Na-hum: Chương 3

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB34C003)
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Khốn thay cho thành đổ máu! Nó đầy dẫy những sự dối trá và cường bạo, cướp bóc không thôi. 2. Người ta nghe tăm roi, tiếng ầm của bánh xe; ngựa thì phóng đại, xe thì chạy mau. 3. Những lính kỵ sấn tới; gươm sáng lòe, giáo nhấp nháng. Có đoàn đông kẻ bị giết, có từng đống thây lớn, xác chết nhiều vô số! Người ta vấp ngã trên những thây! 4. Đó là vì cớ rất nhiều sự dâm đãng của con đĩ tốt đẹp khéo làm tà thuật ấy; nó bán các nước bởi sự dâm đãng, và bán các họ hàng bởi sự tà thuật. 5. Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Nầy, ta nghịch cùng ngươi; ta lột áo xống ngươi, phô bày sự trần truồng ngươi ra cho các dân tộc, và tỏ sự xấu hổ ngươi ra cho các nước. 6. Ta sẽ ném sự ô uế gớm ghiếc của ngươi trên ngươi, làm cho ngươi nên khinh hèn, làm trò cho mọi người xem. 7. Xảy ra có ai thấy ngươi thì sẽ lánh xa và nói rằng: Ni-ni-ve đã hoang vu! Ai sẽ có lòng thương xót người? Ta bởi đâu tìm cho ngươi những kẻ yên ủi?

8. Ngươi muốn hơn Nô-A-môn ở giữa các sông, nước bọc chung quanh, lấy biển làm đồn lũy, lấy biển làm vách thành hay sao? 9. Ê-thi-ô-bi và Ê-díp-tô là sức mạnh vô cùng của nó. Phút và Li-by là kẻ cứu giúp ngươi.

10. Dầu vậy, chính nó cũng đã bị đày khỏi đất mình; bị bắt đi làm phu tù; con cái nó cũng đã bị nghiền nát nơi ngã ba các đường phố. Người ta đã ném thăm trên các kẻ cả nó, và các quan trưởng nó đều bị mang xiềng. 11. Ngươi cũng vậy, ngươi sẽ mê man vì say, sẽ được ẩn náu, và tìm nơi vững bền vì cớ kẻ thù. 12. Hết thảy những đồn lũy ngươi như cây vả có trái chín đầu mùa, hễ lung lay thì rụng xuống trong miệng của kẻ muốn ăn nó. 13. Nầy, dân sự ngươi là đàn bà ở giữa ngươi. Các cửa thành của đất ngươi sẽ mở rộng cho quân thù ngươi; lửa đã thiêu nuốt những then ngươi!

14. Ngươi khá múc nước để phòng cơn vây hãm, làm vững chắc đồn lũy ngươi. Khá đạp bùn, nhồi đất sét, và xây lại lò gạch! 15. Tại đó lửa sẽ thiêu ngươi, gươm sẽ diệt ngươi, nuốt ngươi như cào cào vậy, ngươi khá nhóm lại đông như cào cào, nhiều như châu chấu! 16. Ngươi đã thêm kẻ buôn bán ngươi nhiều ra như sao trên trời; cào cào đã cắn phá hết rồi trốn đi. 17. Các quan trưởng ngươi như cào cào, các quan tướng ngươi như bầy châu chấu đậu trên hàng rào trong khi trời lạnh, đến chừng mặt trời mọc, nó đi mất, người ta không biết nó ở đâu.

18. Hỡi vua A-si-ri, những kẻ chăn của ngươi ngủ rồi! Những kẻ sang trọng của ngươi đều yên nghỉ; dân sự ngươi tan lạc nơi các núi, không ai nhóm họp chúng nó lại. 19. Vết thương ngươi không thuốc chữa, dấu vít ngươi rất hiểm nghèo; phàm kẻ nghe nói về ngươi đều vỗ tay trên ngươi; vì ai là kẻ chẳng từng chịu luôn sự hung ác của ngươi!

Bản Dịch 2011

Sự Tận Diệt Ðã Cận Kề
1. Này, hỡi thành gây đổ máu,
Nơi có toàn dối gian lừa đảo,
Nơi của cướp bóc chất đầy,
Nơi không hề thiếu các nạn nhân.
2. Tiếng roi vun vút,
Tiếng bánh xe chiến mã rầm rầm,
Tiếng vó ngựa phi dồn dập,
Tiếng xe chiến mã rền vang!
3. Các kỵ binh xông tới,
Vung gươm lên và phóng giáo ra,
Số người bị giết nhiều vô kể,
Xác người nằm la liệt,
Xác chết không sao đếm hết,
Người ta suýt ngã vì vấp các xác chết,
4. Vì vô số tội dâm ô của con điếm đầy sức quyến rũ, nữ hoàng của tà thuật,
Kẻ đã làm cho nhiều quốc gia bị lệ thuộc vào thói dâm ô của nó, và các dân đã bị tà thuật của nó mê hoặc.
5. “Này, Ta chống lại ngươi,” CHÚA các đạo quân phán,
“Ta sẽ lật váy ngươi lên phủ mặt,
Ðể cho các dân trông thấy sự lõa lồ của ngươi,
Và các vương quốc nhìn thấy sự xấu hổ của ngươi.
6. Ta sẽ cho ngươi nếm biết thế nào là sỉ nhục,
Khiến ngươi biết bị khinh bỉ là thế nào,
Làm ngươi thành cớ để người ta dè bỉu.
7. Bấy giờ, tất cả những ai trông thấy ngươi sẽ lánh xa và nói,
“Ni-ni-ve là nơi hoang phế.
Có ai sẽ than khóc cho nó chăng?”
Ta sẽ tìm đâu ra người an ủi ngươi?
8. Ngươi há tốt hơn Nô A-môn bên bờ Sông Nin,
Một thành có nước bao bọc chung quanh,
Chiến lũy của nó là biển,
Tường thành của nó là nước chăng?
9. Ê-thi-ô-pi và Ai-cập là sức mạnh của nó,
Thật là một sức mạnh vô biên;
Pút và Li-by-a là những kẻ hỗ trợ nó.
10. Thế mà nó vẫn bị lưu đày;
Nó đã bị bắt làm tù binh, phải bị đày biệt xứ,
Ngay các con thơ của nó cũng bị đập chết nơi các đầu đường,
Các nhà quý tộc của nó đã phải bắt thăm để bị phạt,
Tất cả những người quyền quý của nó đều phải mang lấy gông cùm.
11. Cũng thế, ngươi sẽ bị say khướt,
Ngươi sẽ trốn chui trốn nhủi,
Ngươi sẽ tìm một nơi trốn tránh sự lùng kiếm của quân thù.
12. Tất cả các đồn lũy của ngươi sẽ giống như những cây vả, đầy những trái chín đầu mùa;
Nếu chúng bị rung, trái của chúng sẽ rơi vào miệng người ăn.
13. Này, quân đội của ngươi!
Chúng như một đám phụ nữ ở giữa ngươi;
Cổng các quan ải của ngươi mở toang cho quân thù của ngươi tiến vào;
Lửa thiêu đốt các thanh cài cổng thành của ngươi.
14. Hãy tích trữ nước để chuẩn bị cho ngày bị vây hãm,
Hãy củng cố các chiến lũy của ngươi,
Hãy nhào đất sét, trộn hồ, và đúc gạch để xây các công sự phòng thủ.
15. Tại đó lửa sẽ thiêu rụi ngươi,
Gươm đao sẽ giết chết ngươi.
Nó sẽ ăn nuốt ngươi như đàn cào cào cắn phá,
Cho dù ngươi có gia tăng đông đúc như cào cào,
Hay gia tăng rất đông như châu chấu.
16. Ngươi đã làm cho số thương gia của ngươi đông hơn sao trên trời;
Nhưng như đàn cào cào, chúng ăn rụi các hoa màu, rồi bay đi mất.
17. Các tướng tá của ngươi tựa như đàn châu chấu,
Các sĩ quan của ngươi như đám cào cào,
Chúng đậu sát bên nhau trên các hàng rào để sống còn trong ngày đông buốt giá.
Khi mặt trời mọc lên, chúng cất cánh bay đi;
Và không ai biết chúng đã bay về phương nào.
18. Hỡi vua của A-sy-ri, những kẻ chăn dắt dân ngươi đang ngủ say,
Những kẻ quyền thế trong dân ngươi đang ngủ gà ngủ gật.
Dân của ngươi đang bị tan lạc trên các núi đồi,
Nhưng chẳng có người nào nhóm hiệp chúng lại.
19. Chẳng có gì có thể làm dịu bớt nỗi đau đớn của ngươi;
Vết thương của ngươi là vết thương chí tử.
Tất cả những ai nghe tin ngươi sụp đổ đều vỗ tay hớn hở vui mừng;
Vì có ai đã không bị ngươi làm cho đau khổ triền miên chăng?

Tài Liệu