Xa-cha-ri: Chương 1

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB38C001)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch Việt Ngữ

Lời khuyên hãy ăn năn

1. Vào tháng tám, năm thứ hai của triều Đa-ri-út, lời Đức Giê-hô-va truyền cho tiên tri Xa-cha-ri, con trai của Ba-ra-chi, là con trai của Y-đô, rằng:

2. “Đức Giê-hô-va rất giận tổ phụ của các con – rất giận. 3. Vì vậy, con hãy nói với họ rằng Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: ‘Hãy trở lại cùng Ta.’ Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: ‘Rồi Ta sẽ trở lại với các con.’ Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán.

4. Đừng như tổ phụ các con, là những người đã được các tiên tri thời trước loan báo rằng: ‘Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Bây giờ, các con hãy lìa bỏ những đường lối gian ác và những việc làm gian ác của các con.’ Nhưng họ không lắng nghe, cũng không chú ý đến Ta. Đức Giê-hô-va phán.

5. Tổ phụ các con ở đâu, và các tiên tri, họ có sống mãi mãi không? 6. Nhưng những lời của Ta và luật lệ Ta truyền cho đầy tớ Ta, là các tiên tri, không phải đã ứng nghiệm trên tổ phụ của các con sao? Họ đã quay về, và nói rằng: ‘Mọi điều Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán về việc Ngài sẽ làm cho chúng tôi tùy theo các đường lối và các việc làm của chúng tôi, Ngài đã làm đúng như vậy.’”

Khải tượng về những người cưỡi ngựa

7. Vào ngày hai mươi bốn, tháng mười một, là tháng Sê-bát, năm thứ hai của triều Đa-ri-út, lời Đức Giê-hô-va truyền cho tiên tri Xa-cha-ri, con trai Ba-ra-chi, là con trai của Y-đô.

8. Ban đêm, tôi thấy: Kìa, có một người cưỡi ngựa đỏ; người đứng giữa những cây sim trong một nơi thấp; phía sau người có nhiều ngựa đỏ, ngựa nâu, và ngựa bạch.

9. “Thưa chúa, những điều nầy có ý nghĩa gì?”

Vị thiên sứ đang nói với tôi, bảo tôi: “Ta sẽ tỏ cho ngươi biết những điều nầy có ý nghĩa gì.”

10. Người đang đứng giữa những cây sim, đã trả lời, và nói: “Đây là những người Đức Giê-hô-va sai đi tuần hành khắp đất.”

11. Họ đã trả lời với vị thiên sứ của Đức Giê-hô-va đang đứng giữa những cây sim rằng: “Chúng tôi đã đi qua đi lại khắp đất. Kìa, cả trái đất đều bình tịnh và yên ổn.”

12. Sau đó, thiên sứ của Đức Giê-hô-va nói: “Lạy Đức Giê-hô-va của các đạo quân! Ngài sẽ không thương xót Giê-ru-sa-lem và các thành của Giu-đa cho đến bao giờ? Ngài đã nổi giận với chúng bảy mươi năm.”

13. Đức Giê-hô-va đáp lại vị thiên sứ đang nói chuyện với tôi bằng những lời tốt đẹp, những lời an ủi. 14. Vì vậy, vị thiên sứ đang nói chuyện với tôi, bảo tôi: Hãy công bố rằng Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Ta ghen tức – rất ghen tức – về Giê-ru-sa-lem và Si-ôn. 15. Ta thật tức giận – rất tức giận - các nước đang an nhàn; vì Ta chỉ giận dân Ta một ít, mà chúng đã gây thêm tai họa vào.

16. Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ trở lại với Giê-ru-sa-lem với lòng thương xót. Nhà của Ta sẽ được xây lại tại đó, và dây chuẩn mực sẽ giăng trên Giê-ru-sa-lem. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán.

17. Hãy công bố thêm rằng Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Một lần nữa các thành của Ta sẽ phát triển sung túc. Một lần nữa, Đức Giê-hô-va sẽ an ủi Si-ôn và chọn Giê-ru-sa-lem.

Khải tượng về bốn cái sừng và bốn người thợ rèn

18. Sau đó, tôi ngước mắt lên nhìn: Kìa, có bốn cái sừng. 19. Tôi hỏi thiên sứ đang nói chuyện với tôi: “Những vật nầy có nghĩa gì?” Thiên sứ trả lời tôi: “Đó là những sừng đã làm tan tác Giu-đa, Y-sơ-ra-ên và thành Giê-ru-sa-lem.”

20. Kế đến, Đức Giê-hô-va cho tôi thấy bốn người thợ rèn. 21. Tôi hỏi: “Những người nầy đến làm gì?” Ngài đáp: “Những sừng nầy đã làm tan tác Giu-đa, đến nỗi không ai ngóc đầu lên được. Nhưng những người nầy đã đến để làm chúng kinh hãi, và triệt hạ các sừng của ngoại bang đã cất sừng khắp đất Giu-đa tạo nên tan tác.”

Bản Dịch 1925

1. Tháng tám năm thứ hai Đa-ri-út, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng đấng tiên tri Xa-cha-ri, con trai Ba-ra-chi, cháu Y-đô, mà rằng: 2. Đức Giê-hô-va đã rất không bằng lòng tổ phụ các ngươi. 3. Vậy ngươi khá nói cùng chúng rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Hãy trở lại cùng ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán, thì ta sẽ trở lại cùng các ngươi, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. 4. Chớ như tổ phụ các ngươi, các tiên tri xưa kia đã kêu họ mà rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Bây giờ khá xây bỏ đường dữ và việc làm dữ của các ngươi; nhưng họ chẳng nghe, chẳng hề để ý nghe ta, Đức Giê-hô-va phán vậy. 5. Chớ nào tổ phụ các ngươi ở đâu? Và những tiên tri ấy có sống đời đời chăng? 6. Song những lời phán và lệ luật ta đã truyền cho tôi tớ ta là các đấng tiên tri, há chẳng kịp đến tổ phụ các ngươi sao? Nên họ đã trở lại và nói rằng: Mọi điều mà Đức Giê-hô-va vạn quân đã định làm cho chúng ta theo như đường lối và việc làm của chúng ta, thì đã làm cho chúng ta như vậy.

7. Ngày hai mươi bốn tháng mười một, là tháng Sê-bát, trong năm thứ hai Đa-ri-út, có lời của Đức Giê-hô-va phán cho đấng tiên tri Xa-cha-ri, con trai Ba-ra-chi, cháu Y-đô, như vầy: 8. Ta thấy trong ban đêm: nầy, có một người cỡi ngựa hồng đứng trong những cây sim ở nơi thấp, và đằng sau người co những ngựa hồng, ngựa xám, ngựa trắng. 9. Ta nói rằng: Hỡi chúa tôi, những ngựa ấy nghĩa là gì? thì thiên sứ nói cùng ta, bảo ta rằng: Ta sẽ chỉ cho ngươi những ngựa nầy nghĩa là gì. 10. Người đứng trong những cây sim đáp rằng: Đây là những kẻ mà Đức Giê-hô-va sai đi lại trải qua đất. 11. Chúng nó bèn đáp lại cùng thiên sứ đứng trong những cây sim rằng: Chúng tôi đã đi lại trải qua đất; nầy, cả đất đều ở yên và im lặng. 12. Bấy giờ thiên sứ của Đức Giê-hô-va đáp rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va vạn quân! Ngài sẽ không thương xót Giê-ru-sa-lem và các thành của Giu-đa cho đến chừng nào, là những thành Ngài đã nổi giận nghịch cùng nó bảy mươi năm nay? 13. Đức Giê-hô-va lấy những lời lành, những lời yên ủi đáp cùng thiên sứ đương nói với ta. 14. Đoạn, thiên sứ đương nói cùng ta, bảo ta rằng: Khá kêu lên và nói rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân có phán: Ta vì Giê-ru-sa-lem và Si-ôn động lòng ghen quá lắm; 15. và ta rất không đẹp lòng các dân tộc đương yên vui; vì ta hơi không bằng lòng, và chúng nó càng thêm sự khốn nạn. 16. Vậy nên Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta lấy lòng thương xót trở về cùng Giê-ru-sa-lem; nhà ta sẽ xây lại trong nó, dây mực sẽ giăng trên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. 17. Hãy kêu lần nữa mà rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Các thành ta sẽ còn đầy tràn sự thịnh vượng, Đức Giê-hô-va sẽ còn yên ủi Si-ôn, và còn kén chọn Giê-ru-sa-lem.

18. Đoạn, ta ngước mắt lên, ta nhìn xem, nầy, có bốn cái sừng. 19. Ta bèn nói cùng thiên sứ đương nói với ta rằng: Những vật ấy là gì? Người đáp cùng ta rằng: Ấy là những sừng đã làm tan tác Giu-đa, Y-sơ-ra-ên, và Giê-ru-sa-lem. 20. Đoạn, Đức Giê-hô-va cho ta xem bốn người thợ rèn; 21. thì ta hỏi rằng: Những kẻ nầy đến làm chi? Ngài đáp rằng: Ấy đó là những sừng đã làm tan tác Giu-đa, cho đến nỗi không người nào ngóc đầu lên được; nhưng những kẻ nầy đã đến để làm kinh hãi chúng nó, và để ném xuống những sừng của các nước đã cất sừng lên nghịch cùng đất Giu-đa đặng làm tan tác nó.

Bản Dịch 2011

Kêu Gọi I-sơ-ra-ên Ăn Năn

1 Vào tháng thứ tám, năm thứ hai của triều đại Ða-ri-út, lời của CHÚA đến với Tiên Tri Xa-cha-ri con của Bê-rê-ki-a, con của I-đô, rằng,

2 “CHÚA rất giận tổ tiên các ngươi. 3 Vậy ngươi hãy nói với chúng, ‘CHÚA các đạo quân phán thế nầy, “Hãy trở lại với Ta,” CHÚA các đạo quân phán, “thì Ta trở lại với các ngươi,” CHÚA các đạo quân phán. 4 “Ðừng giống như tổ tiên các ngươi, những người các tiên tri ngày trước đã rao báo rằng, ‘CHÚA các đạo quân phán thế nầy: Bây giờ các ngươi hãy lìa bỏ các đường lối gian ác và các việc làm gian ác của các ngươi mà trở lại.’ Nhưng chúng chẳng nghe và cũng chẳng quan tâm gì đến Ta,”’ CHÚA phán. 5 “Tổ tiên các ngươi bây giờ đâu rồi? Các tiên tri nữa, chúng có sống mãi không? 6 Còn những lời Ta và các luật lệ Ta mà Ta đã truyền cho các tôi tớ Ta, các tiên tri, chẳng phải chúng thảy đều ứng nghiệm trên tổ tiên các ngươi sao? Này chúng đã ăn năn và nói, ‘Những gì CHÚA các đạo quân phán về việc Ngài sẽ làm cho chúng tôi tùy theo các đường lối và các việc làm của chúng tôi, Ngài đã làm đúng như vậy.’”

Khải Tượng Thứ Nhất: Các Kỵ Mã

7 Ngày hai mươi bốn, tháng mười một, tức tháng Sê-bát, trong năm thứ hai của triều đại Ða-ri-út, lời của CHÚA đến với Tiên Tri Xa-cha-ri con của Bê-rê-ki-a, con của I-đô, như sau:

8 Trong ban đêm tôi thấy một khải tượng: Này, một người cỡi một con ngựa tía. Người ấy đứng giữa các cây sim trong một thung lũng hẹp. Sau lưng người ấy có các ngựa tía, ngựa nâu, và ngựa trắng. 9 Tôi hỏi, “Thưa ngài, những người cỡi các ngựa nầy có ý nghĩa gì?”

Vị thiên sứ nói với tôi và bảo tôi, “Ta sẽ tỏ cho ngươi biết những người cỡi ngựa nầy có ý nghĩa gì.”

10 Người đứng giữa các cây sim trả lời và nói với tôi, “Ðây là những người CHÚA đã sai đi tới đi lui khắp thế gian.”

11 Những vị ấy thưa với vị thiên sứ của CHÚA đang đứng giữa các cây sim, “Chúng tôi đã đi tới đi lui khắp thế gian, và này, cả thế gian đều yên tĩnh và an ổn.”

12 Bấy giờ vị thiên sứ của CHÚA nói, “Lạy CHÚA các đạo quân, Ngài còn giận cho đến bao lâu nữa mà không thương xót Giê-ru-sa-lem và các thành của Giu-đa, những nơi đã làm Ngài giận đến bảy mươi năm rồi?”

13 CHÚA đáp lời vị thiên sứ đã nói với tôi bằng những lời chan chứa tình thương và đầy an ủi. 14 Bấy giờ vị thiên sứ đã nói với tôi bảo tôi, “Ngươi hãy lớn tiếng công bố rằng, ‘CHÚA các đạo quân phán: Vì yêu Giê-ru-sa-lem và Si-ôn, Ta đã nổi ghen dữ dội. 15 Nhưng bây giờ Ta rất giận các nước đang được yên ổn, vì Ta chỉ giận một chút nhưng chúng đã lợi dụng biến thành thảm họa.” 16 Vì vậy CHÚA phán, “Ta sẽ trở lại thăm viếng Giê-ru-sa-lem với lòng thương xót. Nhà Ta sẽ được xây lại tại đó. Thước dây sẽ được giăng ra để đo khắp Giê-ru-sa-lem cho việc tái thiết,’” CHÚA các đạo quân phán.

17 “Ngươi hãy công bố thêm, ‘CHÚA các đạo quân phán thế nầy, “Các thành của Ta sẽ đầy tràn của cải. CHÚA sẽ lại an ủi Si-ôn, và Ngài sẽ tiếp tục chọn lại Giê-ru-sa-lem.”’”

Khải Tượng Thứ Nhì: Các Sừng và Các Thợ Rèn

18 Bấy giờ tôi nhìn lên và thấy, này, có bốn cái sừng. 19 Tôi thưa với vị thiên sứ đã nói với tôi, “Thưa ngài, các sừng nầy có ý nghĩa gì?”

Vị thiên sứ ấy trả lời tôi, “Ðây là các sừng đã húc Giu-đa, I-sơ-ra-ên, và Giê-ru-sa-lem văng tứ tán.”

20 Sau đó CHÚA chỉ cho tôi thấy bốn người thợ rèn. 21 Tôi hỏi, “Họ đến để làm gì vậy?”

Vị thiên sứ ấy trả lời, “Các sừng nầy đã húc tung Giu-đa ra khắp nơi, khiến không ai ngóc đầu lên được. Nhưng các thợ rèn nầy đến để gây kinh hoàng cho chúng. Họ sẽ triệt hạ các sừng của các nước đã cất sừng lên húc tung xứ Giu-đa, khiến dân của nó phải bị tản lạc.”

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành