Khác biệt giữa các bản “II Sa-mu-ên: Chương 23”

Từ Thu Vien Tin Lanh
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
(Update Ban Dich 2011)
(Added audio)
 
Dòng 28: Dòng 28:
  
 
24.  A-sa-ên, em Giô-áp, là một người thuộc trong ba mươi người dõng sĩ kia; cũng có Ên-ca-nan, con trai của Đô-đô, ở Bết-lê-hem; 25.  lại có Sa-ma ở Ha-rốt, Ê-li-ca ở Ha-rốt; 26.  Hê-lết ở Phê-lết; Y-sa, con trai của Y-ke ở Tê-cô; 27.  A-bi-ê-xe ở A-na-tốt; Mê-bô-nai ở Hu-sa; 28.  Sanh-môn ở A-hô-a; Ma-ha-rai ở Nê-tô-pha; 29.  Hê-lép, con trai của Ba-a-na ở Nê-tô-pha; Y-tai, con trai của Ri-bai ở Ghi-bê-a, thành của dân Bên-gia-min; 30.  Bê-na-gia ở Phi-ra-thôn; Hi-đai ở Na-ha-lê-Gia-ách; 31.  A-bi-Anh-bôn ở A-ra-ba; Ách-ma-vét ở Bạt-cum; 32.  Ê-li-a-ba ở Sa-bôn; các con trai của Gia-sen, Giô-na-than; 33.  Sa-ma ở Ha-ra; A-ki-am, con trai của Sa-ra, người A-ra-rít; 34.  Ê-li-phê-lết, con trai của A-cạt-bai, con trai của một người Ma-ca-thít; Ê-li-am, con trai của A-hi-tô-phe ở Ghi-lô; 35.  Hết-rai ở Cạt-mên; Pha-rai ở A-ráp; 36.  Di-ganh, con trai của Na-than, ở Xô-ba; Ba-ni ở Ga-đi; 37.  Xê-léc, người Am-môn, Na-ha-rai ở Bê-ê-rốt, là kẻ vác binh khí cho Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia; 38.  Y-ra ở Giê-the; Ga-rép ở Giê-the; 39.  U-ri người Hê-tít; cộng là ba mươi bảy người. <br/>
 
24.  A-sa-ên, em Giô-áp, là một người thuộc trong ba mươi người dõng sĩ kia; cũng có Ên-ca-nan, con trai của Đô-đô, ở Bết-lê-hem; 25.  lại có Sa-ma ở Ha-rốt, Ê-li-ca ở Ha-rốt; 26.  Hê-lết ở Phê-lết; Y-sa, con trai của Y-ke ở Tê-cô; 27.  A-bi-ê-xe ở A-na-tốt; Mê-bô-nai ở Hu-sa; 28.  Sanh-môn ở A-hô-a; Ma-ha-rai ở Nê-tô-pha; 29.  Hê-lép, con trai của Ba-a-na ở Nê-tô-pha; Y-tai, con trai của Ri-bai ở Ghi-bê-a, thành của dân Bên-gia-min; 30.  Bê-na-gia ở Phi-ra-thôn; Hi-đai ở Na-ha-lê-Gia-ách; 31.  A-bi-Anh-bôn ở A-ra-ba; Ách-ma-vét ở Bạt-cum; 32.  Ê-li-a-ba ở Sa-bôn; các con trai của Gia-sen, Giô-na-than; 33.  Sa-ma ở Ha-ra; A-ki-am, con trai của Sa-ra, người A-ra-rít; 34.  Ê-li-phê-lết, con trai của A-cạt-bai, con trai của một người Ma-ca-thít; Ê-li-am, con trai của A-hi-tô-phe ở Ghi-lô; 35.  Hết-rai ở Cạt-mên; Pha-rai ở A-ráp; 36.  Di-ganh, con trai của Na-than, ở Xô-ba; Ba-ni ở Ga-đi; 37.  Xê-léc, người Am-môn, Na-ha-rai ở Bê-ê-rốt, là kẻ vác binh khí cho Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia; 38.  Y-ra ở Giê-the; Ga-rép ở Giê-the; 39.  U-ri người Hê-tít; cộng là ba mươi bảy người. <br/>
 +
 +
:<html5media height="520" width="1280">https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B10\V02B10C023.mp3</html5media>
  
 
==Bản Dịch 2011==
 
==Bản Dịch 2011==
 +
 
'''Bài Ca Cuối Cùng của Ða-vít'''
 
'''Bài Ca Cuối Cùng của Ða-vít'''
  

Bản hiện tại lúc 00:11, ngày 31 tháng 5 năm 2020

Bản Dịch 1925

1. Nầy là lời sau hết của Đa-vít. Nầy là lời của Đa-vít, con trai Y-sai, Tức lời của người đã được nâng lên cao thay, Đấng chịu xức dầu của Đức Chúa Trời Gia-cốp, Và làm kẻ hát êm dịu của Y-sơ-ra-ên.

2. Thần của Đức Giê-hô-va đã cậy miệng ta mà phán, Và lời của Ngài ở nơi lưỡi miệng ta.

3. Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán, Hòn Đá lớn của Y-sơ-ra-ên đã phán cùng ta rằng: Người nào cai trị loài người cách công bình, Cách kính sợ Đức Chúa Trời,

4. Thì sẽ giống như sự chói lòa buổi sáng, khi mặt trời mọc, Khác nào một buổi sớm mai chẳng có mây; Các ánh sáng nó làm cho cây cỏ bởi đất nảy ra sau khi mưa.

5. Nhà ta dầu chẳng phải như vậy trước mặt Đức Chúa Trời, Song Ngài đã lập với ta một giao ước đời đời, Vững bền trong mọi sự và chắc chắn. Vì đó là cả sự cứu rỗi và cả sự ước ao ta, Dẫu Ngài không làm cho điều đó nẩy nở ra.

6. Trái lại, hết thảy kẻ hung ác đều giống như gai chông mà người ta liệng ra xa, Không thể lấy bằng tay được;

7. Người ta phải dùng đồ bằng sắt hay là cán cây lao đặng nắm nó. Rồi chính tại chỗ, nó bị thiêu trong lửa.

8. Nầy là tên các người mạnh bạo đã giúp việc cho Đa-vít: Giô-sép-Ba-sê-bết, người Tách-kê-môn, làm đầu lính thị vệ của vua. Ấy là người quơ giáo mình cự lại tám trăm người, và giết đi trong một lúc gặp.

9. Sau người ấy, có Ê-lê-a-sa, con trai Đô-đô, cháu của A-cô-hi, là một trong ba người mạnh bạo đã cùng Đa-vít thách dân Phi-li-tin hiệp lại đặng chiến trận. 10. Khi dân Y-sơ-ra-ên rút đi, thì Ê-lê-a-sa chổi dậy, đánh dân Phi-li-tin cho đến khi tay người tê cứng lại nơi gươm người. Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va khiến cho dân Y-sơ-ra-ên được thắng trận cả thể; chúng chỉ theo sau Ê-lê-a-sa đặng cướp bóc kẻ thù nghịch đó thôi.

11. Sau người ấy có Sa-ma, con trai A-ghe, người Ha-ra. Dân Phi-li-tin đã hiệp lại thành đoàn lũ; ở đó có một đồng gieo đầy đậu, và dân sự đều chạy trốn khỏi trước mặt dân Phi-li-tin. 12. Nhưng Sa-ma đứng ở giữa ruộng, binh vực nó, và đánh dân Phi-li-tin. Như vậy, Đức Giê-hô-va khiến cho dân Y-sơ-ra-ên được thắng trận cả thể.

13. Trong vòng ba mươi quan tướng, có ba người đi xuống nhằm lúc mùa gặt và đến cùng Đa-vít tại hang đá A-đu-lam, trong khi một cơ quân Phi-li-tin đóng trại tại trũng Rê-pha-im. 14. Bấy giờ Đa-vít ở trong đồn, và ở tại Bết-lê-hem có một đạo binh hờ của dân Phi-li-tin. 15. Đa-vít ao ước rằng: Chớ chi ta được uống nước bởi giếng ở bên cửa thành Bết-lê-hem! 16. Bấy giờ, có ba người quan tướng đầy lòng gan dạ, xông ngang qua trại quân Phi-li-tin, múc nước giếng ở bên cửa thành Bết-lê-hem, rồi đem về dâng cho Đa-vít; nhưng người từ chối không uống, bèn rảy nước đó ra làm lễ dâng cho Đức Giê-hô-va, 17. mà rằng: Đức Giê-hô-va ôi! tôi hẳn không uống đâu. Nước nầy khác nào huyết của ba người nầy, liều mạng sống mình đặng đi đến nơi kia. Vậy người không chịu uống. Đó là sự của ba người tướng mạnh bạo ấy đã làm.

18. A-bi-sai, em Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia, làm tướng của ba người dõng sĩ; người dùng cây giáo mình đánh chết ba trăm người, và có danh tiếng trong ba người dõng sĩ ấy. 19. Trong cả ba, A-bi-sai có danh hơn hết, và người làm đầu họ. Dầu vậy, người không bằng ba người kia.

20. Lại có Bê-na-gia ở Cáp-sê-ên, con trai của Giê-hô-gia-đa, là một người mạnh bạo, nổi tiếng vì các công lớn của mình. Người đã giết hai người Mô-áp mạnh bạo hơn hết. Trong một ngày tuyết kia, ấy cũng người nầy đi xuống một cái hầm chứa nước, có con sư tử, và giết nó đi. 21. Lại người cũng đánh giết một người Ê-díp-tô, có bộ tướng đáng sợ hãi. Người Ê-díp-tô cầm nơi tay một cây giáo; còn Bê-na-gia cầm cây gậy xuống đón người. Người rứt cây giáo khỏi tay người Ê-díp-tô, rồi dùng một cây giáo ấy mà giết hắn đi. 22. Đó là công việc Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, đã làm; người được nổi tiếng trong ba người tướng gan dạ kia. Trong bọn ba mươi người, Bê-na-gia có danh tiếng hơn; 23. song không bằng ba người trước. Đa-vít nhận người vào trong bàn mật nghị mình.

24. A-sa-ên, em Giô-áp, là một người thuộc trong ba mươi người dõng sĩ kia; cũng có Ên-ca-nan, con trai của Đô-đô, ở Bết-lê-hem; 25. lại có Sa-ma ở Ha-rốt, Ê-li-ca ở Ha-rốt; 26. Hê-lết ở Phê-lết; Y-sa, con trai của Y-ke ở Tê-cô; 27. A-bi-ê-xe ở A-na-tốt; Mê-bô-nai ở Hu-sa; 28. Sanh-môn ở A-hô-a; Ma-ha-rai ở Nê-tô-pha; 29. Hê-lép, con trai của Ba-a-na ở Nê-tô-pha; Y-tai, con trai của Ri-bai ở Ghi-bê-a, thành của dân Bên-gia-min; 30. Bê-na-gia ở Phi-ra-thôn; Hi-đai ở Na-ha-lê-Gia-ách; 31. A-bi-Anh-bôn ở A-ra-ba; Ách-ma-vét ở Bạt-cum; 32. Ê-li-a-ba ở Sa-bôn; các con trai của Gia-sen, Giô-na-than; 33. Sa-ma ở Ha-ra; A-ki-am, con trai của Sa-ra, người A-ra-rít; 34. Ê-li-phê-lết, con trai của A-cạt-bai, con trai của một người Ma-ca-thít; Ê-li-am, con trai của A-hi-tô-phe ở Ghi-lô; 35. Hết-rai ở Cạt-mên; Pha-rai ở A-ráp; 36. Di-ganh, con trai của Na-than, ở Xô-ba; Ba-ni ở Ga-đi; 37. Xê-léc, người Am-môn, Na-ha-rai ở Bê-ê-rốt, là kẻ vác binh khí cho Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia; 38. Y-ra ở Giê-the; Ga-rép ở Giê-the; 39. U-ri người Hê-tít; cộng là ba mươi bảy người.

Bản Dịch 2011

Bài Ca Cuối Cùng của Ða-vít

1 Ðây là những lời cuối cùng của Ða-vít:

“Ða-vít con của Giê-se nói,

Người đã được cất nhắc lên cao nói,

Tức người đã được Ðức Chúa Trời của Gia-cốp xức dầu,

Người đã viết ra những bản thánh thi được yêu chuộng trong I-sơ-ra-ên:

2 Thần của CHÚA phán với tôi,

Lời của Ngài ở trên lưỡi tôi.

3 Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên phán,

Vầng Ðá của I-sơ-ra-ên nói với tôi,

‘Người nào trị vì trên người ta cách công chính,

4 Tức người trị vì với lòng kính sợ Ðức Chúa Trời,

Người ấy sẽ rực rỡ như ánh bình minh khi mặt trời ló dạng,

Như buổi sáng nắng đẹp không một gợn mây;

Như cỏ non mọc lên từ lòng đất,

Trong một ngày nắng ráo sau cơn mưa.’

5 Gia đình tôi dù không được ngay lành trước mặt Ðức Chúa Trời,

Dù vậy Ngài đã lập với tôi một giao ước đời đời;

Mọi sự đã được Ngài an bài và làm cho ổn định.

Ðây là tất cả những gì tôi mong được hưởng trong ơn cứu rỗi,

Và là tất cả những gì tôi hằng ao ước;

Ngài sẽ chẳng làm cho điều ấy cứ tăng lên sao?

6 Nhưng quân phản bội sẽ như những nhánh gai bị vứt bỏ,

Vì không ai có thể dùng tay trần nắm chúng được;

7 Nhưng ai muốn đụng đến chúng,

Người ấy phải có dụng cụ bằng sắt hoặc cầm nơi cán giáo mới được an toàn.

Bọn ấy sẽ hoàn toàn bị thiêu rụi trong lửa ngay tại chỗ của chúng.”

Những Dũng Sĩ của Ða-vít

(1 Sử 11:10-41)

Ba Dũng Sĩ Hàng Ðầu

8 Ðây là tên các dũng sĩ của Ða-vít: Giô-sép Ba-sê-bết người Ta-kê-mô-ni. Ông chỉ huy Ba Dũng Sĩ. Chính ông là người đã dùng cây giáo đánh hạ tám trăm quân thù trong một trận đánh.

9 Sau ông có Ê-lê-a-xa con trai của Ðô-đô người A-hô-hi. Ông là một trong ba dũng sĩ. Có lần ông đi với Ða-vít đến nơi quân Phi-li-tin tụ lại dàn trận để giao tranh. Quân I-sơ-ra-ên đã rút lui, 10 nhưng ông cứ ở lại mà đánh quân Phi-li-tin cho đến khi cánh tay ông đuối sức, và bàn tay ông dính chặt vào cán gươm. Ngày hôm đó CHÚA đã ban cho họ một chiến thắng lớn. Quân I-sơ-ra-ên quay trở lại, nhưng chỉ để thu lượm chiến lợi phẩm.

11 Kế sau ông là Sam-ma con của A-ghi, người Ha-ra-ri. Dân Phi-li-tin tập họp với nhau thành một đạo quân trong một cánh đồng trồng đậu. Quân I-sơ-ra-ên bỏ chạy trước mặt quân Phi-li-tin, 12 nhưng một mình ông cứ đứng trụ ngay giữa cánh đồng mà chống cự và đánh giết quân Phi-li-tin. Nhờ thế CHÚA đã ban cho họ một chiến thắng lớn.

Ba Dũng Sĩ Ðặc Biệt

13 Vào đầu một mùa gặt kia, ba người trong Nhóm Ba Mươi Dũng Sĩ đi xuống gặp Ða-vít ở hang A-đu-lam, giữa lúc quân Phi-li-tin đang hạ trại trong thung lũng ở Rê-pha-im. 14 Ða-vít đang ở trong chiến lũy, còn quân Phi-li-tin thì đóng đồn ngay tại Bết-lê-hem. 15 Bấy giờ Ða-vít ước ao và nói, “Ôi, ước gì có ai cho tôi uống nước giếng ở cổng thành Bết-lê-hem!” 16 Ba dũng sĩ ấy bèn xông qua trại của quân Phi-li-tin, đến giếng nơi cổng thành Bết-lê-hem, lấy nước, và đem về cho Ða-vít. Tuy nhiên Ða-vít không uống nước ấy, nhưng đổ nó ra, dâng lên CHÚA, 17 và nói, “Lạy CHÚA, xin đừng để con làm điều nầy nữa. Ðây há chẳng phải là máu của những người đã liều mạng đi lấy nó về sao?” Vì thế Ða-vít không uống nước ấy. Ðó là việc ba dũng sĩ ấy đã làm.

Các Dũng Sĩ Khác

18 A-bi-sai em Giô-áp, con của bà Xê-ru-gia, chỉ huy Nhóm Ba Mươi Dũng Sĩ. Ông lấy cây giáo của ông đánh ba trăm quân thù và giết chết chúng. Vì thế danh ông được liệt vào hàng của Ba Mươi Dũng Sĩ hàng đầu. 19 Ông há không đáng được tôn trọng nhất trong Nhóm Ba Mươi dũng sĩ sao? Vì thế ông đã được đặt làm người chỉ huy của họ. Tuy nhiên ông không được vào nhóm ba dũng sĩ kia.

20 Bê-na-gia con trai của Giê-hô-gia-đa là một người dũng mãnh quê ở Cáp-xê-ên. Ông được nổi tiếng vì có nhiều thành tích. Ông đã đánh hạ hai tay anh hùng dữ tợn như sư tử của dân Mô-áp. Ngoài ra một ngày tuyết rơi nọ, ông đi xuống hố lấy nước, không ngờ tại đó đã có một con sư tử. Nó nhảy đến vồ ông, nhưng ông đã đánh nó chết. 21 Ông cũng đánh hạ một tên Ai-cập có tướng mạo to lớn dị thường. Tên Ai-cập ấy cầm cây giáo trong tay, còn ông chỉ có một cây gậy. Ông giật lấy cây giáo khỏi tay tên Ai-cập, rồi dùng cây giáo ấy giết hắn. 22 Ðó là các thành tích mà Bê-na-gia con trai Giê-hô-gia-đa đã làm, nên danh ông không kém gì ba dũng sĩ kia. 23 Trong nhóm Ba Mươi Dũng Sĩ, ông được tôn trọng hơn nhiều người, nhưng không bằng ba dũng sĩ hàng đầu. Ða-vít đặt ông chỉ huy các cận vệ của mình.

24 Trong nhóm Ba Mươi Dũng Sĩ còn có A-sa-ên em Giô-áp, Ên-ha-nan con của Ðô-đô người Bết-lê-hem, 25 Sam-ma người Ha-rốt, Ê-li-ca người Ha-rốt, 26 Hê-lê người Pan-ti, I-ra con của Ích-kết người Tê-cô-a, 27 A-bi-ê-xe người A-na-thốt, Mê-bun-nai người Hu-sa-thi, 28 Xanh-môn người A-hô-hi, Ma-ha-rai người Nê-tô-pha-thi, 29 Hê-lét con của Ba-a-na người Nê-tô-pha-thi, Ít-tai con của Ri-bai người Ghi-bê-a, dòng dõi Bên-gia-min, 30 Bê-na-gia người Pi-ra-thô-ni, Hi-đai quê ở các suối vùng Ga-ách, 31 A-bi Anh-bôn người Ạc-ba-thi, A-ma-vét người Ba-hu-rim, 32 Ên-gia-ba người Sa-anh-bô-ni, các con trai của Gia-sên, Giô-na-than con của 33 Sam-ma người Ha-ra-ri, A-hi-am con của Sa-ra người Ha-ra-ri, 34 Ê-li-phê-lét con của A-hát-bai dòng dõi của Ma-a-ca-thi, Ê-li-am con của A-hi-thô-phên người Ghi-lô-ni, 35 Hê-xơ-rô người Cạt-mên-li, Pa-a-rai người Ạc-bi, 36 I-ganh con của Na-than người Xô-ba, Ba-ni người Gát, 37 Xê-léc người Am-môn, Na-ha-rai người Bê-ê-rô-thi – ông là người vác binh khí cho Giô-áp con trai bà Xê-ru-gia – 38 I-ra người I-thơ-ri, Ga-rếp người I-thơ-ri, 39 và U-ri-a người Hít-ti. Tất cả là ba mươi bảy người.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu