I Sử Ký: Chương 16

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB13C016)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Chúng thỉnh hòm của Đức Chúa Trời về, để trong trại của Đa-vít đã dựng lên cho nó; đoạn dâng những của lễ thiêu và của lễ bình an tại trước mặt Đức Chúa Trời. 2. Khi Đa-vít đã dâng của lễ thiêu và của lễ bình an xong, bèn nhân danh Đức Giê-hô-va chúc phước cho dân sự; 3. đoạn phân phát cho hết thảy người Y-sơ-ra-ên, cả nam và nữ, mỗi người một ổ bánh, một miếng thịt, và một cái bánh nho khô.

4. Người lập mấy người Lê-vi hầu việc trước hòm của Đức Giê-hô-va, ngợi khen, cảm tạ, và ca tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên: 5. A-sáp làm chánh, Xa-cha-ri làm phó, rồi thì Giê-i-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, Ma-ti-thia, Ê-li-áp, Bê-na-gia, Ô-bết-Ê-đôm, và Giê-i-ên, đều cầm nhạc khí, đàn cầm và đàn sắt; còn A-sáp nổi chập chỏa vang lên. 6. Bê-na-gia và thầy tế lễ Gia-ha-xi-ên đều hằng thổi kèn ở trước hòm giao ước của Đức Chúa Trời.

7. Trong ngày đó, Đa-vít trao nơi tay A-sáp và anh em người bài hát nầy, đặng ngợi khen Đức Giê-hô-va:

8. Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va cầu khẩn danh Ngài, Và đồn công việc Ngài ra giữa các dân tộc!

9. Hãy ca hát cho Ngài, hãy ngợi khen Ngài! Suy gẫm về các công việc mầu của Ngài.

10. Hãy lấy danh thánh Ngài làm vinh; Phàm ai tìm cầu Đức Giê-hô-va, khá vui lòng!

11. Phải tìm cầu Đức Giê-hô-va và sức mạnh Ngài, Phải tìm mặt Ngài luôn luôn.

12. Hỡi dòng dõi của Y-sơ-ra-ên, là đầy tớ Ngài, Hỡi con cháu của Gia-cốp, là kẻ Ngài chọn, 13. Hãy nhớ lại công việc mầu của Ngài đã làm, Những phép lạ Ngài, và lời xét đoán của miệng Ngài.

14. Ngài vốn là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta; Sự xét đoán Ngài làm ra khắp thế gian.

15. Khá nhớ đời đời sự giao ước Ngài, Và mạng lịnh Ngài đã định cho ngàn đời,

16. Tức giao ước, Ngài đã lập cùng Áp-ra-ham, Và lời thề Ngài đã thề cùng Y-sác;

17. Lại quyết định cho Gia-cốp làm điều lệ, Cho Y-sơ-ra-ên làm giao ước đời đời,

18. Rằng: Ta sẽ ban cho ngươi xứ Ca-na-an, Là phần cơ nghiệp ngươi.

19. Khi ấy các ngươi chỉ một số ít người, Hèn mọn, và làm khách trong xứ;

20. Trảy từ dân nầy qua dân kia, Từ nước nầy đến nước khác.

21. Ngài không cho ai hà hiếp chúng, Ngài trách phạt các vua vì cớ họ,

22. Mà rằng: Chớ đụng đến những kẻ chịu xức dầu ta, Đừng làm hại cho các tiên tri ta.

23. Hỡi người khắp thế gian, khá hát ngợi khen Đức Giê-hô-va; Ngày ngày hãy tỏ ra sự chửng cứu của Ngài!

24. Trong các nước hãy thuật sự vinh hiển của Ngài; Tại muôn dân khá kể những công việc mầu của Ngài.

25. Vì Đức Giê-hô-va là lớn, rất đáng ngợi khen, Đáng kính sợ hơn các thần.

26. Vì các thần của những dân tộc vốn là hình tượng; Còn Đức Giê-hô-va dựng nên các từng trời.

27. Ở trước mặt Ngài có sự vinh hiển, oai nghi; Tại nơi Ngài ngự có quyền năng và sự vui vẻ,

28. Hỡi các dòng của muôn dân, Khá tôn Đức Giê-hô-va vinh hiển và quyền năng;

29. Khá tôn Đức Giê-hô-va vinh hiển xứng đáng danh Ngài, Đem lễ vật đến trước mặt Ngài; hãy mặc lấy trang sức thánh khiết mà thờ lạy Đức Giê-hô-va.

30. Hỡi khắp thiên hạ, khá run sợ trước mặt Ngài. Thế giới cũng được vững bền, không sao lay động.

31. Các từng trời hãy vui mừng, trái đất khá hỉ lạc; Còn trong các nước người ta đáng nói: Đức Giê-hô-va quản trị!

32. Biển và mọi vật ở trong phải dội tiếng lớn lên; Đồng nội và vạn vật trong nó đều khá vui vẻ!

33. Bấy giờ các cây cối trong rừng sẽ hát mừng rỡ trước mặt Đức Giê-hô-va; Vì Ngài đến đặng xét đoán thế gian.

34. Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là nhân từ; Sự thương xót Ngài còn đến đời đời.

35. Hãy nói: Hỡi Đức Chúa Trời, Đấng chửng cứu chúng tôi! xin hãy cứu rỗi chúng tôi, Hiệp chúng tôi lại, và giải thoát khỏi các nước, Để chúng tôi cảm tạ danh thánh Chúa, Và nhờ sự ngợi khen Chúa mà lấy làm được vinh.

36. Đáng ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Từ đời đời cho đến đời đời! Cả dân sự đều đáp rằng: A-men! và ngợi khen Đức Giê-hô-va.

37. Vậy, Đa-vít đặt A-sáp và anh em người tại đó, trước hòm giao ước của Đức Giê-hô-va, hầu cho mỗi ngày phục sự luôn luôn ở trước hòm, làm việc ngày nào theo ngày nấy. 38. Cũng đặt Ô-bết-Ê-đôm và anh em người làm kẻ giữ cửa, số được sáu mươi tám người, và Ô-bết-Ê-đôm, con trai của Giê-đu-thun, cùng Hô-sa; 39. lại đặt thầy tế lễ cả Xa-đốc và anh em người, là những thầy tế lễ ở trước đền tạm của Đức Giê-hô-va, tại nơi cao trong Ga-ba-ôn, 40. đặng sớm mai và chiều hằng dâng những của lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, tại trên bàn thờ của lễ thiêu, tùy theo các điều chép trong luật pháp của Đức Giê-hô-va, mà Ngài đã truyền dạy cho Y-sơ-ra-ên; 41. với chúng có đặt Hê-man, Giê-đu-thun, và những người đã được chọn khác, gọi từng danh, đặng ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì sự thương xót Ngài còn đến đời đời; 42. còn Hê-man và Giê-đu-thun cầm những kèn và chập chỏa để làm nó vang dầy lên, cùng các nhạc khí dùng về bài ca hát của Đức Chúa Trời; các con trai của Giê-đu-thun thì đứng tại nơi cửa.

43. Cả dân sự đều đi, mỗi người trở về nhà mình; còn Đa-vít trở về đặng chúc phước cho nhà người.

Bản Dịch 2011

Ðặt Rương Giao Ước vào Ðền Tạm

1 Vậy họ rước Rương của Ðức Chúa Trời và đặt Rương Thánh vào lều Ða-vít đã dựng cho Rương Thánh. Sau đó họ dâng các của lễ thiêu và các lễ cầu an trước thánh nhan của Ðức Chúa Trời. 2 Sau khi Ða-vít đã dâng các của lễ thiêu và các của lễ cầu an, ông nhân danh CHÚA chúc phước cho dân. 3 Kế đó ông phát cho dân, không phân biệt nam hay nữ, mỗi người một ổ bánh, một phần thịt, và một cái bánh nho khô.

4 Ông bổ nhiệm một số người Lê-vi vào chức vụ hầu việc trước Rương của CHÚA để cầu xin, cảm tạ, và ca ngợi CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên. 5 A-sáp làm trưởng; Xa-cha-ri-a làm phó; kế đến là Giê-i-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, Mát-ti-thi-a, Ê-li-áp, Bê-na-gia, Ô-bết Ê-đôm, và Giê-i-ên để họ sử dụng các hạc cầm và các đàn lia; A-sáp là người sử dụng khánh chiêng. 6 Còn hai vị tư tế Bê-na-gia và Gia-ha-xi-ên có nhiệm vụ thổi kèn thường xuyên trước Rương Giao Ước của Ðức Chúa Trời.

Bài Ca Cảm Tạ của Ða-vít

(Thi 105:1-15; 96:1-13; 106:47-48)

7 Ngày hôm đó lần đầu tiên Ða-vít đưa cho A-sáp và bà con của ông ấy những bài thánh thi để hát lên cảm tạ CHÚA:

8 Hãy cảm tạ CHÚA, hãy cầu khẩn danh Ngài;

Hãy rao truyền cho các dân biết các công việc Ngài.

9 Hãy ca ngợi Ngài, hãy ca hát chúc tụng Ngài;

Hãy kể ra tất cả những việc lạ lùng của Ngài.

10 Vinh hiển thay cho người được ở trong danh thánh Ngài;

Nguyện lòng những người tìm kiếm CHÚA được vui mừng.

11 Hãy tìm kiếm CHÚA và tìm kiếm quyền năng Ngài;

Hãy tìm kiếm mặt Ngài luôn luôn.

12 Hãy nhớ mãi những việc lạ lùng Ngài làm,

Tức những việc diệu kỳ và những phán quyết Ngài đã phán.

13 Hỡi dòng dõi của I-sơ-ra-ên, tôi tớ Ngài,

Hỡi con cháu của Gia-cốp, những người Ngài đã chọn.

14 Ngài là CHÚA, Ðức Chúa Trời chúng ta;

Các phán quyết của Ngài là định luật cho cả địa cầu.

15 Ngài ghi nhớ giao ước của Ngài mãi mãi,

Lời Ngài đã truyền có hiệu lực cho ngàn thế hệ về sau,

16 Ấy là giao ước Ngài đã lập với Áp-ra-ham,

Và lời thề Ngài đã thề cùng I-sác.

17 Sau đó Ngài đã xác nhận với Gia-cốp như một đạo luật,

Với I-sơ-ra-ên như một giao ước đời đời,

18 Rằng, “Ta sẽ ban xứ Ca-na-an cho các ngươi để làm sản nghiệp,”

19 Trong khi họ chỉ là một số ít người,

Một nhóm thiểu số và là những kiều dân trong xứ.

20 Họ đã đi lang thang từ nước nầy sang nước khác,

Từ vương quốc nọ đến vương quốc kia.

21 Nhưng Ngài đã không cho phép ai hà hiếp họ;

Vì cớ họ, Ngài đã quở trách các vua,

22 “Ðừng đụng đến những người được xức dầu của Ta;

Chớ làm hại các tiên tri của Ta.”

23 Hỡi cả thế giới, hãy ca ngợi CHÚA;

Hãy rao truyền ơn cứu rỗi của Ngài từ ngày nọ sang ngày kia.

24 Hãy công bố vinh hiển của Ngài giữa các quốc gia,

Hãy thuật lại những việc lạ lùng của Ngài cho mọi dân tộc.

25 Vì CHÚA thật vĩ đại thay!

Chỉ Ngài là Ðấng đáng được ca tụng.

Ngài là Ðấng đáng kính sợ hơn tất cả các thần.

26 Vì tất cả các thần của các dân chỉ là hình tượng vô tri;

Còn CHÚA là Ðấng đã dựng nên các từng trời.

27 Huy hoàng và uy nghi ở trước mặt Ngài,

Quyền năng và đẹp đẽ ở trong nơi thánh của Ngài.

28 Hãy quy về cho CHÚA, hỡi các dòng họ của muôn dân,

Hãy quy về cho CHÚA vinh hiển và quyền năng.

29 Hãy quy về cho CHÚA vinh hiển xứng đáng với danh Ngài;

Hãy đem một của lễ đến trước thánh nhan Ngài.

Hãy tôn thờ CHÚA trong nơi thánh tráng lệ của Ngài;

30 Hỡi cả thế giới, khá run sợ trước mặt Ngài.

Ðịa cầu đã được lập vững; nó sẽ không bị chuyển dời.

31 Nguyện các từng trời vui mừng, nguyện trái đất vui vẻ;

Nguyện người ta nói giữa các quốc gia, “CHÚA trị vì!”

32 Nguyện đại dương và mọi vật trong nó gầm vang;

Nguyện đồng xanh và mọi vật trong nó mừng rỡ;

33 Bấy giờ mọi cây rừng sẽ hát ca vui vẻ,

Ở trước mặt CHÚA, vì Ngài sắp đến để phán xét thế gian.

34 Hãy cảm tạ CHÚA, vì Ngài rất tốt,

Vì tình thương của Ngài còn đến đời đời.

35 Xin mọi người hãy nói, “Lạy CHÚA, Ðức Chúa Trời của chúng con,

Xin giải cứu chúng con,

Xin đem chúng con từ giữa các dân trở về,

Ðể chúng con cảm tạ danh thánh của Ngài,

Và tôn vinh ca ngợi Ngài.

36 Chúc tụng CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên,

Từ đời đời cho đến đời đời.”

Xin mọi người hãy nói, “A-men!” và hãy ca ngợi CHÚA!

Sự Thờ Phượng Thường Xuyên

37 Ða-vít để A-sáp và bà con của ông ấy ở lại tại đó trước Rương Giao Ước của CHÚA, để họ phục vụ thường xuyên mỗi ngày trước Rương Thánh như đã định. 38 Ông cũng để Ô-bết Ê-đôm và sáu mươi tám người bà con của ông ấy ở lại đó. Ô-bết Ê-đôm con của Giê-đu-thun và Hô-sa đặc trách việc giữ cửa. 39 Ngoài ra ông cũng để Tư Tế Xa-đốc và bà con của ông ấy làm tư tế trước Ðền Tạm của CHÚA ở nơi cao tại Ghi-bê-ôn, 40 để họ thường xuyên dâng các của lễ thiêu lên CHÚA trên bàn thờ dâng của lễ thiêu, mỗi sáng và mỗi chiều, theo như mọi điều đã ghi trong luật pháp CHÚA đã truyền cho I-sơ-ra-ên. 41 Cùng ở với họ có Hê-man, Giê-đu-thun, và những người khác đã được chọn và được nêu đích danh để lo việc tạ ơn CHÚA, vì tình thương của Ngài còn đến đời đời. 42 Hê-man và Giê-đu-thun được trao cho các kèn, các khánh chiêng, và mọi thứ nhạc khí để họ lo việc tấu nhạc khi hát thánh ca. Các con của Giê-đu-thun được chỉ định túc trực nơi cổng chính.

43 Sau đó toàn dân I-sơ-ra-ên rời nơi ấy trở về nhà họ. Ða-vít cũng trở về nhà ông và chúc phước cho gia đình ông.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu