Dân Số Ký: Chương 12

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB04C012)
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Mi-ri-am và A-rôn nói hành Môi-se về việc người nữ Ê-thi-ô-bi mà người đã lấy; vì người có lấy một người nữ Ê-thi-ô-bi làm vợ. 2. Hai người nói rằng: Đức Giê-hô-va chỉ dùng một mình Môi-se mà thôi sao? Ngài há không dùng chúng ta mà phán nữa sao? Đức Giê-hô-va nghe điều đó. 3. Vả, Môi-se là người rất khiêm hòa hơn mọi người trên thế gian. 4. Thình lình Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se, A-rôn và Mi-ri-am rằng: Cả ba hãy ra đến hội mạc. Cả ba đều đi. 5. Đức Giê-hô-va ngự xuống trong trụ mây đứng tại cửa hội mạc, rồi gọi A-rôn và Môi-se; hai người đều đến. 6. Ngài phán cùng hai người rằng: Hãy nghe rõ lời ta. Nếu trong các ngươi có một tiên tri nào, ta là Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra cùng người trong sự hiện thấy, và nói với người trong cơn chiêm bao. 7. Tôi tớ Môi-se ta không có như vậy, người thật trung tín trong cả nhà ta. 8. Ta nói chuyện cùng người miệng đối miệng, một cách rõ ràng, không lời đố, và người thấy hình Đức Giê-hô-va. Vậy, các ngươi không sợ mà nói hành kẻ tôi tớ ta, là Môi-se sao? 9. Như vậy, cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi phừng phừng cùng hai người; Ngài ngự đi. 10. Khi trụ mây rút khỏi trên đền tạm, thì kìa, Mi-ri-am đã bị phung trắng như tuyết. A-rôn xây lại phía Mi-ri-am, thấy người đã có bịnh phung.

11. A-rôn bèn nói cùng Môi-se rằng: Ôi, lạy chúa tôi, xin chớ để trên chúng tôi tội mà chúng tôi đã dại phạm và đã mắc lấy. 12. Xin chớ để nàng như một đứa con sảo thịt đã hư hết phân nửa khi lọt ra khỏi lòng mẹ. 13. Môi-se bèn kêu van cùng Đức Giê-hô-va rằng: Ôi, Đức Chúa Trời! Tôi cầu khẩn Ngài chữa cho nàng. 14. Đức Giê-hô-va đáp cùng Môi-se rằng: Nếu cha nàng nhổ trên mặt nàng, nàng há không mang hổ trong bảy ngày sao? Nàng phải cầm riêng ngoài trại quân trong bảy ngày, rồi sau sẽ được nhận vào lại. 15. Ấy vậy, Mi-ri-am bị cầm riêng ngoài trại quân trong bảy ngày, dân sự không ra đi cho đến chừng nào Mi-ri-am được nhận vào lại.

16. Sau việc đó, dân sự ra đi từ Hát-sê-rốt, và hạ trại trong đồng vắng Pha-ran.

Bản Dịch 2011

A-rôn và Mi-ri-am Lằm Bằm Mô-sê
1. Trong khi họ ở tại Ha-xê-rốt, Mi-ri-am và A-rôn đã nói những lời chống lại Mô-sê, vì người phụ nữ xứ Cút mà ông cưới làm vợ. Số là ông đã cưới một phụ nữ xứ Cút làm vợ. 2. Họ nói, “Chẳng lẽ CHÚA chỉ phán qua một mình Mô-sê sao? Ngài há chẳng đã phán qua chúng ta nữa sao?” CHÚA đã nghe những lời ấy. 3. Vả, Mô-sê là người rất khiêm nhường; ông khiêm nhường hơn mọi người trên mặt đất.
4. Ðột nhiên CHÚA phán với Mô-sê, A-rôn, và Mi-ri-am, “Cả ba người các ngươi hãy ra khỏi lều mình và đến Lều Hội Kiến.” Vậy ba người đi ra. 5. Bấy giờ CHÚA ngự xuống trong một trụ mây và đứng tại cửa Lều. Ngài gọi A-rôn và Mi-ri-am đến gần. Họ tiến đến. 6. Ngài phán,
“Khi có những tiên tri ở giữa các ngươi thì Ta, CHÚA, sẽ tỏ chính mình Ta cho người ấy bằng khải tượng;
Ta sẽ phán dạy người ấy trong giấc mộng.
7. Nhưng Ta không làm thế đối với Mô-sê đầy tớ Ta;
Ta trao cho nó cả nhà Ta.
8. Ta nói chuyện với nó mặt đối mặt;
Nói cách rõ ràng, chứ không dùng lời bí ẩn;
Ngay cả hình dạng của CHÚA nó cũng được ngắm nhìn.
Các ngươi không sợ mà nói những lời chống lại đầy tớ Ta là Mô-sê sao?”
9. Cơn giận của CHÚA nổi phừng lên nghịch lại họ, rồi Ngài bỏ đi.
10. Khi trụ mây rời khỏi Lều, kìa, Mi-ri-am đã mắc bịnh phung. Da bà trở nên trắng như tuyết. A-rôn quay qua phía Mi-ri-am và thấy bà đã nổi phung đầy mình. 11. Bấy giờ ông nói với Mô-sê, “Ôi, thưa chúa, xin đừng phạt chúng tôi về tội chúng tôi đã dại dột phạm. 12. Xin đừng để cho cô ấy giống như một đứa bé bị sảo thai, da thịt đã bị tiêu hao phân nửa khi lọt khỏi lòng mẹ.”
13. Mô-sê kêu van với CHÚA, “Lạy Ðức Chúa Trời, xin Ngài chữa lành cho nàng.”
14. Nhưng CHÚA phán với Mô-sê, “Nếu cha nàng nhổ vào mặt nàng, nàng há chẳng sẽ mang xấu hổ trong bảy ngày sao? Hãy để cho nàng sống biệt lập bên ngoài doanh trại bảy ngày, rồi sau đó hãy đem nàng vào lại.” 15. Vậy Mi-ri-am bị bắt phải sống biệt lập bảy ngày bên ngoài doanh trại; và đoàn dân không nhổ trại lên đường cho đến khi nàng được đem vào lại trong doanh trại. 16. Sau việc đó, đoàn dân rời Ha-xê-rốt và đến đóng trại trong Ðồng Hoang Pa-ran.

Tài Liệu