Henry Francis Lyte

Từ Thu Vien Tin Lanh
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Mục sư Henry Francis Lyte

Henry Francis Lyte (1793-1847) là một mục sư tại Scotland.

Gia Đình

Mục sư Henry Francis Lyte sinh ngày 1/6/1793 tại Ednam, Scotland. Ông là con trai thứ hai của Thomas và Anna Maria Lyte. Thomas Lyte, thân phụ của Mục sư Henry Francis Lyte, là người rất thích săn bắn nhưng không quan tâm đến gia đình. Ông gởi hai con trai, trong đó có Henry Francis Lyte, vào trường nội trú Portora Royal School rồi bỏ cả gia đình đi theo thú tiêu khiển của mình. Trước hoàn cảnh đó, bà Anna Maria Lyte vợ ông đã đem đứa con út về London sống. Một thời gian sau, bà và người con trai út qua đời tại London.

Học Vấn

Mẹ qua đời, cha bỏ đi, dầu mồ côi, tuổi còn nhỏ, gặp nhiều khó khăn nhưng Henry Francis Lyte vẫn chăm chỉ học. Thấy tâm chí của cậu bé, Tiến sĩ Robert Burrows, hiệu trưởng của Portora Royal School, đã trả học phí để cậu bé có thể tiếp tục học. Tiến sĩ Robert Burrows tiếp tục giúp Henry Francis Lyte trong những năm sau đó và đối xử với Henry Francis Lyte như là đứa con nuôi. Sau khi học xong trung học, Henry Francis Lyte tiếp tục học đại học tại Trinity College ở Dublin. Tốt nghiệp đại học xong, năm 1815 Henry Francis Lyte xin thụ huấn để trở thành mục sư cho Giáo hội Anh Quốc. Năm 1816, Henry Francis Lyte kinh nghiệm được Chúa thăm viếng; sự kiện quan trọng này đã thay đổi cuộc đời của ông. Trong một lần đến thăm một mục sư đang hấp hối, vị này nói với Henry Francis Lyte rằng ông đã phạm một sai lầm nghiêm trọng trong cuộc đời hầu việc Chúa là ông đã không nghiên cứu kỹ lưỡng các thư tín của Phao Lô. Sau lần gặp mặt đó, sinh viên thần học tập sự Henry Francis Lyte quyết định dành thì giờ suy gẫm Kinh Thánh kỷ càng; và từ đó nhà truyền đạo trẻ đã giảng Lời Chúa với một năng lực mới mẻ.

Thành Hôn

Năm 1817, Henry Francis Lyte đến tập sự hầu việc Chúa tại Marazion, Cornwall. Tại đây, ông gặp cô Anne Maxwell, một tín hữu Giám Lý; hai người yêu nhau và tiến đến hôn nhân. Henry Francis Lyte được ghi nhận là một thanh niên cao lớn, đẹp trai, học rộng, nói năng lịch thiệp; còn cô Anne Maxwell thì không đẹp, thậm chí lớn hơn Henry Francis Lyte 7 tuổi; dầu vậy hai người rất yêu thương nhau và sống với nhau rất hạnh phúc. Họ sinh được ba con trai và hai con gái.

Hầu Việc Chúa

Từ nhỏ Henry Francis Lyte mắc bệnh suyển trầm trọng. Các bác sĩ khuyên ông phải sống gần bờ biển hoặc sông, nơi có khí hậu trong lành mát mẻ. Vì lý do đó, Mục sư Henry Francis Lyte đã xin hầu việc Chúa tại vùng duyên hải với những ngư dân. Các nhiệm sở của ông là Taghmon (1815), Marizion (1817), Sway (1820), Dittisham (1822), Charletton (1823), Lower Brixham (1824). Tại Lower Brixham, Mục sư Henry Francis Lyte tổ chức chương trình Trường Chúa Nhật cho con của các ngư dân trong khu vực. Mỗi năm, ông tổ chức một chương trình sinh hoạt cho khoảng 800-1000 học sinh Trường Chúa Nhật từ nhiều thị trấn đến tham dự. Không bao lâu sau khi Mục sư Henry Francis Lyte đến Lower Brixham, rất nhiều người biết khả năng giảng dạy của ông nên đến nhà thờ để nghe ông giảng. Hội thánh của Mục sư Henry Francis Lyte tăng trưởng rất nhanh nên phải nới rộng nhà thờ thật lớn mới đủ chỗ cho tín hữu tham dự. Có người thời đó mô tả ngôi nhà thờ mới tại Lower Brixham rộng như một kho chứa lúa thật lớn. Mục sư Henry Francis Lyte là người có năng khiếu bẩm sinh về thi ca nên làm thơ rất hay. Bên cạnh đó, ông cũng là một nghệ sĩ và là một chuyên gia về flute. Mục sư Henry Francis Lyte cũng là một học giả; ngoài tiếng Anh, ông nói lưu loát Latin, Greek và tiếng Pháp. Ông rất giỏi về văn chương, có kiến thức sâu rộng về thực vật học, đặc biệt về các loại hoa. Thư viện sách của Mục sư Henry Francis Lyte được xem là thư viện đầy đủ và có giá trị nhất miền tây nước Anh vào thời đó. Tuy nhiên, nhiều người nhớ đến Mục sư Henry Francis Lyte không phải vì kiến thức của ông, nhưng vì thái độ khiêm tốn, khéo léo, ân cần, cảm thông. Cách ông đối xử với mọi người đã lưu lại những kỷ niệm đẹp trong ký ức của nhiều người mà ông tiếp xúc. Đa số các tín hữu của Mục sư Henry Francis Lyte là những người nghèo. Ông thường đến tận nhà, đến các ghe chài của họ để thăm viếng; điều này đã khích lệ các tín hữu rất nhiều. Khi có tàu từ những nơi xa đến đậu tại cảng, Mục sư Henry Francis Lyte liền đến thăm và tặng Kinh Thánh cho từng chiếc tàu. Khi các tàu địa phương phải thực hiện những chuyến đi xa, Mục sư Henry Francis Lyte thu thập những thánh ca và biên soạn những bài suy gẫm Kinh Thánh để tặng thủy thủ đoàn nhằm giúp họ có thể thờ phượng Chúa trong lúc xa nhà khi lênh đênh giữa biển khơi.

Sáng Tác

Mục sư Henry Francis Lyte là một thi sĩ có tài. Năm 1826, ông xuất bản Tales in Verse Illustrative of Several of the Petitions in the Lord’s Prayer. Tác phẩm này được John Wilson, Giáo sư Triết học tại Edinburgh University, viết lời phê bình. Năm 1833, Mục sư Henry Francis Lyte phát hành tập thơ Poems, Chiefly Religious. Năm 1834, ông phát hành tiếp tập thơ The Spirit of the Psalms. Trong tập thơ này, có rất nhiều bài được phổ nhạc; trong đó có ba bài nổi tiếng là: “Praise, My Soul, the King of Heaven” (Thi Thiên 103), “God of Mercy, God of Grace” (Thi Thiên 67), và “Pleasant Are Thy Courts Above” (Thi Thiên 84).

Về Với Chúa

Trong những năm cuối đời, bệnh suyển của Mục sư Henry Francis Lyte trở nên trầm trọng. Bác sĩ khuyên ông phải sang Ý hoặc miền nam nước Pháp, nơi có khí hậu ấm áp để điều trị. Mục sư Henry Francis Lyte về với Chúa vào ngày 20/11/1847. Những tác phẩm Mục sư Henry Francis Lyte viết vào những năm cuối đời đã được xuất bản vào năm 1850, ba năm sau khi ông về với Chúa, với tựa đề là Remains. Đến năm 1868, một số bài thơ chọn lọc của ông được tái bản.

Tài Liệu