Lê-vi Ký: Chương 13

Từ Thư Viện Tin Lành
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch Việt Ngữ

1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: 2. Khi một người bị sưng, bị nổi mụt nhọt, hoặc có đốm trắng trên da thịt của mình, rồi nó trở thành vết phung trên da của người đó, thì người đó phải được đưa đến Tư Tế A-rôn, hoặc một trong các con trai của tư tế. 3. Tư tế sẽ khám chỗ da bị thương. Nếu lông ở chỗ bị thương đã chuyển thành màu trắng và chỗ bị thương lõm sâu hơn da, thì đó là một vết phung. Khi khám xong, tư tế sẽ tuyên bố rằng người đó không tinh sạch. 4. Nhưng nếu đốm trắng trên da của người đó không lõm sâu hơn da và nếu lông không chuyển sang màu trắng, thì tư tế phải cách ly người đó trong bảy ngày. 5. Đến ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám người đó. Nếu thấy vết thương không thay đổi, không lan ra trên da, thì tư tế phải cách ly người đó thêm bảy ngày nữa. 6. Đến ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám người đó. Nếu vết thương nhạt đi, không lan ra trên da, thì tư tế sẽ tuyên bố người đó là thanh sạch. Đó chỉ là một mụt nhọt. Người đó phải giặt y phục và được thanh sạch.

7. Nhưng nếu sau khi người đó đã được tư tế khám nghiệm để tuyên bố là tinh sạch, nhưng ung nhọt tái phát và lan ra trên da, người đó phải gặp tư tế lần thứ hai. 8. Tư tế sẽ khám nghiệm, và nếu ung nhọt thật sự đã lan ra trên da, tư tế phải tuyên bố rằng người đó bị ô uế. Đó là bịnh phung.

9. Khi một người nhiễm bệnh phung, người đó phải được đem đến gặp tư tế. 10. Tư tế sẽ khám nghiệm. Nếu da ở chỗ sưng có màu trắng, lông nơi đó cũng đã biến thành trắng, và đốm thịt bị sưng lên, 11. đó là bệnh phung kinh niên trong da thịt của người đó. Tư tế sẽ tuyên bố người đó không tinh sạch. Tư tế sẽ không cô lập người đó, bởi vì người đó không tinh sạch. 12. Nhưng nếu bệnh phung lan ra khắp trên da, vết phung phủ hết cả da, từ đầu cho đến chân, nơi nào tư tế cũng thấy; 13 tư tế sẽ khám nghiệm. Nếu bệnh phung đã bao phủ khắp cả cơ thể của người đó, tư tế sẽ tuyên bố người đó là sạch. Vì tất cả đã biến thành trắng, người đó được sạch. 14. Nhưng nếu thịt tươi lộ ra trên cơ thể của người đó, người đó không tinh sạch. 15. Tư tế sẽ khám nghiệm chỗ thịt tươi và tuyên bố người đó không tinh sạch. Thịt tươi là không tinh sạch và người đó mắc bệnh phung. 16. Nhưng nếu chỗ thịt tươi đó thay đổi nữa, và trở thành màu trắng, người đó phải đến gặp tư tế. 17. Tư tế sẽ khám nghiệm người đó. Nếu vết thương chuyển sang màu trắng, tư tế phải tuyên bố người đó đã được sạch. Người đó tinh sạch.

18. Khi da trên cơ thể có một ung nhọt đã được lành, 19. nhưng ngay chỗ có ung nhọt lại nổi lên một mụt màu trắng hoặc một đốm trắng hồng, phải trình cho tư tế điều đó. 20. Tư tế sẽ khám xét. Nếu chỗ bị thương lõm sâu hơn da và lông ở chỗ bị thương đã chuyển thành màu trắng, thì đó là một vết phung đã phát ra tại chỗ có mụt nhọt. 21. Nhưng nếu tư tế khám nhưng không thấy lông trắng, chỗ đốm không lõm sâu hơn mặt da, nhưng nhạt đi, tư tế sẽ cô lập người đó trong bảy ngày. 22. Sau đó nếu vết đó lan ra trên da, tư tế sẽ tuyên bố người đó không tinh sạch, người đó nhiễm bệnh. 23. Nhưng nếu đốm đó vẫn giữ nguyên một chỗ, không lan ra, thì đó chỉ là vết thẹo của ung nhọt - tư tế phải tuyên bố người đó tinh sạch.

24. Nếu cơ thể bị bỏng, và chỗ da thịt bị bỏng trở nên một đốm sáng, trắng hồng, hay trắng, 25. thì tư tế sẽ khám. Nếu lông trong đốm đã chuyển thành màu trắng và lõm sâu hơn mặt da. thì đó là bệnh phung phát ra từ vết bỏng. Tư tế sẽ tuyên bố người đó không tinh sạch, vì đó là chứng phung. 26. Nhưng nếu tư tế khám nghiệm, không thấy lông trắng và đốm không lõm sâu hơn mặt da, nhưng nhạt đi, thì tư tế sẽ cho cách ly người đó trong bảy ngày. 27. Sau bảy ngày, tư tế sẽ khám người đó, và nếu thấy nó lan ra trên da, tư tế sẽ tuyên bố người đó không tinh sạch, vì đã nhiễm bệnh phung. 28. Nhưng nếu đốm đó vẫn ở nguyên một chỗ, không lan ra trên da, nhưng nhạt đi, thì đó là vết thương do bỏng lửa. Tư tế sẽ tuyên bố người đó là tinh sạch, vì đó là sẹo của vết bỏng.

29. Khi một người nam hay nữ có vết thương trên đầu hay trên cằm, 30. tư tế sẽ khám vết thương. Nếu nó lõm sâu hơn da và tại đó có lông lưa thưa màu vàng, tư tế sẽ tuyên bố người đó không tinh sạch, bởi vì đó là vết phung trên đầu hay trên cằm. 31. Nếu tư tế khám nghiệm da nơi vết thương, thấy nó không lõm sâu dưới da, cũng không thấy lông đen nào trong đó, tư tế phải cô lập người mắc bệnh ngoài da trong bảy ngày. 32. Vào ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám vết thương. Nếu vết thương không lan ra, cũng không có lông màu vàng trong đó, và vết thương cũng không lõm sâu dưới da, 33. người đó phải cạo râu tóc, nhưng không cạo chỗ vết thương, rồi tư tế sẽ cách ly người đó thêm bảy ngày nữa. 34. Vào ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám vết thương. Nếu vết thương không lan ra trên da, và nếu không lõm sâu dưới da, tư tế sẽ tuyên bố người đó tinh sạch. Người đó phải giặt y phục của mình, và được sạch. 35. Nhưng nếu sau khi người đó được tuyên bố tinh sạch, vết thương lan ra trên da, 36. tư tế phải khám người đó. Nếu chỗ vết thương đã lan ra trên da, người đó không tinh sạch. Tư tế không cần phải tìm xem lông có biến thành màu vàng. 37. Nhưng nếu vết thương vẫn không thay đổi và có lông đen đã mọc ở đó, thì vết thương đã lành, và người đó đã được thanh sạch. Thầy tế lễ sẽ tuyên bố người đó thanh sạch.

38. Khi một người nam hay nữ có những đốm sáng hay những đốm màu trắng trên da thịt của mình, 39. tư tế phải khám nghiệm. Nếu những đốm trên da người đó có màu trắng nhạt, đó là tàn nhang đã lộ ra trên da - người đó tinh sạch.

40. Nếu một người bị rụng tóc trên đầu, người đó sói đầu, nhưng người đó tinh sạch. 41. Nếu một người bị rụng tóc trên trán, người đó sói trán, nhưng người đó tinh sạch. 42. Nhưng nếu chỗ sói đầu hay sói trán có một vết trắng hồng, thì bệnh phung đã phát ra ở chỗ sói đầu hay sói trán. 43. Tư tế sẽ khám chỗ đó. Nếu vết sưng ở chỗ đầu sói hay trán sói đó màu trắng hồng và trông giống như một vết phung trên da thịt, 44. thì người đó là một người phung, không tinh sạch. Tư tế sẽ tuyên bố người đó không tinh sạch vì đã nhiễm bệnh trên đầu.

45. Người nào mắc bệnh phung, thì y phục của người đó phải bị xé rách, để đầu trần, che râu, rồi kêu lên: ‘Ô uế! Ô uế!’ 46. Trong suốt thời gian nhiễm bệnh người đó mắc bệnh, và người đó không tinh sạch. Khi không được tinh sạch, người đó phải sống một mình. Người đó phải sống bên ngoài doanh trại.

47. Nếu y phục có dấu hiệu nhiễm bệnh phung, thì dù là y phục làm bằng len hay y phục bằng vải gai, 48. được dệt hay đan, được làm bằng da, hay bất cứ vật gì bằng da, 49. nếu thấy có vết hơi xanh hay hơi đỏ xuất hiện trên y phục, hoặc trên da - dù trên hàng dệt, hàng đan, hoặc trên bất cứ vật gì bằng da, thì đã bị nhiễm bệnh và phải đem đến trình cho tư tế. 50. Tư tế sẽ khám vật bị nhiễm đó, rồi để riêng vật bị nhiễm đó trong bảy ngày. 51. Ngày thứ bảy, tư tế sẽ khám vật bị nhiễm đó. Nếu vết bệnh đã lan ra trên y phục, bất kể là y phục được được đan hay dệt, trên da, hoặc trên bất cứ vật gì bằng da, bệnh phung đã lan ra, và vật đó đã trở thành vật không tinh sạch. 52. Tư tế phải thiêu bộ y phục, bất kể nó được đan hay dệt, bằng len hay bằng vải, hay bất cứ vật gì bằng da - bởi vì bệnh phung đã lan ra, nó phải bị thiêu trong lửa.

53. Nếu tư tế khám nghiệm và thấy bệnh không lan ra trên y phục, dù được đan hay dệt, hay làm bằng da, 54. tư tế sẽ truyền cho họ đem giặt vật nhiễm bệnh, rồi cách ly nó bảy ngày nữa. 55. Sau đó, tư tế sẽ khám vật nhiễm bệnh đã được giặt. Nếu vết bệnh vẫn không đổi màu, dù nó không lan ra, nó là vật không tinh sạch. Các ngươi phải thiêu nó trong lửa, bất kể vết phung đó ở mặt trong hay mặt ngoài.

56. Nhưng nếu tư tế khám nghiệm và thấy vết bệnh đã nhạt màu sau khi giặt, người sẽ cắt bỏ chỗ vết bệnh ra khỏi y phục, bất kể y phục được đan hay dệt, hay làm bằng da. 57. Nhưng nếu nó lại xuất hiện trên y phục, bất kể được đan hay dệt, hay được làm bằng da, các ngươi hãy thiêu vật bị nhiễm bệnh trong lửa. 58. Nhưng nếu bộ y phục được đan hay dệt, hay làm bằng da, sau khi đem giặt, vết bệnh biến mất, hãy đem giặt nó thêm một lần nữa, thì sẽ được sạch.

59. Đây là luật về bệnh phung cho y phục làm bằng len hay vải, được đan hay dệt, hay bất cứ vật gì bằng da, để tuyên bố vật đó là tinh sạch hay không tinh sạch.

Bản Dịch 1925

1. Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: 2. Khi một người nào da trên mình nổi sưng, mụt lở, hoặc một đốm trắng, dường sẽ trở thành trên da mình một vít phung, thì người ta phải dẫn người đó đến thầy tế lễ A-rôn, hay là đến một trong các con trai người là những thầy tế lễ. 3. Thầy tế lễ sẽ khám vít ở trên da thân người; nếu lông vít đó đã trở thành trắng, và nếu vít hủng xuống sâu hơn da thân mình, ấy là một vít phung: thầy tế lễ khám rồi sẽ định người nầy là ô uế.

4. Còn nếu có một đốm trắng trên da thân người, đốm không lõm xuống sâu hơn da, và nếu lông không trở thành trắng, thì thầy tế lễ phải giam người đó trong bảy ngày. 5. Qua ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ khám người, nếu vít đó ngừng lại, không ăn lan trên da, thì phải giam người một lần thứ nhì bảy ngày nữa. 6. Qua ngày thứ bảy, thầy tế lễ sẽ khám người lại; nếu vít đó đã tái, không ăn lan trên da, thì thầy tế lễ sẽ định người đó là tinh sạch; ấy là mụt lở mà thôi. Người đó phải giặt áo xống mình, thì sẽ được tinh sạch. 7. Nhưng nếu sau khi người đã đến trước mặt thầy tế lễ để được định là tinh sạch, mụt lở còn phát lại trên da, thì người phải đến thầy tế lễ một lần thứ nhì. 8. Thầy tế lễ sẽ khám cho, nếu mụt lở đã ăn lan trên da thì phải định người là ô uế; ấy là bịnh phung vậy.

9. Khi có một vít phung trên người nào, thì phải dẫn người đó đi tỏ mình cùng thầy tế lễ. 10. Thầy tế lễ khám cho; nếu có nổi sưng sắc trắng trên da làm cho lông trở thành trắng, và có một lằn thịt chín đỏ nơi chỗ sưng đó, 11. ấy là bịnh phung thâm niên trong da của thân người, thầy tế lễ sẽ định người là ô uế, không nên giam họ, vì đã bị ô uế rồi.

12. Còn nếu phung lở trên da, bao phủ hết da của người có vít đó, từ đầu chí chân, khắp nơi nào thầy tế lễ dòm thấy được, 13. thì thầy tế lễ phải khám cho; nếu phung bao phủ cùng hết thịt, thì sẽ định người có vít là tinh sạch; người đã hóa trắng cùng mình, nên được tinh sạch vậy. 14. Nhưng ngày nào phát ra thịt chín đỏ, thì người bị ô uế. 15. Khi thầy tế lễ thấy thịt chín đỏ thì phải định người là ô uế; thịt chín đỏ là ô uế; ấy là bịnh phung vậy. 16. Nhưng nếu thịt chín đỏ thay đi, hóa ra trắng, thì người phải đi tỏ mình cùng thầy tế lễ; 17. thầy tế lễ khám cho, và nếu vít đã trở thành trắng, thì phải định người có vít là tinh sạch, vì đã được tinh sạch rồi.

18. Khi một người nào trên da thân mình có mụt chốc đã chữa lành, 19. và tại chỗ mụt chốc có nổi sưng sắc trắng hay là một đốm trắng hồng, thì người đó phải đi tỏ mình cùng thầy tế lễ; 20. thầy tế lễ khám cho; nếu cái đốm hủng sâu hơn da, và nếu lông trở thành trắng, thì thầy tế lễ phải định người là ô uế; ấy là một vít phung đã lở trong mụt chốc vậy. 21. Còn nếu thầy tế lễ khám, không thấy lông trắng trong chỗ đốm, không hủng sâu hơn da, và thấy đã trở thành tái, thì hãy giam người đó trong bảy ngày. 22. Nếu đốm ăn lan trên da thì thầy tế lễ phải định người là ô uế; ấy là một vít phung vậy. 23. Còn nếu vít cầm cự một chỗ, không ăn lan ra, ấy là thẹo của mụt chốc; thầy tế lễ phải định người là tinh sạch.

24. Khi người nào bị phỏng lửa trên da, và dấu phỏng là một đốm trắng hồng hay là trắng, 25. thì thầy tế lễ khám cho; nếu trong đốm lông trở thành trắng, và nếu đốm hủng sâu hơn da, ấy là bịnh phung lở trong mụt phỏng vậy. Thầy tế lễ phải định người nầy là ô uế; ấy là một vít phung. 26. Còn nếu thầy tế lễ khám, không thấy lông trắng trong đốm, không hủng sâu hơn da, và thấy đã tái rồi, thì hãy giam người nầy trong bảy ngày. 27. Qua ngày thứ bảy thầy tế lễ khám người, nếu đốm ăn lan trên da, thì phải định người là ô uế; ấy là vít phung. 28. Còn nếu đốm cầm cự một chỗ, không ăn lan trên da và tái đi, ấy là sưng phỏng. Thầy tế lễ phải định người là tinh sạch, vì là thẹo phỏng lửa.

29. Khi nào một người nam hay nữ có vít trên đầu, hoặc nơi râu, 30. thì thầy tế lễ khám vít đó. Nếu vít hủng sâu hơn da, có lông nhỏ vàng vàng, thì thầy tế lễ phải định người ra ô uế; ấy là tật đòng đanh, tức là bịnh phung của đầu hay là của râu. 31. Còn nếu khi thầy tế lễ khám vít đòng đanh, thấy vít không hủng sâu hơn da, và không thấy có lông đen, thì phải giam người có vít đòng đanh trong bảy ngày. 32. Qua ngày thứ bảy thầy tế lễ khám vít; nếu đòng đanh không ăn lan ra, không có lông vàng vàng, và không hủng sâu hơn da, 33. thì người đó phải cạo gọt, nhưng không nên cạo gọt chỗ vít đòng đanh, rồi thầy tế lễ sẽ giam người một lần thứ nhì bảy ngày nữa. 34. Đoạn ngày thứ bảy, thầy tế lễ khám cho; nếu đòng đanh không ăn lan trên da, không hủng sâu hơn da, thì thầy tế lễ phải định người là tinh sạch; kẻ bịnh phải giặt áo xống mình, thì sẽ được tinh sạch. 35. Nhưng nếu sau khi người đã được định là tinh sạch, đòng đanh lại còn ăn lan trên da, thì thầy tế lễ phải khám cho. 36. Nếu đòng đanh đã ăn lan trên da rồi, thầy tế lễ không cần tìm thấy lông vàng vàng, người đã bị ô uế. 37. Nhưng nếu đòng đanh xem bộ ngừng lại, và đã lố mọc lông đen, đòng đanh đã lành: người đã được tinh sạch, và thầy tế lễ phải định người là tinh sạch.

38. Khi nào người nam hay nữ trên da thân mình có những đốm trắng, 39. thầy tế lễ sẽ khám cho. Nếu trên da thân người có những đốm trắng xanh, ấy là một đốm trắng lở trên da mà thôi: người vẫn tinh sạch. 40. Khi một người nào đầu rụng tóc, ấy là một người sói đầu: người vẫn tinh sạch. 41. Nếu đầu người rụng tóc về phía mặt, ấy là một người sói trán: người vẫn tinh sạch. 42. Còn nếu trong chỗ sói phía trước hay là phía sau có một vít trắng hồng, ấy là bịnh phung lở ra ở chỗ sói phía trước hay là phía sau. 43. Thầy tế lễ phải khám cho; nếu nơi sưng của vít trong chỗ sói phía trước hay là phía sau có màu trắng hồng, giống như bịnh phung tại da của thân người, 44. thì người nầy bị phung, thầy tế lễ sẽ định người là ô uế; vít người ở nơi đầu.

45. Vả, người đã bị vít phung rồi phải xé quần áo, đầu trần, che râu lại la rằng: Ô-uế! Ô-uế! 46. Trọn lúc nào người có vít, thì sẽ bị ô uế, phải ở một mình ngoài trại quân.

47. Khi nào lên mốc trên quần áo, như vít phung, bất luận trên quần áo bằng lông chiên hay quần áo bằng vải gai, 48. trên canh hay trên chỉ bằng gai, hoặc bằng lông chiên, trên da hay là trên món nào bằng da; 49. nếu vít đó màu xanh xanh hay đỏ đỏ, trên quần áo hoặc trên da, trên canh hoặc trên chỉ hay là trên món nào bằng da, thì phải coi như bịnh phung, đem đến tỏ cho thầy tế lễ. 50. Thầy tế lễ sẽ khám cho, và giam món có vít ấy trong bảy ngày. 51. Qua ngày thứ bảy, thầy tế lễ khám vít lại; nếu vít ăn lan trên quần áo, trên canh hay chỉ, trên da hay trên món chi bằng da, thì phải coi như bịnh phung ăn luồn; món đó bị ô uế. 52. Vậy, người phải đốt quần áo, canh hay chỉ bằng lông chiên hoặc bằng gai, hoặc các món chi làm bằng da, ở trên nó mà đã bị vít, vì là một bịnh phung ăn ruồng: phải thiêu đi.

53. Còn nếu thầy tế lễ khám, chẳng thấy vít đó ăn lan trên quần áo, trên canh hay trên chỉ, hoặc các món chi làm bằng da, 54. thì người hãy biểu họ đem giặt món có vít đó đi, rồi giam nó một lần thứ nhì trong bảy ngày nữa. 55. Khi giặt rồi, thầy tế lễ sẽ khám lại, nếu vít đó không phai màu và cũng chẳng ăn lan ra, thì món đó là ô uế: ngươi hãy đem thiêu đi, vì là một thứ vít mốc ăn vào bề trái hay là bề mặt. 56. Còn nếu sau khi giặt rồi, thầy tế lễ thấy vít đã tái, thì phải gỡ nó khỏi quần áo, da, canh hay chỉ đi. 57. Nếu vít mốc còn ló lên lại trên quần áo, trên canh hay chỉ, hoặc trên món chi bằng da, thì phải coi như một vít phung, và thiêu món có vít đó đi. 58. Nhưng quần áo, canh hay chỉ, hoặc món nào bằng da mà ngươi đã giặt, và vít đã lặn rồi, thì hãy đem giặt một lần thứ nhì nữa, đoạn sẽ được tinh sạch. 59. Đó là luật lệ về vít ên mốc như phung trên quần áo bằng lông chiên hay bằng vải gai, trên canh hay chỉ, hoặc trên món chi bằng da, chiếu theo luật lệ đó mà phải định là tinh sạch hay là ô uế.

Bản Dịch 2011

Luật về Bệnh Phung và Các Bệnh Ngoài Da

Nhiễm Trùng và Ung Nhọt

1 CHÚA phán với Môi-se và A-rôn rằng, 2 “Khi da người nào bị sưng lên, hoặc nổi ung nhọt, hoặc nổi đốm, và biến thành bệnh phung trên da thịt người ấy, người ấy phải được đưa đến Tư Tế A-rôn hoặc đưa đến một tư tế là con trai của A-rôn. 3 Tư tế sẽ khám nghiệm chỗ da thịt bị thương của người ấy. Nếu lông chỗ bị thương đã đổi thành trắng và chỗ bị thương lõm sâu trong da thịt người ấy, đó là một vết phung. Sau khi khám nghiệm, tư tế phải tuyên bố rằng người ấy đã bị ô uế. 4 Nếu chỗ đốm trên da thịt người ấy có màu trắng, vết đốm không lõm sâu xuống mặt da, lông ở chỗ đó cũng chưa đổi thành màu trắng, thì tư tế phải cô lập người bệnh trong bảy ngày. 5 Vào ngày thứ bảy, tư tế sẽ tái khám vết thương của người ấy, nếu tư tế thấy vết thương đó vẫn như cũ, không lan ra trên da, thì tư tế phải cô lập người ấy thêm bảy ngày nữa. 6 Vào ngày thứ bảy, tư tế sẽ tái khám người ấy một lần nữa, nếu vết thương bấy giờ đã nhạt dần, và bệnh không lan ra trên da, tư tế phải tuyên bố rằng người ấy được sạch. Ðó chỉ là một ung nhọt thường. Người ấy phải giặt sạch y phục mình, và được xem là sạch. 7 Nhưng nếu sau khi người ấy đã được tư tế khám nghiệm và tuyên bố là sạch, mà ung nhọt tái phát và lan ra trên da, người ấy phải trở lại trình diện với tư tế. 8 Tư tế phải khám nghiệm, và nếu ung nhọt đã lan ra trên da, tư tế phải tuyên bố rằng người ấy đã bị ô uế; đó là bịnh phung.

Bệnh Phung Kinh Niên

9 Khi một người mắc bịnh phung, người ấy phải được đem đến tư tế. 10 Tư tế sẽ khám nghiệm, nếu da chỗ sưng màu trắng, lông nơi đó cũng đã biến thành trắng, và có thịt đỏ tươi lộ ra ở vết sưng, 11 đó là bệnh phung kinh niên trong da thịt người ấy. Tư tế sẽ tuyên bố người ấy đã bị ô uế. Tư tế sẽ không cô lập người ấy để tái khám nữa, vì người ấy đã bị xem là ô uế.

12 Nhưng nếu bệnh ấy cứ lan ra trên da, tràn khắp cơ thể người bệnh, từ đầu đến chân, nhìn đâu tư tế cũng thấy, 13 bấy giờ tư tế sẽ khám nghiệm, và nếu bệnh đã lan khắp cả cơ thể người ấy, tư tế sẽ tuyên bố người ấy sạch, vì toàn thân đều đã biến thành trắng, nên người ấy được xem là sạch.

14 Nhưng nếu thấy thịt đỏ tươi lộ ra trên cơ thể người ấy, người ấy sẽ bị xem là ô uế. 15 Tư tế sẽ khám nghiệm chỗ thịt đỏ tươi và tuyên bố người ấy ô uế. Thịt đỏ tươi lộ ra là ô uế, vì đó là bệnh phung.

16 Nhưng nếu chỗ thịt đỏ tươi đó đã đổi thành màu trắng, người ấy phải đến trình diện với tư tế. 17 Tư tế sẽ khám nghiệm người bệnh, và nếu chỗ bị bệnh đã biến thành trắng, tư tế phải tuyên bố người bệnh đã được sạch; người ấy sẽ được xem là sạch.

Ung Nhọt

18 Khi da trên cơ thể người nào có một ung nhọt đã được lành, 19 nhưng ngay chỗ có ung nhọt lại nổi lên một mụt màu trắng hoặc một đốm trắng hồng, người ấy phải đến trình cho tư tế biết. 20 Tư tế sẽ khám nghiệm. Nếu mụt hay đốm ấy lõm sâu vào da thịt và lông nơi đó đã biến thành trắng, tư tế phải tuyên bố người ấy đã bị ô uế, vì đó là bệnh phung đã lộ ra qua chỗ ung nhọt. 21 Nhưng nếu tư tế khám nghiệm chỗ ấy và thấy lông nơi đó chưa biến thành trắng, trên mặt cũng không lõm sâu vào da thịt, nhưng đã nhạt màu, tư tế phải cô lập người ấy trong bảy ngày. 22 Nếu nó lan ra trên da, tư tế sẽ tuyên bố người ấy ô uế; người ấy đã mắc bệnh. 23 Nhưng nếu đốm ấy cứ giữ nguyên một chỗ và không lan ra, thì đó chỉ là vết thẹo của ung nhọt; tư tế phải tuyên bố người ấy sạch.

Ghẻ Phỏng

24 Hoặc khi da trên cơ thể người nào có một ghẻ phỏng và thịt đỏ tươi ở chỗ phỏng đó đã trở thành một đốm có màu trắng hồng hay màu trắng, 25 tư tế phải khám nghiệm đốm ấy. Nếu lông ở chỗ đó đã biến thành trắng, và vết đốm đã lõm sâu vào trong da thịt, thì đó là bệnh phung. Nó đã lộ ra qua chỗ ghẻ phỏng, và tư tế phải tuyên bố người ấy ô uế. Ðó là bệnh phung. 26 Nhưng nếu tư tế khám nghiệm đốm ấy và thấy lông ở đó không có màu trắng, và nó không lõm sâu vào da thịt, nhưng đã nhạt màu, tư tế phải cô lập người ấy bảy ngày. 27 Vào ngày thứ bảy, tư tế phải tái khám người ấy, nếu đốm ấy đã lan ra trên da, tư tế phải tuyên bố người ấy ô uế; đó là bệnh phung. 28 Nhưng nếu đốm ấy vẫn ở nguyên một chỗ, không lan ra trên da, nhưng lại nhạt màu đi, thì đó chỉ là vết sưng nổi ra ở chỗ ghẻ phỏng; tư tế sẽ tuyên bố người ấy sạch, vì đó chỉ là vết thẹo ở chỗ phỏng.

Ghẻ Chốc

29 Khi một người nam hay nữ có ghẻ chốc trong tóc trên đầu hay trong râu trên mặt, 30 tư tế sẽ khám nghiệm chỗ ghẻ chốc ấy. Nếu nó lõm sâu vào trong da thịt và tóc hay râu ở đó đã đổi thành màu vàng và nhỏ, tư tế phải tuyên bố người ấy ô uế. Ðó là bệnh ghẻ chốc, một thứ bệnh phung trên đầu hay trong râu. 31 Nếu tư tế khám nghiệm chỗ ghẻ chốc ấy và thấy nó không lõm sâu vào trong da thịt, cũng không thấy lông đen nào trong đó, tư tế phải cô lập người mắc bệnh ghẻ chốc ấy trong bảy ngày. 32 Vào ngày thứ bảy tư tế sẽ tái khám chỗ ghẻ chốc. Nếu chỗ ghẻ chốc không lan ra, cũng không có lông màu vàng ở đó, và chỗ ghẻ chốc cũng không thấy lõm sâu vào trong da thịt, 33 thì người ấy phải cạo tóc hay cạo râu đi, nhưng phải chừa chỗ bị ghẻ chốc lại. Tư tế sẽ cô lập người mắc bệnh ghẻ chốc thêm bảy ngày nữa. 34 Vào ngày thứ bảy tư tế sẽ tái khám chỗ ghẻ chốc ấy. Nếu chỗ ghẻ chốc không lan ra trên da, và nếu nó không lõm sâu vào trong da thịt, tư tế phải tuyên bố người ấy sạch. Người ấy phải giặt kỹ y phục mình và được xem là sạch. 35 Nhưng nếu chỗ ghẻ chốc lan ra trên da sau khi đã được tuyên bố là sạch, 36 tư tế phải tái khám người ấy. Nếu chỗ ghẻ chốc đã lan ra trên da, tư tế không cần phải tìm xem lông đã biến thành màu vàng hay chưa; người ấy đã bị ô uế. 37 Nhưng nếu theo sự thẩm định của tư tế, chỗ ghẻ chốc ấy đã bắt đầu lành, lông đen đã mọc lên trong đó, như vậy chỗ ghẻ chốc ấy đang được lành, người ấy được xem là sạch, và tư tế phải tuyên bố người ấy sạch.

Tàn Nhang

38 Khi một người nam hay nữ thấy trên da thịt mình có những đốm, những đốm màu trắng, 39 tư tế phải khám nghiệm. Nếu những đốm trên da người ấy có màu trắng nhạt, đó là tàn nhang đã lộ ra trên da; người ấy sạch.

Sói Tóc

40 Nếu người nào bị rụng tóc trên đầu, người ấy bị sói đầu nhưng vẫn sạch. 41 Nếu một người bị rụng tóc trên trán, người ấy bị sói trán nhưng vẫn sạch. 42 Nhưng nếu da ở chỗ đầu sói hay trán sói ấy nổi lên một vết trắng hồng, không chừng đó là vết phung đã lộ ra ở chỗ đầu sói hay trán sói. 43 Tư tế sẽ khám nghiệm người ấy. Nếu vết sưng ở chỗ đầu sói hay trán sói đó màu trắng hồng và trông giống như một vết phung trên da thịt một người, 44 người ấy đã mắc bệnh phung; người ấy đã bị ô uế. Tư tế phải tuyên bố người ấy ô uế, vì bệnh phung đã lộ ra trên đầu.

Quy Chế về Người Mắc Bệnh Phung

45 Khi người nào mắc bệnh phung, người ấy phải xé rách y phục mình, để tóc xõa xuống, lấy tay che miệng mình, và kêu lớn, ‘Ô uế! Ô uế!’ 46 Ngày nào người ấy còn bệnh, người ấy vẫn còn bị ô uế. Người ấy phải ở bên ngoài doanh trại.

Bệnh Phung trên Y Phục

47 Về y phục, khi bệnh phung thấy xuất hiện trên y phục, bất kể y phục đó được làm bằng lông thú hay bằng vải gai, 48 tức y phục được dệt hoặc đan bằng vải gai hay lông thú, hoặc y phục ấy được làm bằng da, hay bất cứ vật gì được làm bằng da, 49 nếu người ta thấy có vết xanh chàm hay đỏ nhạt xuất hiện trên y phục, hoặc trên da, bất kể món đồ ấy được đan hay dệt, hoặc thấy xuất hiện trên bất cứ vật gì làm bằng da, thì đó là bệnh phung, và vật đó phải được đem đến trình cho tư tế. 50 Tư tế sẽ khám nghiệm vật đó; sau đó tư tế phải để riêng vật bị bệnh đó ra bảy ngày. 51 Ngày thứ bảy tư tế sẽ tái khám vật đó. Nếu vết bệnh đã lan ra trên y phục, bất kể là y phục ấy được đan hay dệt, hoặc vết bệnh đã lan ra trên da, bất kể là da được dùng làm món đồ gì, thì đó là bệnh phung đã lan ra; món đồ ấy đã trở thành vật ô uế. 52 Tư tế phải thiêu bộ y phục ấy, bất kể bộ y phục có bệnh ấy được đan hay dệt bằng lông thú hay bằng vải gai; còn nếu món đồ làm bằng da có bệnh, tư tế phải thiêu nó đi, vì bệnh phung đã lan ra. Nó phải bị thiêu rụi trong lửa.

53 Nếu tư tế khám nghiệm món đồ và thấy bệnh không lan ra trên y phục được đan hay dệt, hay trên món đồ được làm bằng da, 54 thì tư tế sẽ truyền cho chủ món đồ đem giặt rửa món đồ có bệnh, rồi để nó cách ly bảy ngày nữa. 55 Sau đó tư tế sẽ tái khám món đồ bị bệnh đã được giặt rửa, nếu tư tế thấy vết bệnh vẫn không đổi màu, mặc dù vết bệnh ấy không lan ra, món đồ ấy đã trở thành vật ô uế. Các ngươi phải đem thiêu nó trong lửa, bất kể vết phung ấy ở mặt trong hay mặt ngoài của món đồ.

56 Nếu tư tế khám nghiệm món đồ và thấy vết bệnh đã nhạt màu sau khi được giặt rửa, người ta sẽ cắt bỏ chỗ vết bệnh ra khỏi bộ y phục, bất kể bộ y phục ấy được đan hay dệt, hoặc cắt bỏ chỗ da bệnh ra khỏi món đồ làm bằng da.

57 Nếu sau đó trên món đồ lại thấy xuất hiện vết bệnh mới, bất kể đó là y phục được đan hay dệt, hoặc bất kể đó là món đồ gì được làm bằng da, các ngươi phải đem thiêu món đồ có bệnh đó trong lửa, vì món đồ ấy đã bị bệnh phung và phung đã lan ra. 58 Nhưng nếu bộ y phục được đan hay dệt, hoặc món đồ được làm bằng da, mà sau khi đem giặt rửa, chỗ có vết bệnh đã biến mất, thì phải đem giặt rửa nó thêm một lần nữa, sau đó món đồ ấy sẽ được sạch.

59 Ðó là quy luật về bệnh phung cho y phục được đan hay dệt bằng lông thú hay bằng vải gai, hoặc bất cứ món đồ gì được làm bằng da, để quyết định vật ấy là sạch hay ô uế.”

Tài Liệu