Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 35

Từ Thu Vien Tin Lanh
(đổi hướng từ KTB02C035)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Môi-se nhóm hết hội chúng Y-sơ-ra-ên lại mà nói rằng: Đây là các việc của Đức Giê-hô-va đã phán dạy làm: 2. Người ta sẽ làm công việc trong sáu ngày, nhưng đến ngày thứ bảy sẽ là một lễ thánh, tức là ngày sa-bát biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va. Ai làm công việc trong ngày đó sẽ bị xử tử. 3. Nhằm ngày sa-bát chớ nổi lửa trong nhà nào của các ngươi hết.

4. Môi-se nói cùng cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: Đây là các lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn: 5. Hãy lấy một lễ vật chi ở nhà các ngươi mà dâng cho Đức Giê-hô-va. Hễ người nào có lòng thành dâng cho, hãy đem lễ vật cho Đức Giê-hô-va: vàng, bạc và đồng; 6. chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, vải gai mịn, lông dê, 7. da chiên đực nhuộm đỏ, da cá nược, cây si-tim, 8. dầu thắp, các thứ hương liệu đặng chế dầu xức và hương thơm, 9. bích ngọc, và các thứ ngọc khác để dùng khảm cho ê-phót và bảng đeo ngực. 10. Trong vòng các ngươi mấy người khôn ngoan hơn hết hãy đến làm mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn; 11. đền tạm, trại và bong của đền tạm, móc, ván, xà ngang, trụ và lỗ trụ; 12. hòm bảng chứng và đòn khiêng, nắp thi ân cùng màn che nơi chí thánh; 13. cái bàn và đòn khiêng, các đồ phụ tùng của bàn cùng bánh trần thiết; 14. chân đèn, đồ phụ tùng, các đèn và dầu thắp đèn; 15. bàn thờ xông hương cùng đòn khiêng; dầu xức, hương liệu, và bức màn cửa đền tạm; 16. bàn thờ dâng của lễ thiêu và rá đồng; đòn khiêng và các đồ phụ tùng của bàn thờ; cái thùng và chân thùng; 17. bố vi che hành lang, trụ, lỗ trụ, và bức màn của cửa hành lang; 18. các nọc của đền tạm, cùng nọc và dây của hành lang; 19. bộ áo lễ dùng về công việc trong nơi thánh; bộ áo thánh cho A-rôn, thầy tế lễ cả, và bộ áo cho các con trai người đặng làm chức tế lễ.

20. Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên bèn lui ra khỏi mặt Môi-se. 21. Mọi người có lòng cảm động, và mọi người có lòng thành, đều đem lễ vật đến dâng cho Đức Giê-hô-va, để làm công việc hội mạc, các đồ phụ tùng và bộ áo thánh. 22. Phàm người nam cùng nữ, tức mọi kẻ có lòng thành, đều đến đem những hoa tai, nhẫn, khâu, kiềng, các thứ trang sức bằng vàng và hết thảy đều dâng lễ vật bằng vàng cho Đức Giê-hô-va. 23. Kẻ nào ở nhà mình có chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, vải gai mịn, lông dê, da chiên đực nhuộm đỏ, và da cá nược đều đem đến. 24. Hễ ai có chi làm lễ vật bằng bạc hay bằng đồng, đều đem dâng cho Đức Giê-hô-va, và hễ ai có cây si-tim nơi nhà mình dùng hiệp về các công việc tế lễ, đều đem đến. 25. Phàm người đàn bà khéo thì chính tay mình kéo chỉ lấy và đem đến món chi họ đã kéo rồi, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, và chỉ gai mịn. 26. Còn mấy người đàn bà có cảm động và tài khéo thì kéo chỉ lông dê. 27. Các bực tôn trưởng trong dân sự đem bích ngọc và các thứ ngọc khác để khảm cho ê-phót và bảng đeo ngực; 28. dầu thắp đèn, các hương liệu để chế dầu xức và dầu thơm. 29. Cả dân Y-sơ-ra-ên, nam hay nữ, phàm ai có lòng cảm động xui cho mình tình nguyện quyên vào các công việc Đức Giê-hô-va đã phán dặn nơi Môi-se, đều đem dâng cho Đức Giê-hô-va các lễ tình nguyện vậy.

30. Môi-se nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nầy Đức Giê-hô-va đã kêu danh Bết-sa-lê-ên, con trai của U-ri, cháu của Hu-rơ, trong chi phái Giu-đa. 31. Ngài phú cho người đầy dẫy Thần của Đức Chúa Trời, sự khôn ngoan, sự thông sáng, và sự hiểu biết, để làm mọi thứ nghề thợ, 32. đặng bày ra và làm đồ vàng, bạc và đồng, 33. đặng khắc và khảm các thứ ngọc, đặng chạm cây làm các đồ khéo léo. 34. Ngài lại phú cho người tài dạy dỗ, và cũng đồng ban cho Ô-hô-li-áp, con của A-hi-sa-mạc, trong chi phái Đan nữa; 35. Ngài phú cho hai người đó đầy sự khôn ngoan đặng làm các công nghệ về thợ thêu, thợ dệt nhiều màu, tức là màu tím, đỏ điều, đỏ sặm, và vải gai mịn; để bày ra và làm các thứ công nghệ khéo.

Bản Dịch 2011

Luật Ngày Sa-bát

1 Môi-se tập họp toàn thể hội chúng I-sơ-ra-ên lại và nói với họ, “Ðây là những điều CHÚA truyền anh chị em phải làm:

2 Ðối với anh chị em, ai nấy sẽ làm việc trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy sẽ là một ngày thánh, một ngày Sa-bát, một ngày nghỉ hoàn toàn dành cho CHÚA; hễ ai làm việc gì trong ngày ấy sẽ bị xử tử. 3 Anh chị em không được nổi lửa tại nơi mình ở trong ngày Sa-bát.”

Kêu Gọi Xây Dựng Ðền Tạm

(Xuất 25:1-9)

4 Môi-se nói với cả hội chúng I-sơ-ra-ên, “Ðây là điều CHÚA đã truyền: 5 Hãy lấy những gì anh chị em có dâng lên CHÚA. Ai có lòng rộng rãi, hãy mang đến dâng lên CHÚA vàng, bạc, đồng, 6 chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, vải gai mịn, lông dê, 7 da chiên nhuộm đỏ, da thú thượng hạng, gỗ si-tim, 8 dầu thắp đèn, các hương liệu để làm dầu dùng cho phép xức dầu và để chế tạo hương thơm thánh, 9 bạch bảo ngọc, và các thứ ngọc để gắn trên ê-phót và trên túi đeo ngực.

10 Xin tất cả những ai tài giỏi giữa anh chị em đến và làm mọi điều CHÚA đã truyền, tức xây dựng Ðền Tạm, 11 gồm cái lều và các tấm bạt, các móc, các tấm ván, các thanh ngang, các trụ cột, và các đế trụ, 12 Rương Thánh và các đòn khiêng, Nắp Thi Ân, bức màn che Nơi Chí Thánh, 13 cái bàn, với các đòn khiêng, các đồ phụ tùng, Bánh Hằng Hiến, 14 thân cây đèn và các đồ phụ tùng, các đèn vàng, dầu thắp đèn, 15 bàn thờ dâng hương, các đòn khiêng, dầu dùng cho phép xức dầu, hương thơm thánh, tấm màn che cửa Ðền Tạm, 16 bàn thờ dâng của lễ thiêu với cái rá lưới đồng, các đòn khiêng và mọi đồ phụ tùng, cái đỉnh đồng và chân đỉnh, 17 các tấm màn che chung quanh sân, các cây cột và các đế cột, tấm màn che nơi cổng sân đền, 18 các cọc để căng Ðền Tạm, các cọc để dựng các màn che chung quanh sân đền, các dây thừng đi chung với các cọc ấy, 19 các bộ lễ phục may đặc biệt để hành lễ trong Nơi Thánh, tức các lễ phục cho Tư Tế A-rôn và các lễ phục cho các con trai ông để họ mặc khi thi hành chức vụ tư tế.”

Dâng Hiến Ðể Xây Dựng Ðền Tạm

(Xuất 39:32-43)

20 Bấy giờ toàn thể hội chúng I-sơ-ra-ên rời khỏi Môi-se và lui về. 21 Sau đó họ trở lại, những người được cảm động trong lòng, những người có nhiệt tâm, đều mang đến dâng lên CHÚA những lễ vật để xây dựng Lều Hội Kiến, để làm mọi thứ liên quan đến lều ấy, và để may những bộ lễ phục thánh. 22 Vậy họ đến, nam lẫn nữ; tất cả những người có lòng nhiệt thành đều mang đến nào là trâm cài tóc, vòng đeo tai, nhẫn, kiềng, và mọi thứ khác; ai nấy đều mang đến dâng lên CHÚA một của lễ bằng vàng. 23 Những ai có chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, vải gai mịn, lông dê, da chiên nhuộm đỏ, hay da thú thượng hạng đều đem đến dâng. 24 Người nào có bạc hay đồng đều đem đến dâng lên CHÚA. Những ai có gỗ si-tim và nghĩ có thể dùng được việc chi cho lều thánh đều mang đến dâng. 25 Tất cả những phụ nữ khéo tay kéo chỉ dệt vải thì dâng công làm những tấm vải bằng chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, và vải gai mịn. 26 Tất cả những phụ nữ được cảm động trong lòng đã dâng tài kéo sợi của mình để làm những sợi bằng lông dê. 27 Còn những người lãnh đạo thì mang đến bạch bảo ngọc và các thứ ngọc để gắn trên ê-phót và trên túi đeo ngực, 28 các hương liệu để làm dầu thắp đèn, dầu dùng cho phép xức dầu, và hương thơm thánh. 29 Tất cả dân I-sơ-ra-ên, bất luận nam hay nữ, hễ ai được thúc giục trong lòng muốn mang đến món gì để thực hiện công việc CHÚA đã cậy Môi-se truyền phải làm, đều tự nguyện mang lễ vật đến dâng lên CHÚA.

Bê-xanh-ên và Ô-hô-li-áp

(Xuất 31:1-11)

30 Bấy giờ Môi-se nói với dân I-sơ-ra-ên, “Nầy, CHÚA đã gọi đích danh Bê-xanh-ên con trai U-ri, cháu Hu-rơ, trong chi tộc Giu-đa. 31 Ngài đã ban cho ông ấy đầy dẫy Thần của Ðức Chúa Trời để ông ấy thành một người khôn ngoan, thông minh, và có kiến thức trong mọi lãnh vực của ngành chế tạo, 32 hầu ông ấy phác họa những tác phẩm nghệ thuật, rồi làm những đồ vật bằng vàng, bằng bạc, và bằng đồng, 33 luôn cả việc cắt mài ngọc để khảm vào khuôn, chạm khắc gỗ, và mọi công việc đòi hỏi kỹ năng. 34 Ngài cũng đã ban cho ông ấy và Ô-hô-li-ba con trai A-hi-sa-mách trong chi tộc Ðan khả năng dạy bảo người khác. 35 Ngài đã ban cho họ tài năng để thực hiện mọi công việc của thợ chạm khắc, thợ vẽ kiểu, thợ thêu các thứ chỉ xanh dương, chỉ tím, chỉ đỏ thắm, và vải gai mịn, hoặc các công việc của thợ dệt; nói chung là tất cả những công việc đòi hỏi người có đầu óc nghệ thuật suy nghĩ rồi vẽ kiểu ra làm.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu