Nê-hê-mi: Chương 11

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB16C011)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch Đại Chúng

Phân Bố Dân Cư Tại Giê-ru-sa-lem

Những lãnh đạo của dân chúng ở tại Giê-ru-sa-lem; và dân chúng còn lại đã bắt thăm để một phần mười ở tại Giê-ru-sa-lem, là thành thánh, còn chín phần mười thì ở trong các thành khác. Tất cả dân chúng chúc phước cho những người nào tình nguyện ở tại Giê-ru-sa-lem.

Như vậy những lãnh đạo của tỉnh sống tại Giê-ru-sa-lem, tuy nhiên dân Y-sơ-ra-ên, những thầy tế lễ, những người Lê-vi, những người phục vụ đền thờ, và dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn ở tại nơi sở hữu của họ trong các thành của Giu-đa.

Tại Giê-ru-sa-lem cũng có một số con cháu của Giu-đa và Bên-gia-min sinh sống.

Về con cháu của Giu-đa có A-tha-gia, con trai của U-xia, cháu của Xa-cha-ri, chắt của A-ma-ria, chít của Sê-pha-tia; Sê-pha-tia là con trai của Ma-ha-la-lên thuộc dòng dõi Pê-rết; và Ma-a-xê-gia, con trai của Ba-rúc, cháu của Côn Hô-xê, chắt của Ha-xa-gia, chít của A-đa-gia; A-đa-gia là con trai của Giô-gia-ríp, cháu của Xa-cha-ri, thuộc dòng dõi Si-lô-ni. Tất cả con cháu của Pê-rết ở tại Giê-ru-sa-lem là bốn trăm sáu mươi tám dũng sĩ.

Và đây là con cháu của Bên-gia-min: Sa-lu, con trai của Mê-su-lam, cháu của Giô-ết, chắt của Phê-đa-gia, chít của Cô-la-gia; Cô-la-gia là con trai của Ma-a-xê-gia, cháu của Y-thi-ên, chắt của Giê-sai. Theo sau ông có Gáp-bai và Sa-lai, cùng với chín trăm hai mươi tám người. Giô-ên, con trai của Xiếc-ri, là chỉ huy của họ, còn Giu-đa, con trai của Ha-sê-nua làm phó thị trưởng.

Về các thầy tế lễ có Giê-đa-gia là con trai của Giô-gia-ríp, Gia-kin, Sê-ra-gia là con trai của Hinh-kia, cháu của Mê-su-lam, chắt của Xa-đốc, chít của Mê-ra-giốt; Mê-ra-giốt, con trai của A-hi-túp, là quản lý đền của Đức Chúa Trời.


Các anh em của họ làm công việc trong đền thờ là tám trăm hai mươi hai người. Cũng có A-đa-gia, con trai của Giê-rô-ham, cháu của Phê-la-lia, chắt của Am-si, chít của Xa-cha-ri; Xa-cha-ri là con trai của Pha-su-rơ, cháu của Manh-ki-gia cùng các anh em của họ, những trưởng tộc trong dòng họ của họ, là hai trăm bốn mươi hai người; và A-mát-sai, con trai của A-xa-rên, cháu của Ạc-xai, chắt của Mê-si-lê-mốt, chít của Y-mê và các anh em của họ, là những dũng sĩ can đảm, là một trăm hai mươi tám người. Xáp-đi-ên, người chỉ huy của họ, là con trai của một nhân vật vĩ đại.

Về những người Lê-vi có Sê-ma-gia, con trai của Ha-súp, cháu của A-ri-kham, chắt của Ha-sa-bia, chít của Bun-ni. Trong các trưởng tộc Lê-vi có Sa-bê-thai và Giô-xa-bát được giao coi sóc công việc bên ngoài của đền Đức Chúa Trời. Mát-ta-nia, con trai của Mi-chê, cháu của Xáp-đi, chắt của A-sáp, làm trưởng ban hướng dẫn việc ca ngợi Chúa khi cầu nguyện; cũng có Bác-bu-kia là người thứ nhì trong anh em mình và Áp-đa, con trai của Sa-mua, cháu của Ga-la, chắt của Giê-đu-thun. Tất cả người Lê-vi ở trong thành thánh là hai trăm tám mươi bốn người.

Những người gác cổng có A-cúp, Tanh-môn, cùng với những anh em của họ - những người canh giữ các cổng - là một trăm bảy mươi hai người.

Những người còn lại trong dân Y-sơ-ra-ên, trong những thầy tế lễ và những người Lê-vi đều sống trong các thành của xứ Giu-đa, mỗi người ở trong sản nghiệp của mình. Tuy nhiên, những người phục vụ đền thờ ở tại Ô-phên; Xi-ha và Ghít-ba lãnh đạo những người phục vụ đền thờ.

Người giám sát những người Lê-vi tại Giê-ru-sa-lem là U-xi, con trai của Ba-ni, cháu của Ha-sa-bia, chắt của Mát-ta-nia, chít của Mi-chê, thuộc dòng dõi A-sáp là những ca sĩ, chịu trách nhiệm phục vụ trong đền của Đức Chúa Trời. Vì có lệnh của vua liên quan đến họ rằng phải chu cấp cho những ca sĩ mỗi ngày. Phê-tha-hia, con trai của Mê-sê-xa-bê-ên, thuộc dòng dõi Xê-ra là con trai của Giu-đa, là người đại diện của vua giải quyết một vấn đề của dân chúng.

Phân Bố Dân Cư Vùng Ngoại Ô Giê-ru-sa-lem

Còn về những làng mạc và ruộng đồng, một số người Giu-đa sống tại Ki-ri-át A-ra-ba và những làng mạc phụ cận, tại Đi-bôn và những làng mạc phụ cận, tại Giê-cáp-xê-ên và những làng mạc phụ cận, tại Giê-sua, Mô-la-đa, Bết Phê-lết, Hát-sa Su-anh, Bê-e Sê-ba và trong những làng mạc phụ cận, tại Xiếc-lác, Mê-cô-na và những làng mạc phụ cận, tại Ên-rim-môn, Xô-ra, Giạt-mút, tại Xa-nô-a, A-đu-lam và những làng mạc phụ cận; tại La-ki và những đồng ruộng phụ cận, và tại A-xê-ca và những làng mạc phụ cận. Như vậy, họ định cư từ Bê-e Sê-ba cho đến thung lũng Hin-nôm.

Người Bên-gia-min cũng sống từ Ghê-ba cho đến Mích-ma, A-gia, Bê-tên và những làng mạc của nó, và tại A-na-tốt, Nốp, A-na-nia, Hát-so, Ra-ma, Ghi-tha-im. Ha-đít, Sê-bô-im, Nê-ba-lát, Lót và Ô-nô tức là thung lũng của những thợ thủ công. Và một số người Lê-vi được phân bố cho Giu-đa đã đến sống với người Bên-gia-min.

Bản Dịch Việt Ngữ

Phân Bố Dân Cư Tại Giê-ru-sa-lem

1. Những lãnh đạo của dân chúng ở tại Giê-ru-sa-lem, và dân chúng còn lại đã bắt thăm để một phần mười ở tại Giê-ru-sa-lem, là thành thánh, còn chín phần mười thì ở trong các thành khác. 2. Tất cả dân chúng chúc phước cho những người nào tình nguyện ở tại Giê-ru-sa-lem.

3. Như vậy, những lãnh đạo của tỉnh sống tại Giê-ru-sa-lem, nhưng dân Y-sơ-ra-ên, những thầy tế lễ, những người Lê-vi, những người phục vụ đền thờ, và dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn ở tại nơi sở hữu của họ trong các thành của Giu-đa.

4. Tại Giê-ru-sa-lem cũng có một số con cháu của Giu-đa và Bên-gia-min sinh sống.

Con cháu của Giu-đa: A-tha-gia, con trai của U-xia, cháu của Xa-cha-ri, chắt của A-ma-ria, chít của Sê-pha-tia; Sê-pha-tia là con trai của Ma-ha-la-lên thuộc dòng dõi Pê-rết; 5. và Ma-a-xê-gia, con trai của Ba-rúc, cháu của Côn Hô-xê, chắt của Ha-xa-gia, chít của A-đa-gia; A-đa-gia là con trai của Giô-gia-ríp, cháu của Xa-cha-ri, thuộc dòng dõi Si-lô-ni. 6. Tất cả con cháu của Pê-rết ở tại Giê-ru-sa-lem là bốn trăm sáu mươi tám dũng sĩ.

7. Và đây là con cháu của Bên-gia-min: Sa-lu, con trai của Mê-su-lam, cháu của Giô-ết, chắt của Phê-đa-gia, chít của Cô-la-gia; Cô-la-gia là con trai của Ma-a-xê-gia, cháu của Y-thi-ên, chắt của Giê-sai. 8. Theo sau ông có Gáp-bai và Sa-lai, cùng với chín trăm hai mươi tám người. 9. Giô-ên, con trai của Xiếc-ri, là chỉ huy của họ, còn Giu-đa, con trai của Ha-sê-nua làm phó thị trưởng.

10. Về các thầy tế lễ có Giê-đa-gia là con trai của Giô-gia-ríp, Gia-kin, 11. Sê-ra-gia là con trai của Hinh-kia, cháu của Mê-su-lam, chắt của Xa-đốc, chít của Mê-ra-giốt; Mê-ra-giốt, con trai của A-hi-túp, là quản lý đền của Đức Chúa Trời.


12. Các anh em của họ làm công việc trong đền thờ là tám trăm hai mươi hai người. Cũng có A-đa-gia, con trai của Giê-rô-ham, cháu của Phê-la-lia, chắt của Am-si, chít của Xa-cha-ri; Xa-cha-ri là con trai của Pha-su-rơ, cháu của Manh-ki-gia 13. cùng các anh em của họ, những trưởng tộc trong dòng họ của họ, là hai trăm bốn mươi hai người; và A-mát-sai, con trai của A-xa-rên, cháu của Ạc-xai, chắt của Mê-si-lê-mốt, chít của Y-mê 14. và các anh em của họ, là những dũng sĩ can đảm, là một trăm hai mươi tám người. Xáp-đi-ên, người chỉ huy của họ, là con trai của một nhân vật vĩ đại.

15. Về những người Lê-vi có Sê-ma-gia, con trai của Ha-súp, cháu của A-ri-kham, chắt của Ha-sa-bia, chít của Bun-ni. 16. Trong các trưởng tộc Lê-vi có Sa-bê-thai và Giô-xa-bát được giao coi sóc công việc bên ngoài của đền Đức Chúa Trời. 17. Mát-ta-nia, con trai của Mi-chê, cháu của Xáp-đi, chắt của A-sáp, làm trưởng ban hướng dẫn việc ca ngợi Chúa khi cầu nguyện; cũng có Bác-bu-kia là người thứ nhì trong anh em mình và Áp-đa, con trai của Sa-mua, cháu của Ga-la, chắt của Giê-đu-thun. 18. Tất cả người Lê-vi ở trong thành thánh là hai trăm tám mươi bốn người.

19. Những người gác cổng có A-cúp, Tanh-môn, cùng với những anh em của họ - những người canh giữ các cổng - là một trăm bảy mươi hai người.

20. Những người còn lại trong dân Y-sơ-ra-ên, trong những thầy tế lễ và những người Lê-vi đều sống trong các thành của xứ Giu-đa, mỗi người ở trong sản nghiệp của mình. 21. Tuy nhiên, những người phục vụ đền thờ ở tại Ô-phên; Xi-ha và Ghít-ba lãnh đạo những người phục vụ đền thờ.

22. Người giám sát những người Lê-vi tại Giê-ru-sa-lem là U-xi, con trai của Ba-ni, cháu của Ha-sa-bia, chắt của Mát-ta-nia, chít của Mi-chê, thuộc dòng dõi A-sáp là những ca sĩ, chịu trách nhiệm phục vụ trong đền của Đức Chúa Trời. 23. Vì có lệnh của vua liên quan đến họ rằng phải chu cấp cho những ca sĩ mỗi ngày. 24. Phê-tha-hia, con trai của Mê-sê-xa-bê-ên, thuộc dòng dõi Xê-ra là con trai của Giu-đa, là người đại diện của vua giải quyết một vấn đề của dân chúng.

Phân Bố Dân Cư Vùng Ngoại Ô Giê-ru-sa-lem

25. Còn về những làng mạc và ruộng đồng, một số người Giu-đa sống tại Ki-ri-át A-ra-ba và những làng mạc phụ cận, tại Đi-bôn và những làng mạc phụ cận, tại Giê-cáp-xê-ên và những làng mạc phụ cận, 26. tại Giê-sua, Mô-la-đa, Bết Phê-lết, 27. Hát-sa Su-anh, Bê-e Sê-ba và trong những làng mạc phụ cận, 28. tại Xiếc-lác, Mê-cô-na và những làng mạc phụ cận, 29. tại Ên-rim-môn, Xô-ra, Giạt-mút, 30. tại Xa-nô-a, A-đu-lam và những làng mạc phụ cận; tại La-ki và những đồng ruộng phụ cận, và tại A-xê-ca và những làng mạc phụ cận. Như vậy, họ định cư từ Bê-e Sê-ba cho đến thung lũng Hin-nôm.

31. Người Bên-gia-min cũng sống từ Ghê-ba cho đến Mích-ma, A-gia, Bê-tên và những làng mạc của nó, 32. và tại A-na-tốt, Nốp, A-na-nia, 33. Hát-so, Ra-ma, Ghi-tha-im. 34. Ha-đít, Sê-bô-im, Nê-ba-lát, 35. Lót và Ô-nô tức là thung lũng của những thợ thủ công. 36. Và một số người Lê-vi được phân bố cho Giu-đa đã đến sống với người Bên-gia-min.

Bản Dịch 1925

1. Các quan trưởng của dân sự đều ở tại Giê-ru-sa-lem còn dân sự khác thì bắt thăm để cho một trong mười người của chúng đến ở tại Giê-ru-sa-lem, là thành thánh, và chín người kia thì ở trong các thành khác. 2. Dân sự chúc phước cho các người nam nào tình nguyện ở tại Giê-ru-sa-lem.

3. Vả, đây là những quan trưởng hàng tỉnh ở tại Giê-ru-sa-lem; nhưng trong các thành Giu-đa, ai nấy đều ở trong đất mình tại trong bổn thành của mình: ấy là dân Y-sơ-ra-ên, những thầy tế lễ, người Lê-vi, người Nê-thi-nim, và con cháu của các tôi tớ Sa-lô-môn.

4. Có mấy người Giu-đa và người Bên-gia-min ở tại Giê-ru-sa-lem. Về người Giu-đa có A-tha-gia, con trai của U-xia, cháu của Xa-cha-ri, chắt của A-ma-ria, chít của Sê-pha-tia; Sê-pha-tia là con trai của Ma-ha-la-lên, thuộc về dòng dõi Phê-rết; 5. lại có Ma-a-sê-gia, con trai của Ba-rúc, cháu của Côn-Hô-xê, chắt của Ha-xa-gia, chít của A-đa-gia; A-đa-gia là con trai của Giô-gia-ríp, cháu của Xa-cha-ri về dòng dõi Si-lô-ni. 6. Các con cháu của Phê-rết ở tại Giê-ru-sa-lem là bốn trăm sáu mươi tám người mạnh dạn.

7. Về người Bên-gia-min có Sa-lu, con trai của Mê-su-lam, cháu của Giô-ết, chắt của Phê-đa-gia, chít của Cô-la-gia; Cô-la-gia là con trai của Ma-a-sê-gia, cháu của Y-thi-ên, chắt của Ê-sai; 8. và sau người có Gáp-bai, và Sa-lai cùng chín trăm hai mươi tám người. 9. Giô-ên, con trai của Xiếc-ri, làm quan trưởng của chúng; còn Giu-đa, con trai của Ha-sê-nua, làm phó quản thành.

10. Trong những thầy tế lễ có Giê-đa-gia, con trai của Giô-gia-ríp, Gia-kin, 11. và Sê-ra-gia, con trai của Hinh-kia, cháu của Mê-su-lam, chắt của Xa-đốc, chít của Mê-ra-giốt; Mê-ra-giốt là con trai của A-hi-túp, là quản lý đền của Đức Chúa Trời, 12. cùng các anh em họ làm công việc của đền, là tám trăm hai mươi hai người. Lại có A-đa-gia, con trai của Giê-rô-ham, cháu của Phê-la-lia, chắt của Am-si, chít của Xa-cha-ri; Xa-cha-ri là con trai của Pha-su-rơ, cháu của Manh-ki-gia, 13. cùng các anh em họ, đều là trưởng tộc, số là hai trăm bốn mươi hai người. Cũng có A-ma-sai, con trai của A-xa-rên, cháu của Ạc-xai, chắt của Mê-si-lê-mốt, chít của Y-mê, 14. và các anh em họ, đều là người mạnh dạn và can đảm, số được một trăm hai mươi tám người. Xáp-đi-ên, con trai của Ghê-đô-lim, làm quan trưởng của chúng.

15. Trong người Lê-vi có Sê-ma-gia, con trai của Ha-súp, cháu của A-ri-kham, chắt của Ha-sa-bia, chít của Bun-ni; 16. trong các trưởng tộc người Lê-vi có Sa-bê-thai và Giô-xa-bát được cắt coi sóc công việc ngoài của đền Đức Chúa Trời; 17. còn Mát-ta-nia, con trai của Mi-chê, cháu của Xáp-đi, chắt của A-sáp làm đầu về việc hát lời khen ngợi trong lúc cầu nguyện, cùng Bác-bu-kia, là người thứ nhì trong anh em mình, và Áp-đa con trai của Sa-mua, cháu của Xáp-đi, chắt của Giê-đu-thun. 18. Hết thảy người Lê-vi ở trong thành thánh, được hai trăm tám mươi bốn người.

19. Những kẻ canh giữ cửa, là A-cúp, Tanh-môn, và các anh em họ, được một trăm bảy mươi hai người.

20. Các người Y-sơ-ra-ên khác, những thầy tế lễ, và người Lê-vi, đều ở trong các thành của xứ Giu-đa, mỗi người trong cơ nghiệp mình. 21. Người Nê-thi-nim đều ở tại Ô-phên; Xi-ha và Ghít-ba làm quan trưởng của người Nê-thi-nim. 22. U-xi, con trai của Ba-ni, cháu của Ha-sa-bia, chắt của Mát-ta-nia, chít của Mi-chê về dòng dõi A-sáp, là kẻ ca hát, được đặt cai tri người Lê-vi tại Giê-ru-sa-lem, lo làm công việc của đền Đức Chúa Trời. 23. Vì có lịnh vua truyền về việc của chúng, và có một phần lương định cấp cho những kẻ ca hát, ngày nào cần dùng theo ngày nấy. 24. Phê-tha-hia, con trai của Mê-sê-xa-bê-ên, về dòng Xê-ra, là con của Giu-đa, giúp vua cai trị mọi việc dân.

25. Còn về các hương thôn và đồng ruộng của nó, có mấy người Giu-đa ở tại Ki-ri-át-A-ra-ba, và trong các làng nó, tại Đi-bôn và các làng nó, tại Giê-cáp-xê-ên và các làng nó, 26. tại Giê-sua, Mô-la-đa, Bết-phê-lê, 27. Hát-sa-Su-anh, Bê-e-sê-ba và trong các làng nó, 28. tại Xiếc-lạc, Mê-cô-na và trong các làng nó, 29. tại Ên-rim-môn, Xô-ra Giạt-mút, 30. tại Xa-nô-a, A-đu-lam và các làng nó; tại trong La-ki và các đồng ruộng nó, trong A-sê-ca và các làng nó. Vậy chúng ở từ Bê-e-sê-ba cho đến trũng Hin-nôm.

31. Người Bên-gia-min cũng ở từ Ghê-ba cho đến Mích-ma, A-gia, Bê-tên và các làng nó; 32. và ở tại A-na-tốt, Nóp, A-na-nia, 33. Hát-so, Ra-ma, Ghi-tha-im, 34. Ha-đít, Sê-bô-im, Nê-ba-lát, 35. Lô-đơ, và Ô-nơ, tức là trũng của các thợ.

36. Từ trong các người Lê-vi có mấy ban ở Giu-đa hiệp với Bên-gia-min.

Bản Dịch 2011

Dân Số trong Thành Giê-ru-sa-lem Gia Tăng

1 Bấy giờ những người lãnh đạo của dân ở tại Giê-ru-sa-lem và dân còn lại đã bắt thăm với nhau, để cứ mười người thì một người sẽ sống tại thành thánh Giê-ru-sa-lem, còn chín người kia vẫn cứ sống trong các thành khác. 2 Dân chúc phước cho những người tình nguyện dọn đến sống ở Giê-ru-sa-lem. 3 Sau đây là danh sách các quan chức hàng tỉnh sống tại Giê-ru-sa-lem, nhưng dân I-sơ-ra-ên, các tư tế, những người Lê-vi, những người phục vụ Ðền Thờ, và dòng dõi của các tôi tớ Sa-lô-môn đều sống trong các thành của Giu-đa, ai nấy sống trong đất của mình và trong thành của mình.

4 Tại Giê-ru-sa-lem có một số con cháu của Giu-đa và một số con cháu của Bên-gia-min đến định cư.

Trong chi tộc Giu-đa có A-tha-gia con của U-xi-a, con của Xa-cha-ri-a, con của A-ma-ri-a, con của Sê-pha-ti-a, con của Ma-ha-la-lên, con cháu của Pê-rê, 5 và Ma-a-sê-gia con của Ba-rúc, con của Côn Hô-xê, con của Ha-xa-gia, con của A-đa-gia, con của Giô-gia-ríp, con của Xa-cha-ri-a, con cháu của Si-lô-ni. 6 Tổng số con cháu của Pê-rê sống tại Giê-ru-sa-lem được bốn trăm sáu mươi tám người dũng mãnh.

7 Trong chi tộc Bên-gia-min có Sanh-lu con của Mê-su-lam, con của Giô-ết, con của Pê-đa-gia, con của Cô-la-gia, con của Ma-a-sê-gia, con của I-thi-ên, con của Giê-sa-gia. 8 Cùng đi theo ông có Ga-bai và Sanh-lai. Tất cả gồm chín trăm hai mươi tám chiến sĩ. 9 Người chỉ huy đội quân này là Giô-ên con của Xích-ri; Giu-đa con của Ha-sê-nu-a làm phó thị trưởng.

10 Trong vòng các tư tế có Giê-đa-gia con của Giô-gia-ríp, Gia-kin, 11 Sê-ra-gia con của Hinh-ki-a, con của Mê-su-lam, con của Xa-đốc, con của Mê-ra-giốt, con của A-hi-túp, người quản lý nhà Ðức Chúa Trời, 12 cùng với những người bà con dòng họ của họ làm việc trong Ðền Thờ, tổng cộng được tám trăm hai mươi hai người. Ngoài ra có A-đa-gia con của Giê-rô-ham, con của Pê-la-li-a, con của Am-xi, con của Xa-cha-ri-a, con của Pát-khua, con của Manh-ki-gia, 13 cùng với những người bà con dòng họ của ông ấy, những tộc trưởng trong gia tộc của họ, tổng cộng được hai trăm bốn mươi hai người. Cũng có A-ma-sai con của A-xa-rên, con của A-xai, con của Mê-sin-lê-mốt, con của Im-me, 14 cùng với những người bà con dòng họ của ông ấy, những chiến sĩ dũng mãnh, tổng cộng được một trăm hai mươi tám người. Người lãnh đạo của họ là Xáp-đi-ên con của Ha-ghê-đô-lim.

15 Trong vòng những người Lê-vi có Sê-ma-gia con của Hạc-súp, con của A-xơ-ri-cam, con của Ha-sa-bi-a, con của Bun-ni. 16 Sa-bê-thai và Giô-xa-bát là hai người lãnh đạo của người Lê-vi làm những việc bên ngoài nhà Ðức Chúa Trời. 17 Mát-ta-ni-a con của Mi-ca, con của Xáp-đi, con của A-sáp, là trưởng ban hướng dẫn hội chúng dâng lời cầu nguyện cảm tạ; Bạc-bu-ki-gia làm phó ban trong vòng những người bà con dòng họ của ông ấy. Ngoài ra còn có Áp-đa con của Sam-mua, con của Ga-lanh, con của Giê-đu-thun. 18 Tổng số những người Lê-vi phục vụ trong thành thánh được hai trăm tám mươi bốn người.

19 Trong vòng những người giữ cửa có Ạc-cúp, Tanh-môn, và những người bà con dòng họ của họ lo việc canh gác ở các cửa, tổng cộng được một trăm bảy mươi hai người.

20 Những người còn lại của dân I-sơ-ra-ên, cùng với các tư tế và những người Lê-vi, tất cả đều sống trong các thành của Giu-đa, ai nấy đều sống trong sản nghiệp của mình. 21 Nhưng những người phục vụ Ðền Thờ đều sống ở Ô-phên. Xi-ha và Ghích-pa là hai người chỉ huy của họ.

22 Người lãnh đạo tất cả những người Lê-vi ở Giê-ru-sa-lem là U-xi con của Ba-ni, con của Ha-sa-bi-a, con của Mát-ta-ni-a, con của Mi-ca, tức con cháu của A-sáp, dòng dõi của những người phụ trách việc ca hát thờ phượng Ðức Chúa Trời tại Ðền Thờ. 23 Về những người ca hát thờ phượng, vua truyền lịnh phải cung cấp một phần cố định hằng ngày cho họ.

24 Ngoài ra Pê-tha-hi-a con của Mê-sê-xa-bên, dòng dõi của Xê-ra, con cháu của Giu-đa, đã được vua lập làm người giải quyết mọi việc cho dân.

Các Vùng Ðịnh Cư Bên Ngoài Giê-ru-sa-lem

25 Về các làng mạc và các cánh đồng trực thuộc, một số con cháu của Giu-đa định cư tại Ki-ri-át Ạc-ba và các thị trấn trực thuộc, Ði-bôn và các thị trấn trực thuộc, Giê-cáp-xê-ên và các làng trực thuộc, 26 Giê-sua, Mô-la-đa, Bết Pê-lết, 27 Ha-xa Su-anh, Bê-e Sê-ba và các thị trấn trực thuộc, 28 Xích-lắc, Mê-cô-na và các thị trấn trực thuộc, 29 Ên Rim-môn, Xô-ra, Giạc-mút, 30 Xa-nô-a, A-đu-lam và các làng trực thuộc, La-kích và những cánh đồng trực thuộc, A-xê-ca và các làng trực thuộc. Như vậy con cháu của Giu-đa định cư từ Bê-e Sê-ba cho đến Thung Lũng của Hin-nôm.

31 Con cháu của Bên-gia-min định cư từ Ghê-ba trở đi, tại Mích-mát, Ai-gia, Bê-tên và các làng trực thuộc, 32 A-na-thốt, Nốp, A-na-ni-a, 33 Ha-xơ, Ra-ma, Ghi-ta-im, 34 Ha-đi, Xê-bô-im, Nê-ba-lát, 35 Lốt, Ô-nô, và Thung Lũng của Các Nghệ Nhân.

36 Một số gia tộc người Lê-vi được cắt cử từ Giu-đa đến sống giữa người Bên-gia-min.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành