Ê-sai: Chương 64

Từ Thu Vien Tin Lanh
Phiên bản vào lúc 00:43, ngày 31 tháng 5 năm 2020 của Admin (Thảo luận | đóng góp) (Added audio)
(khác) ← Phiên bản cũ | xem phiên bản hiện hành (khác) | Phiên bản mới → (khác)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Bản Dịch 1925

1. Ôi! ước gì Ngài xé rách các từng trời, Ngài ngự xuống và làm rúng động các núi trước mặt Ngài, 2. như lửa đốt củi khô, như lửa làm sôi nước, hầu cho kẻ thù nghịch biết danh Ngài, các dân tộc run rẩy trước mặt Ngài. 3. Khi Ngài đã làm những sự đáng sợ mà chúng tôi không trông mong, thì Ngài ngự xuống, và các núi đều rúng động trước mặt Ngài.

4. Từ xưa người ta chưa hề biết, tai chưa hề nghe, mắt chưa hề thấy ngoài Ngài có Đức Chúa Trời nào khác, hay vì kẻ trông đợi mình mà làm những sự thể ấy. 5. Ngài đã đón rước kẻ vui lòng làm sự công bình, kẻ đi trong đường lối Ngài và nhớ đến Ngài. Nầy, Ngài đã nổi giận vì chúng tôi phạm tội; đã lâu như vậy, thì còn được cứu sao?

6. Chúng tôi hết thảy đã trở nên như vật ô uế, mọi việc công bình của chúng tôi như áo nhớp; chúng tôi thảy đều héo như lá, và tội ác chúng tôi như gió đùa mình đi. 7. Chẳng có ai kêu cầu danh Ngài, hay là gắng sức đặng cầm lấy Ngài; vì Ngài đã ẩn mặt khỏi chúng tôi, để chúng tôi bị tiêu mất bởi tội ác mình.

8. Hỡi Đức Giê-hô-va, dầu vậy, bây giờ Ngài là Cha chúng tôi! Chúng tôi là đất sét, Ngài là thợ gốm chúng tôi; chúng tôi thảy là việc của tay Ngài. 9. Hỡi Đức Giê-hô-va, xin Ngài chớ quá giận, đừng luôn luôn nhớ đến tội ác chúng tôi! Nầy, chúng tôi xin Ngài hãy đoái xem, chúng tôi đều là dân Ngài! 10. Các thành thánh của Ngài đã nên đồng vắng; Si-ôn đã trở nên đồng vắng, Giê-ru-sa-lem đã trở nên hoang vu. 11. Nhà thánh và đẹp đẽ của chúng tôi, tức là nơi tổ phụ chúng tôi ngợi khen Ngài, thì đã bị lửa đốt cháy rồi; mọi nơi vui vẻ của chúng tôi đều đã bị hủy hoại. 12. Hỡi Đức Giê-hô-va, đã đến nỗi nầy, Ngài còn nín nhịn được sao? Có lẽ nào Ngài cứ làm thinh, khiến chúng tôi chịu khổ không ngần.

Bản Dịch 2011

'

1 Ôi, ước gì Ngài xé các từng trời ngự xuống,

Ðể núi non rúng động trước mặt Ngài.

2 Như lửa hừng đốt các củi khô cháy rụi,

Như lửa nung làm sôi sục nước trong nồi,

Nguyện Ngài làm cho danh Ngài được quân thù của Ngài biết đến,

Ðể muôn dân run sợ trước mặt Ngài!

3 Khi Ngài thực hiện những việc lớn lao kinh khủng,

Mà chúng con không ngờ có lúc Ngài làm;

Ngài đã ngự xuống,

Các núi non rúng động trước mặt Ngài.

4 Vì từ khi dựng nên trời đất, chưa ai được nghe nói đến bao giờ,

Chưa tai ai nghe, chưa mắt ai thấy có một Ðức Chúa Trời nào khác ngoài ra Ngài,

Ðấng ra tay hành động để giúp đỡ những kẻ trông cậy Ngài.

5 Ngài gặp gỡ những kẻ lấy làm vui mà làm điều công chính,

Những người nhớ đến Ngài để đi theo đường lối Ngài.

Này, Ngài đã giận vì chúng con phạm tội;

Nhưng nếu chúng con cứ mãi là những kẻ có tội, thì làm sao chúng con được cứu đây?

6 Vì tất cả chúng con đã trở nên như những kẻ ô uế;

Mọi việc công chính chúng con như áo quần nhớp nhúa;

Tất cả chúng con như chiếc lá úa tàn;

Những tội lỗi chúng con như trận gió, đùa chúng con đi.

7 Chẳng có ai kêu cầu danh Ngài;

Không người nào trỗi dậy bám chặt lấy Ngài,

Vì Ngài đã ẩn mặt Ngài khỏi chúng con;

Ngài đã để cho tội lỗi chúng con tha hồ hủy hoại chúng con.

8 Nhưng bây giờ, CHÚA ôi,

Ngài là Cha chúng con;

Chúng con là đất sét, và Ngài là thợ gốm;

Chúng con là sản phẩm của tay Ngài.

9 Lạy CHÚA, xin Ngài đừng quá giận chúng con nữa;

Xin Ngài đừng ghi nhớ tội lỗi chúng con đến đời đời;

Này, xin Ngài xem đây,

Tất cả chúng con đều là dân Ngài.

10 Các thành thánh của Ngài giờ đã thành những hoang địa điêu tàn;

Núi Si-ôn nay đã thành nơi quạnh hiu vắng vẻ;

Giê-ru-sa-lem bây giờ chỉ là nơi hoang vắng tiêu điều.

11 Ðền thờ thánh và đẹp đẽ của chúng con,

Nơi tổ tiên chúng con thường ca ngợi Ngài,

Nay đã bị lửa hừng thiêu rụi;

Tất cả những gì chúng con yêu quý giờ đã thành đống đổ nát điêu tàn.

12 CHÚA ôi, lẽ nào Ngài đành lòng để mặc chúng con chịu mãi cảnh trạng như thế sao?

Nỡ nào Ngài cứ bất động, để chúng con bị hoạn nạn thảm khốc luôn như vậy sao?

Tài Liệu

  • Kinh Thánh - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại
  • Kinh Thánh - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu