Hê-bơ-rơ: Chương 11

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB58C0011)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch Việt Ngữ

Sức mạnh của đức tin

1. Đức tin là sự quả quyết về những điều đã hy vọng, là sự thuyết phục về những điều chưa thấy. 2. Những bậc tiền nhân thuở xưa đã được xác chứng trong điều này.

3. Bởi đức tin, chúng ta hiểu rằng vũ trụ đã được hình thành bởi lời của Đức Chúa Trời, do đó những vật hữu hình đã được tạo nên từ những vật vô hình.

Những anh hùng đức tin

4. Bởi đức tin, A-bên đã dâng cho Đức Chúa Trời một sinh tế tốt hơn của Ca-in, và qua đó ông được xác chứng là công chính, Đức Chúa Trời chấp nhận những lễ vật của A-bên, và nhờ đó ông vẫn nói mặc dù đã chết.

5. Bởi đức tin, Hê-nóc đã được cất lên và không trải qua sự chết; người ta không thấy ông bởi vì Đức Chúa Trời đã tiếp ông lên. Trước khi được tiếp lên, ông được xác chứng là sống đẹp lòng Đức Chúa Trời. 6. Không có đức tin thì không thể nào sống đẹp lòng Đức Chúa Trời bởi vì người nào đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng Ngài thực hữu và Ngài là Đấng ban thưởng cho những ai tìm kiếm Ngài.

7. Bởi đức tin, Nô-ê được Chúa hướng dẫn về những việc chưa thấy, và ông đã thành tâm kính sợ xây dựng một chiếc tàu để cứu gia đình mình; qua đó ông lên án thế gian và ông đã trở nên người thừa kế sự công chính đến từ đức tin.

8. Bởi đức tin, khi được kêu gọi, Áp-ra-ham đã vâng lời để đi đến một nơi mà ông sẽ nhận làm cơ nghiệp; ông đã đi mà không biết nơi mình sẽ đến. 9. Nhờ đức tin, Áp-ra-ham cư ngụ trong đất hứa như một người ngoại quốc, ở trong các lều trại, cũng như Y-sác và Gia-cốp, là những người đồng thừa kế cùng một lời hứa. 10. Bởi vì ông đang chờ đợi một thành phố có nền móng do Đức Chúa Trời thiết kế và xây dựng. 11. Nhờ đức tin, chính Sa-ra một người hiếm muộn đã nhận năng lực để thụ tinh dù đã vượt quá tuổi có khả năng sinh sản, bởi vì bà tin rằng Đấng đã hứa với mình là thành tín. 12. Vì vậy, cũng từ một người, là một người gần chết, lại sinh ra muôn vàn con cháu đông như sao trên trời như cát bãi biển không thể đếm được.

13. Tất cả những người nầy đều chết trong đức tin, chưa nhận được những lời hứa; nhưng chỉ nhìn thấy và chào đón những điều đó từ xa; và họ đã nhìn nhận rằng họ chỉ là những kiều dân và là những lữ khách ở trên đất. 14. Bởi vì những người nói như vậy đã chứng tỏ rằng họ đang tìm kiếm một quê hương cho mình. 15. Và thật vậy, nếu họ đã nhớ về quê hương nơi họ đã đi ra, thì họ cũng có cơ hội để trở về. 16. Tuy nhiên, họ mong ước một quê hương tốt hơn, là quê hương thiên thượng. Do đó, Đức Chúa Trời đã không hổ thẹn để Ngài được gọi là Đức Chúa Trời của họ, bởi vì Ngài đã chuẩn bị cho họ một thành phố.

17. Bởi đức tin, trong lúc được thử nghiệm, Áp-ra-ham đã hiến dâng Y-sác. Đứa con một đang được hiến dâng cũng chính là đứa con đã nhận lãnh theo lời hứa, 18. và là người đã được phán rằng: “Dòng dõi của con sẽ được xướng danh từ Y-sác.” 19. Ông nghĩ rằng Đức Chúa Trời có quyền làm cho sống lại từ cõi chết, là nơi, nói theo nghĩa bóng, ông nhận lại con của mình.

20. Bởi đức tin, Y-sác đã chúc phước cho Gia-cốp và Ê-sau về những việc sẽ đến. 21. Bởi đức tin, Gia-cốp lúc gần qua đời đã chúc phước cho mỗi con trai của Giô-sép, và đã thờ phượng từ nương trên đầu gậy mình. 22. Bởi đức tin, Giô-sép lúc gần qua đời đã nói về việc con cháu Y-sơ-ra-ên sẽ ra đi, và ban những hướng dẫn về hài cốt của ông.

23. Bởi đức tin, Môi-se, khi mới sinh, cha mẹ của ông đã giấu trong ba tháng, bởi vì họ thấy đứa bé xinh đẹp, và không sợ chiếu chỉ của vua. 24. Bởi đức tin, Môi-se lúc trưởng thành, đã từ bỏ danh hiệu là con trai của công chúa Pha-ra-ôn, 25. thà bị áp bức cùng con dân của Đức Chúa Trời hơn là thụ hưởng lạc thú tạm thời của tội lỗi. 26. Ông coi sự sỉ nhục về Đấng Christ là quý hơn châu báu của Ai Cập, bởi vì ông trông mong sự ban thưởng. 27. Bởi đức tin, ông lìa Ai Cập không sợ cơn giận của vua; vì ông kiên định như nhìn thấy Đấng vô hình. 28. Bởi đức tin, ông đã giữ lễ Vượt Qua, và đã rưới huyết, để đấng hủy diệt không đụng đến các con đầu lòng.

29. Bởi đức tin, người Do Thái đã vượt qua Biển Đỏ như đi trên đất khô, những người Ai Cập cố đi qua, thì bị nhận chìm.

30. Bởi đức tin, những vách thành của Giê-ri-cô đã sụp đổ sau khi người Do Thái đi vòng quanh bảy ngày.

31. Bởi đức tin, kỹ nữ Ra-háp đã không chết với những kẻ không tin, bởi vì nàng đã tiếp rước các thám tử cách bình an.

32. Tôi sẽ còn nói gì nữa? Bởi vì tôi sẽ không có đủ thì giờ để nói về Ghi-đê-ôn, Ba-rác, Sam-sôn, Giép-thê, Đa-vít, Sa-mu-ên và các tiên tri. 33. Những người đó bởi đức tin đã chinh phục những vương quốc, thực thi công lý, thu nhận những lời hứa, bịt miệng sư tử, 34. tắt ngọn lửa hừng, thoát khỏi lưỡi gươm, được mạnh mẽ thoát khỏi sự yếu đuối, trở nên dũng cảm trong chiến trận, khiến quân đội ngoại xâm chạy trốn. 35. Có những phụ nữ đã nhận lại thân nhân mình từ cõi chết sống lại; có những người khác bị tra tấn nhưng không chấp nhận được thả ta để họ có thể nhận được sự sống lại tốt hơn. 36. Những người khác đã nhận sự thử thách bị chế giễu và bị đánh đập; thêm vào đó cũng bị xiềng xích và lao tù. 37. Họ đã bị ném đá, bị cám dỗ, bị cưa đôi, bị giết bằng gươm; bị lưu lạc trong lốt chiên và lốt dê, bị thiếu thốn, bị hà hiếp và ngược đãi. 38. Thế gian không xứng đáng cho họ; họ lưu lạc trong hoang mạc, trên núi cao, trong những hang động, trong những hầm hố dưới đất.

39. Tất cả những người ấy mặc dù đã được chứng nhận tốt nhờ đức tin, nhưng chưa nhận lãnh điều đã hứa, 40. bởi vì Đức Chúa Trời đã hoạch định điều tốt hơn cho chúng ta, để không xa chúng ta, họ sẽ được toàn hảo.

Bản Dịch Đại Chúng

Sức mạnh của đức tin

Đức tin là sự quả quyết về những điều hy vọng, là sự thuyết phục về những điều chưa thấy. Nhiều người từ thời xa xưa đã được xác chứng trong điều này.

Bởi đức tin, chúng ta biết rằng vũ trụ đã được hình thành bởi lời của Đức Chúa Trời, do đó những vật hữu hình đã được tạo nên từ những vật vô hình.

Những anh hùng đức tin

Bởi đức tin, A-bên đã dâng cho Đức Chúa Trời một sinh tế tốt hơn của Ca-in, và qua đó A-bên được xác chứng là công chính, Đức Chúa Trời chấp nhận những lễ vật của A-bên; và A-bên vẫn nói qua điều đó mặc dù đã chết.

Bởi đức tin, Hê-nóc đã được cất lên mà không phải trải qua sự chết; người ta không thấy ông bởi vì Đức Chúa Trời đã tiếp ông lên. Trước khi được tiếp lên, Hê-nóc được xác chứng là sống đẹp lòng Đức Chúa Trời. Không có đức tin thì không thể nào sống đẹp lòng Đức Chúa Trời; bởi vì người nào đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng Ngài thực hữu, và Ngài là Đấng ban thưởng cho những ai tìm kiếm Ngài.

Bởi đức tin, Nô-ê được Chúa hướng dẫn về những việc chưa thấy, và ông thành tâm kính sợ, xây dựng một chiếc tàu để cứu gia đình mình; qua đó, ông lên án thế gian và ông đã trở nên người thừa kế sự công chính đến từ đức tin.

Bởi đức tin, khi được kêu gọi, Áp-ra-ham đã vâng lời để đi đến một nơi mà ông sẽ nhận làm cơ nghiệp; ông đã đi mà không biết nơi ông sẽ đến. Nhờ đức tin, ông cư ngụ trong đất hứa như một người ngoại quốc, ở trong các căn lều, cũng như Y-sác và Gia-cốp, là những người đồng thừa kế cùng một lời hứa. Bởi vì ông đang chờ đợi một thành phố có nền móng do Đức Chúa Trời thiết kế và xây dựng. Nhờ đức tin, chính Sa-ra một người hiếm muộn đã nhận sức lực để thụ tinh dù đã vượt quá tuổi có khả năng sinh sản, bởi vì bà tin rằng Đấng đã hứa với mình là thành tín. Vì vậy, cũng từ một người - một người gần chết - lại sinh ra muôn vàn con cháu, đông như sao trên trời như cát bãi biển không thể đếm được.

Tất cả những người nầy đều chết trong đức tin, chưa nhận được những lời hứa; nhưng chỉ nhìn thấy và chào đón những điều đó từ xa; và họ đã nhìn nhận rằng họ chỉ là những kiều dân và là những lữ khách ở trên đất. Bởi vì những người nói như vậy đã chứng tỏ rằng họ đang tìm kiếm một quê hương cho mình. Và thật vậy, nếu họ đã nhớ về quê hương nơi họ đã đi ra, thì họ cũng có cơ hội để trở về. Tuy nhiên, họ mong ước một quê hương tốt hơn, là quê hương thiên thượng. Do đó, Đức Chúa Trời đã không hổ thẹn để được gọi là Đức Chúa Trời của họ, bởi vì Ngài đã chuẩn bị cho họ một thành phố.

Bởi đức tin, trong lúc được thử nghiệm, Áp-ra-ham đã hiến dâng Y-sác. Đứa con đang được hiến dâng cũng chính là đứa con một đã nhận lãnh theo lời hứa, và cũng là người đã được phán rằng: “Dòng dõi của con sẽ được xướng danh từ Y-sác.” Áp-ra-ham nghĩ rằng Đức Chúa Trời có quyền làm cho sống lại từ cõi chết, là nơi, nói theo nghĩa bóng, ông nhận lại con của mình.

Bởi đức tin, Y-sác đã chúc phước cho Gia-cốp và Ê-sau về những việc sẽ đến. Bởi đức tin, Gia-cốp lúc gần qua đời đã chúc phước cho mỗi con trai của Giô-sép, và đã thờ phượng từ nương trên đầu gậy mình. Bởi đức tin, Giô-sép lúc gần qua đời đã nói về việc con cháu Y-sơ-ra-ên sẽ ra đi, và ban những hướng dẫn về hài cốt của ông.

Bởi đức tin, Môi-se, khi mới sinh, cha mẹ của ông đã giấu trong ba tháng, bởi vì họ thấy đứa bé xinh đẹp, và không sợ chiếu chỉ của vua. Bởi đức tin, Môi-se lúc trưởng thành, đã từ bỏ danh hiệu là con trai của công chúa Pha-ra-ôn, thà bị áp bức cùng con dân của Đức Chúa Trời hơn là thụ hưởng lạc thú tạm thời của tội lỗi. Ông coi sự sỉ nhục về Đấng Christ là quý hơn châu báu của Ai Cập, bởi vì ông trông mong sự ban thưởng. Bởi đức tin, ông lìa Ai Cập không sợ cơn giận của vua; bởi vì ông kiên trì như nhìn thấy Đấng vô hình. Bởi đức tin, ông đã giữ lễ Vượt Qua, và đã rưới huyết, để đấng hủy diệt không đụng đến các con đầu lòng.

Bởi đức tin, người Do Thái đã vượt qua Biển Đỏ như đi trên đất khô, những người Ai Cập cố đi qua, thì bị nhận chìm.

Bởi đức tin, những vách thành của Giê-ri-cô đã sụp đổ sau khi người Do Thái đi vòng quanh bảy ngày.

Bởi đức tin, kỹ nữ Ra-háp đã không chết với những kẻ không tin, bởi vì nàng đã tiếp rước các thám tử cách bình an.

Tôi sẽ còn nói gì nữa? Bởi vì tôi sẽ không có đủ thì giờ để nói về Ghi-đê-ôn, Ba-rác, Sam-sôn, Giép-thê, Đa-vít, Sa-mu-ên và các tiên tri. Những người đó bởi đức tin đã chinh phục những vương quốc, thực thi công lý, thu nhận những lời hứa, bịt miệng sư tử, tắt ngọn lửa hừng, thoát khỏi lưỡi gươm, được mạnh mẽ thoát khỏi sự yếu đuối, trở nên dũng cảm trong chiến trận, khiến quân đội ngoại xâm chạy trốn. Có những phụ nữ đã nhận lại thân nhân mình từ cõi chết sống lại; có những người khác bị tra tấn nhưng không chấp nhận được thả ta để họ có thể nhận được sự sống lại tốt hơn. Những người khác đã nhận sự thử thách bị chế giễu và bị đánh đập; thêm vào đó cũng bị xiềng xích và lao tù. Họ đã bị ném đá, bị cám dỗ, bị cưa đôi, bị giết bằng gươm; bị lưu lạc trong lốt chiên và lốt dê, bị thiếu thốn, bị hà hiếp và ngược đãi. Thế gian không xứng đáng cho họ; họ lưu lạc trong hoang mạc, trên núi cao, trong những hang động, trong những hầm hố dưới đất.

Tất cả những người ấy mặc dù đã được chứng nhận tốt nhờ đức tin, nhưng chưa nhận lãnh điều đã hứa, bởi vì Đức Chúa Trời đã hoạch định điều tốt hơn cho chúng ta, để cùng với chúng ta, họ sẽ được toàn hảo.

Bản Dịch Ngữ Căn

1. Đức tin là sự quả quyết về những điều đã hy vọng, là sự thuyết phục về những điều chưa thấy. 2. Nhiều cổ nhân đã được xác chứng trong điều này.

3. Bởi đức tin, chúng ta hiểu rằng vũ trụ đã được hình thành bởi lời của Đức Chúa Trời, do đó những vật hữu hình đã được tạo nên từ những vật vô hình.

4. Bởi đức tin, A-bên đã dâng cho Đức Chúa Trời một sinh tế tốt hơn của Ca-in, và qua đó ông được xác chứng là công chính, Đức Chúa Trời chấp nhận những lễ vật của ông, và qua điều đó, ông vẫn nói mặc dù đã chết.

5. Bởi đức tin, Hê-nóc đã được cất lên và không trải qua sự chết; người ta không thấy ông, bởi vì Đức Chúa Trời đã tiếp ông lên. Trước khi được tiếp lên, ông được xác chứng là sống đẹp lòng Đức Chúa Trời. 6. Không có đức tin thì không thể nào sống đẹp lòng Đức Chúa Trời, bởi vì người nào đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng Ngài thực hữu và Ngài là Đấng ban thưởng cho những ai tìm kiếm Ngài.

7. Bởi đức tin, Nô-ê được Chúa hướng dẫn về những việc chưa thấy, và ông thành tâm kính sợ, xây dựng một chiếc tàu để cứu gia đình mình; qua đó, ông lên án thế gian và ông đã trở nên người thừa kế sự công chính đến từ đức tin.

8. Bởi đức tin, khi được kêu gọi, Áp-ra-ham đã vâng lời để đi đến một nơi mà ông sẽ nhận làm cơ nghiệp; ông đã đi mà không biết nơi ông sẽ đến. 9. Nhờ đức tin, ông cư ngụ trong đất hứa như một người ngoại quốc, ở trong các lều trại, cũng như Y-sác và Gia-cốp, là những người đồng thừa kế cùng một lời hứa. 10. Bởi vì ông đang chờ đợi một thành phố có nền móng do Đức Chúa Trời thiết kế và xây dựng. 11. Nhờ đức tin, chính Sa-ra, một người hiếm muộn, đã nhận sức lực để thụ tinh, dù đã vượt quá tuổi có khả năng sinh sản, bởi vì bà tin rằng Đấng đã hứa với mình là thành tín. 12. Vì vậy, cũng từ một người - một người gần chết - lại sinh ra muôn vàn con cháu, đông như sao trên trời, như cát bãi biển, không thể đếm được.

13. Tất cả những người nầy đều chết trong đức tin, chưa nhận được những lời hứa; nhưng chỉ nhìn thấy và chào đón những điều đó từ xa; và họ đã nhìn nhận rằng họ chỉ là những kiều dân và là những lữ khách ở trên đất. 14. Bởi vì những người nói như vậy đã chứng tỏ rằng họ đang tìm kiếm một quê hương cho mình. 15. Và thật vậy, nếu họ đã nhớ về quê hương nơi họ đã đi ra, thì họ cũng có cơ hội để trở về. 16. Tuy nhiên, họ mong ước một quê hương tốt hơn, là quê hương thiên thượng. Do đó, Đức Chúa Trời đã không hổ thẹn để được gọi là Đức Chúa Trời của họ, bởi vì Ngài đã chuẩn bị cho họ một thành phố.

17. Bởi đức tin, trong lúc được thử nghiệm, Áp-ra-ham đã hiến dâng Y-sác; đứa con một đang được hiến dâng cũng chính là đứa con đã nhận lãnh theo lời hứa, 18. và là người đã được phán rằng: “Dòng dõi của con sẽ được xướng danh từ Y-sác.” 19. Ông nghĩ rằng Đức Chúa Trời có quyền làm cho sống lại từ cõi chết, là nơi, nói theo nghĩa bóng, ông nhận lại con của mình.

20. Bởi đức tin, Y-sác đã chúc phước cho Gia-cốp và Ê-sau về những việc sẽ đến. 21. Bởi đức tin, Gia-cốp lúc gần qua đời đã chúc phước cho mỗi con trai của Giô-sép, và đã thờ phượng từ nương trên đầu gậy mình. 22. Bởi đức tin, Giô-sép lúc gần qua đời đã nói về việc con cháu Y-sơ-ra-ên sẽ ra đi, và ban những hướng dẫn về hài cốt của ông.

23. Bởi đức tin, Môi-se, khi mới sinh, cha mẹ của ông đã giấu trong ba tháng, bởi vì họ thấy đứa bé xinh đẹp, và không sợ chiếu chỉ của vua. 24. Bởi đức tin, Môi-se lúc trưởng thành, đã từ bỏ danh hiệu là con trai của công chúa Pha-ra-ôn, 25. thà bị áp bức cùng con dân của Đức Chúa Trời hơn là thụ hưởng lạc thú tạm thời của tội lỗi. 26. Ông coi sự sỉ nhục về Đấng Christ là quý hơn châu báu của Ai Cập, bởi vì ông trông mong sự ban thưởng. 27. Bởi đức tin, ông lìa Ai Cập không sợ cơn giận của vua; bởi vì ông kiên trì như nhìn thấy Đấng vô hình. 28. Bởi đức tin, ông đã giữ lễ Vượt Qua, và đã rưới huyết, để đấng hủy diệt không đụng đến các con đầu lòng.

29. Bởi đức tin, họ đã vượt qua Biển Đỏ như đi trên đất khô, những người Ai Cập cố đi qua, thì bị nhận chìm.

30. Bởi đức tin, những vách thành của Giê-ri-cô đã sụp đổ sau khi họ đi vòng quanh bảy ngày.

31. Bởi đức tin, kỹ nữ Ra-háp đã không chết với những kẻ không tin, bởi vì nàng đã tiếp rước các thám tử cách bình an.

32. Tôi sẽ còn nói gì nữa? Bởi vì tôi sẽ không có đủ thì giờ để nói về Ghi-đê-ôn, Ba-rác, Sam-sôn, Giép-thê, Đa-vít, Sa-mu-ên và các tiên tri. 33. Những người đó bởi đức tin đã chinh phục những vương quốc, thực thi công lý, thu nhận những lời hứa, bịt miệng sư tử, 34. tắt ngọn lửa hừng, thoát khỏi lưỡi gươm, được mạnh mẽ thoát khỏi sự yếu đuối, trở nên dũng cảm trong chiến trận, khiến quân đội ngoại xâm chạy trốn. 35. Có những phụ nữ đã nhận lại thân nhân mình từ cõi chết sống lại; có những người khác bị tra tấn nhưng không chấp nhận được thả ta để họ có thể nhận được sự sống lại tốt hơn. 36. Những người khác đã nhận sự thử thách bị chế giễu và bị đánh đập; thêm vào đó cũng bị xiềng xích và lao tù. 37. Họ đã bị ném đá, bị cám dỗ, bị cưa đôi, bị giết bằng gươm; bị lưu lạc trong lốt chiên và lốt dê, bị thiếu thốn, bị hà hiếp và ngược đãi. 38. Thế gian không xứng đáng cho họ; họ lưu lạc trong hoang mạc, trên núi cao, trong những hang động, trong những hầm hố dưới đất.

39. Tất cả những người ấy mặc dù đã được chứng nhận tốt nhờ đức tin, nhưng chưa nhận lãnh điều đã hứa, 40. bởi vì Đức Chúa Trời đã hoạch định điều tốt hơn cho chúng ta, để không xa chúng ta, họ sẽ được toàn hảo.

Bản Dịch 1925

1. Vả, đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy. 2. Ấy là nhờ đức tin mà các đấng thuở xưa đã được lời chứng tốt.

3. Bởi đức tin, chúng ta biết rằng thế gian đã làm nên bởi lời của Đức Chúa Trời, đến nỗi những vật bày ra đó đều chẳng phải từ vật thấy được mà đến.

4. Bởi đức tin, A-bên đã dâng cho Đức Chúa Trời một tế lễ tốt hơn của Ca-in, và được xưng công bình, vì Đức Chúa Trời làm chứng về người rằng Ngài nhậm lễ vật ấy; lại cũng nhờ đó dầu người chết rồi, hãy còn nói. 5. Bởi đức tin, Hê-nóc được cất lên và không hề thấy sự chết; người ta không thấy người nữa, vì Đức Chúa Trời đã tiếp người lên. Bởi chưng trước khi được tiếp lên, người đã được chứng rằng mình ở vừa lòng Đức Chúa Trời rồi. 6. Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài. 7. Bởi đức tin, Nô-ê được Chúa mách bảo cho về những việc chưa thấy, và người thành tâm kính sợ, đóng một chiếc tàu để cứu nhà mình; bởi đó người định tội thế gian, và trở nên kẻ kế tự của sự công bình đến từ đức tin vậy.

8. Bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp: người đi mà không biết mình đi đâu. 9. Bởi đức tin, người kiều ngụ trong xứ đã hứa cho mình, như trên đất ngoại quốc, ở trong các trại, cũng như Y-sác và Gia-cốp, là kẻ đồng kế tự một lời hứa với người. 10. Vì người chờ đợi một thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập. 11. Cũng bởi đức tin mà Sa-ra dẫu có tuổi còn có sức sanh con cái được, vì người tin rằng Đấng hứa cho mình điều đó là thành tín. 12. Cũng vì đó mà chỉ một người, lại là một người già yếu, sanh ra muôn vàn con cháu, đông như sao trên trời, như cát bãi biển, không thể đếm được.

13. Hết thảy những người đó đều chết trong đức tin, chưa nhận lãnh những điều hứa cho mình; chỉn trông thấy và chào mừng những điều đó từ đằng xa, xưng mình là kẻ khách và bộ hành trên đất. 14. Những kẻ nói như thế, tỏ rõ rằng mình đang đi tìm nơi quê hương. 15. Ví thử họ đã tưởng đến nơi quê hương mà mình từ đó đi ra, thì cũng có ngày trở lại, 16. nhưng họ ham mến một quê hương tốt hơn, tức là quê hương ở trên trời; nên Đức Chúa Trời không hổ thẹn mà xưng mình là Đức Chúa Trời của họ, vì Ngài đã sắm sẵn cho họ một thành.

17. Bởi đức tin, Áp-ra-ham dâng Y-sác trong khi bị thử thách: người là kẻ đã nhận lãnh lời hứa, dâng con một mình, 18. là về con đó mà Đức Chúa Trời có phán rằng: Ấy bởi trong Y-sác mà ngươi sẽ có một dòng dõi lấy tên ngươi mà kêu. 19. Người tự nghĩ rằng Đức Chúa Trời cũng có quyền khiến kẻ chết sống lại; cũng giống như từ trong kẻ chết mà người lại được con mình.

20. Bởi đức tin, Y-sác chúc phước cho Gia-cốp và Ê-sau về những sự hầu đến. 21. Bởi đức tin, Gia-cốp lúc gần chết, chúc phước cho hai con của Giô-sép, và nương trên gậy mình mà lạy. 22. Bởi đức tin, Giô-sép lúc gần qua đời nói về việc con cháu Y-sơ-ra-ên sẽ đi ra, và truyền lịnh về hài cốt mình.

23. Bởi đức tin, khi Môi-se mới sanh ra, cha mẹ người đem giấu đi ba tháng, vì thấy là một đứa con xinh tốt, không sợ chiếu mạng của vua. 24. Bởi đức tin, Môi-se lúc đã khôn lớn, bỏ danh hiệu mình là con trai của công chúa Pha-ra-ôn, 25. đành cùng dân Đức Chúa Trời chịu hà hiếp hơn là tạm hưởng sự vui sướng của tội lỗi: 26. người coi sự sỉ nhục về Đấng Christ là quí hơn của châu báu xứ Ê-díp-tô, vì người ngửa trông sự ban thưởng. 27. Bởi đức tin, người lìa xứ Ê-díp-tô không sợ vua giận; vì người đứng vững như thấy Đấng không thấy được. 28. Bởi đức tin người giữ lễ Vượt Qua và làm phép rưới huyết, hầu cho đấng hủy diệt chẳng hề hại đến con đầu lòng dân Y-sơ-ra-ên.

29. Bởi đức tin, dân Y-sơ-ra-ên vượt qua Biển đỏ như đi trên đất khô, còn người Ê-díp-tô thử đi qua, bị nuốt mất tại đó. 30. Bởi đức tin, các tường thành Giê-ri-cô đổ xuống, sau khi người ta đi vòng quanh bảy ngày. 31. Bởi đức tin, kỵ nữ Ra-háp không chết với kẻ chẳng tin, vì nàng đã lấy ý tốt tiếp rước các kẻ do thám.

32. Ta còn nói chi nữa? Vì nếu ta muốn nói về Ghê-đê-ôn, Ba-rác, Sam-sôn, Giép-thê, Đa-vít, Sa-mu-ên và các đấng tiên tri, thì không đủ thì giờ. 33. Những người đó bởi đức tin đã thắng được các nước, làm sự công bình, được những lời hứa, bịt mồm sư tử, 34. tắt ngọn lửa hừng, lánh khỏi lưỡi gươm, thắng bịnh tật, tỏ sự bạo dạn nơi chiến tranh, khiến đạo binh nước thù chạy trốn 35. Có người đàn bà đã được người nhà mình chết sống lại, có kẻ bị hình khổ dữ tợn mà không chịu giải cứu, để được sự sống lại tốt hơn. 36. Có kẻ khác chịu nhạo cười, roi vọt, lại cũng chịu xiềng xích, lao tù nữa. 37. Họ đã bị ném đá, tra tấn, cưa xẻ; bị giết bằng lưỡi gươm; lưu lạc rày đây mai đó, mặc những da chiên da dê, bị thiếu thốn mọi đường, bị hà hiếp, ngược đãi, 38. thế gian không xứng đáng cho họ ở, phải lưu lạc trong đồng vắng, trên núi trong hang, trong những hầm dưới đất. 39. Hết thảy những người đó dầu nhân đức tin đã được chứng tốt, song chưa hề nhận lãnh điều đã được hứa cho mình. 40. Vì Đức Chúa Trời có sắm sẵn điều tốt hơn cho chúng ta, hầu cho ngoại chúng ta ra họ không đạt đến sự trọn vẹn được.

Bản Dịch 2011

Ý Nghĩa của Ðức Tin

1 Ðức tin là bảo đảm cho những gì mình đang hy vọng, là biết chắc về những điều mình chẳng trông thấy. 2 Nhờ đức tin các bậc tiền nhân được lời chứng tốt. 3 Nhờ đức tin chúng ta biết vũ trụ được dựng nên bởi lời Ðức Chúa Trời, và những gì thấy được đến từ những gì không thấy được.

Gương Ðức Tin của Các Thánh Tổ

4 Bởi đức tin A-bên dâng lên Ðức Chúa Trời một lễ vật hiến tế tốt hơn của Ca-in, nhờ đó ông được chứng là người công chính; Ðức Chúa Trời chấp nhận lễ vật của ông, và qua đó, dù đã chết, ông vẫn còn nói.

5 Bởi đức tin Ê-nóc được cất lên và không phải trải qua sự chết; người ta không tìm thấy ông, vì Ðức Chúa Trời đã cất ông lên. Số là trước khi được cất lên, ông được chứng là người sống đẹp lòng Ðức Chúa Trời. 6 Không có đức tin thì không thể nào sống đẹp lòng Ðức Chúa Trời, vì ai đến gần Ðức Chúa Trời phải tin rằng Ngài hiện hữu, và Ngài là Ðấng ban thưởng cho những ai tìm kiếm Ngài.

7 Bởi đức tin Nô-ê được Ðức Chúa Trời báo trước về những điều ông chưa thấy; với lòng thành tâm kính sợ ông đóng một chiếc tàu để cứu gia đình mình; qua đó ông lên án thế gian và trở thành người thừa kế sự công chính nhờ đức tin.

8 Bởi đức tin Áp-ra-ham vâng lời khi được gọi đi đến xứ ông sẽ nhận làm cơ nghiệp; ông ra đi mà không biết mình đi đâu. 9 Bởi đức tin ông cư ngụ trong xứ đã hứa cho mình như một kiều dân sống ở ngoại quốc, ở trong các trại với I-sác và Gia-cốp, những người cùng thừa hưởng lời hứa với ông; 10 vì ông trông đợi một thành có nền tảng vững chắc do chính Ðức Chúa Trời thiết kế và xây dựng.

11 Bởi đức tin ngay cả Sa-ra, một người hiếm muộn, nhận lấy khả năng sinh con khi tuổi đã già, vì bà tin rằng Ðấng đã hứa với bà là thành tín. 12 Bởi vậy từ một người coi như đã chết lại sinh ra một dòng dõi đông như sao trên trời, như cát bờ biển, không sao đếm được.

13 Tất cả những người ấy đã chết trong đức tin, chưa nhận được điều đã hứa cho mình, nhưng chỉ trông thấy và đón chào từ xa, xưng mình là những kiều dân và những lữ khách trên đất. 14 Vì những người nói như thế chứng tỏ rằng họ đang còn đi tìm một quê hương. 15 Nếu họ đã nghĩ đến quê hương mà họ từ đó ra đi, chắc hẳn họ đã có cơ hội trở về. 16 Nhưng bấy giờ họ mong ước một quê hương tốt hơn, đó là quê hương trên trời. Vì thế Ðức Chúa Trời không hổ thẹn khi được xưng là Ðức Chúa Trời của họ, vì Ngài đã chuẩn bị cho họ một thành.

17 Bởi đức tin Áp-ra-ham, khi bị thử thách, đem dâng I-sác, tức người nhận được những lời hứa đem dâng đứa con một của mình. 18 Về đứa con đó, có lời phán rằng,

“I-sác sẽ là người sinh ra dòng dõi mang tên ngươi.”

19 Ông nghĩ rằng Ðức Chúa Trời có quyền làm cho người chết sống lại; nói theo nghĩa bóng, ông đã nhận lại con mình.

20 Bởi đức tin I-sác chúc phước cho Gia-cốp và Ê-sau về những việc tương lai.

21 Bởi đức tin, lúc gần qua đời, Gia-cốp chúc phước cho mỗi con trai của Giô-sép, và ông vịn vào đầu cây gậy của mình mà thờ phượng.

22 Bởi đức tin, lúc gần qua đời, Giô-sép nói trước về cuộc xuất hành của con cháu I-sơ-ra-ên và truyền cho họ phải mang hài cốt ông theo.

23 Bởi đức tin, khi Môi-se sinh ra, cha mẹ ông giấu ông trong ba tháng, vì họ thấy đứa bé xinh đẹp, và họ không sợ sắc lịnh của vua.

24 Bởi đức tin, Môi-se, khi khôn lớn, từ bỏ danh hiệu con trai của công chúa Pha-ra-ôn. 25 Ông thà chọn bị ngược đãi với dân Ðức Chúa Trời hơn là thụ hưởng vui sướng tạm thời của tội lỗi. 26 Ông coi sự chịu nhục của “người được xức dầu để làm người giải cứu và lãnh đạo” cao quý hơn của cải trong các kho tàng của Ai-cập, vì ông trông vào phần thưởng tương lai.

27 Bởi đức tin ông rời Ai-cập mà không sợ cơn giận của vua, vì ông kiên trì như thể thấy Ðấng không thể thấy được.

28 Bởi đức tin ông giữ Lễ Vượt Qua và rảy huyết để Thần Hủy Diệt không đụng đến các con đầu lòng của họ.

29 Bởi đức tin họ vượt qua Hồng Hải như đi trên đất khô; còn người Ai-cập khi cố đi qua thì bị nước biển chôn vùi.

30 Bởi đức tin các tường thành Giê-ri-cô sụp đổ khi dân I-sơ-ra-ên đi vòng quanh bảy ngày.

31 Bởi đức tin Ra-háp, người kỹ nữ, không bị tiêu diệt với những kẻ chẳng vâng phục, vì nàng tiếp đón các thám tử với thành ý bình an.

32 Tôi sẽ nói gì nữa? Tôi sẽ không đủ thì giờ để kể các chuyện của Ghi-đê-ôn, Ba-rác, Sam-sôn, Giép-thê, Ða-vít, Sa-mu-ên, và các vị tiên tri, 33 những người đã nhờ đức tin chinh phục các nước, thực thi công lý, đạt điều được hứa, bịt mồm sư tử, 34 dập tắt lửa hừng, thoát khỏi lưỡi gươm, chuyển yếu thành mạnh, anh dũng trong chiến trận, đẩy lui quân ngoại xâm. 35 Có những phụ nữ nhận lại người thân của mình từ cõi chết sống lại. Có những người thà chịu tra tấn đến chết chứ không chịu chối bỏ đức tin để nhận sự phóng thích, hầu được sự sống lại tốt đẹp hơn. 36 Có những người bị chế nhạo và bị đánh đòn, thậm chí bị xiềng xích và lao tù. 37 Họ bị ném đá, bị cưa hai, bị giết bằng gươm. Họ phải lưu lạc rày đây mai đó với quần áo bằng da chiên, da dê, bị thiếu thốn, bị đàn áp, bị ngược đãi. 38 Thế gian không xứng đáng cho họ ở. Họ sống lang thang trong hoang địa, trên núi đồi, trong các hang động, và trong các hầm hố dưới đất.

39 Tất cả những người ấy nhờ đức tin đều được lời chứng tốt, nhưng chưa nhận được điều đã hứa cho mình, 40 vì Ðức Chúa Trời đã chuẩn bị điều tốt hơn cho chúng ta, để không có chúng ta, họ chưa thể được làm cho trọn vẹn.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành
  • Thánh Kinh Lược Khảo - Nhà Xuất Bản Tin Lành Sài Gòn (1970)