Nê-hê-mi: Chương 12

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB16C012)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch Đại Chúng

Danh Sách Các Thầy Tế Lễ Và Người Lê-vi

Đây là những thầy tế lễ và những người Lê-vi đã trở về cùng với Xô-rô-ba-bên, con trai của Sa-anh-thi-ên, và với Giê-sua: Sê-ra-gia, Giê-rê-mi, E-xơ-ra, A-ma-ria, Ma-lúc, Ha-túc, Sê-ca-nia, Rê-hum, Mê-rê-mốt, Y-đô, Ghi-nê-thôi, A-bi-gia, Mi-gia-min, Ma-a-đia, Binh-ga, Sê-ma-gia, Giô-gia-ríp, Giê-đa-gia, Sa-lu, A-móc, Hinh-kia và Giê-đa-gia. Đó là những người đứng đầu các thầy tế lễ và những anh em của họ trong thời của Giê-sua.

Thêm vào đó, có những người Lê-vi là Giê-sua, Bin-nui, Cát-mi-ên, Sê-rê-bia, Giu-đa và Mát-ta-nia, cùng với những anh em của mình, hướng dẫn các hát cảm tạ. Bác-bu-kia và U-ni, cùng với những anh em của họ, đứng đối diện với họ trong lúc hành lễ.

Giê-sua sinh Giô-gia-kim; Giô-gia-kim sinh Ê-li-a-síp; Ê-li-a-síp sinh Giô-gia-đa; Giô-gia-đa sinh Giô-na-than, và Giô-na-than sinh Gia-đua.

Đây là các trưởng tộc của những thầy tế lễ trong thời của Giô-gia-kim: về họ Sê-rê-gia có Mê-ra-gia; về họ Giê-rê-mi có Ha-na-nia; về họ E-xơ-ra có Mê-su-lam; về họ A-ma-ria có Giô-ha-nan; về họ Mê-lu-ki có Giô-na-than; về họ Sê-ba-nia có Giô-sép; về họ Ha-rim có Át-na; về họ Mê-ra-giốt có Hên-cai; về họ Y-đô có Xa-cha-ri; về họ Ghi-nê-thôn, có Mê-su-lam; về họ A-bi-gia có Xiếc-ri; về họ Min-gia-min; về họ Mô-a-đia có Phinh-tai; về họ Binh-ga có Sa-mua; về họ Sê-ma-gia có Giô-na-than; về họ Giô-gia-ríp có Mát-tê-nai; về họ Giê-đa-gia có U-xi; về họ Sa-lai có Ca-lai; về họ A-móc có Ê-be; về họ Hinh-kia có Ha-sa-bia; về họ Giê-đa-gia có Nê-tha-nê-ên.

Vào thời Đa-ri-út trị vì Ba Tư, có một danh sách được lưu giữ ghi tên các trưởng tộc của những người Lê-vi và các thầy tế lễ trong thời Ê-li-a-síp, Giô-gia-đa, Giô-ha-nan và Gia-đua. Về con cháu Lê-vi, các trưởng tộc của những gia tộc được ghi vào sách sử ký cho đến đời Giô-ha-nan, con của Ê-li-a-síp.

Các trưởng tộc của người Lê-vi gồm có: Ha-sa-bia, Sê-rê-bia và Giê-sua, con trai của Cát-mi-ên, và các anh em của họ, đứng đối diện với họ, để ca ngợi và cảm tạ, luân phiên từng nhóm, theo quy định của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời.

Mát-ta-nia, Bác-bu-kia, Ô-ba-đia, Mê-su-lam, Tanh-môn và A-cúp là những người gác cổng, canh giữ những kho tại các cổng. Những người nầy sống trong thời Giô-gia-kim, con trai của Giê-sua, cháu Giô-xa-đác, và vào thời Nê-hê-mi làm tổng trấn và E-xơ-ra làm thầy tế lễ và học giả về giáo luật.

Lễ Cung Hiến Tường Thành Giê-ru-sa-lem

Vào dịp lễ cung hiến tường thành Giê-ru-sa-lem, họ cho tìm những người Lê-vi ở khắp nơi, đưa những người đó về Giê-ru-sa-lem dự lễ cung hiến trong niềm hân hoan, vừa cảm tạ vừa ca hát, hòa với tiếng chập chõa, đàn hạc và những nhạc cụ bằng dây. Các con trai của các ca sĩ đều tụ họp lại từ những vùng quê quanh Giê-ru-sa-lem, từ các làng mạc của người Nê-tô-pha-tít, từ Bết Ghinh-ganh, từ đồng bằng Ghê-ba và Ách-ma-vết, bởi vì các ca sĩ đã xây những làng mạc cho mình chung quanh Giê-ru-sa-lem. Những thầy tế lễ và những người Lê-vi đã thanh tẩy chính mình, và thanh tẩy dân chúng, các cổng và tường thành.

Tôi đem những lãnh đạo của Giu-đa lên trên tường thành, và chỉ định hai ca đoàn tạ ơn thật lớn. Một ca đoàn đi trên vách thành theo hướng bên phải đến cổng Phân. Đi sau họ là Hô-sa-gia và phân nửa các nhà lãnh đạo của Giu-đa, cùng với A-xa-ria, E-xơ-ra, Mê-su-lam, Giu-đa, Bên-gia-min, Sê-ma-gia, Giê-rê-mi, và một số con trai của các thầy tế lễ thổi kèn là Xa-cha-ri, con trai của Giô-na-than, cháu của Sê-ma-gia, chắt của Mát-ta-nia, chít của Mi-chê; Mi-chê là con trai của Xác-cua, cháu của A-sáp, cùng các anh em của ông là Sê-ma-gia, A-xa-rên, Mi-la-lai, Ghi-la-lai, Ma-ai, Nê-tha-nê-ên, Giu-đa và Ha-na-ni, với những nhạc cụ của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời. Thầy thông giáo E-xơ-ra đi trước họ. Từ cổng Suối, ngay trước mặt, họ đi thẳng lên các bậc thang của thành Đa-vít, theo dốc tường thành đến phía trên đền Đa-vít, đến tận cổng Nước về hướng đông.

Ca đoàn tạ ơn thứ hai đi ngược hướng. Tôi đi phía sau họ cùng với phân nửa dân chúng trên tường thành, đi từ tháp Lò cho đến vách Rộng, và đi trên cổng Ép-ra-im, trên cổng Cũ, trên cổng Cá, tháp Ha-na-nê-ên, và tháp Mê-a, đến tận cổng Chiên. Rồi họ dừng lại tại cổng Phòng Vệ.

Hai ca đoàn tạ ơn đã dừng lại trong đền của Đức Chúa Trời, tôi và phân nửa các viên chức với tôi, và thầy tế lễ Ê-lê-a-kim, Ma-a-xê-gia, Min-gia-min, Mi-chê, Ê-li-ô-ê-nai, Xa-cha-ri và Ha-na-nia, mang theo kèn; và Ma-a-xê-gia, Sê-ma-gia, Ê-lê-a-xa, U-xi, Giô-ha-nan, Manh-ki-gia, Ê-lam và Ê-xe. Các ca sĩ đã hát với Dít-ra-bia, là người lãnh đạo của họ. Họ dâng những tế lễ trọng thể và tràn ngập niềm vui, bởi vì Đức Chúa Trời đã khiến lòng họ vui mừng hoan hỉ. Những phụ nữ và các trẻ em cũng vui mừng nữa. Sự vui mừng của Giê-ru-sa-lem nghe được rất xa.

Cùng lúc đó, một số người đã được chỉ định để trông coi các phòng của nhà kho dùng để chứa những lễ vật, sản vật đầu mùa, và những phần mười, thu từ những cánh đồng chung quanh các thành, những phần mà luật pháp đã quy định dành cho các thầy tế lễ và những người Lê-vi, bởi vì dân Giu-đa hài lòng về sự phục vụ của những thầy tế lễ và người Lê-vi. Các ca sĩ và những người giữ cổng chịu trách nhiệm với Đức Chúa Trời và chịu trách nhiệm thanh tẩy theo lệnh của Đa-vít và của Sa-lô-môn, con trai ông. Bởi vì ngày xưa, vào thời Đa-vít và A-sáp, đã có những người lãnh đạo các ca sĩ, và soạn những bài ca ngợi, cảm tạ Đức Chúa Trời. Trong thời Xô-rô-ba-bên và trong thời Nê-hê-mi, tất cả dân Y-sơ-ra-ên đều cung cấp khẩu phần hằng ngày cho các ca sĩ và những người gác cổng. Họ cũng dâng hiến cho người Lê-vi, và người Lê-vi dâng hiến cho con cháu A-rôn.

Bản Dịch Việt Ngữ

Danh Sách Các Thầy Tế Lễ Và Người Lê-vi

1. Đây là những thầy tế lễ và những người Lê-vi đã trở về cùng với Xô-rô-ba-bên, con trai của Sa-anh-thi-ên, và với Giê-sua: Sê-ra-gia, Giê-rê-mi, E-xơ-ra, 2. A-ma-ria, Ma-lúc, Ha-túc, 3. Sê-ca-nia, Rê-hum, Mê-rê-mốt, 4. Y-đô, Ghi-nê-thôi, A-bi-gia, 5. Mi-gia-min, Ma-a-đia, Binh-ga, 6. Sê-ma-gia, Giô-gia-ríp, Giê-đa-gia, 7. Sa-lu, A-móc, Hinh-kia và Giê-đa-gia. Đó là những người đứng đầu các thầy tế lễ và những anh em của họ trong thời của Giê-sua.

8. Thêm vào đó, có những người Lê-vi là Giê-sua, Bin-nui, Cát-mi-ên, Sê-rê-bia, Giu-đa và Mát-ta-nia, cùng với những anh em của mình, hướng dẫn các hát cảm tạ. 9. Bác-bu-kia và U-ni, cùng với những anh em của họ, đứng đối diện với họ trong lúc hành lễ.

10. Giê-sua sinh Giô-gia-kim; Giô-gia-kim sinh Ê-li-a-síp; Ê-li-a-síp sinh Giô-gia-đa; 11. Giô-gia-đa sinh Giô-na-than, và Giô-na-than sinh Gia-đua.

12. Đây là các trưởng tộc của những thầy tế lễ trong thời của Giô-gia-kim: gia tộc Sê-rê-gia: Mê-ra-gia; gia tộc Giê-rê-mi: Ha-na-nia; 13. gia tộc E-xơ-ra: Mê-su-lam; gia tộc A-ma-ria: Giô-ha-nan; 14. gia tộc Mê-lu-ki: Giô-na-than; 15. gia tộc Sê-ba-nia: Giô-sép; gia tộc Ha-rim: Át-na; gia tộc Mê-ra-giốt: Hên-cai; 16. gia tộc Y-đô: Xa-cha-ri; gia tộc Ghi-nê-thôn: Mê-su-lam; 17. gia tộc A-bi-gia: Xiếc-ri; gia tộc Min-gia-min; gia tộc Mô-a-đia: Phinh-tai; 18. gia tộc Binh-ga: Sa-mua; gia tộc Sê-ma-gia: Giô-na-than; 19. gia tộc Giô-gia-ríp: Mát-tê-nai; gia tộc Giê-đa-gia: U-xi; 20. gia tộc Sa-lai: Ca-lai; gia tộc A-móc: Ê-be; 21. gia tộc Hinh-kia: Ha-sa-bia; gia tộc Giê-đa-gia: Nê-tha-nê-ên.

22. Vào thời Đa-ri-út trị vì Ba Tư, có một danh sách được lưu giữ ghi tên các trưởng tộc của những người Lê-vi và các thầy tế lễ trong thời Ê-li-a-síp, Giô-gia-đa, Giô-ha-nan và Gia-đua.

23. Về con cháu Lê-vi, các trưởng tộc của những gia tộc được ghi vào sách sử ký cho đến đời Giô-ha-nan, con của Ê-li-a-síp.

24. Các trưởng tộc của người Lê-vi gồm có: Ha-sa-bia, Sê-rê-bia và Giê-sua, con trai của Cát-mi-ên, và các anh em của họ, đứng đối diện với họ, để ca ngợi và cảm tạ, luân phiên từng nhóm, theo quy định của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời.

25. Mát-ta-nia, Bác-bu-kia, Ô-ba-đia, Mê-su-lam, Tanh-môn và A-cúp là những người gác cổng, canh giữ những kho tại các cổng. 26. Những người nầy sống trong thời Giô-gia-kim, con trai của Giê-sua, cháu Giô-xa-đác, và vào thời Nê-hê-mi làm tổng trấn và E-xơ-ra làm thầy tế lễ và học giả về giáo luật.

Lễ Cung Hiến Tường Thành Giê-ru-sa-lem

27. Vào dịp lễ cung hiến tường thành Giê-ru-sa-lem, họ cho tìm những người Lê-vi ở khắp nơi, đưa những người đó về Giê-ru-sa-lem dự lễ cung hiến trong niềm hân hoan, vừa cảm tạ vừa ca hát, hòa với tiếng chập chõa, đàn hạc và những nhạc cụ bằng dây. 28. Các con trai của các ca sĩ đều tụ họp lại từ những vùng quê quanh Giê-ru-sa-lem, từ các làng mạc của người Nê-tô-pha-tít, 29. từ Bết Ghinh-ganh, từ đồng bằng Ghê-ba và Ách-ma-vết, bởi vì các ca sĩ đã xây những làng mạc cho mình chung quanh Giê-ru-sa-lem. 30. Những thầy tế lễ và những người Lê-vi đã thanh tẩy chính mình, và thanh tẩy dân chúng, các cổng và tường thành.

31. Tôi đem những lãnh đạo của Giu-đa lên trên tường thành, và chỉ định hai ca đoàn tạ ơn thật lớn. Một ca đoàn đi trên vách thành theo hướng bên phải đến cổng Phân. 32. Đi sau họ là Hô-sa-gia và phân nửa các nhà lãnh đạo của Giu-đa 33. cùng với A-xa-ria, E-xơ-ra, Mê-su-lam, 34. Giu-đa, Bên-gia-min, Sê-ma-gia, Giê-rê-mi, 35. và một số con trai của các thầy tế lễ thổi kèn là Xa-cha-ri, con trai của Giô-na-than, cháu của Sê-ma-gia, chắt của Mát-ta-nia, chít của Mi-chê; Mi-chê là con trai của Xác-cua, cháu của A-sáp 36. cùng các anh em của ông là Sê-ma-gia, A-xa-rên, Mi-la-lai, Ghi-la-lai, Ma-ai, Nê-tha-nê-ên, Giu-đa và Ha-na-ni, với những nhạc cụ của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời. Thầy thông giáo E-xơ-ra đi trước họ. 37. Từ cổng Suối, ngay trước mặt, họ đi thẳng lên các bậc thang của thành Đa-vít, theo dốc tường thành đến phía trên đền Đa-vít, đến tận cổng Nước về hướng đông.

38. Ca đoàn tạ ơn thứ hai đi ngược hướng. Tôi đi phía sau họ cùng với phân nửa dân chúng trên tường thành, đi từ tháp Lò cho đến vách Rộng, 39. và đi trên cổng Ép-ra-im, trên cổng Cũ, trên cổng Cá, tháp Ha-na-nê-ên, và tháp Mê-a, đến tận cổng Chiên. Rồi họ dừng lại tại cổng Phòng Vệ.

40. Hai ca đoàn tạ ơn đã dừng lại trong đền của Đức Chúa Trời, tôi và phân nửa các viên chức với tôi, 41. và thầy tế lễ Ê-lê-a-kim, Ma-a-xê-gia, Min-gia-min, Mi-chê, Ê-li-ô-ê-nai, Xa-cha-ri và Ha-na-nia, mang theo kèn; 42. và Ma-a-xê-gia, Sê-ma-gia, Ê-lê-a-xa, U-xi, Giô-ha-nan, Manh-ki-gia, Ê-lam và Ê-xe. Các ca sĩ đã hát với Dít-ra-bia, là người lãnh đạo của họ. 43. Họ dâng những tế lễ trọng thể và tràn ngập niềm vui, bởi vì Đức Chúa Trời đã khiến lòng họ vui mừng hoan hỉ. Những phụ nữ và các trẻ em cũng vui mừng nữa. Sự vui mừng của Giê-ru-sa-lem nghe được rất xa.

44. Cùng lúc đó, một số người đã được chỉ định để trông coi các phòng của nhà kho dùng để chứa những lễ vật, sản vật đầu mùa, và những phần mười, thu từ những cánh đồng chung quanh các thành, những phần mà luật pháp đã quy định dành cho các thầy tế lễ và những người Lê-vi, bởi vì dân Giu-đa hài lòng về sự phục vụ của những thầy tế lễ và người Lê-vi. 45. Các ca sĩ và những người giữ cổng chịu trách nhiệm với Đức Chúa Trời và chịu trách nhiệm thanh tẩy theo lệnh của Đa-vít và của Sa-lô-môn, con trai ông. 46. Bởi vì ngày xưa, vào thời Đa-vít và A-sáp, đã có những người lãnh đạo các ca sĩ, và soạn những bài ca ngợi, cảm tạ Đức Chúa Trời. 47. Trong thời Xô-rô-ba-bên và trong thời Nê-hê-mi, tất cả dân Y-sơ-ra-ên đều cung cấp khẩu phần hằng ngày cho các ca sĩ và những người gác cổng. Họ cũng dâng hiến cho người Lê-vi, và người Lê-vi dâng hiến cho con cháu A-rôn.

Bản Dịch 1925

1. Đây là những thầy tế lễ và người Lê-vi, theo Xô-rô-ba-bên, con trai của Sa-la-thi-ên, và Giê-sua, mà đi lên: Sê-ra-gia, Giê-rê-mi, E-sơ-ra, 2. A-ma-ria, Ma-lúc, Ha-túc, 3. Sê-ca-nia, Rê-hum, Mê-rê-mốt, 4. Y-đô, Ghi-nê-thôi, A-bi-gia, 5. Mi-gia-min, Ma-a-đia, Binh-ga, 6. Sê-ma-gia, Giô-gia-ríp, Giê-đa-gia, 7. Sa-lu, A-móc, Hinh-kia, và Giê-đa-gia. Đó là quan trưởng của những thầy tế lễ và anh em của họ trong đời Giê-sua.

8. Những người Lê-vi là: Giê-sua, Bin-nui, Cát-mê-ên, Sê-rê-bia, Giu-đa, và Mát-tai-nia, là người với anh em mình coi sóc việc hát khen ngợi. 9. Lại có Bác-bu-kia, U-ni, cùng các anh em mình; họ thay đổi phiên nhau trong công việc mình.

10. Giê-sua sanh Giô-gia-kim; Giô-gia-kim sanh Ê-li-a-síp; Ê-li-a-síp sanh Giô-gia-đa; 11. Giô-gia-đa sanh Giô-na-than, Giô-na-than sanh Gia-đua.

12. Nầy là trưởng tộc của những thầy tế lễ, trong đời Giô-gia-kim: về họ Sê-ra-gia, Mê-ra-gia; về họ Giê-rê-mi, Ha-na-nia; 13. về họ E-xơ-ra, Mê-su-lam; về họ A-ma-ria, Giô-ha-nan; 14. về họ Mê-lu-ki, Giô-na-than; 15. về họ Sê-ba-nia, Giô-sép; về họ Ha-rim, Át-na; về họ Mê-ra-giốt; Hên-cai; 16. ve họ Y-đô, Xa-cha-ri; về họ Ghi-nê-thôn, mê-su-lam; 17. về họ A-bi-gia, Xiếc-ri; về họ Min-gia-min và Mô-đa-đia, Phinh-tai; 18. về họ Binh-ga, Sa-mua; về họ Sê-ma-gia, Giô-na-than; 19. về họ Giô-gia-ríp, Mát-tê-nai; về họ Giê-đa-gia, U-xi; 20. về họ Sa-lai, Ca-lai; về họ A-móc, Ê-be; 21. về họ Hinh-kia Ha-sa-bia; về họ Giê-đa-gia, Nê-tha-nê-ên.

22. Về người Lê-vi, các trưởng tộc của họ đã biên tên vào sổ trong đời của Ê-li-a-síp, Giô-gia-đa, Giô-ha-nan, và Gia-đua; còn những thầy tế lễ, thì biên tên vào sổ trong đời Đa-ri-út, nước Phe-rơ-sơ.

23. Các trưởng tộc của người Lê-vi có ghi tên vào sách sử ký cho đến đời Giô-ha-nan, con trai của Ê-li-a-síp. 24. Các trưởng tộc của người Lê-vi: Ha-sa-bia, Sê-rê-bia, và Giê-sua, con trai của Cát-mi-ên, và các anh em người ứng đối nhau, từng ban từng thứ, đặng ngợi khen và cảm tạ, tùy theo lịnh của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời.

25. Mát-ta-nia, Bác-bu-kia, Ô-ba-đia, Mê-su-lam, Tanh-môn và A-cúp, là kẻ canh giữ cửa, giữ các kho bên cửa thành. 26. Các người này ở về đời Giô-gia-kim, con trai của Giê-sua, cháu Giô-xa-đác, về đời Nê-hê-mi, quan tổng trấn, và về đời E-xơ-ra, làm thầy tế lễ và văn sĩ.

27. Khi khánh thành các vách thành Giê-ru-sa-lem, thì người ta sai gọi các người Lê-vi ở khắp mọi nơi, đặng đem chúng về Giê-ru-sa-lem, để dự lễ khánh thành cách vui vẻ, có tiếng khen ngợi và ca hát theo chập chỏa, đàn cầm, và đàn sắt. 28. Các người ca hát đều hiệp lại, từ đồng bằng xung quanh Giê-ru-sa-lem, các làng người Nê-tô-pha-tít; 29. lại từ Bết-ghinh-ganh, từ đồng bằng Ghê-ba và Ách-ma-vết; vì những người ca hát đã xây cho mình các làng ở chung quanh thành Giê-ru-sa-lem. 30. Những thầy tế lễ và người Lê-vi dọn mình cho thánh sạch, cũng dọn cho thánh sạch dân sự, các cửa và vách thành.

31. Bấy giờ, tôi biểu các quan trưởng Giu-đa lên trên vách thành, rồi phân làm hai tốp lớn kéo nhau đi để cảm tạ; một tốp đi về phía hữu trên vách thành, tới cửa Phân. 32. Sau chúng có Hô-sa-gia, và phân nửa số các quan trưởng Giu-đa, 33. cùng A-xa-ria, E-xơ-ra, Mê-su-lam, Giu-đa, Bên-gia-min, 34. Sê-ma-gia, Giê-rê-mi, 35. và mấy con trai của những thầy tế lễ cầm kèn: Xa-cha-ri, con trai của Giô-na-than, cháu của Sê-ma-gia, chắt của Mát-ta-nia, chít của Mi-chê; Mi-chê là con trai của Xác-cua, cháu của A-sáp, 36. cùng các anh em người, là Sê-ma-gia, A-xa-rên, Mi-la-lai, Ghi-la-lai, Ma-ai, Nê-tha-nê-ên, Giu-đa, và Ha-na-ni, cầm những nhạc khí của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời; và E-xơ-ra, người văn sĩ, đi ở đằng trước chúng. 37. Từ cửa Suối, ở ngay mặt, chúng đi thẳng lên các nấc thành Đa-vít, tại nơi đốc vách thành ở trên đền Đa-vít, và đến cửa Nước về phía đông. 38. Còn tốp cảm tạ thứ nhì đi trên vách thành đối ngang lại với tốp thứ nhất, còn tôi đi ở sau họ với phân nửa dân sự, từ tháp các Lò cho đến vách rộng, 39. đi qua trên cửa Ép-ra-im, gần bên cửa Cũ, cửa Cá, tháp Ha-na-nê-ên, và tháp Mê-a, đến cửa Chiên. Chúng dừng lại tại cửa Ngục. 40. Đoạn, hai tốp cảm tạ dừng lại trong đền Đức Chúa Trời, tôi và phân nửa quan trưởng theo tôi cũng làm vậy, 41. và những thầy tế lễ cầm kèn, là Ê-li-a-kim, Ma-a-sê-gia, Min-gia-min, Mi-chê, Ê-li-ô-ê-nai, Xa-cha-ri, và Ha-na-nia; 42. lại có Ma-a-sê-gia, Sê-ma-gia, Ê-lê-a-xa, U-xi, Giô-ha-nan, Manh-ki-gia, Ê-lam, và Ê-xe. Những kẻ ca hát tiếng lớn, có Dít-ra-hia dẫn dắt. 43. Trong ngày đó, chúng dâng những của lễ trọng thể và vui vẻ; vì Đức Chúa Trời đã khiến cho chúng vui mừng khắp khởi; các người đàn bà và con trẻ cũng vui mừng nữa; sự vui mừng của thành Giê-ru-sa-lem vang ra rất xa.

44. Trong ngày đó, người ta lập kẻ coi sóc các phòng kho tàng về của lễ dâng giơ lên, về của đầu mùa, về thuế một phần mười, đặng thâu vào nó, tùy theo đồng của các thành, phần của những thầy tế lễ và người Lê-vi, mà luật pháp đã chỉ định; vì Giu-đa vui mừng nhân những thầy tế lễ và người Lê-vi đứng hầu việc. 45. Chúng luôn với những kẻ ca hát và kẻ giữ cửa đều giữ trách nhiệm của Đức Chúa Trời, và việc dọn mình thánh sạch, tùy theo mạng lịnh của Đa-vít và Sa-lô-môn, con trai người. 46. Vì ngày xưa, về đời Đa-vít và A-sáp, có những quan trưởng coi sóc những kẻ ca hát, và có bài hát khen ngợi cảm tạ Đức Chúa Trời. 47. Trong đời Xô-rô-ba-bên và Nê-hê-mi, cả Y-sơ-ra-ên đều cấp phần cho kẻ ca hát và người canh giữ cửa, ngày nào cần dùng theo ngày nấy; cũng để riêng phần của người Lê-vi, và người Lê-vi để riêng phần của con cháu A-rôn.

Bản Dịch 2011

Danh Sách Các Tư Tế và Những Người Lê-vi

1 Sau đây là các tư tế và những người Lê-vi đã hồi hương với Xê-ru-ba-bên con của Sê-anh-ti-ên và với Giê-sua:

Sê-ra-gia, Giê-rê-mi, Ê-xơ-ra, 2 A-ma-ri-a, Manh-lúc, Hát-túc, 3 Sê-ca-ni-a, Rê-hum, Mê-rê-mốt, 4 I-đô, Ghin-nê-thôi, A-bi-gia, 5 Mi-gia-min, Ma-a-đi-a, Bin-ga, 6 Sê-ma-gia, Giô-gia-ríp, Giê-đa-gia, 7 Sanh-lu, A-mốc, Hinh-ki-a, Giê-đa-gia. Ðó là những người lãnh đạo các tư tế và những người cộng sự của họ trong thời của Giê-sua.

8 Về những người Lê-vi có Giê-sua, Bin-nui, Cát-mi-ên, Sê-rê-bi-a, Giu-đa, và Mát-ta-ni-a. Mát-ta-ni-a là người lãnh đạo những người cộng tác với ông trong việc ca ngợi thờ phượng. 9 Bác-bu-ki-a và Un-nô cùng những người bà con dòng họ của họ đứng đối diện nhau trong khi hành lễ.

10 Giê-sua sinh Giô-gia-kim. Giô-gia-kim sinh Ê-li-a-síp. Ê-li-a-síp sinh Giô-gia-đa. 11 Giô-gia-đa sinh Giô-na-than. Giô-na-than sinh Gia-đua.

12 Trong thời của Giô-gia-kim, các tư tế sau đây là trưởng tộc trong gia tộc của họ: gia tộc Sê-ra-gia, Mê-ra-gia; gia tộc Giê-rê-ni-a, Ha-na-ni-a; 13 gia tộc Ê-xơ-ra, Mê-su-lam; gia tộc A-ma-ri-a, Giê-hô-ha-nan; 14 gia tộc Manh-lu-ki, Giô-na-than; gia tộc Sê-ba-ni-a, Giô-sép; 15 gia tộc Ha-rim, Át-na; gia tộc Mê-ra-giốt, Hên-cai; 16 gia tộc I-đô, Xa-cha-ri; gia tộc Ghin-nê-thôn, Mê-su-lam; 17 gia tộc A-bi-gia, Xích-ri; gia tộc Mi-ni-a-min và gia tộc Mô-a-đi-a, Pin-tai; 18 gia tộc Bin-ga, Sam-mua; gia tộc Sê-ma-gia, Giê-hô-na-than; 19 gia tộc Giô-gia-ríp, Mát-tê-nai; gia tộc Giê-đa-gia, U-xi; 20 gia tộc Sanh-lai, Canh-lai; gia tộc A-mốc, Ê-be; 21 gia tộc Hinh-ki-a, Ha-sa-bi-a; gia tộc Giê-đa-gia, Nê-tha-nên.

22 Về những người Lê-vi, trong thời của Ê-li-a-síp, Giô-gia-đa, Giô-ha-nan, và Gia-đua, người ta ghi vào sổ bộ những người trưởng tộc của gia tộc họ. Các tư tế cũng được ghi tên vào sổ bộ cho đến triều đại của Ða-ri-út người Ba-tư.

23 Về con cháu của Lê-vi, các trưởng tộc của gia tộc của họ được ghi tên vào Sách Sử Ký cho đến thời của Giô-ha-nan con của Ê-li-a-síp. 24 Những người lãnh đạo của người Lê-vi gồm có: Ha-sa-bi-a, Sê-rê-bi-a, và Giê-sua con của Cát-mi-ên, cùng với những người bà con dòng họ của họ đứng đối diện với họ để ca ngợi và dâng lời tạ ơn theo như lịnh của Ða-vít, người của Ðức Chúa Trời. Họ chia ra thành bè đứng ca hát đối đáp với nhau.

25 Mát-ta-ni-a, Bạc-bu-ki-a, Ô-ba-đi-a, Mê-su-lam, Tanh-môn, và Ạc-cúp là những người giữ cửa; họ đứng gác ở các nhà kho gần các cổng. 26 Những người ấy phục vụ trong thời của Giô-gia-kim con của Giê-sua, con của Giô-xa-đác, và trong thời của Nê-hê-mi làm tổng trấn và Tư Tế Ê-xơ-ra làm giáo sư kinh luật.

Lễ Khánh Thành Tường Thành Giê-ru-sa-lem

27 Khi ấy có lễ khánh thành bức tường bao quanh Thành Giê-ru-sa-lem. Người ta tìm những người Lê-vi khắp nơi họ ở, đưa họ về Giê-ru-sa-lem để tổ chức lễ khánh thành, hầu mừng tường thành đã được xây lại xong. Người ta tổ chức những chương trình tạ ơn có ca hát, phối hợp với các khánh chiêng, các hạc cầm, và các đàn lia. 28 Con cháu của những người ca hát từ các miền phụ cận Giê-ru-sa-lem và từ các làng của người Nê-tô-pha tập họp về. 29 Họ cũng từ Bết Ghinh-ganh, từ những cánh đồng ở Ghê-ba và A-ma-vét kéo đến, vì những người ca hát đã thành lập các làng của họ quanh Giê-ru-sa-lem. 30 Khi ấy các tư tế và những người Lê-vi đã thanh tẩy chính họ, sau đó họ thanh tẩy dân chúng, các cổng thành, và tường thành.

31 Tôi đưa những người lãnh đạo của Giu-đa lên tường thành và tổ chức hai đại ca đoàn để rước lễ tạ ơn. Một đại ca đoàn đi trên tường thành tiến về hướng nam, tức về phía Cổng Phân. 32 Ði theo đại ca đoàn đó có Hô-sai-a và phân nửa những người lãnh đạo Giu-đa, 33 cùng với A-xa-ri-a, Ê-xơ-ra, Mê-su-lam, 34 Giu-đa, Bên-gia-min, Sê-ma-gia, và Giê-rê-mi. 35 Tháp tùng có ban kèn của các tư tế, cũng có Xa-cha-ri-a con của Giô-na-than, con của Sê-ma-gia, con của Mát-ta-ni-a, con của Mi-cai-a, con của Xác-cua, con của A-sáp, 36 cùng với những người bà con dòng họ của ông ấy là Sê-ma-gia, A-xa-rên, Mi-la-lai, Ghi-la-lai, Ma-ai, Nê-tha-nên, Giu-đa, và Ha-na-ni sử dụng các nhạc khí của Ða-vít, người của Ðức Chúa Trời. Họ có Ê-xơ-ra giáo sư kinh luật dẫn đầu. 37 Khi đến Cổng Suối Nước, họ tiến thẳng về phía trước, đi lên các bậc thềm của Thành Ða-vít, và tiến lên đầu tường. Họ tiếp tục đi trên tường thành phía sau cung Vua Ða-vít và tiến về Cổng Nước ở hướng đông.

38 Còn đại ca đoàn kia thì đi ngược hướng với họ. Tôi dẫn phân nửa những người còn lại đi theo sau họ trên tường thành, tiến qua Tháp Các Lò, đến chỗ Tường Rộng, 39 qua Cổng Ép-ra-im, qua Cổng Cũ, qua Cổng Cá, qua Tháp Ha-na-nên, qua Tháp Một Trăm, đến Cổng Chiên, và họ dừng lại ở Cổng Lính Canh.

40 Kế đến hai đoàn trỗi tiếng cảm tạ và cùng tiến vào khu Ðền Thờ Ðức Chúa Trời. Tôi và phân nửa những người lãnh đạo đi với tôi cũng làm như vậy; 41 chúng tôi đi với các vị tư tế: Ê-li-a-kim, Ma-a-sê-a, Mi-ni-a-min, Mi-cai-a, Ê-li-ô-ê-nai, Xa-cha-ri-a, và Ha-na-ni-a, những người sử dụng kèn, 42 và quý ông Ma-a-sê-gia, Sê-ma-gia, Ê-lê-a-xa, U-xi, Giê-hô-ha-nan, Manh-ki-gia, Ê-lam, và Ê-xe. Trong khi đó Giê-ra-hi-a hướng dẫn ca đoàn lớn tiếng ca hát vang lừng. 43 Ngày hôm đó họ dâng nhiều của lễ và rất đỗi vui mừng vì Ðức Chúa Trời đã ban cho họ một niềm vui lớn. Cả phụ nữ lẫn trẻ em đều cũng vui mừng hoan hỉ. Niềm vui của Giê-ru-sa-lem đã vang rộng khắp nơi.

Những Người Phục Vụ CHÚA Ðược Phụ Cấp

44 Ngày hôm đó một số người được lập làm những người quản lý các phòng dùng làm nhà kho để chứa các của dâng, các hoa lợi đầu mùa, và các của dâng một phần mười. Họ thâu nhận vào các phòng đó những phần được luật pháp quy định dành cho các tư tế và những người Lê-vi, tức những sản phẩm của các ruộng rẫy trực thuộc các thành, vì mọi người ở Giu-đa đều vui thỏa về sự phục vụ của các tư tế và những người Lê-vi. 45 Họ đã thi hành chức vụ Ðức Chúa Trời giao phó cho họ, và họ đã thi hành nghi thức thanh tẩy một cách tốt đẹp. Những người ca hát và những người giữ cửa cũng thi hành chức vụ rất hoàn hảo theo như lịnh của Ða-vít và của Sa-lô-môn con vua ấy. 46 Số là trong thời của Ða-vít và A-sáp rất lâu về trước, có người đã được lập làm người chỉ huy những người ca hát, và có những bài thánh ca đã được dùng để ca ngợi và tạ ơn Ðức Chúa Trời. 47 Trong thời của Xê-ru-ba-bên và trong thời của Nê-hê-mi, toàn dân I-sơ-ra-ên đã dành riêng những phần phụ cấp để chu cấp hằng ngày cho những người ca hát và những người giữ cửa. Họ biệt riêng phần của những người Lê-vi ra. Những người Lê-vi lại trích ra từ phần của họ để chia sẻ cho các con cháu của A-rôn.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành