Ca Thương: Chương 4

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB25C004)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch Việt Ngữ

1. Ôi! Thời hoàng kim đã phai tàn,
Vàng ròng đã biến đổi!
Đá của nơi thánh bị phân tán
Tại đầu của mọi đường phố!
2. Các con trai ưu tú của Si-ôn,
Quý như vàng ròng,
Nay họ bị xem như những bình đất,
Là vật do tay của các thợ gốm.
3. Ngay cả những chó rừng
Còn đưa vú cho con bú,
Nhưng các thiếu nữ của dân tôi hung dữ,
Như những đà điểu trong hoang mạc.
4. Lưỡi của trẻ thơ còn bú
Dính vào vòm họng bởi vì khát;
Các trẻ em xin bánh
Nhưng chẳng ai bẻ bánh cho chúng.
5. Những người từng nếm cao lương mỹ vị,
Nay bơ vơ ngoài đường phố;
Những kẻ lớn lên trong nhung lụa,
Nay ôm đống tro.
6. Hình phạt cho tội lỗi của các con gái của dân tôi
Là lớn hơn hình phạt cho tội lỗi của Sô-đôm,
Nơi đã sụp đổ trong phút chốc,
Không một bàn tay cứu giúp.
7. Những người được tuyển chọn của thành từng sáng hơn tuyết,
Trắng hơn sữa.
Da thịt hồng hào hơn hồng ngọc,
Sắc diện của họ như lam ngọc.
8. Nhưng nay sắc diện của họ đen hơn lọ,
Không ai nhận ra họ trong đường phố;
Chỉ còn da bọc xương,
Khô như khúc gỗ.
9. Những kẻ chết vì gươm
Còn tốt hơn những người chết vì đói:
Họ chết dần mòn trong đau đớn,
Vì thiếu hoa quả ngoài đồng.
10. Các cánh tay của những người mẹ thương yêu
Đã nấu thịt con của chính mình;
Biến chúng thành thức ăn cho họ
Trong lúc các con gái của dân tôi suy tàn.
11. Đức Giê-hô-va đã làm trọn cơn giận dữ của Ngài,
Ngài đã trút đổ cơn thịnh nộ của Ngài;
Ngài nhen lửa tại Si-ôn,
Và thiêu rụi nền của nó.
12. Các vua trên đất,
Và những cư dân trên thế gian
Không thể tin rằng
Kẻ chống đối và quân thù
Có thể tiến vào các cổng thành của Giê-ru-sa-lem.
13. Chính vì tội lỗi của các tiên tri của thành,
Và những gian ác của các thầy tế lễ của thành,
Là những kẻ đã làm đổ máu người công chính
Ngay ở giữa thành.
14. Họ lưu lạc trong những đường phố như người mù
Họ làm ô nhơ chính mình với máu
Đến nỗi không ai dám đụng đến trang phục của họ.
15. Người ta thét với họ: “Hãy đi đi! Đồ ô uế!
Hãy đi đi! Hãy đi đi! Đừng đụng đến chúng tôi!”
Khi họ chạy trốn và lưu lạc
Dân chúng trong các nước nói:
“Chúng nó không được trú ngụ ở đây.”
16. Đức Giê-hô-va đã phân tán họ khỏi mặt của Ngài,
Ngài không đoái xem đến họ nữa.
Người ta không còn tôn kính các thầy tế lễ,
Cũng không dành đặc ân cho các trưởng lão.
17. Mắt của chúng tôi mòn mỏi,
Trông chờ sự cứu giúp trong vô vọng!
Trong sự trông chờ của mình, chúng tôi vẫn còn ngóng đợi
Bởi vì không một nước nào có thể cứu chúng tôi.
18. Họ theo dõi bước chân của chúng tôi
Để chúng tôi không thể bước trên những đường phố của mình;
Kết cuộc của chúng tôi đã gần!
Ngày của chúng tôi đã hết!
Bởi vì kết cuộc của chúng tôi đã đến!
19. Những kẻ rượt đuổi chúng tôi
Nhanh hơn những chim phượng hoàng trên trời.
Chúng truy đuổi chúng tôi trên các núi,
Và rình rập chờ đợi chúng tôi trong hoang mạc.
20. Người chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va, là hơi thở của chúng tôi,
Đã mắc vào những hầm bẫy của chúng;
Đó là người mà chúng tôi nói:
“Dưới bóng của người, chúng ta sẽ sống giữa các quốc gia.”
21. Các con gái của Ê-đôm!
Là những người cư ngụ trong đất Út-xơ,
Hãy hớn hở và vui mừng!
Nhưng chén cũng sẽ đến trên ngươi,
Và ngươi cũng sẽ trở nên say sưa và làm cho chính mình bị lõa lồ.
22. Các con gái Si-ôn!
Hình phạt cho tội lỗi của ngươi đã trọn,
Ngài sẽ không đưa ngươi vào chốn lưu đày nữa!


Các con gái của Ê-đôm!
Ngài sẽ trừng phạt sự gian ác của các ngươi;
Ngài sẽ vạch trần tội lỗi của các ngươi!

Bản Dịch Đại Chúng

Ôi! Thời hoàng kim đã phai tàn,
Vàng ròng đã biến đổi!
Đá của nơi thánh bị phân tán
Tại đầu của mọi đường phố!
Các con trai ưu tú của Si-ôn,
Quý như vàng ròng,
Nay họ bị xem như những bình đất,
Là vật do tay của các thợ gốm.
Ngay cả những chó rừng
Còn đưa vú cho con bú,
Nhưng các thiếu nữ của dân tôi hung dữ,
Như những đà điểu trong hoang mạc.
Lưỡi của trẻ thơ còn bú
Dính vào vòm họng bởi vì khát;
Các trẻ em xin bánh
Nhưng chẳng ai bẻ bánh cho chúng.
Những người từng nếm cao lương mỹ vị,
Nay bơ vơ ngoài đường phố;
Những kẻ lớn lên trong nhung lụa,
Nay ôm đống tro.
Hình phạt cho tội lỗi của các con gái của dân tôi
Là lớn hơn hình phạt cho tội lỗi của Sô-đôm,
Nơi đã sụp đổ trong phút chốc,
Không một bàn tay cứu giúp.
Những người được tuyển chọn của thành từng sáng hơn tuyết,
Trắng hơn sữa.
Da thịt hồng hào hơn hồng ngọc,
Sắc diện của họ như lam ngọc.
Nhưng nay sắc diện của họ đen hơn lọ,
Không ai nhận ra họ trong đường phố;
Chỉ còn da bọc xương,
Khô như khúc gỗ.
Những kẻ chết vì gươm
Còn tốt hơn những người chết vì đói:
Họ chết dần mòn trong đau đớn,
Vì thiếu hoa quả ngoài đồng.
Các cánh tay của những người mẹ thương yêu
Đã nấu thịt con của chính mình;
Biến chúng thành thức ăn cho họ
Trong lúc các con gái của dân tôi suy tàn.
Đức Giê-hô-va đã làm trọn cơn giận dữ của Ngài,
Ngài đã trút đổ cơn thịnh nộ của Ngài;
Ngài nhen lửa tại Si-ôn,
Và thiêu rụi nền của nó.
Các vua trên đất,
Và những cư dân trên thế gian
Không thể tin rằng
Kẻ chống đối và quân thù
Có thể tiến vào các cổng thành của Giê-ru-sa-lem.
Chính vì tội lỗi của các tiên tri của thành,
Và những gian ác của các thầy tế lễ của thành,
Là những kẻ đã làm đổ máu người công chính
Ngay ở giữa thành.
Họ lưu lạc trong những đường phố như người mù
Họ làm ô nhơ chính mình với máu
Đến nỗi không ai dám đụng đến trang phục của họ.
Người ta thét với họ: “Hãy đi đi! Đồ ô uế!
Hãy đi đi! Hãy đi đi! Đừng đụng đến chúng tôi!”
Khi họ chạy trốn và lưu lạc
Dân chúng trong các nước nói:
“Chúng nó không được trú ngụ ở đây.”
Đức Giê-hô-va đã phân tán họ khỏi mặt của Ngài,
Ngài không đoái xem đến họ nữa.
Người ta không còn tôn kính các thầy tế lễ,
Cũng không dành đặc ân cho các trưởng lão.
Mắt của chúng tôi mòn mỏi,
Trông chờ sự cứu giúp trong vô vọng!
Trong sự trông chờ của mình, chúng tôi vẫn còn ngóng đợi
Bởi vì không một nước nào có thể cứu chúng tôi.
Họ theo dõi bước chân của chúng tôi
Để chúng tôi không thể bước trên những đường phố của mình;
Kết cuộc của chúng tôi đã gần!
Ngày của chúng tôi đã hết!
Bởi vì kết cuộc của chúng tôi đã đến!
Những kẻ rượt đuổi chúng tôi
Nhanh hơn những chim phượng hoàng trên trời.
Chúng truy đuổi chúng tôi trên các núi,
Và rình rập chờ đợi chúng tôi trong hoang mạc.
Người chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va, là hơi thở của chúng tôi,
Đã mắc vào những hầm bẫy của chúng;
Đó là người mà chúng tôi nói:
“Dưới bóng của người, chúng ta sẽ sống giữa các quốc gia.”
Các con gái của Ê-đôm!
Là những người cư ngụ trong đất Út-xơ,
Hãy hớn hở và vui mừng!
Nhưng chén cũng sẽ đến trên ngươi,
Và ngươi cũng sẽ trở nên say sưa và làm cho chính mình bị lõa lồ.
Các con gái Si-ôn!
Hình phạt cho tội lỗi của ngươi đã trọn,
Ngài sẽ không đưa ngươi vào chốn lưu đày nữa!


Các con gái của Ê-đôm!
Ngài sẽ trừng phạt sự gian ác của các ngươi;
Ngài sẽ vạch trần tội lỗi của các ngươi!

Bản Dịch Ngữ Căn

1. Ôi! Hoàng kim đã phai mờ,
Vàng ròng đã biến đổi!
Đá của nơi thánh bị phân tán
Tại đầu của mọi đường phố!
2. Các con trai ưu tú của Si-ôn,
Quý giá như vàng ròng,
Nay họ bị xem như những bình đất,
Là công việc do tay của các thợ gốm.
3. Ngay cả những chó rừng
Còn đưa vú cho con bú,
Nhưng các thiếu nữ của dân tôi hung dữ,
Như những đà điểu trong hoang mạc.
4. Lưỡi của trẻ thơ còn bú
Dính vào vòm họng bởi vì khát;
Các trẻ em xin bánh
Nhưng chẳng ai bẻ cho chúng.
5. Những người từng nếm cao lương mỹ vị,
Nay bơ vơ ngoài đường phố;
Những kẻ lớn lên trong nhung lụa,
Nay ôm đống tro.
6. Hình phạt cho tội lỗi của các con gái của dân tôi
Là lớn hơn hình phạt cho tội lỗi của Sô-đôm,
Nơi đã sụp đổ trong phút chốc,
Không một bàn tay cứu giúp.
7. Những người được tuyển chọn của nàng từng sáng hơn tuyết,
Trắng hơn sữa.
Da thịt hồng hào hơn hồng ngọc,
Sắc diện của họ như lam ngọc.
8. Nhưng nay sắc diện của họ đen hơn lọ,
Không ai nhận ra họ trong đường phố;
Chỉ còn da bọc xương,
Khô như khúc gỗ.
9. Những kẻ chết vì gươm
Còn tốt hơn những người chết vì đói:
Họ chết dần mòn trong đau đớn,
Vì thiếu hoa quả ngoài đồng.
10. Các cánh tay của những người mẹ thương yêu
Đã nấu thịt con của chính mình;
Biến chúng thành thức ăn cho họ
Trong lúc các con gái của dân tôi suy tàn.
11. Đức Giê-hô-va đã làm trọn cơn giận dữ của Ngài,
Ngài đã trút đổ cơn thịnh nộ của Ngài;
Ngài nhen lửa tại Si-ôn,
Và thiêu rụi nền của nó.
12. Các vua trên đất,
Và những cư dân trên thế gian
Không thể tin rằng
Kẻ chống đối và quân thù
Có thể tiến vào các cổng thành của Giê-ru-sa-lem.
13. Chính vì tội lỗi của các tiên tri của nàng,
Và những gian ác của các thầy tế lễ của nàng,
Là những kẻ đã làm đổ máu người công chính
Ngay ở giữa nàng.
14. Họ lưu lạc trong những đường phố như người mù
Họ làm ô nhơ chính mình với máu
Đến nỗi không ai dám đụng đến trang phục của họ.
15. Người ta thét với họ: “Hãy đi đi! Đồ ô uế!
Hãy đi đi! Hãy đi đi! Đừng đụng đến chúng tôi!”
Khi họ chạy trốn và lưu lạc
Dân chúng trong các nước nói:
“Chúng nó không được trú ngụ ở đây.”
16. Đức Giê-hô-va đã phân tán họ khỏi mặt của Ngài,
Ngài không đoái xem đến họ nữa.
Người ta không còn tôn kính các thầy tế lễ,
Cũng không dành đặc ân cho các trưởng lão.
17. Mắt của chúng tôi mòn mỏi,
Trông chờ sự cứu giúp trong vô vọng!
Trong sự trông chờ của mình, chúng tôi vẫn còn ngóng đợi
Bởi vì không một nước nào có thể cứu chúng tôi.
18. Họ theo dõi bước chân của chúng tôi
Để chúng tôi không thể bước trên những đường phố của mình;
Kết cuộc của chúng tôi đã gần!
Ngày của chúng tôi đã hết!
Bởi vì kết cuộc của chúng tôi đã đến!
19. Những kẻ rượt đuổi chúng tôi
Nhanh hơn những chim phượng hoàng trên trời.
Chúng truy đuổi chúng tôi trên các núi,
Và rình rập chờ đợi chúng tôi trong hoang mạc.
20. Người chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va, là hơi thở của chúng tôi,
Đã mắc vào những hầm bẫy của chúng;
Đó là người mà chúng tôi nói:
“Dưới bóng của người, chúng ta sẽ sống giữa các quốc gia.”
21. Các con gái của Ê-đôm!
Là những người cư ngụ trong đất Út-xơ,
Hãy hớn hở và vui mừng!
Nhưng chén cũng sẽ đến trên ngươi,
Và ngươi cũng sẽ trở nên say sưa và làm cho chính mình bị lõa lồ.
22. Các con gái Si-ôn!
Hình phạt cho tội lỗi của ngươi đã trọn,
Ngài sẽ không đưa ngươi vào chốn lưu đày nữa!


Các con gái của Ê-đôm!
Ngài sẽ trừng phạt sự gian ác của các ngươi;
Ngài sẽ vạch trần tội lỗi của các ngươi!

Bản Dịch 1925

1. Than ôi! vàng mờ tối, vàng ròng biến đổi dường nào! Đá nơi thánh đổ ra nơi mọi góc đường phố!
2. Các con trai của Si-ôn quí báu khác nào vàng ròng, Nay coi như bình đất sét là việc của tay thợ gốm làm!
3. Chính các chó rừng còn đưa vú ra cho con nó đặng cho bú; Song con gái dân ta trở nên hung dữ như chim đà ở nơi đồng vắng.
4. Con mới đẻ khao khát lắm, lưỡi nó dính với cúa họng. Trẻ nhỏ đòi bánh chẳng ai bẻ cho.
5. Những người quen nếm mùi cao lương đơn chiếc trong các đường phố; Những kẻ dưỡng nuôi trong đồ điều đỏ, nay ôm lấy đống phân tro.
6. Tội lỗi con gái dân ta lớn hơn tội lỗi Sô-đôm, Là thành bị đổ như trong giây phút, chẳng ai giơ tay ra trên nó.
7. Các người sang trọng của nó tinh hơn tuyết, trắng hơn sữa. Nước da đỏ hồng hơn san hô, mình mẩy sáng ngời như bích ngọc.
8. Nay mặt đen hơn than: chẳng ai nhận biết trong đường phố; Còn xương bọc lấy da; khô ran như khúc gỗ.
9. Những người bị gươm giết may hơn kẻ bị chết đói: Vì thiếu sản vật ngoài đồng, người lần lần hao mòn như bị đâm.
10. Chính tay người đàn bà vẫn có lòng thương xót, nấu chín con cái mình, Dùng làm đồ ăn cho mình giữa khi con gái dân ta bị phá hại.
11. Đức Giê-hô-va đã làm trọn sự giận của Ngài, đổ cơn thạnh nộ Ngài ra; Ngài đã đốt lửa tại Si-ôn, thiêu nuốt nền nó.
12. Các vua trên đất, cả dân cư thế gian, vốn chẳng ngờ Kẻ thù quân nghịch sẽ tràn vào các cửa thành Giê-ru-sa-lem.
13. Ấy là vì cớ tội lỗi của các tiên tri nó, và sự gian ác của các thầy tế lễ nó. Họ đã đổ giữa nó huyết của người công bình.
14. Họ đi quanh dọc đường như kẻ mù, bị máu làm ô uế, Đến nỗi không ai có thể rờ đến áo xống họ.
15. Người ta kêu bảo chúng rằng: Hãy xê ra, chẳng sạch. Hãy xê ra! xê ra! đừng rờ đến! Khi họ trốn tránh đi lưu lạc, dân ngoại kêu rằng: Chúng nó sẽ không trú ngụ ở đây nữa.
16. Cơn giận Đức Giê-hô-va đã làm tan lạc chúng, Ngài chẳng đoái xem nữa. Chúng nó chẳng nể mặt thầy tế lễ, cũng chẳng kính người già cả.
17. Mắt chúng ta mòn mỏi trông sự cứu luống công! Chúng ta trông đợi hướng về một dân không thể cứu.
18. Chúng nó dòm ngó chân chúng ta, đến nỗi chúng ta không bước ra nơi đường phố. Sự cuối cùng chúng ta đã gần! Ngày chúng ta đã trọn! phải, sự cuối cùng chúng ta đã đến!
19. Kẻ đuổi theo chúng ta thật lẹ hơn con chim ưng trên trời. Đuổi theo chúng ta trên các núi, rình rập chúng ta trong đồng vắng.
20. Hơi thở của mũi chúng ta, tức là kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va, thì đã mắc bẫy rồi, Về người, chúng ta thường nói rằng: Chúng ta nấp dưới bóng người mà sống giữa các nước.
21. Hỡi con gái Ê-đôm, ở đất Út-xơ! Hãy vui mừng hớn hở, Cái chén cũng sẽ trao đến mầy, mầy sẽ say mê và trần truồng.
22. Hỡi con gái Si-ôn, sự phạt tội lỗi mầy đã trọn, Ngài không đày mầy đi làm phu tù nữa! Hỡi con gái Ê-đôm, Ngài sẽ thăm phạt tội mầy; phô bày gian ác mầy!

Bản Dịch 2011

Hình Phạt của Si-ôn

(Theo mẫu tự Hê-bơ-rơ)

1 Hỡi ôi, vàng thật mà lại mờ, vàng ròng mà lại đổi màu!

Những tảng đá của nơi thánh sao lại nằm rải rác khắp đầu đường góc phố thế này?

2 Hỡi ôi, những đứa con yêu quý của Si-ôn đáng giá vàng ròng,

Nay sao lại bị xem như các bình đất do tay thợ gốm làm ra như thế?

3 Ngay cả lang sói còn biết đưa vú cho con chúng bú,

Nhưng các phụ nữ của dân tôi hung dữ tựa đà điểu trong đồng hoang.

4 Lưỡi các ấu nhi dính vào hốc miệng chúng vì khát sữa;

Các trẻ thơ van xin cơm bánh nhưng chẳng ai cho chúng thứ gì.

5 Những người từng ăn cao lương mỹ vị giờ chết đói trên các đường phố;

Những người từng được lớn lên trong nhung lụa giờ phải lăn lộn giữa các đống phân tro.

6 Vì hình phạt dành cho Ái Nữ của dân tôi thật nặng hơn hình phạt dành cho Sô-đôm,

Thành đã bị lật đổ trong phút chốc mà chẳng cần ai nhúng tay vào.

7 Các con nhà quyền quý của nàng mới ngày nào còn tinh khiết hơn tuyết, trắng ngần hơn sữa,

Thân hình của họ hồng hào hơn san hô, nước da mịn màng đẹp như bích ngọc.

8 Thế mà nay mặt họ đen đúa hơn lọ nồi;

Gặp họ ngoài đường, không ai nhận ra được họ;

Họ chỉ còn da bọc xương,

Thân thể họ gầy khô như khúc củi.

9 Những kẻ chết vì gươm được may mắn hơn những kẻ chết vì đói,

Bởi đói làm cho gầy yếu, kiệt sức, vì không được ăn hoa quả của ruộng đồng.

10 Những người mẹ vốn hy sinh cho con cái bây giờ lại tự tay nấu thịt chính con mình;

Thịt của những đứa con đã trở thành thức ăn cho mẹ chúng khi Ái Nữ của dân tôi bị tiêu diệt.

11 CHÚA trút hết cơn thịnh nộ của Ngài;

Ngài đổ hết cơn giận của Ngài ra;

Ngài nhen lên một ngọn lửa ở Si-ôn,

Và nó thiêu rụi những nền ở đó.

12 Các vua thế gian và mọi dân trên đất không thể tin rằng địch quân và những kẻ thù có thể tiến vào các cổng thành Giê-ru-sa-lem.

13 Nhưng vì tội lỗi của các tiên tri nàng và những gian ác của các tư tế nàng mà điều đó đã xảy ra;

Họ đã làm đổ máu những người ngay lành vô tội ngay giữa thành.

14 Họ như những người mù đi lang thang trong các đường phố,

Mình mẩy đầy máu me đến nỗi không ai dám đụng đến y phục họ.

15 Trông thấy họ người ta la lên, “Cút đi! Quân ô uế! Cút đi! Cút đi! Chớ đụng đến!”

Vì thế họ phải bỏ xứ trốn đi và lang thang ra ngoại quốc;

Nhưng ở giữa các dân ngoại, người ta cũng bảo, “Các người không được ở đây nữa.”

16 Chính CHÚA đã rải họ ra,

Ngài chẳng quan tâm đến họ nữa;

Các tư tế chẳng được ai tôn trọng,

Các trưởng lão chẳng còn được đặc ân.

17 Phần chúng tôi, mắt chúng tôi đã mỏi mòn trông đợi,

Ðợi chờ sự cứu giúp chẳng bao giờ đến;

Chúng tôi đã nôn nóng ngóng trông,

Trông chờ một cường quốc không có khả năng giải cứu.

18 Mỗi bước chân của chúng tôi quân thù đều dòm ngó,

Ðến nỗi chúng tôi không thể bước ra đường;

Ngày cuối cùng của chúng tôi đã gần,

Ngày tận số của chúng tôi đã trọn,

Thật vậy ngày tận cùng của chúng tôi đã đến.

19 Những kẻ truy đuổi chúng tôi nhanh nhẹn hơn cả đại bàng trên trời xanh;

Chúng rượt theo chúng tôi trên các núi;

Chúng nằm phục kích chúng tôi trong đồng hoang.

20 Người được xức dầu của CHÚA;

Người mà chúng tôi coi là lẽ sống của đời chúng tôi;

Người mà chúng tôi nói, “Dưới bóng người chúng tôi sẽ sống giữa các quốc gia,”

Thì nay đã sa vào hố của chúng rồi.

21 Hỡi Ái Nữ của Ê-đôm, kẻ sống trong xứ U-xơ,

Cứ hân hoan và hí hửng đi!

Chén thịnh nộ rồi đến lượt ngươi phải uống;

Ngươi sẽ uống say và tự cởi bỏ y phục của ngươi ra.

22 Hỡi Ái Nữ của Si-ôn, hình phạt vì tội của ngươi sẽ chấm dứt;

Ngài sẽ không bắt ngươi đem đi lưu đày nữa;

Nhưng hỡi Ái Nữ của Ê-đôm, tội lỗi ngươi chắc chắn Ngài sẽ phạt,

Ngài sẽ phơi bày những tội của ngươi ra.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành