Nê-hê-mi: Chương 7

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB16C007)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch Đại Chúng

Bảo vệ thành Giê-ru-sa-lem

Sau khi tường thành đã xây xong, tôi tra các cánh cửa, và khi những những người gác cổng, các ca sĩ, và những người Lê-vi đã được bổ nhiệm, tôi giao việc điều hành Giê-ru-sa-lem cho em tôi là Ha-na-ni, và cho Ha-na-nia - người chỉ huy bảo vệ thành - bởi vì ông là người trung tín và kính sợ Đức Chúa Trời hơn nhiều người khác.

Và tôi đã dặn họ rằng: “Đừng mở các cửa Giê-ru-sa-lem trước khi mặt trời đã nóng; và khi vẫn lính canh còn ở đó, họ phải đóng cửa và cài then. Cũng phải bổ nhiệm những người canh gác từ trong dân cư Giê-ru-sa-lem, một người đứng ở vọng canh, người kia thì đứng trước nhà mình.”

Danh sách những người hồi hương

Lúc đó thành thì rộng lớn, nhưng dân trong thành thì ít, và nhà cửa chưa được xây dựng lại. Đức Chúa Trời đã thúc giục lòng tôi triệu tập những người quý tộc, các quan chức và dân chúng đến để họ được đăng ký theo gia phả. Tôi đã tìm được một cuốn danh bạ của những người đã hồi hương lần đầu, và trong đó có ghi rằng:

Đây là dân cư trong tỉnh, là những người từ nơi lưu đày hồi hương, là những phu tù - tức là những người bị Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, bắt đi - họ trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, mỗi người về lại thành của mình.

Những người đã trở về cùng với Xô-rô-ba-bên là Giê-sua, Nê-hê-mi, A-xa-ria, Ra-a-mia, Na-ha-ma-ni, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mích-bê-rết, Biết-vai, Nê-hum và Ba-a-na.

Số những người nam trong Y-sơ-ra-ên là:

Dòng họ Pha-rốt: hai nghìn một trăm bảy mươi hai người.

Dòng họ Sê-pha-tia: ba trăm bảy mươi hai người.


Dòng họ A-ra: sáu trăm năm mươi hai người.


Dòng họ Pha-hát Mô-áp, con cháu của Giê-sua và Giô-áp: hai nghìn tám trăm mười tám người.


Dòng họ Ê-lam: một nghìn hai trăm năm mươi bốn người.


Dòng họ Xát-tu: tám trăm bốn mươi lăm người.


Dòng họ Xác-cai: bảy trăm sáu mươi người.


Dòng họ Bin-nui: sáu trăm bốn mươi tám người.


Dòng họ Bê-bai: sáu trăm hai mươi tám người.


Dòng họ A-gát: hai nghìn ba trăm hai mươi hai người.


Dòng họ A-đô-ni-cam: sáu trăm sáu mươi bảy người.


Dòng họ Biết-vai: hai nghìn không trăm sáu mươi bảy người.


Dòng họ A-đin: sáu trăm năm mươi lăm người.


Dòng họ A-te thuộc dòng dõi Ê-xê-chia: chín mươi tám người.


Dòng họ Ha-sum: ba trăm hai mươi tám người.


Dòng họ Bết-sai: ba trăm hai mươi bốn người.


Dòng họ Ha-ríp: một trăm mười hai người.


Dòng họ Ga-ba-ôn: chín mươi lăm người.

Những người quê ở Bết-lê-hem và Nê-tô-pha: một trăm tám mươi tám người.


Những người quê ở A-na-tốt: một trăm hai mươi tám người.


Những người quê ở Bết A-ma-vết: bốn mươi hai người.


Những người quê ở Ki-ri-át Giê-a-rim, người Kê-phi-ra, và người Bê-ê-rốt: bảy trăm bốn mươi ba người.


Những người quê ở Ra-ma và Ghê-ba: sáu trăm hai mươi mốt người.


Những người quê ở Mích-ma: một trăm hai mươi hai người.


Những người quê ở Bê-tên và A-hi: một trăm hai mươi ba người.


Những người quê ở Nê-bô khác: năm mươi hai người.


Dòng họ Ê-lam khác: một nghìn hai trăm năm mươi bốn người.


Dòng họ Ha-rim: ba trăm hai mươi người.


Dòng họ Giê-ri-cô: ba trăm bốn mươi lăm người.


Dòng họ Lót, Ha-đít và Ô-nô: bảy trăm hai mươi mốt người.


Dòng họ Sê-na: ba nghìn chín trăm ba mươi người.

Những thầy tế lễ:


Dòng họ Giê-đa-gia thuộc dòng dõi Giê-sua: chín trăm bảy mươi ba người.


Dòng họ Y-mê: một nghìn không trăm năm mươi hai người.


Dòng họ Pha-ru-sơ: một nghìn hai trăm bốn mươi bảy người.


Dòng họ Ha-rim: một nghìn không trăm mười bảy người.

Những người Lê-vi:


Dòng họ Giê-sua và Cát-mi-ên, thuộc dòng dõi Hô-đê-va: bảy mươi bốn người.

Các ca sĩ:


Dòng họ A-sáp: một trăm bốn mươi tám người.

Những người gác cổng:


Dòng họ Sa-lum, dòng họ A-te, dòng họ Tanh-môn, dòng họ A-cúp, dòng họ Ha-ti-ta và dòng họ Sô-bai: một trăm ba mươi tám người.

Những người phục vụ đền thờ:


Dòng họ Xi-ha, dòng họ Ha-su-pha, dòng họ Ta-ba-ốt, dòng họ Kê-rốt, dòng họ Si-a, dòng họ Pha-đôn, dòng họ Lê-ba-na, dòng họ Ha-ga-ba, dòng họ Sanh-mai, dòng họ Ha-nan, dòng họ Ghi-đên, dòng họ Ga-ha, dòng họ Rê-a-gia, dòng họ Rê-xin, dòng họ Nê-cô-đa, dòng họ Ga-xam, dòng họ U-xa, dòng họ Pha-sê-a, dòng họ Bê-sai, dòng họ Mê-u-nim, dòng họ Nê-phu-sê-sim, dòng họ Bác-búc, dòng họ Ha-cu-pha, dòng họ Ha-rua, dòng họ Bát-lít, dòng họ Mê-hi-đa, dòng họ Hạt-sa, dòng họ Bạt-cô, dòng họ Si-sê-ra, dòng họ Tha-mác, dòng họ Nê-xia, dòng họ Ha-ti-pha.

Dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn:


Dòng họ Sô-tai, dòng họ Sô-phê-rết, dòng họ Phê-ri-đa, dòng họ Gia-a-la, dòng họ Đạt-côn, dòng họ Ghi-đên, dòng họ Sê-pha-tia, dòng họ Hát-tinh, dòng họ Phô-kê-rết Hát-xê-ba-im, dòng họ A-môn.

Tổng số người phục vụ đền thờ và dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn là ba trăm chín mươi hai người.

Sau đây là những người trở về từ Tên Mê-la, Tên Hạt-sa, Kê-rúp, A-đôn và Y-mê, nhưng họ không thể tìm ra tổ tiên hoặc nguồn gốc của họ thuộc về Y-sơ-ra-ên hay không: Dòng họ Đê-la-gia, dòng họ Tô-bi-gia và dòng họ Nê-cô-đa: sáu trăm bốn mươi hai người.

Còn những thầy tế lễ:


Dòng họ Ha-ba-gia, dòng họ Ha-cốt, dòng họ Bạt-xi-lai (là người lấy vợ trong số con gái của Bạt-xi-lai, người Ga-la-át nên được gọi bằng tên đó). Những người nầy tìm kiếm tên mình trong gia phả nhưng không thấy nên bị loại ra khỏi chức tế lễ vì bị coi là ô uế. Quan tổng trấn cấm họ ăn những vật chí thánh cho đến khi có một thầy tế lễ dùng U-rim và Thu-mim để cầu hỏi Đức Chúa Trời.

Cả hội chúng tổng cộng là bốn mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi người, không kể bảy ngàn ba trăm ba mươi bảy tôi trai tớ gái của họ, và họ có hai trăm bốn mươi lăm ca sĩ, cả nam lẫn nữ. Họ có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la, bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu ngàn bảy trăm hai mươi con lừa.

Một vài trưởng tộc đã dâng hiến vào quỹ công trình. Quan tổng đốc dâng vào công quỹ một ngàn đa-riếc vàng, năm mươi chậu và năm trăm ba mươi bộ trang phục cho thầy tế lễ. Có mấy trưởng tộc dâng vào quỹ công trình hai mươi ngàn đa-riếc vàng và hai ngàn hai trăm min bạc. Dân chúng dâng phần còn lại là hai ngàn đa-riếc vàng, hai ngàn min bạc, và sáu mươi bảy bộ trang phục cho thầy tế lễ.

Như vậy, những thầy tế lễ, người Lê-vi, những người gác cổng, các ca sĩ, một số người khác và những người phục vụ đền thờ cùng cả Y-sơ-ra-ên đều ở trong thành của mình.

Đến tháng bảy thì dân Y-sơ-ra-ên đều ở trong các thành của mình.

Bản Dịch Việt Ngữ

Bảo vệ thành Giê-ru-sa-lem

1. Sau khi tường thành đã xây xong, tôi tra các cánh cửa, và những những người gác cổng, các ca sĩ, và người Lê-vi đã được bổ nhiệm, 2. tôi giao việc điều hành Giê-ru-sa-lem cho em tôi là Ha-na-ni, và cho Ha-na-nia người chỉ huy bảo vệ thành, vì ông là người trung tín và kính sợ Đức Chúa Trời hơn nhiều người khác.

3. Và tôi dặn họ rằng: “Đừng mở các cửa Giê-ru-sa-lem trước khi mặt trời đã nóng, và khi vẫn lính canh còn ở đó, họ phải đóng cửa và cài then. Cũng phải bổ nhiệm những người canh gác từ trong dân cư Giê-ru-sa-lem, một người đứng ở vọng canh, người kia thì đứng trước nhà mình.”

Danh sách những người hồi hương

4. Khi đó thành thì rộng và lớn, nhưng dân trong thành thì ít, và nhà cửa chưa được xây dựng lại. 5. Đức Chúa Trời đã thúc giục lòng tôi triệu tập những người quý tộc, các quan chức và dân chúng đến để họ được đăng ký theo gia phả. Tôi đã tìm được một cuốn danh bạ của những người đã hồi hương lần đầu, và trong đó có ghi rằng:

6. Đây là dân cư trong tỉnh, là những người từ nơi lưu đày hồi hương, là những phu tù - tức là những người bị Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, bắt đi - họ trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, mỗi người về lại thành của mình.

7. Những người đã trở về cùng với Xô-rô-ba-bên là Giê-sua, Nê-hê-mi, A-xa-ria, Ra-a-mia, Na-ha-ma-ni, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mích-bê-rết, Biết-vai, Nê-hum và Ba-a-na.

Số những người nam trong Y-sơ-ra-ên là:

8. Con cháu Pha-rốt: hai nghìn một trăm bảy mươi hai. 9. Con cháu Sê-pha-tia: ba trăm bảy mươi hai người. 10. Con cháu A-ra: sáu trăm năm mươi hai . 11. Con cháu Pha-hát Mô-áp, con cháu của Giê-sua và Giô-áp: hai nghìn tám trăm mười tám. 12. Con cháu Ê-lam: một nghìn hai trăm năm mươi bốn. 13. Con cháu Xát-tu: tám trăm bốn mươi lăm. 14. Con cháu Xác-cai: bảy trăm sáu mươi. 15. Con cháu Bin-nui: sáu trăm bốn mươi tám. 16. Con cháu Bê-bai: sáu trăm hai mươi tám. 17. Con cháu A-gát: hai nghìn ba trăm hai mươi hai. 18. Con cháu A-đô-ni-cam: sáu trăm sáu mươi bảy. 19. Con cháu Biết-vai: hai nghìn không trăm sáu mươi bảy. 20. Con cháu A-đin: sáu trăm năm mươi lăm. 21. Con cháu A-te thuộc dòng dõi Ê-xê-chia: chín mươi tám. 22. Con cháu Ha-sum: ba trăm hai mươi tám. 23. Con cháu Bết-sai: ba trăm hai mươi bốn. 24. Con cháu Ha-ríp: một trăm mười hai. 25. Con cháu Ga-ba-ôn: chín mươi lăm. 26. Những người quê ở Bết-lê-hem và Nê-tô-pha: một trăm tám mươi tám người 27. Những người quê ở A-na-tốt: một trăm hai mươi tám. 28. Những người quê ở Bết A-ma-vết: bốn mươi hai. 29. Những người quê ở Ki-ri-át Giê-a-rim, người Kê-phi-ra, và người Bê-ê-rốt: bảy trăm bốn mươi ba. 30. Những người quê ở Ra-ma và Ghê-ba: sáu trăm hai mươi mốt. 31. Những người quê ở Mích-ma: một trăm hai mươi hai. 32. Những người quê ở Bê-tên và A-hi: một trăm hai mươi ba. 33. Những người quê ở Nê-bô khác: năm mươi hai. 34. Con cháu Ê-lam khác: một nghìn hai trăm năm mươi bốn. 35. Con cháu Ha-rim: ba trăm hai mươi. 36. Con cháu Giê-ri-cô: ba trăm bốn mươi lăm. 37. Con cháu Lót, Ha-đít và Ô-nô: bảy trăm hai mươi mốt. 38. Con cháu Sê-na: ba nghìn chín trăm ba mươi.

39. Những thầy tế lễ: Con cháu Giê-đa-gia thuộc dòng dõi Giê-sua: chín trăm bảy mươi ba. 40. Con cháu Y-mê: một nghìn không trăm năm mươi hai. 41. Con cháu Pha-ru-sơ: một nghìn hai trăm bốn mươi bảy. 42. Con cháu Ha-rim: một nghìn không trăm mười bảy.

43. Những người Lê-vi: Con cháu Giê-sua và Cát-mi-ên, thuộc dòng dõi Hô-đê-va: bảy mươi bốn.

44. Các ca sĩ: Con cháu A-sáp: một trăm bốn mươi tám.

45. Những người gác cổng: Con cháu Sa-lum, con cháu A-te, con cháu Tanh-môn, con cháu A-cúp, con cháu Ha-ti-ta và con cháu Sô-bai: một trăm ba mươi tám.

46. Những người phục vụ đền thờ: con cháu Xi-ha, con cháu Ha-su-pha, con cháu Ta-ba-ốt, 47. con cháu Kê-rốt, con cháu Si-a, con cháu Pha-đôn, 48. con cháu Lê-ba-na, con cháu Ha-ga-ba, con cháu Sanh-mai, 49. con cháu Ha-nan, con cháu Ghi-đên, con cháu Ga-ha, 50. con cháu Rê-a-gia, con cháu Rê-xin, con cháu Nê-cô-đa, 51. con cháu Ga-xam, con cháu U-xa, con cháu Pha-sê-a 52. con cháu Bê-sai, con cháu Mê-u-nim, con cháu Nê-phu-sê-sim, 53. con cháu Bác-búc, con cháu Ha-cu-pha, con cháu Ha-rua, 54. con cháu Bát-lít, con cháu Mê-hi-đa, con cháu Hạt-sa, 55. con cháu Bạt-cô, con cháu Si-sê-ra, con cháu Tha-mác, 56. con cháu Nê-xia, con cháu Ha-ti-pha.

57. Dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn: Con cháu Sô-tai, con cháu Sô-phê-rết, con cháu Phê-ri-đa 58. con cháu Gia-a-la, con cháu Đạt-côn, con cháu Ghi-đên, 59. con cháu Sê-pha-tia, con cháu Hát-tinh, con cháu Phô-kê-rết Hát-xê-ba-im, con cháu A-môn.

60. Tổng số người phục vụ đền thờ và dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn là ba trăm chín mươi hai.

61. Sau đây là những người trở về từ Tên Mê-la, Tên Hạt-sa, Kê-rúp, A-đôn và Y-mê, nhưng họ không thể tìm ra tổ tiên hoặc nguồn gốc của họ thuộc về Y-sơ-ra-ên hay không: 62. Con cháu Đê-la-gia, con cháu Tô-bi-gia và con cháu Nê-cô-đa: sáu trăm bốn mươi hai.

63. Còn những thầy tế lễ: Con cháu Ha-ba-gia, con cháu Ha-cốt, con cháu Bạt-xi-lai (là người lấy vợ trong số con gái của Bạt-xi-lai, người Ga-la-át nên được gọi bằng tên đó). 64. Những người nầy tìm kiếm tên mình trong gia phả nhưng không thấy nên bị loại ra khỏi chức tế lễ vì bị coi là ô uế. 65. Quan tổng trấn cấm họ ăn những vật chí thánh cho đến khi có một thầy tế lễ dùng U-rim và Thu-mim để cầu hỏi Đức Chúa Trời.

66. Cả hội chúng tổng cộng là bốn mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi người, 67. không kể bảy ngàn ba trăm ba mươi bảy tôi trai tớ gái của họ, và họ có hai trăm bốn mươi lăm ca sĩ, cả nam lẫn nữ. 68. Họ có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la, 69. bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu ngàn bảy trăm hai mươi con lừa.

70. Một vài trưởng tộc đã dâng hiến vào quỹ công trình. Quan tổng đốc dâng vào công quỹ một ngàn đa-riếc vàng, năm mươi chậu và năm trăm ba mươi bộ trang phục cho thầy tế lễ. 71. Có mấy trưởng tộc dâng vào quỹ công trình hai mươi ngàn đa-riếc vàng và hai ngàn hai trăm min bạc. 72. Dân chúng dâng phần còn lại là hai ngàn đa-riếc vàng, hai ngàn min bạc, và sáu mươi bảy bộ trang phục cho thầy tế lễ.

73. Như vậy, những thầy tế lễ, người Lê-vi, những người gác cổng, các ca sĩ, một số người khác và những người phục vụ đền thờ cùng cả Y-sơ-ra-ên đều ở trong thành của mình.

Đến tháng bảy thì dân Y-sơ-ra-ên đều ở trong các thành của mình.

Bản Dịch 1925

1. Khi vách thành đã xây xong, và tôi đã tra các cánh cửa, lập những người giữ cửa, kẻ ca hát, và người Lê-vi trong chức việc của họ, 2. thì tôi giao phó việc cai trị Giê-ru-sa-lem cho Ha-na-ni, em tôi, và cho Ha-na-nia, quan tể cung; vì là một người trung tín và kính sợ Đức Chúa Trời hơn nhiều kẻ khác. 3. Tôi dặn chúng rằng: Chớ mở các cửa Giê-ru-sa-lem trước khi mặt trời nắng nóng; người ta phải đóng cánh cửa, và gài then lại trong lúc kẻ giữ cửa còn ở tại đó; lại phải đặt người trong dân Giê-ru-sa-lem theo phiên mà canh giữ, mỗi người đứng canh nơi đối ngang nhà mình. 4. Vả, thành thì rộng rãi lớn lao, còn dân sự ở trong nó lại ít, và nhà mới thì chưa có cất.

5. Đức Chúa Trời tôi có cảm động lòng tôi chiêu tập những người tước vị, các quan trưởng, và dân sự, đặng đem chúng vào sổ từng gia phổ. Tôi có tìm đặng một cuốn bộ gia phổ của những người đã trở lên lần đầu, và trong đó tôi thấy có ghi rằng: 6. Này là các người tỉnh Giu-đa từ nơi làm phu tù được trở lên, tức những kẻ thuộc trong bọn bị Nê-bu-ca-nết-sa bắt dẫn tù; chúng trở lại Giê-ru-sa-lem và xứ Giu-đa, ai nấy đều về bổn thành mình; 7. chúng trở về với Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, A-xa-ria, Ra-a-mia, Na-ha-ma-ni, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mích-bê-rết, Biết-vai, Bê-hum, và Ba-a-na.

Nầy là số tu bộ những người nam của dân Y-sơ-ra-ên; 8. Về con cháu Pha-rốt, hai ngàn một trăm bảy mươi hai người; 9. về con cháu Sê-pha-tia, ba trăm bảy mươi hai người. 10. Về con cháu A-ra, sáu trăm năm mươi hai người. 11. Về co cháu Pha-hát-Mô-áp, con cháu của Giê-sua và Giô-áp, có hai ngàn tám trăm mười tám người. 12. Về co cháu Ê-lam, một ngàn hai trăm năm mươi bốn người. 13. Về con cháu Xát-tu, tám trăm bốn mươi lăm người. 14. Về con cháu Xác-cai, bảy trăm sáu mươi người. 15. Về con cháu Bin-nui, sáu trăm bốn mươi tám người. 16. Về con cháu Bê-bai, sáu trăm hai mươi tám người. 17. Về con cháu A-gát, hai ngàn ba trăm hai mươi hai người. 18. Về con cháu A-đô-ni-cam, sáu trăm sáu mươi bảy người. 19. Về con cháu Biết-vai, hai ngàn sáu mươi bảy người. 20. Về con cháu A-đin, sáu trăm năm mươi lăm người. 21. Con cháu A-te, về dòng dõi Ê-xê-chia, có chín mươi tám người. 22. Về con cháu Ha-sum, ba trăm hai mươi tám người. 23. Về con cháu Bết-sai, ba trăm hai mươi bốn người. 24. Về con cháu Ha-ríp, một trăm mười hai người. 25. Về con cháu Ga-ba-ôn, chín mươi lăm người. 26. Về những người Bết-lê-hem và Nê-tô-pha, một trăm tám mươi tám người. 27. Về những người A-na-tốt, một trăm hai mươi tám người. 28. Về những người Bết-A-ma-vết, bốn mươi hai người. 29. Về những người Ki-ri-át-Giê-a-rim, người Kê-phi-ra, và người Bê-ê-rốt, bảy trăm bốn mươi ba người. 30. Về những người Ra-ma và Ghê-ba, sáu trăm hai mươi mốt người. 31. Về những người Mích-ma, một trăm hai mươi hai người, 32. Về những người Bê-tên và A-hi, một trăm hai mươi ba người. 33. Về những người Nê-bô khác, năm mươi hai người. 34. Về con cháu Ê-lam khác, một ngàn hai trăm năm mươi bốn người. 35. Về con cháu Ha-rim, ba trăm hai mươi người. 36. Về con cháu Giê-ri-cô, ba trăm bốn mươi lăm người. 37. Về con cháu của Lô-đơ, của Ha-đít, và của Ô-nô, bảy trăm hai mươi mốt người. 38. Về con cháu Sê-na, ba ngàn chín trăm ba mươi người.

39. Những thầy tế lễ: Về con cháu Giê-đa-gia, nhà Giê-sua, chín trăm bảy mươi ba người. 40. Về con cháu Y-mê, một ngàn năm mươi hai người. 41. Về con cháu Pha-ru-sơ, một ngàn hai trăm bốn mươi bảy người. 42. Về con cháu Ha-rim, một ngàn mười bảy người.

43. Người Lê-vi: Con cháu của Giê-sua và của Cát-mi-ên, về dòng dõi Hô-đê-va, bảy mươi bốn người.

44. Người ca hát: Về con cháu A-sáp, một trăm bốn mươi tám người.

45. Kẻ giữ cửa: Về con cháu Sa-lum, con cháu A-te, con cháu Tanh-môn, con cháu A-cúp, con cháu Ha-ti-la, và con cháu Sô-bai, một trăm ba mươi tám người.

46. Người Nê-thi-nim: Con cháu Xi-ha, con cháu Ha-su-pha, con cháu Ta-ba-ốt, 47. con cháu Kê-rốt, con cháu Sia, con cháu Pha-đôn, 48. con cháu Lê-ba-na, con cháu Ha-ga-ba, con cháu Sanh-mai, 49. con cháu Ha-nan, con cháu Ghi-đên, con cháu Ga-ha; 50. con cháu Rê-a-gia, con cháu Rê-xin, con cháu Nê-cô-đa, 51. con cháu Ga-xam, con cháu U-xa, con cháu Pha-sê-a, 52. con cháu Bê-sai, con cháu Mê-u-nim, con cháu Nê-phi-sê-sim, 53. con cháu Bác-búc, con cháu Ha-cu-pha, con cháu Ha-rua, 54. con cháu Bát-lít, con cháu Mê-hi-đa, con cháu Hạt-sa, 55. con cháu Bạt-cô, con cháu Si-sê-ra, con cháu Tha-mác, 56. con cháu Nê-xia, con cháu Ha-ti-pha.

57. Dòng dõi các đầy tớ của Sa-lô-môn: Con cháu Sô-tai, con cháu Sô-phê-rết, con cháu Phê-ri-đa, 58. con cháu Gia-a-la, con cháu Đạt-côn, con cháu Ghi-đên, 59. con cháu Sê-pha-tia, con cháu Hát-tinh, con cháu Phô-kế-rết Hát-xê-ba-im, con cháu A-mon.

60. Tổng cộng các người Nê-thi-nim và con cháu các đầy tớ của Sa-lô-môn, là ba trăm chín mươi hai người.

61. Nầy là những người ở từ Tên-Mê-la, Tên-Hạt-sa, Kê-rúp, A-đôn, và từ Y-mê mà đi lên; nhưng chúng nó không thể chỉ ra nhà của tổ phụ mình và gốc gác của họ, hoặc thuộc về Y-sơ-ra-ên hay chăng: 62. con cháu Đê-la-gia, con cháu Tô-bi-gia, và con cháu Nê-cô-đa, đều sáu trăm bốn mươi hai người. 63. Về những thầy tế lễ: Con cháu Ha-ba-gia, con cháu Ha-cốt, con cháu Bạt-xi-lai, là người lấy vợ trong vòng con gái của Bạt-xi-lai, người Ga-la-át, và được gọi bằng tên của họ. 64. Các người ấy tìm kiếm gia phổ mình, nhưng không thấy, bèn bị trừ ra chức tế lễ, kể cho là ô uế. 65. Quan tổng trấn cấm chúng ăn những vật chí thánh cho đến chừng có một thầy tế lễ dấy lên dùng U-rim và Thu-nim mà cầu hỏi Đức Chúa Trời.

66. Cả hội chúng hiệp lại được bốn vạn hai ngàn ba trăm sáu mươi người, 67. không kể những tôi trai tớ gái của dân, số được bảy ngàn ba trăm ba mơi bảy người; cũng có hai trăm bốn mươi lăm kẻ ca hát, nam và nữ. 68. Chúng có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la, 69. bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu ngàn bảy trăm hai mươi con lừa.

70. Có mấy trưởng tộc đem của cung tiến đặng giúp làm công việc. Quan tổng trấn dâng cho kho một ngàn đa-riếc vàng, năm mươi cái chậu, và năm trăm ba mươi cái áo thầy tế lễ. 71. Có mấy trưởng tộc dâng vào kho tạo tác hai vạn đa-riếc vàng, và hai ngàn hai trăm min bạc. 72. Còn vật dân sự khác dâng, được hai vạn đa-riếc vàng, hai ngàn min bạc, và sáu mươi bảy cái áo thầy tế lễ.

73. Ấy vậy, những thầy tế lễ, người Lê-vi, kẻ giữ cửa, kẻ ca hát, mấy người trong dân, và người Nê-thi-nim, cùng cả Y-sơ-ra-ên, đều ở trong các thành của mình.

Khi tháng bảy đến, thì dân Y-sơ-ra-ên đều ở trong các thành của mình.

Bản Dịch 2011

Tổ Chức Việc Lãnh Ðạo và Canh Gác Thành

1 Sau khi tường thành đã được tái thiết, và tôi đã cho tra các cánh cửa ở các cổng thành vào, các đội ngũ canh gác, ca hát, và những người Lê-vi cũng đã được phân nhiệm, 2 tôi lập Ha-na-ni em tôi làm thị trưởng, và Ha-na-ni-a làm người chỉ huy các binh sĩ bảo vệ thành, vì ông ấy là một người trung thành và kính sợ Ðức Chúa Trời hơn nhiều người khác. 3 Tôi truyền cho họ, “Ðừng mở các cổng thành Giê-ru-sa-lem cho đến khi ánh nắng mặt trời lên. Hễ những người canh gác ban đêm còn đứng canh, các cổng thành vẫn phải đóng và cài then. Hãy cắt đặt dân cư Giê-ru-sa-lem thay phiên nhau canh gác. Một số sẽ đứng gác ở các trạm canh, và một số khác sẽ đứng gác trước nhà mình.”

Sổ Bộ Những Người Hồi Cư

(Êxr 2:1-70)

4 Khi ấy thành thì rộng và lớn, nhưng dân trong thành lại ít và nhà cửa chưa được xây dựng lại. 5 Ðức Chúa Trời của tôi giục lòng tôi để tôi mời các nhà quý tộc, các quan chức, và dân lại để họ ghi danh theo gia phả của họ. Tôi đã tìm được một sổ danh bạ những người hồi hương đợt đầu, trong đó có ghi như sau:

6 Ðây là những người ở các tỉnh từ chốn lưu đày trở về, những người trong số những người đã bị Nê-bu-cát-nê-xa vua Ba-by-lôn bắt đem đi lưu đày đã trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, ai về thành nấy. 7 Những người cùng trở về với Xê-ru-ba-bên gồm có: Giê-sua, Nê-hê-mi-a, A-xa-ri-a, Ra-a-mi-a, Na-ha-ma-ni, Mạc-đô-chê, Bin-san, Mít-pê-rết, Bích-vai, Nê-hum, và Ba-a-na.

Ðây là con số những người I-sơ-ra-ên đã từ chốn lưu đày trở về:

8 Con cháu của Pa-rốt, hai ngàn một trăm bảy mươi hai người.

9 Con cháu của Sê-pha-ti-a, ba trăm bảy mươi hai người.

10 Con cháu của A-ra, sáu trăm năm mươi hai người.

11 Con cháu của Pa-hát Mô-áp, qua dòng dõi của Giê-sua và Giô-áp, hai ngàn tám trăm mười tám người.

12 Con cháu của Ê-lam, một ngàn hai trăm năm mươi bốn người.

13 Con cháu của Xát-tu, tám trăm bốn mươi lăm người.

14 Con cháu của Xác-cai, bảy trăm sáu mươi người.

15 Con cháu của Bin-nui, sáu trăm bốn mươi tám người.

16 Con cháu của Bê-bai, sáu trăm hai mươi tám người.

17 Con cháu của A-xơ-gát, hai ngàn ba trăm hai mươi hai người.

18 Con cháu của A-đô-ni-cam, sáu trăm sáu mươi bảy người.

19 Con cháu của Bích-vai, hai ngàn sáu mươi bảy người.

20 Con cháu của A-đin, sáu trăm năm mươi lăm người.

21 Con cháu của A-te, gia tộc của Hê-xê-ki-a, chín mươi tám người.

22 Con cháu của Ha-sum, ba trăm hai mươi tám người.

23 Con cháu của Bê-xai, ba trăm hai mươi bốn người.

24 Con cháu của Ha-ríp, một trăm mười hai người.

25 Con cháu của Ghi-bê-ôn, chín mươi lăm người.

26 Dân Bết-lê-hem và Nê-tô-pha, một trăm tám mươi tám người.

27 Dân A-na-thốt, một trăm hai mươi tám người.

28 Dân Bết A-ma-vết, bốn mươi hai người.

29 Dân Ki-ri-át Giê-a-rim, Kê-phi-ra, và Bê-e-rốt, bảy trăm bốn mươi ba người.

30 Dân Ghê-ba và Ra-ma, sáu trăm hai mươi mốt người.

31 Dân Mích-mác, một trăm hai mươi hai người.

32 Dân Bê-tên và Ai, một trăm hai mươi ba người.

33 Dân Nê-bô khác, năm mươi hai người.

34 Con cháu của Ê-lam khác, một ngàn hai trăm năm mươi bốn người.

35 Con cháu của Ha-rim, ba trăm hai mươi người.

36 Con cháu của Giê-ri-cô, ba trăm bốn mươi lăm người.

37 Con cháu của Lô, Ha-đi, và Ô-nô, bảy trăm hai mươi mốt người.

38 Con cháu của Sê-nê-a, ba ngàn chín trăm ba mươi người.

39 Các tư tế: Con cháu của Giê-đa-gia, gia tộc của Giê-sua, chín trăm bảy mươi ba người.

40 Con cháu của Im-me, một ngàn năm mươi hai người.

41 Con cháu của Pát-khua, một ngàn hai trăm bốn mươi bảy người.

42 Con cháu của Ha-rim, một ngàn mười bảy người.

43 Những người Lê-vi: con cháu của Giê-sua, gia tộc của Hô-đê-va, bảy mươi bốn người.

44 Những người ca hát: con cháu của A-sáp, một trăm bốn mươi tám người.

45 Những người canh cửa: con cháu của Sanh-lum, con cháu của A-te, con cháu của Tanh-môn, con cháu của Ạc-cúp, con cháu của Ha-ti-ta, con cháu của Sô-bai, một trăm ba mươi tám người.

46 Những người phục vụ tại Ðền Thờ: con cháu của Xi-ha, con cháu của Ha-su-pha, con cháu của Ta-ba-ốt, 47 con cháu của Kê-rô, con cháu của Si-a, con cháu của Pa-đôn, 48 con cháu của Lê-ba-na. con cháu của Ha-ga-ba, con cháu của Sanh-mai, 49 con cháu của Ha-na, con cháu của Ghít-đên, con cháu của Ga-ha, 50 con cháu của Rê-a-gia, con cháu của Rê-xin, con cháu của Nê-cô-đa, 51 con cháu của Ga-xam, con cháu của U-xa, con cháu của Pa-sê-a, 52 con cháu của Bê-sai, con cháu của Mê-u-nim, con cháu của Nê-phu-sê-sim, 53 con cháu của Bác-búc, con cháu của Ha-cư-pha, con cháu của Hạc-hưa, 54 con cháu của Ba-xơ-lít, con cháu của Mê-hi-đa, con cháu của Hạc-sa, 55 con cháu của Ba-cốt, con cháu của Si-sê-ra, con cháu của Tê-ma, 56 con cháu của Nê-xi-a, con cháu của Ha-ti-pha.

57 Con cháu của các tôi tớ Sa-lô-môn: con cháu của Sô-tai, con cháu của Sô-phê-rết, con cháu của Pê-ri-đa, 58 con cháu của Gia-a-la, con cháu của Ðạc-côn, con cháu của Ghít-đên, 59 con cháu của Sê-pha-ti-a, con cháu của Hát-tin, con cháu của Pô-kê-rết Ha-xê-ba-im, con cháu A-môn.

60 Tất cả những người phục vụ ở Ðền Thờ và con cháu của các tôi tớ Sa-lô-môn là ba trăm chín mươi hai người.

61 Có những người từ Tên Mê-la, Tên Hạc-sa, Kê-rúp, Át-đôn, và Im-me cùng đi lên, nhưng họ không thể chứng minh được tổ tiên của họ hay liên hệ huyết thống trong gia tộc của họ, nên không thể định rõ họ có phải là người I-sơ-ra-ên chính thống hay không.

62 Con cháu của Ðê-la-gia, con cháu của Tô-bi-a, con cháu của Nê-cô-đa, sáu trăm bốn mươi hai người.

63 Về các tư tế: con cháu của Hô-ba-gia, con cháu của Hắc-cô, con cháu của Ba-xi-lai –Ông ấy là người đã cưới một cô trong các con gái của Ba-xi-lai người Ghi-lê-át làm vợ và đã đổi họ để theo họ vợ– 64 Những người ấy đã truy lục gia phả của họ, nhưng họ không thể tìm thấy gia tộc của họ được liệt kê trong đó, nên họ đã bị loại ra khỏi hàng tư tế và bị xem là không tinh ròng để thi hành chức vụ thánh. 65 Do đó quan tổng trấn truyền cho họ không được ăn các món ăn cực thánh cho đến khi được một tư tế đứng ra dùng u-rim và thu-mim để xác quyết.

66 Tổng cộng cả hội chúng được bốn mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi người, 67 không kể bảy ngàn ba trăm ba mươi bảy người là các tôi trai và tớ gái; trong vòng họ cũng có hai trăm bốn mươi lăm người, cả nam lẫn nữ, là thành viên của ca đoàn thờ phượng.

68 Toàn dân có được bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la, 69 bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà, và sáu ngàn bảy trăm hai mươi con lừa.

70 Một số các trưởng tộc đã đóng góp vào quỹ tái thiết. Tổng trấn đóng góp vào trong kho một ngàn miếng vàng, năm mươi tô vàng, và năm trăm ba mươi bộ lễ phục cho các tư tế. 71 Các vị trưởng tộc đã đóng góp vào trong kho hai mươi ngàn miếng vàng và hai ngàn hai trăm thỏi bạc. 72 Dân chúng còn lại đã đóng góp hai mươi ngàn miếng vàng, hai ngàn thỏi bạc, và sáu mươi bảy bộ lễ phục cho các tư tế.

73 Như vậy các tư tế, những người Lê-vi, những người canh cửa, những người ca hát, những người phục vụ nơi Ðền Thờ, và một số người nữa, nói chung mọi người I-sơ-ra-ên đều được định cư trong các thành của họ. Ðến tháng thứ bảy dân I-sơ-ra-ên đã ổn định chỗ ở trong các thành của họ.

Tài Liệu Nghiên Cứu Kinh Thánh

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành