Đa-ni-ên: Chương 9

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB27C009)
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Năm đầu Đa-ri-út con trai A-suê-ru, về dòng người Mê-đi, đã được lập làm vua trị nước người Canh-đê; 2. đang năm đầu về triều người, ta, Đa-ni-ên, bởi các sách biết rằng số năm mà lời Đức Giê-hô-va đã phán cùng đấng tiên tri Giê-rê-mi, để cho trọn sự hoang vu thành Giê-ru-sa-lem, là bảy mươi năm. 3. Ta để mặt hướng về Chúa là Đức Chúa Trời, lấy sự khấn nguyện, nài xin, với sự kiêng ăn, mặc bao gai, đội tro mà tìm.

4. Vậy, ta cầu nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta, và ta xưng tội cùng Ngài mà rằng: O�i! Chúa là Đức Chúa Trời cao cả và đáng khiếp sợ! Ngài giữ lời giao ước và sự nhơn từ đối với những kẻ yêu Ngài và giữ các điều răn Ngài, 5. chúng tôi đã phạm tội, làm sự trái ngược, ăn ở hung dữ, chúng tôi đã bạn nghịch và đã xây bỏ các giềng mối và lệ luật của Ngài. 6. Chúng tôi đã không nghe các tôi tớ Ngài là các đấng tiên tri, đã lấy danh Ngài mà nói cùng các vua, các quan trưởng, các tổ phụ chúng tôi, và cùng cả dân trong đất. 7. Hỡi Chúa, sự công bình thuộc về Ngài, còn sự hổ mặt về chúng tôi, như ngày nay, sự ấy bao trùm người Giu-đa, dân cư Giê-ru-sa-lem, hết thảy người Y-sơ-ra-ên ở gần ở xa, trong mọi nước mà Ngài đã làm cho họ tan tác, vì cớ những sự gian ác họ đã phạm nghịch cùng Ngài. 8. Hỡi Chúa, sự hổ mặt thuộc về chúng tôi, về các vua, các quan trưởng, các tổ phụ chúng tôi, bởi chúng tôi đã phạm tội nghịch cùng Ngài. 9. Những sự thương xót và tha thứ đều thuộc về Chúa là Đức Chúa Trời chúng tôi; bởi chúng tôi đã bạn nghịch cùng Ngài.

10. Chúng tôi đã chẳng nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, đặng bước đi trong luật pháp mà Ngài đã cậy tôi tớ Ngài là các đấng tiên tri để trước mặt chúng tôi. 11. Hết thảy người Y-sơ-ra-ên đã phạm luật pháp Ngài và xây đi để không vâng theo tiếng Ngài. Vậy nên sự rủa sả, và thề nguyền chép trong luật pháp Môi-se là tôi tớ của Đức Chúa Trời, đã đổ ra trên chúng tôi, vì chúng tôi đã phạm tội nghịch cùng Ngài. 12. Ngài đã làm cho chắc các lời đã phán nghịch cùng chúng tôi, cùng các quan án đã đoán xét chúng tôi, mà khiến tai vạ lớn đến trên chúng tôi; vì khắp dưới trời chẳng hề có tai vạ nào giống như đã làm ra trên Giê-ru-sa-lem. 13. Cả tai vạ nầy đã đến trên chúng tôi như có chép trong luật pháp Môi-se; mà chúng tôi cũng không nài xin ơn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, đặng xây bỏ khỏi sự gian ác mình và thấu rõ đạo thật của Ngài. 14. Bởi cớ đó, Đức Giê-hô-va ngắm xem và giáng tai vạ ấy trên chúng tôi; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi là công bình trong mọi việc Ngài làm, chỉn chúng tôi không vâng theo tiếng Ngài.

15. Bây giờ, hỡi Chúa là Đức Chúa Trời chúng tôi, Ngài đã lấy tay mạnh đem dân Ngài ra khỏi đất Ê-díp-tô, đã làm nên cho mình một danh tiếng như ngày nay; còn chúng tôi đã phạm tội, đã làm việc ác. 16. Hỡi Chúa, tôi cầu xin Chúa cứ mọi sự công bình Ngài khiến cơn giận và thạnh nộ của Ngài xây khỏi thành Giê-ru-sa-lem Ngài, tức là núi thánh Ngài; vì ấy là bởi tội lỗi chúng tôi và sự gian ác tổ phụ chúng tôi mà Giê-ru-sa-lem và dân Ngài phải chịu những kẻ ở chung quanh chúng tôi sỉ nhục. 17. Cho nên bây giờ, hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi, xin đoái nghe lời khấn nguyện nài xin của kẻ tôi tớ Ngài! Xin vì cớ Chúa, hãy rạng mặt Ngài ra trên nơi thánh vắng vẻ của Ngài! 18. Hỡi Đức Chúa Trời tôi, xin ghé tai và nghe. Xin mở mắt nhìn xem những nơi hoang vu của chúng tôi, và thành đã được xưng bởi danh Ngài! Không phải cậy những sự công bình mình mà chúng tôi nài xin Ngài, nhưng cậy những sự thương xót cả thể của Ngài. 19. Hỡi Chúa! hãy dủ nghe; hỡi Chúa! hãy tha thứ; hỡi Chúa! hãy để ý và làm đi. Hỡi Đức Chúa Trời tôi! vì cớ chính Ngài, xin chớ trì hoãn; vì thành Ngài và dân Ngài đã được xưng bằng danh Ngài!

20. Ta còn đang nói và cầu nguyện, xưng tội lỗi ta và tôi lỗi dân Y-sơ-ra-ên ta và ta dâng lời nài xin trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta, vì núi thánh Đức Chúa Trời ta; 21. vậy ta còn nói trong khi cầu nguyện, nầy, Gáp-ri-ên, người mà ta đã thấy trong sự hiện thấy lúc đầu tiên, được sai bay mau đến đụng ta độ lúc dâng lễ chiều hôm. 22. Người dạy dỗ ta và nói cùng ta rằng: Hỡi Đa-ni-ên, bây giờ ta ra để ban sự khôn ngoan và thông sáng cho ngươi. 23. Lời phán dặn đã ra từ khi ngươi bắt đầu nài xin; và ta đến để tỏ lời đó cho ngươi, vì ngươi đã được yêu quí lắm. Vậy hãy suy nghĩ sự đó và hãy hiểu biết sự hiện thấy.

24. Có bảy mươi tuần lễ định trên dân ngươi và thành thánh ngươi, đặng ngăn sự phạm phép, trừ tội lỗi, làm sạch sự gian ác, và đem sự công bình đời đời vào, đặng đặt ấn tín nơi sự hiện thấy và lời tiên tri, và xức dầu cho Đấng rất thánh. 25. Ngươi khá biết và hiểu rằng từ khi ra lịnh tu bổ và xây lại Giê-ru-sa-lem, cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là vua, thì được bảy tuần lễ và sáu mươi hai tuần lễ; thành đó sẽ được xây lại, có đường phố và hào, trong kỳ khó khăn.

26. Sau sáu mươi hai tuần lễ đó, Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi, và sẽ không có chi hết. Có dân của vua hầu đến sẽ hủy phá thành và nơi thánh; cuối cùng nó sẽ như bị nước lụt ngập, có sự tranh chiến cho đến cuối cùng; những sự hoang vu đã định. 27. Người sẽ lập giao ước vững bền với nhiều người trong một tuần lễ, và đến giữa tuần ấy, người sẽ khiến của lễ và của lễ chay dứt đi. Kẻ hủy phá sẽ đến bởi cánh gớm ghiếc, và sẽ có sự giận dữ đổ trên nơi bị hoang vu, cho đến kỳ sau rốt, là kỳ đã định.

Bản Dịch 2011

Ða-ni-ên Cầu Nguyện cho Dân Tộc Ông
1. Năm thứ nhất triều đại Ða-ri-út con trai A-suê-ru, thuộc chủng tộc Mê-đi, người đã được lập làm vua trị vì cả đế quốc của người Canh-đê, 2. trong năm thứ nhất của triều đại vua ấy, tôi, Ða-ni-ên, nhờ nghiên cứu sách thánh, biết được số năm mà lời CHÚA đã cậy Tiên Tri Giê-rê-mi nói về cảnh đổ nát điêu tàn của Giê-ru-sa-lem là bảy mươi năm sắp mãn. 3. Tôi kiêng ăn, mặc vải thô, và rắc tro trên đầu, rồi hướng mặt về Chúa, Ðức Chúa Trời, mà dâng lời cầu nguyện và nài xin. 4. Tôi đã cầu nguyện và xưng tội với CHÚA, Ðức Chúa Trời của tôi, rằng:
“Ôi lạy Chúa, Ðức Chúa Trời vĩ đại và đáng kinh, Ðấng giữ giao ước và luôn thương yêu những ai yêu kính Ngài và vâng giữ các điều răn Ngài. 5. Chúng con đã phạm tội và có lỗi. Chúng con đã làm điều gian ác và phản nghịch. Chúng con đã lìa bỏ những điều răn và luật lệ của Ngài. 6. Chúng con đã không nghe lời các vị tiên tri, tức các tôi tớ Ngài, những người đã nhân danh Ngài nói với các vua, các người quyền thế, các bậc tiền nhân, và toàn dân trong nước.
7. Lạy Chúa, nguyện lẽ công chính thuộc về Ngài, còn nỗi ô nhục công khai đổ trên chúng con như đã thấy ngày nay, tức nỗi ô nhục đổ trên người Giu-đa, dân cư Giê-ru-sa-lem, mọi người I-sơ-ra-ên, tức trên mọi người ở gần hoặc ở các phương xa, trong mọi xứ mà Ngài đã đuổi họ đến, bởi vì họ đã phạm tội bất trung, chống lại Ngài.
8. Lạy CHÚA, nguyện nỗi ô nhục công khai đổ trên chúng con, trên các vua của chúng con, các quan chức của chúng con, và các bậc tiền nhân của chúng con, vì chúng con đã phạm tội chống lại Ngài.
9. Nguyện lòng thương xót và ơn tha thứ thuộc về Chúa, Ðức Chúa Trời của chúng con, vì chúng con đã phản nghịch Ngài. 10. Chúng con đã không vâng theo tiếng CHÚA, Ðức Chúa Trời của chúng con, để vâng giữ luật pháp của Ngài mà Ngài đã dùng các vị tiên tri Ngài, tức các tôi tớ Ngài, giải bày cho chúng con.
11. Tất cả dân I-sơ-ra-ên đã vi phạm luật pháp của Ngài và lìa bỏ luật pháp ấy bằng cách từ chối vâng theo tiếng Ngài. Vì thế, những lời nguyền rủa và thề nguyện ghi trong luật pháp của Mô-sê tôi tớ của Ðức Chúa Trời đã đổ xuống trên chúng con, vì chúng con đã phạm tội chống lại Ngài. 12. Ngài đã thực hiện những lời Ngài đã cảnh cáo chúng con và những người lãnh đạo của chúng con bằng cách giáng xuống Giê-ru-sa-lem một cơn đại họa chưa từng thấy dưới trời. 13. Thật đúng y như đã chép trong luật pháp của Mô-sê, tất cả các thảm họa ấy đã đến trên chúng con. Thế mà chúng con vẫn không chịu tìm cầu ơn thương xót của CHÚA, Ðức Chúa Trời của chúng con, mà lìa bỏ tội lỗi, và nhận biết rằng Ngài sẽ thực hiện lời Ngài đã cảnh cáo. 14. Vì thế CHÚA đã để dành thảm họa ấy và đã giáng xuống trên chúng con. Về việc nầy, CHÚA, Ðức Chúa Trời của chúng con, hoàn toàn đúng trong mọi việc Ngài làm, bởi vì chúng con đã không vâng theo tiếng Ngài.
15. Giờ đây, lạy Chúa, Ðức Chúa Trời của chúng con, Ðấng đã đem dân Ngài ra khỏi đất Ai-cập bằng cánh tay quyền năng và đã làm cho danh Ngài được lẫy lừng cho đến ngày nay; chúng con đã phạm tội; chúng con đã làm điều ác. 16. Lạy Chúa, dựa theo mọi điều công chính Ngài đã thực hiện, cầu xin Ngài quay cơn giận và cơn thịnh nộ của Ngài khỏi Giê-ru-sa-lem, thành của Ngài, núi thánh của Ngài; vì tội lỗi của chúng con và sự gian ác của tổ tiên chúng con mà Giê-ru-sa-lem và dân Ngài đã trở thành cớ sỉ nhục giữa các nước láng giềng của chúng con.
17. Vậy, giờ đây, lạy Ðức Chúa Trời của chúng con, xin lắng nghe lời cầu nguyện và lời van xin của tôi tớ Ngài. Lạy Chúa, vì cớ danh Ngài, nguyện thánh nhan Ngài tỏa rạng trên thánh điện Ngài đang bị hoang tàn. 18. Lạy Ðức Chúa Trời của con, xin nghiêng tai Ngài và lắng nghe. Xin đoái xem và nhìn thấy cảnh hoang tàn của chúng con và của thành mang danh Ngài. Chúng con không cậy vào đức công chính của chúng con để cầu xin Ngài, nhưng xin cậy vào ơn thương xót lớn lao của Ngài. 19. Lạy Chúa, xin lắng nghe; lạy Chúa, xin tha thứ; lạy Chúa, xin đoái thương và hành động. Vì cớ danh Ngài, xin đừng trì hoãn, lạy Ðức Chúa Trời của con, và vì cớ thành của Ngài và dân mang danh Ngài.”
Bảy Mươi Tuần
20. Trong khi tôi đang nói, cầu nguyện, và xưng tội của tôi và tội của dân I-sơ-ra-ên của tôi, và trình dâng những lời khẩn nguyện của tôi lên trước thánh nhan CHÚA, Ðức Chúa Trời của tôi, vì cớ núi thánh của Ðức Chúa Trời tôi, 21. đang khi tôi nói những lời cầu nguyện ấy, người đàn ông Gáp-ri-ên, người tôi đã thấy trong khải tượng trước, được sai bay vụt đến bên tôi vào giờ dâng của lễ chiều tối. 22. Vị ấy chỉ dạy tôi, nói chuyện với tôi, và bảo rằng, “Hỡi Ða-ni-ên, hôm nay ta đến để ban cho ngươi khôn ngoan và thông sáng. 23. Khi ngươi bắt đầu cầu nguyện thì lệnh đã ban ra, và ta đến để báo cho ngươi lệnh ấy, vì ngươi rất được yêu quý. Vậy hãy suy nghĩ về lệnh ấy và hiểu ý nghĩa của khải tượng:
24. Bảy mươi tuần đã được định cho dân ngươi và cho thành thánh của ngươi, để kết thúc sự vi phạm, chấm dứt tội lỗi, đền xong tội ác, mang lại sự công chính vĩnh cửu, làm ứng nghiệm khải tượng và lời tiên tri, và xức dầu cho Nơi Chí Thánh. 25. Vậy, ngươi khá biết và hiểu rằng từ khi lệnh được ban ra để tái lập và tái thiết Giê-ru-sa-lem cho đến khi Vị Thủ Lãnh Được Xức Dầu xuất hiện sẽ có bảy tuần và sáu mươi hai tuần. Các đường phố và các chiến hào sẽ được xây dựng lại, mặc dù giữa thời buổi nhiễu nhương. 26. Sau sáu mươi hai tuần, Đấng Được Xức Dầu sẽ bị giết chết, nhưng chẳng phải Ngài chết cho chính mình. Quân lính của tên thủ lãnh sắp đến sẽ phá hủy thành và nơi thánh. Hậu quả cuối cùng sẽ giống như bị một trận lụt tàn phá, nhưng chiến tranh sẽ kéo dài dai dẳng cho đến cuối cùng, và những cảnh hoang tàn đã định ắt phải xảy ra. 27. Tên thủ lãnh sắp đến ấy sẽ xác quyết lập trường của nó với nhiều người qua một giao ước có thời hạn một tuần. Tuy nhiên chỉ mới giữa tuần, nó sẽ bắt người ta phải ngưng dâng các sinh vật hiến tế và các lễ vật. Nó sẽ làm cho nơi ấy phải chịu cảnh hoang tàn bằng cách lập trong cánh của nơi thánh những thứ gớm ghiếc. Những thứ ấy sẽ còn ở đó cho đến hồi kết thúc. Bấy giờ những gì đã định sẽ được tuôn đổ trên kẻ gây nên cảnh hoang tàn.”

Tài Liệu