Giê-rê-mi: Chương 4

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB24C004)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Y-sơ-ra-ên, nếu ngươi trở về cùng ta, nếu trở về cùng ta, và nếu ngươi bỏ những việc gớm ghiếc khỏi trước mắt ta, thì ngươi sẽ chẳng bị dời đi nữa. 2. Ngươi sẽ lấy sự thật thà, ngay thẳng, công bình, mà thề rằng: Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, các nước sẽ được phước bởi Ngài và vinh hiển trong Ngài.

3. Vả, Đức Giê-hô-va phán cùng người Giu-đa và cùng Giê-ru-sa-lem như vầy: Hãy cày mở ruộng mới các ngươi, chớ gieo trong gai gốc. 4. Hỡi các ngươi, là người Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem, hãy tự cắt bì mình cho Đức Giê-hô-va, và cất dương bì khỏi lòng ngươi! Bằng chẳng vậy, cơn giận ta sẽ phừng lên như lửa, đốt cháy các ngươi, không ai giập tắt được, vì việc ác các ngươi đã làm.

5. Hãy rao ra trong Giu-đa; hãy truyền trong Giê-ru-sa-lem rằng: Hãy thổi kèn trong đất. Hãy kêu lớn tiếng rằng: Khá nhóm nhau lại và đi vào các thành bền vững. 6. Khá dựng cờ hướng về Si-ôn! Hãy trốn đi, đừng dừng lại! Vì ta khiến từ phương bắc đến một tai nạn, tức là một sự hư hại lớn. 7. Sư tử ra từ rừng nó, kẻ hủy diệt các nước bắt đầu ra đi khỏi chỗ mình, đặng làm cho đất ngươi ra hoang vu; các thành ngươi trở nên gò đống, và không có người ở. 8. Vậy nên, các ngươi hãy thắt bao gai, khóc và than thở, vì cơn giận phừng phừng của Đức Giê-hô-va chưa lìa khỏi chúng ta đâu. 9. Đức Giê-hô-va phán: Trong ngày đó, vua và các quan trưởng sửng sốt trong lòng; các thầy tế lễ bỡ ngỡ, các kẻ tiên tri lấy làm lạ.

10. Bấy giờ tôi nói: Ôi! hỡi Chúa Giê-hô-va! Thật Ngài đã phỉnh dân nầy và Giê-ru-sa-lem lắm, mà nói rằng: Các ngươi sẽ được bình an! Những lưỡi gươm đã thấu đến sự sống. 11. Trong thời đó, sẽ nói cùng dân nầy và Giê-ru-sa-lem rằng: Gió nóng đến từ các gò trọi nơi đồng vắng, thổi trên con gái dân ta, nhưng chẳng dùng để dê lúa được, và cũng chẳng làm cho sạch được. 12. Lại có gió lớn hơn nữa vì ta mà đến. Nay ta sẽ rao sự đoán xét nghịch cùng chúng nó.

13. Nầy, nó sẽ lên như một đám mây, xe cộ nó dường cơn gió lốc, ngựa nó lẹ như chim ưng. Khốn cho chúng ta, vì bị hủy diệt! 14. Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy làm sạch hết điều ác trong lòng ngươi, hầu cho ngươi được cứu. Ngươi nuôi những ý tưởng gian ác trong lòng cho đến chừng nào? 15. Vì có tiếng đến từ đất Đan, từ gò Ép-ra-im rao truyền tai vạ. 16. Hãy báo cho các nước! Hãy rao cho Giê-ru-sa-lem rằng: Kẻ vây hãm từ phương xa mà đến, và kêu la nghịch cùng các thành Giu-đa. 17. Chúng nó vây Giê-ru-sa-lem như kẻ giữ ruộng; vì thành ấy đã nổi loạn nghịch cùng ta, Đức Giê-hô-va phán vậy. 18. Đó là những sự mà đường lối và việc làm của ngươi đã chuốc lấy cho ngươi; đó là sự gian ác ngươi! Thật, sự ấy là cay đắng, thấu đến trong lòng ngươi.

19. Ôi! tôi đau lòng, đau lòng! Cơn đau đớn quặn thắt lòng tôi; lòng đang bối rối trong tôi. Tôi không thể làm thinh! Hỡi linh hồn tôi, vì mầy nghe dọng kèn và tiếng giặc giã. 20. Hủy diệt càng thêm hủy diệt, báo tin chẳng dứt, cả đất bị phá tán; nhà tạm tôi thình lình bị hủy, màn cháng tôi bỗng chốc bị hư! 21. Tôi sẽ thấy cờ và nghe tiếng kèn cho đến chừng nào? 22. Thật dân ta là ngu muội, chúng nó chẳng nhìn biết ta. Ấy là những con cái khờ dại, không có trí khôn, khéo làm điều ác, mà không biết làm điều thiện.

23. Tôi xem đất: nầy, là vô hình và trống không; xem các từng trời: thì không có sự sáng. 24. Tôi xem các núi, thấy đều rúng động; mọi gò đều lung lay. 25. Tôi xem: chẳng còn một người, hết thảy chim trời đều trốn tránh. 26. Tôi xem thấy ruộng tốt đã trở nên đồng vắng, hết thảy các thành đều bị hủy phá trước mặt Đức Giê-hô-va, bởi cơn nóng giận của Ngài.

27. Vì Đức Giê-hô-va phán như vầy: Cả đất sẽ hoang vu, nhưng ta không diệt hết. 28. Bởi cớ đó, đất sẽ sầu thảm, các từng trời sẽ tối đen. Vì ta đã phán, đã định, thì chẳng đổi ý, chẳng xây lại.

29. Nghe tiếng ồn lính kỵ và lính bắn cung, thì hết thảy các thành đều chạy trốn; núp trong rừng cây, leo lên vầng đá; các thành đều bị bỏ, chẳng có người ở. 30. Còn ngươi, khi đã bị phá hủy, thì sẽ làm gì? Ngươi dầu có mặc áo màu tím, trang sức đồ vàng, lấy mực vẽ mắt, làm cho mình ra đẹp, cũng là vô ích: người yêu ngươi cũng khinh ngươi, mà đòi sự sống của ngươi. 31. Vì ta nghe tiếng, như tiếng đàn bà đẻ, tiếng thảm thương như tiếng đàn bà đẻ con so. Ấy là tiếng con gái Si-ôn, thở và giang tay ra mà rằng: Khốn nạn cho tôi! linh hồn tôi đã ngất đi trước mặt kẻ giết người!

Bản Dịch 2011

'

1 “Hỡi I-sơ-ra-ên, nếu ngươi trở về,” CHÚA phán,

“Nếu ngươi trở về với Ta,

Nếu ngươi vứt bỏ các thần tượng gớm ghiếc khỏi mặt Ta,

Nếu ngươi không đi sai lạc nữa,

2 Và nếu ngươi thề rằng,

‘Nguyện CHÚA là Ðấng hằng sống làm chứng,’

Trong sự chân thật, công chính, và ngay thẳng,

Thì các dân cũng sẽ nhân danh Ngài mà chúc phước cho nhau,

Và muôn dân sẽ hãnh diện vì Ngài.”

3 Vì CHÚA phán thế này với dân Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem:

“Hãy cày xới vùng đất chưa hề được cày xới,

Ðừng gieo giống vào giữa gai góc.

4 Hãy cắt bì chính mình để được thuộc về CHÚA,

Hãy cất bỏ da quy đầu nơi lòng các ngươi,

Hỡi dân Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem,

Bằng không, cơn giận của Ta sẽ bùng lên như ngọn lửa,

Cháy ào ào và không ai dập tắt được,

Vì tính gian tà trong những việc của các ngươi.”

Lời Cảnh Cáo về Giu-đa Sẽ Bị Xâm Lăng và Tàn Phá

5 “Hãy công bố ở Giu-đa và hãy rao báo ở Giê-ru-sa-lem rằng,

Hãy thổi kèn báo động trong khắp nước,

Hãy cất tiếng kêu to và nói: Hãy tụ họp lại,

Và hãy cùng nhau vào trong các thành kiên cố.

6 Hãy kéo cờ lên báo động cho dân ở Si-ôn, bảo rằng,

Hãy chạy trốn, chớ chậm trễ,

Vì Ta đem tai họa từ phương bắc đến,

Một đại họa khủng khiếp.

7 Một con sư tử đã bước ra khỏi bụi rậm,

Một kẻ hủy diệt các nước đã xuất chinh.

Nó đã rời khỏi chỗ nó, để đến biến xứ sở của ngươi thành một nơi hoang phế,

Các thành trì của ngươi sẽ thành chốn đổ nát điêu tàn, không người ở.

8 Vì thế hãy mặc tang phục, than khóc, và kêu van;

Vì cơn thịnh nộ của CHÚA không xây khỏi chúng ta.”

9 CHÚA phán,

“Trong những ngày ấy,

Vua sẽ mất can đảm,

Các tướng lãnh kinh hoàng,

Các tư tế khiếp sợ,

Các tiên tri ngỡ ngàng.”

10 Bấy giờ tôi nói, “Ôi, lạy CHÚA Hằng Hữu, sao Ngài nỡ gạt dân này và dân Giê-ru-sa-lem một cách đáng thương vậy?

Họ đã từng nghe rằng, ‘Các ngươi sẽ được bình an thịnh vượng,’

Thế mà mũi gươm đang dí vào cổ họ.”

11 Lúc đó người ta sẽ nói với dân này và dân Giê-ru-sa-lem,

“Một ngọn gió nóng do Ta thổi từ các đồi trọc trong sa mạc đang đến với Ái Nữ của dân Ta,

Không phải để rê, cũng không phải để làm cho sạch,

12 Vì ngọn gió ấy quá mạnh cho những việc đó,

Bấy giờ chính Ta sẽ tuyên án để kết tội chúng nó.

13 Này, nó ập đến như mây phủ,

Các xe chiến mã của nó ào đến tựa cuồng phong,

Các ngựa chiến của nó lẹ hơn các phượng hoàng.”

Khốn thay cho chúng tôi,

Chúng tôi bị diệt mất!

14 “Hỡi Giê-ru-sa-lem, hãy tẩy sạch gian ác khỏi lòng ngươi,

Ðể ngươi có thể được cứu.

Những mưu đồ gian ác của ngươi sẽ còn ở trong ngươi bao lâu nữa?

15 Vì từ Ðan có tiếng đồn,

Từ Núi Ép-ra-im có tin dữ.

16 Hãy bảo các dân, ‘Ðây này, chúng đến!’

Hãy rao báo nghịch lại Giê-ru-sa-lem:

Quân vây thành đến từ một xứ xa xăm;

Chúng hò hét công phá các thành của Giu-đa.

17 Chúng hãm sát quanh nó như những người gác lúa ngoài đồng,

Bởi vì nó đã phản nghịch Ta,” CHÚA phán.

18 “Các đường lối của ngươi và các việc làm của ngươi đã đưa đến ngươi hậu quả này.

Ðây là lúc ngươi bị tiêu diệt;

Thật đắng cay thay!

Quả là cay đắng thấu tim.”

Nỗi Buồn vì Ðất Nước Sắp Bị Diệt

19 Ðau đớn thay cho tôi!

Ðau đớn thay cho tôi!

Tôi đau đớn thấu tim!

Lòng tôi thổn thức,

Tim tôi đập mạnh trong người;

Tôi không thể nín lặng được nữa,

Vì tôi đã nghe tiếng kèn,

Tiếng kèn triệu tập trai tráng đi ra đối phó với quân thù.

20 Thảm họa chồng lên thảm họa;

Cả nước bị tàn phá tan tành.

Thình lình các lều trại của tôi bị hoàn toàn phá hủy;

Các màn trướng của tôi chỉ trong chốc lát trở thành đống tro tàn.

21 Tôi cứ phải trông thấy ngọn cờ báo động

Và nghe tiếng kèn tập họp cho đến bao lâu nữa?

22 “Vì các con cái của Ta đã trở nên dại dột,

Chúng không biết Ta là ai;

Chúng là những đứa con ngu muội,

Chúng chẳng có chút hiểu biết bình thường.

Chúng chỉ giỏi việc làm ác,

Nhưng việc làm lành, chúng không biết làm.”

23 Tôi nhìn xuống đất, kìa, nó đã trở nên hoang vắng và trống không.

Tôi nhìn lên trời, nó chỉ là một màn đen mù mịt.

24 Tôi nhìn lên núi, kìa, chúng đang chuyển động,

Tất cả núi đồi đều lắc tới lắc lui.

25 Tôi nhìn quanh, kìa, chẳng còn ai cả,

Tất cả chim trời đều trốn biệt tăm.

26 Tôi nhìn xa hơn nữa, kìa, các ruộng vườn đều đã thành đồng hoang.

Tất cả các thành phố đều trở nên tiêu điều vắng vẻ,

Trước thánh nhan CHÚA, trước cơn thịnh nộ phừng phừng của Ngài;

27 Vì CHÚA phán thế này,

“Cả xứ sẽ trở nên hoang vu,

Nhưng Ta sẽ không tiêu diệt đến tận cùng.

28 Vì việc này mà đất sẽ khóc than,

Trên trời cao sẽ trở thành đen tối,

Vì một khi Ta tuyên bố, một khi Ta đã quyết định,

Ta sẽ không lần lữa, Ta sẽ không đổi ý.

29 Nghe tiếng vó ngựa của kỵ binh và của quân xạ tiễn,

Thành nào thành nấy đều khiếp sợ kinh hoàng,

Kẻ chui vô bụi rậm, người trèo vào hốc đá;

Tất cả các thành đều bỏ trống,

Không còn ai ở trong chúng nữa.

30 Còn ngươi, hỡi kẻ sắp bị biến ra hoang vắng,

Ngươi muốn gì mà ăn mặc y phục đỏ điều dem dúa,

Lấy các nữ trang bằng vàng đeo trên mình,

Và kẻ mắt cho to cho đậm?

Ngươi làm dáng như thế cũng chỉ vô ích.

Các tình nhân của ngươi khinh bỉ ngươi;

Chúng đòi lấy mạng ngươi.”

31 Vì tôi đã nghe tiếng kêu la của người đàn bà lâm bồn,

Tiếng đau đớn khóc la của người phụ nữ sinh con so,

Tiếng thở dồn dập như thiếu dưỡng khí của Ái Nữ của Si-ôn,

Nàng đưa tay kêu gào, “Khốn thay cho tôi!

Tôi bị kiệt lực trước phường sát nhân!”

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu