Ê-xơ-ra: Chương 10

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB15C010)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch Việt Ngữ

1. Trong lúc E-xơ-ra đang cầu nguyện, xưng tội, khóc, và phủ phục trước đền thờ của Đức Chúa Trời, có một đám đông những người Y-sơ-ra-ên gồm đàn ông, đàn bà và trẻ em, đã họp lại chung quanh ông, họ đã vì dân chúng khóc thật thảm thiết.

2. Sê-ca-nia, con trai của Giê-hi-ên, cháu của Ê-lam, đã lên tiếng, và nói với E-xơ-ra: “Chúng tôi đã phạm tội với Đức Chúa Trời của chúng tôi mà lấy vợ là những phụ nữ ngoại đạo thuộc các dân tộc trong xứ. Dù sao vẫn còn hy vọng cho Y-sơ-ra-ên về việc nầy. 3. Vì vậy chúng ta hãy lập giao ước với Đức Chúa Trời của chúng ta, từ bỏ tất cả những người vợ nầy và các con của họ, theo như lời khuyên của chúa tôi và của những người có lòng kính sợ điều răn của Đức Chúa Trời của chúng ta. Hãy thực hành theo luật pháp. 4. Hãy chỗi dậy, bởi vì việc này là trách nhiệm của ông, tuy nhiên chúng tôi sẽ cùng với ông. Hãy can đảm và hành động!”

5. Sau đó E-xơ-ra đã chỗi dậy, buộc những lãnh đạo, những thầy tế lễ, những người Lê-vi, và cả Y-sơ-ra-ên thề rằng họ sẽ làm theo lời nầy; vì vậy họ đã thề.

6. E-xơ-ra chỗi dậy khỏi đền thờ của Đức Chúa Trời, và đi vào phòng của Giô-ha-nan, con trai Ê-li-a-síp. Dù ông vào đó, ông không ăn bánh cũng không uống nước, bởi vì ông khóc than về tội lỗi của những người lưu đày hồi hương.

7. Người ta công bố cho tất cả những người lưu đày hồi hương khắp Giu-đa và Giê-ru-sa-lem rằng họ phải họp lại tại Giê-ru-sa-lem; 8. và nếu ai không đến trong vòng ba ngày theo lệnh của các lãnh đạo và các trưởng lão thì tất cả tài sản của người đó sẽ bị tịch thu, và chính người đó bị khai trừ khỏi hội chúng của những người lưu đày hồi hương.

9. Vì vậy, trong vòng ba ngày, tất cả những người Giu-đa và Bên-gia-min đều họp lại tại Giê-ru-sa-lem. Đó là ngày hai mươi của tháng chín. Tất cả dân chúng ngồi tại quảng trường trước đền của Đức Chúa Trời, run rẩy vì việc nầy và vì cơn mưa rất lớn.

10. Thầy tế lễ E-xơ-ra đứng dậy nói với họ: “Anh em đã phạm tội, lấy vợ ngoại đạo và làm tăng thêm tội cho Y-sơ-ra-ên. 11. Vì vậy bây giờ, hãy xưng tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em, và làm theo ý muốn của Ngài: Hãy phân rẽ anh em khỏi các dân tộc trong xứ và khỏi những người vợ ngoại đạo.”

12. Tất cả hội chúng đều đáp lớn tiếng rằng: “Vâng! Chúng tôi phải làm theo lời ông dạy. 13. Tuy nhiên dân chúng rất đông và nhằm vào mùa mưa lớn nên chúng tôi không thể đứng ở bên ngoài. Công việc không thể giải quyết trong một hai ngày, và hơn nữa rất nhiều người trong chúng tôi đã vi phạm điều nầy. 14. Vì vậy, hãy để những lãnh đạo đứng đại diện cho tất cả hội chúng, và người nào trong các thành phố của chúng ta đã cưới vợ ngoại đạo phải đến theo thời gian quy định cùng với các trưởng lão và thẩm phán của thành mình, để giải quyết việc nầy cho đến khi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời của chúng ta nguôi đi.”

15. Chỉ có Giô-na-than, con trai của A-sa-ên, và Gia-xi-gia, con trai Tiếc-va, chống đối việc nầy, cùng với Mê-su-lam và Sáp-bê-tai, người Lê-vi, đã ủng hộ họ.

16. Vì vậy, con cháu của những người bị lưu đày hồi hương đã làm như vậy. Thầy tế lễ E-xơ-ra với một số trưởng tộc theo gia tộc của họ được biệt riêng ra, tất cả đều được chỉ định đích danh. Ngày mồng một tháng mười, họ ngồi xuống để xem xét vấn đề. 17. Ngày mồng một tháng giêng, họ đã hoàn tất việc điều tra tất cả những người đã lấy vợ ngoại đạo.

18. Trong số những thầy tế lễ đã lấy vợ ngoại đạo mà họ tìm thấy có Giê-sua, con của Giô-xa-đác, và những anh em của ông là Ma-a-xê-gia, Ê-li-ê-xe, Gia-ríp, và Ghê-đa-lia. 19. Họ hứa từ bỏ những người vợ ngoại đạo, và dâng một con cừu đực làm tế lễ chuộc tội của họ. 20. Về dòng dõi Y-mê có Ha-na-ni và Xê-ba-đia; 21. về dòng dõi Ha-rim có Ma-a-xê-gia, Ê-li, Sê-ma-gia, Ghê-hi-ên, và U-xia; 22. về dòng dõi Pha-su-rơ có Ê-li-ô-ê-nai, Ma-a-xê-gia, Ích-ma-ên, Na-tha-na-ên, Giô-xa-bát, và Ê-lê-a-sa.

23. Về những người Lê-vi có Giô-xa-bát, Si-mê-i, Kê-la-gia (cũng gọi là Kê-li-ta), Phê-ta-hia, Giu-đa, và Ê-li-ê-xe.

24. Về các ca sĩ có Ê-li-a-síp; và về những người gác cổng có Sa-lum, Tê-lem, và U-ri.

25. Về dân Y-sơ-ra-ên: Về dòng dõi Pha-rốt có Ra-mia, Y-xia, Manh-ki-gia, Mi-gia-min, Ê-lê-a-sa, Manh-ki-gia, và Bê-na-gia; 26. về dòng dõi Ê-lam có Mát-ta-nia, Xa-cha-ri, Giê-hi-ên, Áp-đi, Giê-rê-mốt, và Ê-li; 27. về dòng dõi Xát-tu có Ê-li-ô-ê-nai, Ê-li-a-síp, Mát-ta-nia, Giê-rê-mốt, Xa-bát, và A-xi-xa; 28. về dòng dõi Bê-bai có Giô-ha-nan, Ha-na-nia, Xáp-bai, và Át-lai; 29. về dòng dõi Ba-ni có Mê-su-lam, Ma-lúc, A-đa-gia, Gia-sút, Sê-anh, và Ra-mốt; 30. về dòng dõi Pha-hát Mô-áp có Át-na, Kê-lanh, Bê-na-gia, Ma-a-xê-gia, Mát-ta-nia, Bết-sa-lê-ên, Bin-nui, và Ma-na-se; 31. về dòng dõi Ha-rim có Ê-li-ê-xe, Di-si-gia, Manh-ki-gia, Sê-ma-gia, Si-mê-ôn, 32. Bên-gia-min, Ma-lúc, và Sê-ma-ria; 33. về dòng dõi Ha-sum có Mát-nai, Mát-ta-tha, Xa-bát, Ê-li-phê-lết, Giê-rê-mai, Ma-na-se, và Si-mê-I; 34. về dòng dõi Ba-ni có Ma-ê-đai, Am-ram, U-ên, 35. Bê-na-gia, Bê-đia, Kê-lu-hu, 36. Va-nia, Mê-rê-mốt, Ê-li-a-síp, 37. Mát-ta-nia, Mát-tê-nai, Gia-a-sai, 38. Ba-ni, Bin-nui, Si-mê-i, 39. Sê-lê-mia, Na-than, A-đa-gia, 40. Mác-nát-bai, Sa-sai, Sa-rai, 41. A-xa-rên, Sê-lê-mia, Sê-ma-ria, 42. Sa-lum, A-ma-ria, và Giô-sép; 43. về dòng dõi Nê-bô có Giê-i-ên, Ma-ti-thia, Xa-bát, Xê-bi-na, Giát-đai, Giô-ên và Bê-na-gia. 44. Tất cả những người ấy đã lấy vợ ngoại đạo và một số người đã có con với những người vợ ngoại đạo đó.

Bản Dịch Đại Chúng

Trong lúc E-xơ-ra đang cầu nguyện, xưng tội, khóc, và phủ phục trước đền thờ của Đức Chúa Trời, có một đám đông những người Y-sơ-ra-ên gồm đàn ông, đàn bà và trẻ em, đã họp lại chung quanh ông, họ đã vì dân chúng khóc thật thảm thiết.

Sê-ca-nia, con trai của Giê-hi-ên, cháu của Ê-lam, đã lên tiếng, và nói với E-xơ-ra: “Chúng tôi đã phạm tội với Đức Chúa Trời của chúng tôi mà lấy vợ là những phụ nữ ngoại đạo thuộc các dân tộc trong xứ. Dù sao vẫn còn hy vọng cho Y-sơ-ra-ên về việc nầy. Vì vậy chúng ta hãy lập giao ước với Đức Chúa Trời của chúng ta, từ bỏ tất cả những người vợ nầy và các con của họ, theo như lời khuyên của chúa tôi và của những người có lòng kính sợ điều răn của Đức Chúa Trời của chúng ta. Hãy thực hành theo luật pháp. Hãy chỗi dậy, bởi vì việc này là trách nhiệm của ông, tuy nhiên chúng tôi sẽ cùng với ông. Hãy can đảm và hành động!”

Sau đó E-xơ-ra đã chỗi dậy, buộc những lãnh đạo, những thầy tế lễ, những người Lê-vi, và cả Y-sơ-ra-ên thề rằng họ sẽ làm theo lời nầy; vì vậy họ đã thề.

E-xơ-ra chỗi dậy khỏi đền thờ của Đức Chúa Trời, và đi vào phòng của Giô-ha-nan, con trai Ê-li-a-síp. Dù ông vào đó, ông không ăn bánh cũng không uống nước, bởi vì ông khóc than về tội lỗi của những người lưu đày hồi hương.

Người ta công bố cho tất cả những người lưu đày hồi hương khắp Giu-đa và Giê-ru-sa-lem rằng họ phải họp lại tại Giê-ru-sa-lem; và nếu ai không đến trong vòng ba ngày theo lệnh của các lãnh đạo và các trưởng lão thì tất cả tài sản của người đó sẽ bị tịch thu, và chính người đó bị khai trừ khỏi hội chúng của những người lưu đày hồi hương.

Vì vậy, trong vòng ba ngày, tất cả những người Giu-đa và Bên-gia-min đều họp lại tại Giê-ru-sa-lem. Đó là ngày hai mươi của tháng chín. Tất cả dân chúng ngồi tại quảng trường trước đền của Đức Chúa Trời, run rẩy vì việc nầy và vì cơn mưa rất lớn.

Thầy tế lễ E-xơ-ra đứng dậy nói với họ: “Anh em đã phạm tội, lấy vợ ngoại đạo và làm tăng thêm tội cho Y-sơ-ra-ên. Vì vậy bây giờ, hãy xưng tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em, và làm theo ý muốn của Ngài: Hãy phân rẽ anh em khỏi các dân tộc trong xứ và khỏi những người vợ ngoại đạo.”

Tất cả hội chúng đều đáp lớn tiếng rằng: “Vâng! Chúng tôi phải làm theo lời ông dạy. Tuy nhiên dân chúng rất đông và nhằm vào mùa mưa lớn nên chúng tôi không thể đứng ở bên ngoài. Công việc không thể giải quyết trong một hai ngày, và hơn nữa rất nhiều người trong chúng tôi đã vi phạm điều nầy. Vì vậy, hãy để những lãnh đạo đứng đại diện cho tất cả hội chúng, và người nào trong các thành phố của chúng ta đã cưới vợ ngoại đạo phải đến theo thời gian quy định cùng với các trưởng lão và thẩm phán của thành mình, để giải quyết việc nầy cho đến khi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời của chúng ta nguôi đi.”

Chỉ có Giô-na-than, con trai của A-sa-ên, và Gia-xi-gia, con trai Tiếc-va, chống đối việc nầy, cùng với Mê-su-lam và Sáp-bê-tai, người Lê-vi, đã ủng hộ họ.

Vì vậy, con cháu của những người bị lưu đày hồi hương đã làm như vậy. Thầy tế lễ E-xơ-ra với một số trưởng tộc theo gia tộc của họ được biệt riêng ra, tất cả đều được chỉ định đích danh. Ngày mồng một tháng mười, họ ngồi xuống để xem xét vấn đề. Ngày mồng một tháng giêng, họ đã hoàn tất việc điều tra tất cả những người đã lấy vợ ngoại đạo.

Trong số những thầy tế lễ đã lấy vợ ngoại đạo mà họ tìm thấy có Giê-sua, con của Giô-xa-đác, và những anh em của ông là Ma-a-xê-gia, Ê-li-ê-xe, Gia-ríp, và Ghê-đa-lia. Họ hứa từ bỏ những người vợ ngoại đạo, và dâng một con cừu đực làm tế lễ chuộc tội của họ. Về dòng dõi Y-mê có Ha-na-ni và Xê-ba-đia; về dòng dõi Ha-rim có Ma-a-xê-gia, Ê-li, Sê-ma-gia, Ghê-hi-ên, và U-xia; về dòng dõi Pha-su-rơ có Ê-li-ô-ê-nai, Ma-a-xê-gia, Ích-ma-ên, Na-tha-na-ên, Giô-xa-bát, và Ê-lê-a-sa.

Về những người Lê-vi có Giô-xa-bát, Si-mê-i, Kê-la-gia (cũng gọi là Kê-li-ta), Phê-ta-hia, Giu-đa, và Ê-li-ê-xe.

Về các ca sĩ có Ê-li-a-síp; và về những người gác cổng có Sa-lum, Tê-lem, và U-ri.

Về dân Y-sơ-ra-ên: Về dòng dõi Pha-rốt có Ra-mia, Y-xia, Manh-ki-gia, Mi-gia-min, Ê-lê-a-sa, Manh-ki-gia, và Bê-na-gia; về dòng dõi Ê-lam có Mát-ta-nia, Xa-cha-ri, Giê-hi-ên, Áp-đi, Giê-rê-mốt, và Ê-li; về dòng dõi Xát-tu có Ê-li-ô-ê-nai, Ê-li-a-síp, Mát-ta-nia, Giê-rê-mốt, Xa-bát, và A-xi-xa; về dòng dõi Bê-bai có Giô-ha-nan, Ha-na-nia, Xáp-bai, và Át-lai; về dòng dõi Ba-ni có Mê-su-lam, Ma-lúc, A-đa-gia, Gia-sút, Sê-anh, và Ra-mốt; về dòng dõi Pha-hát Mô-áp có Át-na, Kê-lanh, Bê-na-gia, Ma-a-xê-gia, Mát-ta-nia, Bết-sa-lê-ên, Bin-nui, và Ma-na-se; về dòng dõi Ha-rim có Ê-li-ê-xe, Di-si-gia, Manh-ki-gia, Sê-ma-gia, Si-mê-ôn, Bên-gia-min, Ma-lúc, và Sê-ma-ria; về dòng dõi Ha-sum có Mát-nai, Mát-ta-tha, Xa-bát, Ê-li-phê-lết, Giê-rê-mai, Ma-na-se, và Si-mê-I; về dòng dõi Ba-ni có Ma-ê-đai, Am-ram, U-ên, Bê-na-gia, Bê-đia, Kê-lu-hu, Va-nia, Mê-rê-mốt, Ê-li-a-síp, Mát-ta-nia, Mát-tê-nai, Gia-a-sai, Ba-ni, Bin-nui, Si-mê-i, Sê-lê-mia, Na-than, A-đa-gia, Mác-nát-bai, Sa-sai, Sa-rai, A-xa-rên, Sê-lê-mia, Sê-ma-ria, Sa-lum, A-ma-ria, và Giô-sép; về dòng dõi Nê-bô có Giê-i-ên, Ma-ti-thia, Xa-bát, Xê-bi-na, Giát-đai, Giô-ên và Bê-na-gia. Tất cả những người ấy đã lấy vợ ngoại đạo và một số người đã có con với những người vợ ngoại đạo đó.

Bản Dịch Ngữ Căn

1. Trong lúc E-xơ-ra đang cầu nguyện, xưng tội, khóc, và phủ phục trước đền thờ của Đức Chúa Trời, một đám đông những người Y-sơ-ra-ên gồm đàn ông, đàn bà và trẻ em, đã họp lại chung quanh ông, họ vì dân chúng đã khóc rất thảm thiết.

2. Sê-ca-nia, con trai của Giê-hi-ên, cháu của Ê-lam, đã lên tiếng, rồi nói với E-xơ-ra: “Chúng tôi đã phạm tội với Đức Chúa Trời của chúng tôi mà lấy vợ là những phụ nữ ngoại đạo thuộc các dân tộc trong xứ. Dù sao vẫn còn hy vọng cho Y-sơ-ra-ên về việc nầy. 3. Vì vậy chúng ta hãy lập giao ước với Đức Chúa Trời của chúng ta, từ bỏ tất cả những người vợ nầy và các con của họ, theo như lời khuyên của chúa tôi và của những người có lòng kính sợ điều răn của Đức Chúa Trời của chúng ta. Hãy thực hành theo luật pháp. 4. Hãy chỗi dậy, bởi vì việc này là trách nhiệm của ông, tuy nhiên chúng tôi sẽ cùng với ông. Hãy can đảm và hành động!”

5. Sau đó E-xơ-ra đã chỗi dậy, buộc những lãnh đạo, những thầy tế lễ, những người Lê-vi, và cả Y-sơ-ra-ên thề rằng họ sẽ làm theo lời nầy; vì vậy họ đã thề.

6. E-xơ-ra chỗi dậy khỏi nhà của Đức Chúa Trời, và đi vào phòng của Giô-ha-nan, con trai Ê-li-a-síp. Dù ông vào đó, ông không ăn bánh cũng không uống nước, bởi vì ông khóc than về tội lỗi của những người lưu đày hồi hương.

7. Người ta công bố cho tất cả những người lưu đày hồi hương khắp Giu-đa và Giê-ru-sa-lem rằng họ phải họp lại tại Giê-ru-sa-lem; 8. và nếu ai không đến trong vòng ba ngày theo lệnh của các lãnh đạo và các trưởng lão thì tất cả tài sản của người đó sẽ bị tịch thu, và chính người đó bị khai trừ khỏi hội chúng của những người lưu đày hồi hương.

9. Vì vậy, trong vòng ba ngày, tất cả những người Giu-đa và Bên-gia-min đều họp lại tại Giê-ru-sa-lem. Đó là ngày hai mươi của tháng chín. Tất cả dân chúng ngồi tại quảng trường trước nhà của Đức Chúa Trời, run rẩy vì việc nầy và vì cơn mưa rất lớn.

10. Thầy tế lễ E-xơ-ra đứng dậy nói với họ: “Anh em đã phạm tội, lấy vợ ngoại đạo và làm tăng thêm tội cho Y-sơ-ra-ên. 11. Vì vậy bây giờ, hãy xưng tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em, và làm theo ý muốn của Ngài: Hãy phân rẽ anh em khỏi các dân tộc trong xứ và khỏi những người vợ ngoại đạo.” 12. Tất cả hội chúng đều đáp lớn tiếng rằng: “Vâng! Chúng tôi phải làm theo lời ông dạy. 13. Tuy nhiên đoàn dân rất đông và nhằm vào mùa mưa lớn nên chúng tôi không thể đứng ở bên ngoài. Công việc không thể giải quyết trong một hai ngày, và hơn nữa rất nhiều người trong chúng tôi đã vi phạm điều nầy. 14. Vì vậy, hãy để những lãnh đạo đứng đại diện cho tất cả hội chúng, và người nào trong các thành phố của chúng ta đã cưới vợ ngoại đạo phải đến theo thời gian quy định cùng với các trưởng lão và thẩm phán của thành mình, để giải quyết việc nầy cho đến khi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời của chúng ta nguôi đi.”

15. Chỉ có Giô-na-than, con trai của A-sa-ên, và Gia-xi-gia, con trai Tiếc-va, chống đối việc nầy, cùng với Mê-su-lam và Sáp-bê-tai, người Lê-vi, đã ủng hộ họ.

16. Vì vậy, con cháu của những người bị lưu đày hồi hương đã làm như vậy. Thầy tế lễ E-xơ-ra với một số trưởng tộc theo gia tộc của họ được biệt riêng ra, tất cả được chỉ định đích danh. Ngày mồng một tháng mười, họ ngồi xuống để xem xét vấn đề. 17. Ngày mồng một tháng giêng, họ đã hoàn tất việc điều tra tất cả những người đã lấy vợ ngoại đạo.

18. Trong số những thầy tế lễ đã lấy vợ ngoại đạo mà họ tìm thấy có Giê-sua, con của Giô-xa-đác, và những anh em của ông là Ma-a-xê-gia, Ê-li-ê-xe, Gia-ríp, và Ghê-đa-lia. 19. Họ hứa từ bỏ những người vợ ngoại đạo, và dâng một con cừu đực làm tế lễ chuộc tội của họ. 20. Về dòng dõi Y-mê có Ha-na-ni và Xê-ba-đia; 21. về dòng dõi Ha-rim có Ma-a-xê-gia, Ê-li, Sê-ma-gia, Ghê-hi-ên, và U-xia; 22. về dòng dõi Pha-su-rơ có Ê-li-ô-ê-nai, Ma-a-xê-gia, Ích-ma-ên, Na-tha-na-ên, Giô-xa-bát, và Ê-lê-a-sa.

23. Về những người Lê-vi có Giô-xa-bát, Si-mê-i, Kê-la-gia (cũng gọi là Kê-li-ta), Phê-ta-hia, Giu-đa, và Ê-li-ê-xe.

24. Về các ca sĩ có Ê-li-a-síp; và về những người gác cổng có Sa-lum, Tê-lem, và U-ri.

25. Về dân Y-sơ-ra-ên: Về dòng dõi Pha-rốt có Ra-mia, Y-xia, Manh-ki-gia, Mi-gia-min, Ê-lê-a-sa, Manh-ki-gia, và Bê-na-gia; 26. về dòng dõi Ê-lam có Mát-ta-nia, Xa-cha-ri, Giê-hi-ên, Áp-đi, Giê-rê-mốt, và Ê-li; 27. về dòng dõi Xát-tu có Ê-li-ô-ê-nai, Ê-li-a-síp, Mát-ta-nia, Giê-rê-mốt, Xa-bát, và A-xi-xa; 28. về dòng dõi Bê-bai có Giô-ha-nan, Ha-na-nia, Xáp-bai, và Át-lai; 29. về dòng dõi Ba-ni có Mê-su-lam, Ma-lúc, A-đa-gia, Gia-sút, Sê-anh, và Ra-mốt; 30. về dòng dõi Pha-hát Mô-áp có Át-na, Kê-lanh, Bê-na-gia, Ma-a-xê-gia, Mát-ta-nia, Bết-sa-lê-ên, Bin-nui, và Ma-na-se; 31. về dòng dõi Ha-rim có Ê-li-ê-xe, Di-si-gia, Manh-ki-gia, Sê-ma-gia, Si-mê-ôn, 32. Bên-gia-min, Ma-lúc, và Sê-ma-ria; 33. về dòng dõi Ha-sum có Mát-nai, Mát-ta-tha, Xa-bát, Ê-li-phê-lết, Giê-rê-mai, Ma-na-se, và Si-mê-I; 34. về dòng dõi Ba-ni có Ma-ê-đai, Am-ram, U-ên, 35. Bê-na-gia, Bê-đia, Kê-lu-hu, 36. Va-nia, Mê-rê-mốt, Ê-li-a-síp, 37. Mát-ta-nia, Mát-tê-nai, Gia-a-sai, 38. Ba-ni, Bin-nui, Si-mê-i, 39. Sê-lê-mia, Na-than, A-đa-gia, 40. Mác-nát-bai, Sa-sai, Sa-rai, 41. A-xa-rên, Sê-lê-mia, Sê-ma-ria, 42. Sa-lum, A-ma-ria, và Giô-sép; 43. về dòng dõi Nê-bô có Giê-i-ên, Ma-ti-thia, Xa-bát, Xê-bi-na, Giát-đai, Giô-ên và Bê-na-gia. 44. Tất cả những người ấy đã lấy vợ ngoại đạo và một số người đã có con với những người vợ ngoại đạo đó.

Bản Dịch 1925

1. Trong lúc E-xơ-ra cầu nguyện như vậy, vừa khóc vừa xưng tội và sấp mình xuống trước đền của Đức Chúa Trời, thì có một đám dân Y-sơ-ra-ên, người nam và nữ rất đông, nhóm hiệp xung quanh người; chúng cũng khóc nức nở. 2. Sê-ca-nia, con trai Giê-hi-ên, cháu của Ê-lam, bèn nói cùng E-xơ-ra rằng: Chúng ta phạm tội với Đức Chúa Trời chúng ta mà cưới những người nữ ngoại thuộc các dân tộc của xứ; nhưng dầu đã làm vậy, hãy còn sự hi vọng cho Y-sơ-ra-ên. 3. Vậy bây giờ, ta hãy lập giao ước với Đức Chúa Trời chúng ta, đuổi hết thảy những người nữ kia và các con cái của họ đã sanh ra, y như lời chỉ giáo của chúa tôi và của các người có lòng kính sợ điều răn của Đức Chúa Trời chúng ta; khá làm điều ấy theo luật pháp. 4. Ông hãy đứng dậy, vì việc ầy can hệ đến ông, và chúng tôi sẽ giúp đỡ; khá can đảm mà làm.

5. E-xơ-ra bèn đứng dậy, khiến những thầy tế lễ cả, người Lê-vi, và cả Y-sơ-ra-ên thề rằng mình sẽ làm theo lời ấy. Chúng liền thề. 6. Khi E-xơ-ra đã chổi dậy khỏi trước đền Đức Chúa Trời, bèn đi vào phòng của Giô-ha-nan, con trai Ê-li-a-síp; người vào đó không ăn bánh và cũng không uống nước, bởi người lấy làm buồn thảm vì cớ tội lỗi của dân đã bị bắt làm phu tù được trở về. 7. Người ta bèn rao truyền khắp xứ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, biểu các dân đã bị bắt làm phu tù được trở về phải nhóm hiệp tại Giê-ru-sa-lem. 8. Trong ba ngày, ai không vâng theo lịnh của các quan trưởng và trưởng lão mà đến, thì các tài sản người ấy sẽ bị tịch-phong, và chính người bị truất ra khỏi hội chúng của dân đã bị bắt làm phu tù được trở về.

9. Trong ba ngày, các người của Giu-đa và Bên-gia-min đều nhóm lại tại Giê-ru-sa-lem, nhằm ngày hai mươi tháng chín; cả dân sự đều ngồi tại phố ở đằng trước đền của Đức Chúa Trời, rúng sợ về việc ấy và về cơn mưa lớn. 10. Đoạn, E-xơ-ra, thầy tế lễ, đứng dậy, và nói rằng: Các ngươi đã phạm tội, cưới vợ ngoại bang, và thêm nhiều lên tội lỗi của Y-sơ-ra-ên. 11. Nhưng bây giờ, khá xưng tội lỗi mình cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi, và làm đều đẹp ý Ngài: hãy phân cách khỏi các dân tộc của xứ và khỏi những người vợ ngoại bang.

12. Cả hội chúng bèn đáp lớn tiếng rằng: Phải, điều ông đã nói, chúng tôi phải làm theo; 13. song dân sự đông; và là nhầm mùa mưa, chúng tôi không có thể nào đứng ngoài; lại điều nầy chẳng phải là việc của một hoặc hai ngày, vì trong việc nầy chúng tôi đã phạm tội nhiều lắm. 14. Vậy, xin các quan trưởng chúng tôi hãy đứng ở đó đặng biện lý cho cả hội chúng; phàm ai trong các thành chúng tôi đã cưới lấy vợ ngoại bang, phải đến theo kỳ nhất định, với các trưởng lão và quan xét của bổn thành, đặng sắp đặt việc này cho đến chừng đã nguôi cơn giận dữ của Đức Chúa Trời chúng tôi.

15. Chỉ Giô-na-than, con trai của A-sa-ên, và Gia-xi-gia, con trai Tiếc-va, phản cải lời định nầy; và Mê-su-lam cùng Sáp-bê-tai, người Lê-vi, đều giúp cho họ.

16. Vậy, những người đã bị bắt làm phu tù được trở về làm theo điều đã nhất định. Người ta chọn E-xơ-ra, thầy tế lễ, và mấy trưởng tộc, tùy theo tông tộc mình, hết thảy đều gọi đích danh. Ngày mồng một tháng mười, chúng ngồi xuống đặng tra xét việc nầy. 17. Đến ngày mồng một tháng giêng, chúng đã tra xét xong những người có cưới vợ ngoại bang. 18. Trong dòng thầy tế lễ cũng có thấy những người đã cưới vợ ngoại bang. Trong con cháu Giê-sua, chít của Giô-xa-đác, và trong các anh em người có Ma-a-xê-gia, Ê-li-ê-xe, Gia-ríp, và Ghê-đa-lia. 19. Chúng hứa đuổi vợ mình, và dâng một con chiên đực làm của lễ chuộc lỗi mình. 20. Trong con cháu Y-mê có Ha-na-ni và Xê-ba-bia. 21. Trong con cháu Ha-rim có Ma-a-xê-gia, Ê-li, Sê-ma-gia, Giê-hi-ên, và U-xia. 22. Trong con cháu Pha-su-rơ có Ê-li-ô-ê-nai, Ma-a-xê-gia, Ích-ma-ên, Na-tha-na-ên, Giô-xa-bát, và Ê-lê-a-sa. 23. Trong người Lê-vi có Giô-xa-bát, Si-mê-i, Kê-la-gia (cũng gọi là Kê-li-ta), Phê-ta-hia, Giu-đa, và Ê-li-ê-xe. 24. Trong các người ca hát có Ê-li-a-síp; trong những người giữ cửa có Sa-lum, Tê-lem, và U-ri.

25. Trong dân Y-sơ-ra-ên: trong con cháu Pha-rốt có Ra-mia, Y-xia, Manh-ki-gia, Mi-gia-min, Ê-lê-a-sa, Manh-ki-gia, và Bê-na-gia. 26. Trong con cháu Ê-lam có Mát-ta-nia, Xa-cha-ri, Giê-hi-ên, Áp-đi, Giê-rê-mốt, và Ê-li. 27. Trong con cháu Xát-tu có Ê-li-ô-ê-nai, Ê-li-a-síp, Mát-ta-nia, Giê-rê-mốt, Xa-bát, và A-xi-xa. 28. Trong con cháu Bê-bai có Giô-ha-nan, Ha-na-nia, Xáp-bai, và Át-lai. 29. Trong con cháu Ba-ni có Mê-su-lam, Ma-lúc, A-đa-gia, Gia-sút, Sê-anh, và Ra-mốt. 30. Trong con cháu Pha-hát-Mô-áp có Át-na, Kê-lanh, Bê-na-gia, Ma-a-xê-gia, Mát-ta-nia, Bết-sa-lê-ên, Bin-nui, và Ma-na-se. 31. Trong con cháu Ha-rim có Ê-li-ê-se, Di-si-gia, Manh-ki-gia, Sê-ma-gia, Si-mê-ôn, 32. Bên-gia-min, Ma-lúc, và Sê-ma-ri-a. 33. Trong con cháu Ha-sum có Mát-nai, Mát-ta-ta, Xa-bát, Ê-li-phê-lết, Giê-rê-mai, Ma-na-se, và Si-mê-i. 34. Trong con cháu Ba-ni có Ma-ê-đai, Am-ram, U-ên, 35. Bên-na-gia, Bê-đia, Kê-lu-hu, 36. Va-nia, Mê-rê-mốt, Ê-li-a-síp, 37. Mát-ta-nia, Mát-tê-nai, Gia-a-sai, 38. Ba-ni, Bin-nui, Si-mê-i, 39. Sê-lê-mia, Na-than, A-đa-gia, 40. Mác-nát-bai, Sa-sai, Sa-rai, 41. A-xa-rên, Sê-lê-mia, Sê-ma-ria, 42. Sa-lum, A-ma-ria, và Giô-sép. 43. Trong con cháu Nê-bô có Giê-i-ên, Ma-ti-thia, Xa-bát, Xê-bi-na, Giát-đai, Giô-ên và Bê-na-gia. 44. Hết thảy người ấy đã cưới vợ ngoại bang; và cũng có nhiều người trong bọn ấy có vợ đã sanh đẻ con.

Bản Dịch 2011

Dân Chúng Ðáp Ứng

1 Bấy giờ trong khi Ê-xơ-ra cầu nguyện, tức trong khi ông xưng tội, khóc lóc, và phủ phục trước Ðền Thờ Ðức Chúa Trời, một đoàn dân I-sơ-ra-ên rất đông gồm đàn ông, đàn bà, và trẻ em tụ lại quanh ông; dân chúng cũng khóc lóc một cách đắng cay thảm thiết với ông. 2 Bấy giờ Sê-ca-ni-a con của Giê-hi-ên, một trong các con cháu của Ê-lam, cất tiếng và nói với Ê-xơ-ra, “Chúng tôi đã phạm tội với Ðức Chúa Trời chúng ta. Chúng tôi đã cưới những phụ nữ không tin thờ Ngài của các dân trong xứ làm vợ. Dù việc nầy có trầm trọng thật, nhưng bây giờ vẫn còn hy vọng cho dân I-sơ-ra-ên. 3 Vậy bây giờ xin chúng ta hãy lập một giao ước với Ðức Chúa Trời chúng ta, mà chấm dứt mối liên hệ gia đình với những người vợ dị chủng và dị giáo và các con cái do họ sinh ra theo như ý kiến của ông và của những người run sợ trước mạng lịnh của Ðức Chúa Trời chúng ta. Chúng ta cứ chiếu theo Luật Pháp mà thi hành. 4 Xin ông đứng dậy vì việc nầy phải do ông quyết định mới được. Chúng tôi sẽ một lòng ủng hộ ông. Xin ông hãy can đảm và thực hiện điều ấy.”

5 Bấy giờ Ê-xơ-ra đứng dậy và yêu cầu các vị trưởng tế, những người Lê-vi, và toàn dân I-sơ-ra-ên tuyên thệ sẽ làm theo những lời đã đề nghị. Họ bèn thề sẽ làm theo như thế.

6 Ê-xơ-ra trỗi dậy, rời khỏi chỗ ông đã quỳ ở trước Ðền Thờ Ðức Chúa Trời, và đi đến văn phòng của Giê-hô-ha-nan con của Ê-li-a-síp. Ông ở trong phòng đó suốt đêm, không ăn và không uống gì cả, vì ông quá buồn bã về lòng bất trung của những người bị lưu đày đã hồi hương.

7 Sau đó họ ra một thông cáo và phổ biến khắp xứ Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, để kêu gọi tất cả những người đã từ chốn lưu đày trở về phải tập họp về Giê-ru-sa-lem gấp. 8 Trong vòng ba ngày, theo lịnh của các nhà lãnh đạo và các vị trưởng lão, nếu ai không tới, tài sản người ấy sẽ bị tịch thu, và người ấy sẽ bị loại ra khỏi cộng đồng những người từ chốn lưu đày trở về.

9 Vậy chỉ trong ba ngày, toàn dân sống trong miền Giu-đa và miền Bên-gia-min đã tụ họp đông đủ về Giê-ru-sa-lem. Ðó là ngày hai mươi tháng chín. Mọi người đều ngồi ở trước quảng trường của Ðền Thờ Ðức Chúa Trời. Ai nấy đều run cầm cập vì việc ấy và cũng vì ướt lạnh do trời mưa tầm tã. 10 Bấy giờ Tư Tế Ê-xơ-ra đứng ra và nói với họ, “Anh em đã phạm tội vì đã cưới những người vợ dị chủng và dị giáo. Bây giờ anh em đã làm cho tội lỗi của I-sơ-ra-ên đã trở nên nặng hơn lúc trước. 11 Vậy bây giờ hãy xưng tội với CHÚA, Ðức Chúa Trời của tổ tiên anh em, và làm theo ý Ngài. Hãy đoạn tuyệt với các dân trong xứ và hãy chấm dứt mối liên hệ gia đình với những người vợ dị chủng và dị giáo.”

12 Bấy giờ toàn thể hội chúng đáp lời và nói lớn tiếng, “Vâng! Chúng tôi sẽ làm như điều ông nói.” 13 Kế đó họ nói, “Rất nhiều người đã dính líu vào việc nầy, hơn nữa bây giờ là mùa mưa. Chúng ta không thể cứ đứng ngoài trời mà giải quyết việc nầy ngay hôm nay được. Ngoài ra việc nầy cũng không thể giải quyết được trong một hai ngày, vì chúng ta đã phạm tội quá trầm trọng trong việc nầy. 14 Bây giờ chúng ta hãy ủy quyền cho các vị lãnh đạo, để họ quyết định việc nầy cho toàn thể hội chúng. Những ai đã cưới vợ ngoại bang sẽ theo hẹn kỳ đến gặp các vị trưởng lão và các thẩm phán trong thành của mình, để được họ giải quyết thỏa đáng, hầu cơn thịnh nộ bừng bừng của Ðức Chúa Trời chúng ta sẽ quay khỏi chúng ta trong việc nầy.”

15 Chỉ có Giô-na-than con của A-sa-hên và Gia-xê-gia con của Tích-va phản đối quyết định đó, và họ được hai người Lê-vi là Mê-su-lam và Sa-bê-thai ủng hộ. 16 Thế là những người từ chốn lưu đày trở về đã cương quyết thực thi đề nghị ấy.

Tư tế Ê-xơ-ra chỉ định các vị trưởng gia tộc, người nào theo chi tộc nấy; tất cả đều được chỉ định đích danh. Ngày mồng một tháng mười, họ bắt đầu ngồi xuống giải quyết vấn đề. 17 Ðến ngày mồng một tháng giêng năm sau, họ đã giải quyết xong mọi trường hợp của những người cưới vợ dị chủng và dị giáo.

Danh Sách Những Người Cưới Vợ Dị Chủng và Dị Giáo

18 Trong vòng các tư tế, những người sau đây đã cưới vợ dị chủng và dị giáo:

Trong các con cháu của Giê-sua con của Giô-xa-đắc và các anh em ông ấy có Ma-a-sê-gia, Ê-li-ê-xe, Gia-ríp, và Ghê-đa-li-a. 19 Tất cả những người ấy đều đưa tay tuyên thệ sẽ chấm dứt mối liên hệ gia đình với những người vợ dị chủng và dị giáo, và vì cớ lỗi của họ, mỗi người sẽ dâng một con chiên đực trong bầy của họ để làm của lễ tạ lỗi.

20 Trong con cháu của Im-me có Hê-na-ni và Xê-ba-đi-a.

21 Trong con cháu của Ha-rim có Mê-a-sê-gia, Ê-li-gia, Sê-ma-gia, Giê-hi-ên, và U-xi-a.

22 Trong con cháu của Pát-khua có Ê-li-ô-ê-nai, Ma-a-sê-gia, Ích-ma-ên, Nê-tha-nên, Giô-xa-bát, và Ê-la-sa.

23 Trong vòng những người Lê-vi có Giô-xa-bát, Si-mê-i, Kê-la-gia (cũng có tên khác là Lê-li-ta), Pê-tha-hi-a, Giu-đa, và Ê-li-ê-xe.

24 Trong vòng những người ca hát thờ phượng có Ê-li-a-síp.

Trong vòng những người canh cửa Ðền Thờ có Sanh-lum, Tê-lem, và U-ri.

25 Trong vòng những người I-sơ-ra-ên khác:

Trong con cháu của Pa-rốt có Ra-mi-a, I-xi-a, Manh-ki-gia, Mi-gia-min, Ê-lê-a-xa, Manh-ki-gia, và Bê-na-gia.

26 Trong con cháu của Ê-lam có Mát-ta-ni-a, Xa-cha-ri-a, Giê-hi-ên, Áp-đi, Giê-rê-mốt, và Ê-li-gia.

27 Trong con cháu của Xát-tu có Ê-li-ô-ê-nai, Ê-li-a-síp, Mát-ta-ni-a, Giê-rê-mốt, Xa-bát, và A-xi-xa.

28 Trong con cháu của Bê-bai có Giê-hô-ha-nan, Ha-na-ni-a, Xáp-bai, và Át-lai.

29 Trong con cháu của Ba-ni có Mê-su-lam, Manh-lúc, A-đa-gia, Gia-súp, Sê-anh, và Giê-rê-mốt.

30 Trong con cháu của Pa-hát Mô-áp có Át-na, Kê-lanh, Bê-na-gia, Ma-a-sê-gia, Mát-ta-ni-a, Bê-xa-lên, Bin-nui, và Ma-na-se.

31 Trong con cháu của Ha-rim có Ê-li-ê-xe, I-si-gia, Manh-ki-gia, Sê-ma-gia, Si-mê-ôn, 32 Bên-gia-min, Manh-lúc, và Sê-ma-ri-a.

33 Trong con cháu của Ha-sum có Mát-tê-nai, Mát-ta-ta, Xa-bát, Ê-li-phê-lết, Giê-rê-mai, Ma-na-se, và Si-mê-i.

34 Trong con cháu của Ba-ni có Ma-a-đai, Am-ram, U-ên, 35 Bê-na-gia, Bê-đê-gia, Kê-lu-hi, 36 Va-ni-a, Mê-rê-mốt, Ê-li-a-síp, 37 Mát-ta-ni-a, Mát-tê-nai, và Gia-a-su.

38 Trong con cháu của Bin-nui có Si-mê-i, 39 Sê-lê-mi-a, Na-than, A-đa-gia, 40 Mác-na-đê-bai, Sa-sai, Sa-rai, 41 A-xa-rên, Sê-lê-mi-a, Sê-ma-ri-a, 42 Sanh-lum, A-ma-ri-a, và Giô-sép.

43 Trong con cháu của Nê-bô có Giê-i-ên, Mát-ti-thi-a, Xa-bát, Xê-bi-na, Giáp-đai, Giô-ên, và Bê-na-gia.

44 Tất cả những người ấy đều cưới các phụ nữ dị chủng và dị giáo làm vợ. Một số người trong vòng họ đã có con với các phụ nữ đó.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành
  • Kinh Thánh - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành
  • Thánh Kinh Lược Khảo - Nhà Xuất Bản Tin Lành Sài Gòn (1970)