Gióp : Chương 41

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB18C041)
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Chẳng ai đủ gan dám trêu chọc nó; Vậy, ai sẽ đứng ở trước mặt ta cho nổi?
2. Ai ban cho ta trước đã, mà ta phải trả lại cho? Phàm vật chi ở dưới trời đều thuộc về ta.
3. Ta hẳn sẽ nói về các chi thể nó, Về sức lực nó, và sự tốt đẹp của hình trạng nó.
4. Có ai lột được áo choàng của nó không? Có ai vào trong hàm đôi của nó được chăng?
5. Ai sẽ mở cửa họng nó ra? Sự kinh khủng vây chung quanh răng nó.
6. Nó có oai hùng vì cớ các hàng khiên của nó, Bằng thẳng dính khằn nhau như được niêm phong;
7. Cái nầy đụng với cái khác, Đến đỗi gió chẳng lọt qua được.
8. Cái nầy hàng lại với cái kia, Dính với nhau, không hề rời rã.
9. Sự nhảy mũi nói giăng ánh sáng ra, Hai con mắt nó khác nào mí mắt của rạng đông.
10. Những ngọn lửa nhoáng từ miệng nó, Và các đám lửa phun ra.
11. Từ lỗ mũi nó khói bay ra, Như của một nồi sôi, có chụm sậy ở dưới.
12. Hơi thở nó làm hừng cháy than, Một ngọn lửa ra từ miệng nó.
13. Trong cổ nó có mãnh lực, Và sự kinh khiếp nhảy múa trước mặt nó.
14. Các yếm thịt nó dính chắn nhau, Nó như đúc liền trên thân nó, không hề chuyển động.
15. Trái tim nó cứng như đá, Cứng khác nào thớt cối dưới.
16. Khi nó chổi dậy, các kẻ anh hùng đều run sợ; Vì bắt kinh hãi nên chạy trốn đi.
17. Khi người ta lấy gươm đâm nó, gươm chẳng hiệu chi, Dẫu cho giáo, cái đọc, hay là lao phóng cũng vậy.
18. Nó coi sắt khác nào rơm cỏ, Và đồng như thể cây mục.
19. Mũi tên không làm cho nó chạy trốn; Đá trành với nó khác nào cây rạ,
20. Nó cũng xem gậy như rạ, Cười nhạo tiếng vo vo của cây giáo.
21. Dưới bụng nó có những miểng nhọn, Nó dường như trương bừa trên đất bùn.
22. Nó làm cho vực sâu sôi như một cái nồi; Khiến biển trở thành như hũ dầu xức,
23. Và bỏ lại sau nó đường cày đi sáng sủa; Người ta có lẽ tưởng rằng vực sâu là tóc bạc.
24. Tại thế thượng, chẳng có vật chi giống như nó; Nó được dựng nên để không sợ gì hết.
25. Nó nhìn xem các vật cao lớn; Nó làm vua của các loài thú kiêu ngạo.

Bản Dịch 2011

1. Ngươi có thể dùng lưỡi câu để câu rồng chăng?
Hoặc có thể dùng dây để cột lưỡi nó lại chăng?
2. Ngươi có thể xỏ một dây qua mũi nó chăng?
Hoặc có thể dùng móc sắc xoi lủng hàm nó chăng?
3. Há nó sẽ dùng nhiều lời để năn nỉ ngươi tha mạng sao?
Hoặc nó sẽ nói những lời nhỏ nhẹ với ngươi sao?
4. Nó sẽ chịu lập với ngươi một giao kèo sao?
Hoặc nó sẽ bằng lòng làm nô lệ cho ngươi mãi mãi sao?
5. Ngươi có thể chơi với nó như chơi với chim kiểng sao?
Hoặc có thể cột nó vào dây để các con gái nhỏ của ngươi dắt nó dạo chơi sao?
6. Các thương gia sẽ trả giá để mua nó chăng?
Họ có thể xẻ thịt nó ra và phân phối cho các bạn hàng sao?
7. Ngươi có thể dùng lao đánh cá voi để đâm thủng da nó chăng?
Hoặc đâm thủng đầu nó bằng lao phóng cá chăng?
8. Nếu ngươi muốn tra tay trên mình nó, hãy nhớ lại lúc ngươi giao tranh ngoài trận mạc ra sao;
Chắc ngươi không bao giờ muốn làm như thế một lần nữa.
9. Kìa, cố gắng để bắt nó chỉ là chuyện hão;
Vì chỉ trông thấy nó người ta đã bủn rủn rụng rời.
10. Không ai đủ gan dạ để trêu chọc nó;
Thế thì ai có thể đứng nổi trước mặt Ta?
11. Ai đã cho Ta điều gì để Ta phải trả ơn cho kẻ ấy?
Tất cả những vật chi ở dưới trời thảy đều thuộc về Ta.
12. Ta không thể không nói về các phần cơ thể của nó,
Hay nói về sức lực hoặc thân hình cân đối đẹp đẽ của nó.
13. Ai dám lột da nó?
Ai dám gắn cương vào giữa hai hàm răng nó chăng?
14. Ai dám vạch miệng nó?
Hai hàm răng nó thật là kinh khủng.
15. Lớp vảy của nó là cái khiên che lưng nó;
Chúng gắn chặt với nhau như được niêm lại kỹ càng.
16. Chiếc vảy nầy gồi đầu trên chiếc vảy khác;
Chúng khít khao đến nỗi gió không thể lọt vào.
17. Chúng kết lại với nhau,
Chúng gắn chặt với nhau và không thể bị tách rời.
18. Nó nhảy mũi làm bắn ra tia sáng;
Mắt nó trông như mí mắt của hừng đông.
19. Từ miệng nó phun ra tia lửa;
Các đốm lửa trong mồm nó cứ liên tục bắn ra.
20. Khói từ các lỗ mũi nó bay ra nghi ngút;
Như khói bay lên khi đun nước bằng các sậy lau.
21. Hơi thở của nó khiến các than đen phực cháy;
Những ngọn lửa hừng từ miệng nó phun ra.
22. Trong cổ nó chứa ngầm sức mạnh;
Trước mặt nó muôn vật quýnh quáng vì kinh hoàng.
23. Các thớ thịt của nó dính chặt với nhau,
Chúng rắn chắc, không thể nào tách rời ra được.
24. Tim nó cứng như đá,
Cứng như thớt dưới của cối xay.
25. Khi nó đứng dậy, các dũng sĩ đều kinh hồn táng đởm;
Nghe tiếng các vật bị nó làm cho gãy đổ, họ kinh hãi rụng rời.
26. Dù gươm đao đâm chém nó, nó chẳng hề hấn gì;
Dù giáo, phi tiêu, và lao phóng vào nó, nó vẫn không sao.
27. Nó xem sắt chẳng khác gì rơm rạ,
Nó coi đồng như gỗ mục.
28. Các tên đạn không làm nó chạy trốn,
Ðá bắn ra từ các trành đối với nó như rơm rác.
29. Các dùi côn nó xem như các cọng rạ,
Nó nhạo cười trước tiếng rít của các ngọn lao.
30. Vảy dưới bụng nó bén như các mảnh sành sắc bén;
Nơi nào đó đi qua đất bị xẻ như các luống cày.
31. Nó khuấy động biển sâu dậy lên như một nồi nước sôi sục;
Nó xem đại dương như thể một lọ dầu.
32. Nó lội qua và để lại phía sau một lằn nước lấp lánh;
Làm người ta tưởng biển sâu giờ đã bạc tóc rồi.
33. Trên mặt đất chẳng có con thú nào như nó;
Một sinh vật được dựng nên không biết sợ hãi gì.
34. Nó nhìn xem các con thú cao to mạnh mẽ;
Nó là vua của mọi thú dữ hung tàn.

Tài Liệu