Phục Truyền Luật Lệ Ký: Chương 15

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB05C015)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Cuối mỗi năm thứ bảy, ngươi phải làm năm giải thích. 2. Nầy là lệ của sự giải thích. Phàm chủ nợ phải giải thích món vay mà mình đã chịu cho kẻ lân cận mình vay: ngươi chớ thúc kẻ lân cận mình hay là anh em mình trả lại, vì người ta đã cao rao năm giải thích cho Đức Giê-hô-va. 3. Ngươi được thúc người ngoại bang trả lại; song ví anh em ngươi có vật chi thuộc về mình, thì phải tha vật ấy cho người. 4. Nhưng nơi ngươi chẳng nên có kẻ nghèo nàn, vì Đức Giê-hô-va quả hẳn ban phước cho ngươi trong xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi nhận lấy làm sản nghiệp, 5. miễn ngươi chăm chỉ nghe theo tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, cẩn thận làm theo các điều răn mà ta truyền cho ngươi ngày nay. 6. Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ ban phước cho ngươi, y như Ngài đã phán; ngươi sẽ cho nhiều nước vay, còn chính ngươi không vay ai; ngươi sẽ quản hạt nhiều nước, song các nước ấy sẽ chẳng quản hạt ngươi.

7. Nếu trong thành nào của xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho, ở giữa ngươi có một người anh em bị nghèo, thì chớ cứng lòng nắm tay lại trước mặt anh em nghèo của mình đó. 8. Nhưng khá sè tay mình ra, cho người vay món chi cần dùng trong sự nghèo nàn của người. 9. Khá coi chừng, kẻo có một ác tưởng nơi lòng ngươi, rằng: Năm thứ bảy tức là năm giải thích, hầu gần! Khá coi chừng kẻo mắt ngươi chẳng đoái thương anh em nghèo của mình, không giúp cho người gì hết, e người kêu cùng Đức Giê-hô-va về ngươi, và ngươi sẽ mắc tội chăng. 10. Ngươi phải giúp cho người, chớ cho mà có lòng tiếc; vì tại cớ ấy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ ban phước cho mọi công việc của ngươi, và mọi điều ngươi đặt tay vào mà làm. 11. Vì sẽ có kẻ nghèo trong xứ luôn luôn, nên ta mới dặn biểu ngươi mà rằng: Khá sè tay mình ra cho anh em bị âu lo và nghèo khó ở trong xứ ngươi.

12. Khi một trong các anh em ngươi, là người Hê-bơ-rơ, bất luận nam hay nữ, bị bán cho ngươi, thì sẽ hầu việc ngươi trong sáu năm, song qua năm thứ bảy, ngươi phải giải phóng người. 13. Khi ngươi giải phóng người, chớ cho người đi ra tay không. 14. Phải cấp cho người một vật chi, hoặc trong bầy mình, hoặc của sân đạp lúa mình, hoặc của hầm rượu mình, tức là cấp cho người vật bởi trong của cải mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã ban phước cho ngươi. 15. Hãy nhớ rằng mình đã làm tôi mọi trong xứ Ê-díp-tô, và Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã chuộc ngươi; bởi cớ ấy, ngày nay ta truyền cho ngươi làm các điều nầy. 16. Nhưng nếu kẻ tôi mọi ngươi nói rằng: Tôi không muốn đi ra khỏi nhà chủ, vì nó mến ngươi và gia quyến ngươi, lấy làm thỏa lòng phục dịch ngươi, 17. thì bấy giờ, ngươi phải lấy một cái dùi, để tai người kề cửa mà xỏ, vậy người sẽ làm tôi tớ ngươi luôn luôn. Ngươi cũng phải làm như vậy cho tớ gái mình. 18. Ngươi chớ có nặng lòng mà giải phóng người, vì người đã phục dịch ngươi sáu năm, ăn phân nửa công giá của một người làm mướn; vậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ ban phước cho ngươi trong mọi công việc ngươi làm.

19. Ngươi phải biệt riêng ra thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi mọi con đầu lòng đực sanh trong bầy bò hay chiên của ngươi. Chớ cày bằng con đầu lòng của bò cái mình, và chớ hớt lông con đầu lòng của chiên cái mình. 20. Mỗi năm, ngươi và gia quyến ngươi sẽ ăn nó trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tại nơi mà Ngài sẽ chọn. 21. Nhưng nếu nó có tì vít chi, què hay đui, hoặc bị tật nặng khác, thì chớ dâng nó cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, 22. phải ăn nó trong thành mình: kẻ bị ô uế, và kẻ được sạch cũng đều được ăn hết, như ăn con hoàng dương hay là con nai đực. 23. Chỉn ngươi chớ ăn huyết nó; phải đổ huyết trên đất như nước vậy.

Bản Dịch 2011

Luật về Năm Sa-bát và Sự Tha Nợ

(Lê 25:1-7)

1 Cứ mỗi bảy năm, anh chị em sẽ tha nợ một lần. 2 Ðây là cách tha nợ: Mỗi người chủ nợ sẽ tha số nợ người lân cận mình đã vay mượn. Người chủ nợ chớ đòi nợ nơi người lân cận mình hay nơi đồng bào mình nữa, vì việc tha nợ để kính CHÚA đã được công bố rồi. 3 Ðối với dân ngoại, anh chị em có quyền đòi nợ, nhưng đối với đồng bào mình, anh chị em hãy tha nợ cho họ. 4 Tuyệt nhiên ở giữa anh chị em không nên để có người nghèo, bởi vì CHÚA chắc chắn sẽ ban phước cho anh chị em trong xứ mà CHÚA, Ðức Chúa Trời của anh chị em, ban cho anh chị em chiếm lấy làm sản nghiệp, 5 nếu anh chị em vâng lời CHÚA, Ðức Chúa Trời của anh chị em, hết lòng vâng giữ toàn bộ điều răn mà tôi truyền cho anh chị em ngày nay.

6 Khi CHÚA, Ðức Chúa Trời của anh chị em, ban phước cho anh chị em như Ngài đã hứa với anh chị em, anh chị em sẽ cho nhiều dân vay mượn, nhưng anh chị em sẽ không vay mượn của ai; anh chị em sẽ cầm quyền trên nhiều dân, nhưng họ sẽ không cầm quyền trên anh chị em.

7 Nếu có người ở trong thành nào trong xứ mà CHÚA, Ðức Chúa Trời của anh chị em, ban cho anh chị em có nhu cầu, anh chị em chớ hẹp bụng, hay tay khư khư giữ chặt lấy của mà không giúp đỡ đồng bào mình đang gặp cảnh khó khăn. 8 Anh chị em hãy mở rộng tay và sẵn lòng cho người ấy vay mượn đủ số đang cần để có thể đáp ứng nhu cầu. 9 Khá cẩn thận để không có ý nghĩ xấu trong lòng rằng, ‘Năm thứ bảy, tức năm tha nợ, sắp đến gần,’ rồi vì thế mà nhìn anh em hay chị em đang túng thiếu với cặp mắt thiếu thiện cảm, và không cho vay mượn gì cả. Anh em hay chị em ấy có thể kêu van lên CHÚA và phàn nàn về anh chị em, rồi anh chị em có thể mang tội. 10 Vậy hãy ban cho cách rộng rãi, và khi ban cho thì chớ cằn nhằn, vì CHÚA, Ðức Chúa Trời của anh chị em, sẽ căn cứ vào đó mà ban phước cho anh chị em trong mọi việc anh chị em làm và mọi việc tay anh chị em nhúng vào. 11 Vì trong xứ sẽ không bao giờ hết người nghèo, do đó tôi truyền cho anh chị em, ‘Hãy mở rộng tay mình ra giúp đỡ đồng bào mình, hãy giúp người gặp cảnh túng thiếu, và hãy giúp người nghèo trong xứ của mình.’

Luật về Phóng Thích Nô Lệ

(Xuất 21:1-11)

12 Nếu một đồng bào của anh chị em, bất luận là một người nam Hê-bơ-rơ hay một người nữ Hê-bơ-rơ, bán mình làm nô lệ cho anh chị em, người ấy sẽ làm việc cho anh chị em sáu năm; năm thứ bảy anh chị em phải trả tự do cho người ấy. 13 Khi anh chị em trả tự do cho một nam nô lệ, anh chị em chớ để người ấy ra đi tay không. 14 Anh chị em nên lấy từ đàn chiên của mình, từ sân đập lúa của mình, và từ hầm ép rượu của mình mà cho người ấy một cách rộng rãi, tức anh chị em sẽ lấy một ít từ sự sung túc dồi dào mà CHÚA, Ðức Chúa Trời của anh chị em, đã ban phước cho anh chị em mà cho người ấy. 15 Hãy nhớ rằng anh chị em đã từng làm nô lệ trong đất Ai-cập, và CHÚA, Ðức Chúa Trời của anh chị em, đã chuộc anh chị em ra; vì lẽ đó tôi truyền lịnh nầy cho anh chị em ngày nay. 16 Nhưng nếu người ấy nói với anh chị em, ‘Tôi không muốn trở thành người được tự do,’ bởi người ấy yêu thương quyến luyến anh chị em và gia đình anh chị em, vì người ấy đã được đối xử tốt trong gia đình anh chị em, 17 anh chị em hãy đưa người ấy lại gần cửa, kê tai vào cửa, rồi lấy dùi xỏ thủng trái tai người ấy; người ấy sẽ trở thành nô lệ của anh chị em mãi mãi. Anh chị em cũng làm như vậy đối với những nữ nô lệ.

18 Ðừng xem việc trả tự do cho họ là mất mát, vì trong sáu năm họ đã làm việc cho anh chị em cũng đáng giá gấp đôi một người làm thuê rồi, và CHÚA, Ðức Chúa Trời của anh chị em, sẽ ban phước cho anh chị em trong mọi việc anh chị em làm.

Con Ðầu Lòng của Ðàn Súc Vật

19 Anh chị em phải biệt riêng ra cho CHÚA, Ðức Chúa Trời của anh chị em, mọi con đực đầu lòng sinh ra trong đàn bò hay đàn chiên của anh chị em. Anh chị em chớ bắt những con bò đực đầu lòng đi cày, và cũng đừng hớt lông những con chiên đực đầu lòng. 20 Anh chị em sẽ ăn thịt nó với mọi người trong gia đình mình trước thánh nhan CHÚA, Ðức Chúa Trời của anh chị em, hằng năm tại nơi CHÚA sẽ chọn. 21 Nhưng nếu con vật đầu lòng ấy có tật nguyền gì –chẳng hạn như què, mù, hoặc một tật nguyền gì khác– thì anh chị em chớ đem dâng nó lên CHÚA, Ðức Chúa Trời của anh chị em. 22 Anh chị em hãy ăn thịt nó trong thành mình, những người không thanh sạch và những người thanh sạch đều được ăn, như thể ăn thịt một con linh dương hay một con nai. 23 Tuy nhiên anh chị em không được ăn huyết nó; anh chị em phải đổ máu nó xuống đất như đổ nước.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu