Thi Thiên: Chương 140

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB19C140)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy giải cứu tôi khỏi kẻ ác, Bảo hộ tôi khỏi người hung bạo,
2. Là kẻ toan mưu ác nơi lòng: Hằng ngày chúng nó hiệp lại đặng tranh chiến.
3. Chúng nó mài nhọn lưỡi mình như rắn, Có nọc độc rắn hổ trong môi mình.
4. Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy giữ tôi khỏi tay kẻ ác, Bảo hộ tôi khỏi người hung bạo, Là kẻ toan mưu làm bước tôi vấp ngã.
5. Những kẻ kiêu ngạo đã gài bẫy và trăng dây cho tôi, Giương lưới dọc dài theo đường; Chúng nó cũng đặt vòng gài tôi.
6. Tôi thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Ngài là Đức Chúa Trời tôi. Đức Giê-hô-va ôi! Xin lắng tai nghe tiếng nài xin của tôi.
7. Hỡi Chúa Giê-hô-va, là sức lực về sự cứu rỗi tôi, Chúa che chở đầu tôi trong ngày chiến trận.
8. Hỡi Đức Giê-hô-va, xin chớ ứng hoàn sự ước ao kẻ ác; Chớ giúp thành mưu kế nó, e nó tự cao chăng.
9. Nguyện sự gian ác của môi những kẻ vây tôi Bao phủ đầu chúng nó!
10. Nguyện than lửa đỏ đổ trên chúng nó! Nguyện chúng nó bị quăng vào lửa, Trong nước sâu, chẳng cất dậy được nữa!
11. Người nào có lưỡi gian trá chẳng được vững lập trong xứ; Tai họa sẽ đuổi theo kẻ hung bạo đặng đánh đổ hắn.
12. Tôi biết rằng Đức Giê-hô-va sẽ binh vực duyên cớ kẻ khổ nạn, Đoán xét công bình cho người thiếu thốn.
13. Người công bình hẳn sẽ cảm tạ danh Chúa; Người ngay thẳng sẽ ở trước mặt Chúa.

Bản Dịch 2011

Cầu Xin CHÚA Bảo Vệ Khỏi Kẻ Gian Ác

Thơ của Ða-vít

Cho Trưởng Ban Nhạc

1 CHÚA ôi, cầu xin Ngài giải cứu con khỏi những kẻ gian ác;

Xin bảo vệ con khỏi những kẻ hung tàn;

2 Ðó là những kẻ trong lòng cứ toan mưu hiểm độc;

Chúng hội họp liên miên để gây sự với người ta.

3 Chúng chuốc mài lưỡi chúng bén nhọn như lưỡi rắn;

Dưới môi chúng là nọc độc chờ nhả chất độc ra. (Sê-la)

4 CHÚA ôi, xin gìn giữ con khỏi tay những kẻ gian ác;

Xin bảo vệ con khỏi những kẻ hung tàn,

Những kẻ cố tình muốn làm chân con vấp ngã.

5 Những kẻ kiêu ngạo gài bẫy và giăng dây để hại con;

Chúng giăng bẫy lưới dọc bên đường con đi;

Chúng đặt bẫy để bắt con. (Sê-la)

6 Con thưa với CHÚA rằng: Ngài là Ðức Chúa Trời của con;

CHÚA ôi, xin lắng tai nghe tiếng cầu xin của con.

7 Lạy CHÚA là Chúa của con,

Ðấng Giải Cứu quyền năng của con,

Ngài từng che chở đầu con trong ngày chiến trận.

8 CHÚA ôi, xin đừng để kẻ ác được toại nguyện;

Xin đừng để ý đồ của kẻ ác được nên, kẻo chúng sẽ tự cao. (Sê-la)

9 Nguyện đầu của những kẻ bao vây con

Bị phủ bằng tai họa do môi chúng nói ra.

10 Nguyện các than lửa hừng đổ xuống đầu chúng;

Nguyện chúng bị quăng vào lò lửa,

Bị ném vào vực sâu, và không trồi lên được nữa.

11 Nguyện kẻ vu khống không được vững lập trên đất;

Nguyện điều dữ săn đuổi kẻ bạo tàn để tiêu diệt nó đi.

12 Con biết CHÚA sẽ binh vực duyên cớ của kẻ khốn cùng,

Và thi hành công lý cho người nghèo khó.

13 Chắc chắn người ngay lành sẽ cảm tạ danh Ngài;

Người ngay thật sẽ ở trước thánh nhan Ngài.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu