I Sử Ký: Chương 6

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB13C006)
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Con trai của Lê-vi là Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri. 2. Con trai của Kê-hát là Am-ram, Két-sê-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên. 3. Con trai của Am-ram là A-rôn, Môi-se và Mi-ri-am. Con trai của A-rôn là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma. 4. Ê-lê-a-sa sanh Phi-nê-a; Phi-nê-a sanh A-bi-sua; 5. A-bi-sua sanh Bu-ki, Bu-ki sanh U-xi; 6. U-xi sanh Xê-ra-hi-gia; Xê-ra-hi-gia sanh Mê-ra-giốt; 7. Mê-ra-giốt sanh A-ma-ria; A-ma-ria sanh A-hi-túp; 8. A-hi-túp sanh Xa-đốc; Xa-đốc sanh A-hi-ma-ách; 9. A-hi-ma-ách sanh A-xa-ria; A-xa-ria sanh Giô-ha-nan; 10. Giô-ha-nan sanh A-xa-ria, là kẻ làm chức tế lễ trong đền vua Sa-lô-môn đã xây ở thành Giê-ru-sa-lem. 11. A-xa-ria sanh A-ma-ria; A-ma-ria sanh A-hi-túp; 12. A-hi-túp sanh Xa-đốc; Xa-đốc sanh Sa-lum; 13. Sa-lum sanh Hinh-kia; Hinh-kia sanh A-xa-ria; 14. A-xa-ria sanh Sê-ra-gia; Sê-ra-gia sanh Giê-hô-xa-đác; 15. Giê-hô-xa-đác bị bắt làm phu tù khi Đức Giê-hô-va dùng tay Nê-bu-cát-nết-sa mà bắt dẫn dân Giu-đa và Giê-ru-sa-lem đi.

16. Con trai của Lê-vi là Ghẹt-sôn, Kê-hát, và Mê-ra-ri. 17. Đây là những tên của các con trai Ghẹt-sôn: Líp-ni và Si-mê-i. 18. Con trai của Kê-hát là Am-ram, Dít-sê-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên. 19. Con trai của Mê-ra-ri là Mách-li và Mu-si. Ấy là các họ hàng người Lê-vi theo tông tộc mình. 20. Con trai của Ghẹt-sôn là Líp-ni; con trai của Líp-ni là Gia-hát; con trai của Gia-hát là Xim-ma; con trai của Xim-ma là Giô-a; 21. con trai của Giô-a là Y-đô; con trai của Y-đô là Xê-ra; con trai của Xê-ra là Giê-a-trai. 22. Con trai của Kê-hát là A-mi-na-đáp; con trai của A-mi-na-đáp là Cô-rê; con trai của Cô-rê là Át-si; con trai của Át-si là Ên ca-na; 23. con trai của Ên ca-na là Ê-bi-a-sáp; con trai của Ê-bi-a-sáp là Át-si; 24. con trai của Át-si là Ta-hát; con trai của Ta-hát là U-ri-ên; con trai của U-ri-ên là U-xi-gia; con trai của U-xi-gia là Sau-lơ. 25. Con trai của Ên-ca-na là A-ma-sai và A-hi-mốt. 26. Con trai của Ên-ca-na là Xô-phai; con trai của Xô-phai là Na-hát; 27. con trai của Na-hát là Ê-li-áp; con trai của Ê-li-áp là Giê-rô-ham; con trai của Giê-rô-ham là Ên-ca-na. 28. Các con trai của Sa-mu-ên là: Con trưởng nam là Va-sê-ni, con thứ hai A-bi-gia. 29. Con trai của Mê-ra-ri là Mách-li, con trai của của Mách-li là Líp-ni; con trai của Líp-ni là Si-mê-i; con trai của Si-mê-i là U-xa; 30. con trai của U-xa là Si-mê-a; con trai của Si-mê-a là Ha-ghi-gia; con trai của Ha-ghi-gia là A-sai-gia.

31. Sau khi hòm giao ước đã để yên rồi, vua Đa-vít có đặt những kẻ để coi sóc việc hát xướng trong đền Đức Giê-hô-va. 32. Chúng hầu việc trước đền tạm về việc hát xướng cho đến khi vua Sa-lô-môn xây xong đền thờ của Đức Giê-hô-va tại Giê-ru-sa-lem: ai nấy đều theo ban thứ mình mà làm việc. 33. Đây là những kẻ chầu chực với con trai mình. Trong con cháu Kê-hát có Hê-man là kẻ nhã nhạc, con trai của Giô-ên, Giô-ên con trai của Sa-mu-ên, 34. Sa-mu-ên con trai của Ên-ca-na, Ên-ca-na con trai của Giê-rô-ham, Giê-rô-ham con trai của Ê-li-ên, Ê-li-ên con trai của Thô-a, 35. Thô-a con trai của Xu-phơ, Xu-phơ con trai của Ên-ca-na, Ên-ca-na con trai của Ma-hát, Ma-hát con trai của A-ma-sai, 36. A-ma-sai con trai của Ên-ca-na, Ên-ca-na con trai của Giô-ên, Giô-ên con trai của A-xa-ria, A-xa-ria con trai của Xô-phô-ni, 37. Xô-phô-ni con trai của Ta-hát, Ta-hát con trai của Át-si, Át-si con trai của Ê-bi-a-sáp, Ê-bi-a-sáp con trai của Cô-rê, 38. Cô-rê con trai của Dít-sê-ha, Dít-sê-ha con trai của Kê-hát, Kê-hát con trai của Lê-vi, Lê-vi con trai của Y-sơ-ra-ên.

39. A-sáp, anh em của Hê-man, chầu chực bên hữu người. A-sáp là con trai của Bê-rê-kia, Bê-rê-kia con trai của Si-mê-a, 40. Si-mê-a con trai của Mi-ca-ên, Mi-ca-ên con trai của Ba-sê-gia, Ba-sê-gia con trai của Manh-ki-gia, 41. Manh-ki-gia con trai của Ét-ni, Ét-ni con trai của Xê-ra, Xê-ra con trai của A-đa-gia, 42. A-đa-gia con trai của Ê-than, Ê-than con trai của Xim-ma, Xim-ma con trai của Si-mê-i, 43. Si-mê-i con trai của Gia-hát, Gia-hát con trai của Ghẹt-sôn, Ghẹt-sôn con trai của Lê-vi.

44. Các con cháu của Mê-ra-ri, anh em của chúng, đều chầu chực bên tả, là Ê-than con trai của Ki-si, Ki-si con trai của Áp-đi, Áp-đi con trai của Ma-lúc, 45. Ma-lúc con trai của Ha-sa-bia, Ha-sa-bia con trai của A-ma-xia, A-ma-xia con trai của Hinh-kia, 46. Hinh-kia con trai của Am-si, Am-si con trai của Ba-ni, Ba-ni con trai của Sê-me, 47. Sê-me con trai của Mách-lị, Mách-lị con trai của Mu-si, Mu-si con trai của Mê-ra-ri, Mê-ra-ri con trai của Lê-vi.

48. Các anh em chúng, là những người Lê-vi khác, đều được cắt làm mọi việc trong đền tạm của Đức Chúa Trời. 49. A-rôn và các con trai người đều dâng của lễ hoặc trên bàn thờ về của lễ thiêu hay trên bàn thờ xông hương, làm mọi việc ở nơi chí thánh, và làm lễ chuộc tội cho Y-sơ-ra-ên, theo như mọi sự Môi-se, đầy tớ Đức Chúa Trời, đã truyền dạy.

50. Đây là dòng dõi của A-rôn: Ê-lê-a-sa con trai của A-rôn, Phi-nê-a con trai của Ê-lê-a-sa, A-bi-sua con trai của Phi-nê-a, 51. Bu-ki con trai của A-bi-sua, U-xi con trai của Bu-ki, Xê-ra-hi-gia con trai của U-xi, 52. Mê-ra-giốt con trai của Xê-ra-hi-gia, A-ma-ria con trai của Mê-ra-giốt, A-hi-túp con trai của A-ma-ria, 53. Xa-đốc con trai của A-hi-túp, A-hi-ma-ách con trai của Xa-đốc.

54. Nầy là nơi ở của con cái A-rôn, tùy theo nơi đóng trại mình trong địa phận chúng. Họ hàng Kê-hát bắt thăm trước hết. 55. Họ phân cấp cho chúng thành Hếp-rôn tại xứ Giu-đa và các cõi bốn phía. 56. Song đất ruộng và hương thôn của thành đều ban cho Ca-lép, con trai Giê-phu-nê. 57. Lại con cháu A-rôn được những thành ẩn náu, là Hếp-rôn, Líp-na, và địa hạt nó; Gia-tia, Ếch-tê-mô-a, và địa hạt nó; 58. Hi-lên, và địa hạt nó; Đê-bia, và địa hạt nó; 59. A-san, và địa hạt nó; Bết-Sê-mết, và địa hạt nó. 60. Bởi từ chi phái Bên-gia-min họ được Ghê-ba, và địa hạt nó; A-lê-mết, và địa hạt nó; A-na-tốt, và địa hạt nó. Các thành của chúng cộng lại được mười ba cái, tùy theo gia tộc họ. 61. Con cháu Kê-hát còn lại bắt thăm mà được mười thành trong nửa chi phái Ma-na-se. 62. Con cháu Ghẹt-sôn, tùy theo họ hàng, đều được mười ba thành bởi trong chi phái Y-sa-ca, chi phái A-se, chi phái Nép-tha-li, và chi phái Ma-na-se tại đất Ba-san. 63. Con cháu Mê-ra-ri, tùy theo gia tộc họ, đều bắt thăm mà được mười hai thành, bởi trong chi phái Ru-bên, chi phái Gát và chi phái Sa-bu-lôn.

64. Dân Y-sơ-ra-ên chia cấp cho người Lê-vi các thành ấy và địa hạt nó. 65. Họ bắt thăm mà cho bởi trong chi phái Giu-đa, chi phái Si-mê-ôn, và chi phái Bên-gia-min, những thành đã kể ở trên. 66. Trong người Kê-hát có mấy nhà đã được những thành bởi trong chi phái Ép-ra-im; 67. chúng được những thành ẩn náu, là Si-chem với địa hạt nó, tại trên núi Ép-ra-im, Ghê-xe với địa hạt nó, 68. Giốc-mê-am với địa hạt nó, Bết-Hô-rôn với địa hạt nó, 69. A-gia-lôn với địa hạt nó, Gát-Rim-môn với địa hạt nó; 70. và bởi trong nửa chi phái Ma-na-se họ được A-ne với địa hạt nó, Bi-lê-am với địa hạt nó. Người ta chia cấp các thành ấy cho những người của dòng Kê-hát còn sót lại.

71. Con cháu Ghẹt-sôn bởi họ hàng của nửa chi phái Ma-na-se, được Gô-lan ở đất Ba-san với địa hạt nó; Ách-ta-rốt với địa hạt nó; 72. bởi chi phái Y-sa-ca, họ được Kê-đe với địa hạt nó; 73. Ra-mốt với địa hạt nó; A-nem với địa hạt nó; 74. bởi chi phái A-se, họ được Ma-sanh với địa hạt nó; Áp-đôn với địa hạt nó; Hu-cô với địa hạt nó; 75. Rê-hốp với địa hạt nó; 76. bởi chi phái Nép-ta-li, họ được Kê-đe trong Ga-li-lê, với địa hạt nó; Ham-môn với địa hạt nó; Ki-ria-ta-im với địa hạt nó.

77. Con cháu Mê-ra-ri còn sót lại bởi chi phái Sa-bu-lôn được Ri-mô-nô với địa hạt nó; Tha-bô với địa hạt nó; 78. còn bên kia sông Giô-đanh về phía đông, đối ngang Giê-ri-cô, bởi chi phái Ru-bên, họ được Bết-se trong rừng với địa hạt nó; Gia-xa với địa hạt nó; 79. Kê-đê-mốt với địa hạt nó; Mê-phát với địa hạt nó; 80. bởi chi phái Gát, họ được Ra-mốt ở đất Ga-la-át, với địa hạt nó; Ma-ha-na-im với địa hạt nó; 81. Hết-bôn với địa hạt nó; Gia-ê-xe với địa hạt nó.

Bản Dịch 2011

Dòng Dõi của Lê-vi
1. Các con của Lê-vi là Ghẹt-sôm, Kê-hát, và Mê-ra-ri.
2. Các con của Kê-hát là Am-ram, Ít-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên.
3. Các con của Am-ram là A-rôn, Mô-sê, và Mi-ri-am.
Các con của A-rôn là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-xa, và I-tha-ma. 4. Ê-lê-a-xa sinh Phi-nê-a. Phi-nê-a sinh A-bi-sua. 5. A-bi-sua sinh Búc-ki. Búc-ki sinh U-xi. 6. U-xi sinh Xê-ra-hi-a. Xê-ra-hi-a sinh Mê-ra-giốt. 7. Mê-ra-giốt sinh A-ma-ri-a. A-ma-ri-a sinh A-hi-túp. 8. A-hi-túp sinh Xa-đốc. Xa-đốc sinh A-hi-ma-a. 9. A-hi-ma-a sinh A-xa-ri-a. A-xa-ri-a sinh Giô-ha-nan. 10. Giô-ha-nan sinh A-xa-ri-a, người làm tư tế trong đền thờ do Sa-lô-môn xây ở Giê-ru-sa-lem. 11. A-xa-ri-a sinh A-ma-ri-a. A-ma-ri-a sinh A-hi-túp. 12. A-hi-túp sinh Xa-đốc. Xa-đốc sinh Sanh-lum. 13. Sanh-lum sinh Hinh-ki-a. Hinh-ki-a sinh A-xa-ri-a. 14. A-xa-ri-a sinh Sê-ra-gia. Sê-ra-gia sinh Giê-hô-xa-đát.
15. Giê-hô-xa-đát bị đem đi lưu đày khi CHÚA dùng tay Nê-bu-cát-nê-xa phạt dân Giu-đa và dân Giê-ru-sa-lem bị lưu đày.
16. Các con của Lê-vi là Ghẹt-sôm, Kê-hát, và Mê-ra-ri.
17. Ðây là tên các con của Ghẹt-sôm: Líp-ni và Si-mê-i.
18. Các con của Kê-hát là Am-ram, Ít-ha, Hếp-rôn, và U-xi-ên.
19. Các con của Mê-ra-ri là Mác-li và Mu-si.
Ðây là các thị tộc của chi tộc Lê-vi liệt kê theo tổ tiên của họ:
20. Con của Ghẹt-sôm là Líp-ni; con của Líp-ni là Gia-hát; con của Gia-hát là Xim-ma; 21. con của Xim-ma là Giô-a; con của Giô-a là I-đô; con của I-đô là Xê-ra; con của Xê-ra là Giê-a-thê-rai.
22. Con cháu của Kê-hát là Am-mi-na-đáp; con của Am-mi-na-đáp là Cô-ra; con của Cô-ra là Át-si; 23. con của Át-si là Ên-ca-na; con của Ên-ca-na là Ê-bi-a-sáp; con của Ê-bi-a-sáp là Át-si; 24. con của Át-si là Ta-hát; con của Ta-hát là U-ri-ên; con của U-ri-ên là U-xi-a; con của U-xi-a là Sa-un.
25. Các con của Ên-ca-na là A-ma-sai và A-hi-mốt.
26. Về Ên-ca-na thì con cháu của Ên-ca-na là Xô-phai; con của Xô-phai là Na-hát; 27. con của Na-hát là Ê-li-áp; con của Ê-li-áp là Giê-rô-ham; con của Giê-rô-ham là Ên-ca-na.
28. Các con của Sa-mu-ên là Giô-ên con đầu lòng, A-bi-gia con thứ nhì.
29. Con cháu của Mê-ra-ri là Ma-li; con của Ma-li là Líp-ni; con của Líp-ni là Si-mê-i; con của Si-mê-i là U-xa; 30. con của U-xa là Si-mê-a; con của Si-mê-a là Hắc-ghi-a; con của Hắc-ghi-a là A-sa-gia.
Những Người Ðặc Trách Thánh Nhạc Thời Vua Ða-vít
31. Ðây là những người Ða-vít đã lập làm những người đặc trách việc ca hát thờ phượng trong nhà CHÚA, sau khi Rương Giao Ước đã được rước vào an vị. 32. Họ phục vụ bằng sự ca ngợi trước Ðền Tạm, tức Lều Hội Kiến, cho đến khi Sa-lô-môn xây dựng một Ðền Thờ cho CHÚA tại Giê-ru-sa-lem. Họ thi hành bổn phận của họ theo như quy luật đã định cho họ.
33. Ðây là những người đã phục vụ cùng với con cháu của họ:
Trong dòng dõi của Kê-hát có Hê-man làm ca đoàn trưởng, con của Giô-ên, con của Sa-mu-ên, 34. con của Ên-ca-na, con của Giê-rô-ham, con của Ê-li-ên, con của Tô-a, 35. con của Xu-phơ, con của Ên-ca-na, con của Ma-hát, con của A-ma-sai, 36. con của Ên-ca-na, con của Giô-ên, con của A-xa-ri-a, con của Xê-pha-ni-a, 37. con của Ta-hát, con của Át-si, con của A-bi-a-sáp, con của Cô-ra, 38. con của Ít-ha, con của Kê-hát, con của Lê-vi, con của I-sơ-ra-ên.
39. Em của ông là A-sáp, đứng bên phải ông. A-sáp là con của Bê-rê-ki-a, con của Si-mê-a, 40. con của Mi-chên, con của Ba-a-sê-gia, con của Manh-ki-gia, 41. con của Ết-ni, con của Xê-ra, con của A-đa-gia, 42. con của Ê-than, con của Xim-ma, con của Si-mê-i, 43. con của Gia-hát, con của Ghẹt-sôm, con của Lê-vi.
44. Ðứng bên trái của ông có những người trong dòng họ của ông, các con của Mê-ra-ri: Ê-than con của Ki-si, con của Áp-đi, con của Manh-lúc, 45. con của Ha-sa-bi-a, con của A-ma-xi-a, con của Hinh-ki-a, 46. con của Am-xi, con của Ba-ni, con của Sê-me, 47. con của Mác-li, con của Mu-si, con của Mê-ra-ri, con của Lê-vi.
48. Những người bà con của họ đều được trao trách nhiệm phục vụ mọi việc trong Ðền Tạm, tức nhà của Ðức Chúa Trời.
49. Nhưng A-rôn và con cháu của ông thì chuyên lo việc dâng hiến nơi bàn thờ dâng của lễ thiêu và bàn thờ dâng hương, tức làm mọi công việc của Nơi Chí Thánh, để chuộc tội cho dân I-sơ-ra-ên, theo như mọi điều Mô-sê tôi tớ của Ðức Chúa Trời đã truyền.
50. Ðây là con cháu của A-rôn: con của A-rôn là Ê-lê-a-xa; con của Ê-lê-a-xa là Phi-nê-a; con của Phi-nê-a là A-bi-sua; 51. con của A-bi-sua là Búc-ki; con của Búc-ki là U-xi; con của U-xi là Xê-ra-hi-a; 52. con của Xê-ra-hi-a là Mê-ra-giốt; con của Mê-ra-giốt là A-ma-ri-a; con của A-ma-ri-a là A-hi-túp; 53. con của A-hi-túp là Xa-đốc; con của Xa-đốc là A-hi-ma-a.
Những Nơi Ðịnh Cư của Chi Tộc Lê-vi
54. Ðây là những vùng định cư và các lãnh thổ đã được bốc thăm để chia cho chi tộc Lê-vi:
Ðối với các con cháu của A-rôn, các gia tộc của dòng họ Kê-hát (vì thăm trúng vào dòng họ của họ trước) 55. được người ta ban cho họ Hếp-rôn trong xứ Giu-đa và những đồng cỏ chung quanh thành, 56. nhưng ruộng rẫy thuộc về thành và các làng trực thuộc thành đều được ban cho Ca-lép con của Giê-phu-nê.
57. Người ta ban cho các con cháu của A-rôn các thành: Hếp-rôn (thành ẩn náu), Líp-na và các đồng cỏ của nó, Giát-tia, Ếch-tê-mô-a và các đồng cỏ của nó, 58. Hi-lên và các đồng cỏ của nó, Ðê-bi và các đồng cỏ của nó, 59. A-san và các đồng cỏ của nó, và Bết Sê-mếch và các đồng cỏ của nó. 60. Trong lãnh thổ của chi tộc Bên-gia-min: Ghê-ba và các đồng cỏ của nó, A-lê-mết và các đồng cỏ của nó, và A-na-thốt và các đồng cỏ của nó. Tổng số các thành được ban cho các gia tộc trong dòng họ của họ là mười ba thành.
61. Ðối với các con cháu còn lại của dòng họ Kê-hát, người ta bắt thăm chia cho họ các thành trong lãnh thổ của các chi tộc; trong phân nửa chi tộc của Ma-na-se, họ được chia cho mười thành.
62. Ðối với các con cháu của Ghẹt-sôm theo từng thị tộc của họ, các chi tộc I-sa-ca, A-se, Náp-ta-li, và Ma-na-se ở Ba-san đã bắt thăm chia cho họ mười ba thành.
63. Ðối với các con cháu của Mê-ra-ri theo từng thị tộc của họ, các chi tộc Ru-bên, Gát, và Xê-bu-lun đã bắt thăm chia cho họ mười hai thành.
64. Như thế dân I-sơ-ra-ên đã chia cho người Lê-vi các thành và các đồng cỏ. 65. Các chi tộc Giu-đa, Si-mê-ôn và Bên-gia-min cũng đã bắt thăm chia cho họ các thành được kể ở trên.
66. Một số thị tộc trong vòng con cháu của Kê-hát được ban cho các thành và đất đai trong lãnh thổ của chi tộc Ép-ra-im. 67. Họ được ban cho các thành ẩn náu: Si-chem và các đồng cỏ của nó trong vùng cao nguyên Ép-ra-im, Ghê-xe và các đồng cỏ của nó, 68. Giốc-mê-am và các đồng cỏ của nó, Bết Hô-rôn và các đồng cỏ của nó, 69. A-gia-lôn và các đồng cỏ của nó, Gát Rim-môn và các đồng cỏ của nó. 70. Trong lãnh thổ của phân nửa chi tộc Ma-na-se: A-ne và các đồng cỏ của nó, Bi-lê-am và các đồng cỏ của nó được ban cho những người còn lại trong con cháu của Kê-hát.
71. Ðối với các con cháu của Ghẹt-sôm, trong lãnh thổ của phân nửa chi tộc Ma-na-se: Gô-lan ở Ba-san và các đồng cỏ của nó và Ách-ta-rốt và các đồng cỏ của nó; 72. trong lãnh thổ của chi tộc I-sa-ca: Kê-đét và các đồng cỏ của nó, Ða-bê-rát và các đồng cỏ của nó, 73. Ra-mốt và các đồng cỏ của nó, và A-nem và các đồng cỏ của nó; 74. trong lãnh thổ của chi tộc A-se: Ma-sanh và các đồng cỏ của nó, Áp-đôn và các đồng cỏ của nó, 75. Hu-cốc và các đồng cỏ của nó, và Rê-bốc và các đồng cỏ của nó; 76. trong lãnh thổ của chi tộc Náp-ta-li: Kê-đét ở Ga-li-lê và các đồng cỏ của nó, Ham-môn và các đồng cỏ của nó, và Ki-ri-át-ha-im và các đồng cỏ của nó.
77. Ðối với các con cháu còn lại của Mê-ra-ri, trong lãnh thổ của chi tộc Xê-bu-lun, người ta chia cho họ Rim-mô-nô và các đồng cỏ của nó, Ta-bô và các đồng cỏ của nó 78. ở bên kia Sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô, tức bên phía đông Sông Giô-đanh trong lãnh thổ của chi tộc Ru-bên, Bê-xe trong vùng đồng hoang và các đồng cỏ của nó, Gia-xa và các đồng cỏ của nó, 79. Kê-đê-mốt và các đồng cỏ của nó, và Mê-pha-át và các đồng cỏ của nó; 80. trong lãnh thổ của chi tộc Gát: Ra-mốt ở Ghi-lê-át và các đồng cỏ của nó, Ma-ha-na-im và các đồng cỏ của nó, 81. Hếch-bôn và các đồng cỏ của nó, và Gia-xe và các đồng cỏ của nó.

Tài Liệu