Lê-vi Ký: Chương 14

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB03C014)
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 2. Nầy là luật lệ cho kẻ phung về ngày nó được sạch. Người ta sẽ dẫn người phung đến thầy tế lễ: 3. thầy tế lễ sẽ ra ngoài trại quân mà khám bịnh cho. Nếu vít phung của người bịnh lành rồi, 4. thì về phần người phải được sạch, thầy tế lễ sẽ truyền đem hai con chim vẫn sống và tinh sạch, cây hương nam, màu đỏ sặm và nhành kinh giới. 5. Thầy tế lễ biểu cắt cổ một trong hai chim đó trong chậu sành, trên nước chảy. 6. Đoạn, bắt lấy chim còn sống với cây hương nam, màu đỏ sặm, nhành kinh giới, đem nhúng trong huyết của chim kia đã cắt cổ trên nước chảy. 7. Thầy tế lễ phải rảy huyết bảy lần trên người được sạch phung, và định người là tinh sạch, rồi thả con chim còn sống ra ngoài đồng. 8. Kẻ được sạch sẽ giặt áo xống mình, cạo hết lông, tắm trong nước, rồi sẽ được tinh sạch. Kế đó người được vào trại quân, nhưng phải ở ngoài trại mình trong bảy ngày.

9. Qua ngày thứ bảy người sẽ cạo hết lông, tóc, râu, và lông mày mình, giặt quần áo và tắm mình trong nước, thì sẽ được tinh sạch. 10. Qua ngày thứ tám, người bắt hai chiên con đực không tì vít chi, một chiên con cái chưa giáp năm, không tì vít chi, ba phần mười ê-pha bột lọc, chế dầu, làm của lễ chay, và một lót dầu; 11. thầy tế lễ làm lễ nên thanh sạch sẽ đem người đang được sạch và các vật đó đến trước mặt Đức Giê-hô-va tại cửa hội mạc.

12. Kế đó, thầy tế lễ sẽ bắt một trong hai chiên con đực dâng làm của lễ chuộc sự mắc lỗi với một lót dầu, và đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va. 13. Đoạn, người giết chiên con đó trong nơi thường giết các con sinh dùng làm của lễ chuộc tội và của lễ thiêu, tức là trong một nơi thánh, vì của lễ chuộc sự mắc lỗi thuộc về thầy tế lễ như của lễ chuộc tội vậy; ấy là một vật chí thánh. 14. Thầy tế lễ sẽ lấy huyết của con sinh tế chuộc sự mắc lỗi bôi trên trái tai hữu của người được sạch, trên ngón cái tay mặt và trên ngón cái chân mặt; 15. đoạn lấy lót dầu đổ trong bàn tay tả mình, 16. nhúng ngón tay hữu vào dầu trong bàn tay tả mình, mà rảy bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va. 17. Dầu còn lại trong bàn tay mình, thầy tế lễ sẽ lấy bôi trên trái tai hữu của người được sạch, trên ngón cái tay mặt và ngón cái chân mặt, tức trên lớp huyết của lễ chuộc sự mắc lỗi. 18. Dầu còn dư lại trong bàn tay mình, thầy tế lễ sẽ đổ trên đầu người được sạch; vậy thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người trước mặt Đức Giê-hô-va. 19. Đoạn, thầy tế lễ sẽ dâng của lễ chuộc tội đặng làm lễ chuộc tội cho người được sạch sự ô uế mình. Kế đó, thầy tế lễ sẽ giết con sinh dùng làm của lễ thiêu, 20. dâng lên với của lễ chay trên bàn thờ; vậy, thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người nầy, thì người nầy sẽ được tinh sạch.

21. Nhưng nếu người đó nghèo nàn, không phương thế đủ dâng những lễ vật nầy, thì phải bắt một chiên con đực dùng làm của lễ chuộc sự mắc lỗi, dâng đưa qua đưa lại đặng làm lễ chuộc tội cho mình, một phần mười bột lọc chế dầu làm của lễ chay và một lót dầu. 22. Tùy theo phương thế mình, người cũng đem nộp hai con chim cu hay là hai bò câu con; con nầy dùng làm của lễ chuộc tội, con kia dùng làm của lễ thiêu. 23. Qua ngày thứ tám, người phải vì sự nên thanh sạch mình, đem nộp các lễ vật nầy cho thầy tế lễ tại cửa hội mạc, trước mặt Đức Giê-hô-va.

24. Thầy tế lễ sẽ bắt chiên con đực định làm của lễ chuộc sự mắc lỗi, và một lót dầu, rồi dâng lên đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va. 25. Đoạn, người giết chiên con dùng làm của lễ chuộc sự mắc lỗi, lấy huyết bôi trên trái tai hữu của kẻ được sạch, trên ngón cái tay mặt và trên ngón cái chân mặt. 26. Rồi thầy tế lễ đổ dầu vào bàn tay tả mình, 27. ngón tay hữu nhúng lấy dầu đổ trong bàn tay tả, rảy bảy lần trước mặt Đức Giê-hô-va, 28. và bôi trên trái tai hữu của người được sạch, trên ngón cái tay mặt và trên ngón cái chân mặt, tại nơi đã bôi huyết của lễ chuộc sự mắc lỗi. 29. Dầu còn dư lại trong bàn tay, thầy tế lễ sẽ đổ trên đầu người được sạch, đặng làm lễ chuộc tội cho người trước mặt Đức Giê-hô-va. 30. Đoạn, thầy tế lễ sẽ dâng một trong hai con chim cu, hoặc một trong hai con bồ câu con, tùy theo vật họ nộp, 31. dâng con nầy dùng làm của lễ chuộc tội, con kia dùng làm của lễ thiêu, với của lễ chay. Vậy, thầy tế lễ sẽ làm lễ chuộc tội cho người được sạch trước mặt Đức Giê-hô-va.

32. Đó là luật lệ về lễ nên thanh sạch của kẻ nghèo nàn bị vít phung.

33. Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se và A-rôn rằng: 34. Khi nào các ngươi sẽ vào xứ Ca-na-an, mà ta sẽ cho các ngươi làm sản nghiệp, nếu ta giáng một vít mốc như vít phung trong nhà nào của xứ các ngươi sẽ được làm sản nghiệp, 35. chủ nhà đó phải đến cáo cùng thầy tế lễ rằng: Tôi thấy như có một vít mốc trong nhà. 36. Trước khi vào khám vít mốc đó, thầy tế lễ phải truyền họ đem đồ đạc trong nhà ra hết, hầu cho khỏi bị lây ô uế; sau dời xong, thầy tế lễ sẽ vào đặng khám nhà. 37. Người sẽ xem vít đó, nếu nó ở nơi vách có lỗ màu xanh xanh, hoặc đỏ đỏ, bộ sâu hơn mặt vách, 38. thì thầy tế lễ phải đi ra đến cửa ngoài, niêm nhà lại trong bảy ngày. 39. Ngày thứ bảy, thầy tế lễ trở lại, nếu thấy vít ăn lan ra trên vách nhà, 40. thì phải truyền gỡ mấy cục đá bị vít lây, liệng ra ngoài thành trong một nơi dơ dáy; 41. đoạn biểu người ta cạo trong nhà và chung quanh nhà, và hốt bỏ bụi cạo đó ra ngoài thành trong một nơi dơ dáy; 42. rồi lấy đá khác trám vào chỗ đá cũ, và đem hồ mới tô lại khắp nhà.

43. Nhưng nếu sau khi đã gỡ mấy cục đá, cạo nhà và tô lại, vít đó trở lại lở trong nhà, 44. thì thầy tế lễ phải đến khám nữa. Nếu thấy vít ăn lan ra, ấy là một vít phung ăn ruồng nhà; nhà đã bị ô uế. 45. Vậy, họ phải phá nhà đi, đá, gỗ và hồ, rồi đem đổ hết thảy ngoài thành trong một nơi dơ dáy. 46. Trong lúc niêm nhà, ai đi vào thì sẽ bị lây ô uế cho đến chiều tối. 47. Ai ngủ, hoặc ăn trong nhà đó phải giặt quần áo mình.

48. Nhưng sau khi nhà đã tô rồi, nếu thầy tế lễ trở lại, khám thấy vít không ăn lan trong nhà, thì phải định nhà là tinh sạch, vì vít đó đã lành rồi. 49. Đặng làm lễ nên thanh sạch cho nhà, người phải lấy hai con chim, cây hương nam, màu đỏ sặm và nhành kinh giới; 50. giết một con chim trong chậu sành, trên nước chảy, 51. rồi lấy cây hương nam, nhành kinh giới, màu đỏ sặm, và con chim sống, nhúng hết trong huyết con chim đã cắt cổ trên nước chảy, và rảy bảy lần trên nhà. 52. Vậy, người dùng huyết con chim, nước chảy, con chim sống, cây hương nam, nhành kinh giới, và màu đỏ sặm đặng làm lễ khiến nhà nên thanh sạch. 53. Đoạn, người thả con chim sống bay ra ngoài thành đến nơi ruộng; người sẽ làm lễ chuộc tội cho nhà, thì nhà sẽ được sạch.

54. Đó là luật lệ về các thứ vít phung và tật đòng đanh, 55. về vít mốc trên quần áo và nhà ở, như vít phung, 56. về chỗ sưng, chỗ lở ra và chỗ đốm, 57. đặng dạy cho biết khi nào ô uế, và khi nào tinh sạch. Đó là luật lệ về bịnh phung vậy.

Bản Dịch 2011

Lễ Thanh Tẩy cho Người Phung Ðược Lành
1. CHÚA phán với Mô-sê rằng, 2. “Ðây là quy luật áp dụng cho một người đã mắc bệnh phung trong ngày người ấy được lành: Người ấy sẽ được đem đến với tư tế. 3. Tư tế sẽ đi ra bên ngoài doanh trại, và tư tế sẽ thực hiện cuộc khám nghiệm người ấy. Nếu bệnh nơi người phung quả thật đã lành, 4. tư tế sẽ truyền cho người ấy đem đến hai con chim còn sống thuộc loài thanh sạch, một nhánh cây bá hương, một lọn chỉ điều, và một nhánh cây bài hương, để làm lễ thanh tẩy cho người được lành. 5. Tư tế sẽ truyền đem giết một con chim, cho chảy huyết vào một chậu sành, trong khi đổ nước suối vào. 6. Tư tế sẽ lấy con chim còn sống, với nhánh cây bá hương, lọn chỉ điều, và nhánh cây bài hương, đem nhúng vào huyết của con chim bị giết đã hòa lẫn với nước suối đổ vào đó. 7. Tư tế sẽ rảy bảy lần trên người được lành bệnh phung, rồi tuyên bố người ấy đã được sạch; đoạn tư tế sẽ thả con chim còn sống để nó bay ra đồng. 8. Người được tuyên bố là sạch phải giặt kỹ tất cả y phục mình, cạo sạch tất cả lông râu tóc trên người mình, lấy nước tắm rửa thật kỹ thân thể mình, rồi người ấy sẽ được sạch. Sau đó người ấy sẽ được vào bên trong doanh trại, nhưng phải ở bên ngoài lều mình thêm bảy ngày nữa. 9. Vào ngày thứ bảy, người ấy phải cạo sạch tất cả lông râu tóc mình một lần nữa, tức tóc trên đầu, râu, lông mày, và mọi chỗ có lông trên cơ thể mình; sau đó người ấy phải giặt kỹ tất cả y phục mình, và dùng nước tắm rửa sạch sẽ cơ thể mình, rồi người ấy sẽ được sạch.
10. Vào ngày thứ tám, người ấy sẽ bắt hai con chiên đực không tì vết, một con chiên cái không tì vết chưa được một tuổi, mà đem đến cùng với sáu lít rưỡi bột thượng hạng đã trộn dầu để dâng làm của lễ chay, và một chai dầu nhỏ. 11. Tư tế thi hành nghi thức thanh tẩy sẽ đem người vừa được sạch đó, cùng với các lễ vật của người ấy, đến trước mặt CHÚA tại cửa Lều Hội Kiến. 12. Tư tế sẽ bắt một con chiên để làm lễ chuộc lỗi, và lấy chai dầu nhỏ ấy, rồi đưa chúng lên cao để dâng lên trước mặt CHÚA. 13. Tư tế sẽ giết con chiên nơi người ta giết con vật hiến tế chuộc tội và con vật hiến tế làm của lễ thiêu trong nơi thánh. Về của lễ chuộc lỗi, thì giống như của lễ chuộc tội, nó sẽ thuộc về tư tế. Ðó là vật rất thánh. 14. Tư tế sẽ lấy một ít máu của con vật hiến tế để chuộc lỗi bôi vào trái tai phải, ngón cái tay phải, và ngón cái chân phải của người được sạch bệnh. 15. Tư tế sẽ lấy chai dầu nhỏ đổ một ít vào lòng bàn tay trái mình, 16. rồi lấy ngón tay phải chấm vào dầu trong lòng bàn tay trái mình mà rảy bảy lần trước mặt CHÚA. 17. Dầu còn lại trong lòng bàn tay trái tư tế sẽ lấy bôi vào trái tai phải, ngón cái tay phải, và ngón cái chân phải của người được sạch bệnh, tức bôi chồng lên trên máu của lễ chuộc lỗi. 18. Số dầu còn sót lại trong lòng bàn tay, tư tế sẽ thoa lên đầu người được sạch bệnh. Sau đó tư tế sẽ cử hành lễ chuộc tội cho người đó trước mặt CHÚA: 19. Tư tế sẽ dâng con vật hiến tế chuộc tội để chuộc tội cho người bị ô uế hầu người ấy được sạch tội. Kế đó tư tế sẽ giết con vật hiến tế làm của lễ thiêu, 20. rồi tư tế sẽ cử hành nghi thức dâng của lễ thiêu và của lễ chay trên bàn thờ. Như vậy tư tế làm lễ chuộc tội cho người ấy, và người ấy được trở nên sạch.
21. Nhưng nếu người ấy nghèo và không thể sắm nổi những lễ vật đó, người ấy chỉ cần mang đến một con chiên đực để làm của lễ dâng lên chuộc lỗi, hầu chuộc tội cho mình, cùng với hai lít bột thượng hạng để làm của lễ chay, một chai dầu nhỏ, 22. hai con chim gáy hoặc hai con bồ câu, tức những thứ người ấy có thể sắm được, một con dâng làm của lễ chuộc tội và một con dâng làm của lễ thiêu. 23. Vào ngày thứ tám người ấy phải mang các lễ vật đó đến trước cửa Lều Hội Kiến, để tư tế cử hành nghi thức thanh tẩy cho đương sự trước mặt CHÚA. 24. Tư tế sẽ bắt con chiên dâng làm của lễ chuộc lỗi và chai dầu nhỏ rồi nâng cao lên để dâng lên trước mặt CHÚA. 25. Tư tế sẽ giết con chiên dâng làm của lễ chuộc lỗi, rồi tư tế sẽ lấy một ít máu của con vật hiến tế chuộc lỗi bôi vào trái tai phải, ngón cái tay phải, và ngón cái chân phải của người được sạch bệnh. 26. Tư tế sẽ lấy chai dầu nhỏ, đổ một ít vào lòng bàn tay trái mình, 27. rồi lấy ngón tay phải chấm vào dầu trong lòng bàn tay trái mình mà rảy bảy lần trước mặt CHÚA. 28. Dầu còn lại trong lòng bàn tay trái tư tế sẽ lấy bôi vào trái tai phải, ngón cái tay phải, và ngón cái chân phải của người được sạch bệnh, tức bôi chồng lên trên máu của lễ chuộc lỗi. 29. Số dầu còn sót lại trong lòng bàn tay, tư tế sẽ thoa lên đầu của người được sạch bệnh, để chuộc tội cho người đó trước mặt CHÚA. 30. Ðoạn tư tế sẽ dâng hai con chim gáy hoặc hai con bồ câu mà người ấy có thể sắm được, 31. một con dâng làm của lễ chuộc tội, còn con kia dâng làm của lễ thiêu, cùng với của lễ chay. Như thế tư tế sẽ cử hành nghi lễ chuộc tội cho người được sạch ấy trước mặt CHÚA. 32. Ðó là quy luật để làm lễ thanh tẩy cho người mắc bệnh phung mà nghèo và không thể sắm nổi các lễ vật, hầu người ấy được sạch.”
Căn Nhà Bị Mốc
33. CHÚA phán với Mô-sê và A-rôn rằng, 34. “Khi các ngươi vào trong xứ Ca-na-an, xứ Ta ban cho các ngươi làm sản nghiệp, nếu Ta để cho nhà nào trong xứ các ngươi làm sản nghiệp mắc phải bệnh phung, 35. chủ căn nhà phải đến báo cáo với tư tế rằng, ‘Dường như căn nhà của tôi mắc phải một chứng bịnh gì đó.’ 36. Tư tế sẽ truyền cho gia chủ đem mọi vật ra khỏi nhà trước khi vào nhà để khám nghiệm chỗ bệnh, nếu không tất cả những gì còn để lại trong nhà ấy có thể bị xem là ô uế. Sau khi người ta đem mọi vật ra rồi, tư tế sẽ vào khám xét căn nhà. 37. Tư tế sẽ khám nghiệm chỗ bệnh. Nếu thấy bệnh xuất hiện trên tường bằng những đốm màu xanh chàm hay đỏ lợt, và nếu các đốm ấy trông dường như lõm sâu vào trong mặt tường, 38. tư tế sẽ ra khỏi nhà và niêm phong căn nhà ấy bảy ngày. 39. Ðến ngày thứ bảy, tư tế sẽ trở lại và tái khám căn nhà ấy. Nếu bấy giờ bệnh đã lan ra trên tường, 40. tư tế sẽ truyền cạy những viên đá nơi có các đốm ấy mà đem ném vào một nơi ô uế bên ngoài thành. 41. Tư tế sẽ truyền cho cạo thật kỹ bên trong căn nhà; lớp hồ bị cạo ra đó phải bị đem đổ vào một nơi ô uế bên ngoài thành. 42. Người ta phải lấy đá khác thay vào chỗ những viên đá đã bị cạy bỏ, rồi lấy hồ mới tô căn nhà lại.
43. Nhưng nếu sau đó bệnh tái phát trong căn nhà, sau khi người ta đã cạy bỏ những viên đá có nấm bệnh, cạo sạch kỹ các mặt tường, và tô hồ mới lên, 44. tư tế sẽ đến khám căn nhà một lần nữa. Nếu bệnh đã lan ra trong nhà, thì đó là căn nhà đã bị bệnh phung ăn lan ra. Nhà đó đã trở nên ô uế. 45. Tư tế phải truyền cho phá đổ căn nhà ấy đi. Tất cả đá, gỗ, và hồ tô mặt tường đều phải bị đem đổ vào một nơi ô uế bên ngoài thành. 46. Tất cả những ai vào trong căn nhà khi nhà ấy bị niêm phong đều bị ô uế đến chiều tối. 47. Những người đã ngủ trong căn nhà ấy phải giặt sạch y phục của họ. Tất cả những ai đã ăn uống trong nhà ấy cũng phải giặt sạch y phục của họ. 48. Nhưng nếu khi tư tế trở lại tái khám, và thấy bệnh không lan ra trong nhà sau khi đã được tô hồ mới, tư tế phải tuyên bố căn nhà ấy sạch; bệnh của nhà ấy đã hết.
49. Ðể làm lễ thanh tẩy cho căn nhà, gia chủ sẽ đem hai con chim, một nhánh cây bá hương, một lọn chỉ điều, và một nhánh cây bài hương đến cho tư tế. 50. Tư tế sẽ giết một con chim và cho huyết chảy vào một chậu sành, trong khi đổ nước suối vào. 51. Rồi tư tế sẽ lấy nhánh cây bá hương, nhánh cây bài hương, lọn chỉ điều, và con chim sống, mà nhúng chúng vào trong huyết của con chim bị sát tế đã hòa lẫn với nước suối, rồi đem rảy trên nhà bảy lần. 52. Như vậy tư tế sẽ làm lễ cho căn nhà được sạch nhờ huyết của con chim, với nước suối, với con chim sống, với nhánh cây bá hương, với nhánh cây bài hương, và với lọn chỉ điều. 53. Sau đó tư tế phải đem con chim sống ra bên ngoài thành, thả cho nó bay vào trong đồng. Như vậy tư tế đã làm lễ chuộc tội cho căn nhà, và nó sẽ được sạch.
54. Ðó là quy luật cho bất cứ thứ bệnh phung nào, bệnh lở loét ngứa ngáy ngoài da, 55. các thứ phung trên quần áo và nhà cửa, 56. da nổi sưng lên, nổi ung nhọt, hay nổi đốm, 57. để quyết định khi nào bị xem là ô uế hay khi nào được kể là sạch.
Ðó là luật lệ về bịnh phung.”

Tài Liệu