Thi Thiên: Chương 18

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB19C018)
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là năng lực tôi, tôi yêu mến Ngài.
2. Đức Giê-hô-va là hòn đá tôi, đồn lũy tôi, Đấng giải cứu tôi; Đức Chúa Trời là hòn đá tôi, nơi Ngài tôi sẽ nương náu mình; Ngài cũng là cái khiên tôi, sừng cứu rỗi tôi, và là nơi náu ẩn cao của tôi.
3. Đức Giê-hô-va đáng được ngợi khen; tôi sẽ kêu cầu Ngài, Ắt sẽ được giải cứu khỏi các kẻ thù nghịch tôi.
4. Các dây sự chết đã vương vấn tôi, Lụt gian ác chảy cuộn làm cho tôi sợ hãi.
5. Những dây Âm phủ đã vấn lấy tôi, Lưới sự chết hãm bắt tôi.
6. Trong cơn gian truân tôi cầu khẩn Đức Giê-hô-va, Tôi kêu cầu Đức Chúa Trời tôi: Tại đền Ngài, Ngài nghe tiếng tôi, Và tiếng kêu cầu của tôi thấu đến tai Ngài.
7. Bấy giờ đất động và rung, Nền các núi cũng lay chuyển Và rúng động, vì Ngài nổi giận.
8. Khói bay ra từ lỗ mũi Ngài, Ngọn lửa hực phát ra từ miệng Ngài, Làm cho than cháy đỏ.
9. Ngài làm nghiêng lệch các từng trời, và ngự xuống; Dưới chân Ngài có vùng đen kịt.
10. Ngài cỡi chê-ru-bin và bay, Ngài liệng trên cánh của gió.
11. Ngài nhờ sự tối tăm làm nơi ẩn núp mình, Dùng các vùng nước tối đen và mây mịt mịt của trời, Mà bủa xung quanh mình Ngài dường như một cái trại.
12. Từ sự rực rỡ ở trước mặt Ngài, ngang qua các mây mịt mịt của Ngài, Có phát ra mưa đá và than hực lửa.
13. Đức Giê-hô-va sấm sét trên các từng trời, Đấng Chí cao làm cho vang rân tiếng của Ngài, Có mưa đá và than hực lửa.
14. Ngài bắn tên, làm cho tản lạc quân thù nghịch tôi, Phát chớp nhoáng nhiều, khiến chúng nó lạc đường.
15. Hỡi Đức Giê-hô-va, bởi lời hăm he của Ngài, Bởi gió xịt ra khỏi lỗ mũi Ngài, Đáy biển bèn lộ ra, Và các nền thế gian bị bày tỏ.
16. Từ Trên cao Ngài giơ tay ra nắm tôi, Rút tôi ra khỏi nước sâu.
17. Ngài giải cứu tôi khỏi kẻ thù nghịch có sức lực, Khỏi kẻ ghét tôi, vì chúng nó mạnh hơn tôi.
18. Trong ngày gian truân chúng nó xông vào tôi; Nhưng Đức Giê-hô-va nâng đỡ tôi.
19. Ngài đem tôi ra nơi rộng rãi, Giải cứu tôi, vì Ngài ưa thích tôi.
20. Đức Giê-hô-va đã thưởng tôi tùy sự công bình tôi, Báo tôi theo sự thanh sạch của tay tôi.
21. Vì tôi đã giữ theo các đường lối Đức Giê-hô-va, Chẳng có làm ác xây bỏ Đức Chúa Trời tôi.
22. Vì các mạng lịnh Ngài đều ở trước mặt tôi, Còn luật lệ Ngài, tôi nào bỏ đâu.
23. Tôi cũng ở trọn vẹn với Ngài, Giữ lấy mình khỏi ác.
24. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã báo tôi tùy sự công bình tôi, Thưởng tôi theo sự thanh sạch của tay tôi trước mặt Ngài.
25. Kẻ hay thương xót, Chúa sẽ thương xót lại; Đối cùng kẻ trọn vẹn, Chúa sẽ tỏ mình trọn vẹn lại;
26. Đối cùng kẻ thanh sạch, Chúa sẽ tỏ mình thanh sạch lại; Còn đối cùng kẻ trái nghịch, Chúa sẽ tỏ mình nhặt nhiệm lại.
27. Vì Chúa cứu dân bị khốn khổ; Nhưng sụp mắt kẻ tự cao xuống.
28. Chúa thắp ngọn đèn tôi: Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, soi sáng nơi sự tối tăm tôi.
29. Nhờ Ngài tôi sẽ xông ngang qua đạo binh, Cậy Đức Chúa Trời tôi, tôi sẽ vượt khỏi tường thành.
30. Còn Đức Chúa Trời, các đường lối Ngài là trọn vẹn; Lời của Đức Giê-hô-va đã được luyện cho sạch; Ngài là cái khiên cho những kẻ nào nương náu mình nơi Ngài.
31. Trừ ra Đức Giê-hô-va, ai là Đức Chúa Trời? Ngoại Đức Chúa Trời chúng tôi, ai là hòn đá lớn?
32. Đức Chúa Trời thắt lưng tôi bằng năng lực, Và ban bằng đường tôi.
33. Ngài làm cho chân tôi lẹ như chân con nai cái, Và để tôi đứng trên các nơi cao của tôi.
34. Ngài tập tay tôi đánh giặc, Đến đỗi cánh tay tôi giương nổi cung đồng.
35. Chúa cũng đã ban cho tôi sự cứu rỗi làm khiên; Tay hữu Chúa nâng đỡ tôi, Và sự hiền từ Chúa đã làm tôi nên sang trọng.
36. Chúa mở rộng đường dưới bước tôi, Chân tôi không xiêu tó.
37. Tôi rượt đuổi kẻ thù nghịch tôi, và theo kịp; Chỉ trở về sau khi đã tận diệt chúng nó.
38. Tôi đâm lủng chúng nó, đến nỗi chúng nó không thế dậy lại được; Chúng nó sa ngã dưới chân tôi.
39. Vì Chúa đã thắt lưng tôi bằng sức lực để chiến, Khiến kẻ dấy nghịch cùng tôi xếp rệp dưới tôi.
40. Chúa cũng khiến kẻ thù nghịch xây lưng cùng tôi; Còn những kẻ ghét tôi, tôi đã diệt chúng nó rồi.
41. Chúng nó kêu, nhưng chẳng có ai cứu cho; Chúng nó kêu cầu Đức Giê-hô-va, song Ngài không đáp lại.
42. Bấy giờ tôi đánh nát chúng nó ra nhỏ như bụi bị gió thổi đi; Tôi ném chúng nó ra như bùn ngoài đường.
43. Chúa đã cứu tôi khỏi sự tranh giành của dân sự; Lập tôi làm đầu các nước; Một dân tộc tôi không quen biết sẽ hầu việc tôi.
44. Vừa khi nghe nói về tôi; chúng nó sẽ phục tôi; Các người ngoại bang sẽ giả bộ vâng theo tôi.
45. Các người ngoại bang sẽ tàn mạt Đi ra khỏi chỗ ẩn mình cách run sợ.
46. Đức Giê-hô-va hằng sống; đáng ngợi khen hòn đá tôi! Nguyện Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi tôi được tôn cao!
47. Tức là Đức Chúa Trời báo oán cho tôi, Khiến các dân suy phục tôi.
48. Ngài giải cứu tôi khỏi kẻ thù nghịch tôi; Thật Chúa nâng tôi lên cao hơn kẻ dấy nghịch cùng tôi. Và cứu tôi khỏi người hung bạo.
49. Vì vậy, hỡi Đức Giê-hô-va, tôi sẽ ngợi khen Ngài giữa các dân, Và ca tụng danh của Ngài.
50. Đức Giê-hô-va ban cho vua Ngài sự giải cứu lớn lao, Và làm ơn cho đấng chịu xức dầu của Ngài, Tức là cho Đa-vít, và cho dòng dõi người, đến đời đời.

Bản Dịch 2011

Ca Ngợi Ðức Chúa Trời Vì Ngài Ðã Giải Cứu
Thơ của Ða-vít tôi tớ CHÚA
Cho Trưởng Ban Nhạc
Ông dâng lên CHÚA những lời nầy trong ngày CHÚA giải cứu ông khỏi tay quân thù của ông và khỏi tay của Sau-lơ. Ông nói:
1. CHÚA ôi, con yêu kính Ngài,
Ngài là sức mạnh của con.
2. CHÚA là vầng đá của tôi, đồn lũy của tôi, và Ðấng Giải Cứu của tôi.
Ðức Chúa Trời của tôi là vầng đá của tôi; tôi nương náu trong Ngài.
Ngài là thuẫn khiên của tôi, sừng cứu rỗi của tôi, và thành trì của tôi.
3. Tôi sẽ kêu cầu CHÚA, Ðấng xứng đáng được ca ngợi,
Ðể tôi được giải cứu khỏi các kẻ thù của mình.
4. Các dây sự chết đã quấn lấy tôi;
Những dòng nước mạnh của kẻ ác đã làm tôi sợ hãi.
5. Các dây của âm phủ đã trói cột tôi;
Các bẫy của tử thần đã sập xuống bắt tôi.
6. Trong cảnh nguy nan, tôi kêu cầu CHÚA,
Tôi kêu xin Ðức Chúa Trời của tôi giải cứu.
Từ đền thánh của Ngài, Ngài đã nghe tiếng tôi;
Tiếng cầu xin của tôi đã thấu đến tai Ngài.
7. Bấy giờ đất rúng động và rung chuyển;
Các nền của núi đồi chấn động và rung rinh,
Vì Ngài đã nổi giận.
8. Khói bay ra từ lỗ mũi Ngài,
Lửa hừng thiêu đốt thoát ra từ miệng Ngài,
Làm bùng cháy các than.
9. Ngài nghiêng các tầng trời và ngự xuống;
Một áng mây đen che dưới chân Ngài.
10. Ngài ngự trên một thiên thần phục vụ và bay đi;
Ngài bay vút cực nhanh trên cánh gió.
11. Ngài đặt bóng tối che kín chung quanh Ngài;
Trướng che Ngài là mưa đen tuôn đổ từ áng mây mù.
12. Từ trong hào quang rực rỡ trước mặt Ngài,
Mưa đá và sét chớp kinh hoàng bắn xuyên qua tầng mây đen kịt.
13. CHÚA khiến sấm nổ vang rền khắp bầu trời;
Ðấng Tối Cao lên tiếng, mưa đá và thiên thạch rực lửa đổ xuống.
14. Ngài bắn các mũi tên ra, quân thù chạy tán loạn;
Ngài phát chớp nhoáng ào ào, chúng vọt chạy tứ tung.
15. CHÚA ôi, khi Ngài quở trách, khi Ngài nhảy mũi, khi hơi thở từ lỗ mũi Ngài thoát ra,
Các đáy biển liền lộ ra,
Các nền địa cầu đều bày rõ.
16. Từ trời cao, Ngài vói tay xuống nắm lấy tôi;
Ngài kéo tôi ra khỏi luồng nước mạnh đang cuốn hút tôi.
17. Ngài giải cứu tôi khỏi kẻ thù mạnh mẽ của tôi,
Và khỏi những kẻ ghét tôi, những kẻ mạnh hơn tôi.
18. Trong ngày hoạn nạn, chúng đã chận đường đón bắt tôi,
Nhưng CHÚA đã giúp đỡ tôi.
19. Ngài đã đem tôi đến một nơi an toàn thoải mái;
Ngài đã giải cứu tôi, vì Ngài thấy tôi đẹp lòng Ngài.
20. CHÚA đã ban thưởng tôi theo sự ngay lành của tôi;
Ngài đã đền bù cho tôi theo sự trong sạch của tay tôi.
21. Vì tôi đã vâng giữ các đường lối CHÚA;
Tôi đã không sa đọa mà lìa bỏ Ðức Chúa Trời của mình.
22. Vì các mạng lịnh của Ngài hằng ở trước mặt tôi;
Các luật lệ của Ngài tôi không bao giờ từ bỏ;
23. Vì tôi đã cố giữ mình để được trọn vẹn trước mặt Ngài,
Và giữ lấy mình để khỏi chuốc lấy mặc cảm tội lỗi.
24. Vì vậy, CHÚA đã ban thưởng cho tôi theo sự ngay lành của tôi,
Theo sự trong sạch của tay tôi trước thánh nhan Ngài.
25. Ðối với người có lòng thương xót, Ngài lấy ơn thương xót đối xử với họ;
Ðối với người trọn vẹn, Ngài bày tỏ cho họ biết thế nào là trọn vẹn theo tiêu chuẩn của Ngài;
26. Ðối với người trong sạch, Ngài cho họ biết sự trong sạch theo chuẩn mực của Ngài phải ra sao;
Ðối với những kẻ gian manh, Ngài cho chúng biết chúng không thể qua mặt được Ngài,
27. Vì Ngài cứu giúp những người khiêm hạ,
Nhưng Ngài sẽ đánh bại những cặp mắt kiêu căng.
28. Thật vậy, chính Ngài sẽ thắp cho đèn của con sáng lên;
Chính CHÚA, Ðức Chúa Trời của con, sẽ biến hoàn cảnh đen tối của con trở nên sáng sủa.
29. Nhờ Ngài, con có thể xông qua một đạo quân;
Nhờ Ðức Chúa Trời của con, con có thể vượt qua bức tường ngăn cản.
30. Ðức Chúa Trời ôi, đường lối của Ngài thật toàn hảo;
Lời của CHÚA quả linh nghiệm vô cùng.
Ngài là thuẫn khiên cho những ai nương cậy Ngài.
31. Thật vậy, ngoài CHÚA ra, ai có thể xứng đáng làm Ðức Chúa Trời?
Ngoài Ðức Chúa Trời ra, ai có thể xứng đáng làm Vầng Ðá?
32. Ðức Chúa Trời nịt lưng cho tôi bằng sức mạnh;
Ngài làm cho đường lối của tôi trở nên trọn vẹn.
33. Ngài làm cho chân tôi nhanh nhẹn tựa chân nai;
Ngài lập tôi được vững vàng trên những nơi cao.
34. Ngài luyện tập tay tôi cho ngày chiến trận,
Ðể đôi tay tôi có thể giương nổi một cây cung đồng.
35. Ngài đã ban cho con ơn cứu rỗi của Ngài để làm thuẫn khiên che chở;
Tay phải Ngài đã nâng con lên;
Cách Ngài đối xử dịu dàng với con đã làm cho con được tôn trọng.
36. Ngài đã mở rộng nơi bàn chân con sắp bước đến;
Ðể mắt cá con không bị hụt hẫng trợt nghiêng.
37. Con đuổi theo quân thù của con và bắt kịp chúng;
Con chẳng quay về cho đến khi chúng bị tiêu diệt hoàn toàn.
38. Con đập tan chúng, và chúng không ngóc đầu được nữa;
Chúng đã bị ngã gục dưới chân con.
39. Ngài đã nai nịt con bằng sức mạnh để ra trận;
Ngài đã làm cho kẻ nổi dậy đánh con quỳ lạy dưới chân con.
40. Ngài đã khiến kẻ thù của con xây lưng chạy trốn;
Ngài đã cho phép con tiêu diệt kẻ ghét con.
41. Chúng kêu cứu, nhưng chẳng ai giải cứu;
Chúng kêu cầu CHÚA, nhưng Ngài chẳng đáp lời.
42. Con đã nghiền nát chúng như bụi bay trước gió;
Con đã đổ chúng ra như bùn đổ ngoài đường.
43. Ngài đã giải cứu con khỏi các đợt tấn công của thiên hạ;
Ngài đã lập con làm thủ lãnh các quốc gia;
Một dân con chưa biết đã phải phục vụ con.
44. Vừa khi nghe đến con, họ đã vội vàng vâng phục;
Những người ngoại quốc thuận phục con.
45. Quân đội ngoại bang đều hồn phi phách tán;
Chúng từ trong các chiến lũy run rẩy kéo ra hàng.
46. CHÚA sống đời đời!
Chúc tụng Vầng Ðá của con!
Nguyện Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của con, được tôn cao!
47. Ðức Chúa Trời đã báo thù cho con;
Ngài đã khiến các dân phải khuất phục dưới quyền con.
48. Ngài đã giải cứu con khỏi những kẻ thù ghét con.
Quả thật, Ngài đã nhấc con lên trên những kẻ chống đối con;
Ngài đã giải cứu con thoát khỏi những kẻ hung tàn.
49. Vì thế CHÚA ôi, con sẽ ca ngợi Ngài giữa các dân;
Con sẽ hát ca chúc tụng danh Ngài.
50. Ngài đã ban chiến thắng lớn cho người Ngài lập làm vua,
Và bày tỏ ơn thương xót đối với người Ngài xức dầu lựa chọn,
Tức với Ða-vít và dòng dõi của người đến đời đời.

Tài Liệu