê-xê-chia: chín mươi tám người.

17. Những người nam thuộc về Bết-sai: ba trăm hai mươi ba người.

18. Những người nam thuộc về Giô-ra: một trăm mười hai người.

19. Những người nam thuộc về Ha-sum: hai trăm hai mươi ba người.

20. Những người nam thuộc về Ghi-ba: chín mươi lăm người.

21. Những người nam thuộc về i Bết-lê-hem: một trăm hai mươi ba người.

22. Những đàn ông thuộc về Nê-tô-pha: năm mươi sáu người.

23. Những đàn ông thuộc về A-na-tốt: một trăm hai mươi tám người.

24. Những người nam thuộc về Ách-ma-vết: bốn mươi hai người.

25. Những người nam thuộc về Ki-ri-át A-rim, Kê-phi-ra, và Bê-ê-rốt: bảy trăm bốn mươi ba người.

26. Những người nam thuộc về Ra-ma và Ghê-ba: sáu trăm hai mươi mốt người.

27. Những người nam thuộc về Mích-ma: một trăm hai mươi hai người.

28. Những người nam thuộc về Bê-tên và A-hi: hai trăm hai mươi ba người.

29. Những người nam thuộc về Nê-bô: năm mươi hai người.

30. Những người nam thuộc về Mách-bi: một trăm năm mươi sáu người.

31. Những người nam thuộc về Ê-lam khác: một nghìn hai trăm năm mươi bốn người.

32. Những người nam thuộc về Ha-rim: ba trăm hai mươi người.

33. Những người nam thuộc về Lót, Ha-đít, và Ô-nô: bảy trăm hai mươi lăm người.

34. Những người nam thuộc về Giê-ri-cô: ba trăm bốn mươi lăm người.

35. Những người nam thuộc về Sê-na: ba nghìn sáu trăm ba mươi người.

36. Các thầy tế lễ:

Những người nam thuộc về Giê-đa-gia, thuộc về gia đình Giê-sua: chín trăm bảy mươi ba người.

37. Những người nam thuộc về Y-mê: một nghìn không trăm năm mươi hai người.

38. Những người nam thuộc về Pha-su-rơ: một nghìn hai trăm bốn mươi bảy người.

39. Những người nam thuộc về Ha-rim: một nghìn không trăm mười bảy người.

40. Những người Lê-vi:

Những người nam thuộc về Giê-sua, Cát-mi-ên, và những người nam thuộc về Hô-đa-via: bảy mươi bốn người.

41. Những ca sĩ, là những người nam thuộc về A-sáp: một trăm hai mươi tám người.

42. Những người nam là những người gác cổng: những người nam thuộc về Sa-lum, những người nam thuộc về A-te, những người nam thuộc về Tanh-môn, những người nam thuộc về A-cúp, những người nam thuộc về Ha-ti-ta, và những người nam thuộc về Sô-bai: một trăm ba mươi chín người.

43. Những người phục vụ trong đền thờ: Những người nam thuộc về Xi-ha, những người nam thuộc về Ha-su-pha, những người nam thuộc về Ta-ba-ốt, 44. những người nam thuộc về Kê-rốt, những người nam thuộc về Sia-ha, những người nam thuộc về Ba-đôn, 45. những người nam thuộc về Lê-ba-na, những người nam thuộc về Ha-ga-ba, những người nam thuộc về A-cúp, 46. những người nam thuộc về Ha-gáp, những người nam thuộc về Sam-lai, những người nam thuộc về Ha-nan, 47. những người nam thuộc về Ghi-đên, những người nam thuộc về Ga-cha, những người nam thuộc về Rê-a-gia, 48. những người nam thuộc về Rê-xin, những người nam thuộc về Nê-cô-đa, những người nam thuộc về Ga-xam, 49. những người nam thuộc về U-xa, những người nam thuộc về Pha-sê-a, những người nam thuộc về Bê-sai, 50. những người nam thuộc về A-sê-na, những người nam thuộc về Mê-u-nim, những người nam thuộc về Nê-phu-sim, 51. những người nam thuộc về Bác-búc, những người nam thuộc về Ha-cu-pha, những người nam thuộc về Ha-rua, 52. những người nam thuộc về Ba-lút, những người nam thuộc về Mê-hi-đa, những người nam thuộc về Hạt-sa, 53. những người nam thuộc về Bạt-cô, những người nam thuộc về Si-sê-ra, những người nam thuộc về Tha-mác, 54. những người nam thuộc về Nê-xia, và những người nam thuộc về Ha-ti-pha.

55. Những người nam thuộc dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn: Những người nam thuộc về Sô-tai, những người nam thuộc về Sô-phê-rết, những người nam thuộc về Phê-ru-đa, 56. những người nam thuộc về Gia-a-la, những người nam thuộc về Đạt-côn, những người nam thuộc về Ghi-đên, 57. những người nam thuộc về Sê-pha-tia, những người nam thuộc về Hát-tinh, những người nam thuộc về Bô-kê-rết Ha-xê-ba-im, và những người nam thuộc về A-mi.

58. Tổng cộng những người phục vụ trong đền thờ và những người nam thuộc về các đầy tớ của Sa-lô-môn là ba trăm chín mươi hai người.

59. Những người sau đây từ Tên Mê-la, Tên Hạt-sa, Kê-rúp A-đan, và Y-mê, nhưng không xác nhận được gia tộc và phả hệ của họ có thuộc về dòng dõi Y-sơ-ra-ên hay không: 60. Những người nam thuộc về Đê-la-gia, những người nam thuộc về Tô-bi-gia, và những người nam thuộc về Nê-cô-đa: sáu trăm năm mươi hai người. 61. Những người nam thuộc về các thầy tế lễ: Những người nam thuộc về Ha-ba-gia, những người nam thuộc về Ha-cốt, và những người nam thuộc về Bạt-xi-lai, người nầy đã cưới một trong các con gái của Bạt-xi-lai ở Ga-la-át làm vợ nên được gọi bằng tên của dòng họ đó. 62. Những người nầy đã tìm kiếm tên mình trong gia phả nhưng không tìm được cho nên họ bị kể là ô uế, và bị truất khỏi chức tế lễ. 63. Tổng đốc nói họ sẽ không được ăn những vật chí thánh cho đến chừng nào có một thầy tế lễ dùng U-rim và Thu-mim cầu hỏi Đức Chúa Trời.

64. Cả hội chúng đếm được bốn mươi hai nghìn ba trăm sáu mươi người, 65. không kể bảy nghìn ba trăm ba mươi bảy tôi trai tớ gái của họ và hai trăm nam nữ ca sĩ. 66. Họ có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la, 67. bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu nghìn bảy trăm hai mươi con lừa.

68. Khi họ đến nhà của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, các trưởng tộc đã tự nguyện dâng hiến những lễ vật cho nhà của Đức Chúa Trời để dựng lại đền thờ nơi chỗ của nó. 69. Tùy theo khả năng, họ đã dâng vào quỹ của công trình sáu mươi mốt ngàn đa-riếc vàng, năm ngàn mi-na bạc, và một trăm bộ lễ phục cho các thầy tế lễ.

70. Như vậy, những thầy tế lễ, những người Lê-vi, một số dân chúng, các ca sĩ, những người gác cổng, những người phục vụ trong đền thờ, đã định cư trong các thành của họ, và tất cả dân Y-sơ-ra-ên định cư trong thành của mình.

Bản Dịch Đại Chúng

Thống kê những người hồi hương

Đây là thống kê những người nam ở trong tỉnh, là những người đã trở về từ nơi bị lưu đày. Nê-bu-cát-nết-sa là vua của Ba-by-lôn. Nê-bu-cát-nết-sa là người đã đưa những người này đến lưu đày tại Ba-by-lôn. Họ đã trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, mỗi người về trong thành của mình. Họ là những người đã về cùng với Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, Sê-ra-gia, Rê-ê-gia, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mít-bạt, Biết-vai, Rê-hum và Ba-a-na.

Đây là số liệu của những người nam thuộc về dân Y-sơ-ra-ên:


Những người nam thuộc về Pha-rốt: hai nghìn một trăm bảy mươi hai người.

Những người nam thuộc về Sê-pha-tia: ba trăm bảy mươi hai người.

Những người nam thuộc về A-rách: bảy trăm bảy mươi lăm người.

Những người nam thuộc về Pha-hát Mô-áp, còn gọi là những người nam thuộc về Giê-sua và Giô-áp: hai nghìn tám trăm mười hai người.

Những người nam thuộc về Ê-lam: một nghìn hai trăm năm mươi bốn người.

Những người nam thuộc về Xát-tu: chín trăm bốn mươi lăm người.

Những người nam thuộc về Xác-cai: bảy trăm sáu mươi người.

Những người nam thuộc về Ba-ni: sáu trăm bốn mươi hai người.

Những người nam thuộc về Bê-bai: sáu trăm hai mươi ba người.

Những người nam thuộc về A-gát: một nghìn hai trăm hai mươi hai người.

Những người nam thuộc về A-đô-ni-cam: sáu trăm sáu mươi sáu người.

Những người nam thuộc về Biết-vai: hai nghìn không trăm năm mươi sáu người.

Những người nam thuộc về A-đin: bốn trăm năm mươi bốn người.

Những người nam thuộc về A-te, thuộc về Ê-xê-chia: chín mươi tám người.

Những người nam thuộc về Bết-sai: ba trăm hai mươi ba người.

Những người nam thuộc về Giô-ra: một trăm mười hai người.

Những người nam thuộc về Ha-sum: hai trăm hai mươi ba người.

Những người nam thuộc về Ghi-ba: chín mươi lăm người.

Những người nam thuộc về i Bết-lê-hem: một trăm hai mươi ba người.

Những đàn ông thuộc về Nê-tô-pha: năm mươi sáu người.

Những đàn ông thuộc về A-na-tốt: một trăm hai mươi tám người.

Những người nam thuộc về Ách-ma-vết: bốn mươi hai người.

Những người nam thuộc về Ki-ri-át A-rim, Kê-phi-ra, và Bê-ê-rốt: bảy trăm bốn mươi ba người.

Những người nam thuộc về Ra-ma và Ghê-ba: sáu trăm hai mươi mốt người.

Những người nam thuộc về Mích-ma: một trăm hai mươi hai người.

Những người nam thuộc về Bê-tên và A-hi: hai trăm hai mươi ba người.

Những người nam thuộc về Nê-bô: năm mươi hai người.

Những người nam thuộc về Mách-bi: một trăm năm mươi sáu người.

Những người nam thuộc về Ê-lam khác: một nghìn hai trăm năm mươi bốn người.

Những người nam thuộc về Ha-rim: ba trăm hai mươi người.

Những người nam thuộc về Lót, Ha-đít, và Ô-nô: bảy trăm hai mươi lăm người.

Những người nam thuộc về Giê-ri-cô: ba trăm bốn mươi lăm người.

Những người nam thuộc về Sê-na: ba nghìn sáu trăm ba mươi người.

Các thầy tế lễ:

Những người nam thuộc về Giê-đa-gia, thuộc về gia đình Giê-sua: chín trăm bảy mươi ba người.

Những người nam thuộc về Y-mê: một nghìn không trăm năm mươi hai người.

Những người nam thuộc về Pha-su-rơ: một nghìn hai trăm bốn mươi bảy người.

Những người nam thuộc về Ha-rim: một nghìn không trăm mười bảy người.

Những người Lê-vi:

Những người nam thuộc về Giê-sua, Cát-mi-ên, và những người nam thuộc về Hô-đa-via: bảy mươi bốn người.

Những ca sĩ, là những người nam thuộc về A-sáp: một trăm hai mươi tám người.

Những người nam là những người gác cổng: những người nam thuộc về Sa-lum, những người nam thuộc về A-te, những người nam thuộc về Tanh-môn, những người nam thuộc về A-cúp, những người nam thuộc về Ha-ti-ta, và những người nam thuộc về Sô-bai: một trăm ba mươi chín người.

Những người phục vụ trong đền thờ: Những người nam thuộc về Xi-ha, những người nam thuộc về Ha-su-pha, những người nam thuộc về Ta-ba-ốt, những người nam thuộc về Kê-rốt, những người nam thuộc về Sia-ha, những người nam thuộc về Ba-đôn, những người nam thuộc về Lê-ba-na, những người nam thuộc về Ha-ga-ba, những người nam thuộc về A-cúp, những người nam thuộc về Ha-gáp, những người nam thuộc về Sam-lai, những người nam thuộc về Ha-nan, những người nam thuộc về Ghi-đên, những người nam thuộc về Ga-cha, những người nam thuộc về Rê-a-gia, những người nam thuộc về Rê-xin, những người nam thuộc về Nê-cô-đa, những người nam thuộc về Ga-xam, những người nam thuộc về U-xa, những người nam thuộc về Pha-sê-a, những người nam thuộc về Bê-sai, những người nam thuộc về A-sê-na, những người nam thuộc về Mê-u-nim, những người nam thuộc về Nê-phu-sim, những người nam thuộc về Bác-búc, những người nam thuộc về Ha-cu-pha, những người nam thuộc về Ha-rua, những người nam thuộc về Ba-lút, những người nam thuộc về Mê-hi-đa, những người nam thuộc về Hạt-sa, những người nam thuộc về Bạt-cô, những người nam thuộc về Si-sê-ra, những người nam thuộc về Tha-mác, những người nam thuộc về Nê-xia, và những người nam thuộc về Ha-ti-pha.

Những người nam thuộc dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn: Những người nam thuộc về Sô-tai, những người nam thuộc về Sô-phê-rết, những người nam thuộc về Phê-ru-đa, những người nam thuộc về Gia-a-la, những người nam thuộc về Đạt-côn, những người nam thuộc về Ghi-đên, những người nam thuộc về Sê-pha-tia, những người nam thuộc về Hát-tinh, những người nam thuộc về Bô-kê-rết Ha-xê-ba-im, và những người nam thuộc về A-mi.

Tổng cộng những người phục vụ trong đền thờ và những người nam thuộc về các đầy tớ của Sa-lô-môn là ba trăm chín mươi hai người.

Những người sau đây từ Tên Mê-la, Tên Hạt-sa, Kê-rúp A-đan, và Y-mê, nhưng không xác nhận được gia tộc và phả hệ của họ có thuộc về dòng dõi Y-sơ-ra-ên hay không: Những người nam thuộc về Đê-la-gia, những người nam thuộc về Tô-bi-gia, và những người nam thuộc về Nê-cô-đa: sáu trăm năm mươi hai người. Những người nam thuộc về các thầy tế lễ: Những người nam thuộc về Ha-ba-gia, những người nam thuộc về Ha-cốt, và những người nam thuộc về Bạt-xi-lai, người nầy đã cưới một trong các con gái của Bạt-xi-lai ở Ga-la-át làm vợ nên được gọi bằng tên của dòng họ đó. Những người nầy đã tìm kiếm tên mình trong gia phả nhưng không tìm được cho nên họ bị kể là ô uế, và bị truất khỏi chức tế lễ. Tổng đốc nói họ sẽ không được ăn những vật chí thánh cho đến chừng nào có một thầy tế lễ dùng U-rim và Thu-mim cầu hỏi Đức Chúa Trời.

Cả hội chúng đếm được bốn mươi hai nghìn ba trăm sáu mươi người, không kể bảy nghìn ba trăm ba mươi bảy tôi trai tớ gái của họ và hai trăm nam nữ ca sĩ. Họ có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la, bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu nghìn bảy trăm hai mươi con lừa.

Khi họ đến nhà của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, các trưởng tộc đã tự nguyện dâng hiến những lễ vật cho nhà của Đức Chúa Trời để dựng lại đền thờ nơi chỗ của nó. Tùy theo khả năng, họ đã dâng vào quỹ của công trình sáu mươi mốt ngàn đa-riếc vàng, năm ngàn mi-na bạc, và một trăm bộ lễ phục cho các thầy tế lễ.

Như vậy, những thầy tế lễ, những người Lê-vi, một số dân chúng, các ca sĩ, những người gác cổng, những người phục vụ trong đền thờ, đã định cư trong các thành của họ, và tất cả dân Y-sơ-ra-ên định cư trong thành của mình.

Bản Dịch Ngữ Căn

1. Đây là những người nam ở trong tỉnh, là những người đã trở về từ nơi bị lưu đày; Nê-bu-cát-nết-sa là vua của Ba-by-lôn, Nê-bu-cát-nết-sa là người đã đưa những người này đến lưu đày tại Ba-by-lôn. Họ đã trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, mỗi người về trong thành của mình. 2. Họ là những người đã về cùng với Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, Sê-ra-gia, Rê-ê-gia, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mít-bạt, Biết-vai, Rê-hum và Ba-a-na.

Đây là số liệu về những người nam thuộc về dân Y-sơ-ra-ên:

3. Những người nam thuộc về Pha-rốt: 2.172.

4. Những người nam thuộc về Sê-pha-tia: 372.

5. Những người nam thuộc về A-rách: 775.

6. Những người nam thuộc về Pha-hát Mô-áp, còn gọi là những người nam thuộc về Giê-sua và Giô-áp: 2.812.

7. Những người nam thuộc về Ê-lam: 1.254.

8. Những người nam thuộc về Xát-tu: 945.

9. Những người nam thuộc về Xác-cai: 760.

10. Những người nam thuộc về Ba-ni: 642.

11. Những người nam thuộc về Bê-bai: 623.

12. Những người nam thuộc về A-gát: 1.222.

13. Những người nam thuộc về A-đô-ni-cam: 666.

14. Những người nam thuộc về Biết-vai: 2.056.

15. Những người nam thuộc về A-đin: 454.

16. Những người nam thuộc về A-te, thuộc về Ê-xê-chia: 98.

17. Những người nam thuộc về Bết-sai: 323.

18. Những người nam thuộc về Giô-ra: 112.

19. Những người nam thuộc về Ha-sum: 223.

20. Những người nam thuộc về Ghi-ba: 95.

21. Những người nam thuộc về Bết-lê-hem: 123.

22. Những đàn ông thuộc về Nê-tô-pha: 56.

23. Những đàn ông thuộc về A-na-tốt: 128.

24. Những người nam thuộc về Ách-ma-vết: 42.

25. Những người nam thuộc về Ki-ri-át A-rim, Kê-phi-ra, và Bê-ê-rốt: 743.

26. Những người nam thuộc về Ra-ma và Ghê-ba: 621.

27. Những người nam thuộc về Mích-ma: 122.

28. Những người nam thuộc về Bê-tên và A-hi: 223.

29. Những người nam thuộc về Nê-bô: 52.

30. Những người nam thuộc về Mách-bi: 156.

31. Những người nam thuộc về Ê-lam khác: 1.254.

32. Những người nam thuộc về Ha-rim: 320.

33. Những người nam thuộc về Lót, Ha-đít, và Ô-nô: 725.

34. Những người nam thuộc về Giê-ri-cô: 345.

35. Những người nam thuộc về Sê-na: 3.630.

36. Các thầy tế lễ:

Những người nam thuộc về Giê-đa-gia, thuộc về gia đình Giê-sua: 973.

37. Những người nam thuộc về Y-mê: 1.052.

38. Những người nam thuộc về Pha-su-rơ: 1.247.

39. Những người nam thuộc về Ha-rim: 1.017.

40. Những người Lê-vi:

Những người nam thuộc về Giê-sua, Cát-mi-ên, và những người nam thuộc về Hô-đa-via: 74.

41. Những ca sĩ, là những người nam thuộc về A-sáp: 128.

42. Những người nam là những người gác cổng: những người nam thuộc về Sa-lum, những người nam thuộc về A-te, những người nam thuộc về Tanh-môn, những người nam thuộc về A-cúp, những người nam thuộc về Ha-ti-ta, và những người nam thuộc về Sô-bai: 139.

43. Những người phục vụ trong đền thờ:

Những người nam thuộc về Xi-ha, những người nam thuộc về Ha-su-pha, những người nam thuộc về Ta-ba-ốt, 44. những người nam thuộc về Kê-rốt, những người nam thuộc về Sia-ha, những người nam thuộc về Ba-đôn, 45. những người nam thuộc về Lê-ba-na, những người nam thuộc về Ha-ga-ba, những người nam thuộc về A-cúp, 46. những người nam thuộc về Ha-gáp, những người nam thuộc về Sam-lai, những người nam thuộc về Ha-nan, 47. những người nam thuộc về Ghi-đên, những người nam thuộc về Ga-cha, những người nam thuộc về Rê-a-gia, 48. những người nam thuộc về Rê-xin, những người nam thuộc về Nê-cô-đa, những người nam thuộc về Ga-xam, 49. những người nam thuộc về U-xa, những người nam thuộc về Pha-sê-a, những người nam thuộc về Bê-sai, 50. những người nam thuộc về A-sê-na, những người nam thuộc về Mê-u-nim, những người nam thuộc về Nê-phu-sim, 51. những người nam thuộc về Bác-búc, những người nam thuộc về Ha-cu-pha, những người nam thuộc về Ha-rua, 52. những người nam thuộc về Ba-lút, những người nam thuộc về Mê-hi-đa, những người nam thuộc về Hạt-sa, 53. những người nam thuộc về Bạt-cô, những người nam thuộc về Si-sê-ra, những người nam thuộc về Tha-mác, 54. những người nam thuộc về Nê-xia, và những người nam thuộc về Ha-ti-pha.

55. Những người nam thuộc dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn:

Những người nam thuộc về Sô-tai, những người nam thuộc về Sô-phê-rết, những người nam thuộc về Phê-ru-đa, 56. những người nam thuộc về Gia-a-la, những người nam thuộc về Đạt-côn, những người nam thuộc về Ghi-đên, 57. những người nam thuộc về Sê-pha-tia, những người nam thuộc về Hát-tinh, những người nam thuộc về Bô-kê-rết Ha-xê-ba-im, và những người nam thuộc về A-mi.

58. Tổng cộng những người phục vụ trong đền thờ và những người nam thuộc về các đầy tớ của Sa-lô-môn là 392.

59. Những người sau đây từ Tên Mê-la, Tên Hạt-sa, Kê-rúp A-đan, và Y-mê, nhưng không xác nhận được gia tộc và phả hệ của họ có thuộc về dòng dõi Y-sơ-ra-ên hay không: 60. Những người nam thuộc về Đê-la-gia, những người nam thuộc về Tô-bi-gia, và những người nam thuộc về Nê-cô-đa: sáu trăm năm mươi hai người. 61. Những người nam thuộc về các thầy tế lễ: Những người nam thuộc về Ha-ba-gia, những người nam thuộc về Ha-cốt, và những người nam thuộc về Bạt-xi-lai, người nầy đã cưới một trong các con gái của Bạt-xi-lai ở Ga-la-át làm vợ nên được gọi bằng tên của dòng họ đó. 62. Những người nầy đã tìm kiếm tên mình trong gia phả nhưng không tìm được cho nên họ bị kể là ô uế, và bị truất khỏi chức tế lễ. 63. Tổng đốc nói họ sẽ không ăn những vật chí thánh cho đến chừng nào có một thầy tế lễ dùng U-rim và Thu-mim cầu hỏi Đức Chúa Trời.

64. Cả hội chúng đếm được bốn mươi hai nghìn ba trăm sáu mươi người, 65. không kể bảy nghìn ba trăm ba mươi bảy tôi trai tớ gái của họ và hai trăm nam nữ ca sĩ. 66. Họ có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la, 67. bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu nghìn bảy trăm hai mươi con lừa.

68. Khi họ đến nhà của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, các trưởng tộc đã tự nguyện dâng hiến những lễ vật cho nhà của Đức Chúa Trời để dựng lại nó nơi chỗ của nó. 69. Tùy theo khả năng, họ đã dâng vào quỹ của công trình sáu mươi mốt ngàn đa-riếc vàng, năm ngàn mi-na bạc, và một trăm bộ lễ phục cho các thầy tế lễ.

70. Như vậy, những thầy tế lễ, những người Lê-vi, một số dân chúng, các ca sĩ, những người gác cổng, những người phục vụ trong đền thờ, đã định cư trong các thành của họ, và tất cả dân Y-sơ-ra-ên định cư trong thành của mình.

Bản Dịch 1925

1. Trong con cháu các dân tỉnh Giu-đa bị Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, bắt dẫn qua Ba-by-lôn, nầy những người bị đày đó trở lên Giê-ru-sa-lem và xứ Giu-đa, mỗi người về trong thành mình, 2. có Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, Sê-ra-gia, Rê-ê-la-gia, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mít-bạt, Biết-vai, Rê-hum và Ba-a-na dẫn dắt. Vậy, nầy là sổ dựng những người nam của Y-sơ-ra-ên.

3. Họ Pha-rốt, hai ngàn một trăm bảy mươi hai; 4. họ Sê-pha-ti-a, ba trăm bảy mươi hai; 5. họ A-rách, bảy trăm bảy mươi lăm; 6. họ Pha-hát-Mô-áp, con cháu của Giê-sua và Giô-áp, hai ngàn tám trăm mười hai; 7. họ Ê-lam, một ngàn hai trăm năm mươi bốn; 8. họ Xát-tu, chín trăm bốn mươi lăm; 9. họ Xác-cai, bảy trăm sáu mươi; 10. họ Ba-ni, sáu trăm bốn mươi hai; 11. họ Bê-bai, sáu trăm hai mươi ba; 12. họ A-gát, một ngàn hai trăm hai mươi hai; 13. họ A-đô-ni-cam, sáu trăm sáu mươi sáu; 14. họ Biết-vai, hai ngàn năm mươi sáu; 15. họ A-đin, bốn trăm năm mươi bốn; 16. họ A-te, về gia quyến Ê-xê-chia, chín mươi tám; 17. họ Bết-sai, ba trăm hai mươi ba; 18. họ Giô-ra, một trăm mười hai; 19. họ Ha-sum, hai trăm hai mươi ba; 20. họ Ghi-ba, chín mươi lăm; 21. họ Bết-lê-hem, một trăm hai mươi ba; 22. người Nê-tô-pha, năm mươi sáu; 23. người A-na-tốt, một trăm hai mươi tám; 24. người Ách-ma-vết, bốn mươi hai, 25. người Ki-ri-át-A-rim, Kê-phi-ra, và Bê-ê-rốt, bảy trăm bốn mươi ba; 26. người Ra-ma và Ghê-ba, sáu trăm hai mươi mốt; 27. người Mích-ma, một trăm hai hai mươi hai; 28. người Bê-tên và A-hi, hai trăm hai mươi ba; 29. họ Nê-bô, năm mươi hai; 30. họ Mác-bi một trăm năm mươi sáu; 31. họ Ê-lam khác, một ngàn hai trăm năm mươi bốn; 32. họ Ha-rim, ba trăm hai mươi; 33. họ Lô-đơ, họ Ha-đít, và họ Ô-nô, bảy trăm hai mươi lăm; 34. người Giê-ri-cô, ba trăm bốn mươi lăm; 35. họ Sê-na, ba ngàn sáu trăm ba mươi.

36. Những thầy tế lễ: họ Giê-đa-gia, thuộc về nhà Giê-sua, chín trăm bảy mươi ba; 37. họ Y-mê, một ngàn năm mươi hai; 38. họ Pha-su-rơ, một ngàn hai trăm bốn mươi bảy; 39. họ Ha-rim, một ngàn mười bảy.

40. Các người Lê-vi: họ Giê-sua và Cát-mi-ên, con cháu của Hô-đa-via, bảy mươi bốn.

41. Những người ca hát: họ A-sáp, một trăm hai mươi tám.

42. Các con cháu kẻ giữ cửa: con cháu Sa-lum, con cháu A-te, con cháu Tanh-môn, con cháu A-cúp, con cháu Ha-ti-ta, con cháu Sô-bai, cộng hết thảy là một trăm ba mươi chín người.

43. Kẻ phục dịch trong đền thờ: Con cháu Xi-ha, con cháu Ha-su-pha, con cháu Ta-ba-ốt, 44. con cháu Kê-rốt, con cháu Sia-ha, con cháu Ba-đôn, 45. con cháu Lê-ba-na, con cháu Ha-ga-ba, con cháu A-cúp, 46. con cháu Ha-gáp, con cháu Sam-lai, con cháu Ha-nan, 47. con cháu Ghi-đên, con cháu Ga-cha, con cháu Rê-a-gia, 48. con cháu Rê-xin, con cháu Nê-cô-đa, con cháu Ga-xam, 49. con cháu U-xa, con cháu Pha-sê-a, con cháu Bê-sai, 50. con cháu A-sê-na, con cháu Mê-u-nim, con cháu Nê-phu-sim, 51. con cháu Bác-búc, con cháu Ha-cu-pha, con cháu Ha-rua, 52. con cháu Ba-lút, con cháu Mê-hi-đa, con cháu Hạt-sa, 53. con cháu Bạt-cô, con cháu Si-sê-ra, con cháu Tha-mác, 54. con cháu Nê-xia, con cháu Ha-ti-pha.

55. Con cháu của các tôi tớ Sa-lô-môn: con cháu Sô-tai, con cháu Sô-phê-rết, con cháu Phê-ru-đa, 56. con cháu Gia-a-la, con cháu Đạt-côn, con cháu Ghi-đên, 57. con cháu Sê-pha-ti-a, con cháu Hát-tinh, con cháu Bô-kê-rết-Ha-xê-ba-im, con cháu A-mi.

58. Tổng cộng những người phục dịch trong đền thờ và các con cháu của những tôi tớ Sa-lô-môn, đều là ba trăm chín mươi hai người.

59. Nầy là những người ở Tên-Mê-la. Tên-Hạt-sa, Kê-rúp-A-đan, và Y-mê trở lên, không thể nói rõ gia tộc và phổ hệ mình, đặng chỉ rằng mình thuộc về dòng dõi Y-sơ-ra-ên hay chăng: 60. con cháu Đê-la-gia, con cháu Tô-bi-gia, con cháu Nê-cô-đa, đều sáu trăm năm mươi hai người. 61. Trong dòng dõi thầy tế lễ: con cháu Ha-ba-gia, con cháu Ha-cốt, con cháu Bạt-xi-lai. Người ấy có cưới một con gái của Bạt-xi-lai ở Ga-la-át, nên được gọi bằng tên ấy. 62. Các người ấy tìm gia phổ mình, nhưng chẳng tìm đặng; nên người ta kể họ là ô uế, và họ bị truất khỏi chức tế lễ. 63. Quan tổng đốc cấm chúng ăn những vật chí thánh cho đến chừng nào có thầy tế lễ cậy U-rim và Thu-mim mà cầu hỏi Đức Chúa Trời.

64. Cả hội chúng đếm được bốn vạn hai ngàn ba trăm sáu mươi người, 65. chẳng kể những tôi trai tớ gái; số chúng nó là bảy ngàn ba trăm ba mươi bảy. Cũng có hai trăm người nam nữ ca hát theo cùng họ nữa. 66. Chúng có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la, 67. bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu ngàn bảy trăm hai mươi con lừa.

68. Có nhiều trưởng tộc, khi đã đến đền thờ của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem, thì dâng những của lễ lạc ý cho nhà Đức Chúa Trời, để xây cất nó lại chỗ cũ. 69. Tùy theo sức mình, chúng dâng vào kho của cuộc xây cất đền sáu mươi mốt ngàn đa-riếc vàng, năm ngàn min bạc, và một trăm bộ áo thầy tế lễ.

70. Vậy, những thầy tế lễ, người Lê-vi, mấy người dân, người ca hát, kẻ giữ cửa, những người phục dịch trong đền thờ, và cả dân Y-sơ-ra-ên, thảy đều ở trong bổn thành mình.

Bản Dịch 2011

Danh Sách Những Người Hồi Hương

(Nê 7:4-72)

1 Sau đây là những người đã từ các tỉnh ở nơi lưu đày trở về. Họ là những người đã bị bắt đem đi lưu đày, tức bị Nê-bu-cát-nê-xa vua Ba-by-lôn bắt đem sang Ba-by-lôn để lưu đày, và được trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, ai về thành nấy. 2 Cùng trở về với Xê-ru-ba-bên có Giê-sua, Nê-hê-mi-a, Sê-ra-gia, Rê-ê-lai-a, Mạc-đô-chê, Bin-san, Mít-pa, Bích-vai, Rê-hum, và Ba-a-nát.

Ðây là số những người hồi hương trong dân I-sơ-ra-ên:

3 Con cháu của Pa-rốt, hai ngàn một trăm bảy mươi hai người.

4 Con cháu của Sê-pha-ti-a, ba trăm bảy mươi hai người.

5 Con cháu của A-ra, bảy trăm bảy mươi lăm người.

6 Con cháu của Pa-hát Mô-áp, tức con cháu của Giê-sua và Giô-áp, hai ngàn tám trăm mười hai người.

7 Con cháu của Ê-lam, một ngàn hai trăm năm mươi bốn người.

8 Con cháu của Xát-tu, chín trăm bốn mươi lăm người.

9 Con cháu của Xác-cai, bảy trăm sáu mươi người.

10 Con cháu của Ba-ni, sáu trăm bốn mươi hai người.

11 Con cháu của Bê-bai, sáu trăm hai mươi ba người.

12 Con cháu của A-xơ-gát, một ngàn hai trăm hai mươi hai người.

13 Con cháu của A-đô-ni-cam, sáu trăm sáu mươi sáu người.

14 Con cháu của Bích-vai, hai ngàn năm mươi sáu người.

15 Con cháu của A-đin, bốn trăm năm mươi bốn người.

16 Con cháu của A-te, gia tộc của Hê-xê-ki-a, chín mươi tám người.

17 Con cháu của Bê-xai, ba trăm hai mươi ba người.

18 Con cháu của Giô-ra, một trăm mười hai người.

19 Con cháu của Ha-sum, hai trăm hai mươi ba người.

20 Con cháu của Ghi-ba, chín mươi lăm người.

21 Con cháu của Bết-lê-hem, một trăm hai mươi ba người.

22 Dân Nê-tô-pha, năm mươi sáu người.

23 Dân A-na-thốt, một trăm hai mươi tám người.

24 Con cháu của A-ma-vết, bốn mươi hai người.

25 Con cháu của Ki-ri-át A-rim, Kê-phi-ra, và Bê-e-rốt, bảy trăm bốn mươi ba người.

26 Con cháu của Ra-ma và Ghê-ba, sáu trăm hai mươi mốt người.

27 Dân Mích-mác, một trăm hai mươi hai người.

28 Dân Bê-tên và Ai, hai trăm hai mươi ba người.

29 Con cháu của Nê-bô, năm mươi hai người.

30 Con cháu của Mắc-bích, một trăm năm mươi sáu người.

31 Con cháu của Ê-lam khác, một ngàn hai trăm năm mươi bốn người.

32 Con cháu của Ha-rim, ba trăm hai mươi người.

33 Con cháu của Lô, Ha-đi, và Ô-nô, bảy trăm hai mươi lăm người.

34 Con cháu của Giê-ri-cô, ba trăm bốn mươi lăm người.

35 Con cháu của Sê-na-a, ba ngàn sáu trăm ba mươi người.

36 Về các tư tế: con cháu của Giê-đa-gia, gia tộc của Giê-sua, chín trăm bảy mươi ba người.

37 Con cháu của Im-me, một ngàn năm mươi hai người.

38 Con cháu của Pát-khua, một ngàn hai trăm bốn mươi bảy người.

39 Con cháu của Ha-rim, một ngàn mười bảy người.

40 Những người Lê-vi: con cháu của Giê-sua và Cát-mi-ên, gia tộc của Hô-đê-va, bảy mươi bốn người.

41 Những người ca hát thờ phượng: con cháu của A-sáp, một trăm hai mươi tám người.

42 Con cháu của những người canh cửa: con cháu của Sanh-lum, con cháu của A-te, con cháu của Tanh-môn, con cháu của Ạc-cúp, con cháu của Ha-ti-ta, con cháu của Sô-bai, một trăm ba mươi chín người.

43 Những người phục vụ tại Ðền Thờ: con cháu của Xi-ha, con cháu của Ha-su-pha, con cháu của Ta-ba-ốt, 44 con cháu của Kê-rô, con cháu của Si-a-ha, con cháu của Pa-đôn, 45 con cháu của Lê-ba-na, con cháu của Ha-ga-ba, con cháu của Ạc-cúp, 46 con cháu của Ha-gáp, con cháu của Sam-lai, con cháu của Ha-nan, 47 con cháu của Ghít-đên, con cháu của Ga-ha, con cháu của Rê-a-gia, 48 con cháu của Rê-xin, con cháu của Nê-cô-đa, con cháu của Ga-xam, 49 con cháu của U-xa, con cháu của Pa-sê-a, con cháu của Bê-sai, 50 con cháu của Át-na, con cháu của Mê-u-nim, con cháu của Nê-phi-sim, 51 con cháu của Bác-búc, con cháu của Ha-cu-pha, con cháu của Hạc-hưa, 52 con cháu của Ba-xơ-lút, con cháu của Mê-hi-đa, con cháu của Hạc-sa, 53 con cháu của Ba-cốt, con cháu của Si-sê-ra, con cháu của Tê-ma, 54 con cháu của Nê-xi-a, con cháu của Ha-ti-pha.

55 Con cháu của các tôi tớ Sa-lô-môn: con cháu của Sô-tai, con cháu của Hạc-sô-phê-rết, con cháu của Pê-ru-đa, 56 con cháu của Gia-a-la, con cháu của Ðạc-côn, con cháu của Ghít-đên, 57 con cháu của Sê-pha-ti-a, con cháu của Hát-tin, con cháu của Pô-kê-rết Ha-xê-ba-im, con cháu A-mi.

58 Tất cả những người phục vụ ở Ðền Thờ và con cháu của các tôi tớ Sa-lô-môn là ba trăm chín mươi hai người.

59 Có những người từ Tên Mê-la, Tên Hạc-sa, Kê-rúp, Át-đôn, và Im-me cùng đi lên, nhưng vì họ không thể chứng minh được tổ tiên của họ hoặc liên hệ huyết thống trong gia tộc của họ, nên người ta không thể xác định họ có phải là người I-sơ-ra-ên chính thống hay không.

60 Con cháu của Ðê-la-gia, con cháu của Tô-bi-a, con cháu của Nê-cô-đa, sáu trăm năm mươi hai người.

61 Con cháu của các tư tế: con cháu của Hô-ba-gia, con cháu của Hắc-cô, con cháu của Ba-xi-lai. (Ông nầy là người đã cưới một trong các con gái của Ba-xi-lai người Ghi-lê-át làm vợ, và ông đã đổi họ để theo họ vợ.) 62 Những người ấy đã truy lục gia phả của họ, nhưng họ không tìm thấy gia tộc của họ được liệt kê trong đó, nên họ bị loại ra khỏi hàng tư tế và bị xem là không được tinh ròng để thi hành chức vụ thánh. 63 Do đó quan tổng trấn truyền cho họ không được ăn các món ăn cực thánh cho đến khi được một tư tế đứng ra dùng u-rim và thu-mim để xác quyết.

64 Tổng cộng cả hội chúng được bốn mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi người, 65 không kể bảy ngàn ba trăm ba mươi bảy tôi trai và tớ gái. Trong vòng họ cũng có hai trăm người, cả nam lẫn nữ, là thành viên của ca đoàn thờ phượng.

66 Họ có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la, 67 bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu ngàn bảy trăm hai mươi con lừa.

68 Khi về đến Ðền Thờ CHÚA ở Giê-ru-sa-lem, một số vị trưởng gia tộc đã tự động quyên góp một số tiền và lập quỹ tái thiết Ðền Thờ Ðức Chúa Trời ở vị trí cũ. 69 Tùy theo khả năng của mỗi người, họ đã dâng vào quỹ tái thiết sáu mươi mốt ngàn miếng vàng, năm ngàn thỏi bạc, và một trăm bộ lễ phục cho các tư tế.

70 Vậy các tư tế, những người Lê-vi, những người ca hát, những người canh cửa, và những người phục vụ ở Ðền Thờ đều định cư trong các thị trấn của họ quanh thủ đô, còn tất cả những người I-sơ-ra-ên còn lại đều trở về định cư trong các thành của họ khắp nơi trong xứ.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành
  • Thánh Kinh Lược Khảo - Nhà Xuất Bản Tin Lành Sài Gòn (1970)