Giô-suê: Chương 15

Từ Thu Vien Tin Lanh
Phiên bản vào lúc 00:06, ngày 31 tháng 5 năm 2020 của Admin (Thảo luận | đóng góp) (Added audio)
(khác) ← Phiên bản cũ | xem phiên bản hiện hành (khác) | Phiên bản mới → (khác)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Phần đất bắt thăm trúng về chi phái Giu-đa, tùy theo những họ hàng của chúng, chạy từ phía giới hạn Ê-đôm tại đồng vắng Xin về phía nam, đến cuối miền nam.

2. Giới hạn phía nam chạy từ đầu Biển mặn, tức là từ phía ở ngay về hướng nam; 3. rồi từ dốc Ạc-ráp-bim chạy dài xuống miền nam, đi ngang qua Xin, lên phía nam Ca-đe-Ba-nê-a, đi ngang qua Hết-rôn, lên hướng Át-đa, vòng qua Cạt-ca, 4. đi ngang về hướng Át-nôn, đổ vào khe Ê-díp-tô, rồi giáp biển. Ấy đó sẽ là giới hạn phía nam của các ngươi.

5. Giới hạn về hướng đông là từ Biển mặn cho đến vàm sông Giô-đanh. Giới hạn phía bắc chạy từ phía biển nơi vàm sông Giô-đanh, 6. đi lên Bết-Hốt-la, trải qua phía bắc Bết-A-ra-ba, và chạy đến hòn đá Bô-han con trai của Ru-bên. 7. Đoạn, giới hạn này đi lên về hướng Đê-bia, từ trũng A-cô chạy tới hướng bắc về phía Ghinh-ganh, đối ngang dốc A-đu-mim tại phía nam khe; rồi trải qua gần mé nước Ên-Sê-mết, và giáp Ên-Rô-ghên. 8. Từ đó giới hạn đi lên ngang qua trũng con trai Hi-nôm, về cạnh nam của Giê-hu, tức là Giê-ru-sa-lem. Kế đó, nó chạy lên cho đến chót núi nằm ngang trũng Hi-nôm về hướng tây, ở đầu phía bắc trũng Rê-pha-im. 9. Giới hạn này chạy từ chót núi đến suối nước Nép-thô-ách, và ăn về hướng các thành của núi Ép-rôn; rồi đi luôn đến Ba-la, là Ki-ri-át-Giê-a-rim. 10. Nó vòng từ Ba-la qua hướng tây về lối núi Sê-i-rơ, rồi theo hướng bắc đi ngang qua phía núi Giê-ra-im, tức là Kê-sa-lôn; kế chạy xuống đến Bết-Sê-mết và qua Thim-na. 11. Từ đó giới hạn này cứ đi theo phía bắc Éc-rôn; đoạn băng qua hướng Siếc-rôn, trải qua núi Ba-la, ăn thẳng đến Giáp-nê-ên, rồi giáp biển.

12. Còn giới hạn phía tây, ấy là biển lớn. Đó là giới hạn về bốn phía của người Giu-đa, tùy theo những họ hàng của chúng.

13. Người ta ban cho ca-lép, con trai Giê-phu-nê, một phần ở giữa người Giu-đa, tùy theo mạng lịnh của Đức Giê-hô-va phán cho Giô-suê, là thành của A-ra-ba, cha A-nác. Ấy là thành Hếp-rôn. 14. Ca-lép bèn đuổi đi ba con trai của A-nác, là Sê-sai, A-hi-man, và Tha-mai. 15. Từ đó người đi lên đánh dân thành Đê-bia; thuở xưa tên Đê-bia là Ki-ri-át-Sê-phe. 16. Ca-lép nói rằng: Ta sẽ gả con gái ta là Ạc-sa, làm vợ cho người nào đánh và chiếm lấy Ki-ri-át-Sê-phe. 17. Ốt-ni-ên, con trai của Kê-na, cháu Ca-lép, bèn chiếm được thành; Ca-lép gả Ạc-sa, con gái mình, cho người làm vợ. 18. Vả, xảy khi nàng vào nhà Ốt-ni-ên, có thúc giục người xin cha mình một sở ruộng. Nàng leo xuống lừa; Ca-lép hỏi rằng: Con muốn chi? 19. Nàng thưa rằng: Xin cha ban một của phước cho con; vì cha lập con nơi đất miền nam, nên hãy cho con mấy suối nước. Người bèn ban cho nàng các suối ở trên và ở dưới.

20. Đó là sản nghiệp của chi phái Giu-đa, tùy theo những họ hàng của chúng.

21. Các thành ở đầu cùng chi phái Giu-đa, về phía ranh Ê-đôm tại miền nam là: Cáp-sê-ên, Ê-đe, Gia-gua, 22. Ki-na, Đi-mô-na, A-đê-a-đa, 23. Kê-đe, Hát-so, Gít-nan, 24. Xíp, Tê-lem, Bê-a-lốt, 25. Hát-so-Ha-đa-tha, Kê-ri-giốt-Hết-rôn, tức là Hát-so; 26. A-mam, Sê-ma, Mô-la-đa, 27. Hát-sa-ga-đa, Hết-môn, Bết-Pha-lê, 28. Hát-sa-Su-anh, Bê-e-Sê-ba, Bi-sốt-gia, 29. Ba-la, Y-dim, Ê-xem, 30. Ê-thô-lát, Kê-sinh, Họt-ma, 31. Xiếc-lát, Mát-ma-na, San-sa-na, 32. Lê-ba-ốt, Si-lim, A-in, và Rim-môn: hết thảy là hai mươi chín thành với các làng của nó.

33. Trong đồng bằng là: Ết-tha-ôn, Xô-rê-a. Át-na 34. Xa-nô-ách, Ên-ga-nim, Tháp-bu-ách, Ê-nam, 35. Giạt-mút, A-đu-lam, Sô-cô, A-xê-ca 36. Sa-a-ra-im, A-đi-tha-im, Ghê-đê-ra, và Ghê-đê-rô-tha-im: hết thảy là mười bốn thành với các làng của nó. 37. Lại có Xê-nan, Ha-đa-sa, Mích-đanh-Gát, 38. Đi-lan, Mít-bê, Giốc-thê-ên, 39. La-ki, Bốt-cát, Éc-lôn, 40. Cáp-bôn, Lách-ma, Kít-lít, 41. Ghê-đê-rốt, Bết-Đa-gôn, Na-a-ma, và Ma-kê-đa: hết thảy là mười sáu thành với các làng của nó; 42. Líp-na, Ê-the, A-san, 43. Díp-tách, Át-na, Nết-síp, 44. Kê-i-la, Ạc-xíp, và Ma-rê-sa: hết thảy là chín thành với các làng của nó; 45. Éc-rôn, với các thành địa hạt và làng của nó; 46. các thành ở gần Ách-đốt cùng các làng của nó, từ Éc-rôn về hướng tây; 47. Ách-đốt, các thành địa hạt, cùng các làng của nó; Ga-xa, các thành địa hạt, cùng các làng của nó, cho đến khe Ê-díp-tô, và biển lớn dùng làm giới hạn.

48. Trong miền núi là: Sa-mia, Giạt-thia, Sô-cô, 49. Đa-na, Ki-ri-át-Sa-na, tức là Đê-bia, 50. A-náp, Ết-thê-mô, A-nim, 51. Gô-sen, Hô-lôn, Ghi-lô: hết thảy mười một thành cùng các làng của nó; 52. A-ráp, Ru-ma, Ê-sê-an, 53. Gia-num, Bết-Tháp-bu-ách, A-phê-ca, 54. Hum-ta, Ki-ri-át-A-ra-ba, tức là Hếp-rôn và Si-ô: hết thảy chín thành với các làng của nó; 55. Ma-ôn, Cạt-mên, Xíp, Giu-ta, 56. Gít-rê-ên, Giốc-đê-am, Xa-nô-ách; 57. Ca-in, Ghi-bê-a, và Thim-na: hết thảy mười thành với các làng của nó; 58. Hanh-hun, Bết-Xu-rơ, Ghê-đô, 59. Ma-a-rát, Bết-A-nốt và Ên-thê-côn: hết thảy sáu thành với các làng của nó; 60. Ki-ri-át-Ba-anh, tức là Ki-ri-át-Giê-a-rim, và Ráp-ba: hết thảy hai thành với các làng của nó; 61. trong đồng vắng có Bết-A-ra-ba, Mi-đin, Sê-ca-ca; 62. Níp-san, Yết-Ha-mê-lách, và Ên-ghê-đi: hết thảy sáu thành với các làng của nó.

63. Vả, người Giu-đa không đuổi được dân Giê-bu-sít ở tại Giê-ru-sa-lem; nên dân Giê-bu-sít còn ở chung cùng người Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem cho đến ngày nay.

Bản Dịch 2011

Lãnh Thổ của Chi Tộc Giu-đa

1 Phần lãnh thổ trúng thăm thuộc về con cái của Giu-đa, theo các gia tộc của họ, đi về hướng nam cho đến biên giới của Ê-đôm, đến miền cực nam của đồng hoang Xin. 2 Ranh giới phía nam của họ chạy từ Biển Muối, tức từ bờ phía nam của biển ấy trở xuống, 3 rồi đi lên Ðèo Bò Cạp, chạy dọc theo đồng hoang Xin, đi ngược lên phía nam của Ca-đe Ba-nê-a, chạy dọc theo Hê-xơ-rôn, trở lên Át-đa, vòng qua Cạc-ca, 4 đi xuyên qua A-xơ-môn, rồi đi ra biển dọc theo Suối Ai-cập, và chấm dứt ở bờ biển. “Ðó sẽ là ranh giới phía nam của ngươi.” 5 Ranh giới phía đông là Biển Muối cho đến cửa Sông Giô-đanh. Ranh giới phía bắc bắt đầu từ bờ biển ở cửa Sông Giô-đanh; 6 đường ranh giới đi lên Bết Hốc-la, rồi chạy dọc theo phía bắc của Bết A-ra-ba; đường ranh giới đi vòng lên Vầng Ðá của Bô-han con trai của Ru-bên; 7 đường ranh giới lại tiếp tục đi lên Ðê-bi, từ Thung Lũng A-cơ chạy về hướng bắc, quay về hướng Ghinh-ganh, tức đối ngang với Dốc A-đum-mim, thuộc về phía nam của thung lũng; đường ranh giới chạy dọc theo hồ nước ở Ên Sê-mếch, rồi ra đến Ên Rô-Ghên. 8 Ðường Ranh giới lại đi lên Thung Lũng Bên Hin-nôm ở triền núi phía nam của dân Giê-bu-si, tức Giê-ru-sa-lem; rồi đường ranh giới đi lên đỉnh núi nằm đối ngang Thung Lũng Hin-nôm về hướng tây, ở cực bắc của Thung Lũng Rê-pha-im; 9 đường ranh giới lại kéo dài từ đỉnh núi đi xuống nguồn nước của Nép-tô-a, từ đó đi xuống các thành của Núi Ép-rôn; rồi đường ranh giới chạy vòng quanh Ba-a-la, tức Ki-ri-át Giê-a-rim; 10 đường ranh giới lại vòng qua hướng tây của Ba-a-la đến Núi Sê-i-rơ, chạy dọc theo triền núi phía bắc của Núi Giê-a-rim, tức Kê-sa-lôn, rồi đi xuống đến Bết Sê-mết, và chạy dọc theo Tim-na; 11 đường ranh giới ra đến triền đồi phía bắc của Éc-rôn; đường ranh giới chạy vòng lại Si-kê-rôn, chạy dọc theo Núi Ba-a-la, và ra đến Giáp-nê-ên; rồi đường ranh giới ra đến biển và chấm dứt. 12 Ranh giới phía tây là Biển Lớn và miền duyên hải. Ðó là đường ranh giới chạy quanh phần đất của con cháu Giu-đa, chia theo các gia tộc của họ.

Ca-lép Chiếm Lấy Sản Nghiệp

(Thủ 1:11-15)

13 Theo như lệnh CHÚA đã truyền cho Giô-suê, ông ban cho Ca-lép con trai Giê-phu-nê một phần trong lãnh thổ của Giu-đa, đó là Ki-ri-át Ạc-ba, tức là Hếp-rôn. Ạc-ba là cha của A-nác. 14 Ca-lép đuổi khỏi nơi đó ba con trai của A-nác: Sê-sai, A-hi-man, và Tanh-mai, dòng dõi của A-nác. 15 Từ đó ông đi lên tiến đánh dân Thành Ðê-bi; vả, tên của Ðê-bi trước đó là Ki-ri-át Sê-phe. 16 Ca-lép nói, “Ai tấn công Ki-ri-át Sê-phe và chiếm được nó, tôi sẽ gả Ách-sa con gái của tôi làm vợ người ấy.” 17 Ốt-ni-ên con trai của Kê-na (Kê-na là em trai Ca-lép) chiếm được thành ấy; vì thế ông gả Ách-sa con gái của ông làm vợ Ốt-ni-ên. 18 Khi nàng về nhà chồng, chồng nàng giục nàng xin cha nàng một cánh đồng. Lúc nàng xuống lưng lừa, Ca-lép hỏi nàng, “Con muốn gì đây?”

19 Nàng trả lời ông, “Con muốn xin cha một món quà; bây giờ cha đã gả con về miền nam, xin cha cho con các suối nước.”

Ca-lép cho nàng các suối nước ở miền trên và các suối nước ở miền dưới.

Các Thành của Chi Tộc Giu-đa

20 Ðây là sản nghiệp thuộc chi tộc của con cháu Giu-đa theo các gia tộc của họ.

21 Các thành thuộc về chi tộc của con cháu Giu-đa trong miền cực nam, về hướng biên giới của Ê-đôm là Cáp-xê-ên, Ê-đe, Gia-gua, 22 Ki-na, Ði-mô-na, A-đa-đa, 23 Kê-đét, Ha-xơ, Ít-nan, 24 Xíp, Tê-lem, Bê-a-lốt, 25 Ha-xơ Ha-đát-ta, Kê-ri-ốt Hê-xơ-rôn (tức Ha-xơ), 26 A-mam, Sê-ma, Mô-la-đa, 27 Ha-xa Gát-đa, Hếch-môn, Bết Pê-lét, 28 Ha-xa Su-an, Bê-e Sê-ba, Bi-xi-ô-thi-a, 29 Ba-a-la, I-im, Ê-xem, 30 Ên-tô-lát, Kê-sin, Họt-ma, 31 Xích-lắc, Mát-man-na, San-san-na, 32 Lê-ba-ốt, Sin-him, A-in, và Rim-môn – tất cả là hai mươi chín thành với các làng của các thành ấy.

33 Trong vùng đồng bằng có Ếch-ta-ôn, Xô-ra, Ách-na, 34 Xa-nô-a, Ên Gan-nim, Táp-pu-a, Ê-nam, 35 Giạc-mút, A-đu-lam, Sô-cô, A-xê-ca, 36 Sa-a-ra-im, A-đi-tha-im, và Ghê-đê-ra (tức Ghê-đê-rô-tha-im) – mười bốn thành với các làng của các thành ấy.

37 Xê-nan, Ha-đa-sa, Mích-đan Gát, 38 Ði-lan, Mích-pê, Giốc-thê-ên, 39 La-kích, Bô-cát, Éc-lon, 40 Ca-bon, La-mam, Ki-tích, 41 Ghê-đê-rốt, Bết Ða-gôn, Na-a-ma, và Ma-kê-đa – mười sáu thành với các làng của các thành ấy.

42 Líp-na, Ê-the, A-san, 43 Íp-ta, Ách-na, Nê-xíp, 44 Kê-i-la, Ách-xíp, Ma-rết-sa – chín thành với các làng của các thành ấy.

45 Éc-rôn với các thị trấn trực thuộc và các làng của các thị trấn ấy, 46 từ Éc-rôn đến biển, tất cả các thị trấn trực thuộc và ở gần Ách-đốt với các làng của các thị trấn ấy. 47 Ách-đốt, các thị trấn trực thuộc, và các làng của các thị trấn ấy; Ga-xa, các thị trấn trực thuộc, và các làng của các thị trấn ấy, trải dài cho đến Suối Ai-cập và dọc theo bờ Biển Lớn.

48 Trên miền cao nguyên: Sa-mia, Giát-tia, Sô-cô, 49 Ðan-na, Ki-ri-át San-na (tức Ðê-bi), 50 A-náp, Ếch-tê-mô, A-nim, 51 Gô-sen, Hô-lôn, và Ghi-lô – mười một thành với các làng của các thành ấy.

52 A-rập, Ðu-ma, Ê-san, 53 Gia-nim, Bết Táp-pu-a, A-phê-ca, 54 Hum-ta, Ki-ri-át Ạc-ba (tức Hếp-rôn), Xi-ơ – chín thành với các làng của các thành ấy.

55 Ma-ôn, Cạt-mên, Xíp, Giút-ta, 56 Giê-rê-ên, Giốc-đê-am, Xa-nô-a, 57 Ca-in, Ghi-bê-a, và Tim-na – mười thành với các làng của các thành ấy.

58 Hanh-hun, Bết Xu-rơ, Ghê-đô, 59 Ma-a-rát, Bết A-nốt, và Ên-tê-côn – sáu thành với các làng của các thành ấy.

60 Ki-ri-át Ba-anh (tức Ki-ri-át Giê-a-rim) và Ráp-ba – hai thành với các làng của các thành ấy.

61 Trong đồng hoang: Bết A-ra-ba, Mít-đin, Sê-ca-ca, 62 Síp-san, Thành Muối, và Ên Ghê-đi – sáu thành với các làng của các thành ấy.

63 Nhưng con cháu của Giu-đa không thể đuổi dân Giê-bu-si, tức dân cư ở Giê-ru-sa-lem, đi khỏi; vì thế dân Giê-bu-si vẫn sống giữa dân Giu-đa ở Giê-ru-sa-lem cho đến ngày nay.

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu