Thi Thiên: Chương 141

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB19C141)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi đã cầu khẩn Ngài, xin mau mau đến cùng tôi. Khi tôi kêu cầu Ngài, xin hãy lắng tai nghe tiếng tôi.
2. Nguyện lời cầu nguyện tôi thấu đến trước mặt Chúa như hương, Nguyện sự giơ tay tôi lên được giống như của lễ buổi chiều!
3. Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy giữ miệng tôi, Và canh cửa môi tôi.
4. Xin chớ để lòng tôi hướng về điều gì xấu xa, Đặng làm việc ác với kẻ làm ác; Nguyện tôi không ăn vật ngon của chúng nó.
5. Nguyện người công bình đánh tôi, ấy là ơn; Nguyện người sửa dạy tôi, ấy khác nào dầu trên đầu, Đầu tôi sẽ không từ chối. Vì dẫu trong khi chúng nó làm ác, tôi sẽ cứ cầu nguyện.
6. Các quan xét chúng nó bị ném xuống bên hòn đá; Họ sẽ nghe lời tôi, vì lời tôi êm dịu.
7. Hài cốt chúng tôi bị rải rác nơi cửa âm phủ, Khác nào khi người ta cày ruộng và tách đất ra.
8. Chúa Giê-hô-va ôi! mắt tôi ngưỡng vọng Chúa, Tôi nương náu mình nơi Chúa; Xin chớ lìa bỏ linh hồn tôi.
9. Cầu Chúa giữ tôi khỏi bẫy chúng nó đã gài tôi, Và khỏi vòng kẻ làm ác.
10. Nguyện kẻ ác bị sa vào chính lưới nó, Còn tôi thì được thoát khỏi.

Bản Dịch 2011

Lời Cầu Nguyện Buổi Tối

Xin CHÚA Thánh Hóa và Bảo Vệ

Thơ của Ða-vít

1 CHÚA ôi, con kêu cầu Ngài, xin mau mau đến với con.

Xin lắng tai nghe tiếng con khi con van xin Ngài.

2 Nguyện lời cầu nguyện của con như hương thơm trước mặt Ngài;

Nguyện đôi tay con đưa lên như của lễ dâng lên lúc chiều tàn.

3 CHÚA ôi, xin canh giữ miệng con;

Xin canh giữ cửa môi con.

4 Xin đừng để lòng con hướng về bất cứ điều ác nào;

Xin đừng để con tham dự vào việc gian ác với kẻ tội lỗi;

Xin đừng để con ăn cao lương mỹ vị của chúng.

5 Nguyện người ngay lành đánh con, ấy là làm ơn cho con;

Nguyện người ấy quở trách con, đó là xức dầu cho đầu con.

Xin đừng để đầu con từ chối nhận lãnh điều ấy;

Vì con hằng cầu nguyện chống lại việc gian tà của những kẻ làm ác.

6 Khi những kẻ cầm quyền của chúng bị ném xuống từ gành đá,

Bấy giờ chúng sẽ nghe những lời con nói, vì lời con dịu dàng.

7 Nguyện chúng nói, “Như các miểng đá bị đập vỡ và văng tứ tung trên mặt đất thể nào,

Xương chúng tôi nằm rải rác ở cửa mồ cũng thể ấy.”

8 Lạy CHÚA, Chúa của con, mắt con hướng về Ngài;

Con tin cậy nơi Ngài; xin đừng bỏ con trơ trọi.

9 Xin giữ con không sa vào gọng kẹp của bẫy chúng gài,

Chẳng rơi vào cạm bẫy của những kẻ làm điều tội lỗi.

10 Nguyện những kẻ gian ác sa vào lưới chúng giăng,

Trong khi con vượt qua bình yên vô sự.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu