<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/api.php?action=feedcontributions&amp;feedformat=atom&amp;user=Admin</id>
	<title>Thư Viện Tin Lành - Đóng góp của người dùng [vi]</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/api.php?action=feedcontributions&amp;feedformat=atom&amp;user=Admin"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=%C4%90%E1%BA%B7c_bi%E1%BB%87t:%C4%90%C3%B3ng_g%C3%B3p/Admin"/>
	<updated>2026-08-03T13:28:14Z</updated>
	<subtitle>Đóng góp của người dùng</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.34.0</generator>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%B3p_:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_33&amp;diff=35784</id>
		<title>Gióp : Chương 33</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%B3p_:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_33&amp;diff=35784"/>
		<updated>2026-07-27T23:19:22Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, thưa ông Gióp, xin hãy nghe lời trình bày của tôi! Xin lắng nghe tất cả những lời nói của tôi. &lt;br /&gt;
2. Bây giờ, tôi mở miệng của mình, và lưỡi trong miệng của tôi sẽ nói. 3. Những lời nói từ tấm lòng của tôi là chính trực, môi của tôi thốt ra sự hiểu biết thuần khiết. 4. Thần của Đức Chúa Trời đã tạo ra tôi, và hơi thở của Đấng Toàn Năng ban cho tôi sự sống. 5. Nếu ông có thể phản biện, xin hãy sắp đặt lý luận của mình, rồi trình bày trước mặt tôi. 6. Thật vậy, trước mặt Đức Chúa Trời, tôi cũng như ông đã được tạo thành từ đất sét. 7. Hãy xem, tôi không có gì đáng sợ khiến ông phải kinh hãi, cũng không có áp lực nào đè nặng trên ông. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Thật vậy, ông đã nói vào tai của tôi. Tôi đã nghe những lời ông nói rằng: 9. &amp;quot;Tôi trong sạch, không làm điều gì sai phạm. Tôi vô tội và trong tôi không chất chứa sự gian ác nào. 10. Dầu vậy Ngài tìm những cơ hội để chống lại tôi. Ngài xem tôi như là kẻ thù của Ngài. 11. Ngài tra chân tôi vào xiềng. Ngài theo dõi mọi đường lối của tôi.” 12. Hãy xem! Tôi xin thưa là ông không đúng trong điều nầy, bởi vì Đức Chúa Trời vĩ đại hơn loài người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Tại sao ông cứ tranh luận với Ngài, bởi vì Ngài đâu có trách nhiệm phải giải thích mọi việc Ngài làm. 14. Ðức Chúa Trời đã phán cách này hay cách khác, nhưng người ta không quan tâm để ý: 15. Qua giấc mơ, qua khải tượng trong ban đêm, lúc người ta rơi vào giấc ngủ say, hay khi ngủ mê mệt trên giường của mình; 16. Ngài đã mở tai cho loài người, rồi ấn chứng những lời giáo huấn của Ngài; 17. để thay đổi việc con người đang làm, và che chở cho họ khỏi sự kiêu ngạo, 18. để giữ linh hồn của họ khỏi sa vào vực sâu, và sinh mạng của họ khỏi bị diệt bởi gươm đao. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Loài người được sửa dạy bởi sự đau đớn trên giường bệnh, xương cốt run rẩy triền miên.  20. Còn sống nhưng ngao ngán thức ăn, và bản thân không còn thích thực phẩm. 21. Thể xác tàn tạ không còn hình dung được nữa. Xương cốt vốn được giấu kín, bây giờ lại lộ ra. 22. Và rồi linh hồn bị kéo đến vực sâu và mạng sống bị đem đi hành xử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Nếu có một sứ giả, một vị trung gian được chọn ở giữa hàng ngàn người, để chỉ cho người đó điều gì là đúng cho người đó. 24. Và Ngài thương xót người, nói rằng: &amp;quot;Hãy giải cứu nó khỏi bị sa xuống vực sâu. Ta đã nhận giá chuộc mạng của nó rồi.&amp;quot; 25. Và rồi, thân thể của người được phục hồi như lúc còn trẻ, người sẽ trở lại thời thanh xuân. 26. Người sẽ cầu nguyện với Đức Chúa Trời và được Ngài vui nhận. Người sẽ gặp mặt Ngài và mừng vui, bởi vì Ngài phục hồi cho người sự công chính của Ngài. 27. Người sẽ gặp nhiều người và nói: &amp;quot;Tôi đã phạm tội, đã làm sai lệch những gì chân chính, và điều đó không ích lợi gì cho tôi. 28. Ngài đã giải cứu linh hồn tôi khỏi vực sâu, và đời sống của tôi sẽ thấy ánh sáng.&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29. Hãy xem, Đức Chúa Trời đã làm tất cả những việc này đôi ba lần như vậy cho con người, 30. để đem linh hồn của con người khỏi vực sâu, để con người có thể được soi sáng bởi ánh sáng của sự sống. 31. Thưa ông Gióp! Xin hãy để tai lắng nghe tôi. Hãy yên lặng, rồi tôi sẽ nói: 32. Tôi mong ước ông là công chính, vì vậy nếu ông có điều gì để nói, xin hãy nói với tôi. 33. Nếu không, xin hãy yên lặng và lắng nghe tôi. Tôi sẽ giải bày cho ông sự khôn ngoan. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, thưa ông Gióp, xin hãy nghe lời trình bày của tôi! Xin lắng nghe tất cả những lời nói của tôi. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Bây giờ, tôi mở miệng của mình, và lưỡi trong miệng của tôi sẽ nói.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Những lời nói từ tấm lòng của tôi là chính trực, môi của tôi thốt ra sự hiểu biết được chắt lọc.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Thần của Đức Chúa Trời đã tạo nên tôi, và hơi thở của Đấng Toàn Năng ban cho tôi sự sống.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Nếu ông có thể phản biện, xin hãy sắp đặt lý luận của mình, rồi trình bày trước mặt tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Thật vậy, trước mặt Đức Chúa Trời, tôi cũng như ông đã được tạo thành từ đất sét.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Hãy xem, tôi không có gì đáng sợ khiến ông phải kinh hãi, cũng không có áp lực nào đè nặng trên ông.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Thật vậy, ông đã nói vào tai của tôi. Tôi đã nghe những lời ông nói rằng:&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. &amp;quot;Tôi trong sạch - không làm điều gì sai phạm. Tôi vô tội và trong tôi không chất chứa sự gian ác nào.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Dầu vậy Ngài tìm những cơ hội để chống lại tôi. Ngài xem tôi như kẻ thù của Ngài.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Ngài tra chân tôi vào xiềng. Ngài theo dõi mọi đường lối của tôi.”&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Hãy xem! Tôi xin thưa là ông không đúng trong điều nầy, bởi vì Đức Chúa Trời vĩ đại hơn loài người.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Tại sao ông cứ tranh luận với Ngài, bởi vì Ngài đâu có trách nhiệm phải giải thích mọi việc Ngài làm.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ðức Chúa Trời đã phán một lần, hoặc hai lần, nhưng người ta không quan tâm để ý. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Qua giấc mơ, qua khải tượng trong ban đêm, lúc người ta rơi vào giấc ngủ say, hay khi ngủ mê mệt trên giường của mình;&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Sau đó Ngài mở tai cho loài người, và ấn chứng những lời giáo huấn của Ngài.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Để thay đổi việc con người đang làm, và che giấu họ khỏi sự kiêu ngạo.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Để giữ linh hồn của họ khỏi sa vào vực sâu, và sinh mạng của họ khỏi bị diệt bởi gươm đao.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Loài người được sửa dạy bởi sự đau đớn trên giường bệnh, xương cốt run rẩy triền miên. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Còn sống nhưng ngao ngán thức ăn, và bản thân không còn thích thực phẩm. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Thể xác tàn tạ không còn hình dung được nữa; xương cốt vốn được giấu kín, giờ lại lộ ra.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Và rồi linh hồn bị kéo đến vực sâu, và mạng sống bị đem đi hành xử.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Nếu có một sứ giả, một vị trung gian được chọn ở giữa hàng ngàn người, để chỉ cho người đó điều gì là đúng cho người đó.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Và Ngài thương xót người, nói rằng: &amp;quot;Hãy giải cứu nó khỏi bị sa xuống vực sâu. Ta đã nhận giá chuộc mạng nó rồi.&amp;quot;&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25. Và rồi thân thể của người được phục hồi như lúc còn trẻ, người sẽ trở lại thời thanh xuân.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Người sẽ cầu nguyện với Đức Chúa Trời và được Ngài vui nhận. Người sẽ gặp mặt Ngài và mừng vui, bởi vì Ngài phục hồi cho người sự công chính của Ngài.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Người sẽ gặp nhiều người và nói: &amp;quot;Tôi đã phạm tội, đã làm sai lệch những gì chân chính, và điều đó không ích lợi gì cho tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Ngài đã giải cứu linh hồn tôi khỏi vực sâu, và đời sống tôi sẽ thấy ánh sáng.&amp;quot;&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29. Hãy xem, Đức Chúa Trời đã làm tất cả những việc này đôi ba lần như vậy cho con người,&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30. Để đem linh hồn của con người khỏi vực sâu, để con người có thể được soi sáng bởi ánh sáng của sự sống.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31. Thưa ông Gióp! Xin hãy để tai lắng nghe tôi. Hãy yên lặng, rồi tôi sẽ nói:&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32. Tôi mong ước ông là công chính, vì vậy nếu ông có điều gì để nói, xin hãy nói với tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. Nếu không, xin hãy yên lặng và lắng nghe tôi. Tôi sẽ giải bày cho ông sự khôn ngoan.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Nhưng vậy, hỡi Gióp, xin hãy nghe diễn thuyết tôi. Khá lắng tai nghe các lời nói tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;2.  Kìa, tôi đã mở miệng ra, Lưỡi tôi nói trong họng tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;3.  Các lời tôi nói sẽ chiếu theo sự chánh trực của lòng tôi; Điều tôi biết lưỡi tôi sẽ nói cách thành thực.&amp;lt;br/&amp;gt;4.  Thần Đức Chúa Trời đã sáng tạo tôi, Hơi thở của Đấng Toàn năng ban cho tôi sự sống.&amp;lt;br/&amp;gt;5.  Nếu đáp được, hãy đáp lại cho tôi, Hãy đứng dậy, bày ra lời của ông tại trước mặt tôi!&amp;lt;br/&amp;gt;6.  Hãy xem, đối cùng Đức Chúa Trời tôi với ông có khác chi, Tôi cũng bởi đất bùn mà ra.&amp;lt;br/&amp;gt;7.  Sự oai nghi tôi nào sẽ làm cho ông kinh khiếp, Và quyền thế tôi sẽ chẳng đè ép ông.&amp;lt;br/&amp;gt;8.  Quả ông có nói đến tai tôi, Tôi đã nghe tiếng lời của ông nói rằng:&amp;lt;br/&amp;gt;9.  Tôi trong sạch, không có vi phạm; Tôi vô tội, và trong lòng tôi chẳng có gian ác gì.&amp;lt;br/&amp;gt;10.  Dầu vậy, Đức Chúa Trời tìm dịp đối địch tôi, Cầm tôi như kẻ thù nghịch Ngài;&amp;lt;br/&amp;gt;11.  Ngài riết chân tôi vào cùm, Và coi chừng đường lối tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;12.  Nầy, tôi muốn đáp với ông rằng trong các lời ấy ông nói vô lý; Vì Đức Chúa Trời là lớn hơn loài người.&amp;lt;br/&amp;gt;13.  Nhân sao ông tranh luận với Ngài? Ngài không bày giãi điều nào Ngài làm.&amp;lt;br/&amp;gt;14.  Vì Đức Chúa Trời phán một lần, Hoặc hai lần; nhưng người ta không để ý đến.&amp;lt;br/&amp;gt;15.  Ngài phán trong chiêm bao, trong dị tượng ban đêm, Lúc người ta ngủ mê, Nằm ngủ trên giường mình;&amp;lt;br/&amp;gt;16.  Bấy giờ Ngài mở lỗ tai loài người, Niêm phong lời giáo huấn mà Ngài dạy cho họ,&amp;lt;br/&amp;gt;17.  Hầu cho loài nguời khỏi điều họ toan làm, Và giấu họ tánh kiêu ngạo,&amp;lt;br/&amp;gt;18.  Cứu linh hồn họ khỏi cái huyệt, Và mạng sống khỏi bị gươm giết,&amp;lt;br/&amp;gt;19.  Loài người nằm trên giường mình bị đau đớn sửa phạt, Và xương cốt người hàng tranh chạm nhau mãi mãi,&amp;lt;br/&amp;gt;20.  Miệng người bèn lấy làm gớm ghiếc vật thực, Và linh hồn người ghét những đồ ăn mĩ vị.&amp;lt;br/&amp;gt;21.  Thịt người bị tiêu hao không còn thấy nữa, Và xương người, mà trước chẳng thấy được, bèn bị lộ ra.&amp;lt;br/&amp;gt;22.  Linh hồn người đến gần cái hầm, Và sự sống người xích lại kẻ giết.&amp;lt;br/&amp;gt;23.  Nếu trong một ngàn thiên sứ, có một thiên sứ làm kẻ truyền-giải cho người, Để chỉ dạy người biết điều ngay thẳng cho người,&amp;lt;br/&amp;gt;24.  Ắt Đức Chúa Trời làm ơn cho người và phán rằng: &amp;quot;Hãy giải cứu nó khỏi bị sa xuống cái hầm; Ta đã tìm đặng giá cứu chuộc rồi&amp;quot;&amp;lt;br/&amp;gt;25.  Người sẽ được thẳng da mát thịt như buổi thơ ấu; Người trở lại ngày đang thì.&amp;lt;br/&amp;gt;26.  Người cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời bèn đoái thương người, Khiến người vui mừng xem thấy mặt Ngài, Và Ngài trả lại sự công bình cho người.&amp;lt;br/&amp;gt;27.  Đoạn, người đó sẽ hát trước mặt loài người, mà rằng: &amp;quot;Tôi đã phạm tội, làm hư hoại sự ngay thẳng, Song chẳng có ích gì cho tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;28.  Đức Chúa Trời có giải cứu linh hồn tôi khỏi sa xuống hầm, Và sự sống tôi sẽ thấy ánh sáng.&amp;quot;&amp;lt;br/&amp;gt;29.  Kìa, các việc ấy Đức Chúa Trời làm cho loài người; Đến hai lần, hoặc ba lần,&amp;lt;br/&amp;gt;30.  Đặng khiến linh hồn người trở lại khỏi cái hầm, Hầu cho người được ánh sáng kẻ sống chiếu vào cho.&amp;lt;br/&amp;gt;31.  Hỡi Gióp, hãy chăm chỉ nghe tôi; Khá làm thinh, thì tôi sẽ nói.&amp;lt;br/&amp;gt;32.  Nếu ông có điều gì muốn nói, hãy đáp lại tôi; Khá nói, vì tôi muốn xưng ông là công bình.&amp;lt;br/&amp;gt;33.  Bằng chẳng, hãy nghe tôi; Hãy làm thinh, thì tôi sẽ dạy cho ông sự khôn ngoan.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B18\V02B18C033.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Ê-li-hu Trách Gióp'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Nhưng bây giờ, thưa ông Gióp, xin ông nghe tôi nói;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin ông lắng nghe mọi lời nói của tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Này, tôi mở miệng ra;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lưỡi trong miệng tôi đang thốt thành lời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Lời nói của tôi sẽ phản ánh lòng ngay thẳng của tôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Môi tôi sẽ nói ra sự hiểu biết của tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Thần của Ðức Chúa Trời đã tạo nên tôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hơi thở của Ðấng Toàn Năng đã ban cho tôi sự sống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Nếu có thể được, xin ông trả lời để tôi được hiểu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin ông sắp đặt các lý lẽ của ông để chỉ bảo cho tôi hay;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin ông cứ giữ lập trường của ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Này, trước mặt Ðức Chúa Trời, tôi với ông đều như nhau;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi cũng từ đất sét mà được thành hình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Này, xin ông đừng lo ngại, vì tôi chẳng là gì cả;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vấn đề tôi trình bày sẽ không quá phiền phức đối với ông đâu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Quả thật những gì ông nói tôi đã nghe đầy đủ cả;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi vẫn còn nghe rõ mọi lời nói của ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Ông nói, “Tôi trong sạch, tôi chẳng làm gì nên tội;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi trong trắng, ở trong tôi không có tội lỗi nào.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Nhưng Ngài tìm những cơ hội để chống lại tôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài xem tôi như kẻ thù của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Ngài tra chân tôi vào xiềng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và Ngài theo dõi mọi bước đường của tôi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Thưa, trong điểm này, tôi xin trả lời rằng ông không đúng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðức Chúa Trời vĩ đại hơn mọi phàm nhân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Tại sao ông cứ tranh luận với Ngài?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài không cần trả lời những thắc mắc của ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ðức Chúa Trời đã phán một lần, rồi hai lần;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng người ta không để ý để nhận ra sứ điệp của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Ngài phán qua giấc mơ, qua khải tượng trong ban đêm;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi giấc ngủ ập đến trên nhân thế, khi họ ngủ say trên giường;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Bấy giờ Ngài sẽ mở tai người ta để họ nghe rõ tận tường;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể họ hoảng kinh vì những dấu hiệu cảnh cáo của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Hầu con người sẽ lìa bỏ những hành vi tội lỗi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và để Ngài cứu nó ra khỏi thói kiêu căng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Ngài giữ linh hồn nó khỏi sa vào huyệt mả;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài giữ sinh mạng nó khỏi bị chết vì gươm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Ngài sửa trị nó bằng những đớn đau trên giường bịnh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bằng những cơn đau nhức thấu xương;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Ðến nỗi sinh mạng nó gớm ghê cơm bánh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Linh hồn nó không thiết ăn các món cao lương mỹ vị.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Thịt nó đã tiêu hao, không còn thấy trên thân thể nữa;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xương nó vốn chìm sâu trong thịt, giờ lộ hẳn ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Linh hồn nó bị kéo dần đến huyệt mả;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sinh mạng nó bị lôi đến những kẻ hành hình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Nếu bấy giờ bên cạnh nó có một sứ giả,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một người trung gian được chọn ở giữa ngàn người,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể chỉ cho nó biết trở về đường ngay nẻo chánh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Bấy giờ Ngài sẽ dủ lòng khoan nhân ân hậu với nó và bảo rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Thôi tha cho nó để nó khỏi xuống huyệt mả;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta đã tìm được những gì chuộc mạng nó rồi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25 Hãy để cho da thịt nó trở lại như tuổi thanh xuân;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy cho nó được phục hồi như thời còn tràn đầy nhựa sống.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Bấy giờ nó sẽ cầu nguyện với Ðức Chúa Trời,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và Ngài sẽ nhậm lời nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nó sẽ ra mắt Ngài với lòng hớn hở vui mừng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ngài tái lập nó vào địa vị nó đáng hưởng nhận.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Nó sẽ nhìn người ta và nói,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Tôi đã phạm tội và đã làm sai lệch những gì chân chính,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng tôi không bị báo trả xứng đáng với tội của tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Ngài cứu chuộc linh hồn tôi khỏi sa vào huyệt mả;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mạng sống tôi được nhìn thấy ánh sáng lại rồi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29 Này, mọi sự ấy đều do Ðức Chúa Trời làm cả;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài cứ làm đôi ba lần như thế với phàm nhân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30 Ðể đem linh hồn nó lìa khỏi cửa mộ mà trở lại;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hầu nó được chiếu sáng bằng ánh sáng của cõi nhân sinh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 Thưa ông Gióp, xin ông chú ý và lắng nghe tôi nói;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin ông nhẫn nại nghe và cho tôi tiếp tục nói hết ý mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32 Nhưng nếu ông có điều chi chỉ bảo, xin ông cứ đáp lời tôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin ông nói ra, vì tôi muốn thấy ông được xác chứng rằng ông là người ngay lành trong sạch.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Còn nếu ông không muốn nói điều gì, xin ông vui lòng tiếp tục nghe tôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin ông cứ yên lặng nghe, tôi sẽ thưa với ông những gì tôi hiểu về sự khôn ngoan.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Gióp ]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Thi Thiên ]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Châm Ngôn ]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Truyền Đạo ]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Nhã Ca ]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Gióp : Chương 32]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Gióp : Chương 34]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Kh%E1%BA%A3i_Huy%E1%BB%81n:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_19&amp;diff=35783</id>
		<title>Khải Huyền: Chương 19</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Kh%E1%BA%A3i_Huy%E1%BB%81n:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_19&amp;diff=35783"/>
		<updated>2026-07-25T06:42:58Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;== Bản Dịch Việt Ngữ ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau những điều này, tôi nghe như có một giọng nói thật lớn của một đoàn người rất đông từ trời hô rằng: &amp;quot;Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh quang và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời của chúng ta. 2. Bởi vì những sự phán xét của Ngài là chân thật và công minh. Ngài đã phán xét đại kỹ nữ, là kẻ đã dùng sự dâm loạn của mình làm hư hỏng đất; và Ngài đã báo thù về máu của các đầy tớ của Ngài do kỹ nữ làm đổ ra.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Họ nói lần thứ hai: &amp;quot;Ha-lê-lu-gia! Khói của nó bay lên đời đời!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật phủ phục và thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng ngồi trên ngai, rồi nói: &amp;quot;A-men! Ha-lê-lu-gia!&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Có giọng từ ngai vang ra nói rằng: &amp;quot;Tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta, là những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn, hãy ca ngợi Ngài!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Và rồi tôi nghe có tiếng như tiếng của một đoàn người rất đông, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn, nói rằng: &amp;quot;Ha-lê-lu-gia! Bởi vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta đang trị vì. 7. Chúng ta hãy vui mừng hân hoan, hãy dâng vinh quang cho Ngài, bởi vì lễ cưới của Chiên Con đã đến và Vợ của Ngài đã chuẩn bị chính nàng sẵn sàng. 8. Nàng đã được ban cho vải mịn, tươi sáng, và tinh khiết để mặc&amp;quot; - Vải mịn là những việc công chính của các thánh đồ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Rồi người nói cùng tôi: &amp;quot;Hãy viết! Phước cho những người được mời dự tiệc cưới của Chiên Con!&amp;quot; Và người nói với tôi: &amp;quot;Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời.&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Tôi phủ phục dưới chân của người để thờ lạy người, nhưng người bảo: &amp;quot;Đừng làm như vậy! Ta là người cùng phục vụ như ngươi và các anh em của ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời, bởi vì tinh thần của lời tiên tri là làm chứng về Đức Chúa Jesus.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Và rồi tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng, và Đấng được gọi là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT ngồi trên nó; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính. 12. Mắt của Ngài như ngọn lửa; trên đầu của Ngài có nhiều vương miện, trên đó có viết một danh mà ngoài Ngài không ai biết được. 13. Ngài mặc trang phục đã được nhúng trong máu. Danh của Ngài được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. 14. Những đạo quân trên trời đều mặc vải mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi những con ngựa trắng và theo Ngài. 15. Từ miệng Ngài phát ra một lưỡi gươm bén, Ngài đã dùng nó để đánh các nước; Ngài sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt. Ngài đạp bàn ép nho với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. 16. Trên áo choàng và trên đùi của Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Rồi tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời, người hô lớn gọi các loài chim bay giữa trời: &amp;quot;Hãy đến! Hãy tụ họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, 18. để ăn thịt của các vua, thịt của các tướng lĩnh, thịt của những dũng sĩ, thịt ngựa và những người cưỡi chúng, thịt của tất cả, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Và rồi tôi thấy con thú và các vua trên đất cùng với quân đội của họ đã tập trung lại để tranh chiến với Đấng cưỡi ngựa và quân đội của Ngài. 20. Nhưng con thú đã bị bắt, cùng với hắn là tiên tri giả - là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt con thú, để lừa dối những người đã nhận dấu của con thú và những người thờ lạy hình tượng của nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. 21. Những người còn lại đều bị giết bằng thanh gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa. Tất cả chim chóc đều ăn thịt của họ no nê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Bản Dịch Đại Chúng ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau những điều này, tôi nghe như có một giọng nói thật lớn của một đoàn người rất đông từ trời hô rằng: Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh quang và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời của chúng ta. Bởi vì những sự phán xét của Ngài là chân thật và công minh. Ngài đã phán xét đại kỹ nữ, là kẻ đã dùng sự dâm loạn của mình làm hư hỏng đất; và Ngài đã báo thù về máu của các đầy tớ của Ngài do kỹ nữ làm đổ ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Họ nói lần thứ hai: Ha-lê-lu-gia! Khói của nó bay lên đời đời!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật phủ phục và thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng ngồi trên ngai, rồi nói: A-men! Ha-lê-lu-gia! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có giọng từ ngai vang ra nói rằng: Tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta, là những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn, hãy ca ngợi Ngài!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi tôi nghe có tiếng như tiếng của một đoàn người rất đông, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn, nói rằng: Ha-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta trị vì. Chúng ta hãy vui mừng hân hoan, hãy dâng vinh quang cho Ngài, bởi vì lễ cưới của Chiên Con đã đến và Vợ của Ngài đã chuẩn bị chính nàng sẵn sàng. Nàng đã được ban cho vải mịn, tươi sáng, và tinh khiết để mặc - (vải mịn là những việc công chính của các thánh đồ).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi người nói cùng tôi: Hãy viết! Phước cho những người được mời dự tiệc cưới của Chiên Con! Và người nói với tôi: Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi phủ phục dưới chân của người để thờ lạy người, nhưng người bảo: Đừng làm như vậy! Ta là người cùng phục vụ như ngươi và các anh em của ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời, bởi vì tinh thần của lời tiên tri là để làm chứng về Đức Chúa Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng, và Đấng được gọi là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT ngồi trên nó; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính.  Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu Ngài có nhiều vương miện, trên đó có viết một danh mà ngoài Ngài không ai biết được. Ngài mặc trang phục đã được nhúng trong máu. Danh của Ngài được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. Những đạo quân trên trời đều mặc vải mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi những ngựa trắng và theo Ngài. Từ miệng Ngài phát ra một lưỡi gươm bén, Ngài dùng nó để đánh các nước; Ngài sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt. Ngài đạp bàn ép nho với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Trên áo choàng và trên đùi của Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời, người hô lớn gọi các loài chim bay giữa trời: Hãy đến! Hãy tụ họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, để ăn thịt của các vua, thịt của các tướng lĩnh, thịt của những dũng sĩ, thịt ngựa và những người cưỡi chúng, thịt của tất cả, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi tôi thấy con thú và các vua trên đất cùng với quân đội của họ tập trung lại để tranh chiến với Đấng cưỡi ngựa và quân đội của Ngài. Nhưng con thú bị bắt, cùng với hắn là tiên tri giả - là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt con thú, để lừa dối những người đã nhận dấu của con thú và những người thờ lạy hình tượng của nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. Những người còn lại đều bị giết bằng thanh gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa; tất cả chim chóc đều ăn thịt của họ no nê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Bản Dịch Ngữ Căn ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau những điều này, tôi nghe như có một giọng nói thật lớn của một đoàn người rất đông từ trời hô rằng: Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh quang và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời của chúng ta. 2. Bởi vì những sự phán xét của Ngài là chân thật và công minh. Ngài đã phán xét đại kỹ nữ, là kẻ đã dùng sự dâm loạn của mình làm hư hỏng đất; và Ngài đã báo thù về máu của các đầy tớ của Ngài do kỹ nữ làm đổ ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Họ nói lần thứ hai: Ha-lê-lu-gia! Khói của nó bay lên đời đời!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật phủ phục và thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng ngồi trên ngai, rồi nói: A-men! Ha-lê-lu-gia! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Có giọng từ ngai vang ra nói rằng: Tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta, là những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn, hãy ca ngợi Ngài!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Và rồi tôi nghe có tiếng như tiếng của một đoàn người rất đông, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn, nói rằng: Ha-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta trị vì. 7. Chúng ta hãy vui mừng hân hoan, hãy dâng vinh quang cho Ngài, bởi vì lễ cưới của Chiên Con đã đến và Vợ của Ngài đã chuẩn bị chính nàng sẵn sàng. 8. Nàng đã được ban cho vải mịn, tươi sáng, và tinh khiết để mặc - (vải mịn là những việc công chính của các thánh đồ).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Rồi người nói cùng tôi: Hãy viết! Phước cho những người được mời dự tiệc cưới của Chiên Con! Và người nói với tôi: Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Tôi phủ phục dưới chân người để thờ lạy người, nhưng người bảo: Đừng làm như vậy, ta là người cùng phục vụ như ngươi và các anh em của ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời, bởi vì tinh thần của lời tiên tri là để làm chứng về Đức Chúa Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Và rồi tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng, và Đấng được gọi là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT ngồi trên nó; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính. 12. Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu Ngài có nhiều vương miện, trên đó có viết một danh mà ngoài Ngài không ai biết được. 13. Ngài mặc trang phục đã được nhúng trong máu. Danh của Ngài được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. 14. Những đạo quân trên trời đều mặc vải mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi những ngựa trắng và theo Ngài. 15. Từ miệng Ngài phát ra một lưỡi gươm bén, Ngài dùng nó để đánh các nước; Ngài sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt. Ngài đạp bàn ép nho với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. 16. Trên áo choàng và trên đùi của Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Rồi tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời, người hô lớn gọi các loài chim bay giữa trời: Hãy đến! Hãy tụ họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, 18. để ăn thịt của các vua, thịt của các tướng lĩnh, thịt của những dũng sĩ, thịt ngựa và những người cưỡi chúng, thịt của tất cả, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Và rồi tôi thấy con thú và các vua trên đất cùng với quân đội của họ tập trung lại để tranh chiến với Đấng cưỡi ngựa và quân đội của Ngài. 20. Nhưng con thú bị bắt, cùng với hắn là tiên tri giả - là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt con thú, để lừa dối những người đã nhận dấu của con thú và những người thờ lạy hình tượng của nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. 21. Những người còn lại đều bị giết bằng thanh gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa; tất cả chim chóc đều ăn thịt của họ no nê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Sự đó đoạn, tôi nghe ở trên trời như có tiếng lớn của lũ đông lắm rằng: A-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh hiển, quyền phép đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta. 2.  Vì những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình: Ngài đã đoán phạt đại dâm phụ nó lấy đều dâm loạn làm hư hỏng thế gian, và Ngài đã báo thù huyết của các tôi tớ Ngài đã bị tay con dâm phụ đó làm đổ ra. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Chúng lại nói một lần thứ hai rằng: A-lê-lu-gia! Luồng khói nó bay lên đời đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Hai mươi bốn trưởng lão cùng bốn con sanh vật bèn mọp xuống thờ lạy Đức Chúa Trời, là Đấng ngồi trên ngôi, mà rằng: A-men, A-lê-lu-gia! 5.  Lại có tiếng từ ngôi đến rằng: Hết thảy các ngươi là tôi tớ Đức Chúa Trời chúng ta, vẫn kính sợ Ngài, nhỏ hay lớn, đều hãy ngợi khen Ngài! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Đoạn, tôi lại nghe có tiếng như một đám đông vô số người, khác nào tiếng nước lớn hoặc như tiếng sấm dữ, mà rằng: A-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng Toàn năng, đã cầm quyền cai trị. 7.  Chúng ta hãy hớn hở vui mừng, tôn vinh Ngài; vì lễ cưới Chiên Con đã tới, và vợ Ngài đã sửa soạn, 8.  đã cho người được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn (vải gai mịn tức là công việc công bình của các thánh đồ). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Thiên sứ phán cùng tôi rằng: Hãy chép: Phước thay cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con! Người lại tiếp rằng: Đó là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. 10.  Tôi bèn gieo mình xuống dưới chân người đặng thờ lạy; song người phán rằng: Hãy giữ lấy, đừng làm vậy; ta là bạn tôi tớ với ngươi và với anh em ngươi là người cùng giữ lời chứng của Đức Chúa Jêsus. Ngươi hãy thờ lạy Đức Chúa Trời. Vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus là đại ý của lời tiên tri. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Bấy giờ tôi thấy trời mở ra, và có một con ngựa bạch hiện ra: Đấng cỡi ngựa ấy gọi là Đấng Trung Tín Và Chân Thật; Ngài lấy lẽ công bình mà xét đoán và chiến đấu. 12.  Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu có nhiều mão triều thiên, lại có đề một danh, ngoài Ngài ra không ai biết được. 13.  Ngài mặc áo nhúng trong huyết, danh Ngài xưng là Lời Đức Chúa Trời. 14.  Các đạo binh trên trời đều mặc vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch theo Ngài. 15.  Có một lưỡi gươm bén ở miệng Ngài ra, Ngài sẽ lấy nó mà đánh các dân, và cai trị họ bằng một cây gậy sắt. Ngài giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng. 16.  Trên áo tơi và trên đùi Ngài, có đề một danh là Vua Của Các Vua Và Chúa Của Các Chúa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời. Người cất tiếng lớn kêu các chim chóc bay giữa không của trời, mà rằng: Hãy đến, bay hãy nhóm hiệp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, 18.  hãy đến ăn thịt các vua, thịt các tướng, thịt các dũng sĩ, thịt ngựa cùng kẻ cỡi ngựa, và thịt của mọi người, tự chủ và tôi mọi, nhỏ và lớn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19.  Tôi lại thấy con thú và các vua thế gian cùng những quân đội mình nhóm lại đặng tranh chiến với Đấng cỡi ngựa, và với đạo binh của Ngài. 20.  Nhưng con thú bị bắt và tiên tri giả là kẻ đã làm phép lạ trước mặt con thú, nhờ đó lừa dối những người đã nhận dấu hiệu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó, cùng bị bắt với nó nữa; cả hai đều đang sống bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng. 21.  Những kẻ khác đều bị giết bởi lưỡi gươm ra từ miệng Đấng cỡi ngựa, và hết thảy chim chóc đều được ăn thịt chúng nó no nê. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B66\V02B66C019.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ca Mừng trên Thiên Ðàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Sau những điều ấy, tôi nghe có tiếng như tiếng của một đám đông rất lớn trên trời hô to rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ha-lê-lu-gia!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ơn cứu rỗi, vinh hiển, và quyền lực đều thuộc về Ðức Chúa Trời chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Vì những phán quyết của Ngài đều là chân chính và công bình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã đoán phạt con điếm trứ danh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kẻ đã làm băng hoại thế gian bằng sự gian dâm của nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã báo thù cho máu của các đầy tớ Ngài bị nó làm đổ ra.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Họ lại nói lần nữa rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ha-lê-lu-gia!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khói từ nó bay lên đời đời vô cùng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Hai mươi bốn vị trưởng lão và bốn Sinh Vật sấp mình xuống và thờ lạy Ðức Chúa Trời, Ðấng đang ngự trên ngai, và nói,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“A-men!  Ha-lê-lu-gia!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Kế đó một tiếng nói từ ngai vang ra, bảo rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Hãy ca ngợi Ðức Chúa Trời chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hỡi các đầy tớ của Ngài và hỡi những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tiệc Cưới của Chiên Con'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Bấy giờ tôi nghe có tiếng gì như tiếng của một đám đông rất lớn, như tiếng của nhiều dòng nước chảy, và như tiếng của nhiều tiếng sấm nổ vang rền rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ha-lê-lu-gia!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Chúa là Ðức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta trị vì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Chúng ta hãy vui mừng, hớn hở, và dâng vinh hiển lên Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì hôn lễ của Chiên Con đã đến,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và cô dâu của Ngài đã chuẩn bị cho nàng sẵn sàng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Cô dâu ấy đã được ban cho bộ y phục bằng vải gai mịn, tinh bạch, và rạng ngời để mặc; vì vải gai mịn tượng trưng cho những việc công chính của các thánh đồ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Bấy giờ vị thiên sứ bảo tôi, “Hãy chép điều này, ‘Phước cho những người được mời đến dự tiệc cưới của Chiên Con.’”  Vị thiên sứ ấy lại bảo tôi, “Ðây là những lời chân thật của Ðức Chúa Trời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Tôi liền sấp mình xuống trước mặt vị thiên sứ ấy để thờ lạy, nhưng vị thiên sứ ấy bảo tôi, “Chớ làm vậy, vì ta cũng chỉ là một đồng bạn làm đầy tớ với ngươi và với anh chị em ngươi, những người giữ vững lời chứng của Ðức Chúa Jesus; hãy thờ phượng Ðức Chúa Trời; vì lời chứng của Ðức Chúa Jesus là linh khí của lời tiên tri.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ðấng Cỡi Ngựa Trắng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Bấy giờ tôi thấy trời mở ra; và kìa, một con ngựa trắng với người cỡi nó được xưng là Ðấng Thành Tín và Chân Thật, và Ngài cứ theo lẽ công chính mà đoán xét và tuyên chiến.  12 Mắt Ngài như ngọn lửa hừng, trên đầu Ngài có nhiều vương miện, và Ngài có một danh được ghi rõ, nhưng không ai biết, ngoại trừ  Ngài.  13 Ngài mặc một áo choàng đã nhúng trong máu, và danh Ngài được xưng là Lời Ðức Chúa Trời.  14 Các đạo binh trên trời mặc quân phục bằng vải gai mịn, trắng ngần, và tinh sạch, cỡi ngựa trắng, đi theo Ngài.  15 Từ miệng Ngài ra một thanh gươm sắc bén, để Ngài dùng nó đánh hạ các nước; Ngài chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt; và Ngài đạp nát nho trong bồn ép nho cho thành rượu sủi bọt thịnh nộ phừng phừng của Ðức Chúa Trời Toàn Năng.  16 Trên áo Ngài và nơi đùi Ngài có ghi một danh, “Vua của các vua và Chúa của các chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Sau đó tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời; vị thiên sứ ấy lớn tiếng bảo mọi loài chim bay giữa trời rằng, “Hãy đến! Hãy tụ họp để dự đại tiệc của Ðức Chúa Trời, 18 để các ngươi có thể ăn thịt các vua, thịt các quan tướng, thịt các dũng sĩ, thịt các chiến mã, thịt các kỵ binh, và thịt của mọi người, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Bấy giờ tôi thấy Con Thú, các vua trên đất, và các đạo quân của họ tập họp lại để chiến đấu với Ðấng cỡi ngựa trắng và với đạo quân của Ngài.  20 Con Thú và tiên tri giả của nó đều bị bắt sống; tiên tri giả ấy là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt Con Thú; nó đã dùng những dấu lạ để gạt những kẻ đã nhận dấu của Con Thú và những kẻ thờ phượng hình tượng của Con Thú.  Hai kẻ đó bị quăng sống vào lò lửa cháy phừng phừng với lưu huỳnh.  21 Còn những kẻ khác bị giết bằng thanh gươm của Ðấng cỡi trên lưng ngựa, đó là thanh gươm đã ra từ miệng Ngài; và tất cả chim trời được no nê vì thịt của chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B66\V01B66C019.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1926 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền: Chương 18]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền: Chương 20]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* Thánh Kinh Lược Khảo - Nhà Xuất Bản Tin Lành Sài Gòn (1970)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Kh%E1%BA%A3i_Huy%E1%BB%81n:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_19&amp;diff=35782</id>
		<title>Khải Huyền: Chương 19</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Kh%E1%BA%A3i_Huy%E1%BB%81n:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_19&amp;diff=35782"/>
		<updated>2026-07-25T06:40:55Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;== Bản Dịch Việt Ngữ ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau những điều này, tôi nghe như có một giọng nói thật lớn của một đoàn người rất đông từ trời hô rằng: &amp;quot;Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh quang và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời của chúng ta. 2. Bởi vì những sự phán xét của Ngài là chân thật và công minh. Ngài đã phán xét đại kỹ nữ, là kẻ đã dùng sự dâm loạn của mình làm hư hỏng đất; và Ngài đã báo thù về máu của các đầy tớ của Ngài do kỹ nữ làm đổ ra.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Họ nói lần thứ hai: &amp;quot;Ha-lê-lu-gia! Khói của nó bay lên đời đời!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật phủ phục và thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng ngồi trên ngai, rồi nói: &amp;quot;A-men! Ha-lê-lu-gia!&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Có giọng từ ngai vang ra nói rằng: &amp;quot;Tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta, là những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn, hãy ca ngợi Ngài!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Và rồi tôi nghe có tiếng như tiếng của một đoàn người rất đông, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn, nói rằng: &amp;quot;Ha-lê-lu-gia! Bởi vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta đang trị vì. 7. Chúng ta hãy vui mừng hân hoan, hãy dâng vinh quang cho Ngài, bởi vì lễ cưới của Chiên Con đã đến và Vợ của Ngài đã chuẩn bị chính nàng sẵn sàng. 8. Nàng đã được ban cho vải mịn, tươi sáng, và tinh khiết để mặc&amp;quot; - Vải mịn là những việc công chính của các thánh đồ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Rồi người nói cùng tôi: &amp;quot;Hãy viết! Phước cho những người được mời dự tiệc cưới của Chiên Con!&amp;quot; Và người nói với tôi: &amp;quot;Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời.&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Tôi phủ phục dưới chân của người để thờ lạy người, nhưng người bảo: &amp;quot;Đừng làm như vậy! Ta là người cùng phục vụ như ngươi và các anh em của ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời, bởi vì tinh thần của lời tiên tri là để làm chứng về Đức Chúa Jesus.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Và rồi tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng, và Đấng được gọi là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT ngồi trên nó; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính. 12. Mắt của Ngài như ngọn lửa; trên đầu của Ngài có nhiều vương miện, trên đó có viết một danh mà ngoài Ngài không ai biết được. 13. Ngài mặc trang phục đã được nhúng trong máu. Danh của Ngài được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. 14. Những đạo quân trên trời đều mặc vải mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi những con ngựa trắng và theo Ngài. 15. Từ miệng Ngài phát ra một lưỡi gươm bén, Ngài đã dùng nó để đánh các nước; Ngài sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt. Ngài đạp bàn ép nho với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. 16. Trên áo choàng và trên đùi của Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Rồi tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời, người hô lớn gọi các loài chim bay giữa trời: &amp;quot;Hãy đến! Hãy tụ họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, 18. để ăn thịt của các vua, thịt của các tướng lĩnh, thịt của những dũng sĩ, thịt ngựa và những người cưỡi chúng, thịt của tất cả, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Và rồi tôi thấy con thú và các vua trên đất cùng với quân đội của họ đã tập trung lại để tranh chiến với Đấng cưỡi ngựa và quân đội của Ngài. 20. Nhưng con thú đã bị bắt, cùng với hắn là tiên tri giả - là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt con thú, để lừa dối những người đã nhận dấu của con thú và những người thờ lạy hình tượng của nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. 21. Những người còn lại đều bị giết bằng thanh gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa. Tất cả chim chóc đều ăn thịt của họ no nê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Bản Dịch Đại Chúng ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau những điều này, tôi nghe như có một giọng nói thật lớn của một đoàn người rất đông từ trời hô rằng: Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh quang và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời của chúng ta. Bởi vì những sự phán xét của Ngài là chân thật và công minh. Ngài đã phán xét đại kỹ nữ, là kẻ đã dùng sự dâm loạn của mình làm hư hỏng đất; và Ngài đã báo thù về máu của các đầy tớ của Ngài do kỹ nữ làm đổ ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Họ nói lần thứ hai: Ha-lê-lu-gia! Khói của nó bay lên đời đời!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật phủ phục và thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng ngồi trên ngai, rồi nói: A-men! Ha-lê-lu-gia! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có giọng từ ngai vang ra nói rằng: Tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta, là những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn, hãy ca ngợi Ngài!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi tôi nghe có tiếng như tiếng của một đoàn người rất đông, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn, nói rằng: Ha-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta trị vì. Chúng ta hãy vui mừng hân hoan, hãy dâng vinh quang cho Ngài, bởi vì lễ cưới của Chiên Con đã đến và Vợ của Ngài đã chuẩn bị chính nàng sẵn sàng. Nàng đã được ban cho vải mịn, tươi sáng, và tinh khiết để mặc - (vải mịn là những việc công chính của các thánh đồ).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi người nói cùng tôi: Hãy viết! Phước cho những người được mời dự tiệc cưới của Chiên Con! Và người nói với tôi: Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi phủ phục dưới chân của người để thờ lạy người, nhưng người bảo: Đừng làm như vậy! Ta là người cùng phục vụ như ngươi và các anh em của ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời, bởi vì tinh thần của lời tiên tri là để làm chứng về Đức Chúa Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng, và Đấng được gọi là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT ngồi trên nó; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính.  Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu Ngài có nhiều vương miện, trên đó có viết một danh mà ngoài Ngài không ai biết được. Ngài mặc trang phục đã được nhúng trong máu. Danh của Ngài được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. Những đạo quân trên trời đều mặc vải mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi những ngựa trắng và theo Ngài. Từ miệng Ngài phát ra một lưỡi gươm bén, Ngài dùng nó để đánh các nước; Ngài sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt. Ngài đạp bàn ép nho với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Trên áo choàng và trên đùi của Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời, người hô lớn gọi các loài chim bay giữa trời: Hãy đến! Hãy tụ họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, để ăn thịt của các vua, thịt của các tướng lĩnh, thịt của những dũng sĩ, thịt ngựa và những người cưỡi chúng, thịt của tất cả, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi tôi thấy con thú và các vua trên đất cùng với quân đội của họ tập trung lại để tranh chiến với Đấng cưỡi ngựa và quân đội của Ngài. Nhưng con thú bị bắt, cùng với hắn là tiên tri giả - là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt con thú, để lừa dối những người đã nhận dấu của con thú và những người thờ lạy hình tượng của nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. Những người còn lại đều bị giết bằng thanh gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa; tất cả chim chóc đều ăn thịt của họ no nê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Bản Dịch Ngữ Căn ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau những điều này, tôi nghe như có một giọng nói thật lớn của một đoàn người rất đông từ trời hô rằng: Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh quang và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời của chúng ta. 2. Bởi vì những sự phán xét của Ngài là chân thật và công minh. Ngài đã phán xét đại kỹ nữ, là kẻ đã dùng sự dâm loạn của mình làm hư hỏng đất; và Ngài đã báo thù về máu của các đầy tớ của Ngài do kỹ nữ làm đổ ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Họ nói lần thứ hai: Ha-lê-lu-gia! Khói của nó bay lên đời đời!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật phủ phục và thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng ngồi trên ngai, rồi nói: A-men! Ha-lê-lu-gia! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Có giọng từ ngai vang ra nói rằng: Tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta, là những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn, hãy ca ngợi Ngài!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Và rồi tôi nghe có tiếng như tiếng của một đoàn người rất đông, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn, nói rằng: Ha-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta trị vì. 7. Chúng ta hãy vui mừng hân hoan, hãy dâng vinh quang cho Ngài, bởi vì lễ cưới của Chiên Con đã đến và Vợ của Ngài đã chuẩn bị chính nàng sẵn sàng. 8. Nàng đã được ban cho vải mịn, tươi sáng, và tinh khiết để mặc - (vải mịn là những việc công chính của các thánh đồ).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Rồi người nói cùng tôi: Hãy viết! Phước cho những người được mời dự tiệc cưới của Chiên Con! Và người nói với tôi: Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Tôi phủ phục dưới chân người để thờ lạy người, nhưng người bảo: Đừng làm như vậy, ta là người cùng phục vụ như ngươi và các anh em của ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời, bởi vì tinh thần của lời tiên tri là để làm chứng về Đức Chúa Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Và rồi tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng, và Đấng được gọi là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT ngồi trên nó; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính. 12. Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu Ngài có nhiều vương miện, trên đó có viết một danh mà ngoài Ngài không ai biết được. 13. Ngài mặc trang phục đã được nhúng trong máu. Danh của Ngài được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. 14. Những đạo quân trên trời đều mặc vải mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi những ngựa trắng và theo Ngài. 15. Từ miệng Ngài phát ra một lưỡi gươm bén, Ngài dùng nó để đánh các nước; Ngài sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt. Ngài đạp bàn ép nho với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. 16. Trên áo choàng và trên đùi của Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Rồi tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời, người hô lớn gọi các loài chim bay giữa trời: Hãy đến! Hãy tụ họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, 18. để ăn thịt của các vua, thịt của các tướng lĩnh, thịt của những dũng sĩ, thịt ngựa và những người cưỡi chúng, thịt của tất cả, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Và rồi tôi thấy con thú và các vua trên đất cùng với quân đội của họ tập trung lại để tranh chiến với Đấng cưỡi ngựa và quân đội của Ngài. 20. Nhưng con thú bị bắt, cùng với hắn là tiên tri giả - là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt con thú, để lừa dối những người đã nhận dấu của con thú và những người thờ lạy hình tượng của nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. 21. Những người còn lại đều bị giết bằng thanh gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa; tất cả chim chóc đều ăn thịt của họ no nê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Sự đó đoạn, tôi nghe ở trên trời như có tiếng lớn của lũ đông lắm rằng: A-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh hiển, quyền phép đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta. 2.  Vì những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình: Ngài đã đoán phạt đại dâm phụ nó lấy đều dâm loạn làm hư hỏng thế gian, và Ngài đã báo thù huyết của các tôi tớ Ngài đã bị tay con dâm phụ đó làm đổ ra. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Chúng lại nói một lần thứ hai rằng: A-lê-lu-gia! Luồng khói nó bay lên đời đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Hai mươi bốn trưởng lão cùng bốn con sanh vật bèn mọp xuống thờ lạy Đức Chúa Trời, là Đấng ngồi trên ngôi, mà rằng: A-men, A-lê-lu-gia! 5.  Lại có tiếng từ ngôi đến rằng: Hết thảy các ngươi là tôi tớ Đức Chúa Trời chúng ta, vẫn kính sợ Ngài, nhỏ hay lớn, đều hãy ngợi khen Ngài! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Đoạn, tôi lại nghe có tiếng như một đám đông vô số người, khác nào tiếng nước lớn hoặc như tiếng sấm dữ, mà rằng: A-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng Toàn năng, đã cầm quyền cai trị. 7.  Chúng ta hãy hớn hở vui mừng, tôn vinh Ngài; vì lễ cưới Chiên Con đã tới, và vợ Ngài đã sửa soạn, 8.  đã cho người được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn (vải gai mịn tức là công việc công bình của các thánh đồ). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Thiên sứ phán cùng tôi rằng: Hãy chép: Phước thay cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con! Người lại tiếp rằng: Đó là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. 10.  Tôi bèn gieo mình xuống dưới chân người đặng thờ lạy; song người phán rằng: Hãy giữ lấy, đừng làm vậy; ta là bạn tôi tớ với ngươi và với anh em ngươi là người cùng giữ lời chứng của Đức Chúa Jêsus. Ngươi hãy thờ lạy Đức Chúa Trời. Vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus là đại ý của lời tiên tri. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Bấy giờ tôi thấy trời mở ra, và có một con ngựa bạch hiện ra: Đấng cỡi ngựa ấy gọi là Đấng Trung Tín Và Chân Thật; Ngài lấy lẽ công bình mà xét đoán và chiến đấu. 12.  Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu có nhiều mão triều thiên, lại có đề một danh, ngoài Ngài ra không ai biết được. 13.  Ngài mặc áo nhúng trong huyết, danh Ngài xưng là Lời Đức Chúa Trời. 14.  Các đạo binh trên trời đều mặc vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch theo Ngài. 15.  Có một lưỡi gươm bén ở miệng Ngài ra, Ngài sẽ lấy nó mà đánh các dân, và cai trị họ bằng một cây gậy sắt. Ngài giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng. 16.  Trên áo tơi và trên đùi Ngài, có đề một danh là Vua Của Các Vua Và Chúa Của Các Chúa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời. Người cất tiếng lớn kêu các chim chóc bay giữa không của trời, mà rằng: Hãy đến, bay hãy nhóm hiệp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, 18.  hãy đến ăn thịt các vua, thịt các tướng, thịt các dũng sĩ, thịt ngựa cùng kẻ cỡi ngựa, và thịt của mọi người, tự chủ và tôi mọi, nhỏ và lớn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19.  Tôi lại thấy con thú và các vua thế gian cùng những quân đội mình nhóm lại đặng tranh chiến với Đấng cỡi ngựa, và với đạo binh của Ngài. 20.  Nhưng con thú bị bắt và tiên tri giả là kẻ đã làm phép lạ trước mặt con thú, nhờ đó lừa dối những người đã nhận dấu hiệu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó, cùng bị bắt với nó nữa; cả hai đều đang sống bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng. 21.  Những kẻ khác đều bị giết bởi lưỡi gươm ra từ miệng Đấng cỡi ngựa, và hết thảy chim chóc đều được ăn thịt chúng nó no nê. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B66\V02B66C019.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ca Mừng trên Thiên Ðàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Sau những điều ấy, tôi nghe có tiếng như tiếng của một đám đông rất lớn trên trời hô to rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ha-lê-lu-gia!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ơn cứu rỗi, vinh hiển, và quyền lực đều thuộc về Ðức Chúa Trời chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Vì những phán quyết của Ngài đều là chân chính và công bình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã đoán phạt con điếm trứ danh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kẻ đã làm băng hoại thế gian bằng sự gian dâm của nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã báo thù cho máu của các đầy tớ Ngài bị nó làm đổ ra.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Họ lại nói lần nữa rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ha-lê-lu-gia!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khói từ nó bay lên đời đời vô cùng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Hai mươi bốn vị trưởng lão và bốn Sinh Vật sấp mình xuống và thờ lạy Ðức Chúa Trời, Ðấng đang ngự trên ngai, và nói,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“A-men!  Ha-lê-lu-gia!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Kế đó một tiếng nói từ ngai vang ra, bảo rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Hãy ca ngợi Ðức Chúa Trời chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hỡi các đầy tớ của Ngài và hỡi những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tiệc Cưới của Chiên Con'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Bấy giờ tôi nghe có tiếng gì như tiếng của một đám đông rất lớn, như tiếng của nhiều dòng nước chảy, và như tiếng của nhiều tiếng sấm nổ vang rền rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ha-lê-lu-gia!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Chúa là Ðức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta trị vì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Chúng ta hãy vui mừng, hớn hở, và dâng vinh hiển lên Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì hôn lễ của Chiên Con đã đến,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và cô dâu của Ngài đã chuẩn bị cho nàng sẵn sàng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Cô dâu ấy đã được ban cho bộ y phục bằng vải gai mịn, tinh bạch, và rạng ngời để mặc; vì vải gai mịn tượng trưng cho những việc công chính của các thánh đồ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Bấy giờ vị thiên sứ bảo tôi, “Hãy chép điều này, ‘Phước cho những người được mời đến dự tiệc cưới của Chiên Con.’”  Vị thiên sứ ấy lại bảo tôi, “Ðây là những lời chân thật của Ðức Chúa Trời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Tôi liền sấp mình xuống trước mặt vị thiên sứ ấy để thờ lạy, nhưng vị thiên sứ ấy bảo tôi, “Chớ làm vậy, vì ta cũng chỉ là một đồng bạn làm đầy tớ với ngươi và với anh chị em ngươi, những người giữ vững lời chứng của Ðức Chúa Jesus; hãy thờ phượng Ðức Chúa Trời; vì lời chứng của Ðức Chúa Jesus là linh khí của lời tiên tri.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ðấng Cỡi Ngựa Trắng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Bấy giờ tôi thấy trời mở ra; và kìa, một con ngựa trắng với người cỡi nó được xưng là Ðấng Thành Tín và Chân Thật, và Ngài cứ theo lẽ công chính mà đoán xét và tuyên chiến.  12 Mắt Ngài như ngọn lửa hừng, trên đầu Ngài có nhiều vương miện, và Ngài có một danh được ghi rõ, nhưng không ai biết, ngoại trừ  Ngài.  13 Ngài mặc một áo choàng đã nhúng trong máu, và danh Ngài được xưng là Lời Ðức Chúa Trời.  14 Các đạo binh trên trời mặc quân phục bằng vải gai mịn, trắng ngần, và tinh sạch, cỡi ngựa trắng, đi theo Ngài.  15 Từ miệng Ngài ra một thanh gươm sắc bén, để Ngài dùng nó đánh hạ các nước; Ngài chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt; và Ngài đạp nát nho trong bồn ép nho cho thành rượu sủi bọt thịnh nộ phừng phừng của Ðức Chúa Trời Toàn Năng.  16 Trên áo Ngài và nơi đùi Ngài có ghi một danh, “Vua của các vua và Chúa của các chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Sau đó tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời; vị thiên sứ ấy lớn tiếng bảo mọi loài chim bay giữa trời rằng, “Hãy đến! Hãy tụ họp để dự đại tiệc của Ðức Chúa Trời, 18 để các ngươi có thể ăn thịt các vua, thịt các quan tướng, thịt các dũng sĩ, thịt các chiến mã, thịt các kỵ binh, và thịt của mọi người, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Bấy giờ tôi thấy Con Thú, các vua trên đất, và các đạo quân của họ tập họp lại để chiến đấu với Ðấng cỡi ngựa trắng và với đạo quân của Ngài.  20 Con Thú và tiên tri giả của nó đều bị bắt sống; tiên tri giả ấy là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt Con Thú; nó đã dùng những dấu lạ để gạt những kẻ đã nhận dấu của Con Thú và những kẻ thờ phượng hình tượng của Con Thú.  Hai kẻ đó bị quăng sống vào lò lửa cháy phừng phừng với lưu huỳnh.  21 Còn những kẻ khác bị giết bằng thanh gươm của Ðấng cỡi trên lưng ngựa, đó là thanh gươm đã ra từ miệng Ngài; và tất cả chim trời được no nê vì thịt của chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B66\V01B66C019.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1926 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền: Chương 18]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền: Chương 20]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* Thánh Kinh Lược Khảo - Nhà Xuất Bản Tin Lành Sài Gòn (1970)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_8&amp;diff=35781</id>
		<title>Các Quan Xét: Chương 8</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_8&amp;diff=35781"/>
		<updated>2026-07-16T04:15:25Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đó, người Ép-ra-im đã nói với ông: “Tại sao ông đối xử với chúng tôi như vậy? Tại sao ông không gọi chúng tôi khi ông đi đánh dân Ma-đi-an?” Họ cãi với ông kịch liệt. 2. Nhưng ông đã trả lời cho họ rằng: “Việc tôi làm đâu có so sánh được với anh em? Không phải nho mót của Ép-ra-im còn hơn cả mùa nho của A-bi-ê-xe hay sao? 3. Đức Chúa Trời đã trao Ô-rép và Xê-ép, là hai lãnh tụ của dân Ma-đi-an, vào tay của anh em. So sánh với anh em, tôi có làm được điều gì?” Khi nghe ông nói những lời đó, họ nguôi cơn giận cùng ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Ghi-đê-ôn đến sông Giô-đanh, rồi vượt qua sông. Ông và ba trăm người theo ông đều mệt nhưng họ vẫn cố sức truy đuổi. 5. Ông nói với người Su-cốt rằng: “Xin cho những người theo tôi một ít bánh, bởi vì họ kiệt sức. Tôi đang đuổi theo Xê-bách và Xanh-mu-na, là hai vua Ma-đi-an.” 6. Các lãnh đạo của Su-cốt trả lời: “Tay của ông đã nắm được tay của Xê-bách và Xanh-mu-na chưa mà ông bảo chúng tôi phải cấp bánh cho quân lính của ông?” 7. Ghi-đê-ôn đáp: “Nếu như vậy, khi Đức Giê-hô-va trao Xê-bách và Xanh-mu-na vào tay của tôi, tôi sẽ lấy gai gốc và chông gai trong hoang mạc mà đánh nát thịt các ông.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Từ đó, ông đi lên Phê-nu-ên và cũng nói với dân Phê-nu-ên giống như vậy. Dân Phê-nu-ên cũng trả lời ông giống y như dân Su-cốt đã trả lời. 9. Vì vậy, ông nói với dân Phê-nu-ên rằng: “Khi tôi trở về trong chiến thắng, tôi sẽ phá tan cái tháp nầy.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Lúc đó, Xê-bách và Xanh-mu-na đang ở tại Cạt-cô với quân lính của họ, khoảng mười lăm ngàn người, là số quân còn sót lại của dân phương Đông, bởi vì một trăm hai mươi nghìn người biết  dùng gươm đã bị giết. 11. Ghi-đê-ôn đã đi lên theo con đường của dân du mục về phía đông của Nô-bách và Giô-bê-ha, rồi tấn công vào trại quân trong khi họ tưởng rằng đã được an toàn. 12. Xê-bách và Xanh-mu-na chạy trốn, nhưng ông đuổi theo bắt được hai vua của Ma-đi-an là Xê-bách và Xanh-mu-na. Cả đạo binh rối loạn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Ghi-đê-ôn con của Giô-ách từ chiến trường trở về, theo ngã đèo Hê-re. 14. Ông bắt một thanh niên của dân Su-cốt, tra hỏi nó. Nó đã viết ra tên các lãnh đạo và trưởng lão của Su-cốt là bảy mươi bảy người. 15. Ông đến với dân Su-cốt, rồi nói: “Đây là Xê-bách và Xanh-mu-na mà các ngươi đã mắng ta rằng: ‘Tay của ông đã nắm được tay của Xê-bách và Xanh-mu-na chưa mà bảo chúng tôi phải cấp bánh cho những kẻ kiệt sức của ông?’” 16. Sau đó, ông đã bắt các trưởng lão của thành, rồi lấy gai gốc và chông gai nơi hoang mạc mà dạy họ và người Su-cốt. 17. Sau đó, ông đã phá hủy tháp Phê-nu-ên và giết những người trong thành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Sau đó, Ghi-đê-ôn hỏi Xê-bách và Xanh-mu-na: “Những người mà các ngươi đã giết tại Tha-bô  như thế nào?” Họ đáp: “Họ cũng giống như ông. Người nào cũng trông như một vương tử.” 19. Ông đáp: “Họ là anh em của ta, là các con trai của mẹ ta. Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, nếu các ngươi để cho họ còn sống thì ta cũng không giết các ngươi.” 20. Rồi ông bảo Giê-the con đầu lòng của ông: “Con hãy lại giết họ đi.” Nhưng cậu thiếu niên không dám rút gươm ra, vì cậu sợ bởi vì cậu còn trẻ. 21. Xê-bách và Xanh-mu-na nói: “Chính ông hãy giết chúng tôi đi, vì người sao thì sức vậy.” Do đó, Ghi-đê-ôn đã đứng lên giết Xê-bách và Xanh-mu-na, rồi lấy những vật hình lưỡi liềm đeo nơi cổ các lạc đà của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Sau đó, người Y-sơ-ra-ên nói với Ghi-đê-ôn: “Xin ông, con trai, và cháu của ông hãy cai trị chúng tôi, bởi vì ông đã giải cứu chúng tôi khỏi tay dân Ma-đi-an.” 23. Ghi-đê-ôn trả lời: “Ta không cai trị các ngươi, con trai của ta cũng không cai trị các ngươi, nhưng Đức Giê-hô-va sẽ cai trị các ngươi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Nhưng Ghi-đê-ôn đã nói với họ: “Ta thỉnh cầu các ngươi một điều. Mỗi người trong các ngươi hãy cho ta một vòng đeo tai mà các ngươi đã cướp được.” (bởi vì người Ích-ma-ên có tục đeo vòng vàng nơi tai.) 25. Họ đáp: “Chúng tôi sẵn sàng tặng.” Họ trải một áo choàng ra, rồi mỗi người ném vào đó một vòng đeo tai mà họ đã lấy làm chiến lợi phẩm. 26. Những vòng đeo tai vàng mà Ghi-đê-ôn đã xin, cân được một ngàn bảy trăm siếc-lơ vàng, không kể những đồ trang sức hình trăng lưỡi liềm, dây chuyền, và những áo màu điều của vua Ma-đi-an thường mặc, cùng những vòng đeo cổ của lạc đà. 27. Ghi-đê-ôn đã lấy vàng đó làm một cái tượng ê-phót đặt trong thành của mình tại Óp-ra. Cả Y-sơ-ra-ên phạm tội tà dâm với nó tại đó. Nó đã trở thành một cạm bẫy cho Ghi-đê-ôn và cả gia đình của ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Dân Ma-đi-an bị khuất phục trước dân Y-sơ-ra-ên, họ không cất đầu lên được nữa. Trong đời của Ghi-đê-ôn, đất nước được yên bình trong bốn mươi năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29. Giê-ru-ba-anh, con trai của Giô-ách, trở về cư ngụ trong nhà của mình. 30. Ghi-đê-ôn có bảy mươi con trai. Đó là những con ruột của ông, bởi vì ông có nhiều vợ. 31. Một tỳ thiếp của ông tại Si-chem sinh cho ông một con trai. Ông đặt tên cho nó là A-bi-mê-léc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32. Ghi-đê-ôn, con trai của Giô-ách, qua đời trong tuổi già nua. Người ta chôn ông tại phần mộ của Giô-ách là cha của ông, ở Óp-ra, thuộc địa phận của dòng họ A-bi-ê-xe.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. Ngay sau khi Ghi-đê-ôn qua đời, dân Y-sơ-ra-ên trở lại phạm tội tà dâm với các thần Ba-anh và tôn Ba-anh Bê-rít làm thần của họ. 34. Dân Y-sơ-ra-ên không còn nhớ đến Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình, là Đấng đã giải cứu họ ra khỏi tay những kẻ thù của họ ở chung quanh. 35. Họ cũng không bày tỏ lòng biết ơn đối với nhà Giê-ru-ba-anh, là Ghi-đê-ôn, về tất cả những việc tốt đẹp mà ông đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Người Ép-ra-im bèn nói cùng Ghê-đê-ôn rằng: Vì sao ông đã đãi chúng tôi như vậy? Khi ông đi giao chiến cùng dân Ma-đi-an, sao không gọi chúng tôi đi với? Chúng cãi cùng người cách dữ dội. 2.  Nhưng người đáp cùng chúng rằng: Sánh với anh em, tôi há có làm được điều chi? Sự mót nho của Ép-ra-im há chẳng hơn mùa gặt nho của A-bi-ê-xe sao? 3.  Đức Chúa Trời đã phó Ô-rép và Xê-ép là hai quan trưởng dân Ma-đi-an, vào tay anh em. Đem sánh với anh em, tôi nào có làm được điều gì? Khi người nói lời ấy rồi, cơn giận của chúng bèn nguôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Ghê-đê-ôn đi tới sông Giô-đanh, sang qua cùng ba trăm người đồng theo mình; dẫu mệt nhọc, họ cũng cứ rượt theo quân nghịch. 5.  Người bèn nói cùng dân Su-cốt rằng: Ta xin các ngươi hãy cấp một vài ổ bánh cho dân theo ta, vì chúng mệt nhọc; ta đang đuổi theo Xê-bách và Xanh-mu-na, hai vua Ma-đi-an. 6.  Nhưng các quan trưởng Su-cốt đáp rằng: Chớ thì ông đã cầm nơi tay mình cườm tay của Xê-bách và Xanh-mu-na chưa, nên chúng tôi phải cấp bánh cho đạo binh ông? 7.  Ghê-đê-ôn la lên rằng: Thế thì, khi Đức Giê-hô-va đã phó Xê-bách và Xanh-mu-na vào tay ta, ta sẽ lấy chông đồng vắng và nhánh gai mà đánh thịt các ngươi! 8.  Từ đó, người đi lên đến Phê-nu-ên và cũng nói một cách ấy với dân Phê-nu-ên. Dân Phê-nu-ên đáp cùng người y như dân Su-cốt đã đáp. 9.  Vậy, người cũng nói với dân Phê-nu-ên rằng: Khi ta trở về bình an, ắt sẽ phá hủy cái tháp nầy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Xê-bách và Xanh-mu-na ở tại Cạt-cô với quân binh mình, số chừng mười lăm ngàn người, là kẻ còn sót lại trong đạo binh của các người phương Đông; vì một trăm hai mươi ngàn người có tài cầm gươm đã bị giết. 11.  Ghê-đê-ôn đi lên theo đường của những dân ở dưới trại, tại hướng đông Nô-bách và Giô-bê-ha, đánh bại đạo binh vẫn tưởng rằng mình bình an vô-sự. 12.  Khi Xê-bách và Xanh-mu-na chạy trốn, người đuổi theo bắt được hai vua Ma-đi-an, là Xê-bách và Xanh-mu-na, và đánh cả đạo binh vỡ chạy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13.  Đoạn, Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, ở trận trở về qua dốc Hê-re, 14.  bắt một đứa con trai trẻ ở Su-cốt, tra hỏi nó, rồi nó viết khai tên những quan trưởng và trưởng lão của Su-cốt, số được bảy mươi bảy người. 15.  Kế đó, người đến cùng dân Su-cốt, mà nói rằng: Nầy Xê-bách và Xanh-mu-na mà các ngươi đã mắng ta rằng: Chớ thì ông đã cầm cườm tay Xê-bách và Xanh-mu-na nơi tay mình chưa, nên chúng tôi phải cấp bánh cho dân mệt nhọc của ông? 16.  Vậy, người bắt các trưởng lão của thành, lấy chông gai nơi đồng vắng mà đánh phạt những người Su-cốt; 17.  cũng phá hủy tháp Phê-nu-ên và giết những người của thành ấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Đoạn, người nói cùng Xê-bách và Xanh-mu-na rằng: Các người kia mà hai ngươi đã giết tại Tha-bô là làm sao? Hai vua đáp: Chúng nó cũng như ngươi; mỗi người đều có hình vóc như một hoàng tử. 19.  Người tiếp: Ấy là anh em ta, con của mẹ ta. Quả thật, ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, nếu hai ngươi đã để anh em ta sống, thì nay ta không giết hai ngươi! 20.  Đoạn, Ghê-đê-ôn nói cùng Giê-the, con đầu lòng mình, mà rằng: Hãy chổi dậy, giết họ đi. Nhưng người trẻ chẳng rút gươm ra vì sợ: người vẫn còn thiếu niên. 21.  Xê-bách và Xanh-mu-na nói: Chính ngươi hãy chổi dậy và đánh chúng ta đi; vì hễ người thể nào thì sức thể ấy. Ghê-đê-ôn bèn chổi dậy, giết Xê-bách và Xanh-mu-na; đoạn lấy đồ trang sức hình như trăng lưỡi liềm ở nơi cổ lạc đà của hai vua. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  Bấy giờ, những người Y-sơ-ra-ên nói cùng Ghê-đê-ôn rằng: Xin ông, con trai, và cháu ông hãy quản trị chúng tôi, vì ông đã giải cứu chúng tôi khỏi tay dân Ma-đi-an. 23.  Nhưng Ghê-đê-ôn đáp cùng chúng rằng: Ta chẳng quản trị các ngươi, con trai ta cũng không quản trị các ngươi đâu; Đức Giê-hô-va sẽ quản trị các ngươi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24.  Đoạn, Ghê-đê-ôn nói cùng chúng rằng: Ta chỉ xin các ngươi một điều nầy, là mỗi người trong các ngươi phải giao cho ta những vòng mình đã đoạt lấy. (Vả, quân nghịch có những vòng vàng, vì chúng nó vốn là dân Ích-ma-ên). 25.  Chúng đáp: Chúng tôi sẵn lòng giao cho ông. Họ trải một áo tơi ra, rồi hết thảy đều ném vào đó những vòng của mình đã đoạt lấy. 26.  Những vòng vàng mà Ghê-đê-ôn đã xin, cân được một ngàn bảy trăm siếc-lơ vàng, không kể những đồ trang sức hình như trăng lưỡi liềm, hoa tai, và áo sắc điều của vua Ma-đi-an thường mặc, cùng những kiềng nơi cổ lạc đà. 27.  Ghê-đê-ôn lấy vật đó làm một cái ê-phót, để trong thành mình tại Óp-ra. Cả Y-sơ-ra-ên đều cúng thờ cái ê-phót đó; nó trở thành một cái bẫy cho Ghê-đê-ôn và cả nhà người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28.  Dân Ma-đi-an bị phục trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, chẳng cất đầu lên được nữa; nên trong đời Ghê-đê-ôn, xứ được hòa bình trọn bốn mươi năm. 29.  Giê-ru-ba-anh, con trai Giô-ách, trở về và ở trong nhà mình. 30.  Vả, Ghê-đê-ôn sanh được bảy mươi con trai, vì người có nhiều vợ. 31.  Vợ lẽ người ở tại Si-chem, cũng sanh cho người một con trai đặt tên là A-bi-mê-léc. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32.  Đoạn, Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, qua đời, tuổi tác đã cao, được chôn trong mả của Giô-ách, cha người, tại Óp-ra, là thành dân A-bi-ê-xê-rít. 33.  Sau khi Ghê-đê-ôn qua đời, dân Y-sơ-ra-ên trở lại hành dâm cùng các Ba-anh, và chọn Ba-anh-Bê-rít làm thần. 34.  Như vậy, dân Y-sơ-ra-ên không nhớ đến Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, là Đấng đã giải cứu họ khỏi tay các kẻ thù nghịch ở chung quanh; 35.  và cũng không có lòng thảo chút nào với nhà Giê-ru-ba-anh, là Ghê-đê-ôn, về các ơn mà người đã làm cho Y-sơ-ra-ên. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B07\V02B07C008.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Ghi-đê-ôn Chiến Thắng và Báo Thù'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Bấy giờ người Ép-ra-im bắt bẻ Ghi-đê-ôn rằng, “Tại sao ông đối xử với chúng tôi như vậy?  Tại sao khi đi đánh dân Mi-đi-an ông không cho gọi chúng tôi đi chung?”  Họ đả kích Ghi-đê-ôn nặng lời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Nhưng Ghi-đê-ôn đáp lời họ, “Những gì tôi làm có thể sánh được với anh em sao?  Há chẳng phải nho mót của Ép-ra-im còn hơn cả một mùa nho của A-bi-ê-xe sao?  3 Ðức Chúa Trời đã phó vào tay anh em hai thủ lãnh của dân Mi-đi-an là Ô-rép và Xê-ép, thì những gì tôi đã làm có thể sánh được với anh em sao?”  Khi nghe ông nói thế, cơn giận của họ bèn dịu xuống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Ghi-đê-ôn đến Sông Giô-đanh và qua sông.  Ông và ba trăm người đi với ông đều mệt đuối, nhưng họ vẫn cố sức truy đuổi quân thù.  5 Ghi-đê-ôn đến nói với dân Su-cốt rằng, “Xin quý vị cho những người theo tôi ít bánh, vì họ kiệt sức quá rồi, và tôi đang truy kích Xê-ba và Xanh-mun-na, các vua dân Mi-đi-an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Nhưng các lãnh tụ ở Su-cốt đáp, “Chắc gì ông sẽ cầm được tay của Xê-ba và Xanh-mun-na trong tay ông, mà chúng tôi phải lấy bánh cho binh lính của ông ăn?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Ghi-đê-ôn đáp, “Nếu vậy thì khi CHÚA đã phó Xê-ba và Xanh-mun-na vào tay tôi, tôi sẽ lấy gai trong đồng hoang và gai thạch nam mà đánh nát thịt các người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Từ đó ông tiến lên Pê-nu-ên, và cũng hỏi dân Pê-nu-ên như vậy, nhưng họ cũng đáp lại với ông giống như dân Su-cốt đã đáp.  9 Vì thế ông nói với dân Pê-nu-ên, “Khi tôi chiến thắng trở về, tôi sẽ phá tan cái tháp này.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Bấy giờ Xê-ba và Xanh-mun-na đang ở tại Cạc-cơ với khoảng mười lăm ngàn binh lính.  Ðó là quân số còn lại của đại quân các dân phương đông, vì một trăm hai mươi ngàn người cầm gươm đã ngã chết.  11 Ghi-đê-ôn đi lên theo ngả của dân du mục, về phía đông của Nô-ba và Gióp-bê-ha, và tấn công vào trại quân trong khi họ tưởng rằng đã bình an vô sự.  12 Xê-ba và Xanh-mun-na liền chạy trốn.  Ông đuổi theo họ và bắt được hai vua dân Mi-đi-an là Xê-ba và Xanh-mun-na, vì thế tàn quân rối loạn, mạnh ai nấy chạy cứu mạng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Ghi-đê-ôn con của Giô-ách từ chiến trường trở về, theo ngả Dốc Hê-rê.  14 Ông bắt được một cậu thiếu niên ở Su-cốt, và tra hỏi cậu ấy.  Cậu ấy liền kê khai cho Ghi-đê-ôn tên tất cả những người lãnh đạo và các trưởng lão của Thành Su-cốt, gồm bảy mươi bảy người.  15 Sau đó Ghi-đê-ôn đến với dân Su-cốt và nói, “Ðây là Xê-ba và Xanh-mun-na, những người mà các ông đã mỉa mai tôi rằng, ‘Chắc gì ông sẽ cầm được tay của Xê-ba và Xanh-mun-na trong tay, mà chúng tôi phải lấy bánh cho binh lính của ông ăn?’”  16 Nói xong ông ra lịnh bắt các trưởng lão trong thành lại, rồi lấy gai trong đồng hoang và gai thạch nam đánh phạt họ và dạy các lãnh tụ ở Su-cốt một bài học.  17 Ông cũng phá hủy tháp Pê-nu-ên và giết các lãnh tụ của thành ấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Kế đó Ghi-đê-ôn hỏi Xê-ba và Xanh-mun-na, “Những người các ngươi giết ở Ta-bô như thế nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Họ đáp, “Họ cũng giống như ông; người nào cũng trông như một vương tử.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Ông đáp, “Họ là anh em ta, các con trai của mẹ ta.  Có CHÚA Hằng Sống chứng giám, nếu các ngươi đã để cho họ sống, thì ta sẽ không giết các ngươi.”  20 Rồi ông bảo Giê-the con đầu lòng của ông, “Con hãy lại giết họ đi.”  Nhưng cậu ấy không dám rút gươm ra, vì cậu ấy nhát, bởi cậu còn trẻ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Xê-ba và Xanh-mun-na bèn nói, “Chính ông hãy đứng dậy và giết chúng tôi, vì người sao thì sức vậy.”  Vậy Ghi-đê-ôn đứng dậy và giết Xê-ba và Xanh-mun-na; rồi ông lấy những vật hình lưỡi liềm đeo nơi cổ các lạc đà của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ghi-đê-ôn Ðúc Ê-phót'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Bấy giờ dân I-sơ-ra-ên nói với Ghi-đê-ôn, “Xin ông lãnh đạo chúng tôi –ông, con trai ông, và cháu ông– vì ông đã giải thoát chúng tôi khỏi tay dân Mi-đi-an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Ghi-đê-ôn đáp với họ, “Tôi sẽ không lãnh đạo anh em, con trai tôi cũng sẽ không lãnh đạo anh em.  CHÚA sẽ lãnh đạo anh em.”  24 Rồi Ghi-đê-ôn nói tiếp, “Tôi có một lời yêu cầu anh em.  Xin mỗi người cho tôi một vòng đeo tai mà anh em đã lấy làm chiến lợi phẩm.”  Số là quân giặc đều đeo khoen tai bằng vàng, bởi họ là dòng dõi của Ích-ma-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25 Họ đáp, “Chúng tôi rất sẵn sàng trao cho ông.”  Vậy họ trải một áo choàng ra, rồi mỗi người ném vào một vòng đeo tai mà họ đã lấy làm chiến lợi phẩm.  26 Số vàng của các vòng đeo tai mà Ghi-đê-ôn xin cân được mười chín ký-lô rưỡi, không kể những đồ trang sức hình lưỡi liềm, những trân châu, những bộ vương phục màu tím của các vua Mi-đi-an, và những kiềng trang sức trên cổ lạc đà của họ.  27 Ghi-đê-ôn lấy những vàng đó đúc thành một ê-phót, rồi đặt nó trong thành của ông tại Óp-ra.  Toàn dân I-sơ-ra-ên phạm tội tà dâm với nó bằng cách thờ nó, và nó đã trở thành một cái bẫy cho Ghi-đê-ôn và gia đình ông.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Vậy dân Mi-đi-an bị khuất phục trước dân I-sơ-ra-ên, và chúng chẳng ngất đầu lên được nữa.  Trọn đời của Ghi-đê-ôn, xứ được bình yên trong bốn mươi năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ghi-đê-ôn Qua Ðời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29 Giê-ru-ba-anh con trai Giô-ách trở về sống trong nhà ông.  30 Ghi-đê-ôn có bảy mươi con trai; ấy là những con ruột của ông, vì ông có nhiều vợ.  31 Một tỳ thiếp của ông, quê ở Sê-chem, cũng sinh cho ông một con trai; ông đặt tên cho đứa con ấy là A-bi-mê-léc.  32 Rồi Ghi-đê-ôn con trai Giô-ách qua đời trong tuổi già nua.  Người ta chôn ông trong mộ của Giô-ách cha ông, tại Óp-ra, thuộc địa phận của dòng họ A-bi-ê-xe.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Vừa khi Ghi-đê-ôn qua đời, dân I-sơ-ra-ên liền sa ngã và phạm tội tà dâm với các Thần Ba-anh.  Họ tôn Ba-anh Bê-rít làm thần của họ.  34 Dân I-sơ-ra-ên chẳng nhớ rằng CHÚA là Thần của họ, Ðấng đã giải cứu họ khỏi tay quân thù tứ phía.  35 Họ cũng chẳng bày tỏ lòng trung thành với gia đình của Giê-ru-ba-anh, tức Ghi-đê-ôn, để đền đáp những điều tốt đẹp mà ông ấy đã làm cho I-sơ-ra-ên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Giô-suê]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 7]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 9]]&lt;br /&gt;
:* [[Ru-tơ]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_6&amp;diff=35780</id>
		<title>Các Quan Xét: Chương 6</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_6&amp;diff=35780"/>
		<updated>2026-07-16T04:14:05Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va phó họ vào tay của dân Ma-đi-an trong bảy năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Tay của dân Ma-đi-an đã thắng hơn dân Y-sơ-ra-ên. Vì cớ dân Ma-đi-an cho nên người Y-sơ-ra-ên phải làm cho mình những cái hang ở trong núi, trong các hang động, hay trong những nơi kiên cố. 3. Mỗi khi dân Y-sơ-ra-ên gieo giống thì dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và dân phương Đông kéo đến. Chúng kéo đến để tấn công họ. 4. Chúng đóng quân để chống lại họ và hủy hoại mùa màng trong xứ cho đến tận Ga-xa, không chừa lại một thứ gì trong Y-sơ-ra-ên, kể cả chiên, bò, và lừa. 5. Bởi vì chúng và những đàn súc vật của chúng đã kéo đến rồi đóng trại. Chúng kéo đến nhiều như cào cào. Bọn chúng và lạc đà nhiều vô số, không thể đếm hết được. Chúng chiếm lấy xứ rồi phá hoại. 6. Vì cớ dân Ma-đi-an mà dân Y-sơ-ra-ên bị nghèo đói, cho nên họ đã kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Và rồi, khi dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va về việc dân Ma-đi-an, 8. Đức Giê-hô-va đã sai một tiên tri đến nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Ta đã đem các ngươi ra khỏi Ai Cập, đã rút các ngươi ra khỏi nhà nô lệ. 9. Ta đã giải thoát các ngươi khỏi tay của người Ai Cập, và khỏi tay của những kẻ áp bức các ngươi. Ta đã đuổi cư dân khỏi trước mặt các ngươi và ban cho các ngươi xứ của chúng.  10. Ta đã phán cùng các ngươi: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. Các ngươi đừng thờ phượng những thần của dân A-mô-rít tại trong xứ mà các ngươi đang cư ngụ. Nhưng các ngươi đã không vâng theo tiếng của Ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đến ngồi dưới cây sồi tại Óp-ra, thuộc về Giô-ách, dòng họ A-bi-ê-xe. Con trai của ông là Ghi-đê-ôn đang đập lúa mì nơi bàn ép rượu, để giấu dân Mi-đi-an. 12. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra với ông, rồi nói với: “Hỡi người chiến sĩ dũng cảm! Đức Giê-hô-va ở với ngươi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Ghi-đê-ôn nói với người: “Ôi Chúa của tôi! Nếu Đức Giê-hô-va ở cùng chúng tôi, tại sao tất cả những việc nầy xảy đến cho chúng tôi? Tất cả những phép lạ đâu rồi?  Tổ phụ của chúng tôi thuật lại rằng Đức Giê-hô-va đã đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập, nhưng bây giờ Đức Giê-hô-va đã từ bỏ chúng tôi và phó chúng tôi vào tay của dân Ma-đi-an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Đức Giê-hô-va quay lại rồi phán với ông: “Hãy đi! Hãy dùng sức mà ngươi đang có để giải thoát Y-sơ-ra-ên ra khỏi tay của dân Ma-đi-an. Không phải Ta đang sai ngươi đó hay sao?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Nhưng ông nói với Ngài: “Ôi Chúa của tôi! Làm sao tôi có thể giải cứu Y-sơ-ra-ên được? Nầy, gia tộc của tôi là nhỏ nhất trong chi tộc Ma-na-se, và tôi là người nhỏ nhất trong gia đình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Đức Giê-hô-va phán với ông: “Thật vậy, Ta sẽ ở với ngươi, và ngươi sẽ đánh bại dân Mi-đi-an như đánh một người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Ghi-đê-ôn nói với Ngài: “Nếu tôi được ơn trước mặt Ngài, xin Ngài hãy tỏ cho tôi một dấu hiệu để chứng tỏ rằng chính Ngài đã phán cùng tôi. 18. Xin Ngài đừng rời khỏi đây cho đến khi tôi trở lại, mang theo tế lễ, để dâng cho Ngài.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài phán: “Ta sẽ chờ ở đây cho đến khi ngươi trở lại.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Ghi-đê-ôn đã đi vào, bắt một con dê con làm thịt, rồi lấy một ê-pha bột làm bánh không men. Ông để thịt trong rổ và đổ nước thịt vào nồi, rồi đem những vật đó đến dâng cho Ngài ở dưới cây sồi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Thiên sứ của Đức Chúa Trời truyền cho ông: “Hãy lấy thịt và bánh không men đặt trên tảng đá nầy, rồi đổ nước thịt ra.” Ông đã làm như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đưa đầu gậy đang cầm trong tay của Ngài chạm vào thịt và bánh không men. Lửa bốc lên từ tảng đá thiêu đốt thịt và bánh không men. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va biến mất trước mắt ông. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Ghi-đê-ôn nhận biết đó là Thiên sứ của Đức Giê-hô-va, ông thưa với Ngài: “Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời! Khốn nạn cho con, bởi vì con đã thấy Thiên sứ của Đức Giê-hô-va mặt đối mặt!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Nhưng Đức Giê-hô-va phán với ông: “Hãy an tâm. Ðừng sợ! Ngươi sẽ không chết.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Ghi-đê-ôn đã lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va tại đó, rồi đặt tên là Giê-hô-va Sa-lôm. Bàn thờ đó vẫn còn ở Óp-ra, thuộc về gia tộc A-bi-ê-xe, cho đến ngày nay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25. Và rồi, đêm hôm đó Đức Giê-hô-va phán cùng ông: “Hãy bắt con bò đực của cha ngươi, và một con bò đực thứ nhì bảy tuổi, hãy kéo sập bàn thờ Ba-anh của cha ngươi xuống, và cũng chặt bỏ cây trụ A-sê-ra ở bên cạnh nó. 26. Sau đó, hãy xây một bàn thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi trên đỉnh của vầng đá nầy, rồi sắp đặt cho phù hợp. Hãy bắt con bò đực thứ nhì để làm tế lễ thiêu, rồi lấy gỗ của cây trụ A-sê-ra để làm củi đốt.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Ghi-đê-ôn đã chọn mười người trong các đầy tớ của mình để thực hiện theo điều Đức Giê-hô-va đã truyền cho ông. Bởi vì ông sợ những người trong gia đình và những người trong thành, cho nên ông không làm vào ban ngày nhưng làm vào ban đêm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Sáng hôm sau, khi dân thành thức dậy, họ thấy bàn thờ của Ba-anh đã bị phá sập, hình tượng A-sê-ra bên cạnh bị triệt hạ, và con bò đực thứ nhì đã được dâng làm tế lễ thiêu trên bàn thờ đã được xây dựng. 29. Họ hỏi lẫn nhau: “Ai đã làm việc nầy?” Sau khi dò hỏi và tìm hiểu, họ biết rằng chính Ghi-đê-ôn, con trai của Giô-ách, đã làm điều đó. 30. Dân trong thành nói với Giô-ách: “Hãy đem con trai của ông ra đây. Nó phải chết vì nó đã phá đổ bàn thờ của Ba-anh và triệt hạ hình tượng A-sê-ra bên cạnh đó.” 31. Nhưng Giô-ách trả lời những người đương đầu với ông: “Các ngươi muốn đấu tranh cho Ba-anh hay sao? Nếu các ngươi muốn tiếp cứu nó, thì ai đấu tranh cho Ba-anh sẽ bị xử tử trước sáng mai. Nếu thật hắn là thần thì chính hắn phải đấu tranh, bởi vì người ta đã phá đổ bàn thờ của hắn!” 32. Vì vậy, trong ngày đó người ta gọi Ghi-đê-ôn là Giê-ru-ba-anh, họ nói rằng: “Hãy để Ba-anh đấu tranh với ông ấy, vì ông ấy đã phá sập bàn thờ của hắn.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. Tất cả dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và các dân tộc ở phương đông hiệp lại với nhau. Chúng vượt qua sông Giô-đanh và đóng trại tại thung lũng Gít-rê-ên. 34. Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên Ghi-đê-ôn. Ông thổi kèn triệu tập những người A-bi-ê-xê-rít đi theo ông. 35. Ông đã sai các sứ giả đi khắp Ma-na-se để triệu tập họ. Ông cũng sai các sứ giả theo mình đến với người A-se, Sa-bu-lôn, Nép-ta-li, và họ cũng đi lên hiệp với ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36. Ghi-đê-ôn thưa với Đức Chúa Trời: “Nếu Ngài giải cứu Y-sơ-ra-ên bằng tay của con như lời Ngài đã phán, 37. nầy, con sẽ để một mớ lông chiên trong sân đập lúa. Nếu sương chỉ đọng trên lông chiên, nhưng tất cả đất lại khô ráo, thì con sẽ nhận biết rằng Ngài sẽ giải cứu Y-sơ-ra-ên bằng tay của con như Ngài đã phán.” 38. Việc xảy ra đúng như vậy. Sáng hôm sau, ông dậy sớm, vắt lông chiên. Sương từ lông chiên chảy ra, hứng đầy một chén.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39. Ghi-đê-ôn thưa với Đức Chúa Trời rằng: “Xin Ngài đừng nổi giận với con. Con chỉ xin thưa một lần nữa. Xin Ngài hãy cho con thử bằng lông chiên một lần nữa. Lần nầy, xin cho lông chiên được khô, còn cả đất thì đẫm sương.” 40. Ðêm đó, Ðức Chúa Trời đã làm y như vậy. Chỉ có lông chiên là khô, còn cả đất đều đẫm sương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay dân Ma-đi-an trong bảy năm. 2.  Tay của người Ma-đi-an thắng hơn Y-sơ-ra-ên. Vì sợ người Ma-đi-an, nên dân Y-sơ-ra-ên làm cho mình những nơi ẩn náu trong núi, trong các hầm và đồn. 3.  Khi Y-sơ-ra-ên đã gieo giống, dân Ma-đi-an với dân A-mê-léc, và người phương Đông đi lên đánh Y-sơ-ra-ên, 4.  đóng trại đối ngang người, phá hại mùa màng của xứ cho đến Ga-xa, và không để lại trong Y-sơ-ra-ên lương thực gì, hoặc chiên, bò hay là lừa. 5.  Vì chúng nó đi lên đem theo bầy súc vật và trại mình, loán đến khác nào một đám cào cào. Người và lạc đà vô số đến trong xứ đặng phá hại. 6.  Vậy, vì cớ dân Ma-đi-an, Y-sơ-ra-ên bị nghèo khổ bẩn chật, nên họ kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Bấy giờ, vì dân Y-sơ-ra-ên đã kêu cầu Đức Giê-hô-va về việc dân Ma-đi-an, 8.  nên Đức Giê-hô-va sai một đấng tiên tri đến cùng dân Y-sơ-ra-ên. Người nói cùng chúng rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Ta đã đem các ngươi lên khỏi xứ Ê-díp-tô, rút các ngươi khỏi nhà nô lệ, 9.  giải cứu các ngươi khỏi tay người Ê-díp-tô, và khỏi tay hết thảy kẻ hà hiếp các ngươi, và đuổi chúng nó khỏi trước mặt các ngươi; ta đã ban cho các ngươi xứ của chúng nó, 10.  và có phán rằng: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, chớ sợ các thần của dân A-mô-rít tại trong xứ mà các ngươi ở. Nhưng các ngươi nào có nghe tiếng ta! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Đoạn, thiên sứ của Đức Giê-hô-va đến ngồi dưới cây thông Óp-ra thuộc về Giô-ách, người A-bi-ê-xê-rít. Ghê-đê-ôn, con trai người, đang đập lúa mạch trong bàn ép, đặng giấu khỏi dân Ma-đi-an. 12.  Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện đến cùng người mà rằng: Hỡi người dõng sĩ! Đức Giê-hô-va ở cùng ngươi. 13.  Ghê-đê-ôn thưa rằng: Ôi! Chúa, nếu Đức Giê-hô-va ở cùng chúng tôi, sao các điều nầy xảy đến cho chúng tôi? Các phép lạ kia ở đâu mà tổ phụ chúng tôi đã thuật lại rằng: Đức Giê-hô-va há chẳng có đem chúng ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô sao? Vì bây giờ Đức Giê-hô-va từ bỏ chúng tôi, và phó chúng tôi vào tay dân Ma-đi-an. 14.  Đức Giê-hô-va xây lại cùng người mà phán rằng: Hãy dùng sức của ngươi vẫn có mà đi giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay dân Ma-đi-an. Ta há chẳng sai ngươi đi sao? 15.  Người thưa rằng: Than ôi! hỡi Chúa, tôi sẽ lấy chi giải cứu Y-sơ-ra-ên? Kìa, trong chi phái Ma-na-se, họ tôi vốn nghèo hơn hết; còn tôi là nhỏ hơn hết trong nhà cha tôi. 16.  Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta sẽ ở cùng ngươi, và ngươi sẽ đánh bại dân Ma-đi-an như đánh một người vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Ghê-đê-ôn thưa lại rằng: Nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin ban cho tôi một dấu rằng chính Chúa phán cùng tôi. 18.  Xin chớ dan khỏi đây cho đến khi tôi trở lại cùng Ngài, đem của lễ tôi, để trước mặt Ngài. Ngài đáp: Ta sẽ ở đây cho đến khi ngươi trở lại. 19.  Ghê-đê-ôn bèn đi vô, dọn sẵn một con dê con, lấy một ê-pha bột làm những bánh nhỏ không men. Người để thịt trong rổ, đổ nước thịt vào nồi, rồi đem ra dâng các món ấy cho Ngài ở dưới cây thông. 20.  Thiên sứ của Đức Chúa Trời phán rằng: Hãy lấy thịt và bánh nhỏ không men, để trên hòn đá nầy, rồi đổ nước thịt ra. Ghê-đê-ôn bèn làm như vậy. 21.  Bấy giờ, thiên sứ của Đức Giê-hô-va giơ đầu gậy Ngài đang cầm nơi tay mình ra, đụng đến thịt và bánh nhỏ không men. Lửa từ hòn đá bốc lên, thiêu hóa thịt và bánh nhỏ không men; đoạn, thiên sứ của Đức Giê-hô-va biến đi khỏi mắt người. 22.  Ghê-đê-ôn thấy rằng ấy là thiên sứ của Đức Giê-hô-va, bèn la rằng: Ôi, Chúa Giê-hô-va! khốn nạn cho tôi, vì tôi thấy đối diện thiên sứ của Đức Giê-hô-va! 23.  Nhưng Đức Giê-hô-va phán cùng người rằng: Khá yên lòng, chớ sợ chi, ngươi sẽ không chết đâu. 24.  Ghê-đê-ôn bèn lập tại đó một cái bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, và đặt tên là Giê-hô-va-Sa-lam. Tại Óp-ra, thành của người A-bi-ê-xê-rít, cái bàn thờ ấy vẫn còn đến ngày nay. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25.  Trong cũng một đêm ấy, Đức Giê-hô-va phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Hãy bắt con bò đực tơ của cha ngươi, và một con bò đực thứ nhì bảy tuổi, rồi phá dỡ bàn thờ thần Ba-anh tại nhà cha ngươi, và đánh hạ hình tượng A-sê-ra ở trên đó. 26.  Đoạn, tại nơi chót hòn đá nầy, ngươi sẽ lập một bàn thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và sắp đặt mọi việc; rồi hãy bắt con bò đực thứ nhì, dâng làm của lễ thiêu với gỗ hình tượng A-sê-ra mà ngươi đã đánh hạ. 27.  Ghê-đê-ôn chọn lấy mười người trong bọn đầy tớ mình, và làm theo điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn; và vì người sợ nhà cha mình cùng kẻ trong thành, nên không dám làm theo lịnh ấy ban ngày, bèn làm ban đêm. 28.  Sớm mai, khi dân trong thành thức dậy, thấy bàn thờ của thần Ba-anh đã bị phá dỡ, hình tượng A-sê-ra ở trên bị đánh hạ, và con bò đực thứ nhì đã dâng làm của lễ thiêu trên bàn thờ mới lập đó. 29.  Chúng hỏi nhau rằng: Ai làm điều đó? Đoạn, hỏi thăm và tra xét. Có người nói cùng chúng nó rằng: Ấy là Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, đã làm điều đó. 30.  Dân trong thành bèn nói cùng Giô-ách rằng: Hãy biểu con ngươi ra, nó phải chết, vì nó đã phá dỡ bàn thờ thần Ba-anh, và đánh hạ hình tượng A-sê-ra ở trên. 31.  Giô-ách đáp với những kẻ dấy nghịch cùng mình rằng: Các ngươi há có ý binh vực Ba-anh sao? Há có phải các ngươi muốn tiếp cứu nó ư? Ai theo phe của Ba-anh sẽ bị xử tử kể từ sáng ngày nay. Nếu hắn là chúa, thì chính hắn hãy tranh luận lấy chớ, bởi vì người ta đã phá dỡ bàn thờ của hắn. 32.  Vậy, trong ngày đó người ta gọi Ghê-đê-ôn là Giê-ru-ba-anh mà rằng: Ba-anh phải tranh luận cùng người, vì Ghê-đê-ôn có phá dỡ bàn thờ của hắn! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33.  Hết thảy dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và người phương Đông đều hiệp lại, đi ngang qua sông Giô-đanh, và đóng trại tại trũng Gít-rê-ên. 34.  Thần của Đức Giê-hô-va cảm hóa Ghê-đê-ôn; người thổi kèn, các người A-bi-ê-xê-rít bèn hiệp lại đặng theo người. 35.  Người cũng sai sứ giả đi khắp Ma-na-se; người Ma-na-se bèn nhóm hiệp đặng theo người. Đoạn, người sai sứ giả đến chi phái A-se, Sa-bu-lôn và Nép-ta-li; họ cũng đi lên mà hiệp với người nữa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36.  Ghê-đê-ôn thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Nếu Chúa muốn dùng tay tôi giải cứu Y-sơ-ra-ên, y như lời Chúa đã phán, 37.  thì tôi sẽ để một lốt chiên trong sân đạp lúa; nếu sương chỉ đóng trên lốt chiên, còn đất lại khô ráo, thì tôi sẽ nhận biết Chúa dùng tay tôi giải cứu Y-sơ-ra-ên, y như Chúa đã hứa vậy. 38.  Việc bèn xảy ra như vậy: ngày mai Ghê-đê-ôn dậy sớm, ép vắt lốt chiên, thì sương chảy ra đầy một chén nước. 39.  Ghê-đê-ôn lại thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Xin cơn thạnh nộ Chúa chớ nổi phừng cùng tôi, tôi chỉ sẽ nói lần nầy thôi. Xin Chúa để tôi làm thử với lốt chiên chỉ một lần nầy mà thôi: Xin cho một mình lốt chiên phải khô, còn sương lại đóng khắp trên đất. 40.  Trong đêm đó, Đức Chúa Trời bèn làm như vậy; chỉ một mình lốt chiên thì khô, còn khắp trên đất lại bị sương phủ. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B07\V02B07C006.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Dân I-sơ-ra-ên Bị Dân Mi-đi-an Ðàn Áp'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Dân I-sơ-ra-ên làm điều tội lỗi trước mặt CHÚA, nên Ngài phó họ vào tay dân Mi-đi-an bảy năm.  2 Tay của dân Mi-đi-an thắng hơn dân I-sơ-ra-ên.  Vì sự đàn áp của dân Mi-đi-an, dân I-sơ-ra-ên phải sống trốn tránh trong các rừng núi, hang hóc, hoặc trong các thành trì kiên cố.  3 Mỗi khi dân I-sơ-ra-ên đi ra gieo giống, dân Mi-đi-an, dân A-ma-léc, và các dân phương đông kéo đến đánh họ.  4 Chúng hạ trại dàn quân đánh họ.  Chúng phá hủy các hoa màu trong xứ cho đến tận vùng Ga-xa, không chừa lại một thứ gì trong đất I-sơ-ra-ên, kể cả chiên, bò, và lừa.  5 Chúng và những đàn súc vật của chúng kéo đến và dựng trại đông như cào cào.  Người ta và lạc đà nhiều vô số, không thể đếm hết.  Chúng chiếm lấy xứ và phá hủy tất cả.  6 Vì cớ dân Mi-đi-an, dân I-sơ-ra-ên đã bị đói khổ rất thê thảm, do đó người I-sơ-ra-ên đã kêu cầu CHÚA xin cứu giúp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Sau khi dân I-sơ-ra-ên đã kêu cầu CHÚA vì cớ dân Mi-đi-an, 8 CHÚA sai một vị tiên tri đến với dân I-sơ-ra-ên và nói với họ, “CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này: Ta đã đem các ngươi lên khỏi xứ Ai-cập, tức đem các ngươi ra khỏi nhà nô lệ.  9 Ta đã giải thoát các ngươi ra khỏi tay người Ai-cập, và khỏi tay mọi kẻ áp bức các ngươi.  Ta đã đuổi chúng đi khỏi mặt các ngươi và ban cho các ngươi xứ của chúng.  10 Ta đã phán với các ngươi, ‘Ta là CHÚA, Ðức Chúa Trời của các ngươi; các ngươi chớ thờ các thần của dân A-mô-ri trong xứ các ngươi đang sống.’  Nhưng các ngươi không vâng lời Ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''CHÚA Kêu Gọi Ghi-đê-ôn'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Bấy giờ Thiên Sứ của CHÚA đến ngồi dưới cây sồi của Óp-ra, trong đất của Giô-ách, thuộc dòng họ A-bi-ê-xe.  Ghi-đê-ôn con trai Giô-ách đang đập lúa nơi bàn ép rượu, để tránh khỏi dân Mi-đi-an.  12 Thiên Sứ của CHÚA hiện ra với ông và phán, “Này, CHÚA ở với ngươi, hỡi người chiến sĩ anh dũng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Ghi-đê-ôn đáp, “Thưa Ngài, nếu CHÚA ở với chúng con, tại sao chúng con phải ra nông nỗi này?  Nào những việc lạ lùng mà các tổ tiên chúng con thường kể lại cho chúng con nghe đâu rồi?  Họ bảo rằng, ‘CHÚA chẳng đã đem các người lên khỏi đất Ai-cập hay sao?’  Nhưng bây giờ CHÚA đã bỏ chúng con và phó chúng con vào tay dân Mi-đi-an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 CHÚA quay qua ông và phán với ông, “Hãy đi, dùng sức ngươi sẵn có mà giải thoát dân I-sơ-ra-ên khỏi tay dân Mi-đi-an.  Há chẳng phải Ta sai ngươi đó sao?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Ông đáp, “Nhưng thưa Ngài, làm sao con có thể giải thoát dân I-sơ-ra-ên được?  Gia tộc con là gia tộc yếu kém nhất trong chi tộc Ma-na-se; còn con là kẻ nhỏ nhất trong gia đình của cha con.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 CHÚA phán với ông, “Ta sẽ ở với ngươi, và ngươi sẽ đánh bại dân Mi-đi-an như đánh một người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Ghi-đê-ôn nói, “Nếu con được ơn trước mặt Ngài, xin Ngài cho con một dấu lạ, để chứng tỏ rằng chính Ngài đã phán với con.  18 Xin Ngài đừng rời khỏi đây cho đến khi con trở lại, mang theo của tế lễ, và dâng lên trước mặt Ngài.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài phán, “Ta sẽ chờ ở đây cho đến khi ngươi trở lại.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Ghi-đê-ôn vội vàng trở về nhà, bắt một con dê con làm thịt, lấy mười ký bột làm bánh không men.  Ông lấy thịt để vào một cái giỏ và để cháo trong nồi, rồi đem tất cả các món ấy đến dưới cây sồi mà dâng lên Ngài.  20 Thiên Sứ của Đức Chúa Trời phán, “Hãy lấy thịt và bánh không men để trên tảng đá này, rồi đổ cháo lên.”  Ghi-đê-ôn làm y như vậy.  21 Thiên Sứ của CHÚA đưa tay ra, dùng đầu gậy cầm nơi tay đụng vào thịt và bánh không men; lửa từ tảng đá bùng lên thiêu đốt thịt và bánh không men, đồng thời Thiên Sứ của CHÚA cũng biến mất. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Ghi-đê-ôn liền nhận biết ấy là Thiên Sứ của CHÚA, ông nói, “Ôi lạy CHÚA Hằng Hữu!  Con chắc phải chết rồi, vì con đã gặp Thiên Sứ của CHÚA mặt đối mặt.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Nhưng CHÚA phán với ông, “Hãy an tâm.  Ðừng sợ.  Ngươi sẽ không chết đâu.”  24 Ghi-đê-ôn liền xây một bàn thờ cho CHÚA tại đó và đặt tên là CHÚA Bình An.  Bàn thờ ấy vẫn còn ở Óp-ra, trong đất của dòng họ A-bi-ê-xe, cho đến ngày nay. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ghi-đê-ôn Phá Ðổ Bàn Thờ Ba-anh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25 Ðêm đó CHÚA phán với ông, “Hãy bắt con bò đực của cha ngươi, và một con bò đực thứ nhì bảy tuổi, rồi cho kéo đổ bàn thờ Thần Ba-anh của cha ngươi xuống.  Ngươi cũng hãy đốn cây trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra ở bên cạnh nó ngã xuống.  26 Sau đó hãy xây một bàn thờ cho CHÚA, Ðức Chúa Trời của ngươi, trên vầng đá này, theo như cách thức đã ấn định xưa nay; rồi hãy bắt con bò đực thứ nhì làm của lễ thiêu, và lấy gỗ của cây trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra làm củi để thiêu.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Vậy Ghi-đê-ôn chọn mười đầy tớ để giúp ông làm y như lời CHÚA đã phán bảo.  Vì ông sợ những người khác trong gia đình và dân thành trông thấy, nên thay vì làm ban ngày, ông đã thực hiện việc đó ban đêm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Sáng hôm sau khi dân thành thức dậy, họ thấy bàn thờ của Thần Ba-anh đã đổ xuống, trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra đã bị đốn mất, con bò thứ nhì đã được dâng trên bàn thờ vừa mới được xây.  29 Họ bèn hỏi nhau, “Ai đã làm việc này?”  Sau khi điều tra và dọ hỏi, họ được báo, “Ấy là Ghi-đê-ôn con trai của Giô-ách; ông ấy đã làm điều đó.”  30 Dân thành kéo đến nói với Giô-ách, “Hãy đem con ông ra đây, để nó phải chết, vì nó đã dám phá dỡ bàn thờ của Thần Ba-anh và đốn ngã trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra ở bên cạnh.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 Nhưng Giô-ách trả lời những người đương đầu với ông, “Có phải các người đến để binh vực cho Ba-anh không?  Các người muốn binh vực nó phải không?  Ai muốn binh vực nó sẽ bị toi mạng sáng nay.  Vì nếu nó quả thật là thần, hãy để nó tự bảo vệ cho mình, vì bàn thờ của nó đã bị phá đổ kia mà.”  32 Vì thế ngày hôm đó người ta gọi Ghi-đê-ôn là Giê-ru-ba-anh, vì họ nói rằng, “Thôi để cho Ba-anh đối phó với ông ấy,” vì ông ấy đã phá đổ bàn thờ của hắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ghi-đê-ôn Mộ Binh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Bấy giờ toàn dân Mi-đi-an, dân A-ma-léc, và các dân ở phương đông hiệp lại với nhau.  Chúng vượt qua Sông Giô-đanh và hạ trại ở Thung Lũng Giê-rê-ên.  34 Thần của CHÚA ngự trên Ghi-đê-ôn.  Ông thổi kèn triệu tập, và dòng họ A-bi-ê-xe đều nhóm lại theo ông.  35 Ông sai sứ giả đến khắp địa phận của Ma-na-se, và họ cùng nhau hiệp lại theo ông.  Ông sai các sứ giả đến địa phận của A-se, Xê-bu-lun, và Náp-ta-li.  Họ thảy đều đi lên và hiệp với ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Dấu Chỉ Trên Mớ Lông Chiên'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36 Bấy giờ Ghi-đê-ôn thưa với Ðức Chúa Trời, “Ðể con có thể biết chắc chắn rằng Ngài muốn dùng tay con giải thoát dân I-sơ-ra-ên như lời Ngài đã phán, 37 con xin để một mớ lông chiên trong sân đập lúa; nếu sương chỉ đọng trên mớ lông chiên, còn đất chung quanh đều khô ráo, thì con biết rằng Ngài sẽ dùng tay con để giải thoát dân I-sơ-ra-ên như lời Ngài đã phán.”  38 Việc ấy xảy ra y như vậy.  Sáng hôm sau ông dậy sớm, ra lấy mớ lông chiên mà vắt, nước sương từ trong mớ lông chiên chảy ra, hứng đầy một chén.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39 Ghi-đê-ôn lại thưa với Ðức Chúa Trời, “Xin Ngài đừng nổi giận với con.  Xin cho con thưa thêm một lần nữa.  Xin cho con thử lại với mớ lông chiên một lần nữa.  Lần này xin cho chỉ mớ lông chiên được khô, còn đất chung quanh sẽ bị phủ đầy sương.”  40 Ðêm đó Ðức Chúa Trời làm y như vậy.  Chỉ mớ lông chiên là khô, còn đất chung quanh đều đọng sương ướt đẫm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Giô-suê]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 5]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 7]]&lt;br /&gt;
:* [[Ru-tơ]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35779</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35779"/>
		<updated>2026-06-30T18:22:06Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. 12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải thừa nhận rằng huyền nhiệm về sự tôn kính Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, là rất lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thừa nhận rằng huyền nhiệm về sự tôn kính Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, là rất lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. 12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải thừa nhận rằng huyền nhiệm về sự tôn kính Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, là rất lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35778</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35778"/>
		<updated>2026-06-30T18:10:46Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. 12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải thừa nhận rằng huyền nhiệm về sự tôn kính Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, là rất lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thú nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. 12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=R%C3%B4-ma:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_8&amp;diff=35777</id>
		<title>Rô-ma: Chương 8</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=R%C3%B4-ma:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_8&amp;diff=35777"/>
		<updated>2026-06-26T07:01:11Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Như vậy, hiện nay không còn sự kết án cho những ai ở trong Ðức Chúa Jesus Christ, là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh. 2. Bởi vì luật của Thánh Linh là Ðấng ban sự sống trong Ðức Chúa Jesus Christ đã giải thoát anh em khỏi luật của tội lỗi và sự chết. 3. Bởi vì điều gì luật pháp bất lực, do xác thịt làm cho suy yếu, thì Ðức Chúa Trời đã làm rồi. Ngài đã sai chính Con Ngài đến trong thân xác giống như xác thịt tội lỗi, và vì cớ tội lỗi, đã đoán phạt tội lỗi trong thân xác đó, 4. để hoàn tất đòi hỏi của luật pháp trên chúng ta, là những người không đi theo xác thịt, nhưng đi theo Đức Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Thật vậy, những ai theo xác thịt, tâm trí hướng vào những việc thuộc về xác thịt, những ai theo Thánh Linh, thì hướng vào những việc thuộc về Thánh Linh. 6. Như vậy, hướng tâm trí vào xác thịt đưa đến sự chết, nhưng hướng tâm trí vào Thánh Linh dẫn đến sự sống và bình an, 7. bởi vì tâm trí hướng về xác thịt là thù nghịch với Đức Chúa Trời - do không chịu, và cũng không thể, thuận phục luật pháp của Đức Chúa Trời. 8. Những người sống theo xác thịt không thể làm đẹp lòng Ðức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Tuy nhiên, nếu thật sự Thánh Linh của Ðức Chúa Trời đang ở trong anh em, anh em không sống theo xác thịt nhưng theo Thánh Linh. Nếu ai không có Thánh Linh của Ðấng Christ, người ấy không thuộc về Ngài. 10. Tuy nhiên, nếu Ðấng Christ đang ở trong anh em, dù thân thể của anh em chết theo tội lỗi, tâm linh của anh em sống theo sự công chính. 11. Nếu Thánh Linh của Ðấng đã làm cho Ðức Chúa Jesus sống lại từ cõi chết ở trong anh em, thì Ðấng đã làm cho Ðấng Christ sống lại từ cõi chết, cũng sẽ ban sự sống cho thân thể khả tử của anh em qua Thánh Linh của Ngài, là Ðấng đang ngự trong anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Anh em ơi! Như vậy chúng ta không còn mắc nợ xác thịt để sống theo xác thịt nữa. 13. Do đó nếu anh em cứ sống theo xác thịt, anh em chắc chắn sẽ chết; nhưng nếu anh em nhờ Thánh Linh làm chết những hành vi của thân xác, anh em sẽ sống. 14. Bởi vì những ai được Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dẫn dắt đều là con của Ðức Chúa Trời. 15. Do đó anh em không còn nhận tâm linh của một kẻ nô lệ để phải sợ hãi nữa, nhưng anh em đã nhận lấy tâm linh của những người được nhận làm con nuôi của Đấng mà chúng ta gọi là “A-ba, Cha!” 16. Chính Thánh Linh làm chứng cho tâm linh của chúng ta rằng chúng ta là con của Ðức Chúa Trời. 17. Hơn thế nữa, con là những người thừa kế - những người thừa kế của Ðức Chúa Trời và những người đồng thừa kế với Ðấng Christ; nếu thật sự chúng ta chịu khổ với Ngài, chúng ta cũng sẽ cùng được vinh quang. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thật vậy, tôi cho rằng những đau khổ hiện tại không thể so sánh với vinh quang mà tương lai sẽ bày tỏ cho chúng ta. 19. Tạo vật đang chờ đợi và nôn nả trông chờ sự hiển lộ của các con Đức Chúa Trời. 20. Bởi vì tạo vật - không phải tự ý, nhưng bởi Ðấng bắt nó phục tùng - đã khuất phục sự hư không với niềm hy vọng 21. rằng chính tạo vật cũng sẽ được thoát khỏi ách nô lệ của sự hư hoại để được vào trong sự tự do vinh quang của các con của Ðức Chúa Trời. 22. Thật vậy, chúng ta biết tạo vật đang rên siết và đau đớn quằn quại cho đến bây giờ. 23. Không chỉ như thế, nhưng chính chúng ta, là những trái đầu mùa của Ðức Thánh Linh, chúng ta cũng có những quặn thắt của chính mình và trông chờ ngày được trọn quyền làm con, để nhận được sự cứu chuộc thân thể của mình. 24. Vì niềm hy vọng này mà chúng ta được cứu. Hy vọng đã được nhìn thấy thì không còn là hy vọng, bởi vì ai lại trông mong điều mình đang thấy bao giờ? 25. Nhưng nếu chúng ta hy vọng vào điều chúng ta chưa thấy, chúng ta sẽ kiên nhẫn chờ đợi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Cũng vậy, Thánh Linh cũng giúp trong sự yếu đuối của chúng ta, bởi vì chúng ta không biết phải cầu xin điều gì, nhưng chính Thánh Linh dùng những thở than, không thể diễn đạt bằng lời, mà cầu xin cho chúng ta. 27. Đấng dò xét lòng người biết ý tưởng của Thánh Linh, bởi vì Thánh Linh theo ý muốn Đức Chúa Trời mà cầu xin cho các thánh đồ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại đem ích lợi cho những người yêu mến Ðức Chúa Trời, tức là những người được kêu gọi theo mục đích của Ngài. 29. Bởi vì những người Ngài biết trước, Ngài cũng đã định trước để trở nên giống như hình ảnh của Con Ngài - là con đầu lòng ở giữa các em. 30. Những người Ngài đã định trước, Ngài cũng đã kêu gọi; những người Ngài đã kêu gọi, Ngài cũng đã xưng công chính; những người Ngài đã xưng công chính, Ngài cũng làm cho vinh hiển. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31. Như vậy chúng ta sẽ nói gì về những điều nầy? Nếu Ðức Chúa Trời ủng hộ chúng ta, ai có thể chống lại chúng ta?  32. Ngài đã không tiếc chính Con Ngài, nhưng vì tất cả chúng ta, Ngài đã ban Con ấy, lẽ nào Ngài sẽ không ban mọi sự cùng với Con ấy cho chúng ta sao? 33. Ai sẽ tố cáo những người được chọn của Ðức Chúa Trời trong khi Ðức Chúa Trời chính là Ðấng phân xử?  34. Ai sẽ kết án họ khi Ðức Chúa Jesus Christ, là Ðấng đã chết - đúng ra là Ðấng đã sống lại - là Ðấng đang ở bên phải Ðức Chúa Trời, và đang cầu xin cho chúng ta?  35. Ai có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hoặc gươm giáo chăng? 36. Như đã được chép rằng: “Vì cớ Ngài, chúng con đối diện với sự chết cả ngày; chúng con bị xem như chiên để làm thịt.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
37. Trái lại, trong mọi sự đó chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà đắc thắng. 38. Bởi vì tôi tin chắc rằng dù sự chết, sự sống, các thiên sứ, các bậc cầm quyền, việc hiện tại, việc tương lai, những quyền lực, 39. chiều cao, chiều sâu, hoặc một tạo vật nào cũng không thể phân rẽ chúng ta ra khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jesus, là Chúa của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sống Trong Ðức Thánh Linh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, hiện nay không còn sự kết án nào dành cho những người ở trong Ðức Chúa Jesus Christ, tức là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh; bởi vì luật của Thánh Linh – Ðấng ban sự sống trong Ðức Chúa Jesus Christ - đã giải thoát anh em khỏi luật của tội lỗi và sự chết. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì điều gì luật pháp bất lực - do xác thịt làm cho suy yếu - thì Ðức Chúa Trời đã làm rồi. Ngài đã sai chính Con Ngài đến trong thân xác giống như xác thịt tội lỗi, và để giải quyết tội lỗi, Ngài đã đoán phạt tội lỗi trong thân xác đó, nhằm hoàn tất đòi hỏi của luật pháp trên chúng ta, là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những người sống theo xác thịt không thể làm đẹp lòng Ðức Chúa Trời. Thật vậy! Những ai theo xác thịt, hướng tâm trí vào những việc thuộc về xác thịt; những ai theo Thánh Linh, thì hướng tâm trí vào những việc thuộc về Thánh Linh. Do đó, việc hướng tâm trí vào xác thịt đưa đến sự chết, nhưng hướng tâm trí vào Thánh Linh dẫn đến sự sống và bình an; bởi vì tâm trí hướng về xác thịt là thù nghịch với Đức Chúa Trời - do không chịu, và cũng không thể thuận phục luật pháp của Đức Chúa Trời.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên, nếu thật sự Thánh Linh của Ðức Chúa Trời đang ở trong anh em, anh em không sống theo xác thịt nhưng theo Thánh Linh. Nếu ai không có Thánh Linh của Ðấng Christ, người ấy không thuộc về Ngài. Tuy nhiên, nếu Ðấng Christ đang ở trong anh em, dù thân thể của anh em chết theo tội lỗi, tâm linh của anh em vẫn sống theo sự công chính. Nếu Thánh Linh của Ðấng đã làm cho Ðức Chúa Jesus sống lại từ cõi chết ở trong anh em, thì Ðấng đã làm cho Ðấng Christ sống lại từ cõi chết, cũng sẽ ban sự sống cho thân thể phải chết của anh em, qua Thánh Linh của Ngài, là Ðấng đang ngự trong anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Kế Tự Với Đấng Christ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh em ơi! Như vậy chúng ta không còn mắc nợ xác thịt để sống theo xác thịt nữa. Do đó nếu anh em cứ sống theo xác thịt, anh em chắc chắn sẽ chết; nhưng nếu anh em nhờ Thánh Linh làm chết những hành vi của xác thịt, anh em sẽ sống. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì những ai được Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dẫn dắt đều là con của Ðức Chúa Trời; do đó anh em không còn nhận tinh thần của một kẻ nô lệ để phải sợ hãi nữa, nhưng anh em đã nhận lấy tinh thần của những người được nhận làm con nuôi của Đấng mà chúng ta gọi là “A-ba, Cha!” Chính Thánh Linh chứng nhận cho tâm linh của chúng ta rằng chúng ta là con của Ðức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hơn nữa, con cái là những người thừa kế: những người thừa kế của Ðức Chúa Trời và những người đồng thừa kế với Ðấng Christ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tương Lai Vinh Quang'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu thật sự chúng ta chịu khổ với Ngài, chúng ta cũng sẽ cùng được vinh quang. Thật vậy, tôi biết rằng những đau khổ hiện tại không thể so sánh với vinh quang tương lai sẽ được bày tỏ cho chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tạo vật đang chờ đợi, và nôn nả trông chờ, sự hiển lộ của các con Đức Chúa Trời. Bởi vì tạo vật - không phải tự ý, nhưng bởi Ðấng bắt nó phục tùng - đã khuất phục sự hư không  với niềm hy vọng rằng chính tạo vật cũng sẽ được thoát khỏi ách nô lệ của sự hư hoại để được vào trong sự tự do vinh quang của các con của Ðức Chúa Trời.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, chúng ta biết tạo vật đang rên siết và đau đớn quằn quại cho đến bây giờ. Không chỉ như thế, nhưng chính chúng ta, những trái đầu mùa của Ðức Thánh Linh; chúng ta cũng có những quặn thắt của chính mình, và trông chờ ngày được trọn quyền làm con, để nhận được sự cứu chuộc thân thể của mình. Vì niềm hy vọng này mà chúng ta được cứu.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hy vọng đã được nhìn thấy thì không còn là hy vọng - vì ai lại trông mong điều mình đang thấy bao giờ? Nhưng nếu chúng ta hy vọng vào điều chúng ta chưa thấy, chúng ta sẽ kiên nhẫn chờ đợi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cũng vậy, Thánh Linh cũng giúp trong sự yếu đuối của chúng ta, bởi vì chúng ta không biết phải cầu xin điều gì, nhưng chính Thánh Linh dùng những thở than, không thể diễn đạt bằng lời, mà cầu xin cho chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đấng dò xét lòng người biết ý tưởng của Thánh Linh, bởi vì Thánh Linh theo ý muốn Đức Chúa Trời mà cầu thay cho các thánh đồ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tình Yêu Thương Của Ðức Chúa Trời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại đem ích lợi cho những người yêu mến Ðức Chúa Trời, tức là những người được kêu gọi theo mục đích của Ngài. Bởi vì những người Ngài biết trước, Ngài cũng đã định trước để trở nên giống như hình ảnh của Con Ngài - là con đầu lòng ở giữa các em. Những người Ngài đã định trước, Ngài cũng đã kêu gọi; những người Ngài đã kêu gọi, Ngài cũng đã xưng công chính; những người Ngài đã xưng công chính, Ngài cũng làm cho vinh hiển. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy chúng ta sẽ nói gì về những điều nầy? Nếu Ðức Chúa Trời ủng hộ chúng ta, ai có thể chống lại chúng ta?  Ngài đã không tiếc chính Con Ngài, nhưng vì tất cả chúng ta, Ngài ban người Con đó, lẽ nào Ngài sẽ không ban mọi sự cùng với người Con đó cho chúng ta sao? Ai sẽ tố cáo những người được chọn của Ðức Chúa Trời trong khi Ðức Chúa Trời chính là Ðấng phân xử?  Ai sẽ kết án họ trong khi Ðức Chúa Jesus Christ, Ðấng đã chết - đúng ra là Ðấng đã sống lại - là Ðấng đang ở bên phải Ðức Chúa Trời, và đang cầu xin cho chúng ta?  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ai có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hoặc gươm giáo chăng? Như điều đã chép: “Vì cớ Ngài, chúng con đối diện với sự chết cả ngày; chúng con bị xem như chiên để làm thịt.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trái lại, trong mọi điều đó chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà đắc thắng; bởi vì tôi tin chắc rằng dù sự chết, sự sống, các thiên sứ, các bậc cầm quyền, việc hiện tại, việc tương lai, những quyền lực, chiều cao, chiều sâu, hoặc một tạo vật nào cũng không thể phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ Jesus, là Chúa của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Như vậy, hiện nay không còn sự kết án cho những ai ở trong Ðức Chúa Jesus Christ - là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh. 2. Bởi vì luật của Thánh Linh – Ðấng ban sự sống trong Ðức Chúa Jesus Christ - đã giải thoát anh em khỏi luật của tội lỗi và sự chết. 3. Bởi vì điều gì luật pháp bất lực, do xác thịt làm cho suy yếu, Ðức Chúa Trời đã làm rồi. Ngài đã sai chính Con Ngài đến trong thân xác giống như xác thịt tội lỗi, và vì tội lỗi, đã đoán phạt tội lỗi trong thân xác đó, 4. để hoàn tất đòi hỏi của luật pháp trên chúng ta, là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Thật vậy, những ai theo xác thịt, tâm trí hướng vào những việc thuộc về xác thịt, những ai theo Thánh Linh, hướng vào những việc thuộc về Thánh Linh. 6. Như vậy, hướng tâm trí vào xác thịt đưa đến sự chết, nhưng hướng tâm trí vào Thánh Linh dẫn đến sự sống và bình an, 7. vì tâm trí hướng về xác thịt là thù nghịch với Đức Chúa Trời - do không chịu, và cũng không thể, thuận phục luật pháp của Đức Chúa Trời. 8. Những người sống theo xác thịt không thể làm đẹp lòng Ðức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Tuy nhiên, nếu thật sự Thánh Linh của Ðức Chúa Trời đang ở trong anh em, anh em không sống theo xác thịt nhưng theo Thánh Linh. Nếu ai không có Thánh Linh của Ðấng Christ, người ấy không thuộc về Ngài. 10. Tuy nhiên, nếu Ðấng Christ đang ở trong anh em, dù thân thể của anh em chết theo tội lỗi, tâm linh của anh em sống theo sự công chính. 11. Nếu Thánh Linh của Ðấng đã làm cho Ðức Chúa Jesus sống lại từ cõi chết ở trong anh em, thì Ðấng đã làm cho Ðấng Christ sống lại từ cõi chết, cũng sẽ ban sự sống cho thân thể phải chết của anh em, qua Thánh Linh của Ngài, là Ðấng đang ngự trong anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Anh em, như vậy chúng ta không còn mắc nợ xác thịt để sống theo xác thịt nữa. 13. Do đó nếu anh em cứ sống theo xác thịt, anh em chắc chắn sẽ chết; nhưng nếu anh em nhờ Thánh Linh làm chết những hành vi của thân xác, anh em sẽ sống. 14. Bởi vì những ai được Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dẫn dắt đều là con của Ðức Chúa Trời. 15. Do đó anh em không còn nhận tâm linh của kẻ nô lệ để phải sợ hãi nữa, nhưng anh em đã nhận lấy tâm linh của những người được nhận làm con nuôi của Đấng mà chúng ta gọi là “A-ba, Cha!” 16. Chính Thánh Linh làm chứng cho tâm linh của chúng ta rằng chúng ta là con của Ðức Chúa Trời. 17. Hơn thế nữa, con là những người thừa kế - những người thừa kế của Ðức Chúa Trời và những người đồng thừa kế với Ðấng Christ; nếu thật sự chúng ta chịu khổ với Ngài, chúng ta cũng sẽ cùng được vinh quang. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thật vậy, tôi cho rằng những đau khổ hiện tại không thể so sánh với vinh quang tương lai sẽ được bày tỏ cho chúng ta. 19. Tạo vật đang chờ đợi, và nôn nả trông chờ, sự hiển lộ của các con Đức Chúa Trời. 20. Bởi vì tạo vật - không phải tự ý, nhưng bởi Ðấng bắt nó phục tùng - đã khuất phục sự hư không với niềm hy vọng 21. rằng chính tạo vật cũng sẽ được thoát khỏi ách nô lệ của sự hư hoại để được vào trong sự tự do vinh quang của các con của Ðức Chúa Trời. 22. Thật vậy, chúng ta biết tạo vật đang rên siết và đau đớn quằn quại cho đến bây giờ. 23. Không chỉ như thế, nhưng chính chúng ta, những trái đầu mùa của Ðức Thánh Linh; chúng ta cũng có những quặn thắt của chính mình, và trông chờ ngày được trọn quyền làm con, để nhận được sự cứu chuộc thân thể của mình. 24. Vì niềm hy vọng này mà chúng ta được cứu - hy vọng đã được nhìn thấy thì không còn là hy vọng, vì ai lại trông mong điều mình đang thấy bao giờ? 25. Nhưng nếu chúng ta hy vọng vào điều chúng ta chưa thấy, chúng ta sẽ kiên nhẫn chờ đợi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Cũng vậy, Thánh Linh cũng giúp trong sự yếu đuối của chúng ta, bởi vì chúng ta không biết phải cầu xin điều gì, nhưng chính Thánh Linh dùng những thở than, không thể diễn đạt bằng lời, mà cầu xin cho chúng ta. 27. Đấng dò xét lòng người biết ý tưởng của Thánh Linh, bởi vì Thánh Linh theo ý muốn Đức Chúa Trời mà cầu xin cho các thánh đồ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại đem ích lợi cho những người yêu mến Ðức Chúa Trời, tức là những người được kêu gọi theo mục đích của Ngài. 29. Bởi vì những người Ngài biết trước, Ngài cũng đã định trước để trở nên giống như hình ảnh của Con Ngài - là con đầu lòng ở giữa các em. 30. Những người Ngài đã định trước, Ngài cũng đã kêu gọi; những người Ngài đã kêu gọi, Ngài cũng đã xưng công chính; những người Ngài đã xưng công chính, Ngài cũng làm cho vinh hiển. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31. Như vậy chúng ta sẽ nói gì về những điều nầy? Nếu Ðức Chúa Trời ủng hộ chúng ta, ai có thể chống lại chúng ta?  32. Ngài đã không tiếc chính Con Ngài, nhưng vì tất cả chúng ta đã ban Con ấy, lẽ nào Ngài sẽ không ban mọi sự cùng với Con ấy cho chúng ta sao? 33. Ai sẽ tố cáo những người được chọn của Ðức Chúa Trời? Ðức Chúa Trời chính là Ðấng phân xử.  34. Ai sẽ kết án họ? Ðức Chúa Jesus Christ, Ðấng đã chết - đúng ra là Ðấng đã sống lại - Ðấng đang ở bên phải Ðức Chúa Trời, và cầu xin cho chúng ta.  35. Ai có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hoặc gươm giáo chăng? 36. Như đã được chép rằng: “Vì cớ Ngài, chúng con đối diện với sự chết cả ngày; chúng con bị xem như chiên để làm thịt.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
37. Trái lại, trong mọi sự đó chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà đắc thắng. 38. Bởi vì tôi tin chắc rằng dù sự chết, sự sống, các thiên sứ, các bậc cầm quyền, việc hiện tại, việc tương lai, các quyền lực, 39. chiều cao, chiều sâu, hoặc một tạo vật nào cũng không thể phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ Jesus, là Chúa của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ; 2.  vì luật pháp của Thánh Linh sự sống đã nhờ Đức Chúa Jêsus Christ buông tha tôi khỏi luật pháp của sự tội và sự chết. 3.  Vì điều chi luật pháp không làm nổi, tại xác thịt làm cho luật pháp ra yếu đuối, thì Đức Chúa Trời đã làm rồi: Ngài đã vì cớ tội lỗi sai chính Con mình lấy xác thịt giống như xác thịt tội lỗi chúng ta, và đã đoán phạt tội lỗi trong xác thịt, 4.  hầu cho sự công bình mà luật pháp buộc phải làm được trọn trong chúng ta, là kẻ chẳng noi theo xác thịt, nhưng noi theo Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Thật thế, kẻ sống theo xác thịt thì chăm những sự thuộc về xác thịt; còn kẻ sống theo Thánh Linh thì chăm những sự thuộc về Thánh Linh. 6.  Vả, chăm về xác thịt sanh ra sự chết, còn chăm về Thánh Linh sanh ra sự sống và bình an; 7.  vì sự chăm về xác thịt nghịch với Đức Chúa Trời, bởi nó không phục dưới luật pháp Đức Chúa Trời, lại cũng không thể phục được. 8.  Vả, những kẻ sống theo xác thịt, thì không thể đẹp lòng Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Về phần anh em, nếu thật quả Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong mình, thì không sống theo xác thịt đâu, nhưng theo Thánh Linh; song nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài. 10.  Vậy nếu Đấng Christ ở trong anh em, thì thân thể chết nhân cớ tội lỗi, mà thần linh sống nhân cớ sự công bình. 11.  Lại nếu Thánh Linh của Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết ở trong anh em, thì Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài ở trong anh em mà khiến thân thể hay chết của anh em lại sống. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Vậy, hỡi anh em, chúng ta chẳng mắc nợ xác thịt đâu, đặng sống theo xác thịt. 13.  Thật thế, nếu anh em sống theo xác thịt thì phải chết; song nếu nhờ Thánh Linh, làm cho chết các việc của thân thể, thì anh em sẽ sống. 14.  Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời. 15.  Thật anh em đã chẳng nhận lấy thần trí của tôi mọi đặng còn ở trong sự sợ hãi; nhưng đã nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi, và nhờ đó chúng ta kêu rằng: A-ba! Cha! 16.  Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. 17.  Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: kẻ kế tự Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ, miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Vả, tôi tưởng rằng những sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta. 19.  Thật thế, muôn vật ước ao, nóng nảy mà trông đợi con cái Đức Chúa Trời được tỏ ra. 20.  Vì muôn vật đã bị bắt phục sự hư không, chẳng phải tự ý mình, bèn là bởi cớ Đấng bắt phục. 21.  Muôn vật mong rằng mình cũng sẽ được giải cứu khỏi làm tôi sự hư nát, đặng dự phần trong sự tự do vinh hiển của con cái Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  Vì chúng ta biết rằng muôn vật đều than thở và chịu khó nhọc cho đến ngày nay; 23.  không những muôn vật thôi, lại chúng ta, là kẻ có trái đầu mùa của Đức Thánh Linh, cũng than thở trong lòng đang khi trông đợi sự làm con nuôi, tức là sự cứu chuộc thân thể chúng ta vậy. 24.  Vì chúng ta được cứu trong sự trông cậy, nhưng khi người ta đã thấy điều mình trông rồi, ấy không phải là trông nữa: mình thấy rồi, sao còn trông làm chi? 25.  Song nếu chúng ta trông điều mình không thấy, ấy là chúng ta chờ đợi điều đó cách nhịn nhục. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Cũng một lẽ ấy, Đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta. 27.  Đấng dò xét lòng người hiểu biết ý tưởng của Thánh Linh là thể nào, vì ấy là theo ý Đức Chúa Trời mà Ngài cầu thế cho các thánh đồ vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28.  Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. 29.  Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em; 30.  còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31.  Đã vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao? Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta? 32.  Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao? 33.  Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy. 34.  Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa. Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta. 35.  Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hay là gươm giáo chăng? 36.  Như có chép rằng: Vì cớ Ngài, chúng tôi bị giết cả ngày; Họ coi chúng tôi như chiên định đem đến hàng làm thịt. 37.  Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần. 38.  Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, 39.  bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sống trong Ðức Thánh Linh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Cho nên hiện nay không còn có sự kết tội cho những ai ở trong Ðức Chúa Jesus Christ.  2 Vì luật của Ðức Thánh Linh, Ðấng ban sự sống trong Ðức Chúa Jesus Christ, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội lỗi và sự chết.  3 Vì điều chi Luật Pháp không thực hiện được, do xác thịt làm cho suy yếu, thì Ðức Chúa Trời đã làm rồi.  Ngài đã sai chính Con Ngài lấy xác thịt giống như xác thịt tội lỗi của chúng ta để giải quyết vấn đề tội lỗi; Ngài đã đoán phạt tội lỗi trên thân thể của Con Ngài.  4 Ngài làm như vậy để sự công chính mà Luật Pháp đòi hỏi có thể được thực hiện đầy đủ trong chúng ta, những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Ðức Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Vì những ai sống theo xác thịt thì để tâm trí họ vào những gì thuộc về xác thịt, nhưng những ai sống theo Ðức Thánh Linh thì để tâm trí họ vào những gì thuộc về Ðức Thánh Linh.  6 Ðể tâm trí vào những gì thuộc về xác thịt dẫn đến sự chết, nhưng để tâm trí vào những gì thuộc về Ðức Thánh Linh dẫn đến sự sống và bình an.  7 Vì tâm trí để vào những gì thuộc về xác thịt là chống nghịch với Ðức Chúa Trời, vì nó không chịu thuận phục dưới luật của Ðức Chúa Trời, đúng ra là nó không thể thuận phục được.  8 Thật vậy, những người sống theo xác thịt không thể nào làm vui lòng Ðức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Tuy nhiên anh chị em không sống theo xác thịt nhưng theo Ðức Thánh Linh, nếu thật sự Ðức Thánh Linh của Ðức Chúa Trời đang ở trong anh chị em.  Ai không có Ðức Thánh Linh của Ðấng Christ, người ấy không thuộc về Ngài.  10 Nhưng nếu Ðấng Christ ở trong anh chị em thì dù thân thể anh chị em sẽ chết vì tội lỗi, nhưng tâm linh vẫn sống vì được xưng công chính.  11 Nếu Ðức Thánh Linh của Ðấng đã làm cho Ðức Chúa Jesus sống lại từ cõi chết ở trong anh chị em, thì Ðấng đã làm cho Ðấng Christ sống lại từ cõi chết cũng sẽ ban sự sống cho thân thể sẽ chết của anh chị em qua Ðức Thánh Linh của Ngài, Ðấng đang ngự trị trong anh chị em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Thế thì thưa anh chị em, chúng ta không còn mắc nợ xác thịt để sống theo xác thịt nữa.  13 Vì nếu anh chị em cứ sống theo xác thịt, anh chị em chắc chắn sẽ chết, nhưng nếu anh chị em nhờ Ðức Thánh Linh làm chết những hành vi của bản ngã xác thịt, anh chị em sẽ sống.  14 Vì tất cả những ai được Ðức Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dẫn dắt đều là con của Ðức Chúa Trời.  15 Bởi anh chị em đã không nhận lấy tâm linh của kẻ làm nô lệ để phải sợ hãi nữa, nhưng anh chị em đã nhận lấy tâm linh của người làm con nuôi, để nhờ đó chúng ta có thể thưa một cách dạn dĩ, “A-ba, Cha!”  16 Chính Ðức Thánh Linh làm chứng với tâm linh chúng ta rằng chúng ta là con cái Ðức Chúa Trời.  17 Nếu chúng ta là con cái, chúng ta cũng là những người thừa kế, những người thừa kế của Ðức Chúa Trời và những người đồng thừa kế với Ðấng Christ, nếu chúng ta thật sự chịu khổ với Ngài để chúng ta cũng được vinh hiển với Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Vinh Hiển Tương Lai'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Thật vậy tôi cho rằng những đau khổ hiện tại không đáng sánh với vinh hiển tương lai là vinh hiển sẽ được bày tỏ cho chúng ta.  19 Vì muôn loài thọ tạo đang nôn nóng ngóng trông ngày Ðức Chúa Trời cho các con cái Ngài hiển lộ.  20 Vì muôn vật đã bị khuất phục dưới sự hư ảo, không phải tự ý, nhưng bởi Ðấng bắt chúng phải chịu như vậy, với hy vọng 21 rằng chính muôn vật cũng sẽ được giải thoát khỏi ách nô lệ của sự hư nát để vào hưởng tự do trong vinh hiển với các con cái Ðức Chúa Trời.  22 Vì chúng ta biết rằng muôn vật đang rên rỉ và quằn quại đau đớn như người sắp sinh cho đến bây giờ.  23 Không những muôn vật mà thôi, nhưng cũng có chúng ta nữa, những người có những trái đầu mùa của Ðức Thánh Linh; chính chúng ta rên rỉ trong lòng, nôn nóng trông chờ ngày được hưởng trọn quyền làm con nuôi, tức sự cứu chuộc thân thể mình.  24 Vì trong niềm hy vọng đó chúng ta được cứu; nhưng khi hy vọng đã được thấy thì không còn là hy vọng, vì ai lại trông mong điều mình đang thấy bao giờ?  25 Nhưng nếu chúng ta đặt hy vọng vào điều chúng ta chưa thấy, thì đó mới là điều chúng ta bền chí trông chờ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ðức Thánh Linh Cầu Thay'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Cũng vậy Ðức Thánh Linh giúp chúng ta trong khi chúng ta yếu đuối, vì chúng ta không biết phải cầu nguyện như thế nào cho đúng, nhưng chính Ðức Thánh Linh cầu thay cho chúng ta bằng những tiếng rên rỉ không thể diễn tả bằng lời.  27 Ðấng thấu rõ mọi lòng biết rõ tâm trí của Ðức Thánh Linh, vì Ðức Thánh Linh theo ý muốn Ðức Chúa Trời cầu thay cho các thánh đồ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phước của Người Yêu Kính Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho những người yêu kính Ðức Chúa Trời, tức những người được gọi theo mục đích của Ngài.  29 Vì những người Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định trước để trở nên giống như hình ảnh của Con Ngài, hầu Con ấy có thể làm Con Trưởng giữa một đàn em đông đúc.  30 Những người Ngài đã định trước thì Ngài cũng đã kêu gọi; những người Ngài đã kêu gọi thì Ngài cũng đã xưng công chính; và những người Ngài đã xưng công chính thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tình Yêu của Ðức Chúa Trời Ðối Với Chúng Ta Trong Ðấng Christ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 Như vậy chúng ta sẽ nói gì về những điều ấy?  Nếu Ðức Chúa Trời binh vực chúng ta, ai có thể chống lại chúng ta?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32 Ngài đã không tiếc chính Con Ngài, nhưng vì tất cả chúng ta, mà ban Con ấy, lẽ nào Ngài sẽ không ban cho chúng ta mọi sự cùng với Con ấy sao?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Ai sẽ kiện cáo những người Ðức Chúa Trời chọn?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðã có Ðức Chúa Trời, Ðấng xác nhận họ là công chính.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34 Ai sẽ kết án họ chăng?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðã có Ðức Chúa Jesus Christ, Ðấng đã chết, đúng hơn là Ðấng đã sống lại, Ðấng đang ở bên phải Ðức Chúa Trời, và Ngài đang cầu thay cho chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 Ai có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðấng Christ?  Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hoặc gươm giáo chăng?  36 Như có chép rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Vì cớ Ngài, chúng con bị giết suốt ngày;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng con bị xem như chiên để đem giết thịt.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
37 Tuy nhiên trong mọi sự ấy, chúng ta đều chiến thắng tất cả nhờ Ðấng yêu thương chúng ta.  38 Vì tôi tin chắc rằng không điều gì, dù sự chết hay sự sống, các thiên sứ hay các quỷ sứ, việc hiện tại hay việc tương lai, hay bất cứ quyền lực nào, 39 điều gì đến từ trời cao hay ra từ vực thẳm, hay bất cứ vật thọ tạo nào, có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðức Chúa Trời trong Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''NGƯỜI DO-THÁI TRONG CHƯƠNG TRÌNH CỨU RỖI CỦA ÐỨC CHÚA TRỜI'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(9:1 - 11:36)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B45\V01B45C008.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Thư Rô-ma | Giới Thiệu Thư Rô-ma]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Rô-ma]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[KTB45C007 | Chương 7]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[KTB45C009 | Chương 9]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Lu-ca:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35776</id>
		<title>Lu-ca: Chương 1</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Lu-ca:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35776"/>
		<updated>2026-06-26T06:45:00Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Do có nhiều người đã cố gắng biên soạn một bản ký thuật về những việc đã xảy ra ở giữa chúng ta, 2. đúng theo như những điều đã được truyền đạt cho chúng ta từ những nhân chứng đầu tiên và những người phục vụ Lời Chúa; 3. vì vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu mọi việc từ đầu – Thưa ngài Thê-ô-phi-lơ kính mến - tôi thiết tưởng cũng nên theo thứ tự mà viết cho ngài, 4. để ngài có thể biết những điều mình đã được hướng dẫn là chắc chắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Vào thời Hê-rốt làm vua xứ Giu-đê, có một tư tế thuộc phân ban A-bi-gia, tên là Xa-cha-ri; vợ là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi của A-rôn. 6. Cả hai đều là người công chính trước mặt Đức Chúa Trời, đi theo tất cả những điều răn và luật lệ của Chúa không hề khiếm khuyết. 7. Tuy nhiên họ không có con, bởi vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn và cả hai đều đã cao tuổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Và rồi, để làm trọn trách nhiệm phục vụ tế lễ theo thứ tự của ban mình trước mặt Đức Chúa Trời. 9. theo thông lệ của các tư tế, ông đã bắt thăm, và trúng phần dâng hương trong đền thờ của Chúa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Trong giờ dâng hương, tất cả đoàn dân cầu nguyện ở bên ngoài. 11. Một thiên sứ của Chúa hiện đến với ông, đứng ngay bên phải của bàn thờ dâng hương. 12. Nhìn thấy thiên sứ, Xa-cha-ri bối rối, sự kinh hãi bao phủ ông. 13. Sau đó, thiên sứ nói với ông:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Xa-cha-ri, đừng sợ! Bởi vì lời cầu nguyện của ngươi đã được lắng nghe. Ê-li-sa-bét, vợ của ngươi, sẽ sinh cho ngươi một con trai; và ngươi hãy đặt tên cho nó là Giăng. 14. Nó sẽ là niềm vui và sự hân hoan cho ngươi, và nhiều người sẽ vui mừng khi đứa trẻ được sinh ra. 15. Bởi vì nó sẽ được tôn trọng ở trước mặt Chúa; nó sẽ không uống rượu nho hay rượu mạnh, và nó sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ. 16. Nó sẽ đem nhiều người Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ; 17. và nó sẽ đi trước Chúa với tinh thần và quyền năng của Ê-li, hướng lòng của những người cha trở về với các con, và kẻ bội nghịch sẽ trở về với sự khôn ngoan của người công chính, để chuẩn bị một dân tộc sẵn sàng cho Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Nhưng Xa-cha-ri nói với thiên sứ: “Nhờ điều gì mà tôi biết có việc nầy? Bởi vì tôi đã già, và vợ tôi đã cao tuổi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Thiên sứ trả lời và nói cùng ông: “Ta là Gáp-ri-ên, là đấng đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Ta được sai đến để nói với ngươi và mang những tin vui nầy cho ngươi. 20. Nầy, ngươi sẽ bị câm, không thể nói được cho đến ngày những điều đó xảy ra, bởi vì ngươi đã không tin những lời của ta, là những lời sẽ được ứng nghiệm theo kỳ định của chúng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Dân chúng đang chờ đợi Xa-cha-ri; và họ ngạc nhiên bởi vì ông ở lâu trong đền thờ. 22. Sau đó, ông đã đi ra nhưng không nói được với họ, và họ nhận biết rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thờ. Ông đã ra dấu cho họ, bởi vì vẫn còn bị câm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Và rồi, khi những ngày phục vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Sau những ngày đó, vợ của ông là Ê-li-sa-bét mang thai, và bà đã ẩn mình trong năm tháng, và nói: 25. “Thật vậy, đây là việc Chúa đã làm cho tôi. Trong những ngày nầy, Ngài đã đoái đến tôi, và cất đi sự hổ nhục của tôi ở giữa mọi người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Và rồi đến tháng thứ sáu, thiên sứ Gáp-ri-ên được Đức Chúa Trời sai đến một thị trấn tại Ga-li-lê, gọi là Na-xa-rét, 27. đến cùng một trinh nữ đã đính hôn với một người nam, tên là Giô-sép, thuộc dòng Đa-vít; và tên của trinh nữ là Ma-ri.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Đến gặp cô, thiên sứ đã nói: “Chào người được ơn! Chúa ở cùng cô!” 29. Ma-ri  bối rối về lời nầy, và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30. Thiên sứ nói cùng cô: “Ma-ri! Đừng sợ, bởi vì cô đã được ơn của Đức Chúa Trời. 31. Nầy, cô sẽ thụ thai, và sẽ sinh một con trai, rồi cô sẽ đặt tên Ngài là Jesus. 32. Ngài sẽ rất cao trọng, và sẽ được gọi là Con của Đấng Chí Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi của Đa-vít, của tổ phụ Ngài. 33. Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời; vương quốc của Ngài sẽ trường tồn mãi mãi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34. Sau đó Ma-ri nói với thiên sứ: “Làm sao việc này có thể xảy ra, bởi vì tôi chưa hề biết một người nam nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35. Thiên sứ trả lời và nói với nàng: “Đức Thánh Linh sẽ ngự trên cô, và quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ che phủ cô; cho nên Đấng Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con của Đức Chúa Trời. 36. Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con của cô, cũng đã mang thai một con trai trong lúc tuổi già. Bà được gọi là người hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi. 37. Bởi vì không có việc gì Đức Chúa Trời không làm được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38. Sau đó Ma-ri nói: “Tôi đây là tớ gái của Chúa. Nguyện xin điều đó xảy ra cho tôi theo như lời của ngài.” Và rồi thiên sứ rời khỏi nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39. Sau những ngày đó, Ma-ri chỗi dậy, vội vàng đi về miền núi, đến một thị trấn của Giu-đa, 40. vào trong nhà của Xa-cha-ri, và chào Ê-li-sa-bét.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
41. Khi Ê-li-sa-bét nghe tiếng Ma-ri chào, thai nhi trong bụng của bà liền nhảy lên. Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Đức Thánh Linh; 42. bà nói lớn tiếng rằng: “Cô là người được phước ở giữa những phụ nữ; bông trái trong dạ của cô cũng được phước! 43. Nhờ đâu mà tôi được vinh hạnh này, đó là mẹ của Chúa của tôi đã đến thăm tôi? 44. Bởi vì kìa, khi tai của tôi vừa nghe tiếng cô chào, thì thai nhi trong bụng của tôi liền nhảy mừng. 45. Phước cho người đã tin rằng những điều từ Chúa đã phán cho mình sẽ được ứng nghiệm”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46. Ma-ri nói: “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa, 47. tâm linh tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
48. Vì Ngài đã đoái đến thân phận hèn hạ của tớ gái của Ngài. Vì từ nay về sau, mọi thế hệ sẽ gọi tôi là người có phước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
49. Bởi vì Đấng Toàn Năng đã làm những việc diệu kỳ cho tôi. Danh Ngài là thánh! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50. Từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, sự thương xót của Ngài dành cho những người kính sợ Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
51. Ngài đã thể hiện quyền năng với tay của Ngài; và Ngài đã làm tan tác những kẻ có tư tưởng kiêu ngạo trong lòng của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
52. Ngài đã truất phế những kẻ thống trị khỏi ngôi, và cất nhắc những người khiêm nhường lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
53. Ngài đã làm cho người đói được đầy thức ngon, và đuổi kẻ giàu đi không có gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
54. Ngài đã giúp Y-sơ-ra-ên, là đầy tớ của Ngài, và nhớ lại sự thương xót của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
55. Như Ngài đã phán với tổ phụ chúng ta, với Áp-ra-ham và dòng dõi của người đến muôn đời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
56. Ma-ri ở lại với bà khoảng ba tháng, rồi trở về nhà của nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
57. Bây giờ Ê-li-sa-bét đã đủ thời hạn để sinh, bà đã sinh một con trai. 58. Láng giềng và bà con, nghe tin Chúa đã tỏ lòng thương xót lớn lao với bà, đã chung vui với bà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
59. Đến ngày thứ tám, họ đến để cắt bì cho đứa trẻ và đặt tên nó là Xa-cha-ri, theo tên cha của nó. 60. Nhưng mẹ của nó nói rằng: “Không! Nó phải được gọi là Giăng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
61. Họ nói với bà: “Trong thân tộc của bà, không ai có tên này.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
62. Sau đó, họ ra dấu cho người cha của nó, hỏi ông muốn đặt tên nó là gì. 63. Ông bảo lấy một tấm bảng nhỏ, rồi viết rằng: “Tên của nó là Giăng.” Tất cả đều kinh ngạc. 64. Ngay lập tức, miệng của ông mở ra, rồi đến lưỡi của ông, và ông nói lời chúc tụng Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
65. Sự kinh hãi đổ xuống trên tất cả những người ở chung quanh đó, và mọi người đã bàn tán về những điều nầy khắp vùng đồi núi của Giu-đê. 66. Mọi người đã nghe những điều đó, đều ghi nhớ trong lòng của họ, và nói: “Đứa trẻ nầy về sau sẽ thế nào? Bởi vì tay của Chúa đã ở cùng nó.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
67. Xa-cha-ri, cha của đứa trẻ, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nói tiên tri rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
68. “Tôn ngợi Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, bởi vì Ngài đã thăm viếng và cứu chuộc dân của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
69. Ngài đã dấy lên một sừng cứu rỗi cho chúng ta, trong nhà Đa-vít, là đầy tớ của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
70. Như Ngài đã phán qua miệng các tiên tri thánh của Ngài từ thuở xưa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
71. Ngài giải cứu chúng ta khỏi những kẻ thù của chúng ta, và khỏi tay mọi người ghen ghét chúng ta;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
72. Ngài tỏ lòng thương xót với tổ tiên của chúng ta, và nhớ lại giao ước thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
73. Là lời hứa mà Ngài đã thề với Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, để ban cho chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
74. Chúng ta được giải cứu khỏi tay những kẻ thù, để phục vụ Ngài không chút sợ hãi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
75. Trong sự thánh khiết và sự công chính tại trước mặt Ngài trọn đời của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
76. Và bây giờ, con - một đứa trẻ - sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Chí Cao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì con sẽ đi trước Chúa, để chuẩn bị những con đường cho Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
77. Để ban sự hiểu biết về sự cứu rỗi cho dân của Ngài, qua sự tha thứ tội lỗi của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
78. Nhờ sự nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời của chúng ta, mà ánh dương từ trên cao sẽ thăm viếng chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
79. Để soi sáng cho những người đang ngồi trong nơi tối tăm và trong bóng của sự chết, để hướng dẫn những bước chân của chúng ta vào đường lối an bình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
80. Đứa trẻ lớn lên, tâm linh mạnh mẽ, và sống trong những nơi hoang vắng cho đến ngày xuất hiện với dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời mở đầu'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do có nhiều người đã cố gắng biên soạn một bản ký thuật về những việc đã xảy ra ở giữa chúng ta, đúng theo như những điều đã được truyền đạt cho chúng ta từ những nhân chứng đầu tiên và những người phục vụ Lời Chúa; vì vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu mọi việc từ đầu – Thưa ngài Thê-ô-phi-lơ kính mến - tôi thiết tưởng cũng nên theo thứ tự mà viết cho ngài, để ngài có thể biết những điều mình đã được hướng dẫn là chắc chắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời tiên tri về sự ra đời của Giăng Báp-tít'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào thời Hê-rốt làm vua xứ Giu-đê, có một tư tế thuộc phân ban A-bi-gia, tên là Xa-cha-ri; vợ là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi của A-rôn. Cả hai đều là người công chính trước mặt Đức Chúa Trời, sống theo mọi điều răn và lễ nghi của Chúa không một chút khiếm khuyết. Tuy nhiên họ không có con, bởi vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn và cả hai đều đã cao tuổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi, để làm trọn trách nhiệm phục vụ tế lễ theo thứ tự của ban mình trước mặt Đức Chúa Trời. theo thông lệ của các tư tế, ông đã bắt thăm, và trúng phần dâng hương trong đền thờ của Chúa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong giờ dâng hương, tất cả đoàn dân cầu nguyện ở bên ngoài. Một thiên sứ của Chúa hiện đến với ông, đứng ngay bên phải của bàn thờ dâng hương. Nhìn thấy thiên sứ, Xa-cha-ri bối rối, sự kinh hãi bao phủ ông. Sau đó, thiên sứ nói với ông:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Xa-cha-ri, đừng sợ! Bởi vì lời cầu nguyện của ngươi đã được lắng nghe. Ê-li-sa-bét, vợ của ngươi, sẽ sinh cho ngươi một con trai; và ngươi hãy đặt tên cho nó là Giăng. Nó sẽ là niềm vui và sự hân hoan cho ngươi, và nhiều người sẽ vui mừng khi đứa trẻ được sinh ra. Bởi vì nó sẽ được tôn trọng ở trước mặt Chúa; nó sẽ không uống rượu nho hay rượu mạnh, và nó sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ. Nó sẽ đem nhiều người Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ; và nó sẽ đi trước Chúa với tinh thần và quyền năng của Ê-li, hướng lòng của những người cha trở về với các con, và kẻ bội nghịch sẽ trở về với sự khôn ngoan của người công chính, để chuẩn bị một dân tộc sẵn sàng cho Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng Xa-cha-ri nói với thiên sứ: “Nhờ điều gì mà tôi biết có việc nầy? Bởi vì tôi đã già, và vợ tôi đã cao tuổi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thiên sứ trả lời và nói cùng ông: “Ta là Gáp-ri-ên, là đấng đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Ta được sai đến để nói với ngươi và mang những tin vui nầy cho ngươi. Nầy, ngươi sẽ bị câm, không thể nói được cho đến ngày những điều đó xảy ra, bởi vì ngươi đã không tin những lời của ta, là những lời sẽ được ứng nghiệm theo kỳ định của chúng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dân chúng đang chờ đợi Xa-cha-ri; và họ ngạc nhiên bởi vì ông ở lâu trong đền thờ. Sau đó, ông đã đi ra nhưng không nói được với họ, và họ nhận biết rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thờ. Ông đã ra dấu cho họ, bởi vì vẫn còn bị câm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi, khi những ngày phục vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau những ngày đó, vợ của ông là Ê-li-sa-bét mang thai, và bà đã ẩn mình trong năm tháng, và nói: “Thật vậy, đây là việc Chúa đã làm cho tôi. Trong những ngày nầy, Ngài đã đoái đến tôi, và cất đi sự hổ nhục của tôi ở giữa mọi người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thiên sứ báo tin cho Ma-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi đến tháng thứ sáu, thiên sứ Gáp-ri-ên được Đức Chúa Trời sai đến một thị trấn tại Ga-li-lê, gọi là Na-xa-rét, đến cùng một trinh nữ đã đính hôn với một người nam, tên là Giô-sép, thuộc dòng Đa-vít; và tên của trinh nữ là Ma-ri.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến gặp cô, thiên sứ đã nói: “Chào người được ơn! Chúa ở cùng cô!” Ma-ri  bối rối về lời nầy, và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thiên sứ nói cùng cô: “Ma-ri! Đừng sợ, bởi vì cô đã được ơn của Đức Chúa Trời. Nầy, cô sẽ thụ thai, và sẽ sinh một con trai, rồi cô sẽ đặt tên Ngài là Jesus. Ngài sẽ rất cao trọng, và sẽ được gọi là Con của Đấng Chí Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi của Đa-vít, của tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời; vương quốc của Ngài sẽ trường tồn mãi mãi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó Ma-ri nói với thiên sứ: “Làm sao việc này có thể xảy ra, bởi vì tôi chưa hề biết một người nam nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thiên sứ trả lời và nói với nàng: “Đức Thánh Linh sẽ ngự trên cô, và quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ che phủ cô; cho nên Đấng Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con của Đức Chúa Trời. Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con của cô, cũng đã mang thai một con trai trong lúc tuổi già. Bà được gọi là người hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi. Bởi vì không có việc gì Đức Chúa Trời không làm được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó Ma-ri nói: “Tôi đây là tớ gái của Chúa. Nguyện xin điều đó xảy ra cho tôi theo như lời của ngài.” Và rồi thiên sứ rời khỏi nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ma-ri viếng thăm Ê-li-sa-bét'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau những ngày đó, Ma-ri chỗi dậy, vội vàng đi về miền núi, đến một thị trấn của Giu-đa, vào trong nhà của Xa-cha-ri, và chào Ê-li-sa-bét.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi Ê-li-sa-bét nghe tiếng Ma-ri chào, thai nhi trong bụng của bà liền nhảy lên. Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Đức Thánh Linh; bà nói lớn tiếng rằng: “Cô là người được phước ở giữa những phụ nữ; bông trái trong dạ của cô cũng được phước! Nhờ đâu mà tôi được vinh hạnh này, đó là mẹ của Chúa của tôi đã đến thăm tôi? Bởi vì kìa, khi tai của tôi vừa nghe tiếng cô chào, thì thai nhi trong bụng của tôi liền nhảy mừng. Phước cho người đã tin rằng những điều từ Chúa đã phán cho mình sẽ được ứng nghiệm”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bài ca của Ma-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ma-ri nói: “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa, tâm linh tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ngài đã đoái đến thân phận hèn hạ của tớ gái của Ngài. Vì từ nay về sau, mọi thế hệ sẽ gọi tôi là người có phước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì Đấng Toàn Năng đã làm những việc diệu kỳ cho tôi. Danh Ngài là thánh! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, sự thương xót của Ngài dành cho những người kính sợ Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã thể hiện quyền năng với tay của Ngài; và Ngài đã làm tan tác những kẻ có tư tưởng kiêu ngạo trong lòng của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã truất phế những kẻ thống trị khỏi ngôi, và cất nhắc những người khiêm nhường lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã làm cho người đói được đầy thức ngon, và đuổi kẻ giàu đi không có gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã giúp Y-sơ-ra-ên, là đầy tớ của Ngài, và nhớ lại sự thương xót của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như Ngài đã phán với tổ phụ chúng ta, với Áp-ra-ham và dòng dõi của người đến muôn đời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ma-ri ở lại với bà khoảng ba tháng, rồi trở về nhà của nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giăng Báp-tít ra đời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bây giờ Ê-li-sa-bét đã đủ thời hạn để sinh, bà đã sinh một con trai. Láng giềng và bà con, nghe tin Chúa đã tỏ lòng thương xót lớn lao với bà, đã chung vui với bà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến ngày thứ tám, họ đến để cắt bì cho đứa trẻ và đặt tên nó là Xa-cha-ri, theo tên cha của nó. Nhưng mẹ của nó nói rằng: “Không! Nó phải được gọi là Giăng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Họ nói với bà: “Trong thân tộc của bà, không ai có tên này.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó, họ ra dấu cho người cha của nó, hỏi ông muốn đặt tên nó là gì. Ông bảo lấy một tấm bảng nhỏ, rồi viết rằng: “Tên của nó là Giăng.” Tất cả đều kinh ngạc. Ngay lập tức, miệng của ông mở ra, rồi đến lưỡi của ông, và ông nói lời chúc tụng Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sự kinh hãi đổ xuống trên tất cả những người ở chung quanh đó, và mọi người đã bàn tán về những điều nầy khắp vùng đồi núi của Giu-đê. Mọi người đã nghe những điều đó, đều ghi nhớ trong lòng của họ, và nói: “Đứa trẻ nầy về sau sẽ thế nào? Bởi vì tay của Chúa đã ở cùng nó.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bài ca của Xa-cha-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xa-cha-ri, cha của đứa trẻ, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nói tiên tri rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Tôn ngợi Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, bởi vì Ngài đã thăm viếng và cứu chuộc dân của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã dấy lên một sừng cứu rỗi cho chúng ta, trong nhà Đa-vít, là đầy tớ của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như Ngài đã phán qua miệng các tiên tri thánh của Ngài từ thuở xưa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài giải cứu chúng ta khỏi những kẻ thù của chúng ta, và khỏi tay mọi người ghen ghét chúng ta;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài tỏ lòng thương xót với tổ tiên của chúng ta, và nhớ lại giao ước thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Là lời hứa mà Ngài đã thề với Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, để ban cho chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng ta được giải cứu khỏi tay những kẻ thù, để phục vụ Ngài không chút sợ hãi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong sự thánh khiết và sự công chính tại trước mặt Ngài trọn đời của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và bây giờ, con - một đứa trẻ - sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Chí Cao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì con sẽ đi trước Chúa, để chuẩn bị những con đường cho Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Để ban sự hiểu biết về sự cứu rỗi cho dân của Ngài, qua sự tha thứ tội lỗi của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhờ sự nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời của chúng ta, mà ánh dương từ trên cao sẽ thăm viếng chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Để soi sáng cho những người đang ngồi trong nơi tối tăm và trong bóng của sự chết, để hướng dẫn những bước chân của chúng ta vào đường lối an bình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đứa trẻ lớn lên, tâm linh mạnh mẽ, và sống trong những nơi hoang vắng cho đến ngày xuất hiện với dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời mở đầu'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Do có nhiều người đã cố gắng biên soạn một bản ký thuật về những việc đã xảy ra ở giữa chúng ta, 2. đúng theo như những điều đã được truyền đạt cho chúng ta từ những nhân chứng đầu tiên và những người phục vụ Ngôi Lời; 3. vì vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu mọi việc từ đầu – Thưa ngài Thê-ô-phi-lơ kính mến - tôi thiết tưởng cũng nên theo thứ tự mà viết cho ngài, 4. để ngài có thể biết những điều mình đã được hướng dẫn là chắc chắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời tiên tri về sự ra đời của Giăng Báp-tít'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Vào thời Hê-rốt làm vua xứ Giu-đê, có một tư tế thuộc phân ban A-bi-gia, tên là Xa-cha-ri; vợ là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi của A-rôn. 6. Cả hai đều là người công chính trước mặt Đức Chúa Trời, bước đi trong mọi điều răn và lễ nghi của Chúa không hề khiếm khuyết. 7. Tuy nhiên họ không có con, bởi vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn và cả hai đều đã cao tuổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Và rồi, để làm trọn trách nhiệm phục vụ tế lễ theo thứ tự của ban mình trước mặt Đức Chúa Trời. 9. theo thông lệ của các tư tế, ông đã bắt thăm, và trúng phần dâng hương trong đền thờ của Chúa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Trong giờ dâng hương, tất cả đoàn dân cầu nguyện ở bên ngoài. 11. Một thiên sứ của Chúa hiện đến với ông, đứng ngay bên phải của bàn thờ dâng hương. 12. Nhìn thấy thiên sứ, Xa-cha-ri bối rối, sự kinh hãi bao phủ ông. 13. Sau đó, thiên sứ nói với ông:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Xa-cha-ri, đừng sợ! Bởi vì lời cầu nguyện của ngươi đã được lắng nghe. Ê-li-sa-bét, vợ của ngươi, sẽ sinh cho ngươi một con trai; và ngươi hãy đặt tên cho nó là Giăng. 14. Nó sẽ là niềm vui và sự hân hoan cho ngươi, và nhiều người sẽ vui mừng khi đứa trẻ được sinh ra. 15. Bởi vì nó sẽ được tôn trọng ở trước mặt Chúa; nó sẽ không uống rượu nho hay rượu mạnh, và nó sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ của nó. 16. Nó sẽ đem nhiều người Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ; 17. và nó sẽ đi trước Chúa với tinh thần và quyền năng của Ê-li, hướng lòng của những người cha trở về với các con, và kẻ bội nghịch sẽ trở về với sự khôn ngoan của người công chính, để chuẩn bị một dân tộc sẵn sàng cho Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Nhưng Xa-cha-ri nói với thiên sứ: “Nhờ điều gì mà tôi biết có việc nầy? Bởi vì tôi đã già, và vợ tôi đã cao tuổi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Thiên sứ trả lời và nói cùng ông: “Ta là Gáp-ri-ên, là đấng đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Ta được sai đến để nói với ngươi và mang những tin vui nầy cho ngươi. 20. Nầy, ngươi sẽ bị câm, không thể nói được cho đến ngày những điều đó xảy ra, bởi vì ngươi đã không tin những lời của ta, là những lời sẽ được ứng nghiệm theo kỳ định của chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Dân chúng đang chờ đợi Xa-cha-ri; và họ ngạc nhiên bởi vì ông ở lâu trong đền thờ. 22. Sau đó, ông đã đi ra nhưng không nói được với họ, và họ nhận biết rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thờ. Ông đã ra dấu cho họ, bởi vì vẫn còn bị câm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Và rồi, khi những ngày phục vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Sau những ngày đó, vợ của ông là Ê-li-sa-bét mang thai, và bà đã ẩn mình trong năm tháng, và nói: 25. “Thật vậy, đây là việc Chúa đã làm cho tôi. Trong những ngày nầy, Ngài đã đoái đến tôi, và cất đi sự hổ nhục của tôi ở giữa mọi người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thiên sứ báo tin cho Ma-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Và rồi đến tháng thứ sáu, thiên sứ Gáp-ri-ên được Đức Chúa Trời sai đến một thị trấn tại Ga-li-lê, gọi là Na-xa-rét, 27. đến cùng một trinh nữ đã đính hôn với một người nam, tên là Giô-sép, thuộc dòng Đa-vít; và tên của trinh nữ là Ma-ri.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Đến gặp cô, người đã nói: “Chào người được ơn! Chúa ở cùng cô!” 29. Ma-ri  bối rối về lời công bố nầy, và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30. Thiên sứ nói cùng cô: “Ma-ri! Đừng sợ, bởi vì cô đã được ơn của Đức Chúa Trời. 31. Nầy, cô sẽ thụ thai, và sẽ sinh một con trai, rồi cô sẽ đặt tên Ngài là Jesus. 32. Ngài sẽ rất cao trọng, và sẽ được gọi là Con của Đấng Chí Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít của tổ phụ Ngài. 33. Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời; vương quốc của Ngài sẽ bất tận.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34. Sau đó Ma-ri nói với thiên sứ: “Làm sao việc này có thể xảy ra, bởi vì tôi chưa hề biết một người nam nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35. Thiên sứ trả lời và nói với nàng: “Đức Thánh Linh sẽ ngự trên cô, và quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ che phủ cô; cho nên Đấng Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con của Đức Chúa Trời. 36. Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con của cô, cũng đã mang thai một con trai trong lúc tuổi già. Bà được gọi là người hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi. 37. Bởi vì không có việc gì Đức Chúa Trời không làm được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38. Sau đó Ma-ri nói: “Tôi đây là tớ gái của Chúa. Nguyện xin điều đó xảy ra cho tôi theo như lời của ngài.” Và rồi thiên sứ rời khỏi nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ma-ri viếng thăm Ê-li-sa-bét'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39. Sau những ngày đó, Ma-ri chỗi dậy, vội vàng đi về miền núi, đến một thị trấn của Giu-đa, 40. vào trong nhà của Xa-cha-ri, và chào Ê-li-sa-bét.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
41. Khi Ê-li-sa-bét nghe tiếng Ma-ri chào, thai nhi trong bụng của bà liền nhảy lên. Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Đức Thánh Linh; 42. bà nói lớn tiếng rằng: “Cô là người được phước ở giữa những phụ nữ; bông trái trong dạ của cô cũng được phước! 43. Nhờ đâu mà tôi được vinh hạnh này, đó là mẹ của Chúa của tôi đã đến thăm tôi? 44. Bởi vì kìa, khi tai của tôi vừa nghe tiếng cô chào, thì thai nhi trong bụng của tôi liền nhảy mừng. 45. Phước cho người đã tin rằng những điều từ Chúa đã phán cho mình sẽ được ứng nghiệm”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bài ca của Ma-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46. Ma-ri nói: “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa, 47. tâm linh tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
48. Vì Ngài đã đoái đến thân phận hèn hạ của tớ gái của Ngài. Vì từ nay về sau, mọi thế hệ sẽ gọi tôi là người có phước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
49. Bởi vì Đấng Toàn Năng đã làm những việc diệu kỳ cho tôi. Danh Ngài là thánh! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50. Từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, sự thương xót của Ngài dành cho những người kính sợ Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
51. Ngài đã thể hiện quyền năng với tay của Ngài; và Ngài đã làm tan tác những kẻ có tư tưởng kiêu ngạo trong lòng của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
52. Ngài đã truất phế những kẻ thống trị khỏi ngôi, và cất nhắc những người khiêm nhường lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
53. Ngài đã làm cho người đói được đầy thức ngon, và đuổi kẻ giàu đi không còn gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
54. Ngài đã giúp Y-sơ-ra-ên, là đầy tớ của Ngài, và nhớ lại sự thương xót của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
55. Như Ngài đã phán với tổ phụ chúng ta, với Áp-ra-ham và dòng dõi của người đến muôn đời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
56. Ma-ri ở lại với bà khoảng ba tháng, rồi trở về nhà của nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giăng Báp-tít ra đời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
57. Bây giờ Ê-li-sa-bét đã đủ thời hạn để sinh, bà đã sinh một con trai. 58. Láng giềng và bà con, nghe tin Chúa đã tỏ lòng thương xót lớn lao với bà, đã chung vui với bà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
59. Đến ngày thứ tám, họ đến để cắt bì cho đứa trẻ và đặt tên nó là Xa-cha-ri, theo tên cha của nó. 60. Nhưng mẹ của nó nói rằng: “Không! Nó phải được gọi là Giăng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
61. Họ nói với bà: “Trong thân tộc của bà, không ai có tên này.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
62. Sau đó, họ ra dấu cho người cha của nó, hỏi ông muốn đặt tên nó là gì. 63. Ông bảo lấy một tấm bảng nhỏ, rồi viết rằng: “Tên của nó là Giăng.” Tất cả đều kinh ngạc. 64. Ngay lập tức, miệng của ông mở ra, rồi đến lưỡi của ông, và ông nói lời chúc tụng Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
65. Sự kinh hãi đổ xuống trên tất cả những người ở chung quanh đó, và mọi người đã bàn tán về những điều nầy khắp vùng đồi núi của Giu-đê. 66. Mọi người đã nghe những điều đó, đều đặt để chúng trong lòng của họ, và nói: “Đứa trẻ nầy về sau sẽ thế nào? Bởi vì tay của Chúa đã ở cùng nó.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bài ca của Xa-cha-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
67. Xa-cha-ri, cha của đứa trẻ, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nói tiên tri rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
68. “Tôn ngợi Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, bởi vì Ngài đã thăm viếng và cứu chuộc dân của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
69. Ngài đã dấy lên một sừng cứu rỗi cho chúng ta, trong nhà Đa-vít, là đầy tớ của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
70. Như Ngài đã phán qua miệng các tiên tri thánh của Ngài từ thuở xưa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
71. Ngài giải cứu chúng ta khỏi những kẻ thù của chúng ta, và khỏi tay mọi người ghen ghét chúng ta;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
72. Ngài tỏ lòng thương xót với tổ tiên của chúng ta, và nhớ lại giao ước thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
73. Là lời hứa mà Ngài đã thề với Áp-ra-ham, tổ phụ của chúng ta, để ban cho chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
74. Chúng ta được giải cứu khỏi tay những kẻ thù, để phục vụ Ngài không chút sợ hãi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
75. Trong sự thánh khiết và sự công chính tại trước mặt Ngài trọn đời của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
76. Và bây giờ, con - một đứa trẻ - sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Chí Cao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì con sẽ đi trước Chúa, để chuẩn bị những con đường cho Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
77. Để ban sự hiểu biết về sự cứu rỗi cho dân của Ngài, qua sự tha thứ tội lỗi của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
78. Nhờ sự nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời chúng ta, mà ánh dương từ trên cao sẽ thăm viếng chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
79. Để soi sáng cho những người đang ngồi trong nơi tối tăm và trong bóng của sự chết, để hướng dẫn những bước chân của chúng ta vào đường lối an bình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
80. Đứa trẻ lớn lên, tâm linh mạnh mẽ, và sống trong những nơi hoang vắng cho đến ngày xuất hiện của mình cho dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Hỡi Thê-ô-phi-lơ quí nhân, vì có nhiều kẻ dốc lòng chép sử về những sự đã làm nên trong chúng ta, 2.  theo như các người chứng kiến từ lúc ban đầu và trở nên người giảng đạo đã truyền lại cho chúng ta, 3.  vậy, sau khi đã xét kỹ càng từ đầu mọi sự ấy, tôi cũng tưởng nên theo thứ tự viết mà tỏ ra cho ông, 4.  để ông biết những điều mình đã học là chắc chắn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Trong đời Hê-rốt, vua nước Giu-đê, có một thầy tế lễ, về ban A-bi-a, tên là Xa-cha-ri; vợ người là Ê-li-sa-bét, thuộc về chi phái A-rôn. 6.  Cả hai đều là công bình trước mặt Đức Chúa Trời, vâng giữ mọi điều răn và lễ nghi của Chúa một cách không chỗ trách được. 7.  Hai người không có con, vì Ê-li-sa-bét son sẻ, và cả hai đều cao tuổi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vả, Xa-cha-ri cứ theo thứ tự trong ban mình mà làm chức tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời. 9.  Khi đã bắt thăm theo lệ các thầy cả lập ra rồi, thì người được gọi vào nơi thánh của Chúa để dâng hương. 10.  Đang giờ dâng hương, cả đoàn dân đông đều ở ngoài cầu nguyện. 11.  Bấy giờ có một thiên sứ của Chúa hiện ra cùng Xa-cha-ri, đứng bên hữu bàn thờ xông hương. 12.  Xa-cha-ri thấy thì bối rối sợ hãi. 13.  Nhưng thiên sứ nói cùng người rằng: Hỡi Xa-cha-ri, đừng sợ, vì lời cầu nguyện ngươi đã được nhậm rồi. Ê-li-sa-bét vợ ngươi, sẽ sanh một con trai, ngươi khá đặt tên là Giăng. 14.  Con trai đó sẽ làm cho ngươi vui mừng hớn hở, và nhiều kẻ sẽ mừng rỡ về sự sanh người ra. 15.  Vì người sẽ nên tôn trọng trước mặt Chúa; không uống rượu hay là giống gì làm cho say, và sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ. 16.  Người sẽ làm cho nhiều con trai Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ; 17.  chính người lại sẽ lấy tâm thần quyền phép Ê-li mà đi trước mặt Chúa, để đem lòng cha trở về con cái, kẻ loạn nghịch đến sự khôn ngoan của người công bình, đặng sửa soạn cho Chúa một dân sẵn lòng. 18.  Xa-cha-ri thưa rằng: Bởi sao tôi biết được điều đó? Vì tôi đã già, vợ tôi đã cao tuổi rồi. 19.  Thiên sứ trả lời rằng: Ta là Gáp-ri-ên, đứng trước mặt Đức Chúa Trời; Ngài đã sai ta đến truyền cho ngươi và báo tin mừng nầy. 20.  Nầy, ngươi sẽ câm, không nói được cho đến ngày nào các điều ấy xảy ra, vì ngươi không tin lời ta, là lời đến kỳ sẽ ứng nghiệm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Bấy giờ, dân chúng đợi Xa-cha-ri, và lấy làm lạ, vì người ở lâu trong nơi thánh. 22.  Khi Xa-cha-ri ra, không nói với chúng được, thì họ mới hiểu rằng người đã thấy sự hiện thấy gì trong đền thánh; người ra dấu cho họ, mà vẫn còn câm. 23.  Khi những ngày về phần việc mình đã trọn, người trở về nhà. 24.  Khỏi ít lâu, vợ người là Ê-li-sa-bét chịu thai, ẩn mình đi trong năm tháng, mà nói rằng: 25.  Ấy là ơn Chúa đã làm cho tôi, khi Ngài đã đoái đến tôi, để cất sự xấu hổ tôi giữa mọi người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Đến tháng thứ sáu, Đức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến thành Na-xa- rét, xứ Ga-li-lê, 27.  tới cùng một người nữ đồng trinh tên là Ma-ri, đã hứa gả cho một người nam tên là Giô-sép, về dòng vua Đa-vít. 28.  Thiên sứ vào chỗ người nữ ở, nói rằng: Hỡi người được ơn, mừng cho ngươi; Chúa ở cùng ngươi. 29.  Ma-ri nghe nói thì bối rối, tự hỏi rằng lời chào ấy có nghĩa gì. 30.  Thiên-sứ bèn nói rằng: Hỡi Ma-ri, đừng sợ, vì ngươi đã được ơn trước mặt Đức Chúa Trời. 31.  Nầy, ngươi sẽ chịu thai và sanh một con trai mà đặt tên là Jêsus. 32.  Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài. 33.  Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng. 34.  Ma-ri bèn thưa rằng: Tôi chẳng hề nhận biết người nam nào, thì làm sao có được sự đó? 35.  Thiên sứ truyền rằng: Đức Thánh Linh sẽ đến trên ngươi, và quyền phép Đấng Rất Cao sẽ che phủ ngươi dưới bóng mình, cho nên con thánh sanh ra, phải xưng là Con Đức Chúa Trời. 36.  Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con ngươi, cũng đã chịu thai một trai trong lúc già nua; người ấy vốn có tiếng là son, mà nay cưu mang được sáu tháng rồi. 37.  Bởi vì không việc chi Đức Chúa Trời chẳng làm được. 38.  Ma-ri thưa rằng: Tôi đây là tôi tớ Chúa; xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền! Đoạn thiên sứ lìa khỏi Ma-ri. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39.  Trong những ngày đó, Ma-ri chờ dậy, lật đật đi trong miền núi, đến một thành về xứ Giu-đa, 40.  vào nhà Xa-cha-ri mà chào Ê-li-sa-bét. 41.  Vả, Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng Ma-ri chào, con nhỏ ở trong lòng liền nhảy nhót; và Ê-li-sa-bét được đầy Đức Thánh Linh, 42.  bèn cất tiếng kêu rằng: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngươi có phước trong đám đàn bà, thai trong lòng ngươi cũng được phước. 43.  Nhân đâu ta được sự vẻ vang nầy, là mẹ Chúa ta đến thăm ta? 44.  Bởi vì tai ta mới nghe tiếng ngươi chào, thì con nhỏ ở trong lòng ta liền nhảy mừng. 45.  Phước cho người đã tin, vì lời Chúa truyền cho sẽ được ứng nghiệm! 46.  Ma-ri bèn nói rằng: Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, 47.  Tâm thần tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa tôi. 48.  Vì Ngài đã đoái đến sự hèn hạ của tôi tớ Ngài. Nầy, từ rày về sau, muôn đời sẽ khen tôi là kẻ có phước; 49.  Bởi Đấng Toàn Năng đã làm các việc lớn cho tôi. Danh Ngài là thánh, 50.  Và Ngài thương xót kẻ kính sợ Ngài từ đời nầy sang đời kia. 51.  Ngài đã dùng cánh tay mình để tỏ ra quyền phép; Và phá tan mưu của kẻ kiêu ngạo toan trong lòng. 52.  Ngài đã cách người có quyền khỏi ngôi họ, Và nhắc kẻ khiêm nhượng lên. 53.  Ngài đã làm cho kẻ đói được đầy thức ngon, Và đuổi kẻ giàu về tay không. 54.  Ngài đã vùa giúp Y-sơ-ra-ên, tôi tớ Ngài, Và nhớ lại sự thương xót mình. Đối với Áp-ra-ham cùng con cháu người luôn luôn, 55.  Như Ngài đã phán cùng tổ phụ chúng ta vậy. 56.  Ma-ri ở với Ê-li-sa-bét chừng ba tháng, rồi trở về nhà mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
57.  Bấy giờ, đến ngày mãn nguyệt, Ê-li-sa-bét sanh được một trai. 58.  Xóm riềng bà con nghe Chúa tỏ ra sự thương xót cả thể cho Ê-li-sa-bét, thì chia vui cùng người. 59.  Qua ngày thứ tám, họ đều đến để làm lễ cắt bì cho con trẻ; và đặt tên là Xa-cha-ri theo tên của cha. 60.  Nhưng mẹ nói rằng: Không! phải đặt tên con là Giăng. 61.  Họ nói: Trong bà con ngươi không ai có tên đó. 62.  Họ bèn ra dấu hỏi cha muốn đặt tên gì cho con. 63.  Xa-cha-ri biểu lấy bảng nhỏ, và viết rằng: Giăng là tên nó. Ai nấy đều lấy làm lạ. 64.  Tức thì miệng người mở ra, lưỡi được thong thả, nói và ngợi khen Đức Chúa Trời. 65.  Hết thảy xóm giềng đều kinh sợ, và người ta nói chuyện với nhau về mọi sự ấy khắp miền núi xứ Giu-đê. 66.  Ai nghe cũng ghi vào lòng mà nói rằng: Ấy vậy, con trẻ đó sẽ ra thể nào? Vì tay Chúa ở cùng con trẻ ấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
67.  Bấy giờ, Xa-cha-ri, cha con trẻ ấy, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, thì nói tiên tri rằng: 68.  Ngợi khen Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Vì đã thăm viếng và chuộc dân Ngài, 69.  Cùng sanh ra cho chúng tôi trong nhà Đa-vít, tôi tớ Ngài, Một Đấng Cứu thế có quyền phép! 70.  Như lời Ngài đã dùng miệng các thánh tiên tri phán từ thuở trước, 71.  Ngài cứu chúng tôi khỏi kẻ thù và tay mọi người ghen ghét chúng tôi; 72.  Ngài tỏ lòng thương xót đến tổ tông chúng tôi, Và nhớ lại lời giao ước thánh của Ngài, 73.  Theo như Ngài đã thề với Áp-ra-ham là tổ phụ chúng tôi, 74.  Mà hứa rằng khi chúng tôi đã được cứu khỏi tay kẻ nghịch thù, Ngài sẽ ban ơn lành cho chúng tôi, trước mặt Ngài, 75.  Lấy sự thánh khiết và công bình mà hầu việc Ngài, trọn đời mình không sợ hãi gì hết. 76.  Hỡi con trẻ, người ta sẽ kêu con là tiên tri của Đấng Rất Cao; Con sẽ đi trước mặt Chúa, dọn đường Ngài, 77.  Để cho dân Ngài bởi sự tha tội họ mà biết sự rỗi. 78.  Vì Đức Chúa Trời chúng tôi động lòng thương xót, Và mặt trời mọc lên từ nơi cao thăm viếng chúng tôi, 79.  Để soi những kẻ ngồi chỗ tối tăm và trong bóng sự chết, Cùng đưa chân chúng tôi đi đường bình an. 80.  Vả, con trẻ ấy lớn lên, tâm thần mạnh mẽ, ở nơi đồng vắng cho đến ngày tỏ mình ra cùng dân Y-sơ-ra-ên. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B42\V02B42C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Ngỏ đến Thê-ô-phi-lơ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vì có nhiều người đã cố gắng ghi lại những việc được thực hiện giữa chúng ta, 2 như lời những người đã chứng kiến từ ban đầu và những người đã trở thành tôi tớ của đạo Chúa truyền lại cho chúng ta, 3 nên sau khi tra cứu cẩn thận mọi việc từ đầu, tôi thiết tưởng cũng nên ghi lại một cách thứ tự cho ngài, thưa ngài Thê-ô-phi-lơ rất kính mến, 4 để ngài có thể biết cách xác thật về đạo mà ngài đã được dạy.    &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''THỜI THƠ ẤU VÀ ẨN DẬT CỦA GIĂNG BÁP-TÍT VÀ ÐỨC CHÚA JESUS'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(1:5-2:52)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Báo Tin Giăng Báp-tít Sinh Ra'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Trong thời Vua Hê-rốt xứ Giu-đê, có một tư tế tên là Xa-cha-ri, thuộc dòng tư tế A-bi-gia.  Vợ ông tên là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi A-rôn.  6 Cả hai vợ chồng là người công chính trước mặt Ðức Chúa Trời, vâng giữ các điều răn và mạng lịnh của Chúa không chỗ nào chê trách được.  7 Nhưng hai người không có con, vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn, và hai người đã cao tuổi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Một ngày kia Xa-cha-ri thi hành chức vụ tư tế trước mặt Ðức Chúa Trời theo phiên thứ của ông; 9 ông được trúng thăm theo thông lệ của các tư tế lúc bấy giờ để vào dâng hương trong đền thánh của Chúa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Ðúng vào giờ dâng hương, trong khi hội chúng đang cầu nguyện bên ngoài, 11 một thiên sứ của Chúa hiện ra với ông và đứng bên phải của bàn thờ dâng hương.  12 Khi Xa-cha-ri thấy vị thiên sứ, ông hoảng sợ và nỗi kinh hoàng phủ lấy ông.  13 Nhưng vị thiên sứ nói với ông, “Hỡi Xa-cha-ri, đừng sợ, vì lời cầu nguyện của ngươi đã được nhậm.  Ê-li-sa-bét vợ ngươi sẽ sinh cho ngươi một con trai, và ngươi sẽ đặt tên con trai đó là Giăng.  14 Ðứa con ấy sẽ là niềm vui hớn hở cho ngươi.  Nhiều người sẽ hoan hỉ khi nó chào đời, 15 vì nó sẽ thành một vĩ nhân trước mặt Chúa.  Nó sẽ không được uống rượu hay thức uống gì làm cho say.  Nó sẽ được đầy dẫy Ðức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ.  16 Nó sẽ làm cho nhiều người I-sơ-ra-ên quay về với Chúa, Ðức Chúa Trời của họ.  17 Nó sẽ đi trước mặt Chúa với tinh thần và quyền năng của Ê-li.  Nó sẽ làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, và những kẻ bội nghịch sẽ vâng theo sự khôn ngoan của người công chính, để chuẩn bị một dân sẵn sàng cho Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Xa-cha-ri thưa với thiên sứ, “Làm sao tôi biết việc này sẽ xảy ra, vì tôi đã già, còn vợ tôi lại cao tuổi?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Vị thiên sứ trả lời và nói với ông, “Ta là Gáp-ri-ên, đứng hầu trước mặt Ðức Chúa Trời, và ta được sai đến để nói với ngươi và báo cho ngươi tin mừng này.  20 Này, ngươi sẽ bị câm và không nói được cho đến ngày những điều ấy xảy ra, bởi vì ngươi không tin những lời ta, những lời sẽ xảy ra đúng kỳ đã định cho chúng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Trong khi đó dân chúng bên ngoài trông đợi Xa-cha-ri; họ hoang mang lo lắng vì ông ở trong đền thánh quá lâu.  22 Khi thấy ông trở ra và không thể nói được với họ, họ nhận biết rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thánh.  Ông cứ ra dấu với họ và không thể nói được.  23 Khi thời kỳ phục vụ của ông mãn, ông trở về nhà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Sau những ngày đó, bà Ê-li-sa-bét vợ ông thụ thai; bà sống ẩn dật trong năm tháng.  Bà nói, 25 “Ðây là điều Chúa đã làm cho tôi khi Ngài làm ơn cho tôi, Ngài đã cất khỏi tôi nỗi tủi hổ giữa người đời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thiên Sứ Báo Tin Chúa Giáng Sinh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Vào tháng thứ sáu, Ðức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến Thành Na-xa-rét, miền Ga-li-lê, 27 gặp một trinh nữ đã đính hôn với một thanh niên tên là Giô-sép, thuộc dòng Vua Ða-vít.  Trinh nữ ấy tên là Ma-ry.  28 Thiên sứ đến gặp nàng và nói, “Hỡi người được ơn, chúc mừng cô, Chúa ở cùng cô.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29 Nghe như thế Ma-ry bối rối và tự hỏi lời chào ấy có nghĩa gì.  30 Thiên sứ nói với nàng, “Hỡi Ma-ry, đừng sợ, vì cô đã được ơn trước mặt Ðức Chúa Trời.  31 Này, cô sẽ có thai, sinh một con trai, và cô sẽ đặt tên con trai ấy là Jesus.  32 Con trai ấy sẽ thành một vĩ nhân và sẽ được gọi là Con của Ðấng Tối Cao.  Chúa, Ðức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngai của Ða-vít tổ phụ Ngài.  33 Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời.  Vương quốc Ngài sẽ trường tồn bất tận.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34 Ma-ry thưa với thiên sứ, “Làm sao việc ấy có thể xảy ra được, vì tôi chưa hề biết một người nam nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 Thiên sứ trả lời và nói với nàng, “Ðức Thánh Linh sẽ ngự xuống trên cô, và quyền năng của Ðấng Tối Cao sẽ bao phủ cô.  Vì thế Con Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con Ðức Chúa Trời.  36 Kìa Ê-li-sa-bét, bà con của cô, đang mang thai một trai trong tuổi già nua.  Bà ấy vốn có tiếng là hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi, 37 bởi vì không việc chi Ðức Chúa Trời chẳng làm được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38 Ma-ry thưa, “Tôi đây là tớ gái của Chúa, xin việc ấy xảy ra cho tôi như lời ngài truyền.”  Sau đó thiên sứ lìa khỏi Ma-ry.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ma-ry Thăm Ê-li-sa-bét'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39 Trong những ngày ấy Ma-ry đứng dậy và vội vàng đến một thành trong vùng đồi núi xứ Giu-đê, 40 vào nhà của Xa-cha-ri, và chào Ê-li-sa-bét.  41 Vừa khi nghe tiếng chào của Ma-ry, thai nhi trong bụng Ê-li-sa-bét nhảy lên, và Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Ðức Thánh Linh.  42 Bà cất tiếng nói lớn, “Cô thật có phước giữa vòng phụ nữ!  Thai nhi trong dạ cô cũng có phước thay!  43 Do đâu mà tôi được vinh dự này, đó là được thân mẫu của Chúa đến thăm tôi?  44 Vì này, vừa khi tai tôi nghe tiếng cô chào, thai nhi trong bụng tôi đã nhảy lên mừng rỡ.  45 Phước thay cho người tin rằng Chúa sẽ làm ứng nghiệm những gì Ngài đã phán với mình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Ca Ngợi của Ma-ry'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46 Bấy giờ Ma-ry nói,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
47 “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tâm linh tôi vui mừng trong Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của tôi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
48 Vì Ngài đã đoái đến thân phận hèn hạ của tớ gái Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì từ nay trở đi, muôn đời sẽ khen tôi là người có phước,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
49 Vì Ðấng Toàn Năng đã làm những việc lớn cho tôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Danh Ngài thật thánh thay!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50 Ngài thương xót kẻ kính sợ Ngài từ đời nọ sang đời kia.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
51 Ngài dùng cánh tay Ngài bày tỏ những việc quyền năng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài dẹp tan những kẻ kiêu ngạo tận tư tưởng trong lòng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
52 Ngài hạ bệ những kẻ quyền thế khỏi ngai của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng Ngài nhấc những người khiêm nhường lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
53 Ngài ban cho người đói được no nê các thức ăn ngon,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đuổi kẻ giàu đi về tay không.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
54 Ngài giúp đỡ I-sơ-ra-ên tôi tớ Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ngài nhớ lại ơn thương xót của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
55 Như Ngài đã phán với các tổ tiên chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với Áp-ra-ham và dòng dõi người mãi mãi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
56 Ma-ry ở lại với Ê-li-sa-bét khoảng ba tháng, rồi trở về nhà nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giăng Báp-tít Sinh Ra'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
57 Ðến kỳ sinh nở, Ê-li-sa-bét sinh một con trai.  58 Những láng giềng và bà con dòng họ của bà nghe Chúa bày tỏ lòng thương xót lớn lao của Ngài đối với bà, họ vui mừng với bà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
59 Ngày thứ tám, họ đến để cắt bì cho đứa bé.  Họ định đặt tên nó là Xa-cha-ri, theo tên của cha nó.  60 Nhưng mẹ nó trả lời và nói, “Không, nó sẽ được gọi là Giăng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
61 Họ nói với bà, “Không người bà con nào của bà có tên ấy cả.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
62 Kế đó họ ra dấu cho cha đứa bé để xem ông muốn đặt tên nó là gì.  63 Ông ra dấu bảo đem cho ông một bảng nhỏ, rồi ông viết trên đó, “Tên nó là Giăng.”  Mọi người đều lấy làm lạ.  64 Thình lình miệng ông mở ra, lưỡi ông được tự do, và ông cất tiếng ca ngợi Ðức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
65 Cả xóm giềng đều phát sợ, và người ta nói về chuyện ấy khắp miền đồi núi xứ Giu-đê.  66 Tất cả những ai nghe chuyện ấy đều nói, “Rồi đây không biết đứa trẻ ấy sẽ ra sao?”  Vì tay Chúa ở cùng nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Tiên Tri của Xa-cha-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
67 Bấy giờ Xa-cha-ri cha đứa bé được đầy dẫy Ðức Thánh Linh và nói tiên tri rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
68 “Chúc tụng Chúa, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ngài đã đoái thăm và cứu chuộc dân Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
69 Ngài đã dấy lên một sừng cứu rỗi cho chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong nhà Ða-vít tôi tớ Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
70 Như Ngài đã phán trước qua miệng các tiên tri thánh của Ngài từ xưa rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
71 Chúng ta sẽ được giải cứu khỏi những kẻ thù của mình,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và khỏi tay những kẻ ghét chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
72 Ngài bày tỏ lòng thương xót đối với tổ tiên chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài nhớ lại giao ước thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
73 Tức lời thề Ngài đã lập với Áp-ra-ham tổ phụ chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể ban cho chúng ta&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
74 Ðược giải thoát khỏi tay những kẻ thù nghịch,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể có thể phụng sự Ngài không chút sợ hãi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
75 Trong sự thánh khiết và công chính,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước mặt Ngài trọn đời chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
76 Còn con, hỡi con thơ, con sẽ được gọi là tiên tri của Ðấng Tối Cao,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì con sẽ đi trước Chúa để dọn đường cho Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
77 Ðể ban tri thức về ơn cứu rỗi cho dân Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Qua sự tha thứ tội lỗi họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
78 Nhờ đức nhân từ thương xót của Ðức Chúa Trời chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mà vầng thái dương mọc lên từ trời sẽ thăm viếng chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
79 Ðể mang ánh sáng đến những kẻ đang ngồi trong tối tăm và bóng tử thần;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể dẫn dắt bàn chân chúng ta vào con đường bình an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
80 Ðứa trẻ càng lớn lên tinh thần càng mạnh mẽ.  Nó cứ sống trong đồng hoang cho đến ngày tỏ mình ra với dân I-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B42\V01B42C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Lu-ca]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Lu-ca: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Lu-ca:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35775</id>
		<title>Lu-ca: Chương 1</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Lu-ca:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35775"/>
		<updated>2026-06-26T06:43:31Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Do có nhiều người đã cố gắng biên soạn một bản ký thuật về những việc đã xảy ra ở giữa chúng ta, 2. đúng theo như những điều đã được truyền đạt cho chúng ta từ những nhân chứng đầu tiên và những người phục vụ Lời Chúa; 3. vì vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu mọi việc từ đầu – Thưa ngài Thê-ô-phi-lơ kính mến - tôi thiết tưởng cũng nên theo thứ tự mà viết cho ngài, 4. để ngài có thể biết những điều mình đã được hướng dẫn là chắc chắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Vào thời Hê-rốt làm vua xứ Giu-đê, có một tư tế thuộc phân ban A-bi-gia, tên là Xa-cha-ri; vợ là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi của A-rôn. 6. Cả hai đều là người công chính trước mặt Đức Chúa Trời, đi theo tất cả những điều răn và luật lệ của Chúa không chút khiếm khuyết. 7. Tuy nhiên họ không có con, bởi vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn và cả hai đều đã cao tuổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Và rồi, để làm trọn trách nhiệm phục vụ tế lễ theo thứ tự của ban mình trước mặt Đức Chúa Trời. 9. theo thông lệ của các tư tế, ông đã bắt thăm, và trúng phần dâng hương trong đền thờ của Chúa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Trong giờ dâng hương, tất cả đoàn dân cầu nguyện ở bên ngoài. 11. Một thiên sứ của Chúa hiện đến với ông, đứng ngay bên phải của bàn thờ dâng hương. 12. Nhìn thấy thiên sứ, Xa-cha-ri bối rối, sự kinh hãi bao phủ ông. 13. Sau đó, thiên sứ nói với ông:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Xa-cha-ri, đừng sợ! Bởi vì lời cầu nguyện của ngươi đã được lắng nghe. Ê-li-sa-bét, vợ của ngươi, sẽ sinh cho ngươi một con trai; và ngươi hãy đặt tên cho nó là Giăng. 14. Nó sẽ là niềm vui và sự hân hoan cho ngươi, và nhiều người sẽ vui mừng khi đứa trẻ được sinh ra. 15. Bởi vì nó sẽ được tôn trọng ở trước mặt Chúa; nó sẽ không uống rượu nho hay rượu mạnh, và nó sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ. 16. Nó sẽ đem nhiều người Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ; 17. và nó sẽ đi trước Chúa với tinh thần và quyền năng của Ê-li, hướng lòng của những người cha trở về với các con, và kẻ bội nghịch sẽ trở về với sự khôn ngoan của người công chính, để chuẩn bị một dân tộc sẵn sàng cho Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Nhưng Xa-cha-ri nói với thiên sứ: “Nhờ điều gì mà tôi biết có việc nầy? Bởi vì tôi đã già, và vợ tôi đã cao tuổi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Thiên sứ trả lời và nói cùng ông: “Ta là Gáp-ri-ên, là đấng đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Ta được sai đến để nói với ngươi và mang những tin vui nầy cho ngươi. 20. Nầy, ngươi sẽ bị câm, không thể nói được cho đến ngày những điều đó xảy ra, bởi vì ngươi đã không tin những lời của ta, là những lời sẽ được ứng nghiệm theo kỳ định của chúng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Dân chúng đang chờ đợi Xa-cha-ri; và họ ngạc nhiên bởi vì ông ở lâu trong đền thờ. 22. Sau đó, ông đã đi ra nhưng không nói được với họ, và họ nhận biết rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thờ. Ông đã ra dấu cho họ, bởi vì vẫn còn bị câm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Và rồi, khi những ngày phục vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Sau những ngày đó, vợ của ông là Ê-li-sa-bét mang thai, và bà đã ẩn mình trong năm tháng, và nói: 25. “Thật vậy, đây là việc Chúa đã làm cho tôi. Trong những ngày nầy, Ngài đã đoái đến tôi, và cất đi sự hổ nhục của tôi ở giữa mọi người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Và rồi đến tháng thứ sáu, thiên sứ Gáp-ri-ên được Đức Chúa Trời sai đến một thị trấn tại Ga-li-lê, gọi là Na-xa-rét, 27. đến cùng một trinh nữ đã đính hôn với một người nam, tên là Giô-sép, thuộc dòng Đa-vít; và tên của trinh nữ là Ma-ri.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Đến gặp cô, thiên sứ đã nói: “Chào người được ơn! Chúa ở cùng cô!” 29. Ma-ri  bối rối về lời nầy, và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30. Thiên sứ nói cùng cô: “Ma-ri! Đừng sợ, bởi vì cô đã được ơn của Đức Chúa Trời. 31. Nầy, cô sẽ thụ thai, và sẽ sinh một con trai, rồi cô sẽ đặt tên Ngài là Jesus. 32. Ngài sẽ rất cao trọng, và sẽ được gọi là Con của Đấng Chí Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi của Đa-vít, của tổ phụ Ngài. 33. Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời; vương quốc của Ngài sẽ trường tồn mãi mãi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34. Sau đó Ma-ri nói với thiên sứ: “Làm sao việc này có thể xảy ra, bởi vì tôi chưa hề biết một người nam nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35. Thiên sứ trả lời và nói với nàng: “Đức Thánh Linh sẽ ngự trên cô, và quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ che phủ cô; cho nên Đấng Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con của Đức Chúa Trời. 36. Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con của cô, cũng đã mang thai một con trai trong lúc tuổi già. Bà được gọi là người hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi. 37. Bởi vì không có việc gì Đức Chúa Trời không làm được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38. Sau đó Ma-ri nói: “Tôi đây là tớ gái của Chúa. Nguyện xin điều đó xảy ra cho tôi theo như lời của ngài.” Và rồi thiên sứ rời khỏi nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39. Sau những ngày đó, Ma-ri chỗi dậy, vội vàng đi về miền núi, đến một thị trấn của Giu-đa, 40. vào trong nhà của Xa-cha-ri, và chào Ê-li-sa-bét.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
41. Khi Ê-li-sa-bét nghe tiếng Ma-ri chào, thai nhi trong bụng của bà liền nhảy lên. Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Đức Thánh Linh; 42. bà nói lớn tiếng rằng: “Cô là người được phước ở giữa những phụ nữ; bông trái trong dạ của cô cũng được phước! 43. Nhờ đâu mà tôi được vinh hạnh này, đó là mẹ của Chúa của tôi đã đến thăm tôi? 44. Bởi vì kìa, khi tai của tôi vừa nghe tiếng cô chào, thì thai nhi trong bụng của tôi liền nhảy mừng. 45. Phước cho người đã tin rằng những điều từ Chúa đã phán cho mình sẽ được ứng nghiệm”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46. Ma-ri nói: “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa, 47. tâm linh tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
48. Vì Ngài đã đoái đến thân phận hèn hạ của tớ gái của Ngài. Vì từ nay về sau, mọi thế hệ sẽ gọi tôi là người có phước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
49. Bởi vì Đấng Toàn Năng đã làm những việc diệu kỳ cho tôi. Danh Ngài là thánh! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50. Từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, sự thương xót của Ngài dành cho những người kính sợ Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
51. Ngài đã thể hiện quyền năng với tay của Ngài; và Ngài đã làm tan tác những kẻ có tư tưởng kiêu ngạo trong lòng của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
52. Ngài đã truất phế những kẻ thống trị khỏi ngôi, và cất nhắc những người khiêm nhường lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
53. Ngài đã làm cho người đói được đầy thức ngon, và đuổi kẻ giàu đi không có gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
54. Ngài đã giúp Y-sơ-ra-ên, là đầy tớ của Ngài, và nhớ lại sự thương xót của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
55. Như Ngài đã phán với tổ phụ chúng ta, với Áp-ra-ham và dòng dõi của người đến muôn đời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
56. Ma-ri ở lại với bà khoảng ba tháng, rồi trở về nhà của nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
57. Bây giờ Ê-li-sa-bét đã đủ thời hạn để sinh, bà đã sinh một con trai. 58. Láng giềng và bà con, nghe tin Chúa đã tỏ lòng thương xót lớn lao với bà, đã chung vui với bà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
59. Đến ngày thứ tám, họ đến để cắt bì cho đứa trẻ và đặt tên nó là Xa-cha-ri, theo tên cha của nó. 60. Nhưng mẹ của nó nói rằng: “Không! Nó phải được gọi là Giăng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
61. Họ nói với bà: “Trong thân tộc của bà, không ai có tên này.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
62. Sau đó, họ ra dấu cho người cha của nó, hỏi ông muốn đặt tên nó là gì. 63. Ông bảo lấy một tấm bảng nhỏ, rồi viết rằng: “Tên của nó là Giăng.” Tất cả đều kinh ngạc. 64. Ngay lập tức, miệng của ông mở ra, rồi đến lưỡi của ông, và ông nói lời chúc tụng Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
65. Sự kinh hãi đổ xuống trên tất cả những người ở chung quanh đó, và mọi người đã bàn tán về những điều nầy khắp vùng đồi núi của Giu-đê. 66. Mọi người đã nghe những điều đó, đều ghi nhớ trong lòng của họ, và nói: “Đứa trẻ nầy về sau sẽ thế nào? Bởi vì tay của Chúa đã ở cùng nó.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
67. Xa-cha-ri, cha của đứa trẻ, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nói tiên tri rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
68. “Tôn ngợi Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, bởi vì Ngài đã thăm viếng và cứu chuộc dân của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
69. Ngài đã dấy lên một sừng cứu rỗi cho chúng ta, trong nhà Đa-vít, là đầy tớ của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
70. Như Ngài đã phán qua miệng các tiên tri thánh của Ngài từ thuở xưa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
71. Ngài giải cứu chúng ta khỏi những kẻ thù của chúng ta, và khỏi tay mọi người ghen ghét chúng ta;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
72. Ngài tỏ lòng thương xót với tổ tiên của chúng ta, và nhớ lại giao ước thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
73. Là lời hứa mà Ngài đã thề với Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, để ban cho chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
74. Chúng ta được giải cứu khỏi tay những kẻ thù, để phục vụ Ngài không chút sợ hãi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
75. Trong sự thánh khiết và sự công chính tại trước mặt Ngài trọn đời của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
76. Và bây giờ, con - một đứa trẻ - sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Chí Cao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì con sẽ đi trước Chúa, để chuẩn bị những con đường cho Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
77. Để ban sự hiểu biết về sự cứu rỗi cho dân của Ngài, qua sự tha thứ tội lỗi của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
78. Nhờ sự nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời của chúng ta, mà ánh dương từ trên cao sẽ thăm viếng chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
79. Để soi sáng cho những người đang ngồi trong nơi tối tăm và trong bóng của sự chết, để hướng dẫn những bước chân của chúng ta vào đường lối an bình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
80. Đứa trẻ lớn lên, tâm linh mạnh mẽ, và sống trong những nơi hoang vắng cho đến ngày xuất hiện với dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời mở đầu'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do có nhiều người đã cố gắng biên soạn một bản ký thuật về những việc đã xảy ra ở giữa chúng ta, đúng theo như những điều đã được truyền đạt cho chúng ta từ những nhân chứng đầu tiên và những người phục vụ Lời Chúa; vì vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu mọi việc từ đầu – Thưa ngài Thê-ô-phi-lơ kính mến - tôi thiết tưởng cũng nên theo thứ tự mà viết cho ngài, để ngài có thể biết những điều mình đã được hướng dẫn là chắc chắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời tiên tri về sự ra đời của Giăng Báp-tít'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào thời Hê-rốt làm vua xứ Giu-đê, có một tư tế thuộc phân ban A-bi-gia, tên là Xa-cha-ri; vợ là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi của A-rôn. Cả hai đều là người công chính trước mặt Đức Chúa Trời, sống theo mọi điều răn và lễ nghi của Chúa không một chút khiếm khuyết. Tuy nhiên họ không có con, bởi vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn và cả hai đều đã cao tuổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi, để làm trọn trách nhiệm phục vụ tế lễ theo thứ tự của ban mình trước mặt Đức Chúa Trời. theo thông lệ của các tư tế, ông đã bắt thăm, và trúng phần dâng hương trong đền thờ của Chúa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong giờ dâng hương, tất cả đoàn dân cầu nguyện ở bên ngoài. Một thiên sứ của Chúa hiện đến với ông, đứng ngay bên phải của bàn thờ dâng hương. Nhìn thấy thiên sứ, Xa-cha-ri bối rối, sự kinh hãi bao phủ ông. Sau đó, thiên sứ nói với ông:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Xa-cha-ri, đừng sợ! Bởi vì lời cầu nguyện của ngươi đã được lắng nghe. Ê-li-sa-bét, vợ của ngươi, sẽ sinh cho ngươi một con trai; và ngươi hãy đặt tên cho nó là Giăng. Nó sẽ là niềm vui và sự hân hoan cho ngươi, và nhiều người sẽ vui mừng khi đứa trẻ được sinh ra. Bởi vì nó sẽ được tôn trọng ở trước mặt Chúa; nó sẽ không uống rượu nho hay rượu mạnh, và nó sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ. Nó sẽ đem nhiều người Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ; và nó sẽ đi trước Chúa với tinh thần và quyền năng của Ê-li, hướng lòng của những người cha trở về với các con, và kẻ bội nghịch sẽ trở về với sự khôn ngoan của người công chính, để chuẩn bị một dân tộc sẵn sàng cho Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng Xa-cha-ri nói với thiên sứ: “Nhờ điều gì mà tôi biết có việc nầy? Bởi vì tôi đã già, và vợ tôi đã cao tuổi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thiên sứ trả lời và nói cùng ông: “Ta là Gáp-ri-ên, là đấng đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Ta được sai đến để nói với ngươi và mang những tin vui nầy cho ngươi. Nầy, ngươi sẽ bị câm, không thể nói được cho đến ngày những điều đó xảy ra, bởi vì ngươi đã không tin những lời của ta, là những lời sẽ được ứng nghiệm theo kỳ định của chúng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dân chúng đang chờ đợi Xa-cha-ri; và họ ngạc nhiên bởi vì ông ở lâu trong đền thờ. Sau đó, ông đã đi ra nhưng không nói được với họ, và họ nhận biết rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thờ. Ông đã ra dấu cho họ, bởi vì vẫn còn bị câm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi, khi những ngày phục vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau những ngày đó, vợ của ông là Ê-li-sa-bét mang thai, và bà đã ẩn mình trong năm tháng, và nói: “Thật vậy, đây là việc Chúa đã làm cho tôi. Trong những ngày nầy, Ngài đã đoái đến tôi, và cất đi sự hổ nhục của tôi ở giữa mọi người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thiên sứ báo tin cho Ma-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi đến tháng thứ sáu, thiên sứ Gáp-ri-ên được Đức Chúa Trời sai đến một thị trấn tại Ga-li-lê, gọi là Na-xa-rét, đến cùng một trinh nữ đã đính hôn với một người nam, tên là Giô-sép, thuộc dòng Đa-vít; và tên của trinh nữ là Ma-ri.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến gặp cô, thiên sứ đã nói: “Chào người được ơn! Chúa ở cùng cô!” Ma-ri  bối rối về lời nầy, và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thiên sứ nói cùng cô: “Ma-ri! Đừng sợ, bởi vì cô đã được ơn của Đức Chúa Trời. Nầy, cô sẽ thụ thai, và sẽ sinh một con trai, rồi cô sẽ đặt tên Ngài là Jesus. Ngài sẽ rất cao trọng, và sẽ được gọi là Con của Đấng Chí Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi của Đa-vít, của tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời; vương quốc của Ngài sẽ trường tồn mãi mãi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó Ma-ri nói với thiên sứ: “Làm sao việc này có thể xảy ra, bởi vì tôi chưa hề biết một người nam nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thiên sứ trả lời và nói với nàng: “Đức Thánh Linh sẽ ngự trên cô, và quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ che phủ cô; cho nên Đấng Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con của Đức Chúa Trời. Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con của cô, cũng đã mang thai một con trai trong lúc tuổi già. Bà được gọi là người hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi. Bởi vì không có việc gì Đức Chúa Trời không làm được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó Ma-ri nói: “Tôi đây là tớ gái của Chúa. Nguyện xin điều đó xảy ra cho tôi theo như lời của ngài.” Và rồi thiên sứ rời khỏi nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ma-ri viếng thăm Ê-li-sa-bét'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau những ngày đó, Ma-ri chỗi dậy, vội vàng đi về miền núi, đến một thị trấn của Giu-đa, vào trong nhà của Xa-cha-ri, và chào Ê-li-sa-bét.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi Ê-li-sa-bét nghe tiếng Ma-ri chào, thai nhi trong bụng của bà liền nhảy lên. Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Đức Thánh Linh; bà nói lớn tiếng rằng: “Cô là người được phước ở giữa những phụ nữ; bông trái trong dạ của cô cũng được phước! Nhờ đâu mà tôi được vinh hạnh này, đó là mẹ của Chúa của tôi đã đến thăm tôi? Bởi vì kìa, khi tai của tôi vừa nghe tiếng cô chào, thì thai nhi trong bụng của tôi liền nhảy mừng. Phước cho người đã tin rằng những điều từ Chúa đã phán cho mình sẽ được ứng nghiệm”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bài ca của Ma-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ma-ri nói: “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa, tâm linh tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ngài đã đoái đến thân phận hèn hạ của tớ gái của Ngài. Vì từ nay về sau, mọi thế hệ sẽ gọi tôi là người có phước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì Đấng Toàn Năng đã làm những việc diệu kỳ cho tôi. Danh Ngài là thánh! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, sự thương xót của Ngài dành cho những người kính sợ Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã thể hiện quyền năng với tay của Ngài; và Ngài đã làm tan tác những kẻ có tư tưởng kiêu ngạo trong lòng của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã truất phế những kẻ thống trị khỏi ngôi, và cất nhắc những người khiêm nhường lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã làm cho người đói được đầy thức ngon, và đuổi kẻ giàu đi không có gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã giúp Y-sơ-ra-ên, là đầy tớ của Ngài, và nhớ lại sự thương xót của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như Ngài đã phán với tổ phụ chúng ta, với Áp-ra-ham và dòng dõi của người đến muôn đời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ma-ri ở lại với bà khoảng ba tháng, rồi trở về nhà của nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giăng Báp-tít ra đời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bây giờ Ê-li-sa-bét đã đủ thời hạn để sinh, bà đã sinh một con trai. Láng giềng và bà con, nghe tin Chúa đã tỏ lòng thương xót lớn lao với bà, đã chung vui với bà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến ngày thứ tám, họ đến để cắt bì cho đứa trẻ và đặt tên nó là Xa-cha-ri, theo tên cha của nó. Nhưng mẹ của nó nói rằng: “Không! Nó phải được gọi là Giăng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Họ nói với bà: “Trong thân tộc của bà, không ai có tên này.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó, họ ra dấu cho người cha của nó, hỏi ông muốn đặt tên nó là gì. Ông bảo lấy một tấm bảng nhỏ, rồi viết rằng: “Tên của nó là Giăng.” Tất cả đều kinh ngạc. Ngay lập tức, miệng của ông mở ra, rồi đến lưỡi của ông, và ông nói lời chúc tụng Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sự kinh hãi đổ xuống trên tất cả những người ở chung quanh đó, và mọi người đã bàn tán về những điều nầy khắp vùng đồi núi của Giu-đê. Mọi người đã nghe những điều đó, đều ghi nhớ trong lòng của họ, và nói: “Đứa trẻ nầy về sau sẽ thế nào? Bởi vì tay của Chúa đã ở cùng nó.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bài ca của Xa-cha-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xa-cha-ri, cha của đứa trẻ, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nói tiên tri rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Tôn ngợi Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, bởi vì Ngài đã thăm viếng và cứu chuộc dân của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã dấy lên một sừng cứu rỗi cho chúng ta, trong nhà Đa-vít, là đầy tớ của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như Ngài đã phán qua miệng các tiên tri thánh của Ngài từ thuở xưa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài giải cứu chúng ta khỏi những kẻ thù của chúng ta, và khỏi tay mọi người ghen ghét chúng ta;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài tỏ lòng thương xót với tổ tiên của chúng ta, và nhớ lại giao ước thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Là lời hứa mà Ngài đã thề với Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, để ban cho chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng ta được giải cứu khỏi tay những kẻ thù, để phục vụ Ngài không chút sợ hãi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong sự thánh khiết và sự công chính tại trước mặt Ngài trọn đời của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và bây giờ, con - một đứa trẻ - sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Chí Cao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì con sẽ đi trước Chúa, để chuẩn bị những con đường cho Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Để ban sự hiểu biết về sự cứu rỗi cho dân của Ngài, qua sự tha thứ tội lỗi của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhờ sự nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời của chúng ta, mà ánh dương từ trên cao sẽ thăm viếng chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Để soi sáng cho những người đang ngồi trong nơi tối tăm và trong bóng của sự chết, để hướng dẫn những bước chân của chúng ta vào đường lối an bình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đứa trẻ lớn lên, tâm linh mạnh mẽ, và sống trong những nơi hoang vắng cho đến ngày xuất hiện với dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời mở đầu'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Do có nhiều người đã cố gắng biên soạn một bản ký thuật về những việc đã xảy ra ở giữa chúng ta, 2. đúng theo như những điều đã được truyền đạt cho chúng ta từ những nhân chứng đầu tiên và những người phục vụ Ngôi Lời; 3. vì vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu mọi việc từ đầu – Thưa ngài Thê-ô-phi-lơ kính mến - tôi thiết tưởng cũng nên theo thứ tự mà viết cho ngài, 4. để ngài có thể biết những điều mình đã được hướng dẫn là chắc chắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời tiên tri về sự ra đời của Giăng Báp-tít'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Vào thời Hê-rốt làm vua xứ Giu-đê, có một tư tế thuộc phân ban A-bi-gia, tên là Xa-cha-ri; vợ là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi của A-rôn. 6. Cả hai đều là người công chính trước mặt Đức Chúa Trời, bước đi trong mọi điều răn và lễ nghi của Chúa không hề khiếm khuyết. 7. Tuy nhiên họ không có con, bởi vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn và cả hai đều đã cao tuổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Và rồi, để làm trọn trách nhiệm phục vụ tế lễ theo thứ tự của ban mình trước mặt Đức Chúa Trời. 9. theo thông lệ của các tư tế, ông đã bắt thăm, và trúng phần dâng hương trong đền thờ của Chúa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Trong giờ dâng hương, tất cả đoàn dân cầu nguyện ở bên ngoài. 11. Một thiên sứ của Chúa hiện đến với ông, đứng ngay bên phải của bàn thờ dâng hương. 12. Nhìn thấy thiên sứ, Xa-cha-ri bối rối, sự kinh hãi bao phủ ông. 13. Sau đó, thiên sứ nói với ông:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Xa-cha-ri, đừng sợ! Bởi vì lời cầu nguyện của ngươi đã được lắng nghe. Ê-li-sa-bét, vợ của ngươi, sẽ sinh cho ngươi một con trai; và ngươi hãy đặt tên cho nó là Giăng. 14. Nó sẽ là niềm vui và sự hân hoan cho ngươi, và nhiều người sẽ vui mừng khi đứa trẻ được sinh ra. 15. Bởi vì nó sẽ được tôn trọng ở trước mặt Chúa; nó sẽ không uống rượu nho hay rượu mạnh, và nó sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ của nó. 16. Nó sẽ đem nhiều người Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ; 17. và nó sẽ đi trước Chúa với tinh thần và quyền năng của Ê-li, hướng lòng của những người cha trở về với các con, và kẻ bội nghịch sẽ trở về với sự khôn ngoan của người công chính, để chuẩn bị một dân tộc sẵn sàng cho Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Nhưng Xa-cha-ri nói với thiên sứ: “Nhờ điều gì mà tôi biết có việc nầy? Bởi vì tôi đã già, và vợ tôi đã cao tuổi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Thiên sứ trả lời và nói cùng ông: “Ta là Gáp-ri-ên, là đấng đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Ta được sai đến để nói với ngươi và mang những tin vui nầy cho ngươi. 20. Nầy, ngươi sẽ bị câm, không thể nói được cho đến ngày những điều đó xảy ra, bởi vì ngươi đã không tin những lời của ta, là những lời sẽ được ứng nghiệm theo kỳ định của chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Dân chúng đang chờ đợi Xa-cha-ri; và họ ngạc nhiên bởi vì ông ở lâu trong đền thờ. 22. Sau đó, ông đã đi ra nhưng không nói được với họ, và họ nhận biết rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thờ. Ông đã ra dấu cho họ, bởi vì vẫn còn bị câm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Và rồi, khi những ngày phục vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Sau những ngày đó, vợ của ông là Ê-li-sa-bét mang thai, và bà đã ẩn mình trong năm tháng, và nói: 25. “Thật vậy, đây là việc Chúa đã làm cho tôi. Trong những ngày nầy, Ngài đã đoái đến tôi, và cất đi sự hổ nhục của tôi ở giữa mọi người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thiên sứ báo tin cho Ma-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Và rồi đến tháng thứ sáu, thiên sứ Gáp-ri-ên được Đức Chúa Trời sai đến một thị trấn tại Ga-li-lê, gọi là Na-xa-rét, 27. đến cùng một trinh nữ đã đính hôn với một người nam, tên là Giô-sép, thuộc dòng Đa-vít; và tên của trinh nữ là Ma-ri.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Đến gặp cô, người đã nói: “Chào người được ơn! Chúa ở cùng cô!” 29. Ma-ri  bối rối về lời công bố nầy, và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30. Thiên sứ nói cùng cô: “Ma-ri! Đừng sợ, bởi vì cô đã được ơn của Đức Chúa Trời. 31. Nầy, cô sẽ thụ thai, và sẽ sinh một con trai, rồi cô sẽ đặt tên Ngài là Jesus. 32. Ngài sẽ rất cao trọng, và sẽ được gọi là Con của Đấng Chí Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít của tổ phụ Ngài. 33. Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời; vương quốc của Ngài sẽ bất tận.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34. Sau đó Ma-ri nói với thiên sứ: “Làm sao việc này có thể xảy ra, bởi vì tôi chưa hề biết một người nam nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35. Thiên sứ trả lời và nói với nàng: “Đức Thánh Linh sẽ ngự trên cô, và quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ che phủ cô; cho nên Đấng Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con của Đức Chúa Trời. 36. Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con của cô, cũng đã mang thai một con trai trong lúc tuổi già. Bà được gọi là người hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi. 37. Bởi vì không có việc gì Đức Chúa Trời không làm được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38. Sau đó Ma-ri nói: “Tôi đây là tớ gái của Chúa. Nguyện xin điều đó xảy ra cho tôi theo như lời của ngài.” Và rồi thiên sứ rời khỏi nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ma-ri viếng thăm Ê-li-sa-bét'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39. Sau những ngày đó, Ma-ri chỗi dậy, vội vàng đi về miền núi, đến một thị trấn của Giu-đa, 40. vào trong nhà của Xa-cha-ri, và chào Ê-li-sa-bét.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
41. Khi Ê-li-sa-bét nghe tiếng Ma-ri chào, thai nhi trong bụng của bà liền nhảy lên. Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Đức Thánh Linh; 42. bà nói lớn tiếng rằng: “Cô là người được phước ở giữa những phụ nữ; bông trái trong dạ của cô cũng được phước! 43. Nhờ đâu mà tôi được vinh hạnh này, đó là mẹ của Chúa của tôi đã đến thăm tôi? 44. Bởi vì kìa, khi tai của tôi vừa nghe tiếng cô chào, thì thai nhi trong bụng của tôi liền nhảy mừng. 45. Phước cho người đã tin rằng những điều từ Chúa đã phán cho mình sẽ được ứng nghiệm”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bài ca của Ma-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46. Ma-ri nói: “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa, 47. tâm linh tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
48. Vì Ngài đã đoái đến thân phận hèn hạ của tớ gái của Ngài. Vì từ nay về sau, mọi thế hệ sẽ gọi tôi là người có phước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
49. Bởi vì Đấng Toàn Năng đã làm những việc diệu kỳ cho tôi. Danh Ngài là thánh! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50. Từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, sự thương xót của Ngài dành cho những người kính sợ Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
51. Ngài đã thể hiện quyền năng với tay của Ngài; và Ngài đã làm tan tác những kẻ có tư tưởng kiêu ngạo trong lòng của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
52. Ngài đã truất phế những kẻ thống trị khỏi ngôi, và cất nhắc những người khiêm nhường lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
53. Ngài đã làm cho người đói được đầy thức ngon, và đuổi kẻ giàu đi không còn gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
54. Ngài đã giúp Y-sơ-ra-ên, là đầy tớ của Ngài, và nhớ lại sự thương xót của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
55. Như Ngài đã phán với tổ phụ chúng ta, với Áp-ra-ham và dòng dõi của người đến muôn đời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
56. Ma-ri ở lại với bà khoảng ba tháng, rồi trở về nhà của nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giăng Báp-tít ra đời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
57. Bây giờ Ê-li-sa-bét đã đủ thời hạn để sinh, bà đã sinh một con trai. 58. Láng giềng và bà con, nghe tin Chúa đã tỏ lòng thương xót lớn lao với bà, đã chung vui với bà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
59. Đến ngày thứ tám, họ đến để cắt bì cho đứa trẻ và đặt tên nó là Xa-cha-ri, theo tên cha của nó. 60. Nhưng mẹ của nó nói rằng: “Không! Nó phải được gọi là Giăng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
61. Họ nói với bà: “Trong thân tộc của bà, không ai có tên này.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
62. Sau đó, họ ra dấu cho người cha của nó, hỏi ông muốn đặt tên nó là gì. 63. Ông bảo lấy một tấm bảng nhỏ, rồi viết rằng: “Tên của nó là Giăng.” Tất cả đều kinh ngạc. 64. Ngay lập tức, miệng của ông mở ra, rồi đến lưỡi của ông, và ông nói lời chúc tụng Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
65. Sự kinh hãi đổ xuống trên tất cả những người ở chung quanh đó, và mọi người đã bàn tán về những điều nầy khắp vùng đồi núi của Giu-đê. 66. Mọi người đã nghe những điều đó, đều đặt để chúng trong lòng của họ, và nói: “Đứa trẻ nầy về sau sẽ thế nào? Bởi vì tay của Chúa đã ở cùng nó.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bài ca của Xa-cha-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
67. Xa-cha-ri, cha của đứa trẻ, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nói tiên tri rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
68. “Tôn ngợi Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, bởi vì Ngài đã thăm viếng và cứu chuộc dân của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
69. Ngài đã dấy lên một sừng cứu rỗi cho chúng ta, trong nhà Đa-vít, là đầy tớ của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
70. Như Ngài đã phán qua miệng các tiên tri thánh của Ngài từ thuở xưa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
71. Ngài giải cứu chúng ta khỏi những kẻ thù của chúng ta, và khỏi tay mọi người ghen ghét chúng ta;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
72. Ngài tỏ lòng thương xót với tổ tiên của chúng ta, và nhớ lại giao ước thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
73. Là lời hứa mà Ngài đã thề với Áp-ra-ham, tổ phụ của chúng ta, để ban cho chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
74. Chúng ta được giải cứu khỏi tay những kẻ thù, để phục vụ Ngài không chút sợ hãi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
75. Trong sự thánh khiết và sự công chính tại trước mặt Ngài trọn đời của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
76. Và bây giờ, con - một đứa trẻ - sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Chí Cao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì con sẽ đi trước Chúa, để chuẩn bị những con đường cho Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
77. Để ban sự hiểu biết về sự cứu rỗi cho dân của Ngài, qua sự tha thứ tội lỗi của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
78. Nhờ sự nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời chúng ta, mà ánh dương từ trên cao sẽ thăm viếng chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
79. Để soi sáng cho những người đang ngồi trong nơi tối tăm và trong bóng của sự chết, để hướng dẫn những bước chân của chúng ta vào đường lối an bình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
80. Đứa trẻ lớn lên, tâm linh mạnh mẽ, và sống trong những nơi hoang vắng cho đến ngày xuất hiện của mình cho dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Hỡi Thê-ô-phi-lơ quí nhân, vì có nhiều kẻ dốc lòng chép sử về những sự đã làm nên trong chúng ta, 2.  theo như các người chứng kiến từ lúc ban đầu và trở nên người giảng đạo đã truyền lại cho chúng ta, 3.  vậy, sau khi đã xét kỹ càng từ đầu mọi sự ấy, tôi cũng tưởng nên theo thứ tự viết mà tỏ ra cho ông, 4.  để ông biết những điều mình đã học là chắc chắn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Trong đời Hê-rốt, vua nước Giu-đê, có một thầy tế lễ, về ban A-bi-a, tên là Xa-cha-ri; vợ người là Ê-li-sa-bét, thuộc về chi phái A-rôn. 6.  Cả hai đều là công bình trước mặt Đức Chúa Trời, vâng giữ mọi điều răn và lễ nghi của Chúa một cách không chỗ trách được. 7.  Hai người không có con, vì Ê-li-sa-bét son sẻ, và cả hai đều cao tuổi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vả, Xa-cha-ri cứ theo thứ tự trong ban mình mà làm chức tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời. 9.  Khi đã bắt thăm theo lệ các thầy cả lập ra rồi, thì người được gọi vào nơi thánh của Chúa để dâng hương. 10.  Đang giờ dâng hương, cả đoàn dân đông đều ở ngoài cầu nguyện. 11.  Bấy giờ có một thiên sứ của Chúa hiện ra cùng Xa-cha-ri, đứng bên hữu bàn thờ xông hương. 12.  Xa-cha-ri thấy thì bối rối sợ hãi. 13.  Nhưng thiên sứ nói cùng người rằng: Hỡi Xa-cha-ri, đừng sợ, vì lời cầu nguyện ngươi đã được nhậm rồi. Ê-li-sa-bét vợ ngươi, sẽ sanh một con trai, ngươi khá đặt tên là Giăng. 14.  Con trai đó sẽ làm cho ngươi vui mừng hớn hở, và nhiều kẻ sẽ mừng rỡ về sự sanh người ra. 15.  Vì người sẽ nên tôn trọng trước mặt Chúa; không uống rượu hay là giống gì làm cho say, và sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ. 16.  Người sẽ làm cho nhiều con trai Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ; 17.  chính người lại sẽ lấy tâm thần quyền phép Ê-li mà đi trước mặt Chúa, để đem lòng cha trở về con cái, kẻ loạn nghịch đến sự khôn ngoan của người công bình, đặng sửa soạn cho Chúa một dân sẵn lòng. 18.  Xa-cha-ri thưa rằng: Bởi sao tôi biết được điều đó? Vì tôi đã già, vợ tôi đã cao tuổi rồi. 19.  Thiên sứ trả lời rằng: Ta là Gáp-ri-ên, đứng trước mặt Đức Chúa Trời; Ngài đã sai ta đến truyền cho ngươi và báo tin mừng nầy. 20.  Nầy, ngươi sẽ câm, không nói được cho đến ngày nào các điều ấy xảy ra, vì ngươi không tin lời ta, là lời đến kỳ sẽ ứng nghiệm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Bấy giờ, dân chúng đợi Xa-cha-ri, và lấy làm lạ, vì người ở lâu trong nơi thánh. 22.  Khi Xa-cha-ri ra, không nói với chúng được, thì họ mới hiểu rằng người đã thấy sự hiện thấy gì trong đền thánh; người ra dấu cho họ, mà vẫn còn câm. 23.  Khi những ngày về phần việc mình đã trọn, người trở về nhà. 24.  Khỏi ít lâu, vợ người là Ê-li-sa-bét chịu thai, ẩn mình đi trong năm tháng, mà nói rằng: 25.  Ấy là ơn Chúa đã làm cho tôi, khi Ngài đã đoái đến tôi, để cất sự xấu hổ tôi giữa mọi người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Đến tháng thứ sáu, Đức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến thành Na-xa- rét, xứ Ga-li-lê, 27.  tới cùng một người nữ đồng trinh tên là Ma-ri, đã hứa gả cho một người nam tên là Giô-sép, về dòng vua Đa-vít. 28.  Thiên sứ vào chỗ người nữ ở, nói rằng: Hỡi người được ơn, mừng cho ngươi; Chúa ở cùng ngươi. 29.  Ma-ri nghe nói thì bối rối, tự hỏi rằng lời chào ấy có nghĩa gì. 30.  Thiên-sứ bèn nói rằng: Hỡi Ma-ri, đừng sợ, vì ngươi đã được ơn trước mặt Đức Chúa Trời. 31.  Nầy, ngươi sẽ chịu thai và sanh một con trai mà đặt tên là Jêsus. 32.  Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài. 33.  Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng. 34.  Ma-ri bèn thưa rằng: Tôi chẳng hề nhận biết người nam nào, thì làm sao có được sự đó? 35.  Thiên sứ truyền rằng: Đức Thánh Linh sẽ đến trên ngươi, và quyền phép Đấng Rất Cao sẽ che phủ ngươi dưới bóng mình, cho nên con thánh sanh ra, phải xưng là Con Đức Chúa Trời. 36.  Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con ngươi, cũng đã chịu thai một trai trong lúc già nua; người ấy vốn có tiếng là son, mà nay cưu mang được sáu tháng rồi. 37.  Bởi vì không việc chi Đức Chúa Trời chẳng làm được. 38.  Ma-ri thưa rằng: Tôi đây là tôi tớ Chúa; xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền! Đoạn thiên sứ lìa khỏi Ma-ri. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39.  Trong những ngày đó, Ma-ri chờ dậy, lật đật đi trong miền núi, đến một thành về xứ Giu-đa, 40.  vào nhà Xa-cha-ri mà chào Ê-li-sa-bét. 41.  Vả, Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng Ma-ri chào, con nhỏ ở trong lòng liền nhảy nhót; và Ê-li-sa-bét được đầy Đức Thánh Linh, 42.  bèn cất tiếng kêu rằng: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngươi có phước trong đám đàn bà, thai trong lòng ngươi cũng được phước. 43.  Nhân đâu ta được sự vẻ vang nầy, là mẹ Chúa ta đến thăm ta? 44.  Bởi vì tai ta mới nghe tiếng ngươi chào, thì con nhỏ ở trong lòng ta liền nhảy mừng. 45.  Phước cho người đã tin, vì lời Chúa truyền cho sẽ được ứng nghiệm! 46.  Ma-ri bèn nói rằng: Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, 47.  Tâm thần tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa tôi. 48.  Vì Ngài đã đoái đến sự hèn hạ của tôi tớ Ngài. Nầy, từ rày về sau, muôn đời sẽ khen tôi là kẻ có phước; 49.  Bởi Đấng Toàn Năng đã làm các việc lớn cho tôi. Danh Ngài là thánh, 50.  Và Ngài thương xót kẻ kính sợ Ngài từ đời nầy sang đời kia. 51.  Ngài đã dùng cánh tay mình để tỏ ra quyền phép; Và phá tan mưu của kẻ kiêu ngạo toan trong lòng. 52.  Ngài đã cách người có quyền khỏi ngôi họ, Và nhắc kẻ khiêm nhượng lên. 53.  Ngài đã làm cho kẻ đói được đầy thức ngon, Và đuổi kẻ giàu về tay không. 54.  Ngài đã vùa giúp Y-sơ-ra-ên, tôi tớ Ngài, Và nhớ lại sự thương xót mình. Đối với Áp-ra-ham cùng con cháu người luôn luôn, 55.  Như Ngài đã phán cùng tổ phụ chúng ta vậy. 56.  Ma-ri ở với Ê-li-sa-bét chừng ba tháng, rồi trở về nhà mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
57.  Bấy giờ, đến ngày mãn nguyệt, Ê-li-sa-bét sanh được một trai. 58.  Xóm riềng bà con nghe Chúa tỏ ra sự thương xót cả thể cho Ê-li-sa-bét, thì chia vui cùng người. 59.  Qua ngày thứ tám, họ đều đến để làm lễ cắt bì cho con trẻ; và đặt tên là Xa-cha-ri theo tên của cha. 60.  Nhưng mẹ nói rằng: Không! phải đặt tên con là Giăng. 61.  Họ nói: Trong bà con ngươi không ai có tên đó. 62.  Họ bèn ra dấu hỏi cha muốn đặt tên gì cho con. 63.  Xa-cha-ri biểu lấy bảng nhỏ, và viết rằng: Giăng là tên nó. Ai nấy đều lấy làm lạ. 64.  Tức thì miệng người mở ra, lưỡi được thong thả, nói và ngợi khen Đức Chúa Trời. 65.  Hết thảy xóm giềng đều kinh sợ, và người ta nói chuyện với nhau về mọi sự ấy khắp miền núi xứ Giu-đê. 66.  Ai nghe cũng ghi vào lòng mà nói rằng: Ấy vậy, con trẻ đó sẽ ra thể nào? Vì tay Chúa ở cùng con trẻ ấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
67.  Bấy giờ, Xa-cha-ri, cha con trẻ ấy, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, thì nói tiên tri rằng: 68.  Ngợi khen Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Vì đã thăm viếng và chuộc dân Ngài, 69.  Cùng sanh ra cho chúng tôi trong nhà Đa-vít, tôi tớ Ngài, Một Đấng Cứu thế có quyền phép! 70.  Như lời Ngài đã dùng miệng các thánh tiên tri phán từ thuở trước, 71.  Ngài cứu chúng tôi khỏi kẻ thù và tay mọi người ghen ghét chúng tôi; 72.  Ngài tỏ lòng thương xót đến tổ tông chúng tôi, Và nhớ lại lời giao ước thánh của Ngài, 73.  Theo như Ngài đã thề với Áp-ra-ham là tổ phụ chúng tôi, 74.  Mà hứa rằng khi chúng tôi đã được cứu khỏi tay kẻ nghịch thù, Ngài sẽ ban ơn lành cho chúng tôi, trước mặt Ngài, 75.  Lấy sự thánh khiết và công bình mà hầu việc Ngài, trọn đời mình không sợ hãi gì hết. 76.  Hỡi con trẻ, người ta sẽ kêu con là tiên tri của Đấng Rất Cao; Con sẽ đi trước mặt Chúa, dọn đường Ngài, 77.  Để cho dân Ngài bởi sự tha tội họ mà biết sự rỗi. 78.  Vì Đức Chúa Trời chúng tôi động lòng thương xót, Và mặt trời mọc lên từ nơi cao thăm viếng chúng tôi, 79.  Để soi những kẻ ngồi chỗ tối tăm và trong bóng sự chết, Cùng đưa chân chúng tôi đi đường bình an. 80.  Vả, con trẻ ấy lớn lên, tâm thần mạnh mẽ, ở nơi đồng vắng cho đến ngày tỏ mình ra cùng dân Y-sơ-ra-ên. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B42\V02B42C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Ngỏ đến Thê-ô-phi-lơ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vì có nhiều người đã cố gắng ghi lại những việc được thực hiện giữa chúng ta, 2 như lời những người đã chứng kiến từ ban đầu và những người đã trở thành tôi tớ của đạo Chúa truyền lại cho chúng ta, 3 nên sau khi tra cứu cẩn thận mọi việc từ đầu, tôi thiết tưởng cũng nên ghi lại một cách thứ tự cho ngài, thưa ngài Thê-ô-phi-lơ rất kính mến, 4 để ngài có thể biết cách xác thật về đạo mà ngài đã được dạy.    &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''THỜI THƠ ẤU VÀ ẨN DẬT CỦA GIĂNG BÁP-TÍT VÀ ÐỨC CHÚA JESUS'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(1:5-2:52)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Báo Tin Giăng Báp-tít Sinh Ra'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Trong thời Vua Hê-rốt xứ Giu-đê, có một tư tế tên là Xa-cha-ri, thuộc dòng tư tế A-bi-gia.  Vợ ông tên là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi A-rôn.  6 Cả hai vợ chồng là người công chính trước mặt Ðức Chúa Trời, vâng giữ các điều răn và mạng lịnh của Chúa không chỗ nào chê trách được.  7 Nhưng hai người không có con, vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn, và hai người đã cao tuổi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Một ngày kia Xa-cha-ri thi hành chức vụ tư tế trước mặt Ðức Chúa Trời theo phiên thứ của ông; 9 ông được trúng thăm theo thông lệ của các tư tế lúc bấy giờ để vào dâng hương trong đền thánh của Chúa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Ðúng vào giờ dâng hương, trong khi hội chúng đang cầu nguyện bên ngoài, 11 một thiên sứ của Chúa hiện ra với ông và đứng bên phải của bàn thờ dâng hương.  12 Khi Xa-cha-ri thấy vị thiên sứ, ông hoảng sợ và nỗi kinh hoàng phủ lấy ông.  13 Nhưng vị thiên sứ nói với ông, “Hỡi Xa-cha-ri, đừng sợ, vì lời cầu nguyện của ngươi đã được nhậm.  Ê-li-sa-bét vợ ngươi sẽ sinh cho ngươi một con trai, và ngươi sẽ đặt tên con trai đó là Giăng.  14 Ðứa con ấy sẽ là niềm vui hớn hở cho ngươi.  Nhiều người sẽ hoan hỉ khi nó chào đời, 15 vì nó sẽ thành một vĩ nhân trước mặt Chúa.  Nó sẽ không được uống rượu hay thức uống gì làm cho say.  Nó sẽ được đầy dẫy Ðức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ.  16 Nó sẽ làm cho nhiều người I-sơ-ra-ên quay về với Chúa, Ðức Chúa Trời của họ.  17 Nó sẽ đi trước mặt Chúa với tinh thần và quyền năng của Ê-li.  Nó sẽ làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, và những kẻ bội nghịch sẽ vâng theo sự khôn ngoan của người công chính, để chuẩn bị một dân sẵn sàng cho Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Xa-cha-ri thưa với thiên sứ, “Làm sao tôi biết việc này sẽ xảy ra, vì tôi đã già, còn vợ tôi lại cao tuổi?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Vị thiên sứ trả lời và nói với ông, “Ta là Gáp-ri-ên, đứng hầu trước mặt Ðức Chúa Trời, và ta được sai đến để nói với ngươi và báo cho ngươi tin mừng này.  20 Này, ngươi sẽ bị câm và không nói được cho đến ngày những điều ấy xảy ra, bởi vì ngươi không tin những lời ta, những lời sẽ xảy ra đúng kỳ đã định cho chúng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Trong khi đó dân chúng bên ngoài trông đợi Xa-cha-ri; họ hoang mang lo lắng vì ông ở trong đền thánh quá lâu.  22 Khi thấy ông trở ra và không thể nói được với họ, họ nhận biết rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thánh.  Ông cứ ra dấu với họ và không thể nói được.  23 Khi thời kỳ phục vụ của ông mãn, ông trở về nhà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Sau những ngày đó, bà Ê-li-sa-bét vợ ông thụ thai; bà sống ẩn dật trong năm tháng.  Bà nói, 25 “Ðây là điều Chúa đã làm cho tôi khi Ngài làm ơn cho tôi, Ngài đã cất khỏi tôi nỗi tủi hổ giữa người đời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thiên Sứ Báo Tin Chúa Giáng Sinh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Vào tháng thứ sáu, Ðức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến Thành Na-xa-rét, miền Ga-li-lê, 27 gặp một trinh nữ đã đính hôn với một thanh niên tên là Giô-sép, thuộc dòng Vua Ða-vít.  Trinh nữ ấy tên là Ma-ry.  28 Thiên sứ đến gặp nàng và nói, “Hỡi người được ơn, chúc mừng cô, Chúa ở cùng cô.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29 Nghe như thế Ma-ry bối rối và tự hỏi lời chào ấy có nghĩa gì.  30 Thiên sứ nói với nàng, “Hỡi Ma-ry, đừng sợ, vì cô đã được ơn trước mặt Ðức Chúa Trời.  31 Này, cô sẽ có thai, sinh một con trai, và cô sẽ đặt tên con trai ấy là Jesus.  32 Con trai ấy sẽ thành một vĩ nhân và sẽ được gọi là Con của Ðấng Tối Cao.  Chúa, Ðức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngai của Ða-vít tổ phụ Ngài.  33 Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời.  Vương quốc Ngài sẽ trường tồn bất tận.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34 Ma-ry thưa với thiên sứ, “Làm sao việc ấy có thể xảy ra được, vì tôi chưa hề biết một người nam nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 Thiên sứ trả lời và nói với nàng, “Ðức Thánh Linh sẽ ngự xuống trên cô, và quyền năng của Ðấng Tối Cao sẽ bao phủ cô.  Vì thế Con Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con Ðức Chúa Trời.  36 Kìa Ê-li-sa-bét, bà con của cô, đang mang thai một trai trong tuổi già nua.  Bà ấy vốn có tiếng là hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi, 37 bởi vì không việc chi Ðức Chúa Trời chẳng làm được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38 Ma-ry thưa, “Tôi đây là tớ gái của Chúa, xin việc ấy xảy ra cho tôi như lời ngài truyền.”  Sau đó thiên sứ lìa khỏi Ma-ry.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ma-ry Thăm Ê-li-sa-bét'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39 Trong những ngày ấy Ma-ry đứng dậy và vội vàng đến một thành trong vùng đồi núi xứ Giu-đê, 40 vào nhà của Xa-cha-ri, và chào Ê-li-sa-bét.  41 Vừa khi nghe tiếng chào của Ma-ry, thai nhi trong bụng Ê-li-sa-bét nhảy lên, và Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Ðức Thánh Linh.  42 Bà cất tiếng nói lớn, “Cô thật có phước giữa vòng phụ nữ!  Thai nhi trong dạ cô cũng có phước thay!  43 Do đâu mà tôi được vinh dự này, đó là được thân mẫu của Chúa đến thăm tôi?  44 Vì này, vừa khi tai tôi nghe tiếng cô chào, thai nhi trong bụng tôi đã nhảy lên mừng rỡ.  45 Phước thay cho người tin rằng Chúa sẽ làm ứng nghiệm những gì Ngài đã phán với mình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Ca Ngợi của Ma-ry'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46 Bấy giờ Ma-ry nói,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
47 “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tâm linh tôi vui mừng trong Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của tôi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
48 Vì Ngài đã đoái đến thân phận hèn hạ của tớ gái Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì từ nay trở đi, muôn đời sẽ khen tôi là người có phước,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
49 Vì Ðấng Toàn Năng đã làm những việc lớn cho tôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Danh Ngài thật thánh thay!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50 Ngài thương xót kẻ kính sợ Ngài từ đời nọ sang đời kia.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
51 Ngài dùng cánh tay Ngài bày tỏ những việc quyền năng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài dẹp tan những kẻ kiêu ngạo tận tư tưởng trong lòng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
52 Ngài hạ bệ những kẻ quyền thế khỏi ngai của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng Ngài nhấc những người khiêm nhường lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
53 Ngài ban cho người đói được no nê các thức ăn ngon,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đuổi kẻ giàu đi về tay không.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
54 Ngài giúp đỡ I-sơ-ra-ên tôi tớ Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ngài nhớ lại ơn thương xót của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
55 Như Ngài đã phán với các tổ tiên chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với Áp-ra-ham và dòng dõi người mãi mãi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
56 Ma-ry ở lại với Ê-li-sa-bét khoảng ba tháng, rồi trở về nhà nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giăng Báp-tít Sinh Ra'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
57 Ðến kỳ sinh nở, Ê-li-sa-bét sinh một con trai.  58 Những láng giềng và bà con dòng họ của bà nghe Chúa bày tỏ lòng thương xót lớn lao của Ngài đối với bà, họ vui mừng với bà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
59 Ngày thứ tám, họ đến để cắt bì cho đứa bé.  Họ định đặt tên nó là Xa-cha-ri, theo tên của cha nó.  60 Nhưng mẹ nó trả lời và nói, “Không, nó sẽ được gọi là Giăng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
61 Họ nói với bà, “Không người bà con nào của bà có tên ấy cả.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
62 Kế đó họ ra dấu cho cha đứa bé để xem ông muốn đặt tên nó là gì.  63 Ông ra dấu bảo đem cho ông một bảng nhỏ, rồi ông viết trên đó, “Tên nó là Giăng.”  Mọi người đều lấy làm lạ.  64 Thình lình miệng ông mở ra, lưỡi ông được tự do, và ông cất tiếng ca ngợi Ðức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
65 Cả xóm giềng đều phát sợ, và người ta nói về chuyện ấy khắp miền đồi núi xứ Giu-đê.  66 Tất cả những ai nghe chuyện ấy đều nói, “Rồi đây không biết đứa trẻ ấy sẽ ra sao?”  Vì tay Chúa ở cùng nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Tiên Tri của Xa-cha-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
67 Bấy giờ Xa-cha-ri cha đứa bé được đầy dẫy Ðức Thánh Linh và nói tiên tri rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
68 “Chúc tụng Chúa, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ngài đã đoái thăm và cứu chuộc dân Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
69 Ngài đã dấy lên một sừng cứu rỗi cho chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong nhà Ða-vít tôi tớ Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
70 Như Ngài đã phán trước qua miệng các tiên tri thánh của Ngài từ xưa rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
71 Chúng ta sẽ được giải cứu khỏi những kẻ thù của mình,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và khỏi tay những kẻ ghét chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
72 Ngài bày tỏ lòng thương xót đối với tổ tiên chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài nhớ lại giao ước thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
73 Tức lời thề Ngài đã lập với Áp-ra-ham tổ phụ chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể ban cho chúng ta&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
74 Ðược giải thoát khỏi tay những kẻ thù nghịch,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể có thể phụng sự Ngài không chút sợ hãi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
75 Trong sự thánh khiết và công chính,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước mặt Ngài trọn đời chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
76 Còn con, hỡi con thơ, con sẽ được gọi là tiên tri của Ðấng Tối Cao,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì con sẽ đi trước Chúa để dọn đường cho Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
77 Ðể ban tri thức về ơn cứu rỗi cho dân Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Qua sự tha thứ tội lỗi họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
78 Nhờ đức nhân từ thương xót của Ðức Chúa Trời chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mà vầng thái dương mọc lên từ trời sẽ thăm viếng chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
79 Ðể mang ánh sáng đến những kẻ đang ngồi trong tối tăm và bóng tử thần;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể dẫn dắt bàn chân chúng ta vào con đường bình an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
80 Ðứa trẻ càng lớn lên tinh thần càng mạnh mẽ.  Nó cứ sống trong đồng hoang cho đến ngày tỏ mình ra với dân I-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B42\V01B42C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Lu-ca]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Lu-ca: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Sa-mu-%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35774</id>
		<title>I Sa-mu-ên: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Sa-mu-%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35774"/>
		<updated>2026-06-26T06:35:01Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đó, An-ne đã cầu nguyện và thưa rằng: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Lòng con vui mừng trong Đức Giê-hô-va, tiếng kèn của con được trỗi lên nhờ Đức Giê-hô-va, miệng của con tươi cười trước những kẻ thù của con, bởi vì con được vui mừng nhờ sự giải cứu của Ngài. 2. Không ai thánh như Đức Giê-hô-va, không ai giống như Ngài, không ai là vầng đá như Đức Chúa Trời của chúng con. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Đừng nói những lời cao ngạo nữa, đừng để những lời kiêu căng ra từ miệng của các ngươi, bởi vì Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của sự thông biết, Ngài đánh giá mọi hành động. 4. Cây cung của những kẻ hùng mạnh đã bị gãy, còn những người yếu đuối lại được trang bị bằng sức mạnh; 5. những kẻ no đủ nay phải làm mướn mới có ăn, còn những người đói bây giờ không còn đói nữa; và thậm chí những người hiếm muộn thì sinh sản được bảy lần, nhưng kẻ đông con thì lại suy tàn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Đức Giê-hô-va giết, rồi làm cho sống lại; Ngài đưa xuống mồ, rồi lại đem lên. 7. Đức Giê-hô-va làm cho nghèo, làm cho giàu; Ngài hạ xuống thấp và Ngài nâng lên. 8. Ngài nhấc người nghèo lên khỏi bụi đất, nâng người thiếu thốn lên khỏi đống tro, đặt họ giữa những người quyền quý, làm cho họ thừa hưởng ngôi vinh quang; bởi vì những trụ cột của trái đất thuộc về Đức Giê-hô-va, Ngài đặt thế giới ở trên chúng. 9. Ngài gìn giữ chân những người thánh của Ngài, còn những kẻ ác sẽ bị hủy diệt nơi tối tăm; bởi vì không phải nhờ sức mạnh mà người ta được đắc thắng. 10. Những kẻ chống lại Đức Giê-hô-va sẽ bị đập nát tan tành; từ trên trời Ngài sẽ giáng sấm sét trên chúng.  Đức Giê-hô-va sẽ xét xử cho đến tận cùng trái đất, Ngài ban quyền năng cho người Ngài chọn làm vua, và ban uy quyền cho người được Ngài xức dầu.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Ên-ca-na trở về nhà của mình tại Ra-ma, còn đứa trẻ ở lại phục vụ Đức Giê-hô-va dưới sự hướng dẫn của Tư tế Hê-li.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các con trai của Hê-li là những kẻ đồi bại không biết kính sợ Đức Giê-hô-va, 13. cũng không giữ quy định của người làm tư tế đối với dân chúng. Khi có ai dâng sinh tế, lúc thịt còn đang nấu, đầy tớ của tư tế đến, dùng tay cầm chĩa ba, 14. châm vào chảo, nồi, vạc, hoặc niêu, hễ miếng thịt nào dính vào chĩa ba thì người đó lấy cho tư tế. Họ đã làm như vậy tại Si-lô cho tất cả những người Y-sơ-ra-ên đến đó. 15. Hơn nữa, trước khi người ta thiêu mỡ, đầy tớ của  tư tế đến nói với người dâng sinh tế rằng: “Hãy đưa thịt cho tư tế để nướng, vì ông không nhận thịt luộc nhưng chỉ nhận thịt sống mà thôi.” 16. Nếu có ai nói: “Hãy để cho họ dâng  mỡ trước, sau đó ông sẽ lấy bất cứ thứ gì mà lòng ông muốn”, thì hắn trả lời: “Không được! Phải đưa ngay bây giờ, nếu không, ta sẽ dùng vũ lực để lấy!” 17. Tội lỗi của những người đó rất lớn trước mặt Đức Giê-hô-va, bởi vì họ đã khinh thường những lễ vật được dâng cho Đức Giê-hô-va.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Nhưng Sa-mu-ên phục vụ trước mặt Đức Giê-hô-va. Cậu bé mặc một ê-phót bằng vải gai. 19. Năm này qua năm khác, mẹ của cậu may cho cậu một áo choàng nhỏ, rồi đem lên cho cậu khi bà cùng chồng của mình đi lên để dâng sinh tế hằng năm. 20. Hê-li chúc phước cho Ên-ca-na và An-ne rằng: “Cầu xin Đức Giê-hô-va ban cho ngươi có nhiều hậu tự từ phụ nữ nầy để thay thế cho đứa con mà nàng đã cầu xin rồi đem dâng cho Đức Giê-hô-va!”. Sau đó, họ đã trở về nhà của mình. 21. Đức Giê-hô-va đoái xem An-ne. Nàng thụ thai, sinh thêm ba con trai và hai con gái. Còn cậu bé Sa-mu-ên lớn lên trước mặt Đức Giê-hô-va.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Lúc đó Hê-li đã già, ông nghe hết những chuyện các con của ông đã làm cho toàn dân Y-sơ-ra-ên, và chuyện chúng đã ăn nằm với những phụ nữ phục vụ tại cửa Lều Hội Kiến. 23. Ông nói với họ: “Tại sao các con làm những chuyện nầy? Bởi vì cha đã nghe mọi người nói về những chuyện xấu xa của các con. 24. Các con ơi! Không được làm như vậy. Bởi vì không có điều gì tốt lành trong những chuyện mà cha đã nghe. Các con đã làm cho dân của Đức Giê-hô-va vấp phạm. 25. Nếu một người phạm tội với người khác, thì Đức Chúa Trời sẽ phán xét người đó; nhưng nếu một người phạm tội cùng  Đức Giê-hô-va, thì ai sẽ cầu thay cho người đó?” Tuy nhiên, họ không chịu nghe theo lời cha của họ, bởi vì Đức Giê-hô-va muốn giết họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Trong khi đó cậu bé Sa-mu-ên lớn lên, đẹp lòng cả Đức Giê-hô-va và nhiều người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Có một người của Đức Chúa Trời đến gặp Hê-li, nói với ông: “Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Không phải Ta đã hiện ra một cách rõ ràng với nhà của tổ phụ ngươi khi họ còn ở tại Ai Cập dưới triều của Pha-ra-ôn hay sao? 28. Trong tất cả các chi tộc của Y-sơ-ra-ên, không phải Ta đã chọn người để làm tư tế cho Ta, để dâng sinh tế trên bàn thờ của Ta, để đốt hương, để đeo ê-phót và cầu hỏi ý của Ta hay sao? Không phải Ta đã ban cho nhà của tổ phụ ngươi tất cả những tế lễ thiêu của dân Y-sơ-ra-ên hay sao? 29. Như vậy, tại sao các ngươi lại chà đạp trên những sinh tế và lễ vật mà Ta truyền dâng tại nơi ngự của Ta? Ngươi coi trọng các con trai của ngươi hơn Ta. Các ngươi đã nuôi mình cho mập bằng những lễ vật tốt nhất của Y-sơ-ra-ên, là dân của Ta. 30. Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Ta đã từng phán rằng nhà của ngươi và nhà cha của ngươi sẽ bước đi trước mặt Ta đời đời. Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va phán: Điều đó không còn nữa. Bởi vì ai coi trọng Ta sẽ được Ta coi trọng, nhưng ai xem thường Ta sẽ bị xem thường. 31. Kìa, trong những ngày đến, Ta sẽ hủy diệt sức lực của ngươi và sức lực của nhà cha ngươi, để rồi không còn người già trong nhà của ngươi nữa. 32. Ngươi sẽ nhìn thấy chuyện khốn khổ trong nhà của mình. Sẽ có nhiều chuyện tốt đẹp cho Y-sơ-ra-ên, nhưng sẽ không còn một người già nào trong gia đình của ngươi. 33. Còn người nào thuộc về ngươi, mà Ta không truất khỏi bàn thờ của Ta, thì sẽ làm cho lòng của ngươi đau khổ và mắt của ngươi mỏi mòn. Tất cả những người thuộc dòng dõi trong nhà của ngươi sẽ chết vào lúc thanh xuân. 34. Đây là một dấu hiệu cho ngươi: Sẽ có một ngày hai con của ngươi là Hóp-ni và Phi-nê-a, cả hai sẽ chết trong cùng một ngày. 35. Ta sẽ lập lên cho Ta một tư tế trung thành, là người sẽ làm theo lòng của Ta và theo ý của Ta. Ta sẽ xây dựng cho người một gia tộc vững vàng. Người sẽ đi trước mặt đấng được xức dầu của Ta mãi mãi. 36. Và rồi, người nào còn sống sót trong nhà của ngươi sẽ đến quì trước người đó để xin một đồng tiền hoặc một miếng bánh, rồi thưa: Xin hãy cho tôi một chức tế lễ để tôi có một miếng bánh ăn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Bấy giờ An-ne cầu nguyện mà rằng: Đức Giê-hô-va khiến lòng tôi khấp khởi vui mừng, Và đỡ cho mặt tôi ngước lên. Miệng tôi thách đố kẻ thù nghịch tôi; Vì sự chửng cứu Ngài làm cho tôi đầy khoái lạc. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2.  Chẳng ai thánh như Đức Giê-hô-va; Chẳng có Chúa nào khác hơn Ngài! Không có hòn đá nào như Đức Chúa Trời của chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Thôi, chớ nói những lời kiêu ngạo, Chớ để những lời xấc xược ra từ miệng các ngươi nữa; Vì Giê-hô-va là Đức Chúa Trời thông biết mọi điều, Ngài cân nhắc mọi việc làm của người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Cây cung của kẻ dõng sĩ đã gãy, Còn người yếu mòn thắt lưng bằng sức lực. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Kẻ vốn no nê phải làm mướn đặng kiếm ăn, Và người xưa đói đã được no nê, Người đàn bà vốn son sẻ, sanh sản bảy lần, Còn người có nhiều con, ra yếu mỏn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Đức Giê-hô-va khiến cho chết, cho sống; Ngài đem người xuống mồ mả, Rồi khiến lại lên khỏi đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Đức Giê-hô-va làm cho nghèo nàn, và làm cho giàu có; Ngài hạ người xuống, lại nhắc người lên, Đem kẻ khốn cùng ra khỏi bụi đất, Và rút người nghèo khổ ra ngoài đống phân, Đặng để họ ngồi bên các quan trưởng, Cùng ban cho một ngôi vinh hiển làm cơ nghiệp; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vì các trụ của trái đất thuộc về Đức Giê-hô-va: Ngài đã đặt thế gian ở trên đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Đức Giê-hô-va sẽ giữ chân của các thánh Ngài; Còn những kẻ ác sẽ bị hư mất nơi tăm tối; Vì chẳng do sức riêng mình mà người nào được thắng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Kẻ nào chống cãi Đức Giê-hô-va sẽ bị phá tan! Từ trên trời cao, Đức Giê-hô-va sẽ sấm sét cùng chúng nó. Ngài sẽ đoán xét bốn phương của đất, Ban thế lực cho vua Ngài, Và làm cho quyền năng Đấng chịu xức dầu của Ngài ra lớn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Ên-ca-na trở về nhà mình tại Ra-ma, còn đứa trẻ ở lại phục sự Đức Giê-hô-va trước mặt Hê-li, thầy tế lễ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Hai con trai của Hê-li là người gian tà, chẳng nhận biết Đức Giê-hô-va. 13.  Các thầy tế lễ thường đãi dân sự như vầy: Phàm khi có ai dâng của lễ, thì tôi tớ thầy tế lễ đến lúc người ta nấu thịt, tay cầm chĩa ba, 14.  chích vào hoặc trong cái vạc, cái chảo, cái nồi, hay là trong chảo nhỏ. Hễ món nào dính chĩa ba, thì thầy tế lễ bèn lấy. Đó là cách họ đối với hết thảy dân Y-sơ-ra-ên đến Si-lô. 15.  Lại trước khi xông mỡ, kẻ tôi tớ thầy tế lễ cũng đến nói cùng người dâng của lễ rằng: Hãy đưa thịt để nướng cho thầy tế lễ; người không nhậm thịt luộc của ngươi, nhưng chỉ nhậm thịt sống mà thôi. 16.  Ví bằng người đó đáp rằng; Người ta sẽ xông mỡ, kế sau sẽ lấy phần chi đẹp ý ngươi, thì kẻ tôi tớ đó nói: Không; ngươi phải cho tức thì, bằng không, ta sẽ giựt lấy. 17.  Tội lỗi của hai người trai trẻ nầy lấy làm rất lớn trước mặt Đức Giê-hô-va; vì họ gây cho người ta khinh bỉ các của tế lễ dâng cho Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Còn Sa-mu-ên phục sự trước mặt Đức Giê-hô-va. Người hãy còn thơ ấu, thắt lưng một cái ê-phót bằng vải gai. 19.  Mỗi năm, mẹ người may cho một cái áo dài nhỏ, đem ban cho người trong khi lên với chồng đặng dâng của lễ hằng năm. 20.  Hê-li chúc phước cho Ên-ca-na và vợ người, rằng: Cầu xin Đức Giê-hô-va ban cho ngươi những con cái bởi người nữ nầy, để đổi lấy đứa mà nàng đã cầu nơi Đức Giê-hô-va! Vợ chồng bèn trở về nhà mình. 21.  Đức Giê-hô-va đoái xem An-ne: nàng thọ thai và sanh ba con trai và hai con gái, còn gã trai trẻ Sa-mu-ên khôn lớn trước mặt Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  Vả, Hê-li tuổi đã rất cao, được hay mọi điều hai con trai mình làm cho cả Y-sơ-ra-ên và thế nào họ nằm cùng các người nữ hầu việc tại cửa hội mạc. 23.  Người nói cùng chúng nó rằng: Sao chúng bay làm như vậy? Vì ta đã nghe cả dân sự nói về các việc xấu của chúng bay. 24.  Chẳng khá làm như vậy, hỡi con; điều ta nghe về việc bay vốn không tốt lành; bay khiến dân sự của Đức Giê-hô-va phạm tội. 25.  Nếu người này phạm tội cùng người khác, Đức Chúa Trời sẽ đoán xét nó; nhược bằng người phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, ai sẽ cầu thay cho? Song chúng nó không nghe theo lời của cha mình, vì Đức Giê-hô-va toan giết chúng nó. 26.  Còn gã trai trẻ Sa-mu-ên cứ lớn lên, Đức Giê-hô-va và người ta đều lấy làm đẹp lòng người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27.  Có một người của Đức Chúa Trời đến kiếm Hê-li, mà nói rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta há chẳng hiện ra cùng nhà tổ phụ ngươi, khi họ còn ở tại Ê-díp-tô, hầu việc nhà Pha-ra-ôn sao? 28.  Ta đã chọn nhà ấy trong các chi phái Y-sơ-ra-ên, đặng làm thầy tế lễ của ta, dâng của lễ trên bàn thờ ta, xông hương, và mang ê-phót trước mặt ta; ta cũng đã ban cho nhà tổ phụ ngươi các của lễ mà dân Y-sơ-ra-ên dùng lửa dâng lên. 29.  Vì sao các ngươi giày đạp dưới chân những hi sinh và của lễ chay mà ta đã truyền lịnh dâng lên trong đền ta? Ngươi kính trọng các con trai ngươi hơn ta, và các ngươi ăn mập những của lễ tốt nhất của Y-sơ-ra-ên, dân sự ta! 30.  Bởi cớ đó, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Ta có phán rằng nhà ngươi và nhà cha ngươi sẽ đời đời hầu việc trước mặt ta. Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va phán, điều đó chẳng hề được như vậy! Vì phàm ai tôn kính ta, ta sẽ làm cho được tôn trọng, còn ai khinh bỉ ta, tất sẽ bị khinh bỉ lại. 31.  Kìa, thì giờ đến, ta sẽ hủy hại sự mạnh mẽ của người và sự mạnh mẽ của nhà cha ngươi, đến đỗi chẳng còn một người già trong họ hàng ngươi nữa. 32.  Giữa các phước lành mà Đức Giê-hô-va giáng cho Y-sơ-ra-ên, ngươi sẽ thấy nhà ngươi bị bần khổ, và trong họ hàng ngươi sẽ chẳng hề có người già nữa. 33.  Nếu trong nội nhà ngươi có một người mà ta không truất khỏi bàn thờ ta, ấy để làm cho ngươi mỏi mắt rầu lòng; các kẻ nhà ngươi sanh sản sẽ chết lúc xuân xanh. 34.  Điều sẽ xảy đến cho hai con ngươi, là Hóp-ni và Phi-nê-a, sẽ dùng làm dấu hiệu cho ngươi: cả hai đều sẽ chết trong một ngày. 35.  Đoạn, ta sẽ lập cho ta một thầy tế lễ trung tín; người sẽ làm theo lòng ta và ý ta. Ta sẽ cất cho người một nhà vững bền, và người sẽ đi trước mặt Đấng chịu xức dầu của ta luôn luôn. 36.  Ai trong họ hàng ngươi còn sống, sẽ đi đến lạy trước mặt người, hầu cho được một miếng bạc cùng một ổ bánh, và sẽ nói rằng: Xin ông hãy phong cho tôi một chức tế lễ, để tôi được một miếng bánh ăn. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B09\V02B09C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Bài Ca Tụng CHÚA của An-ne'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Bấy giờ bà An-ne dâng lời cầu nguyện và nói:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Lòng con rất vui mừng trong CHÚA;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
CHÚA đã làm cho đầu con ngước lên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Miệng con có thể cười lại đối thủ của con được rồi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi con rất đỗi vui mừng trong ơn cứu rỗi của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Chẳng có Ðấng Thánh nào giống như CHÚA;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật chẳng có ai ngoài ra Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không có Vầng Ðá che chở nào như Ðức Chúa Trời chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Các người đừng hống hách huênh hoang nữa;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Miệng các người đừng thốt ra những lời ngạo mạn nữa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì CHÚA là Ðức Chúa Trời biết hết mọi sự;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài sẽ cân nhắc mọi hành vi cử chỉ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Cây cung của kẻ mạnh đã bị gãy;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Còn người yếu đuối đã được mặc lấy sức mạnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Kẻ no đủ nay phải làm mướn mới có ăn;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người đói khổ bây giờ không còn đói khát;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người hiếm muộn nay sinh năm đẻ bảy; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kẻ đông con lại cằn cỗi héo mòn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 CHÚA làm cho chết và cũng làm cho sống lại;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài cho xuống âm phủ rồi lại đem lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 CHÚA làm cho nghèo và cũng làm cho giàu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài hạ xuống thấp rồi lại nâng lên cao.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Ngài nhấc người nghèo khó lên khỏi nơi bụi đất;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài nâng kẻ bần hàn lên khỏi đống phân tro,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi Ngài đặt họ ngồi chung với những người quyền quý,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Làm cho họ được hưởng ngôi vinh hiển cao sang;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì các trụ cột của địa cầu đều thuộc về CHÚA;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đặt thế giới trên các trụ cột ấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Ngài gìn giữ chân những người thánh của Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phường gian ác phải im miệng nơi tối tăm mù mịt,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì chẳng phải cậy vào sức mạnh mà người ta thắng được.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Những kẻ chống lại CHÚA sẽ bị đập nát tan tành;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ trời cao Ngài giáng sấm sét xuống đầu chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
CHÚA phán xét khắp nơi trên thế giới,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ban quyền năng cho người Ngài chọn làm vua,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và làm tăng uy quyền người được xức dầu của Ngài.”  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Sau đó Ên-ca-na trở về Ra-ma, trong khi đứa trẻ ở lại phụng sự CHÚA dưới sự chăm sóc và dạy dỗ của Tư Tế Hê-li. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tội Lỗi của Các Con Hê-li'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Thuở ấy hai con trai của Hê-li thật là hư đốn.  Chúng không biết kính sợ CHÚA gì cả, 13 và cũng không biết giữ phép tắc của người làm tư tế đối với dân.  Khi ai dâng một con vật hiến tế và lúc thịt còn đang nấu, đầy tớ của tư tế đến, tay cầm chĩa ba, 14 châm vào trong vạc, hoặc chảo, hoặc nồi, hoặc niêu, và hễ miếng thịt nào dính vào chĩa ba thì nó lấy cho tư tế.  Ðó là điều hai người ấy đã làm đối với tất cả những người I-sơ-ra-ên đến tại Si-lô.  15 Ngoài ra trước khi thịt mỡ được đem thiêu dâng, đầy tớ của tư tế đến và nói với người dâng con vật hiến tế, “Ðưa thịt đây để tư tế nướng.  Ông ấy không lấy thịt luộc đâu, mà chỉ lấy thịt sống thôi.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Nếu người kia đáp lại, “Xin hãy để chúng tôi đem thiêu dâng trước đã, rồi sau đó anh muốn lấy gì thì lấy,” thì nó bảo, “Không, phải đưa ngay bây giờ; nếu không, tôi sẽ dùng vũ lực giựt lấy.”  17 Tội của hai thanh niên ấy rất lớn trước mặt CHÚA, vì chúng đã khinh thường các của lễ người ta đem dâng lên CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cậu Bé Sa-mu-ên tại Si-lô'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Sa-mu-ên phục vụ trước mặt CHÚA.  Cậu bé mặc một ê-phót  bằng vải gai.  19 Mỗi năm mẹ cậu may cho cậu một áo choàng nhỏ, rồi đem lên cho cậu khi bà đi với chồng bà đến dâng con vật hiến tế hằng năm.  20 Hê-li chúc phước cho Ên-ca-na và vợ ông rằng, “Cầu xin CHÚA đền bù cho ông bằng những đứa con khác do bà này sinh cho ông, để bù lại đứa con bà đã cho CHÚA mượn.”  Sau đó họ trở về nhà của họ.  21 CHÚA thăm viếng An-ne.  Bà tiếp tục mang thai và sinh được ba con trai và hai con gái nữa.  Còn cậu bé Sa-mu-ên cứ tiếp tục lớn khôn trước mặt CHÚA. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sứ Ðiệp Nghịch Lại Gia Ðình Hê-li'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Bấy giờ Hê-li đã già lắm rồi.  Ông nghe biết tất cả những việc các con ông đã làm đối với mọi người I-sơ-ra-ên, và thể nào chúng đã ăn nằm với các phụ nữ phục vụ tại lối vào của Lều Hội Kiến.  23 Ông nói với chúng, “Tại sao các con làm như vậy?  Vì toàn dân này đã nói cho cha hay những việc đồi bại các con làm.  24 Không, các con ơi, những lời cha nghe dân của CHÚA đồn đãi không phải là những gì tốt đẹp đâu.  25 Nếu một người có tội với một người khác thì có tư tế cầu thay để Đức Chúa Trời phán xét người ấy, nhưng nếu một tư tế phạm tội với CHÚA thì ai sẽ cầu thay cho tư tế ấy đây?”  Nhưng chúng không màng gì đến những lời khuyên răn của cha chúng, vì CHÚA đã định sẽ tiêu diệt chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Trong khi đó cậu bé Sa-mu-ên càng ngày càng lớn, được đẹp lòng CHÚA và người ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Một người của Ðức Chúa Trời đến gặp Hê-li và nói với ông, “CHÚA phán thế này: Chính Ta há đã chẳng hiện ra một cách rõ ràng cho nhà cha ngươi, khi chúng còn làm nô lệ cho Pha-ra-ôn ở Ai-cập hay sao?  28 Ta há đã chẳng chọn tổ tiên ngươi trong tất cả các chi tộc I-sơ-ra-ên để làm tư tế cho Ta, dâng con vật hiến tế trên bàn thờ Ta, dâng hương, và mặc ê-phót ở trước mặt Ta hay sao?  Ta há đã chẳng ban cho nhà cha ngươi tất cả các của lễ mà dân I-sơ-ra-ên dùng lửa dâng lên hay sao?  29 Tại sao ngươi coi thường các con vật hiến tế và các của lễ chay mà Ta đã truyền đem dâng tại nơi Ta ngự, và coi trọng các con trai ngươi hơn Ta, mà làm cho cha con ngươi mập béo bằng những phần tốt nhất trong tất cả các lễ vật của I-sơ-ra-ên dân Ta?  30 Vì thế CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này: Trước kia Ta đã nói nhà ngươi và nhà cha ngươi sẽ vào ra trước mặt Ta đời đời, nhưng bây giờ CHÚA phán: Ðiều đó sẽ không còn nữa, vì hễ ai tôn kính Ta, Ta sẽ tôn trọng người ấy, nhưng ai khinh bỉ Ta, kẻ ấy ắt sẽ bị khinh khi.  31 Này, trong những ngày tới, Ta sẽ dứt bỏ sức lực của ngươi và sức lực của nhà cha ngươi, đến nỗi không ai trong gia đình ngươi sẽ sống đến tuổi già.  32 Rồi đây trong nỗi đau buồn, với cặp mắt thèm thuồng, ngươi sẽ nhìn thấy mọi phước hạnh Ta ban xuống trên I-sơ-ra-ên, mà gia đình ngươi sẽ không bao giờ có người sống đến tuổi già để hưởng.  33 Kẻ nào trong gia đình ngươi nếu không bị Ta loại khỏi bàn thờ của Ta thì sống cũng chỉ để lau những giọt lệ sầu và gánh chịu nỗi đau lòng xót dạ, vì mọi người sinh ra trong gia đình ngươi đều sẽ chết ở tuổi thanh xuân.  34 Ðiều sẽ xảy ra cho hai con trai ngươi, Hóp-ni và Phi-nê-a, sẽ là một dấu hiệu cho ngươi.  Hai đứa ấy sẽ chết cùng một ngày.  35 Rồi Ta sẽ dấy lên cho Ta một tư tế trung thành, một người sẽ làm theo điều lòng Ta và ý Ta muốn.   Ta sẽ xây dựng cho nó một nhà bền vững.  Nó sẽ vào ra trước mặt người được xức dầu của Ta mãi mãi.  36 Kẻ nào còn sót lại trong nhà ngươi sẽ đến sụp lạy trước mặt nó để xin một miếng bạc hay một ổ bánh, và sẽ nói rằng, ‘Xin ngài làm ơn cho tôi một chức tư tế để tôi có bánh ăn.’”   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[II Sa-mu-ên]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên: Chương 1]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên: Chương 3]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Sa-mu-%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35773</id>
		<title>I Sa-mu-ên: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Sa-mu-%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35773"/>
		<updated>2026-06-26T06:23:59Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đó, An-ne đã cầu nguyện và thưa rằng: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Lòng con vui mừng trong Đức Giê-hô-va, tiếng kèn của con được trỗi lên nhờ Đức Giê-hô-va, miệng của con tươi cười trước những kẻ thù của con, bởi vì con được vui mừng nhờ sự giải cứu của Ngài. 2. Không ai thánh như Đức Giê-hô-va, không ai giống như Ngài, không ai là vầng đá như Đức Chúa Trời của chúng con. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Đừng nói những lời cao ngạo nữa, đừng để những lời kiêu căng ra từ miệng của các ngươi, bởi vì Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của sự thông biết, Ngài đánh giá mọi hành động. 4. Cây cung của những kẻ hùng mạnh đã bị gãy, còn những người yếu đuối lại được trang bị bằng sức mạnh; 5. những kẻ no đủ nay phải làm mướn mới có ăn, còn những người đói bây giờ không còn đói nữa; và thậm chí những người hiếm muộn thì sinh sản được bảy lần, nhưng kẻ đông con thì lại suy tàn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Đức Giê-hô-va giết, rồi làm cho sống lại; Ngài đưa xuống mồ, rồi lại đem lên. 7. Đức Giê-hô-va làm cho nghèo, làm cho giàu; Ngài hạ xuống thấp và Ngài nâng lên. 8. Ngài nhấc người nghèo lên khỏi bụi đất, nâng người thiếu thốn lên khỏi đống tro, đặt họ giữa những người quyền quý, làm cho họ thừa hưởng ngôi vinh quang; bởi vì những trụ cột của trái đất thuộc về Đức Giê-hô-va, Ngài đặt thế giới ở trên chúng. 9. Ngài gìn giữ chân những người thánh của Ngài, còn những kẻ ác sẽ bị hủy diệt nơi tối tăm; bởi vì không phải nhờ sức mạnh mà người ta được đắc thắng. 10. Những kẻ chống lại Đức Giê-hô-va sẽ bị đập nát tan tành; từ trên trời Ngài sẽ giáng sấm sét trên chúng.  Đức Giê-hô-va sẽ xét xử cho đến tận cùng trái đất, Ngài ban quyền năng cho người Ngài chọn làm vua, và ban uy quyền cho người được Ngài xức dầu.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Ên-ca-na trở về nhà của mình tại Ra-ma, còn đứa trẻ ở lại phục vụ Đức Giê-hô-va dưới sự hướng dẫn của Tư tế Hê-li.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các con trai của Hê-li là những kẻ đồi bại không biết kính sợ Đức Giê-hô-va, 13. cũng không giữ quy định của người làm tư tế đối với dân chúng. Khi có ai dâng sinh tế, lúc thịt còn đang nấu, đầy tớ của tư tế đến, dùng tay cầm chĩa ba, 14. châm vào chảo, nồi, vạc, hoặc niêu, hễ miếng thịt nào dính vào chĩa ba thì người đó lấy cho tư tế. Họ đã làm như vậy tại Si-lô cho tất cả những người Y-sơ-ra-ên đến đó. 15. Hơn nữa, trước khi người ta thiêu mỡ, đầy tớ của  tư tế đến nói với người dâng sinh tế rằng: “Hãy đưa thịt cho tư tế để nướng, vì ông không nhận thịt luộc nhưng chỉ nhận thịt sống mà thôi.” 16. Nếu có ai nói: “Hãy để cho họ dâng  mỡ trước, sau đó ông sẽ lấy bất cứ thứ gì mà lòng ông muốn”, thì hắn trả lời: “Không được! Phải đưa ngay bây giờ, nếu không, ta sẽ dùng vũ lực để lấy!” 17. Tội lỗi của những người đó rất lớn trước mặt Đức Giê-hô-va, bởi vì họ đã khinh thường những lễ vật được dâng cho Đức Giê-hô-va.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Nhưng Sa-mu-ên phục vụ trước mặt Đức Giê-hô-va. Cậu bé mặc một ê-phót bằng vải gai. 19. Năm này qua năm khác, mẹ của cậu may cho cậu một áo choàng nhỏ, rồi đem lên cho cậu khi bà cùng chồng của mình đi lên để dâng sinh tế hằng năm. 20. Hê-li chúc phước cho Ên-ca-na và An-ne rằng: “Cầu xin Đức Giê-hô-va ban cho ngươi có nhiều hậu tự từ phụ nữ nầy để thay thế cho đứa con mà nàng đã cầu xin rồi đem dâng cho Đức Giê-hô-va!”. Sau đó, họ đã trở về nhà của mình. 21. Đức Giê-hô-va đoái xem An-ne. Nàng thụ thai, sinh thêm ba con trai và hai con gái. Còn cậu bé Sa-mu-ên lớn lên trước mặt Đức Giê-hô-va.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Lúc đó Hê-li đã già, ông nghe hết những chuyện các con của ông đã làm cho toàn dân Y-sơ-ra-ên, và chuyện chúng đã ăn nằm với những phụ nữ phục vụ tại cửa Lều Hội Kiến. 23. Ông nói với họ: “Tại sao các con làm những chuyện nầy? Bởi vì cha đã nghe mọi người nói về những chuyện xấu xa của các con. 24. Các con ơi! Không được làm như vậy. Bởi vì không có điều gì tốt lành trong những chuyện mà cha đã nghe. Các con đã làm cho dân của Đức Giê-hô-va vấp phạm. 25. Nếu một người phạm tội với người khác, thì Đức Chúa Trời sẽ phán xét người đó; nhưng nếu một người phạm tội cùng  Đức Giê-hô-va, thì ai sẽ cầu thay cho người đó?” Tuy nhiên, họ không chịu nghe theo lời cha của họ, bởi vì Đức Giê-hô-va muốn giết họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Trong khi đó cậu bé Sa-mu-ên lớn lên, đẹp lòng cả Đức Giê-hô-va và nhiều người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Có một người của Đức Chúa Trời đến gặp Hê-li, nói với ông: “Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Không phải Ta đã hiện ra một cách rõ ràng với nhà của tổ phụ ngươi khi họ còn ở tại Ai Cập dưới triều của Pha-ra-ôn hay sao? 28. Trong tất cả các chi tộc của Y-sơ-ra-ên, không phải Ta đã chọn người để làm tư tế cho Ta, để dâng sinh tế trên bàn thờ của Ta, để đốt hương, để đeo ê-phót và cầu hỏi ý của Ta hay sao? Không phải Ta đã ban cho nhà của tổ phụ ngươi tất cả những tế lễ thiêu của dân Y-sơ-ra-ên hay sao? 29. Như vậy, tại sao các ngươi lại chà đạp trên những sinh tế và lễ vật mà Ta truyền dâng tại nơi ngự của Ta? Ngươi coi trọng các con trai của ngươi hơn Ta. Các ngươi đã nuôi mình cho mập bằng những lễ vật tốt nhất của Y-sơ-ra-ên, là dân của Ta. 30. Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Ta đã từng phán rằng nhà của ngươi và nhà cha của ngươi sẽ bước đi trước mặt Ta đời đời. Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va phán: Điều đó không còn nữa. Bởi vì ai coi trọng Ta sẽ được Ta coi trọng, nhưng ai xem thường Ta sẽ bị xem thường. 31. Kìa, trong những ngày đến, Ta sẽ hủy diệt sức lực của ngươi và sức lực của nhà cha ngươi, để rồi không còn người già trong nhà của ngươi nữa. 32. Ngươi sẽ nhìn thấy chuyện khốn khổ trong nhà của mình. Sẽ có nhiều chuyện tốt đẹp cho Y-sơ-ra-ên, nhưng sẽ không còn một người già nào trong gia đình của ngươi. 33. Còn người nào thuộc về ngươi, mà Ta không truất khỏi bàn thờ của Ta, thì sẽ làm cho lòng của ngươi đau khổ và mắt của ngươi mỏi mòn. Tất cả những người thuộc dòng dõi trong nhà của ngươi sẽ chết vào lúc thanh xuân. 34. Đây là một dấu hiệu cho ngươi: Sẽ có một ngày hai con của ngươi là Hóp-ni và Phi-nê-a, cả hai sẽ chết trong cùng một ngày. 35. Ta sẽ lập lên cho Ta một tư tế trung thành, là người sẽ làm theo lòng của Ta và theo ý của Ta. Ta sẽ xây dựng cho người một gia tộc vững vàng. Người được xức dầu của Ta sẽ phục vụ trước mặt Ta mãi mãi. 36. Và rồi, người nào còn sống sót trong nhà của ngươi sẽ đến quì trước người đó để xin một đồng tiền hoặc một miếng bánh, rồi thưa: Xin hãy cho tôi một chức tế lễ để tôi có một miếng bánh ăn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Bấy giờ An-ne cầu nguyện mà rằng: Đức Giê-hô-va khiến lòng tôi khấp khởi vui mừng, Và đỡ cho mặt tôi ngước lên. Miệng tôi thách đố kẻ thù nghịch tôi; Vì sự chửng cứu Ngài làm cho tôi đầy khoái lạc. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2.  Chẳng ai thánh như Đức Giê-hô-va; Chẳng có Chúa nào khác hơn Ngài! Không có hòn đá nào như Đức Chúa Trời của chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Thôi, chớ nói những lời kiêu ngạo, Chớ để những lời xấc xược ra từ miệng các ngươi nữa; Vì Giê-hô-va là Đức Chúa Trời thông biết mọi điều, Ngài cân nhắc mọi việc làm của người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Cây cung của kẻ dõng sĩ đã gãy, Còn người yếu mòn thắt lưng bằng sức lực. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Kẻ vốn no nê phải làm mướn đặng kiếm ăn, Và người xưa đói đã được no nê, Người đàn bà vốn son sẻ, sanh sản bảy lần, Còn người có nhiều con, ra yếu mỏn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Đức Giê-hô-va khiến cho chết, cho sống; Ngài đem người xuống mồ mả, Rồi khiến lại lên khỏi đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Đức Giê-hô-va làm cho nghèo nàn, và làm cho giàu có; Ngài hạ người xuống, lại nhắc người lên, Đem kẻ khốn cùng ra khỏi bụi đất, Và rút người nghèo khổ ra ngoài đống phân, Đặng để họ ngồi bên các quan trưởng, Cùng ban cho một ngôi vinh hiển làm cơ nghiệp; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vì các trụ của trái đất thuộc về Đức Giê-hô-va: Ngài đã đặt thế gian ở trên đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Đức Giê-hô-va sẽ giữ chân của các thánh Ngài; Còn những kẻ ác sẽ bị hư mất nơi tăm tối; Vì chẳng do sức riêng mình mà người nào được thắng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Kẻ nào chống cãi Đức Giê-hô-va sẽ bị phá tan! Từ trên trời cao, Đức Giê-hô-va sẽ sấm sét cùng chúng nó. Ngài sẽ đoán xét bốn phương của đất, Ban thế lực cho vua Ngài, Và làm cho quyền năng Đấng chịu xức dầu của Ngài ra lớn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Ên-ca-na trở về nhà mình tại Ra-ma, còn đứa trẻ ở lại phục sự Đức Giê-hô-va trước mặt Hê-li, thầy tế lễ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Hai con trai của Hê-li là người gian tà, chẳng nhận biết Đức Giê-hô-va. 13.  Các thầy tế lễ thường đãi dân sự như vầy: Phàm khi có ai dâng của lễ, thì tôi tớ thầy tế lễ đến lúc người ta nấu thịt, tay cầm chĩa ba, 14.  chích vào hoặc trong cái vạc, cái chảo, cái nồi, hay là trong chảo nhỏ. Hễ món nào dính chĩa ba, thì thầy tế lễ bèn lấy. Đó là cách họ đối với hết thảy dân Y-sơ-ra-ên đến Si-lô. 15.  Lại trước khi xông mỡ, kẻ tôi tớ thầy tế lễ cũng đến nói cùng người dâng của lễ rằng: Hãy đưa thịt để nướng cho thầy tế lễ; người không nhậm thịt luộc của ngươi, nhưng chỉ nhậm thịt sống mà thôi. 16.  Ví bằng người đó đáp rằng; Người ta sẽ xông mỡ, kế sau sẽ lấy phần chi đẹp ý ngươi, thì kẻ tôi tớ đó nói: Không; ngươi phải cho tức thì, bằng không, ta sẽ giựt lấy. 17.  Tội lỗi của hai người trai trẻ nầy lấy làm rất lớn trước mặt Đức Giê-hô-va; vì họ gây cho người ta khinh bỉ các của tế lễ dâng cho Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Còn Sa-mu-ên phục sự trước mặt Đức Giê-hô-va. Người hãy còn thơ ấu, thắt lưng một cái ê-phót bằng vải gai. 19.  Mỗi năm, mẹ người may cho một cái áo dài nhỏ, đem ban cho người trong khi lên với chồng đặng dâng của lễ hằng năm. 20.  Hê-li chúc phước cho Ên-ca-na và vợ người, rằng: Cầu xin Đức Giê-hô-va ban cho ngươi những con cái bởi người nữ nầy, để đổi lấy đứa mà nàng đã cầu nơi Đức Giê-hô-va! Vợ chồng bèn trở về nhà mình. 21.  Đức Giê-hô-va đoái xem An-ne: nàng thọ thai và sanh ba con trai và hai con gái, còn gã trai trẻ Sa-mu-ên khôn lớn trước mặt Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  Vả, Hê-li tuổi đã rất cao, được hay mọi điều hai con trai mình làm cho cả Y-sơ-ra-ên và thế nào họ nằm cùng các người nữ hầu việc tại cửa hội mạc. 23.  Người nói cùng chúng nó rằng: Sao chúng bay làm như vậy? Vì ta đã nghe cả dân sự nói về các việc xấu của chúng bay. 24.  Chẳng khá làm như vậy, hỡi con; điều ta nghe về việc bay vốn không tốt lành; bay khiến dân sự của Đức Giê-hô-va phạm tội. 25.  Nếu người này phạm tội cùng người khác, Đức Chúa Trời sẽ đoán xét nó; nhược bằng người phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, ai sẽ cầu thay cho? Song chúng nó không nghe theo lời của cha mình, vì Đức Giê-hô-va toan giết chúng nó. 26.  Còn gã trai trẻ Sa-mu-ên cứ lớn lên, Đức Giê-hô-va và người ta đều lấy làm đẹp lòng người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27.  Có một người của Đức Chúa Trời đến kiếm Hê-li, mà nói rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta há chẳng hiện ra cùng nhà tổ phụ ngươi, khi họ còn ở tại Ê-díp-tô, hầu việc nhà Pha-ra-ôn sao? 28.  Ta đã chọn nhà ấy trong các chi phái Y-sơ-ra-ên, đặng làm thầy tế lễ của ta, dâng của lễ trên bàn thờ ta, xông hương, và mang ê-phót trước mặt ta; ta cũng đã ban cho nhà tổ phụ ngươi các của lễ mà dân Y-sơ-ra-ên dùng lửa dâng lên. 29.  Vì sao các ngươi giày đạp dưới chân những hi sinh và của lễ chay mà ta đã truyền lịnh dâng lên trong đền ta? Ngươi kính trọng các con trai ngươi hơn ta, và các ngươi ăn mập những của lễ tốt nhất của Y-sơ-ra-ên, dân sự ta! 30.  Bởi cớ đó, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Ta có phán rằng nhà ngươi và nhà cha ngươi sẽ đời đời hầu việc trước mặt ta. Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va phán, điều đó chẳng hề được như vậy! Vì phàm ai tôn kính ta, ta sẽ làm cho được tôn trọng, còn ai khinh bỉ ta, tất sẽ bị khinh bỉ lại. 31.  Kìa, thì giờ đến, ta sẽ hủy hại sự mạnh mẽ của người và sự mạnh mẽ của nhà cha ngươi, đến đỗi chẳng còn một người già trong họ hàng ngươi nữa. 32.  Giữa các phước lành mà Đức Giê-hô-va giáng cho Y-sơ-ra-ên, ngươi sẽ thấy nhà ngươi bị bần khổ, và trong họ hàng ngươi sẽ chẳng hề có người già nữa. 33.  Nếu trong nội nhà ngươi có một người mà ta không truất khỏi bàn thờ ta, ấy để làm cho ngươi mỏi mắt rầu lòng; các kẻ nhà ngươi sanh sản sẽ chết lúc xuân xanh. 34.  Điều sẽ xảy đến cho hai con ngươi, là Hóp-ni và Phi-nê-a, sẽ dùng làm dấu hiệu cho ngươi: cả hai đều sẽ chết trong một ngày. 35.  Đoạn, ta sẽ lập cho ta một thầy tế lễ trung tín; người sẽ làm theo lòng ta và ý ta. Ta sẽ cất cho người một nhà vững bền, và người sẽ đi trước mặt Đấng chịu xức dầu của ta luôn luôn. 36.  Ai trong họ hàng ngươi còn sống, sẽ đi đến lạy trước mặt người, hầu cho được một miếng bạc cùng một ổ bánh, và sẽ nói rằng: Xin ông hãy phong cho tôi một chức tế lễ, để tôi được một miếng bánh ăn. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B09\V02B09C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Bài Ca Tụng CHÚA của An-ne'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Bấy giờ bà An-ne dâng lời cầu nguyện và nói:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Lòng con rất vui mừng trong CHÚA;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
CHÚA đã làm cho đầu con ngước lên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Miệng con có thể cười lại đối thủ của con được rồi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi con rất đỗi vui mừng trong ơn cứu rỗi của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Chẳng có Ðấng Thánh nào giống như CHÚA;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật chẳng có ai ngoài ra Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không có Vầng Ðá che chở nào như Ðức Chúa Trời chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Các người đừng hống hách huênh hoang nữa;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Miệng các người đừng thốt ra những lời ngạo mạn nữa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì CHÚA là Ðức Chúa Trời biết hết mọi sự;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài sẽ cân nhắc mọi hành vi cử chỉ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Cây cung của kẻ mạnh đã bị gãy;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Còn người yếu đuối đã được mặc lấy sức mạnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Kẻ no đủ nay phải làm mướn mới có ăn;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người đói khổ bây giờ không còn đói khát;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người hiếm muộn nay sinh năm đẻ bảy; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kẻ đông con lại cằn cỗi héo mòn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 CHÚA làm cho chết và cũng làm cho sống lại;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài cho xuống âm phủ rồi lại đem lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 CHÚA làm cho nghèo và cũng làm cho giàu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài hạ xuống thấp rồi lại nâng lên cao.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Ngài nhấc người nghèo khó lên khỏi nơi bụi đất;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài nâng kẻ bần hàn lên khỏi đống phân tro,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi Ngài đặt họ ngồi chung với những người quyền quý,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Làm cho họ được hưởng ngôi vinh hiển cao sang;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì các trụ cột của địa cầu đều thuộc về CHÚA;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đặt thế giới trên các trụ cột ấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Ngài gìn giữ chân những người thánh của Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phường gian ác phải im miệng nơi tối tăm mù mịt,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì chẳng phải cậy vào sức mạnh mà người ta thắng được.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Những kẻ chống lại CHÚA sẽ bị đập nát tan tành;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ trời cao Ngài giáng sấm sét xuống đầu chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
CHÚA phán xét khắp nơi trên thế giới,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ban quyền năng cho người Ngài chọn làm vua,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và làm tăng uy quyền người được xức dầu của Ngài.”  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Sau đó Ên-ca-na trở về Ra-ma, trong khi đứa trẻ ở lại phụng sự CHÚA dưới sự chăm sóc và dạy dỗ của Tư Tế Hê-li. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tội Lỗi của Các Con Hê-li'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Thuở ấy hai con trai của Hê-li thật là hư đốn.  Chúng không biết kính sợ CHÚA gì cả, 13 và cũng không biết giữ phép tắc của người làm tư tế đối với dân.  Khi ai dâng một con vật hiến tế và lúc thịt còn đang nấu, đầy tớ của tư tế đến, tay cầm chĩa ba, 14 châm vào trong vạc, hoặc chảo, hoặc nồi, hoặc niêu, và hễ miếng thịt nào dính vào chĩa ba thì nó lấy cho tư tế.  Ðó là điều hai người ấy đã làm đối với tất cả những người I-sơ-ra-ên đến tại Si-lô.  15 Ngoài ra trước khi thịt mỡ được đem thiêu dâng, đầy tớ của tư tế đến và nói với người dâng con vật hiến tế, “Ðưa thịt đây để tư tế nướng.  Ông ấy không lấy thịt luộc đâu, mà chỉ lấy thịt sống thôi.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Nếu người kia đáp lại, “Xin hãy để chúng tôi đem thiêu dâng trước đã, rồi sau đó anh muốn lấy gì thì lấy,” thì nó bảo, “Không, phải đưa ngay bây giờ; nếu không, tôi sẽ dùng vũ lực giựt lấy.”  17 Tội của hai thanh niên ấy rất lớn trước mặt CHÚA, vì chúng đã khinh thường các của lễ người ta đem dâng lên CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cậu Bé Sa-mu-ên tại Si-lô'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Sa-mu-ên phục vụ trước mặt CHÚA.  Cậu bé mặc một ê-phót  bằng vải gai.  19 Mỗi năm mẹ cậu may cho cậu một áo choàng nhỏ, rồi đem lên cho cậu khi bà đi với chồng bà đến dâng con vật hiến tế hằng năm.  20 Hê-li chúc phước cho Ên-ca-na và vợ ông rằng, “Cầu xin CHÚA đền bù cho ông bằng những đứa con khác do bà này sinh cho ông, để bù lại đứa con bà đã cho CHÚA mượn.”  Sau đó họ trở về nhà của họ.  21 CHÚA thăm viếng An-ne.  Bà tiếp tục mang thai và sinh được ba con trai và hai con gái nữa.  Còn cậu bé Sa-mu-ên cứ tiếp tục lớn khôn trước mặt CHÚA. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sứ Ðiệp Nghịch Lại Gia Ðình Hê-li'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Bấy giờ Hê-li đã già lắm rồi.  Ông nghe biết tất cả những việc các con ông đã làm đối với mọi người I-sơ-ra-ên, và thể nào chúng đã ăn nằm với các phụ nữ phục vụ tại lối vào của Lều Hội Kiến.  23 Ông nói với chúng, “Tại sao các con làm như vậy?  Vì toàn dân này đã nói cho cha hay những việc đồi bại các con làm.  24 Không, các con ơi, những lời cha nghe dân của CHÚA đồn đãi không phải là những gì tốt đẹp đâu.  25 Nếu một người có tội với một người khác thì có tư tế cầu thay để Đức Chúa Trời phán xét người ấy, nhưng nếu một tư tế phạm tội với CHÚA thì ai sẽ cầu thay cho tư tế ấy đây?”  Nhưng chúng không màng gì đến những lời khuyên răn của cha chúng, vì CHÚA đã định sẽ tiêu diệt chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Trong khi đó cậu bé Sa-mu-ên càng ngày càng lớn, được đẹp lòng CHÚA và người ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Một người của Ðức Chúa Trời đến gặp Hê-li và nói với ông, “CHÚA phán thế này: Chính Ta há đã chẳng hiện ra một cách rõ ràng cho nhà cha ngươi, khi chúng còn làm nô lệ cho Pha-ra-ôn ở Ai-cập hay sao?  28 Ta há đã chẳng chọn tổ tiên ngươi trong tất cả các chi tộc I-sơ-ra-ên để làm tư tế cho Ta, dâng con vật hiến tế trên bàn thờ Ta, dâng hương, và mặc ê-phót ở trước mặt Ta hay sao?  Ta há đã chẳng ban cho nhà cha ngươi tất cả các của lễ mà dân I-sơ-ra-ên dùng lửa dâng lên hay sao?  29 Tại sao ngươi coi thường các con vật hiến tế và các của lễ chay mà Ta đã truyền đem dâng tại nơi Ta ngự, và coi trọng các con trai ngươi hơn Ta, mà làm cho cha con ngươi mập béo bằng những phần tốt nhất trong tất cả các lễ vật của I-sơ-ra-ên dân Ta?  30 Vì thế CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này: Trước kia Ta đã nói nhà ngươi và nhà cha ngươi sẽ vào ra trước mặt Ta đời đời, nhưng bây giờ CHÚA phán: Ðiều đó sẽ không còn nữa, vì hễ ai tôn kính Ta, Ta sẽ tôn trọng người ấy, nhưng ai khinh bỉ Ta, kẻ ấy ắt sẽ bị khinh khi.  31 Này, trong những ngày tới, Ta sẽ dứt bỏ sức lực của ngươi và sức lực của nhà cha ngươi, đến nỗi không ai trong gia đình ngươi sẽ sống đến tuổi già.  32 Rồi đây trong nỗi đau buồn, với cặp mắt thèm thuồng, ngươi sẽ nhìn thấy mọi phước hạnh Ta ban xuống trên I-sơ-ra-ên, mà gia đình ngươi sẽ không bao giờ có người sống đến tuổi già để hưởng.  33 Kẻ nào trong gia đình ngươi nếu không bị Ta loại khỏi bàn thờ của Ta thì sống cũng chỉ để lau những giọt lệ sầu và gánh chịu nỗi đau lòng xót dạ, vì mọi người sinh ra trong gia đình ngươi đều sẽ chết ở tuổi thanh xuân.  34 Ðiều sẽ xảy ra cho hai con trai ngươi, Hóp-ni và Phi-nê-a, sẽ là một dấu hiệu cho ngươi.  Hai đứa ấy sẽ chết cùng một ngày.  35 Rồi Ta sẽ dấy lên cho Ta một tư tế trung thành, một người sẽ làm theo điều lòng Ta và ý Ta muốn.   Ta sẽ xây dựng cho nó một nhà bền vững.  Nó sẽ vào ra trước mặt người được xức dầu của Ta mãi mãi.  36 Kẻ nào còn sót lại trong nhà ngươi sẽ đến sụp lạy trước mặt nó để xin một miếng bạc hay một ổ bánh, và sẽ nói rằng, ‘Xin ngài làm ơn cho tôi một chức tư tế để tôi có bánh ăn.’”   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[II Sa-mu-ên]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên: Chương 1]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên: Chương 3]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=L%C3%AA-vi_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_26&amp;diff=35772</id>
		<title>Lê-vi Ký: Chương 26</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=L%C3%AA-vi_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_26&amp;diff=35772"/>
		<updated>2026-06-26T05:56:44Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. &amp;quot;Các ngươi không được làm cho mình những thần tượng; các ngươi cũng không được làm cho mình một hình được chạm trỗ hay một trụ thờ, và cũng không được dựng lên trong xứ một tượng đá để thờ lạy; bởi vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. 2. Các ngươi hãy giữ ngày Sa-bát của Ta và tôn kính Nơi Thánh của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va. 3. Nếu các ngươi đi theo những luật lệ của Ta, gìn giữ những điều răn của Ta và làm theo, 4. Ta sẽ ban mưa xuống đúng mùa, đất đai sẽ sinh sản hoa màu, cây cối ngoài đồng sẽ kết quả. 5. Mùa đập lúa chấm dứt thì đến mùa hái nho, mùa hái nho chấm dứt thì đến mùa gieo mạ. Các ngươi sẽ ăn bánh no nê và sống an bình trong xứ của mình. 6. Ta sẽ ban hòa bình trong xứ.  Các ngươi sẽ nằm xuống nghỉ ngơi mà không phải lo sợ điều gì. Ta sẽ loại trừ những thú dữ khỏi xứ của các ngươi, và gươm đao sẽ không đi qua xứ của các ngươi. 7. Các ngươi sẽ rượt đuổi quân thù của mình, chúng sẽ ngã gục trước gươm của các ngươi. 8. Năm người trong các ngươi sẽ rượt đuổi một trăm người, một trăm người trong các ngươi sẽ rượt đuổi mười ngàn người. Quân thù của các ngươi sẽ ngã gục trước gươm của các ngươi. 9. Ta sẽ đoái xem các ngươi, làm cho các ngươi được kết quả và gia tăng, và xác lập giao ước của Ta với các ngươi. 10. Khi các ngươi còn ăn hoa lợi cũ đã được lưu trữ, thì phải dọn chỗ cho hoa lợi mới. 11. Ta sẽ thiết lập Đền Tạm của Ta ở giữa các ngươi, và Ta không ghê tởm các ngươi. 12. Ta sẽ đi giữa các ngươi, làm Đức Chúa Trời của các ngươi, và các ngươi sẽ làm dân của Ta. 13. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, là Ðấng đã đem các ngươi ra khỏi đất Ai Cập, để các ngươi không còn làm nô lệ cho chúng. Ta đã bẻ cái ách trên cổ của các ngươi để các ngươi có thể đứng thẳng bước đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Tuy nhiên nếu các ngươi không vâng lời Ta, không làm theo tất cả những điều răn nầy, 15. nếu các ngươi khước từ những luật lệ của Ta, linh hồn các ngươi chán ghét những mạng lệnh của Ta, không làm theo tất cả những điều răn của Ta, hủy bỏ giao ước của Ta, 16. thì Ta sẽ sai những điều nầy đến cho các ngươi: Ta sẽ giáng sự kinh hoàng trên các ngươi, dịch bệnh và bệnh sốt sẽ làm cho mắt của các ngươi mỏi mòn, lòng của các ngươi sẽ thảm sầu, các ngươi sẽ gieo giống uổng công vì kẻ thù của các ngươi sẽ ăn chúng. 17. Ta sẽ để mặt Ta chống lại các ngươi. Các ngươi sẽ bị quân thù đánh bại; những kẻ ghét các ngươi sẽ cai trị các ngươi; các ngươi sẽ chạy trốn dù không có ai rượt đuổi các ngươi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Nếu sau những điều nầy, các ngươi vẫn không vâng lời Ta thì Ta sẽ phạt các ngươi gấp bảy lần vì tội lỗi của các ngươi. 19. Ta sẽ bẻ gãy niềm kiêu hãnh của các ngươi, Ta sẽ khiến trời trở thành như sắt, đất trở nên như đồng. 20. Năng lực của các ngươi sẽ tiêu hao vô ích, đất không sinh sản hoa màu, cây cối trong xứ sẽ không ra trái.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Nếu các ngươi vẫn chống lại Ta và không vâng lời Ta, thì theo tội của các ngươi, Ta sẽ giáng tai họa gấp bảy lần trên các ngươi. 22. Ta sẽ sai thú dữ đến bắt con cái của các ngươi, tiêu diệt gia súc của các ngươi, các ngươi sẽ bị giảm thiểu, đường sá của các ngươi trở nên hoang vắng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Nếu sau những việc nầy, các ngươi vẫn không trở lại cùng Ta, vẫn tiếp tục chống lại Ta, 24. thì Ta sẽ chống lại các ngươi. Ta sẽ giáng tai họa gấp bảy lần trên các ngươi theo tội của các ngươi. 25. Ta sẽ đem gươm chống lại các ngươi để báo trả việc các ngươi bội ước. Khi các ngươi rút vào trong các thành, Ta sẽ sai bệnh dịch đến với các ngươi, rồi sẽ giao các ngươi vào tay của quân thù. 26. Lúc Ta cắt nguồn lương thực của các ngươi, mười phụ nữ sẽ nướng bánh chung trong một cái lò, rồi họ sẽ dùng cân để chia bánh - các ngươi sẽ ăn mà không no.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Nếu sau những việc nầy, các ngươi vẫn không vâng lời Ta, vẫn tiếp tục chống lại Ta, 28. Ta sẽ nổi thịnh nộ chống lại các ngươi, và vì tội của các ngươi, chính Ta sẽ phạt các ngươi gấp bảy lần. 29. Các ngươi sẽ ăn thịt những con trai của mình.  Các ngươi sẽ ăn thịt những con gái của mình. 30. Ta sẽ phá hủy những chỗ tế tự tại những nơi cao của các ngươi, và triệt hạ những bàn thờ dâng hương của các ngươi. Ta sẽ chất thây của các ngươi trên thây những thần tượng của các ngươi. Tâm hồn của Ta sẽ ghê tởm các ngươi. 31. Ta sẽ làm cho các thành phố của các ngươi trở nên hoang vu, những nơi thánh của các ngươi ra điêu tàn, và Ta sẽ không nhận những hương thơm từ các tế lễ của các ngươi nữa. 32. Ta sẽ làm cho xứ sở của các ngươi trở nên hoang vu, đến nỗi những kẻ thù của các ngươi đến cư ngụ tại đó cũng phải ngạc nhiên. 33. Ta sẽ phân tán các ngươi trong các nước, và rút gươm ra để truy đuổi các ngươi. Đất đai của các ngươi sẽ hoang vu, các thành phố của các ngươi sẽ điêu tàn. 34. Tất cả sẽ được nghỉ ngơi nếu chúng còn hoang tàn, để bù lại những năm Sa-bát mà chúng đã không được nghỉ ngơi vào lúc các ngươi vẫn còn cư ngụ tại đó. 36. Ðối với những kẻ còn sót lại ở giữa các ngươi, Ta sẽ làm cho lòng của họ khiếp đảm trong xứ của kẻ thù. Tiếng lá rơi cũng làm cho họ chạy trốn. Họ chạy trốn như chạy trốn khỏi gươm, và sẽ ngã nhào, mặc dù không có ai rượt đuổi. 37. Người nầy vấp ngã trên người kia như chạy trốn khỏi gươm dù chẳng ai đuổi theo họ. Không một ai trong các ngươi có thể đứng lên đối phó với quân thù. 38. Các ngươi sẽ bị diệt mất giữa các dân tộc; và đất của những kẻ thù của các ngươi sẽ ăn nuốt các ngươi. 39. Những người còn sót lại ở giữa các ngươi sẽ chết dần chết mòn vì tội lỗi của mình trong xứ của những kẻ thù của các ngươi. Họ sẽ chết dần chết mòn vì tội lỗi của tổ tiên đang ở với họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
40. Nhưng nếu họ xưng nhận tội lỗi của mình và tội lỗi của tổ phụ mình là họ đã phản nghịch Ta và họ đã chống lại Ta, 41. để Ta phải chống lại họ rồi đưa họ vào xứ sở của những kẻ thù. Nếu tấm lòng không chịu cắt bì của họ biết khiêm cung, chấp nhận sự sửa phạt về tội ác của mình, 42. thì Ta sẽ nhớ lại giao ước của Ta với Gia-cốp, và giao ước của Ta với Y-sác; Ta sẽ nhớ lại giao ước của Ta với Áp-ra-ham, và Ta sẽ nhớ lại xứ nầy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
43. Đất đai vì họ đã bị bỏ hoang và được nghỉ Sa-bát trong thời gian hoang vu không có họ. Họ phải chấp nhận hình phạt bởi vì họ đã khinh bỉ mệnh lệnh của Ta và tâm hồn của họ đã chán ghét những luật lệ của Ta. 44. Dầu vậy, trong khi họ ở trong xứ của kẻ thù, Ta đã không từ bỏ họ và cũng không ghê tởm họ đến nỗi phải tận diệt họ rồi hủy bỏ giao ước giữa Ta với họ, bởi vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. 45. Vì lợi ích của họ, Ta sẽ nhớ lại giao ước mà Ta đã lập với tổ phụ của họ, tức là những người mà Ta đã đem ra khỏi Ai Cập trước mắt các dân để làm Đức Chúa Trời của họ. Ta là Đức Giê-hô-va.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46. Ðó là những điều răn, mạng lệnh, và luật pháp mà Đức Giê-hô-va đã thiết lập giữa chính mình Ngài với dân Y-sơ-ra-ên trên núi Si-nai bởi tay của Môi-se.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Các ngươi chớ làm những hình tượng; hoặc hình chạm, hoặc hình đúc; chớ dựng trong xứ mình một hòn đá nào có dạng-hình, đặng sấp mình trước mặt hình đó, vì ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi. 2.  Hãy giữ lễ sa-bát ta, và tôn kính nơi thánh ta. Ta là Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Nếu các ngươi tuân theo luật pháp ta, gìn giữ các điều răn ta và làm theo, 4.  thì ta sẽ giáng mưa thuận-thì, đất sẽ sanh hoa lợi, và cây ngoài đồng sẽ kết bông trái. 5.  Mùa đập lúa sẽ lần đến mùa hái nho, mùa hái nho sẽ lần đến mùa gieo mạ; các ngươi sẽ ăn no, ở bình yên trong xứ mình. 6.  Ta sẽ giáng sự bình tịnh trong nước, các ngươi ngủ không sợ ai dọa; ta sẽ diệt những loài thú dữ khỏi xứ, gươm giáo chẳng đưa qua xứ các ngươi. 7.  Các ngươi đuổi theo quân nghịch, họ sẽ bị gươm sa ngã trước mặt các ngươi. 8.  Năm người trong các ngươi sẽ đuổi theo một trăm; một trăm trong các ngươi sẽ đuổi theo một muôn, và quân nghịch sẽ bị gươm sa ngã trước mặt các ngươi. 9.  Ta sẽ đoái lại cùng các ngươi, làm cho sanh sản và thêm nhiều, cùng kết lập giao ước với các ngươi. 10.  Các ngươi sẽ ăn hoa lợi cũ mình, và đem cái cũ ra đặng chừa chỗ cho cái mới. 11.  Ta sẽ lập chỗ ở ta giữa các ngươi, tâm hồn ta không hề ghê gớm các ngươi đâu. 12.  Ta sẽ đi giữa các ngươi, làm Đức Chúa Trời các ngươi, và các ngươi sẽ làm dân ta. 13.  Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi, Đấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, hầu cho khỏi làm tôi mọi. Ta đã bẻ gãy cái ách của các ngươi, làm cho các ngươi đi ngước đầu lên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Song nếu các ngươi không nghe ta, không làm theo các điều răn nầy, 15.  nếu khinh bỉ mạng lịnh ta, và tâm hồn các ngươi nghịch cùng luật pháp ta, đến nỗi không làm theo những điều răn ta, mà bội sự giao ước ta, 16.  thì nầy là những điều ta sẽ giáng cho các ngươi: Ta sẽ giáng cho các ngươi sự kinh khủng, bịnh tổn và rét làm hư mòn con mắt và nhọc mệt tâm hồn. Các ngươi gieo mạ luống công, quân thù nghịch sẽ ăn hết. 17.  Ta sẽ nổi giận cùng các ngươi; các ngươi sẽ bị quân thù nghịch đánh đập; kẻ nào ghét các ngươi sẽ lấn lướt các ngươi, và các ngươi sẽ chạy trốn không ai đuổi theo. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Nếu đến đỗi vậy mà các ngươi không khứng nghe ta, ta sẽ vì cớ tội phạm, thêm gấp bảy lần đặng sửa phạt các ngươi, 19.  và ta sẽ dẹp sự kiêu ngạo về năng lực các ngươi. Ta sẽ khiến trời các ngươi cứng như sắt và đất trơ như đồng; 20.  năng lực mình hao mòn vô ích, đất không sanh sản huê lợi, cây cối không kết bông trái. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Nếu các ngươi phản đối cùng ta, và không muốn nghe ta, thì ta sẽ tùy theo tội phạm giáng tai vạ trên các ngươi gấp bảy lần nữa. 22.  Ta sẽ sai những thú đồng đến tha con cái các ngươi đi, ăn hại súc vật, diệt số người ra ít; và đường nẻo các ngươi sẽ vắng tanh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23.  Dẫu đến những việc ấy mà các ngươi cứ không phục sự sửa phạt ta, cứ phản đối cùng ta, 24.  thì ta đây cũng sẽ nghịch lại cùng các ngươi, và vì cớ tội lỗi, sẽ giáng tai vạ cho các ngươi gấp bảy lần nữa. 25.  Ta sẽ khiến gươm giáo đến trên các ngươi đặng báo thù sự giao ước ta; khi các ngươi hội hiệp trong những thành mình, ta sẽ giáng dịch hạch đến giữa các ngươi, và nộp các ngươi vào tay thù nghịch. 26.  Khi ta dẫn sự đói kém đến, mười người nữ sẽ nướng bánh của các ngươi trong một lò, cân bánh trao lại cho các ngươi; các ngươi sẽ ăn mà không no. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27.  Dẫu đến nỗi vậy, mà các ngươi cứ không khứng nghe ta, còn phản đối cùng ta, 28.  thì ta cũng sẽ nghịch lại cùng các ngươi cách giận dữ, và vì cớ tội lỗi các ngươi, sẽ sửa phạt gấp bảy lần nữa. 29.  Các ngươi sẽ ăn thịt con trai con gái mình; 30.  ta sẽ hủy diệt những nơi cao các ngươi, phá đổ những hình mặt trời, và để thây các ngươi chồng trên thây của hình tượng mình, tâm hồn ta sẽ ghê gớm các ngươi. 31.  Ta sẽ làm cho thành các ngươi ra vắng vẻ, các nơi thánh quạnh hiu, và ta chẳng còn hưởng mùi thơm về của lễ các ngươi nữa. 32.  Ta sẽ làm xứ ra đồi bại, đến đỗi kẻ thù nghịch ở tại đó cũng lấy làm lạ. 33.  Ta sẽ tản lạc các ngươi trong các dân và rút gươm ra đuổi theo sau các ngươi: xứ các ngươi sẽ hoang vu, thành sẽ vắng vẻ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34.  Trọn trong lúc đất bỏ hoang vu, và các ngươi ở trong đất của kẻ thù nghịch, khi đó đất sẽ được an nghỉ hưởng những năm sa-bát. 35.  Trọn lúc đất bỏ hoang vu sẽ được an nghỉ; vì lúc các ngươi còn ở đất đó, nó không được an nghỉ trong những năm sa-bát của các ngươi. 36.  Còn ai trong các ngươi sống sót lại, ta sẽ làm cho họ nhát gan trong xứ của thù nghịch mình; tiếng lá khua sẽ làm cho họ chạy trốn, khác nào chạy trốn trước lưỡi gươm, té ngã mà không ai đuổi theo. 37.  Người nầy vấp ngã trên người kia như trước ngọn gươm, vốn chẳng ai rượt đuổi theo họ; các ngươi không thể chịu nổi trước mặt quân thù nghịch mình. 38.  Các ngươi sẽ bị chết mất giữa các dân, đất kẻ thù nghịch sẽ nuốt các ngươi. 39.  Ai trong các ngươi còn sống, sẽ vì cớ gian ác mình và gian ác của tổ phụ mà hao mòn trong xứ kẻ thù nghịch mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
40.  Khi ấy, họ sẽ nhận gian ác mình, và gian ác của tổ phụ mình, những tội lỗi họ đã phạm, và sự chống trả họ đã cự cùng ta, 41.  đến đỗi ta cũng chống trả lại, dẫn họ vào xứ kẻ thù nghịch. Bấy giờ nếu lòng không chịu cắt bì của họ sẽ tự hạ mình xuống, và sẽ phục điều sửa phạt về gian ác mình, 42.  thì ta sẽ nhớ lại sự giao ước ta đã lập cùng Gia-cốp, cùng Y-sác, cùng Áp-ra-ham, và ta sẽ nhớ lại xứ nầy. 43.  Vì xứ bị họ bỏ hoang sẽ được nghỉ bấy nhiêu năm sa-bát tùy theo họ bỏ hoang vu bao nhiêu: họ sẽ chịu hình phạt của gian ác mình, bởi vì đã khinh bỉ mạng lịnh ta, và tâm hồn họ đã lấy làm ghê gớm các luật pháp ta. 44.  Dẫu vậy, đang khi họ bị ở trong xứ kẻ thù nghịch mình, ta cũng chẳng bỏ họ đâu, chẳng ghê gớm họ đến phải hao mòn hết, và chẳng bội sự giao ước ta lập cùng họ đâu, vì ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của họ. 45.  Ta vì họ sẽ nhớ lại sự giao ước đã lập cùng tổ phụ họ mà ta đã đem ra khỏi xứ Ê-díp-tô trước mặt các dân, đặng làm Đức Chúa Trời của họ. Ta là Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46.  Đó là các điều lệ, mạng lịnh, và luật pháp mà Đức Giê-hô-va nhờ Môi-se, lập ra giữa ngài cùng dân Y-sơ-ra-ên, tại trên núi Si-nai-i. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B03\V02B03C026.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Phần Thưởng cho Người Vâng Giữ Mạng Lịnh của CHÚA'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Các ngươi chớ làm cho mình những thần tượng để thờ; các ngươi chớ dựng những hình tượng được chạm khắc hoặc những trụ tượng bằng đá; các ngươi chớ dựng lên những tượng đá trong xứ mình, rồi sấp mình xuống mà thờ lạy chúng, vì Ta là CHÚA, Ðức Chúa Trời của các ngươi.  2 Các ngươi sẽ giữ ngày Sa-bát Ta và tôn kính nơi thánh Ta.  Ta là CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Nếu các ngươi vâng theo những luật lệ Ta, vâng giữ những điều răn Ta, và làm theo cách trung tín, 4 Ta sẽ ban mưa xuống đúng mùa, đất đai sẽ sinh sản hoa màu, cây cối ngoài đồng sẽ đơm hoa kết quả.   5 Mùa đập lúa sẽ nối tiếp bằng mùa hái nho; mùa hái nho sẽ nối tiếp bằng mùa gieo giống.  Các ngươi sẽ ăn bánh của mình no nê và sống an ninh trong xứ mình.  6 Ta sẽ ban hòa bình cho xứ các ngươi.  Các ngươi sẽ nằm xuống an tâm ngủ nghỉ và không phải lo sợ điều gì.  Ta sẽ loại trừ các thú dữ khỏi xứ các ngươi, và gươm đao sẽ không đi qua xứ các ngươi.  7 Các ngươi sẽ rượt đuổi quân thù mình; chúng sẽ ngã gục trước lưỡi gươm các ngươi.  8 Năm người các ngươi sẽ rượt đuổi một trăm người, một trăm người các ngươi sẽ rượt đuổi mười ngàn người.  Quân thù các ngươi sẽ ngã gục trước gươm các ngươi.  9 Ta sẽ ưu đãi các ngươi và làm cho các ngươi sinh sôi nảy nở thật nhiều, và Ta sẽ duy trì giao ước Ta với các ngươi.  10 Các ngươi sẽ ăn lúa thóc của mùa trước cho đến khi phải lấy lúa thóc cũ ra khỏi kho hầu có chỗ chứa lúa thóc mới.  11 Ta sẽ ở giữa các ngươi và linh hồn Ta sẽ không ghê tởm các ngươi.  12 Ta sẽ bước đi giữa các ngươi, làm Ðức Chúa Trời của các ngươi, và các ngươi sẽ làm dân Ta.  13 Ta là CHÚA, Ðức Chúa Trời của các ngươi, Ðấng đã đem các ngươi ra khỏi đất Ai-cập, để các ngươi không còn làm nô lệ cho chúng.  Ta đã bẻ ách trên cổ các ngươi và làm cho các ngươi bước đi cách hiên ngang. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Hình Phạt Dành cho Những Kẻ Bội Nghịch'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Nếu các ngươi không vâng lời Ta, không làm theo những điều răn Ta, 15 nếu các ngươi khước từ những luật lệ Ta, và linh hồn các ngươi chán ghét những mạng lịnh Ta, rồi không làm theo các điều răn Ta, mà còn hủy bỏ giao ước Ta, 16 thì đây là những điều Ta sẽ làm cho các ngươi: Ta sẽ giáng kinh hãi trên các ngươi, sức lực các ngươi sẽ tiêu hao, mắt các ngươi sẽ mờ đi vì bị sốt, và lòng các ngươi sẽ chứa chan sầu não.  Các ngươi sẽ gieo lúa luống công, vì quân thù các ngươi sẽ ăn hoa màu đó.  17 Ta sẽ để mặt Ta nghịch lại các ngươi.  Các ngươi sẽ bị quân thù đánh bại; những kẻ ghét các ngươi sẽ cai trị các ngươi; các ngươi sẽ chạy trốn dù không ai rượt đuổi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Nếu đã vậy mà các ngươi vẫn không vâng lời Ta, thì vì tội các ngươi, Ta sẽ phạt các ngươi gấp bảy lần.  19 Ta sẽ bẻ gãy vẻ kiêu hùng của các ngươi.  Ta sẽ làm cho trời trên các ngươi cứng như sắt và đất dưới các ngươi cứng như đồng.  20 Sức lực các ngươi sẽ bị tiêu hao vô ích; đất đai các ngươi sẽ không sinh sản hoa màu; cây cối trong xứ các ngươi sẽ không đơm hoa kết quả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Nếu đã thế mà các ngươi vẫn còn tiếp tục chống lại Ta và không vâng lời Ta, thì vì tội các ngươi, Ta sẽ giáng tai họa trên các ngươi gấp bảy lần nữa.  22 Ta sẽ để thú dữ đến tung hoành sát hại các ngươi; chúng sẽ cắn xé con cái các ngươi, giết hại súc vật các ngươi, và làm cho dân số các ngươi giảm thiểu, đến nỗi đường sá các ngươi sẽ trở nên vắng vẻ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Dù bị phạt như vậy mà các người vẫn không chịu quay lại với Ta, mà cứ tiếp tục chống lại Ta, 24 thì Ta cũng sẽ chống lại các ngươi, và vì tội của các ngươi, Ta sẽ giáng họa xuống các ngươi gấp bảy lần nữa.  25 Ta sẽ mang gươm đao đến giết hại các ngươi, để báo trả cho sự bội nghịch của các ngươi đối với giao ước.  Nếu các ngươi rút vào trong các thành mình, Ta sẽ sai ôn dịch đến giữa các ngươi, và các ngươi sẽ bị phó vào tay quân thù.  26 Khi Ta cắt đứt nguồn lương thực của các ngươi, thì một lò cũng đủ cho mười người nữ nướng bánh; họ sẽ chia bánh cho các ngươi bằng cân lượng, và các ngươi sẽ ăn mà không no.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Dù đã như vậy mà các ngươi vẫn không vâng lời Ta, mà cứ chống lại Ta, 28 bấy giờ Ta sẽ nổi cơn thịnh nộ chống lại các ngươi, và vì tội các ngươi, Ta sẽ phạt các ngươi gấp bảy lần nữa.  29 Các ngươi sẽ ăn thịt các con trai mình, và các ngươi sẽ ăn thịt các con gái mình.  30 Ta sẽ phá hủy các tế đàn trên những nơi cao; Ta sẽ đạp đổ những bàn thờ dâng hương của các ngươi; Ta sẽ chất thây các ngươi trên thây các thần tượng của các ngươi.  Ta sẽ ghê tởm các ngươi.  31 Ta sẽ làm cho các thành của các ngươi ra hoang vắng; Ta sẽ khiến những nơi thánh của các ngươi ra điêu tàn; Ta sẽ không hưởng nhận những mùi thơm do các ngươi dâng hiến.  32 Ta sẽ làm cho xứ sở các ngươi trở nên hoang vu, đến nỗi những kẻ thù của các ngươi đến chiếm ở cũng phải ngạc nhiên.  33 Ta sẽ phân tán các ngươi ra trong các nước.  Ta sẽ tuốt gươm ra truy đuổi các ngươi.  Xứ sở các ngươi sẽ trở nên hoang vu; thành quách các ngươi sẽ ra điêu tàn vắng vẻ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34 Bấy giờ nhờ nó bị bỏ hoang đất sẽ được hưởng những năm Sa-bát; trong khi các ngươi sống trong xứ của kẻ thù, đất sẽ được nghỉ bù và được hưởng những năm Sa-bát.  35 Hễ khi nào đất còn bị bỏ hoang, nó sẽ được nghỉ bù những năm Sa-bát mà nó không có khi các ngươi còn sống ở đó.  36 Ðối với những kẻ còn sống sót, Ta sẽ làm cho lòng chúng ra hèn nhát khi sống trong xứ bị kẻ thù cai trị.  Chỉ một tiếng lá rung cũng đủ làm cho chúng sợ hãi bỏ chạy; chúng sẽ chạy trốn như thể bị gươm truy kích, và chúng sẽ ngã nhào dù chẳng ai đuổi theo.  37 Chúng sẽ ngã nhào lên nhau, như thể bị ngã rạp trước lưỡi gươm, mặc dù chẳng có ai rượt đuổi.  Các ngươi sẽ chẳng có sức lực đối phó với quân thù.  38 Các ngươi sẽ bị diệt vong giữa các dân, và đất của kẻ thù các ngươi sẽ ăn nuốt các ngươi.  39 Ai trong các ngươi còn sống sót sẽ chết dần chết mòn trong xứ của kẻ thù vì tội lỗi mình.   Chúng sẽ chết dần chết mòn vì tội lỗi của tổ tiên mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
40 Nhưng nếu chúng xưng nhận tội lỗi mình và tội lỗi của tổ tiên mình rằng chúng đã phản nghịch Ta, thậm chí còn nhất quyết chống lại Ta, 41 đến nỗi Ta buộc lòng phải chống lại chúng và khiến chúng phải bị dẫn đến xứ của kẻ thù của chúng, nếu tấm lòng không chịu cắt bì của chúng biết khiêm nhường và chúng biết ăn năn lìa bỏ tội lỗi của chúng, 42 Ta sẽ nhớ lại giao ước Ta với Gia-cốp, Ta cũng sẽ nhớ lại giao ước Ta với I-sác, Ta cũng sẽ nhớ lại giao ước Ta với Áp-ra-ham, và Ta sẽ nhớ đến xứ sở chúng, 43 vì xứ sở chúng đã bị chúng bỏ hoang, và đất ấy đã được hưởng những năm Sa-bát do bị bỏ hoang vì không có chúng, trong lúc chúng bị sửa phạt về tội lỗi chúng, bởi chúng đã dám khước từ mạng lịnh Ta và gớm ghét luật lệ Ta.  44 Dầu vậy trong khi chúng ở trong xứ của kẻ thù của chúng, Ta sẽ không khước từ chúng, hoặc gớm ghét chúng, mà tuyệt diệt chúng, hoặc hủy bỏ giao ước Ta với chúng, vì Ta là CHÚA, Ðức Chúa Trời của chúng.  45 Ðể tỏ lòng nhân từ với chúng, Ta sẽ nhớ lại giao ước với tổ tiên chúng, những kẻ Ta đã đem ra khỏi đất Ai-cập trước mặt các dân, để làm Ðức Chúa Trời của chúng.  Ta là CHÚA.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46 Ðó là những điều răn, mạng lịnh, và luật pháp mà CHÚA đã cậy Môi-se lập giữa Ngài với dân I-sơ-ra-ên trên núi Si-nai.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Lê-vi Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Lê-vi Ký: Chương 25]]&lt;br /&gt;
:* [[Lê-vi Ký: Chương 27]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Xu%E1%BA%A5t_%C3%8A-d%C3%ADp-t%C3%B4_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_16&amp;diff=35771</id>
		<title>Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 16</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Xu%E1%BA%A5t_%C3%8A-d%C3%ADp-t%C3%B4_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_16&amp;diff=35771"/>
		<updated>2026-06-26T05:49:51Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đó toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên đã rời khỏi Ê-lim đến sa mạc Sin, nằm ở giữa Ê-lim và Si-nai, vào ngày mười lăm của tháng thứ hai kể từ khi họ rời khỏi Ai Cập. 2. Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đã oán trách Môi-se và A-rôn trong hoang mạc. 3. Dân Y-sơ-ra-ên đã nói với họ rằng: &amp;quot;Ước gì chúng tôi chết bởi tay của Đức Giê-hô-va trong xứ Ai Cập, vào lúc chúng tôi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh no nê. Các ông đã đem chúng tôi vào trong hoang mạc nầy, để cả đoàn dân phải chết đói như thế nầy.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: &amp;quot;Hãy xem! Ta sẽ ban mưa bánh từ trời xuống cho các ngươi. Mỗi ngày dân chúng hãy đi ra nhặt đủ khẩu phần cho mỗi ngày. Ta sẽ thử xem họ có đi theo luật lệ của Ta hay không. 5. Vào ngày thứ sáu, họ sẽ chuẩn bị và sẽ đem về sẽ gấp đôi những gì họ nhặt hằng ngày.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Môi-se và A-rôn đã nói với tất cả dân Y-sơ-ra-ên: &amp;quot;Chiều nay, anh em sẽ nhận biết rằng chính Đức Giê-hô-va đã đem anh em ra khỏi Ai Cập; 7. và sáng mai, anh em sẽ thấy sự vinh quang của Đức Giê-hô-va, bởi vì Ngài đã nghe lời của anh em đã oán trách Đức Giê-hô-va. Còn chúng tôi chẳng là gì để anh em phải oán trách.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Môi-se nói: &amp;quot;Buổi chiều Đức Giê-hô-va sẽ ban thịt cho anh em ăn, và buổi sáng sẽ ban bánh sẽ dư dật, bởi vì Đức Giê-hô-va đã nghe lời anh em oán trách Ngài. Còn chúng tôi là cái gì? Không phải anh em đã oán trách chúng tôi, nhưng  đã oán trách Đức Giê-hô-va.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Môi-se đã nói với A-rôn: &amp;quot;Hãy nói với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: 'Hãy đến trước mặt Đức Giê-hô-va, bởi vì Ngài đã nghe lời oán trách của anh em.’” 10. Trong lúc A-rôn đang nói với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, họ nhìn về phía hoang mạc, thấy hào quang của Đức Giê-hô-va xuất hiện trong đám mây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Đức Giê-hô-va nói với Môi-se rằng: 12. &amp;quot;Ta đã nghe lời oán trách của dân Y-sơ-ra-ên. Hãy nói với họ rằng: Các ngươi sẽ được ăn thịt vào lúc hoàng hôn; đến sáng mai các ngươi sẽ có bánh ăn no nê.  Các ngươi sẽ biết rằng Ta là Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của các ngươi.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Chiều xuống, chim cút kéo đến bao phủ doanh trại. Sáng hôm sau, có một lớp sương bào phủ rồi đọng lại trên cả doanh trại. 14. Khi lớp sương đó tan đi, trên bề mặt của hoang mạc xuất hiện một vật nho nhỏ, tròn mịn như hạt sương đọng lại trên mặt đất. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Khi dân Y-sơ-ra-ên thấy vậy, họ hỏi nhau: &amp;quot;Vật gì vậy?&amp;quot; Bởi vì họ không biết vật đó là gì. Môi-se đã nói với họ: &amp;quot;Đó là bánh mà Đức Giê-hô-va ban cho anh em để làm thức ăn.&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Đây là điều Đức Giê-hô-va đã truyền: &amp;quot;Mỗi người, hãy nhặt một ô-me cho nhu cầu của mình. Hãy nhặt cho từng người tùy theo số người trong trại của mình.&amp;quot; 17. Dân Y-sơ-ra-ên đã làm như vậy. Kẻ nhặt nhiều hơn, người nhặt ít hơn. 18. Khi họ đong bằng ô-me, ai nhặt nhiều cũng không dư, ai nhặt ít cũng không thiếu - Mỗi người tùy theo nhu cầu của từng người mà họ lấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Môi-se nói: &amp;quot;Đừng có ai để dành đến sáng mai.&amp;quot; 20. Tuy nhiên họ không nghe lời của Môi-se. Một vài người đã để lại đến sáng mai thì nó sinh ra sâu và hôi thối. Môi-se nổi giận với họ. 21. Sáng nào cũng vậy, mỗi người đã nhặt theo khẩu phần của mình. Khi mặt trời nắng nóng, thì vật đó tan chảy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Vào ngày thứ sáu, họ nhặt gấp đôi số bánh, mỗi người hai ô-me. Tất cả những người lãnh đạo của hội chúng đã đến và trình với Môi-se. 23. Ông nói với họ: &amp;quot;Đây là lời Đức Giê-hô-va đã phán: Ngày mai là ngày Sa-bát, là ngày thánh dành cho Đức Giê-hô-va, đó là ngày nghỉ. Hãy nướng món gì anh em muốn nướng, hãy nấu món gì anh em muốn nấu, và rồi tất cả những gì còn lại hãy để dành cho đến sáng mai.&amp;quot; 24. Vì vậy họ để dành cho đến sáng mai như lời Môi-se đã truyền. Vật đó không có mùi hôi thối và cũng chẳng sinh sâu bọ ở trong đó. 25. Môi-se nói: &amp;quot;Hãy ăn thức ăn đó ngày hôm nay, bởi vì hôm nay là ngày Sa-bát dành cho Đức Giê-hô-va. Anh em sẽ chẳng tìm thấy vật đó ngoài đồng ngày hôm nay. 26. Anh em hãy nhặt trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, sẽ không có gì cả.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Tuy nhiên, vào ngày thứ bảy cũng có một vài người trong dân chúng đi ra để nhặt, nhưng họ chẳng tìm được gì. 28. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: &amp;quot;Các ngươi còn từ chối, không vâng theo điều răn và mệnh lệnh của Ta cho đến bao giờ? 29. Hãy suy nghĩ đi. Đức Giê-hô-va đã ban cho các ngươi ngày Sa-bát, vì vậy trong ngày thứ sáu Ngài đã ban cho các ngươi lương thực đủ cho cả hai ngày. Mỗi người hãy ở tại nơi của mình. Không ai rời khỏi nơi của mình trong ngày thứ bảy.&amp;quot; 30. Vì vậy dân chúng đã nghỉ ngơi trong ngày thứ bảy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31. Nhà của Y-sơ-ra-ên đã đặt tên cho vật đó là ma-na. Nó giống như một hạt ngò, màu trắng, vị như bánh tráng có mật ong.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32. Môi-se nói: &amp;quot;Đây là điều Đức Giê-hô-va đã truyền: Hãy đổ đầy một ô-me, rồi giữ lại cho các thế hệ, để chúng thấy bánh mà Ta đã nuôi các ngươi trong hoang mạc lúc Ta đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ai Cập.&amp;quot; 33. Môi-se nói với A-rôn: &amp;quot;Hãy lấy một cái bình, đổ đầy trong đó một ô-me ma-na, rồi đặt trước mặt Đức Giê-hô-va để lưu giữ cho các thế hệ.&amp;quot; 34. A-rôn đã đặt vật đó trước Bảng Chứng Ước để được lưu giữ như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35. Dân Y-sơ-ra-ên đã ăn ma-na trong bốn mươi năm cho đến khi họ vào vùng đất định cư. Họ đã ăn ma-na cho đến khi họ đến biên giới của xứ Ca-na-an.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36. Một ô-me là một phần mười của một ê-pha.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Nhằm ngày mười lăm tháng hai, sau khi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên ở nơi Ê-lim đi đến đồng vắng Sin, nằm về giữa khoảng Ê-lim và Si-na-i. 2.  Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên oán trách Môi-se và A-rôn tại nơi đồng vắng, 3.  nói cùng hai người rằng: Ôi! thà rằng chúng tôi chịu chết về tay Đức Giê-hô-va tại xứ Ê-díp-tô, khi còn ngồi kề nồi thịt và ăn bánh chán hê! Vì hai người dẫn dắt chúng tôi vào nơi đồng vắng nầy đều bị chết đói. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Nầy, ta sẽ từ trên trời cao làm mưa bánh xuống cho các ngươi. Dân sự sẽ đi ra, mỗi ngày nào thâu bánh đủ cho ngày nấy, đặng ta thử dân coi có đi theo luật lệ của ta hay chăng. 5.  Qua ngày thứ sáu, dân sự sẽ dự bị phần đã góp, và sẽ được phần gấp bằng hai của mình thường thâu hằng ngày. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Môi-se và A-rôn bèn nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Chiều nay các ngươi sẽ nhận biết rằng ấy là Đức Giê-hô-va đã rút các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, 7.  và sáng mai sẽ thấy sự vinh quang của Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã nghe lời các ngươi oán trách Ngài rồi. Vả lại, chúng ta là ai mà các ngươi oán trách chúng ta? 8.  Môi-se nói: Chiều nầy Đức Giê-hô-va sẽ phát thịt cho các ngươi ăn, rồi sáng mai bánh nhiều dư dật, vì Ngài đã nghe lời các ngươi oán trách Ngài rồi. Thế thì, chúng ta là ai? Những lời oán trách chẳng phải đổ về chúng ta đâu, nhưng về Đức Giê-hô-va vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Môi-se nói cùng A-rôn rằng: Hãy nói cho cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi hãy đến trước mặt Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã nghe lời oán trách của các ngươi rồi. 10.  Vả, khi A-rôn nói cùng cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, thì họ xây mặt về phía đồng vắng, thấy sự vinh quang của Ngài hiện ra trong đám mây. 11.  Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 12.  Ta đã nghe lời oán trách của dân Y-sơ-ra-ên. Vậy, ngươi hãy nói cùng chúng nó rằng: Lối chiều các ngươi sẽ ăn thịt; sáng mai sẽ ăn bánh no nê, và sẽ biết ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13.  Vậy, chiều lại, có chim cút bay lên phủ trên trại quân; đến sáng mai lại có một lớp sương ở chung quanh trại quân. 14.  Lớp sương đó tan đi, trên mặt đồng vắng thấy có vật chi nhỏ, tròn, như hột sương đóng trên mặt đất. 15.  Khi dân Y-sơ-ra-ên thấy, bèn hỏi nhau rằng: Cái chi vậy? Vì chẳng biết vật đó là gì. Môi-se bèn nói cùng dân sự rằng: Ấy là bánh mà Đức Giê-hô-va ban cho các ngươi làm lương thực đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16.  Nầy là lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn: Hãy tùy sức ăn của mỗi người, và tùy số người trong trại mà góp cho mỗi tên một ô-me. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Dân Y-sơ-ra-ên bèn làm như vậy, kẻ thì lượm nhiều, người thì lượm ít, 18.  cứ lường từ ô-me; ai lượm nhiều chẳng được trội, ai lượm ít cũng chẳng thiếu; mỗi người lượm vừa đủ sức mình ăn. 19.  Môi-se nói cùng dân sự rằng: Đừng ai để dư lại cho đến sáng mai. 20.  Nhưng dân sự chẳng nghe theo lời Môi-se, một vài người để dư lại đến sáng mai; thì sâu hóa ở trong, vật sanh mùi hôi hám. Môi-se bèn nổi giận cùng họ. 21.  Vậy, hằng buổi sớm mai mỗi người lượm vừa đủ sức mình ăn; khi mặt trời nắng nóng thì vật đó tan ra. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  Đến ngày thứ sáu, dân sự lượm lương thực gấp hai; mỗi người hai ô-me. Các hội trưởng đến thuật lại cho Môi-se rõ. 23.  Người đáp rằng: Ấy là lời Đức Giê-hô-va đã phán rằng: Mai là ngày nghỉ, tức ngày Sa-bát thánh cho Đức Giê-hô-va, hãy nướng món chi các ngươi muốn nướng, hãy nấu món chi các ngươi muốn nấu; hễ còn dư, hãy để dành đến sáng mai. 24.  Dân sự bèn để dành cho đến sáng mai, y như lời Môi-se đã truyền; vật đó chẳng sanh mùi hôi hám và cũng chẳng hóa sâu chút nào. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25.  Môi-se bèn nói rằng: Bữa nay hãy ăn đồ đó đi, vì là ngày Sa-bát của Đức Giê-hô-va; hôm nay các ngươi chẳng tìm thấy vật đó ở trong đồng đâu. 26.  Các ngươi lượm trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, sẽ chẳng có đâu. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27.  Ngày thứ bảy, một vài người trong vòng dân sự ra đặng lượm lấy, nhưng tìm chẳng thấy chi hết. 28.  Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Các ngươi chẳng chịu vâng giữ điều răn và luật pháp ta cho đến chừng nào? 29.  Hãy suy nghĩ rằng Đức Giê-hô-va đã cho các ngươi ngày Sa-bát; vậy nên, đến ngày thứ sáu Ngài lại cho các ngươi lương thực đủ hai ngày. Trong ngày thứ bảy, mỗi người phải ở yên chỗ mình, chớ ai ra khỏi nhà. 30.  Thế thì, ngày thứ bảy dân sự đều nghỉ ngơi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31.  Nhà Y-sơ-ra-ên đặt tên lương thực nầy là ma-na; nó giống như hột ngò, sắc trắng, mùi như bánh ngọt pha mật ong. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32.  Môi-se nói rằng: Lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn như vầy: Hãy đổ đầy một ô-me ma-na, đặng lưu truyền trải các đời, hầu cho thiên hạ thấy thứ bánh ta đã cho các ngươi ăn nơi đồng vắng, khi ta rút các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô. 33.  Môi-se lại nói cùng A-rôn rằng: Hãy lấy một cái bình đựng đầy một ô-me ma-na, để trước mặt Đức Giê-hô-va, đặng lưu truyền các đời. 34.  A-rôn bèn để bình đó trước sự chứng cớ, hầu cho được lưu truyền y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se. 35.  Dân Y-sơ-ra-ên ăn ma-na trải bốn mươi năm, cho đến khi vào bờ cõi xứ Ca-na-an, là xứ có người ta ở. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36.  Vả, ô-me là một phần mười của ê-pha. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B02\V02B02C016.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Lương Thực Từ Trời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Toàn thể hội chúng I-sơ-ra-ên nhổ trại rời khỏi Ê-lim đi vào Ðồng Hoang Sin, vùng đất nằm giữa Ê-lim và Si-nai; đó là ngày mười lăm, tháng thứ hai, sau khi họ rời khỏi xứ Ai-cập.  2 Cả hội chúng I-sơ-ra-ên oán trách Môi-se và A-rôn trong đồng hoang.  3 Dân I-sơ-ra-ên nói với họ, “Ước gì chúng tôi bị chết bởi tay CHÚA trong xứ Ai-cập khi được ngồi bên nồi thịt và ăn bánh no nê còn hơn là để hai ông đem chúng tôi vào đồng hoang này để cả hội chúng phải chết đói.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 CHÚA phán với Môi-se, “Này, Ta sẽ ban mưa bánh từ trời xuống cho các ngươi; mỗi ngày dân chúng sẽ đi ra và lấy đủ bánh cho ngày ấy.  Ta sẽ dùng cách đó để thử chúng, xem chúng có vâng lời Ta chăng.  5 Ngày thứ sáu, chúng sẽ lấy về gấp đôi số lượng chúng lấy trong những ngày khác.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Vậy Môi-se và A-rôn nói với toàn dân I-sơ-ra-ên, “Ðến chiều tối anh chị em sẽ biết rằng chính CHÚA đã đem anh chị em ra khỏi xứ Ai-cập.  7 Rồi đến sáng mai, anh chị em sẽ thấy vinh hiển của CHÚA, bởi Ngài đã nghe tiếng anh chị em oán trách CHÚA.  Vì chúng tôi đâu là gì mà anh chị em oán trách chúng tôi?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Môi-se lại nói, “Chiều nay CHÚA sẽ ban cho anh chị em thịt để ăn, rồi sáng mai anh chị em sẽ được no nê vì ăn bánh, bởi CHÚA đã nghe tiếng oán trách mà anh chị em đã oán trách Ngài; chứ chúng tôi là ai?  Những lời anh chị em oán trách không phải là oán trách chúng tôi, nhưng là oán trách CHÚA.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Ðoạn Môi-se nói với A-rôn, “Xin anh nói với toàn thể hội chúng I-sơ-ra-ên, ‘Hãy lại gần CHÚA, vì Ngài đã nghe tiếng oán trách của anh chị em.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Khi A-rôn nói với cả hội chúng I-sơ-ra-ên, họ hướng mắt nhìn về đồng hoang, và này, vinh quang CHÚA hiện ra trên mây.  11 CHÚA phán với Môi-se, 12 “Ta đã nghe tiếng oán trách của dân I-sơ-ra-ên.  Hãy nói với chúng, ‘Vào chạng vạng tối nay các ngươi sẽ được ăn thịt; đến sáng mai các ngươi sẽ có bánh ăn no nê; bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng Ta là CHÚA, Ðức Chúa Trời của các ngươi.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Khi trời sắp tối các chim cút bay đến phủ khắp doanh trại; sáng hôm sau, lại có một lớp sương phủ xung quanh doanh trại.  14 Khi lớp sương đó tan đi, kìa, trên mặt đồng hoang có một chất gì như một lớp mỏng mịn màng, mịn như bột phủ trên mặt đất.  15 Khi dân I-sơ-ra-ên thấy vậy, họ hỏi nhau, “Thứ gì vậy?”  Vì họ không biết đó là thứ gì. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Môi-se nói với họ, “Ðây là bánh CHÚA ban cho anh chị em để ăn.  16 Ðây là điều CHÚA đã truyền, ‘Mỗi người cần bao nhiêu, cứ lấy đủ dùng cho mình, khoảng hai lít cho mỗi người, cứ theo số người ở trong lều mà lấy đủ dùng cho mọi người.’” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Dân I-sơ-ra-ên làm như vậy.  Một số lấy nhiều, một số lấy ít.  18 Rồi họ lấy ô-me ra đong, ai lấy nhiều cũng không dư, ai lấy ít cũng không thiếu; cứ tùy sức mỗi người ăn được bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu.  19 Môi-se nói với họ, “Ðừng ai để vật ấy còn thừa lại đến ngày mai.”  20 Tuy nhiên vẫn có một số người không nghe lời Môi-se; họ để dành một phần đến sáng hôm sau; vật ấy bèn sinh giòi và bốc mùi hôi thối; do đó Môi-se giận họ.  21 Vậy sáng nào cũng thế, họ đi ra hốt lớp bột ấy làm lương thực cho mình, ai cần bao nhiêu thì hốt bấy nhiêu; nhưng khi ánh nắng mặt trời bắt đầu nóng, lớp bột ấy liền tan chảy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Ðến ngày thứ sáu họ lấy số lượng gấp đôi, mỗi người bốn lít.  Khi những người lãnh đạo hội chúng đến hỏi Môi-se, 23 ông trả lời họ, “Ðây là điều CHÚA đã truyền: ‘Ngày mai là ngày yên nghỉ, ngày Sa-bát thánh để tôn kính CHÚA, hãy nướng món gì anh chị em muốn nướng, nấu món gì anh chị em muốn nấu, những gì còn dư hãy để dành cho sáng mai.’”  24 Vậy họ để dành bột ấy đến sáng mai, y như Môi-se đã truyền cho họ, và bột ấy không bị hôi thối hay bị sinh giòi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25 Môi-se nói, “Hãy lấy bột ấy mà ăn hôm nay, vì hôm nay là ngày Sa-bát để tôn kính CHÚA.  Hôm nay anh chị em sẽ không thấy bột ấy ngoài đồng.  26 Trong sáu ngày anh chị em sẽ ra lấy về dùng, nhưng đến ngày thứ bảy, là ngày Sa-bát, sẽ không có bột ấy.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Nhưng trong ngày thứ bảy vẫn có một số người đi ra lấy, và họ chẳng tìm được gì.  28 CHÚA phán với Môi-se, “Các ngươi cứ từ chối, không vâng theo điều răn và mệnh lệnh Ta cho đến bao giờ?  29 Kìa, CHÚA đã ban cho các ngươi ngày Sa-bát, vì thế ngày thứ sáu Ngài đã ban cho các ngươi lương thực đủ ăn cho hai ngày.  Ai nấy trong các ngươi hãy ở tại chỗ mình; đừng rời khỏi nơi mình trong ngày thứ bảy.”  30 Vậy dân chúng nghỉ ngơi trong ngày thứ bảy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 Nhà I-sơ-ra-ên gọi vật ấy là ma-na.  Nó giống như hột ngò, màu trắng, có mùi vị tựa bánh tráng tẩm mật ong.  32 Môi-se nói, “Ðây là mệnh lệnh CHÚA đã truyền, ‘Hãy lấy hai lít ma-na giữ lại cho những thế hệ về sau, để chúng thấy thứ lương thực Ta đã nuôi các ngươi trong đồng hoang, khi Ta đem các ngươi ra khỏi xứ Ai-cập.’” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Vậy Môi-se nói với A-rôn, “Xin anh lấy một cái bình, đổ hai lít ma-na vào trong đó, rồi đặt bình ấy trước mặt CHÚA, và giữ như vậy từ thế hệ này qua thế hệ khác.”  34 Theo như lệnh CHÚA đã truyền cho Môi-se, A-rôn đặt bình ấy trước Chứng Cớ, để lưu giữ.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 Dân I-sơ-ra-ên ăn ma-na bốn mươi năm, cho đến khi họ vào trong xứ có thể canh tác được.  Họ cứ ăn ma-na cho đến khi họ tiến vào bờ cõi xứ Ca-na-an.  36 Một ô-me là một phần mười của một ê-pha. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Lê-vi Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 15]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 17]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_6&amp;diff=35770</id>
		<title>Các Quan Xét: Chương 6</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_6&amp;diff=35770"/>
		<updated>2026-06-18T03:40:25Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va phó họ vào tay của dân Ma-đi-an trong bảy năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Tay của dân Ma-đi-an đã thắng hơn dân Y-sơ-ra-ên. Vì cớ dân Ma-đi-an cho nên người Y-sơ-ra-ên phải làm cho mình những cái hang ở trong núi, trong các hang động, hay trong những nơi kiên cố. 3. Mỗi khi dân Y-sơ-ra-ên gieo giống thì dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và dân phương Đông kéo đến. Chúng kéo đến để tấn công họ. 4. Chúng đóng quân để chống lại họ và hủy hoại mùa màng trong xứ cho đến tận Ga-xa, không chừa lại một thứ gì trong Y-sơ-ra-ên, kể cả chiên, bò, và lừa. 5. Bởi vì chúng và những đàn súc vật của chúng đã kéo đến rồi đóng trại. Chúng kéo đến nhiều như cào cào. Bọn chúng và lạc đà nhiều vô số, không thể đếm hết được. Chúng chiếm lấy xứ rồi phá hoại. 6. Vì cớ dân Ma-đi-an mà dân Y-sơ-ra-ên bị nghèo đói, cho nên họ đã kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Và rồi, khi dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va về việc dân Ma-đi-an, 8. Đức Giê-hô-va đã sai một tiên tri đến nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Ta đã đem các ngươi ra khỏi Ai Cập, đã rút các ngươi ra khỏi nhà nô lệ. 9. Ta đã giải thoát các ngươi khỏi tay của người Ai Cập, và khỏi tay của những kẻ áp bức các ngươi. Ta đã đuổi cư dân khỏi trước mặt các ngươi và ban cho các ngươi xứ của chúng.  10. Ta đã phán cùng các ngươi: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. Các ngươi đừng thờ phượng những thần của dân A-mô-rít tại trong xứ mà các ngươi đang cư ngụ. Nhưng các ngươi đã không vâng theo tiếng của Ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đến ngồi dưới cây sồi tại Óp-ra, thuộc về Giô-ách, dòng họ A-bi-ê-xê-rít. Con trai của ông là Ghi-đê-ôn đang đập lúa mì nơi bàn ép rượu, để giấu dân Mi-đi-an. 12. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra với ông, rồi nói với: “Hỡi người chiến sĩ dũng cảm! Đức Giê-hô-va ở với ngươi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Ghi-đê-ôn nói với người: “Ôi Chúa của tôi! Nếu Đức Giê-hô-va ở cùng chúng tôi, tại sao tất cả những việc nầy xảy đến cho chúng tôi? Tất cả những phép lạ đâu rồi?  Tổ phụ của chúng tôi thuật lại rằng Đức Giê-hô-va đã đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập, nhưng bây giờ Đức Giê-hô-va đã từ bỏ chúng tôi và phó chúng tôi vào tay của dân Ma-đi-an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Đức Giê-hô-va quay lại rồi phán với ông: “Hãy đi! Hãy dùng sức mà ngươi đang có để giải thoát Y-sơ-ra-ên ra khỏi tay của dân Ma-đi-an. Không phải Ta đang sai ngươi đó hay sao?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Nhưng ông nói với Ngài: “Ôi Chúa của tôi! Làm sao tôi có thể giải cứu Y-sơ-ra-ên được? Nầy, gia tộc của tôi là nhỏ nhất trong chi tộc Ma-na-se, và tôi là người nhỏ nhất trong gia đình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Đức Giê-hô-va phán với ông: “Thật vậy, Ta sẽ ở với ngươi, và ngươi sẽ đánh bại dân Mi-đi-an như đánh một người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Ghi-đê-ôn nói với Ngài: “Nếu tôi được ơn trước mặt Ngài, xin Ngài hãy tỏ cho tôi một dấu hiệu để chứng tỏ rằng chính Ngài đã phán cùng tôi. 18. Xin Ngài đừng rời khỏi đây cho đến khi tôi trở lại, mang theo tế lễ, để dâng cho Ngài.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài phán: “Ta sẽ chờ ở đây cho đến khi ngươi trở lại.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Ghi-đê-ôn đã đi vào, bắt một con dê con làm thịt, rồi lấy một ê-pha bột làm bánh không men. Ông để thịt trong rổ và đổ nước thịt vào nồi, rồi đem những vật đó đến dâng cho Ngài ở dưới cây sồi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Thiên sứ của Đức Chúa Trời truyền cho ông: “Hãy lấy thịt và bánh không men đặt trên tảng đá nầy, rồi đổ nước thịt ra.” Ông đã làm như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đưa đầu gậy đang cầm trong tay của Ngài chạm vào thịt và bánh không men. Lửa bốc lên từ tảng đá thiêu đốt thịt và bánh không men. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va biến mất trước mắt ông. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Ghi-đê-ôn nhận biết đó là Thiên sứ của Đức Giê-hô-va, ông thưa với Ngài: “Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời! Khốn nạn cho con, bởi vì con đã thấy Thiên sứ của Đức Giê-hô-va mặt đối mặt!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Nhưng Đức Giê-hô-va phán với ông: “Hãy an tâm. Ðừng sợ! Ngươi sẽ không chết.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Ghi-đê-ôn đã lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va tại đó, rồi đặt tên là Giê-hô-va Sa-lôm. Bàn thờ đó vẫn còn ở Óp-ra, thuộc về gia tộc A-bi-ê-xê-rít, cho đến ngày nay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25. Và rồi, đêm hôm đó Đức Giê-hô-va phán cùng ông: “Hãy bắt con bò đực của cha ngươi, và một con bò đực thứ nhì bảy tuổi, hãy kéo sập bàn thờ Ba-anh của cha ngươi xuống, và cũng chặt bỏ cây trụ A-sê-ra ở bên cạnh nó. 26. Sau đó, hãy xây một bàn thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi trên đỉnh của vầng đá nầy, rồi sắp đặt cho phù hợp. Hãy bắt con bò đực thứ nhì để làm tế lễ thiêu, rồi lấy gỗ của cây trụ A-sê-ra để làm củi đốt.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Ghi-đê-ôn đã chọn mười người trong các đầy tớ của mình để thực hiện theo điều Đức Giê-hô-va đã truyền cho ông. Bởi vì ông sợ những người trong gia đình và những người trong thành, cho nên ông không làm vào ban ngày nhưng làm vào ban đêm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Sáng hôm sau, khi dân thành thức dậy, họ thấy bàn thờ của Ba-anh đã bị phá sập, hình tượng A-sê-ra bên cạnh bị triệt hạ, và con bò đực thứ nhì đã được dâng làm tế lễ thiêu trên bàn thờ đã được xây dựng. 29. Họ hỏi lẫn nhau: “Ai đã làm việc nầy?” Sau khi dò hỏi và tìm hiểu, họ biết rằng chính Ghi-đê-ôn, con trai của Giô-ách, đã làm điều đó. 30. Dân trong thành nói với Giô-ách: “Hãy đem con trai của ông ra đây. Nó phải chết vì nó đã phá đổ bàn thờ của Ba-anh và triệt hạ hình tượng A-sê-ra bên cạnh đó.” 31. Nhưng Giô-ách trả lời những người đương đầu với ông: “Các ngươi muốn đấu tranh cho Ba-anh hay sao? Nếu các ngươi muốn tiếp cứu nó, thì ai đấu tranh cho Ba-anh sẽ bị xử tử trước sáng mai. Nếu thật hắn là thần thì chính hắn phải đấu tranh, bởi vì người ta đã phá đổ bàn thờ của hắn!” 32. Vì vậy, trong ngày đó người ta gọi Ghi-đê-ôn là Giê-ru-ba-anh, họ nói rằng: “Hãy để Ba-anh đấu tranh với ông ấy, vì ông ấy đã phá sập bàn thờ của hắn.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. Tất cả dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và các dân tộc ở phương đông hiệp lại với nhau. Chúng vượt qua sông Giô-đanh và đóng trại tại thung lũng Gít-rê-ên. 34. Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên Ghi-đê-ôn. Ông thổi kèn triệu tập những người A-bi-ê-xê-rít đi theo ông. 35. Ông đã sai các sứ giả đi khắp Ma-na-se để triệu tập họ. Ông cũng sai các sứ giả theo mình đến với người A-se, Sa-bu-lôn, Nép-ta-li, và họ cũng đi lên hiệp với ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36. Ghi-đê-ôn thưa với Đức Chúa Trời: “Nếu Ngài giải cứu Y-sơ-ra-ên bằng tay của con như lời Ngài đã phán, 37. nầy, con sẽ để một mớ lông chiên trong sân đập lúa. Nếu sương chỉ đọng trên lông chiên, nhưng tất cả đất lại khô ráo, thì con sẽ nhận biết rằng Ngài sẽ giải cứu Y-sơ-ra-ên bằng tay của con như Ngài đã phán.” 38. Việc xảy ra đúng như vậy. Sáng hôm sau, ông dậy sớm, vắt lông chiên. Sương từ lông chiên chảy ra, hứng đầy một chén.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39. Ghi-đê-ôn thưa với Đức Chúa Trời rằng: “Xin Ngài đừng nổi giận với con. Con chỉ xin thưa một lần nữa. Xin Ngài hãy cho con thử bằng lông chiên một lần nữa. Lần nầy, xin cho lông chiên được khô, còn cả đất thì đẫm sương.” 40. Ðêm đó, Ðức Chúa Trời đã làm y như vậy. Chỉ có lông chiên là khô, còn cả đất đều đẫm sương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay dân Ma-đi-an trong bảy năm. 2.  Tay của người Ma-đi-an thắng hơn Y-sơ-ra-ên. Vì sợ người Ma-đi-an, nên dân Y-sơ-ra-ên làm cho mình những nơi ẩn náu trong núi, trong các hầm và đồn. 3.  Khi Y-sơ-ra-ên đã gieo giống, dân Ma-đi-an với dân A-mê-léc, và người phương Đông đi lên đánh Y-sơ-ra-ên, 4.  đóng trại đối ngang người, phá hại mùa màng của xứ cho đến Ga-xa, và không để lại trong Y-sơ-ra-ên lương thực gì, hoặc chiên, bò hay là lừa. 5.  Vì chúng nó đi lên đem theo bầy súc vật và trại mình, loán đến khác nào một đám cào cào. Người và lạc đà vô số đến trong xứ đặng phá hại. 6.  Vậy, vì cớ dân Ma-đi-an, Y-sơ-ra-ên bị nghèo khổ bẩn chật, nên họ kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Bấy giờ, vì dân Y-sơ-ra-ên đã kêu cầu Đức Giê-hô-va về việc dân Ma-đi-an, 8.  nên Đức Giê-hô-va sai một đấng tiên tri đến cùng dân Y-sơ-ra-ên. Người nói cùng chúng rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Ta đã đem các ngươi lên khỏi xứ Ê-díp-tô, rút các ngươi khỏi nhà nô lệ, 9.  giải cứu các ngươi khỏi tay người Ê-díp-tô, và khỏi tay hết thảy kẻ hà hiếp các ngươi, và đuổi chúng nó khỏi trước mặt các ngươi; ta đã ban cho các ngươi xứ của chúng nó, 10.  và có phán rằng: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, chớ sợ các thần của dân A-mô-rít tại trong xứ mà các ngươi ở. Nhưng các ngươi nào có nghe tiếng ta! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Đoạn, thiên sứ của Đức Giê-hô-va đến ngồi dưới cây thông Óp-ra thuộc về Giô-ách, người A-bi-ê-xê-rít. Ghê-đê-ôn, con trai người, đang đập lúa mạch trong bàn ép, đặng giấu khỏi dân Ma-đi-an. 12.  Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện đến cùng người mà rằng: Hỡi người dõng sĩ! Đức Giê-hô-va ở cùng ngươi. 13.  Ghê-đê-ôn thưa rằng: Ôi! Chúa, nếu Đức Giê-hô-va ở cùng chúng tôi, sao các điều nầy xảy đến cho chúng tôi? Các phép lạ kia ở đâu mà tổ phụ chúng tôi đã thuật lại rằng: Đức Giê-hô-va há chẳng có đem chúng ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô sao? Vì bây giờ Đức Giê-hô-va từ bỏ chúng tôi, và phó chúng tôi vào tay dân Ma-đi-an. 14.  Đức Giê-hô-va xây lại cùng người mà phán rằng: Hãy dùng sức của ngươi vẫn có mà đi giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay dân Ma-đi-an. Ta há chẳng sai ngươi đi sao? 15.  Người thưa rằng: Than ôi! hỡi Chúa, tôi sẽ lấy chi giải cứu Y-sơ-ra-ên? Kìa, trong chi phái Ma-na-se, họ tôi vốn nghèo hơn hết; còn tôi là nhỏ hơn hết trong nhà cha tôi. 16.  Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta sẽ ở cùng ngươi, và ngươi sẽ đánh bại dân Ma-đi-an như đánh một người vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Ghê-đê-ôn thưa lại rằng: Nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin ban cho tôi một dấu rằng chính Chúa phán cùng tôi. 18.  Xin chớ dan khỏi đây cho đến khi tôi trở lại cùng Ngài, đem của lễ tôi, để trước mặt Ngài. Ngài đáp: Ta sẽ ở đây cho đến khi ngươi trở lại. 19.  Ghê-đê-ôn bèn đi vô, dọn sẵn một con dê con, lấy một ê-pha bột làm những bánh nhỏ không men. Người để thịt trong rổ, đổ nước thịt vào nồi, rồi đem ra dâng các món ấy cho Ngài ở dưới cây thông. 20.  Thiên sứ của Đức Chúa Trời phán rằng: Hãy lấy thịt và bánh nhỏ không men, để trên hòn đá nầy, rồi đổ nước thịt ra. Ghê-đê-ôn bèn làm như vậy. 21.  Bấy giờ, thiên sứ của Đức Giê-hô-va giơ đầu gậy Ngài đang cầm nơi tay mình ra, đụng đến thịt và bánh nhỏ không men. Lửa từ hòn đá bốc lên, thiêu hóa thịt và bánh nhỏ không men; đoạn, thiên sứ của Đức Giê-hô-va biến đi khỏi mắt người. 22.  Ghê-đê-ôn thấy rằng ấy là thiên sứ của Đức Giê-hô-va, bèn la rằng: Ôi, Chúa Giê-hô-va! khốn nạn cho tôi, vì tôi thấy đối diện thiên sứ của Đức Giê-hô-va! 23.  Nhưng Đức Giê-hô-va phán cùng người rằng: Khá yên lòng, chớ sợ chi, ngươi sẽ không chết đâu. 24.  Ghê-đê-ôn bèn lập tại đó một cái bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, và đặt tên là Giê-hô-va-Sa-lam. Tại Óp-ra, thành của người A-bi-ê-xê-rít, cái bàn thờ ấy vẫn còn đến ngày nay. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25.  Trong cũng một đêm ấy, Đức Giê-hô-va phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Hãy bắt con bò đực tơ của cha ngươi, và một con bò đực thứ nhì bảy tuổi, rồi phá dỡ bàn thờ thần Ba-anh tại nhà cha ngươi, và đánh hạ hình tượng A-sê-ra ở trên đó. 26.  Đoạn, tại nơi chót hòn đá nầy, ngươi sẽ lập một bàn thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và sắp đặt mọi việc; rồi hãy bắt con bò đực thứ nhì, dâng làm của lễ thiêu với gỗ hình tượng A-sê-ra mà ngươi đã đánh hạ. 27.  Ghê-đê-ôn chọn lấy mười người trong bọn đầy tớ mình, và làm theo điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn; và vì người sợ nhà cha mình cùng kẻ trong thành, nên không dám làm theo lịnh ấy ban ngày, bèn làm ban đêm. 28.  Sớm mai, khi dân trong thành thức dậy, thấy bàn thờ của thần Ba-anh đã bị phá dỡ, hình tượng A-sê-ra ở trên bị đánh hạ, và con bò đực thứ nhì đã dâng làm của lễ thiêu trên bàn thờ mới lập đó. 29.  Chúng hỏi nhau rằng: Ai làm điều đó? Đoạn, hỏi thăm và tra xét. Có người nói cùng chúng nó rằng: Ấy là Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, đã làm điều đó. 30.  Dân trong thành bèn nói cùng Giô-ách rằng: Hãy biểu con ngươi ra, nó phải chết, vì nó đã phá dỡ bàn thờ thần Ba-anh, và đánh hạ hình tượng A-sê-ra ở trên. 31.  Giô-ách đáp với những kẻ dấy nghịch cùng mình rằng: Các ngươi há có ý binh vực Ba-anh sao? Há có phải các ngươi muốn tiếp cứu nó ư? Ai theo phe của Ba-anh sẽ bị xử tử kể từ sáng ngày nay. Nếu hắn là chúa, thì chính hắn hãy tranh luận lấy chớ, bởi vì người ta đã phá dỡ bàn thờ của hắn. 32.  Vậy, trong ngày đó người ta gọi Ghê-đê-ôn là Giê-ru-ba-anh mà rằng: Ba-anh phải tranh luận cùng người, vì Ghê-đê-ôn có phá dỡ bàn thờ của hắn! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33.  Hết thảy dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và người phương Đông đều hiệp lại, đi ngang qua sông Giô-đanh, và đóng trại tại trũng Gít-rê-ên. 34.  Thần của Đức Giê-hô-va cảm hóa Ghê-đê-ôn; người thổi kèn, các người A-bi-ê-xê-rít bèn hiệp lại đặng theo người. 35.  Người cũng sai sứ giả đi khắp Ma-na-se; người Ma-na-se bèn nhóm hiệp đặng theo người. Đoạn, người sai sứ giả đến chi phái A-se, Sa-bu-lôn và Nép-ta-li; họ cũng đi lên mà hiệp với người nữa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36.  Ghê-đê-ôn thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Nếu Chúa muốn dùng tay tôi giải cứu Y-sơ-ra-ên, y như lời Chúa đã phán, 37.  thì tôi sẽ để một lốt chiên trong sân đạp lúa; nếu sương chỉ đóng trên lốt chiên, còn đất lại khô ráo, thì tôi sẽ nhận biết Chúa dùng tay tôi giải cứu Y-sơ-ra-ên, y như Chúa đã hứa vậy. 38.  Việc bèn xảy ra như vậy: ngày mai Ghê-đê-ôn dậy sớm, ép vắt lốt chiên, thì sương chảy ra đầy một chén nước. 39.  Ghê-đê-ôn lại thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Xin cơn thạnh nộ Chúa chớ nổi phừng cùng tôi, tôi chỉ sẽ nói lần nầy thôi. Xin Chúa để tôi làm thử với lốt chiên chỉ một lần nầy mà thôi: Xin cho một mình lốt chiên phải khô, còn sương lại đóng khắp trên đất. 40.  Trong đêm đó, Đức Chúa Trời bèn làm như vậy; chỉ một mình lốt chiên thì khô, còn khắp trên đất lại bị sương phủ. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B07\V02B07C006.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Dân I-sơ-ra-ên Bị Dân Mi-đi-an Ðàn Áp'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Dân I-sơ-ra-ên làm điều tội lỗi trước mặt CHÚA, nên Ngài phó họ vào tay dân Mi-đi-an bảy năm.  2 Tay của dân Mi-đi-an thắng hơn dân I-sơ-ra-ên.  Vì sự đàn áp của dân Mi-đi-an, dân I-sơ-ra-ên phải sống trốn tránh trong các rừng núi, hang hóc, hoặc trong các thành trì kiên cố.  3 Mỗi khi dân I-sơ-ra-ên đi ra gieo giống, dân Mi-đi-an, dân A-ma-léc, và các dân phương đông kéo đến đánh họ.  4 Chúng hạ trại dàn quân đánh họ.  Chúng phá hủy các hoa màu trong xứ cho đến tận vùng Ga-xa, không chừa lại một thứ gì trong đất I-sơ-ra-ên, kể cả chiên, bò, và lừa.  5 Chúng và những đàn súc vật của chúng kéo đến và dựng trại đông như cào cào.  Người ta và lạc đà nhiều vô số, không thể đếm hết.  Chúng chiếm lấy xứ và phá hủy tất cả.  6 Vì cớ dân Mi-đi-an, dân I-sơ-ra-ên đã bị đói khổ rất thê thảm, do đó người I-sơ-ra-ên đã kêu cầu CHÚA xin cứu giúp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Sau khi dân I-sơ-ra-ên đã kêu cầu CHÚA vì cớ dân Mi-đi-an, 8 CHÚA sai một vị tiên tri đến với dân I-sơ-ra-ên và nói với họ, “CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này: Ta đã đem các ngươi lên khỏi xứ Ai-cập, tức đem các ngươi ra khỏi nhà nô lệ.  9 Ta đã giải thoát các ngươi ra khỏi tay người Ai-cập, và khỏi tay mọi kẻ áp bức các ngươi.  Ta đã đuổi chúng đi khỏi mặt các ngươi và ban cho các ngươi xứ của chúng.  10 Ta đã phán với các ngươi, ‘Ta là CHÚA, Ðức Chúa Trời của các ngươi; các ngươi chớ thờ các thần của dân A-mô-ri trong xứ các ngươi đang sống.’  Nhưng các ngươi không vâng lời Ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''CHÚA Kêu Gọi Ghi-đê-ôn'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Bấy giờ Thiên Sứ của CHÚA đến ngồi dưới cây sồi của Óp-ra, trong đất của Giô-ách, thuộc dòng họ A-bi-ê-xe.  Ghi-đê-ôn con trai Giô-ách đang đập lúa nơi bàn ép rượu, để tránh khỏi dân Mi-đi-an.  12 Thiên Sứ của CHÚA hiện ra với ông và phán, “Này, CHÚA ở với ngươi, hỡi người chiến sĩ anh dũng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Ghi-đê-ôn đáp, “Thưa Ngài, nếu CHÚA ở với chúng con, tại sao chúng con phải ra nông nỗi này?  Nào những việc lạ lùng mà các tổ tiên chúng con thường kể lại cho chúng con nghe đâu rồi?  Họ bảo rằng, ‘CHÚA chẳng đã đem các người lên khỏi đất Ai-cập hay sao?’  Nhưng bây giờ CHÚA đã bỏ chúng con và phó chúng con vào tay dân Mi-đi-an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 CHÚA quay qua ông và phán với ông, “Hãy đi, dùng sức ngươi sẵn có mà giải thoát dân I-sơ-ra-ên khỏi tay dân Mi-đi-an.  Há chẳng phải Ta sai ngươi đó sao?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Ông đáp, “Nhưng thưa Ngài, làm sao con có thể giải thoát dân I-sơ-ra-ên được?  Gia tộc con là gia tộc yếu kém nhất trong chi tộc Ma-na-se; còn con là kẻ nhỏ nhất trong gia đình của cha con.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 CHÚA phán với ông, “Ta sẽ ở với ngươi, và ngươi sẽ đánh bại dân Mi-đi-an như đánh một người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Ghi-đê-ôn nói, “Nếu con được ơn trước mặt Ngài, xin Ngài cho con một dấu lạ, để chứng tỏ rằng chính Ngài đã phán với con.  18 Xin Ngài đừng rời khỏi đây cho đến khi con trở lại, mang theo của tế lễ, và dâng lên trước mặt Ngài.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài phán, “Ta sẽ chờ ở đây cho đến khi ngươi trở lại.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Ghi-đê-ôn vội vàng trở về nhà, bắt một con dê con làm thịt, lấy mười ký bột làm bánh không men.  Ông lấy thịt để vào một cái giỏ và để cháo trong nồi, rồi đem tất cả các món ấy đến dưới cây sồi mà dâng lên Ngài.  20 Thiên Sứ của Đức Chúa Trời phán, “Hãy lấy thịt và bánh không men để trên tảng đá này, rồi đổ cháo lên.”  Ghi-đê-ôn làm y như vậy.  21 Thiên Sứ của CHÚA đưa tay ra, dùng đầu gậy cầm nơi tay đụng vào thịt và bánh không men; lửa từ tảng đá bùng lên thiêu đốt thịt và bánh không men, đồng thời Thiên Sứ của CHÚA cũng biến mất. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Ghi-đê-ôn liền nhận biết ấy là Thiên Sứ của CHÚA, ông nói, “Ôi lạy CHÚA Hằng Hữu!  Con chắc phải chết rồi, vì con đã gặp Thiên Sứ của CHÚA mặt đối mặt.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Nhưng CHÚA phán với ông, “Hãy an tâm.  Ðừng sợ.  Ngươi sẽ không chết đâu.”  24 Ghi-đê-ôn liền xây một bàn thờ cho CHÚA tại đó và đặt tên là CHÚA Bình An.  Bàn thờ ấy vẫn còn ở Óp-ra, trong đất của dòng họ A-bi-ê-xe, cho đến ngày nay. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ghi-đê-ôn Phá Ðổ Bàn Thờ Ba-anh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25 Ðêm đó CHÚA phán với ông, “Hãy bắt con bò đực của cha ngươi, và một con bò đực thứ nhì bảy tuổi, rồi cho kéo đổ bàn thờ Thần Ba-anh của cha ngươi xuống.  Ngươi cũng hãy đốn cây trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra ở bên cạnh nó ngã xuống.  26 Sau đó hãy xây một bàn thờ cho CHÚA, Ðức Chúa Trời của ngươi, trên vầng đá này, theo như cách thức đã ấn định xưa nay; rồi hãy bắt con bò đực thứ nhì làm của lễ thiêu, và lấy gỗ của cây trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra làm củi để thiêu.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Vậy Ghi-đê-ôn chọn mười đầy tớ để giúp ông làm y như lời CHÚA đã phán bảo.  Vì ông sợ những người khác trong gia đình và dân thành trông thấy, nên thay vì làm ban ngày, ông đã thực hiện việc đó ban đêm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Sáng hôm sau khi dân thành thức dậy, họ thấy bàn thờ của Thần Ba-anh đã đổ xuống, trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra đã bị đốn mất, con bò thứ nhì đã được dâng trên bàn thờ vừa mới được xây.  29 Họ bèn hỏi nhau, “Ai đã làm việc này?”  Sau khi điều tra và dọ hỏi, họ được báo, “Ấy là Ghi-đê-ôn con trai của Giô-ách; ông ấy đã làm điều đó.”  30 Dân thành kéo đến nói với Giô-ách, “Hãy đem con ông ra đây, để nó phải chết, vì nó đã dám phá dỡ bàn thờ của Thần Ba-anh và đốn ngã trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra ở bên cạnh.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 Nhưng Giô-ách trả lời những người đương đầu với ông, “Có phải các người đến để binh vực cho Ba-anh không?  Các người muốn binh vực nó phải không?  Ai muốn binh vực nó sẽ bị toi mạng sáng nay.  Vì nếu nó quả thật là thần, hãy để nó tự bảo vệ cho mình, vì bàn thờ của nó đã bị phá đổ kia mà.”  32 Vì thế ngày hôm đó người ta gọi Ghi-đê-ôn là Giê-ru-ba-anh, vì họ nói rằng, “Thôi để cho Ba-anh đối phó với ông ấy,” vì ông ấy đã phá đổ bàn thờ của hắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ghi-đê-ôn Mộ Binh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Bấy giờ toàn dân Mi-đi-an, dân A-ma-léc, và các dân ở phương đông hiệp lại với nhau.  Chúng vượt qua Sông Giô-đanh và hạ trại ở Thung Lũng Giê-rê-ên.  34 Thần của CHÚA ngự trên Ghi-đê-ôn.  Ông thổi kèn triệu tập, và dòng họ A-bi-ê-xe đều nhóm lại theo ông.  35 Ông sai sứ giả đến khắp địa phận của Ma-na-se, và họ cùng nhau hiệp lại theo ông.  Ông sai các sứ giả đến địa phận của A-se, Xê-bu-lun, và Náp-ta-li.  Họ thảy đều đi lên và hiệp với ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Dấu Chỉ Trên Mớ Lông Chiên'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36 Bấy giờ Ghi-đê-ôn thưa với Ðức Chúa Trời, “Ðể con có thể biết chắc chắn rằng Ngài muốn dùng tay con giải thoát dân I-sơ-ra-ên như lời Ngài đã phán, 37 con xin để một mớ lông chiên trong sân đập lúa; nếu sương chỉ đọng trên mớ lông chiên, còn đất chung quanh đều khô ráo, thì con biết rằng Ngài sẽ dùng tay con để giải thoát dân I-sơ-ra-ên như lời Ngài đã phán.”  38 Việc ấy xảy ra y như vậy.  Sáng hôm sau ông dậy sớm, ra lấy mớ lông chiên mà vắt, nước sương từ trong mớ lông chiên chảy ra, hứng đầy một chén.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39 Ghi-đê-ôn lại thưa với Ðức Chúa Trời, “Xin Ngài đừng nổi giận với con.  Xin cho con thưa thêm một lần nữa.  Xin cho con thử lại với mớ lông chiên một lần nữa.  Lần này xin cho chỉ mớ lông chiên được khô, còn đất chung quanh sẽ bị phủ đầy sương.”  40 Ðêm đó Ðức Chúa Trời làm y như vậy.  Chỉ mớ lông chiên là khô, còn đất chung quanh đều đọng sương ướt đẫm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Giô-suê]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 5]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 7]]&lt;br /&gt;
:* [[Ru-tơ]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=%C3%8A-ph%C3%AA-s%C3%B4:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35769</id>
		<title>Ê-phê-sô: Chương 1</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=%C3%8A-ph%C3%AA-s%C3%B4:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35769"/>
		<updated>2026-06-15T07:18:23Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Phao-lô, theo ý muốn của Ðức Chúa Trời, làm sứ đồ của Ðức Chúa Jesus Christ, gởi đến các thánh đồ tại Ê-phê-sô, và những người trung tín trong Ðức Chúa Jesus Christ. 2. Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta, đến với anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Chúc tụng Ðức Chúa Trời - Cha của Chúa chúng ta là Ðức Chúa Jesus Christ - là Ðấng đã ban cho chúng ta mọi phước hạnh thuộc linh ở các nơi trên trời trong Ðấng Christ; 4. vì tình yêu, Ngài đã chọn chúng ta trong Ðấng Christ trước khi sáng thế, để chúng ta được thánh hóa và toàn vẹn trước mặt Ngài; 5. và đã định trước để chúng ta làm con nuôi của chính Ngài, qua Ðức Chúa Jesus Christ, theo ý muốn tốt lành của Ngài, 6. để tôn ngợi ân điển vinh quang của Ngài, mà Ngài đã ban tặng cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài; 7. trong Đấng mà chúng ta được cứu chuộc nhờ vào huyết của Đấng đó, được tha thứ những lỗi lầm, theo sự phong phú của ân điển Ngài, 8. là ân điển mà Ngài đã ban thật rời rộng cho chúng ta trong sự khôn ngoan và thấu hiểu toàn vẹn của Ngài, 9. đã bày tỏ cho chúng ta biết huyền nhiệm của ý muốn Ngài theo ý tốt của Ngài, đã định trước trong Ðấng 10. quản trị thời viên mãn; để đem mọi vật quy tụ trong Ðấng Christ, tức là những vật ở trên trời và những vật ở dưới đất; 11. trong Ngài, chúng tôi được thừa hưởng cơ nghiệp đã định sẵn, y theo mục đích của Ngài, bởi vì mọi vật hoạt động theo ý định của Ngài, 12. để chúng tôi, là những người đầu tiên đặt hy vọng nơi Ðấng Christ, ca ngợi vinh quang của Ngài. 13. Anh em cũng vậy: Trong Ðấng đó, anh em đã nghe sứ điệp của chân lý, là Phúc Âm cứu rỗi của anh em; cũng trong Đấng đó, anh em đã tin và đã được đóng ấn bằng Ðức Thánh Linh của lời hứa, 14. là Đấng bảo đảm cho cơ nghiệp của chúng ta, để sở hữu sự cứu chuộc, để ca ngợi vinh quang của Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Vì điều này, khi tôi nghe về đức tin của anh em trong Chúa, là Ðức Chúa Jesus, cùng lòng yêu thương của anh em đối với tất cả các thánh đồ, 16. tôi không ngừng dâng lời cảm tạ về anh em, và nhắc đến anh em trong lời cầu nguyện của tôi, 17. để Ðức Chúa Trời, là Cha vinh hiển của Chúa chúng ta là Ðức Chúa Jesus Christ, ban cho anh em linh của sự khôn ngoan cùng sự mặc khải để nhận biết Ngài, 18. để khai minh con mắt của tấm lòng anh em để anh em biết hy vọng về sự kêu gọi của Ngài là gì, sự phong phú của cơ nghiệp vinh quang của Ngài dành cho các thánh đồ là thể nào, 19. và quyền năng vĩ đại vượt trội của Ngài dành cho chúng ta - là những người đang tin theo tác động của quyền năng siêu việt của Ngài - là dường nào, 20. là điều Ngài đã thực hiện trong Ðấng Christ khi Ngài vực Ðấng đó từ cõi chết, và lập Ðấng đó ngồi bên phải của Ngài trong các nơi trên trời, 21. vượt trên mọi quyền thống trị, thẩm quyền, thế lực, chủ quyền, và mọi danh hiệu được đặt ra, không những trong đời nầy mà trong đời sắp đến nữa; 22. Ngài đã đặt mọi vật ở dưới chân của Ðấng đó và Ðấng đó làm đầu mọi vật cho lợi ích của hội thánh - 23. là thân thể của Đấng đó, để được đầy dẫy Ðấng làm viên mãn tất cả và ở trong tất cả. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phao-lô, theo ý muốn của Ðức Chúa Trời, làm sứ đồ của Ðức Chúa Jesus Christ, gởi đến các thánh đồ ở Ê-phê-sô, và những người trung tín trong Ðức Chúa Jesus Christ. Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta, đến với anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúc tụng Ðức Chúa Trời - Cha của Chúa chúng ta là Ðức Chúa Jesus Christ - Ðấng đã ban cho chúng ta mọi phước hạnh thuộc linh ở các nơi trên trời trong Ðấng Christ; vì tình yêu, Ngài đã chọn chúng ta trong Ðấng Christ trước khi sáng thế, để chúng ta được thánh hóa và toàn hảo trước mặt Ngài; và đã định trước để chúng ta làm con nuôi của chính Ngài, qua Ðức Chúa Jesus Christ, theo ý muốn tốt lành của Ngài, để tôn ngợi ân điển vinh diệu của Ngài, mà Ngài đã ban tặng cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài; trong Đấng mà chúng ta được cứu chuộc nhờ vào huyết của Đấng đó, được tha thứ những lỗi lầm, theo sự phong phú của ân điển Ngài, là ân điển mà Ngài đã ban thật rời rộng cho chúng ta trong sự khôn ngoan và thấu hiểu toàn vẹn của Ngài, đã bày tỏ cho chúng ta biết huyền nhiệm của ý muốn Ngài theo ý tốt của Ngài, đã định trước trong Ðấng quản trị thời viên mãn; để đem mọi vật quy tụ trong Ðấng Christ: những vật trên trời và những vật dưới đất; trong Ngài, chúng ta được thừa hưởng cơ nghiệp đã định sẵn, y theo mục đích của Ngài, vì mọi vật hoạt động theo ý định của Ngài, để chúng ta, những người đầu tiên đặt hy vọng nơi Ðấng Christ, ca ngợi vinh hiển Ngài; anh em cũng vậy:  Trong Ðấng đó, anh em nghe sứ điệp của chân lý, là Phúc Âm cứu rỗi của anh em; cũng trong Đấng đó, anh em đã tin và đã được đóng ấn bằng Ðức Thánh Linh của lời hứa, là Đấng bảo đảm cho cơ nghiệp của chúng ta, để sở hữu sự cứu chuộc, để ca ngợi vinh quang của Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì điều này, khi tôi nghe về đức tin của anh em trong Chúa, là Ðức Chúa Jesus, và lòng yêu thương của anh em đối với tất cả các thánh đồ, tôi không ngừng dâng lời cảm tạ vì anh em, và nhắc đến trong lời cầu nguyện của tôi, để Ðức Chúa Trời, Cha vinh hiển của Chúa chúng ta là Ðức Chúa Jesus Christ, ban cho anh em linh của sự khôn ngoan cùng sự mặc khải để nhận biết Ngài, để khai minh con mắt của tấm lòng anh em để anh em biết hy vọng về sự kêu gọi của Ngài là gì, sự phong phú của cơ nghiệp vinh quang  của Ngài dành cho các thánh đồ là thể nào, và quyền năng vĩ đại vượt trội của Ngài dành cho chúng ta, là những người đang tin theo tác động của quyền năng siêu việt của Ngài, là dường nào, là điều Ngài đã thực hiện trong Ðấng Christ khi Ngài vực Ðấng đó từ cõi chết, và lập Ðấng đó ngồi bên phải Ngài trong các nơi trên trời, vượt trên mọi quyền thống trị, thẩm quyền, thế lực, chủ quyền, và mọi danh hiệu được đặt ra, không những trong đời nầy mà trong đời sắp đến nữa; Ngài đã đặt mọi vật ở dưới chân của Ðấng đó và Ðấng đó làm đầu mọi vật cho lợi ích của hội thánh - là thân thể của Đấng đó, là sự toàn vẹn của Ðấng làm viên mãn tất cả mọi vật. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Phao-lô, sứ đồ của Ðức Chúa Jesus Christ theo ý muốn của Ðức Chúa Trời, gởi cho các thánh đồ ở Ê-phê-sô, và những người trung tín trong Ðức Chúa Jesus Christ. 2. Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta, đến với anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Chúc tụng Ðức Chúa Trời - Cha của Chúa chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ - Ðấng đã ban cho chúng ta mọi phước hạnh thuộc linh ở các nơi trên trời trong Ðấng Christ; 4. vì như tình yêu, Ngài đã chọn chúng ta ở trong Ðấng Christ trước khi lập nền của thế giới, để chúng ta được thánh hóa và toàn hảo trước mặt Ngài; 5. theo ý muốn tốt lành của Ngài, đã định trước để chúng ta làm con nuôi của chính Ngài, qua Ðức Chúa Jesus Christ, 6. để tôn ngợi ân điển vinh quang của Ngài, mà Ngài đã ban tặng cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài; 7. trong Đấng mà chúng ta được cứu chuộc nhờ vào huyết của Đấng đó, được tha thứ những lỗi lầm, theo sự phong phú của ân điển Ngài, 8. là ân điển mà Ngài đã ban thật rời rộng cho chúng ta trong sự khôn ngoan và thấu hiểu toàn vẹn của Ngài, 9. đã bày tỏ cho chúng ta biết huyền nhiệm của ý muốn Ngài theo ý tốt của Ngài, đã định trước trong Ðấng 10. quản trị thời viên mãn; để đem mọi vật quy tụ trong Ðấng Christ: những vật trên trời và những vật dưới đất; 11. trong Ngài, chúng ta được thừa hưởng cơ nghiệp đã định sẵn, y theo mục đích của Ngài, vì mọi vật hoạt động theo ý định của Ngài, 12. để chúng ta, những người đầu tiên đặt hy vọng nơi Ðấng Christ, ca ngợi vinh quang của Ngài; 13. cũng trong Ðấng đó, anh em nghe sứ điệp của chân lý, là Phúc Âm cứu rỗi của anh em; anh em cũng vậy: Trong Đấng đó, anh em đã tin và đã được đóng ấn bằng Ðức Thánh Linh của lời hứa, 14. là Đấng bảo đảm cho cơ nghiệp của chúng ta, để sở hữu sự cứu chuộc, để ca ngợi vinh quang của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Vì điều này, khi tôi nghe về đức tin của anh em trong Chúa, là Ðức Chúa Jesus, và lòng yêu thương của anh em đối với tất cả các thánh đồ, 16. tôi không ngừng dâng lời cảm tạ vì anh em, và nhắc đến trong lời cầu nguyện của tôi, 17. để Ðức Chúa Trời, Cha vinh hiển của Chúa chúng ta là Ðức Chúa Jesus Christ, ban cho anh em linh của sự khôn ngoan cùng sự mặc khải để nhận biết Ngài, 18. để khai minh con mắt của tấm lòng anh em để anh em biết hy vọng về sự kêu gọi của Ngài là gì, sự phong phú của cơ nghiệp vinh quang  của Ngài dành cho các thánh đồ là thể nào, 19. và quyền năng vĩ đại vượt trội của Ngài dành cho chúng ta - những người tin theo tác động của quyền năng siêu việt của Ngài - là dường nào, 20. là điều Ngài đã thực hiện trong Ðấng Christ khi Ngài vực Ðấng đó từ cõi chết, và lập Ðấng đó ngồi bên phải Ngài trong các nơi trên trời, 21. vượt trên mọi quyền thống trị, thẩm quyền, thế lực, chủ quyền, và mọi danh hiệu được đặt ra, không những trong đời nầy mà trong đời sắp đến nữa; 22. Ngài đã đặt mọi vật ở dưới chân của Ðấng đó và Ðấng đó làm đầu mọi vật cho lợi ích của hội thánh - 23. là thân thể của Đấng đó, là sự toàn vẹn của Ðấng làm viên mãn tất cả mọi vật. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Phao-lô, theo ý muốn Đức Chúa Trời, làm sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, gởi cho các thánh đồ ở thành Ê-phê-sô, cho những kẻ trung tín trong Đức Chúa Jêsus Christ: 2.  nguyền xin ân điển và sự bình an được ban cho anh em từ nơi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời, 4.  trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời, 5.  bởi sự thương yêu của Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ, theo ý tốt của Ngài, 6.  để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong Con yêu dấu của Ngài! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài, 8.  mà Ngài đã rải ra đầy dẫy trên chúng ta cùng với mọi thứ khôn ngoan thông sáng, 9.  khiến chúng ta biết sự mầu nhiệm của ý muốn Ngài, theo ý định mà Ngài đã tự lập thành trước trong lòng nhân từ Ngài 10.  để làm sự định trước đó trong khi kỳ mãn, hội hiệp muôn vật lại trong Đấng Christ, cả vật ở trên trời và vật ở dưới đất. 11.  Ấy cũng là trong Ngài mà chúng ta đã nên kẻ dự phần kế nghiệp, như đã định trước cho chúng ta được điều đó, theo mạng của Đấng làm mọi sự hiệp với ý quyết đoán, 12.  hầu cho sự vinh hiển của Ngài nhờ chúng ta là kẻ đã trông cậy trong Đấng Christ trước nhất mà được ngợi khen. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13.  Ấy lại cũng trong Ngài mà anh em sau khi đã nghe đạo chân thật, là đạo Tin Lành về sự cứu rỗi anh em, ấy là trong Ngài mà anh em đã tin và được ấn chứng bằng Đức Thánh Linh là Đấng Chúa đã hứa, 14.  Đấng ấy làm của cầm về cơ nghiệp chúng ta, cho đến kỳ chuộc lấy những kẻ mà Ngài đã được để khen ngợi sự vinh hiển Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15.  Vậy nên, sau khi tôi có nghe đức tin anh em hướng về Đức Chúa Jêsus và tình yêu thương đối với các thánh đồ, 16.  thì tôi vì anh em cảm tạ không thôi, thường nhắc đến anh em trong khi cầu nguyện. 17.  Tôi cầu Đức Chúa Trời của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, là Cha vinh hiển, ban thần trí của sự khôn sáng và của sự tỏ ra cho anh em, để nhận biết Ngài, 18.  lại soi sáng con mắt của lòng anh em, hầu cho biết điều trông cậy về sự kêu gọi của Ngài là thể nào, sự giàu có của cơ nghiệp vinh hiển Ngài cho các thánh đồ là làm sao, 19.  và biết quyền vô hạn của Ngài, đối với chúng ta có lòng tin, là lớn dường nào, y theo phép tối thượng của năng lực mình, 20.  mà Ngài đã tỏ ra trong Đấng Christ, khi khiến Đấng Christ từ kẻ chết sống lại và làm cho ngồi bên hữu mình tại các nơi trên trời, 21.  cao hơn hết mọi quyền, mọi phép, mọi thế lực, mọi quân chủ cùng mọi danh vang ra, không những trong đời nầy, mà cũng trong đời hầu đến nữa. 22.  Ngài đã bắt muôn vật phục dưới chân Đấng Christ, và ban cho Đấng Christ làm đầu Hội thánh, 23.  Hội thánh là thân thể của Đấng Christ, tức là sự đầy đủ của Đấng gồm tóm mọi sự trong mọi loài. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B49\V02B49C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Mở Ðầu'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Phao-lô, bởi ý muốn của Ðức Chúa Trời làm sứ đồ của Ðức Chúa Jesus Christ, kính gởi các thánh đồ ở Ê-phê-sô, những người trung tín trong Ðức Chúa Jesus Christ.  2 Nguyện xin ân sủng và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta, đến với anh chị em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phước Hạnh Thuộc Linh trong Ðấng Christ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Chúc tụng Ðức Chúa Trời, Cha của Ðức Chúa Jesus Christ chúng ta, Ðấng đã ban cho chúng ta mọi phước hạnh thuộc linh ở các nơi trên trời trong Ðấng Christ.  4 Do lòng yêu thương của Ngài, Ngài đã chọn chúng ta trong Ðấng Christ trước khi dựng nên vũ trụ, để chúng ta được thánh hóa và trọn vẹn trước mặt Ngài.  5 Theo ý muốn tốt đẹp của Ngài, Ngài đã định trước để qua Ðức Chúa Jesus Christ, chúng ta được nhận làm con nuôi mà thành con cái Ngài, 6 hầu chúng ta ca ngợi ân sủng vinh diệu của Ngài, tức ân sủng Ngài ban cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài.  7 Trong Con ấy và nhờ huyết Con ấy, chúng ta được cứu chuộc, được tha thứ những lỗi lầm, theo sự phong phú của ân sủng Ngài, 8 tức ân sủng Ngài ban dồi dào cho chúng ta.  Trong sự khôn ngoan và hiểu thấu toàn vẹn của Ngài, 9 Ngài đã bày tỏ cho chúng ta biết huyền nhiệm của thánh ý Ngài, theo ý muốn tốt đẹp của Ngài, mà Ngài đã định trước trong Ðấng Christ; 10 ấy là một chương trình cho kỳ viên mãn, khi mọi vật phải quy tụ trong Ðấng Christ, gồm những vật trên trời lẫn những vật dưới đất.  11 Trong Ðấng Christ, chúng ta được thừa hưởng cơ nghiệp đã định sẵn cho chúng ta, y theo mục đích của Ngài, Ðấng thực hiện mọi sự theo chương trình của Ngài, 12 để chúng ta, những người đầu tiên đặt hy vọng nơi Ðấng Christ, thành những người ca ngợi vinh hiển Ngài.  13 Cũng trong Ngài, khi anh chị em nghe sứ điệp của chân lý, là Tin Mừng cứu rỗi, anh chị em tin thờ Ngài, và đã được đóng ấn bằng Ðức Thánh Linh, Ðấng Ngài đã hứa.  14 Ðức Thánh Linh là bảo chứng cho cơ nghiệp chúng ta, trong khi chờ đợi những người thuộc về Ngài được cứu chuộc, để ca ngợi vinh hiển Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Cầu Nguyện của Phao-lô'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Vì lẽ đó khi tôi nghe nói về đức tin của anh chị em trong Ðức Chúa Jesus và lòng yêu thương của anh chị em đối với tất cả thánh đồ, 16 tôi không ngừng dâng lời cảm tạ vì anh chị em mỗi khi tôi nhớ đến anh chị em trong khi cầu nguyện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Tôi cầu xin Ðức Chúa Trời, Cha vinh hiển của Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta, ban cho anh chị em linh của sự khôn ngoan và sự mặc khải để nhận biết Ngài, 18 và cho con mắt lòng anh chị em được khai minh, để anh chị em có thể nhận biết hy vọng Ngài đã kêu gọi anh chị em là gì, sự giàu có của cơ nghiệp vinh hiển đang dành cho các thánh đồ ra sao, 19 và sự lớn lao vô lượng của quyền năng Ngài dành cho chúng ta là những người tin, trong sự vận hành của quyền năng vĩ đại Ngài như thế nào.  20 Ngài đã thực hiện quyền năng đó trong Ðấng Christ khi Ngài làm cho Ðấng Christ sống lại từ cõi chết và lập Ðấng Christ ngồi bên phải Ngài trong các nơi trên trời, 21 cao hơn mọi quyền lực, quyền hành, quyền thế, quyền bính, và mọi chức tước được lập ra, không những trong đời này mà trong đời sắp đến nữa.  22 Ngài đã đặt mọi sự dưới chân Ðấng Christ và lập Ðấng Christ làm đầu mọi sự cho hội thánh; 23 hội thánh là thân thể Ngài, sự đầy trọn của Ðấng làm đầy dẫy mọi sự trong mọi sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B49\V01B49C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Ê-phê-sô: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Ê-phê-sô: Chương 6]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Ê-phê-sô]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Phi-líp]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=T%C3%ADt:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35768</id>
		<title>Tít: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=T%C3%ADt:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35768"/>
		<updated>2026-06-10T00:04:04Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng con hãy giảng dạy những gì phù hợp với tín lý lành mạnh: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Những người nam lớn tuổi phải trầm tĩnh, trang nghiêm, biết tự kiềm chế; vững vàng trong đức tin, trong tình yêu, và trong sự kiên trì. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Những người nữ lớn tuổi cũng vậy, phải cư xử cách lễ độ, đừng nói xấu, đừng nghiện rượu; biết dạy những điều tốt 4. để họ có thể huấn luyện những phụ nữ trẻ biết yêu chồng, thương con, 5. biết tự kiềm chế, thanh sạch, đảm đang việc nhà, nhân hậu, thuận phục chồng mình, để đạo của Đức Chúa Trời không bị xúc phạm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Cũng vậy, con hãy khuyên những người trẻ biết tự kiềm chế. 7. Trong mọi việc, hãy thể hiện chính con là một gương mẫu về những việc tốt; trong sự giảng dạy: hãy trung thực và điềm tỉnh; 8. lời nói phải đúng đắn, không thể bị bắt bẻ, để những người chống đối phải hổ thẹn, không thể nói xấu chúng ta điều gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Những người phục vụ hãy thuận phục chủ của mình, trong mọi việc hãy vui vẻ, đừng cãi trả, 10. đừng ăn cắp, nhưng tất cả hãy thể hiện điều tốt và đáng tin cậy, để đạo của Đấng Giải Cứu chúng ta, là Đức Chúa Trời, được tôn quý trong mọi phương diện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời đã được thể hiện, mang đến sự cứu rỗi cho tất cả mọi người, 12. hướng dẫn chúng ta từ bỏ sự không tin kính và những đam mê thế tục, để sống cách đứng đắn, công chính, và tin kính trong đời nầy, 13. đang khi chờ đợi niềm hy vọng phước hạnh và sự xuất hiện vinh quang của Đức Chúa Trời vĩ đại, và Đấng Giải Cứu của chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, 14. là Đấng đã phó chính Ngài vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội lỗi ô nhơ, và thanh tẩy chúng ta thành một dân thuộc riêng về Ngài, để nhiệt thành làm những việc tốt đẹp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Hãy dạy những điều này, hãy khích lệ, và khiển trách với tất cả thẩm quyền. Đừng để ai khinh thường con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng con hãy giảng dạy những gì phù hợp với tín lý lành mạnh: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những người nam lớn tuổi phải trầm tĩnh, trang nghiêm, biết tự kiềm chế; vững vàng trong đức tin, trong tình yêu, và trong sự kiên trì. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những người nữ lớn tuổi cũng vậy, phải cư xử cách lễ độ, đừng nói xấu, đừng nghiện rượu; biết dạy những điều tốt để họ có thể huấn luyện những phụ nữ trẻ biết yêu chồng, thương con, biết tự kiềm chế, thanh sạch, đảm đang việc nhà, nhân hậu, thuận phục chồng mình, để đạo của Đức Chúa Trời không bị xúc phạm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cũng vậy, con hãy khuyên những người trẻ biết tự kiềm chế. Trong mọi việc, hãy thể hiện chính con là một gương mẫu về những việc tốt; trong sự giảng dạy: hãy trung thực và điềm tỉnh; lời nói phải đúng đắn, không thể bị bắt bẻ, để những người chống đối phải hổ thẹn, không thể nói xấu chúng ta điều gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những người phục vụ hãy thuận phục chủ của mình, trong mọi việc hãy vui vẻ, đừng cãi trả, đừng ăn cắp, nhưng tất cả hãy thể hiện điều tốt và đáng tin cậy, để đạo của Đấng Giải Cứu chúng ta, là Đức Chúa Trời, được tôn quý trong mọi phương diện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời đã được thể hiện, mang đến sự cứu rỗi cho tất cả mọi người, hướng dẫn chúng ta từ bỏ sự không tin kính và những đam mê thế tục, để sống cách đứng đắn, công chính, và tin kính trong đời nầy, đang khi chờ đợi niềm hy vọng phước hạnh và sự xuất hiện vinh quang của Đức Chúa Trời vĩ đại, và Đấng Giải Cứu của chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, là Đấng đã phó chính Ngài vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội lỗi ô nhơ, và thanh tẩy chúng ta thành một dân thuộc riêng về Ngài, để nhiệt thành làm những việc tốt đẹp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy dạy những điều này, hãy khích lệ, và khiển trách với tất cả thẩm quyền. Đừng để ai khinh thường con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng con hãy nói những gì trở thành tín lý lành mạnh: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Những người nam lớn tuổi phải trầm tĩnh, trang nghiêm, biết tự kiềm chế; vững vàng trong đức tin, trong tình yêu, và trong sự kiên trì. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Những người nữ lớn tuổi cũng vậy, phải cư xử cách lễ độ, đừng nói xấu, đừng làm nô lệ của rượu; biết dạy những điều tốt 4. để họ có thể huấn luyện những phụ nữ trẻ biết yêu chồng, thương con, 5. biết tự kiềm chế, thanh sạch, đảm đang việc nhà, nhân hậu, thuận phục chồng mình, để đạo của Đức Chúa Trời không bị xúc phạm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Cũng vậy, hãy khuyên những người trẻ biết tự kiềm chế. 7. Trong mọi việc, hãy thể hiện chính con là một gương mẫu về những việc tốt; trong sự giảng dạy: hãy trung thực và điềm tỉnh; 8. lời nói phải đúng đắn, không thể bị bắt bẻ, để những người chống đối phải hổ thẹn, không thể nói xấu chúng ta điều gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Những người phục vụ hãy thuận phục chủ của mình, trong mọi việc hãy vui vẻ, đừng cãi trả, 10. đừng ăn cắp, nhưng tất cả hãy thể hiện điều tốt và đáng tin cậy, để đạo của Đấng Giải Cứu chúng ta, là Đức Chúa Trời, được tôn quý trong mọi phương diện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời - mang sự cứu rỗi cho tất cả mọi người - đã được thể hiện, 12. hướng dẫn chúng ta từ bỏ sự không tin kính và những đam mê thế tục, để sống đứng đắn, công chính, và tin kính trong đời nầy, 13. đang khi chờ đợi niềm hy vọng phước hạnh và sự xuất hiện vinh quang của Đức Chúa Trời vĩ đại, và Đấng Giải Cứu của chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, 14. là Đấng đã phó chính Ngài vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội lỗi ô nhơ, và thanh tẩy chúng ta thành một dân thuộc riêng về Ngài, nhiệt thành làm những việc tốt đẹp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Hãy nói những điều này, hãy khích lệ, và khiển trách với tất cả thẩm quyền. Đừng để ai khinh thường con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Nhưng con hãy dạy điều hiệp với đạo lành. 2.  Khuyên những người già cả phải tiết độ, nghiêm trang, khôn ngoan, có đức tin, lòng yêu thương và tánh nhịn nhục vẹn lành. 3.  Các bà già cũng vậy, phải có thái độ hiệp với sự thánh; đừng nói xấu, đừng uống rượu quá độ; phải lấy điều khôn ngoan dạy bảo; 4.  phải dạy đàn bà trẻ tuổi biết yêu chồng con mình, 5.  có nết na, trinh chánh, trông nom việc nhà; lại biết ở lành, vâng phục chồng mình, hầu cho đạo Đức Chúa Trời khỏi bị một lời chê bai nào. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Cũng phải khuyên những người tuổi trẻ ở cho có tiết độ. 7.  Hãy lấy mình con làm gương về việc lành cho họ, trong sự dạy dỗ phải cho thanh sạch, nghiêm trang, 8.  nói năng phải lời, không chỗ trách được, đặng kẻ nghịch hổ thẹn, không được nói xấu chúng ta điều chi. 9.  Hãy khuyên những tôi tớ phải vâng phục chủ mình, phải làm đẹp lòng chủ trong mọi việc, chớ cãi trả, 10.  chớ ăn cắp vật chi, nhưng phải hằng tỏ lòng trung thành trọn vẹn, để làm cho tôn quí đạo Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, trong mọi đường. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Vả, ân điển Đức Chúa Trời hay cứu mọi người, đã được bày tỏ ra rồi. 12.  Ân ấy dạy chúng ta chừa bỏ sự không tin kính và tình dục thế gian, phải sống ở đời nầy theo tiết độ, công bình, nhân đức, 13.  đang chờ đợi sự trông cậy hạnh phước của chúng ta, và sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ, 14.  là Đấng liều mình vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội và làm cho sạch, đặng lấy chúng ta làm một dân thuộc riêng về Ngài, là dân có lòng sốt sắng về các việc lành. 15.  Hãy dạy các điều đó, lấy quyền đầy đủ mà khuyên bảo quở trách. Chớ để ai khinh dể con. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nếp Sống Ðạo Lành Mạnh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Về phần con, hãy giảng dạy những gì phù hợp với tín lý lành mạnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Con hãy khuyên các cụ ông nên tiết độ, nghiêm trang, đứng đắn, vững vàng trong đức tin, trong tình yêu, và trong sự kiên trì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Tương tự, con hãy khuyên các cụ bà nên có thái độ phản ánh đức thánh khiết, không nói xấu, không ghiền rượu, biết dạy dỗ điều tốt, 4 để các cụ có thể khuyên các phụ nữ trẻ biết yêu chồng, yêu con, 5 đứng đắn, trong sạch, đảm đang việc nhà, tốt, thuận phục chồng, để Ðạo của Ðức Chúa Trời không bị nói xấu. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Tương tự, con hãy khuyên các thanh niên phải đứng đắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Trong mọi sự, con phải tỏ ra là một người gương mẫu trong những việc tốt.  Trong sự giảng dạy, con hãy trung thực và nghiêm chỉnh, 8 lời lẽ phải lành mạnh, để không ai có thể bắt bẻ, hầu những kẻ chống đối phải hổ thẹn, không nói xấu chúng ta được điều gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Con hãy khuyên các công nhân phải thuận phục chủ của họ trong mọi sự, hãy làm vui lòng chủ, đừng cãi lại, 10 đừng trộm cắp, nhưng hãy tỏ ra là người tốt và đáng tin cậy hoàn toàn, để giáo lý của Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của chúng ta, được tôn quý trong mọi phương diện. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Vì ân sủng của Ðức Chúa Trời đã được bày tỏ để đem ơn cứu rỗi đến mọi người.  12 Ân sủng ấy dạy chúng ta phải từ bỏ nếp sống tội lỗi và những đam mê trần tục, để sống đứng đắn, chính trực, và tin kính đạo đức trong đời này, 13 trong khi chờ đợi hy vọng phước hạnh và sự xuất hiện vinh hiển của Ðức Chúa Trời vĩ đại và Ðấng Giải Cứu của chúng ta là Ðức Chúa Jesus Christ, 14 Ðấng đã phó chính Ngài vì chúng ta, để cứu chuộc chúng ta khỏi mọi tội lỗi ô nhơ và thanh tẩy chúng ta thành một dân thuộc riêng về Ngài, một dân nhiệt thành làm những điều tốt.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Ðó là những điều con phải nói, phải khuyên, và phải sửa dạy với tất cả uy quyền.  Ðừng để ai coi thường con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B56\V01B56C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Tít]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Phi-lê-môn]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[ KTB56C001 | Tít: Chương 1]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[ KTB56C003 | Tít: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35767</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35767"/>
		<updated>2026-06-09T23:36:53Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. 12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thú nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. 12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35766</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35766"/>
		<updated>2026-06-09T22:59:12Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín. 12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thú nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín. 12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=R%C3%B4-ma:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35765</id>
		<title>Rô-ma: Chương 1</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=R%C3%B4-ma:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35765"/>
		<updated>2026-06-09T22:35:53Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Phao-lô, một nô lệ của Ðức Chúa Jesus Christ, đã được gọi làm sứ đồ, đang được biệt riêng để rao truyền Phúc Âm của Ðức Chúa Trời 2. mà Ngài đã hứa từ trước qua các tiên tri của Ngài trong Kinh Thánh, 3. về Con của Ngài, theo phương diện thể xác thì xuất phát từ dòng Ða-vít, 4. nhưng đã được xưng nhận là Con của Ðức Chúa Trời, có quyền năng bởi Thánh Linh, đã sống lại từ cõi chết, là Jesus Christ, Chúa của chúng ta; 5. nhờ Ngài mà tôi đã nhận được ân điển và thẩm quyền sứ đồ, để nhân danh Ngài, đem mọi dân tộc đến sự vâng phục của đức tin, 6. trong đó có anh em, là những người được kêu gọi để thuộc về Ðức Chúa Jesus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Xin gởi đến tất cả những người yêu dấu của Ðức Chúa Trời, được gọi là thánh đồ tại Rô-ma: Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Chúa, là Ðức Chúa Jesus Christ, đến cùng anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Thật vậy, trước hết, qua Ðức Chúa Jesus Christ, tôi cảm tạ Ðức Chúa Trời của tôi về tất cả anh em, bởi vì đức tin của anh em đã được loan truyền khắp thế giới. 9. Thật vậy, Ðức Chúa Trời, là Ðấng tôi phục vụ với tâm hồn trong việc rao truyền Phúc Âm về Con Ngài, là Đấng làm chứng cho tôi rằng tôi không ngừng nhắc đến anh em, 10. tôi luôn cầu nguyện rằng, nếu bây giờ, cuối cùng, theo ý của Ðức Chúa Trời, tôi sẽ thực hiện một chuyến hành trình để đến với anh em. 11. Thật vậy, tôi mong được gặp anh em để có thể chia sẻ với anh em một số ơn phước thuộc linh, để làm vững mạnh anh em, 12. hơn nữa, để khích lệ lẫn nhau, qua đức tin của nhau, của anh em và của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Anh em! Tôi muốn anh em không thể không biết rằng, nhiều lần tôi đã định đến với anh em, để tôi có thể đạt những kết quả giữa vòng  anh em như đã có giữa các dân ngoại khác, nhưng đã bị cản trở, cho đến bây giờ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Tôi mắc nợ cả người Hy Lạp lẫn người man rợ, cả người thông thái lẫn người ngu dốt. 15. Vì vậy, tôi sẵn sàng để giảng Phúc Âm cho anh em, là những người ở tại Rô-ma.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Phúc Âm, đó thật sự là quyền năng của Ðức Chúa Trời để cứu mọi người tin, trước là người Do Thái, sau là người Hy Lạp. 17. Sự công chính của Ðức Chúa Trời thật sự đã được bày tỏ trong đó, từ đức tin đến đức tin, như có chép rằng: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thật vậy, cơn thịnh nộ của Ðức Chúa Trời từ trời được bày tỏ ra để chống lại tất cả những kẻ vô luân và bất chính, đã dùng sự bất chính để đàn áp chân lý, 19. bởi vì sự hiểu biết về Ðức Chúa Trời đã được giải bày cho họ, và Ðức Chúa Trời bày tỏ điều đó cho họ . 20. Thật vậy, từ khi dựng nên trời đất, những phẩm chất vô hình của Ngài, cả quyền năng vĩnh cửu và bản tính thiên thượng của Ngài đã được thấy rõ và nhận biết qua các tạo vật, cho nên họ không thể bào chữa. 21. Mặc dù họ đã biết Ðức Chúa Trời, họ không chịu tôn vinh Ngài là Ðức Chúa Trời và biết ơn Ngài, nhưng họ đã suy nghĩ viển vông, lòng dạ ngu muội của họ đã trở nên u tối: 22. cho mình là khôn ngoan nhưng đã trở nên dại dột, 23. họ đã đổi vinh quang của Ðức Chúa Trời bất diệt, bắt chước theo hình ảnh bị hủy diệt của con người, của chim, của thú vật, hoặc những loài bò sát. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Vì vậy, Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng của lòng họ. Họ đã làm điều ô nhơ, và làm nhục thân thể của nhau. 25. Họ đã đánh đổi chân lý của Ðức Chúa Trời để lấy sự giả dối, rồi tôn sùng và phục vụ loài thọ tạo thay vì Ðấng Tạo Hóa, là Ðấng được chúc tôn đời đời. A-men. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Vì vậy, Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng đồi bại của họ. Thật vậy, phụ nữ của họ đã đổi cách tự nhiên theo cách phản tự nhiên. 27. Tương tự như vậy, đàn ông cũng đã bỏ cách tự nhiên với phụ nữ, mà un đốt sự thèm khát với nhau: đàn ông làm chuyện đồi bại với đàn ông, do đó họ phải nhận lãnh hình phạt tương xứng với hành động sai lầm của họ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Và bởi vì họ không xem sự nhận biết Ðức Chúa Trời là phù hợp, cho nên Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho một tâm trí đồi bại, để làm những điều không phù hợp; 29. đầy dẫy mọi bất chính, gian ác, tham lam, hiểm độc; đầy sự ghen ghét, giết người, gây gổ, lừa đảo, nham hiểm; nói xấu, 30. vu khống, ghét Ðức Chúa Trời, xấc xược, kiêu căng, khoác lác, sáng tạo ra những điều ác, không vâng lời cha mẹ, 31. dại dột, bội tín, vô tâm, vô cảm; 32. họ đã biết rõ sự phán xét công chính của Ðức Chúa Trời rằng hễ ai làm những việc như thế thì đáng chết - không phải chỉ họ đã thực hành những điều đó, nhưng cũng tán đồng những người khác thực hành những điều đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phao-lô, một đầy tớ của Ðức Chúa Jesus Christ, đã được gọi làm sứ đồ, đang được chọn để rao truyền Phúc Âm của Ðức Chúa Trời mà Ngài đã hứa từ trước qua các tiên tri của Ngài trong Kinh Thánh, về Con của Ngài, theo phương diện thể xác, xuất phát từ dòng Ða-vít, nhưng đã được xưng nhận là Con của Ðức Chúa Trời, có quyền năng bởi Thánh Linh, đã sống lại từ cõi chết, là Jesus Christ, Chúa của chúng ta. Nhờ Ngài mà tôi đã nhận được vinh dự của chức vụ sứ đồ để nhân danh Ngài đem mọi dân tộc đến sự thuận phục của đức tin, trong đó có anh em, là những người được kêu gọi để thuộc về Ðức Chúa Jesus Christ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin gởi đến tất cả những người yêu dấu của Ðức Chúa Trời - được gọi là thánh đồ tại Rô-ma: Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Chúa, là Ðức Chúa Jesus Christ, đến cùng anh em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Cầu Nguyện Cảm Tạ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước hết, qua Ðức Chúa Jesus Christ, tôi cảm tạ Ðức Chúa Trời của tôi về tất cả anh em bởi vì đức tin của anh em đã được loan truyền khắp thế giới. Thật vậy, Ðức Chúa Trời, là Ðấng tôi phục vụ với cả tâm hồn trong việc rao truyền Phúc Âm về Con Ngài, là Đấng làm chứng cho tôi rằng tôi không ngừng nhắc đến anh em; tôi luôn cầu nguyện nếu đẹp ý của Ðức Chúa Trời, cuối cùng đây có thể là lúc tôi sẽ thực hiện một chuyến hành trình đến với anh em. Thật vậy, tôi mong được gặp anh em để có thể chia sẻ với anh em một số ơn phước thuộc linh, làm vững mạnh anh em; hơn nữa, để chúng ta khích lệ lẫn nhau, qua đức tin của nhau - của anh em và của tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh em! Tôi muốn anh em biết rằng nhiều lần tôi đã định đến với anh em để tôi có thể đạt những kết quả ở giữa anh em như đã có giữa các dân ngoại khác, nhưng đã bị cản trở cho đến bây giờ. Tôi mắc nợ cả người Hy Lạp lẫn người man rợ, cả người thông thái lẫn người ngu dốt. Vì thế, tôi sẵn sàng để giảng Phúc Âm cho anh em, là những người ở tại Rô-ma.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Quyền Năng của Phúc Âm'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Phúc Âm, đó thật sự là quyền năng của Ðức Chúa Trời để cứu mọi người tin - trước là người Do Thái, sau là người Hy Lạp. Sự công chính của Ðức Chúa Trời thật sự đã được bày tỏ trong đó - từ đức tin đến đức tin - như có chép rằng: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tội Lỗi của Nhân Loại'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, cơn thịnh nộ của Ðức Chúa Trời từ trời được bày tỏ ra để chống lại tất cả những kẻ vô luân và bất chính, đã dùng sự bất chính để đàn áp chân lý, bởi vì sự hiểu biết về Ðức Chúa Trời đã được giải bày cho họ, và Ðức Chúa Trời bày tỏ điều đó cho họ. Thật vậy, từ khi dựng nên trời đất, những phẩm chất vô hình của Ngài, cả quyền năng vĩnh cửu và bản tính thiên thượng của Ngài, đã được thấy rõ và nhận biết qua những tạo vật; cho nên họ không thể nào bào chữa. Dù họ đã biết Ðức Chúa Trời, họ không chịu tôn vinh Ngài là Ðức Chúa Trời và biết ơn Ngài; nhưng họ suy nghĩ viển vông, lòng dạ ngu muội của họ trở nên u tối: cho mình là khôn ngoan, nhưng đã trở nên dại dột; họ đã đổi vinh quang của Ðức Chúa Trời bất diệt, bắt chước theo hình ảnh bị hủy diệt của con người, của chim, của súc vật, hoặc những loài bò sát.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng của lòng họ, họ làm điều nhơ bẩn, làm nhục thân thể của nhau; họ đã đánh đổi chân lý của Ðức Chúa Trời để lấy sự giả dối, rồi tôn sùng và phục vụ loài thọ tạo thay vì Ðấng Tạo Hóa, là Ðấng được chúc tụng đời đời. A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng đồi bại của họ. Thật vậy, phụ nữ của họ đã đổi cách tự nhiên để theo cách phản tự nhiên. Tương tự như vậy, đàn ông cũng đã bỏ cách tự nhiên với phụ nữ mà un đốt sự thèm khát với nhau: đàn ông làm chuyện đồi bại với đàn ông, do đó họ phải nhận lãnh hình phạt tương xứng với hành động sai lầm của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và bởi vì họ không xem sự nhận biết Ðức Chúa Trời là phù hợp, cho nên Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho một tâm trí đồi bại, để làm những điều không phù hợp; đầy dẫy mọi bất chính, gian ác, tham lam, hiểm độc; đầy sự ghen ghét, giết người, gây gổ, lừa đảo, nham hiểm; nói xấu, vu khống, ghét Ðức Chúa Trời, xấc xược, kiêu căng, khoác lác, tạo nên những điều ác, không vâng lời cha mẹ, dại dột, bội tín, vô tâm, vô cảm; họ đã biết rõ sự phán xét công chính của Ðức Chúa Trời rằng hễ ai làm những việc như thế thì đáng chết - không phải chỉ họ đã thực hành những điều đó, nhưng cũng tán đồng những người khác thực hành những điều đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Phao-lô - một đầy tớ của Ðức Chúa Jesus Christ, đã được gọi làm sứ đồ, đang được biệt riêng cho Phúc Âm của Ðức Chúa Trời, 2. mà Ngài đã hứa từ trước qua các tiên tri của Ngài trong Kinh Thánh, 3.về Con của Ngài, theo phương diện thể xác phát thì sinh từ dòng Ða-vít, 4. đã được xưng nhận là Con của Ðức Chúa Trời, có quyền năng bởi Thánh Linh, đã sống lại từ cõi chết, là Jesus Christ, Chúa của chúng ta; 5. nhờ Ngài tôi nhận được ân điển và thẩm quyền sứ đồ, để nhân danh Ngài, đem mọi dân tộc đến sự vâng phục của đức tin, 6. trong đó có anh em, những người được gọi để thuộc về Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Gởi đến tất cả những người yêu dấu của Ðức Chúa Trời, được gọi là thánh đồ, tại Rô-ma: Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Chúa, là Ðức Chúa Jesus Christ, đến cùng anh em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Thật vậy, trước hết, qua Ðức Chúa Jesus Christ, tôi cảm tạ Ðức Chúa Trời của tôi về tất cả anh em, bởi vì đức tin của anh em đã được loan truyền khắp thế giới. 9. Thật vậy, Ðức Chúa Trời, là Ðấng tôi phục vụ với tâm hồn, trong việc rao truyền Phúc Âm về Con Ngài, làm chứng cho tôi rằng tôi không ngừng nhắc đến anh em, 10. tôi luôn cầu nguyện rằng, nếu bây giờ, rốt cuộc, theo ý của Ðức Chúa Trời, tôi sẽ thực hiện một hành trình để đến với anh em. 11. Thật ra, tôi mong được gặp anh em để có thể chia sẻ với anh em một số ơn phước thuộc linh, để làm vững mạnh anh em, 12. hơn nữa, để khích lệ giữa anh em với nhau, qua đức tin của nhau, của anh em và của tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Anh em! Tôi muốn anh em không thể không biết rằng, nhiều lần tôi đã định đến với anh em - nhưng đã bị cản trở, cho đến bây giờ - để tôi có thể đạt những kết quả giữa anh em như đã có giữa các dân ngoại khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Tôi mắc nợ cả người Hy Lạp lẫn người man rợ, cả người thông thái lẫn người ngu dốt. 15. Vì thế, tôi sẵn sàng để giảng Phúc Âm cho anh em, những người tại Rô-ma.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Phúc Âm, đó thật sự là quyền năng của Ðức Chúa Trời để cứu mọi người tin, trước là người Do Thái, sau là người Hy Lạp. 17. Sự công chính của Ðức Chúa Trời thật sự đã được biểu lộ trong đó, từ đức tin đến đức tin, như có chép rằng: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thật vậy, cơn thịnh nộ của Ðức Chúa Trời từ trời được bày tỏ ra để chống lại tất cả những kẻ vô luân và bất chính, đã dùng sự bất chính để đàn áp chân lý, 19. bởi vì sự hiểu biết về Ðức Chúa Trời đã được giải bày cho họ, và Ðức Chúa Trời bày tỏ điều đó cho họ. 20. Thật vậy, từ khi dựng nên trời đất, những phẩm chất vô hình của Ngài, cả quyền năng vĩnh cửu và bản tính thiên thượng của Ngài, đã được thấy rõ và nhận biết, qua những tạo vật; cho nên họ không thể bào chữa. 21. Dù họ đã biết Ðức Chúa Trời, họ không tôn vinh Ngài là Ðức Chúa Trời và biết ơn Ngài; nhưng họ suy nghĩ viển vông, và lòng dạ ngu muội của họ trở nên u tối: 22. cho mình là khôn ngoan nhưng đã trở nên dại dột, 23. họ đã đổi vinh quang của Ðức Chúa Trời bất diệt, bắt chước theo hình ảnh hủy diệt của người, hoặc chim, hoặc thú vật, hoặc những loài bò sát.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Vì vậy, Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng của tấm lòng họ, làm điều ô nhơ, làm nhục thân thể của nhau; 25. họ đã đánh đổi chân lý của Ðức Chúa Trời để lấy sự giả dối, rồi tôn sùng và phục vụ loài thọ tạo thay vì Ðấng Tạo Hóa, Ðấng được chúc tôn đời đời. A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Vì vậy, Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng đồi bại của họ. Thật vậy, phụ nữ của họ đã đổi cách tự nhiên theo cách phản tự nhiên. 27. Tương tự như vậy, đàn ông cũng đã bỏ cách tự nhiên với phụ nữ, mà un đốt sự thèm khát với nhau: đàn ông làm chuyện đồi bại với đàn ông, do đó họ phải nhận lãnh hình phạt tương xứng với hành động sai lầm của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Và bởi vì họ không xem sự nhận biết Ðức Chúa Trời là phù hợp, cho nên Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho một tâm trí đồi bại, để làm những điều không phù hợp; 29. đầy dẫy mọi bất chính, gian ác, tham lam, hiểm độc; đầy sự ghen ghét, giết người, gây gổ, lừa đảo, nham hiểm; nói xấu, 30. vu khống, ghét Ðức Chúa Trời, xấc xược, kiêu căng, khoác lác, sáng tạo ra những điều ác, không vâng lời cha mẹ, 31. dại dột, bội tín, vô tâm, vô cảm; 32. họ đã biết rõ sự phán xét công chính của Ðức Chúa Trời rằng hễ ai làm những việc như thế thì đáng chết - không phải chỉ họ đã thực hành những điều đó, nhưng cũng tán đồng những người khác thực hành những điều đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Phao-lô, tôi tớ Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi làm sứ đồ, để riêng ra đặng giảng Tin Lành Đức Chúa Trời, 2.  là Tin Lành xưa kia Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri Ngài mà hứa trong Kinh Thánh, 3.  về Con Ngài, theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đa-vít sanh ra, 4.  theo thần linh của thánh đức, thì bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta, 5.  nhờ Ngài chúng ta đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, để đem mọi dân ngoại đến sự vâng phục của đức tin, vì danh Ngài, 6.  trong các dân ấy anh em cũng đã được gọi bởi Đức Chúa Jêsus Christ; 7.  gởi cho hết thảy những người yêu dấu của Đức Chúa Trời tại thành Rô-ma, được gọi làm thánh đồ. Nguyền cho anh em được ân điển và sự bình an từ nơi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Trước hết, tôi nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, vì hết thảy anh em mà tạ ơn Đức Chúa Trời tôi về đức tin anh em đã đồn khắp cả thế gian. 9.  Vì Đức Chúa Trời mà tôi lấy tâm thần hầu việc, bởi sự giảng Tin Lành của Con Ngài, làm chứng cho tôi rằng tôi nhắc đến anh em không thôi 10.  trong mọi khi tôi cầu nguyện thường xin Đức Chúa Trời, bởi ý muốn Ngài, sau lại có thể gặp dịp tiện đi đến nơi anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Thật vậy, tôi rất mong mỏi đến thăm anh em, đặng thông đồng sự ban cho thiêng liêng cùng anh em, hầu cho anh em được vững vàng, 12.  tức là tôi ở giữa anh em, để chúng ta cùng nhau giục lòng mạnh mẽ bởi đức tin chung của chúng ta, nghĩa là của anh em và của tôi. 13.  Vả, hỡi anh em, tôi chẳng muốn anh em không biết rằng đã bao phen tôi toan đi thăm anh em, đặng hái trái trong anh em cũng như trong dân ngoại khác; song về sự đó tôi bị ngăn trở cho đến bây giờ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Tôi mắc nợ cả người Gờ-réc lẫn người giã man, cả người thông thái lẫn người ngu dốt. 15.  Ấy vậy, hễ thuộc về tôi, thì tôi cũng sẵn lòng rao Tin Lành cho anh em, là người ở thành Rô-ma. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16.  Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc; 17.  vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Vả, cơn giận của Đức Chúa Trời từ trên trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và mọi sự không công bình của những người dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật. 19.  Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi, 20.  bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bản tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được, 21.  vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa; song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm. 22.  Họ tự xưng mình là khôn ngoan, mà trở nên điên dại; 23.  họ đã đổi vinh hiển của Đức Chúa Trời không hề hư nát lấy hình tượng của loài người hay hư nát, hoặc của điểu, thú, côn trùng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24.  Cho nên Đức Chúa Trời đã phó họ sa vào sự ô uế theo lòng ham muốn mình, đến nỗi tự làm nhục thân thể mình nữa, 25.  vì họ đã đổi lẽ thật Đức Chúa Trời lấy sự dối trá, kính thờ và hầu việc loài chịu dựng nên thế cho Đấng dựng nên, là Đấng đáng khen ngợi đời đời! A-men. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Ấy vì cớ đó mà Đức Chúa Trời đã phó họ cho sự tình dục xấu hổ; vì trong vòng họ, những người đàn bà đã đổi cách dùng tự nhiên ra cách khác nghịch với tánh tự nhiên. 27.  Những người đàn ông cũng vậy, bỏ cách dùng tự nhiên của người đàn bà mà un đốt tình dục người nầy với kẻ kia, đàn ông cùng đàn ông phạm sự xấu hổ, và chính mình họ phải chịu báo ứng xứng với điều lầm lỗi của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28.  Tại họ không lo nhìn biết Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời đã phó họ theo lòng hư xấu, đặng phạm những sự chẳng xứng đáng. 29.  Họ đầy dẫy mọi sự không công bình, độc ác, tham lam, hung dữ; chan chứa những điều ghen ghét, giết người, cãi lẫy, dối trá, giận dữ; 30.  hay mách, gièm chê, chẳng tin kính, xấc xược, kiêu ngạo, khoe khoang, khôn khéo về sự làm dữ, không vâng lời cha mẹ; 31.  dại dột, trái lời giao ước, không có tình nghĩa tự nhiên, không có lòng thương xót. 32.  Dầu họ biết mạng lịnh Đức Chúa Trời tỏ ra những người phạm các tội dường ấy là đáng chết, thế mà chẳng những họ tự làm thôi đâu, lại còn ưng thuận cho kẻ khác phạm các điều ấy nữa. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Mở Ðầu'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Phao-lô, một đầy tớ của Ðức Chúa Jesus Christ, được kêu gọi làm sứ đồ, được biệt riêng để rao truyền Tin Mừng của Ðức Chúa Trời, 2 là Tin Mừng đã được hứa từ trước qua các vị tiên tri của Ngài trong Kinh Thánh, 3 liên quan đến Con Ngài, mà về phương diện phàm nhân thì được sinh ra từ dòng dõi Vua Ða-vít, 4 còn về phương diện Linh của sự thánh khiết thì được xác chứng là Con Ðức Chúa Trời đầy quyền năng qua sự sống lại từ cõi chết, đó là Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta, 5 qua Ngài chúng tôi nhận được ân sủng và chức vụ sứ đồ để vì danh Ngài dẫn dắt mọi dân tin thờ Chúa và vâng phục Ngài, 6 trong đó có anh chị em, những người được gọi để thuộc về Ðức Chúa Jesus Christ, 7 kính gởi tất cả những người được Ðức Chúa Trời yêu thương, được gọi làm thánh đồ ở Rô-ma.  Nguyện ân sủng và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, là Chúa, đến cùng anh chị em.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Cầu Nguyện Cảm Tạ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Trước hết, nhờ Ðức Chúa Jesus Christ, tôi cảm tạ Ðức Chúa Trời của tôi về tất cả anh chị em, vì đức tin của anh chị em đã được truyền tụng khắp thế giới.  9 Vì Ðức Chúa Trời, Ðấng tôi phục vụ với tất cả tâm hồn trong việc rao truyền Tin Mừng về Con Ngài, có thể làm chứng cho tôi rằng tôi hằng nhắc đến anh chị em trong khi cầu nguyện.  10 Tôi luôn cầu xin rằng, nếu đẹp ý Ðức Chúa Trời, xin Ngài mở đường cho tôi đến thăm anh chị em.  11 Vì tôi rất mong được gặp anh chị em để có thể chia sẻ với anh chị em một số ơn phước thuộc linh, hầu làm vững mạnh đức tin anh chị em, 12 tức là khi tôi được ở giữa anh chị em, chúng ta có thể khích lệ đức tin lẫn nhau, tức đức tin của anh chị em và đức tin của tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Thưa anh chị em, tôi muốn anh chị em biết rằng, tôi đã định đến thăm anh chị em nhiều lần, để có thể gặt hái những kết quả giữa anh chị em như tôi đã gặt hái giữa các dân ngoại khác, nhưng lần nào tôi cũng gặp trở ngại. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Tôi mắc nợ cả người Hy-lạp lẫn người man rợ, cả người thông thái lẫn người khờ dại.  15 Vì thế tôi nóng lòng muốn giảng Tin Mừng cho anh chị em, những người ở Rô-ma. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Quyền Năng Ðức Chúa Trời Tỏ Ra Qua Tin Mừng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Mừng đâu, vì đó là quyền năng Ðức Chúa Trời để cứu mọi người có lòng tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp. 17 Vì trong Tin Mừng ấy sự công chính của Ðức Chúa Trời được biểu lộ, từ đức tin đến đức tin, như có chép rằng,   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Người công chính sẽ sống bởi đức tin.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''CẢ NHÂN LOẠI PHẢI CHỊU ÐỨC CHÚA TRỜI PHÁN XÉT'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(1:18 - 3:20)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tội Lỗi của Nhân Loại'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Cơn thịnh nộ của Ðức Chúa Trời từ trời đã biểu lộ để trừng phạt mọi hình thức vô luân và gian ác của những kẻ dùng những biện pháp gian ác đàn áp sự thật.  19 Vì những gì con người có thể biết về Ðức Chúa Trời đã được bày tỏ cho họ rồi, bởi Ðức Chúa Trời đã bày tỏ cho họ.  20 Thật vậy từ khi dựng nên trời đất, qua những gì đã được dựng nên, con người đã thấy rõ và nhận biết những gì không thấy được về Ngài, như quyền năng đời đời và thần tính của Ngài, vì thế họ không còn lý do để bào chữa.  21 Vì dù họ đã biết Ðức Chúa Trời, họ vẫn không chịu tôn vinh Ngài là Ðức Chúa Trời và biết ơn Ngài; ngược lại, đầu óc họ cứ suy luận viển vông, tâm trí điên rồ của họ đã trở nên u tối.  22 Họ cho mình là khôn ngoan nhưng đã trở nên điên dại.  23 Họ đã đánh đổi vinh hiển của Ðức Chúa Trời không hề hư nát cho những hình tượng của con người hay hư nát, hoặc của chim chóc, súc vật, và rắn rết.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Vì thế Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng của lòng họ, để họ sa vào những ô uế, làm nhục thân thể của nhau.  25 Họ đã đánh đổi chân lý của Ðức Chúa Trời để lấy sự giả dối; họ thờ phượng và phục vụ loài thọ tạo thay vì Ðấng Tạo Hóa, Ðấng đáng được ca ngợi đời đời.  A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Chính vì thế Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng đồi bại của họ.  Ngay cả phụ nữ của họ cũng đã đổi cách chung đụng xác thịt tự nhiên để theo cách phản tự nhiên.  27 Tương tự, đàn ông cũng đã bỏ cách chung đụng xác thịt tự nhiên với đàn bà mà un đốt sự thèm khát nhục dục với nhau; đàn ông làm những chuyện đồi bại với đàn ông, do đó họ phải chuốc lấy hình phạt tương xứng với hành động sai lầm của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Vì họ không coi sự nhận biết Ðức Chúa Trời là trọng, nên Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho một tâm trí bại hoại, để làm những điều không nên làm.  29 Lòng họ đầy mọi thứ bất chính, gian ác, tham lam, và hiểm độc.  Họ đầy sự ganh tị, sát nhân, gây gổ, lừa đảo, và xảo quyệt.  Họ nói hành, 30 vu khống, ghét Ðức Chúa Trời, xấc xược, kiêu căng, khoác lác, giỏi tạo ra điều ác, không vâng lời cha mẹ, 31 không chút lương tri, không giữ lời hứa, không chút tình cảm, không chút xót thương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32 Dù họ đã biết rõ luật của Ðức Chúa Trời rằng hễ ai làm những việc như thế thì đáng chết, thế mà không những chính họ đã làm những điều ấy, mà còn tán thành những người khác làm những điều ấy nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B45\V01B45C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Thư Rô-ma | Giới Thiệu Thư Rô-ma]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Rô-ma]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[KTB45C002 | Chương 2]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35764</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35764"/>
		<updated>2026-06-09T21:27:59Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín. 12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thú nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín. 12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35763</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35763"/>
		<updated>2026-06-09T21:13:12Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thú nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=S%C3%A1ng_Th%E1%BA%BF_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_44&amp;diff=35712</id>
		<title>Sáng Thế Ký: Chương 44</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=S%C3%A1ng_Th%E1%BA%BF_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_44&amp;diff=35712"/>
		<updated>2026-05-25T00:41:49Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đó ông đã truyền cho người quản gia rằng: “Những người nầy chở được bao nhiêu thì hãy đổ đầy lương thực trong bao của họ bấy nhiêu, và rồi hãy để bạc của mỗi người vào trong bao của người đó. 2. Hãy để cái chén của ta - là cái chén bằng bạc - vào miệng bao của người em út, cùng với số bạc mua lúa của người đó.” Ông ta đã làm theo lời Giô-sép căn dặn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Vừa rạng sáng, những người đó được phép ra đi - họ cùng với lừa của họ. 4. Khi họ đã đi khỏi thành chưa được bao xa, Giô-sép truyền cho người quản gia của mình: “Hãy đứng lên đuổi theo những người đó. Khi bắt kịp họ, hãy nói với họ: ‘Tại sao các ngươi lấy oán trả ân? 5. Đây không phải là chỉ là vật mà chủ của ta dùng để uống, nhưng chính là vật mà ông dùng để bói toán? Các ngươi đã làm một việc gian ác!’” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Do đó, ông ta đã đuổi theo họ, rồi nói với họ những lời đó. 7. Họ đã trả lời với ông: “Tại sao chúa của chúng tôi lại nói những lời như vậy? Các tôi tớ của ngài không thể nào làm một việc như vậy. 8. Xin Ngài hãy xem: Bạc mà chúng tôi tìm thấy trong miệng bao, chúng tôi còn mang từ Ca-na-an xuống để trả lại cho ngài, thì làm thế nào mà chúng tôi có thể ăn cắp bạc hay vàng trong nhà của chủ ngài được? 9. Nếu vật đó được tìm thấy nơi người nào thì người đó phải chết, còn chúng tôi sẽ làm nô lệ cho chúa của chúng tôi.” 10. Ông đáp: “Được rồi, bây giờ hãy làm như lời các ngươi nói. Nếu vật đó được tìm thấy nơi người nào thì người đó sẽ làm nô lệ cho ta, còn các ngươi sẽ vô tội.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Mỗi người đã vội vàng hạ bao của mình xuống đất, họ đã mở bao của từng người. 12. Ông bắt đầu lục soát từ người anh cả cho đến người em út, rồi tìm thấy cái chén trong bao của Bên-gia-min. 13. Họ đã xé trang phục của mình - mỗi người chất đồ lên lừa, rồi trở lại thành phố.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Giu-đa và các anh em của mình đến nhà của Giô-sép, và ông vẫn còn tại đó. Họ đã sấp mình xuống đất trước mặt ông. 15. Giô-sép nói với họ: “Các ngươi đã làm gì vậy? Các ngươi không biết rằng một người như ta có khả năng bói toán hay sao?” 16. Giu-đa đáp: “Thưa chúa của tôi! Chúng tôi sẽ nói gì đây? Chúng tôi sẽ trình bày điều gì bây giờ? Làm thế nào chúng tôi có thể biện minh cho mình được? Ðức Chúa Trời đã tìm ra tội lỗi của các tôi tớ của ngài. Này, chúng tôi là nô lệ cho chúa của tôi. Chúng tôi cùng với người bị tìm thấy cái chén.” 17. Ông đáp: “Ta sẽ không làm như vậy. Người nào bị tìm thấy cái chén trong tay của mình sẽ làm nô lệ cho ta, còn tất cả các ngươi hãy đi bình an trở về với cha của các ngươi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Giu-đa đến gần ông và nói: “Thưa chúa của tôi!  Xin cho tôi tớ của ngài được thưa một lời đến tai của ngài. Xin ngài đừng nổi giận với tôi tớ của ngài, bởi vì ngài như là Pha-ra-ôn. 19. Chúa của tôi đã hỏi các tôi tớ của ngài rằng: ‘Các ngươi còn có cha, hay một anh em nào nữa không?’ 20. Chúng tôi đã thưa với chúa của chúng tôi rằng: ‘Chúng tôi có một người cha, đã già, và một đứa em đã sinh cho người trong tuổi già. Anh ruột của nó đã chết. Nó là đứa con duy nhất còn lại của mẹ nó, và cha thương nó lắm.’ 21. Ngài đã truyền cho các đầy tớ của ngài: ‘Hãy đem nó xuống cho ta để cho ta nhìn thấy nó tận mắt.’ 22. Chúng tôi đã thưa với chúa của tôi rằng: ‘Thằng bé không thể nào lìa khỏi cha được; nếu nó lìa khỏi cha thì người sẽ chết.’ 23. Nhưng ngài đã nói với các tôi tớ của ngài: ‘Nếu em út của các ngươi không theo xuống với các ngươi, thì các ngươi sẽ không bao giờ thấy mặt của ta.’ 24. Cho nên khi chúng tôi quay về với kẻ tôi tớ của ngài, là cha của tôi, chúng tôi có thuật lại cho người nghe những lời của chúa. 25. Khi cha của chúng tôi bảo: ‘Các con hãy trở xuống để mua một ít lương thực cho chúng ta.’ 26. Chúng tôi đã thưa rằng: ‘Chúng con không thể nào xuống đó. Nhưng nếu em út cùng đi với chúng con thì chúng con sẽ đi. Bởi vì chúng con không thể nào gặp mặt người đó nếu em út không đi với chúng con.’ 27. Kẻ tôi tớ của ngài, là cha của tôi, đã nói với chúng tôi: ‘Các con biết rằng vợ của ta đã sinh cho ta hai đứa con trai. 28. Một đứa đã lìa khỏi cha - và cha nghĩ rằng chắc nó đã bị xé xác từng mảnh, bởi vì cho đến bây giờ cha vẫn chưa gặp lại nó. 29. Nhưng nếu các con dẫn đứa nầy rời khỏi cha, lỡ có nguy hiểm nào xảy ra cho nó, các con sẽ làm cho cha phải mang mái đầu bạc đau khổ nầy đi vào âm phủ.’ 30. Vì vậy, khi tôi về với cha của tôi, là tôi tớ của ngài, mà đứa trẻ không về cùng chúng tôi, và vì linh hồn của cha chúng tôi gắn bó với linh hồn của nó, 31. và rồi khi ông cụ không thấy thằng bé, ông cụ sẽ chết. Và như vậy các tôi tớ ngài đã làm cho đầu bạc của cha chúng tôi, là tôi tớ của ngài, phải đau buồn xuống âm phủ. 32. Bởi vì kẻ tôi tớ này của ngài đã cam đoan về thằng bé với cha của tôi rằng: ‘Nếu con không đem em về cho cha, thì con sẽ mang tội với cha mãi mãi.’ 33. Vì vậy bây giờ xin cho đầy tớ của ngài được làm nô lệ của ngài thay cho thằng bé, và xin cho thằng bé trở về cùng các anh của nó. 34. Bởi vì làm thế nào tôi có thể về gặp cha tôi nếu thằng bé không về với tôi? Tôi không thể nào nhìn thấy thảm họa xảy đến cho cha của tôi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Giô-sép bèn truyền lịnh cho quản gia rằng: Hễ các người đó chở nổi bao nhiêu, thì hãy đổ lương thực cho họ đầy bao bấy nhiêu, rồi để bạc của mỗi người lại nơi miệng bao họ. 2.  Lại hãy để cái chén bằng bạc ta tại miệng bao chung với bạc mua lúa của người út nữa. Quản gia bèn làm y như lời Giô-sép dặn mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Ngày mai, trời vừa sáng, người ta cho các người đó và lừa về. 4.  Khi đi ra khỏi thành chưa xa, Giô-sép nói cùng quản gia rằng: Ngươi hãy đứng dậy, đuổi theo mấy người đó; khi theo kịp rồi, hãy nói rằng: Sao các ngươi lấy oán trả ơn như vậy? 5.  Có phải cái chén nầy là của chúa ta thường dùng uống rượu và bói chăng? Các ngươi đã làm một việc chẳng thiện đó. 6.  Quản gia theo kịp, lặp lại mấy lời ấy; 7.  các anh em bèn đáp rằng: Sao chúa nói như vậy? Chẳng bao giờ kẻ tôi tớ chúa có tưởng làm đến việc thế nầy! 8.  Đây, từ xứ Ca-na-an chúng tôi có đem bạc đã được nơi miệng bao xuống giao lại cho người thay; dễ nào lại có ý mong ăn cắp bạc hay vàng của dinh chủ người sao? 9.  Xin cho kẻ tôi tớ nào mà người tìm được cái chén đó phải chết đi, và chính chúng tôi sẽ làm tôi mọi cho chúa. 10.  Quản gia đáp: Ừ thôi! hãy làm như lời các ngươi đã nói: ta tìm được chén nơi ai thì người đó sẽ làm tôi mọi cho ta đó; còn các người thì vô tội. 11.  Tức thì, mỗi người lật đật hạ bao mình xuống đất và mở ra. 12.  Quản gia lục soát, bắt từ bao anh cả lần đến bao em út. Cái chén bèn tìm đặng trong bao Bên-gia-min. 13.  Mỗi người xé áo mình ra, chất bao lúa lên lưng lừa, rồi cùng trở lại thành. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Giu-đa cùng anh em đồng vào đến nhà Giô-sép, người hãy còn ở nơi đó; họ bèn sấp mình xuống đất trước mặt người. 15.  Giô-sép hỏi: Các ngươi gây nên nông nỗi chi vậy? Há chẳng biết một kẻ như ta đây có tài bói sao? 16.  Giu-đa đáp: Chúng tôi sẽ nói cùng chúa làm sao? sẽ phân lại làm sao? sẽ chữa mình chúng tôi làm sao? Đức Chúa Trời đã thấu rõ điều gian ác của tôi tớ chúa rồi. Nầy, chúng tôi cùng kẻ đã bị bắt được chén nơi tay đều làm kẻ tôi tớ cho chúa. 17.  Nhưng Giô-sép đáp rằng: Ta chẳng hề có ý làm như vậy đâu! Người mà đã bị bắt được chén nơi tay sẽ làm tôi mọi ta; còn các ngươi hãy trở về nhà cha mình bình yên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Giu-đa bèn lại gần Giô-sép mà thưa rằng: Vì chúa ngang vai Pha-ra-ôn, xin lỗi chúa, chớ nổi giận cùng kẻ tôi tớ, để tôi nói một lời cho chúa nghe. 19.  Chúa có hỏi kẻ tôi tớ rằng: Các ngươi còn cha hay là anh em nào chăng? 20.  Có thưa lại cùng chúa rằng: Chúng tôi còn một cha già, cùng một con trai đã sanh muộn cho người. Anh ruột đứa nầy đã chết rồi, nên trong vòng các con của mẹ nó, nó còn một mình, và cha thương nó lắm. 21.  Vả, chúa có dặn rằng: Hãy dẫn nó xuống đến ta, hầu cho ta thấy nó được tận mắt. 22.  Và chúng tôi có thưa lại cùng chúa rằng: Đứa trẻ chẳng lìa cha được; nếu lìa ra thì cha sẽ chết. 23.  Nhưng chúa lại dạy: Nếu em út không theo các ngươi xuống đây, thì các ngươi chẳng còn thấy mặt ta nữa. 24.  Nên khi chúng tôi trở về nhà kẻ tôi tớ chúa, là cha tôi, thì chúng tôi có thuật lại cho người nghe những lời của chúa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25.  Kế ấy, cha lại biểu chúng tôi rằng: Hãy trở xuống đặng mua một ít lương thực. 26.  Chúng tôi thưa lại rằng: Không được; nhưng nếu em út đi theo cùng, thì mới trở xuống được; bằng không, thì chúng tôi không thế ra mắt người đó. 27.  Kẻ tôi tớ chúa, là cha tôi, đáp rằng: Bây biết rằng vợ ta sanh cho ta hai đứa con trai; 28.  một đứa đã từ ta đi mất-biệt; ta cũng đã nói: Chắc đã bị thú dữ xé rồi, vì đến bây giờ chưa thấy lại. 29.  Nếu bây còn dắt đứa nầy đi khỏi mặt ta nữa, rủi có điều tai hại chi xảy đến cho nó, tức nhiên bây sẽ làm cho kẻ tóc bạc nầy đau lòng xót dạ mà xuống âm phủ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30.  Cha thương em út tôi lắm đến đỗi hai linh hồn khắng khít nhau; nếu bây giờ, khi tôi trở về nơi kẻ tôi tớ chúa, là cha tôi, mà không có em út đó, 31.  thì khi vừa thấy con út không còn nữa, chắc người sẽ chết. Nếu vậy, các tôi tớ chúa sẽ làm cho cha già tóc bạc của chúng tôi, cũng là kẻ tôi tớ chúa, đau lòng xót dạ xuống âm phủ. 32.  Vì kẻ tôi tớ nầy có chịu bảo lãnh đứa con út đó mà thưa rằng: Nếu con không đem em về cho cha, thì sẽ cam tội cùng cha mãi mãi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33.  Vậy bây giờ, xin cho kẻ tôi tớ chúa ở tôi mọi thế cho đứa trẻ, đặng nó theo trở lên cùng các anh mình. 34.  Vì, nếu đứa trẻ không theo về, làm sao tôi dám về cùng cha tôi? Ôi, tôi nỡ nào thấy điều tai họa của cha tôi ư! &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B01\V02B01C044.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Chén Bạc của Giô-sép'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Sau đó ông truyền cho người quản gia của ông, “Hãy đổ lúa đầy bao những người này.  Họ chở được bao nhiêu, đổ đầy bấy nhiêu, rồi để bạc của người nào vào bao người nấy.  2 Riêng cái chén của tôi, cái chén bạc đó, ông hãy để vào bao của đứa út, cùng với số bạc mua lúa của nó.”  Ông ấy làm mọi sự y như lời Giô-sép đã truyền.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Ðến sáng ngày, người ta để họ ra đi; họ dắt đoàn lừa của họ lên đường.  4 Khi họ đã ra khỏi thành, chưa được bao xa, Giô-sép bảo người quản gia của ông, “Hãy đứng dậy, đuổi theo những người đó.  Khi ông bắt kịp họ, hãy nói với họ, ‘Tại sao các ông lấy oán trả ân?  5 Ðó chẳng phải là vật chủ tôi thường dùng để uống và để bói toán sao?  Việc các ông làm thật là bậy lắm!’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Vậy ông ta đuổi kịp họ và nói với họ những lời ấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Họ trả lời ông ấy, “Tại sao chúa chúng tôi lại nói những lời như thế?  Chúng tôi, các tôi tớ ông, không đời nào làm vậy.  8 Ông thấy đó, chúng tôi đã mang tiền từ xứ Ca-na-an mà chúng tôi đã thấy nơi miệng bao để trả lại ông thì lẽ nào chúng tôi lại ăn cắp vàng hay bạc từ nhà chủ của ông sao?  9 Giữa các tôi tớ ông đây, hễ ông tìm thấy món đồ đó trong bao của ai, kẻ ấy phải chết, còn chúng tôi sẽ làm nô lệ cho ông.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Ông ấy đáp, “Thôi cứ làm y như lời các ông nói.  Người nào tôi tìm thấy vật đó trong bao mình, người ấy sẽ làm nô lệ cho tôi, còn những người khác thì vô can.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Thế là mỗi người vội vàng hạ bao mình xuống, và ai nấy mở bao mình ra.  12 Rồi ông ấy khám xét.  Ông bắt đầu với người anh cả, rồi lần lần đến người em út, và cái chén được tìm thấy trong bao của Bên-gia-min.  13 Bấy giờ họ xé áo mình, chất các bao lúa lại lên lưng lừa, và cùng nhau đi ngược trở lại thành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Vậy Giu-đa và các anh em ông đến nhà Giô-sép, lúc ấy Giô-sép vẫn còn ở đó.  Họ đến sấp mình xuống đất trước mặt ông và lạy.  15 Giô-sép hỏi họ, “Các ngươi đã làm gì đối với ta thế?  Các ngươi không biết rằng một người như ta có khả năng bói toán sao?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Giu-đa đáp, “Thưa ngài, chúng tôi còn biết nói gì đây?  Chúng tôi nào biết nói gì bây giờ?  Hay làm thế nào chúng tôi có thể minh oan cho chúng tôi được?  Ðức Chúa Trời đã phơi bày tội lỗi của các tôi tớ ngài.  Này, chúng tôi đành làm nô lệ cho ngài vậy; anh em chúng tôi và luôn người có cái chén bị tìm thấy trong bao của mình nữa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Giô-sép đáp, “Ta không bao giờ làm như vậy.  Chỉ người nào bị tìm thấy cái chén trong bao của mình sẽ làm nô lệ cho ta mà thôi; còn tất cả các ngươi, hãy ra về bình an với cha các ngươi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giu-đa Xin Cho Bên-gia-min'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Bấy giờ Giu-đa đến gần ông và nói, “Thưa chúa, xin cho tôi tớ ngài được thưa với ngài một lời.  Mong ngài đừng nổi giận đối với tôi tớ ngài, vì ngài có quyền chẳng khác gì Pha-ra-ôn.  19 Ngài có hỏi các tôi tớ ngài rằng, ‘Các ngươi còn có cha hay anh em nào nữa chăng?’  20 Và chúng tôi đã thưa với ngài, ‘Chúng tôi còn có cha già và một người em nhỏ, được sinh ra trong lúc ông cụ đã cao tuổi.  Anh nó đã qua đời, chỉ còn một mình nó, đứa con duy nhất còn lại trong các con của mẹ nó, và cha chúng tôi thương nó lắm.’  21 Lúc đó ngài đã bảo các tôi tớ ngài, ‘Các ngươi hãy mang nó xuống gặp ta, để ta thấy nó tận mắt.’  22 Và chúng tôi đã thưa với ngài rằng, ‘Ðứa trẻ không thể rời cha nó được, vì nếu nó xa cha nó, cha nó sẽ chết mất.’  23 Nhưng ngài đã bảo các tôi tớ ngài, ‘Nếu em út các ngươi không theo xuống với các ngươi, các ngươi đừng mong thấy mặt ta nữa.’  24 Khi chúng tôi trở về với cha chúng tôi, tôi tớ ngài, và thưa với cụ những lời ngài nói, 25 thì cha chúng tôi bảo, ‘Hãy trở lại và mua ít lương thực cho chúng ta.’  26 Nhưng chúng tôi đã thưa với cụ rằng, ‘Chúng con không thể đi xuống dưới đó.  Nếu cha cho em út đi với chúng con thì chúng con sẽ đi xuống đó, vì chúng con không thể nào gặp mặt người ấy, nếu em út không đi với chúng con.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Bấy giờ tôi tớ ngài, cha chúng tôi, bảo chúng tôi, ‘Các con biết, vợ của cha đã sinh cho cha hai đứa con; 28 một đứa đã ra đi mất biệt và cha nghĩ, “Chắc nó đã bị thú dữ xé xác rồi,” vì cho đến nay cha vẫn chưa gặp lại nó.  29 Nhưng nếu các con dẫn đứa này rời khỏi cha, và lỡ có chuyện gì rủi ro xảy ra cho nó dọc đường, các con sẽ làm cho cha phải mang đầu bạc đau buồn này đi vào âm phủ.’  30 Vậy bây giờ nếu tôi trở về gặp lại cha tôi, tôi tớ ngài, mà đứa trẻ không về với chúng tôi, và vì linh hồn của cha chúng tôi gắn bó với linh hồn nó, 31 thì khi ông cụ không thấy đứa trẻ cùng về, chắc ông cụ sẽ chết.  Và như vậy các tôi tớ ngài đã làm cho đầu bạc của cha chúng tôi, tôi tớ ngài, phải đau buồn xuống âm phủ.  32 Ngoài ra, tôi tớ ngài đã lấy chính mạng mình để bảo đảm với cha tôi cho đứa trẻ.  Tôi đã thưa với ông cụ rằng, ‘Nếu con không đem em con về cho cha, con sẽ chịu lỗi này với cha mãi mãi.’  33 Vậy bây giờ xin cho tôi tớ ngài ở lại đây làm nô lệ thay cho đứa trẻ, và xin ngài cho đứa trẻ được đi về với các anh nó.  34 Vì làm sao tôi có thể về thấy lại mặt cha tôi, nếu đứa trẻ không cùng đi với tôi?  Tôi không nỡ nào nhìn thấy thảm họa xảy đến với cha tôi được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký: Chương 43]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký: Chương 45]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35709</id>
		<title>Các Quan Xét: Chương 4</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35709"/>
		<updated>2026-05-21T03:52:07Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau khi Ê-hút qua đời, dân Y-sơ-ra-ên lại làm điều ác trước mắt của Đức Giê-hô-va. 2. Vì vậy, Đức Giê-hô-va đã phó họ cho Gia-bin, vua của Ca-na-an, là người đang trị vì tại Hát-so. Chỉ huy trưởng quân đội của ông là Si-sê-ra đồn trú tại Ha-rô-sết Ha-gô-gim. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Dân Y-sơ-ra-ên đã kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va, bởi vì Gia-bin có chín trăm xe chiến mã bằng sắt, và đã đàn áp dân Y-sơ-ra-ên cách tàn bạo trong hai mươi năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Lúc đó có Đê-bô-ra, vợ của Láp-bi-đốt, là một nữ tiên tri. Bà đang làm thẩm phán cho dân Y-sơ-ra-ên. 5. Bà ngồi dưới cây kè của Đê-bô-ra, ở giữa Ra-ma và Bê-tên, trong vùng núi của Ép-ra-im. Dân Y-sơ-ra-ên đã đến với bà để được phân xử. 6. Bà đã sai gọi Ba-rác, con trai của A-bi-nô-am, từ Kê-đe, Nép-ta-li đến, rồi nói với ông: &amp;quot;Không phải Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã truyền lệnh như thế nầy hay sao! Hãy đi và dẫn mười ngàn người thuộc con cháu của Nép-ta-li và con cháu của Sa-bu-lôn đến núi Tha-bô. 7. Ta sẽ khiến Si-sê-ra, là chỉ huy trưởng quân đội của Gia-bin, cùng với các thiết xa và quân đội của hắn đến gặp ngươi tại khe Ki-sôn. Ta sẽ phó hắn vào tay của ngươi.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Ba-rác nói với bà: &amp;quot;Nếu bà đi với tôi thì tôi sẽ đi, nhưng nếu bà không đi với tôi thì tôi sẽ không đi.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Bà nói: &amp;quot;Chắc chắn tôi sẽ đi với ông, nhưng vinh quang của trận nầy sẽ không thuộc về ông, bởi vì Đức Giê-hô-va sẽ phó Si-sê-ra vào tay của một phụ nữ.&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đê-bô-ra đã đứng dậy và đi với Ba-rác đến Kê-đe. 10. Ba-rác đã triệu tập người Sa-bu-lôn và người Nép-ta-li đến Kê-đe. Có mười ngàn người đã đi theo ông, và Đê-bô-ra đã đi lên với ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Lúc đó Hê-be, là một người Kê-nít đã chia tay với dân Kê-nít - Họ là con cháu của Hô-báp, anh em vợ của Môi-se - đã đến đóng trại của mình tại bình nguyên Sa-na-nim, gần Kê-đe.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Người ta báo cho Si-sê-ra biết rằng Ba-rác, con trai của A-bi-nô-am, đã lên núi Tha-bô. 13. Si-sê-ra đã tập trung toàn bộ xe chiến mã của mình gồm chín trăm xe chiến mã bằng sắt, và tất cả những người theo ông từ Ha-rô-sết Ha-gô-im kéo đến khe Ki-sôn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Đê-bô-ra nói với Ba-rác: &amp;quot;Hãy đứng dậy! Vì đây là ngày Đức Giê-hô-va sẽ trao Si-sê-ra vào tay của ông. Không phải Đức Giê-hô-va đã đi trước ông hay sao?&amp;quot;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy Ba-rác, cùng với mười ngàn người theo ông, đã từ núi Tha-bô kéo xuống. 15. Đức Giê-hô-va đã làm cho Si-sê-ra cùng tất cả xe chiến mã và toàn thể quân lính của ông bị hoảng loạn trước lưỡi gươm của Ba-rác. Si-sê-ra nhảy xuống khỏi xe chiến mã và chạy trốn bằng chân. 16. Ba-rác đã đuổi theo các xe chiến mã, đuổi theo quân lính cho đến Ha-rô-sết Ha-gô-im. Toàn bộ quân lính của Si-sê-ra đã ngã chết dưới lưỡi gươm, không còn ai sống sót.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Si-sê-ra chạy trốn bằng chân đến trại của Gia-ên, là vợ của Hê-be, người Kê-nít, bởi vì vua Hát-so là Gia-bin và nhà Hê-be, người Kê-nít, hòa hảo với nhau. 18. Gia-ên đã đi ra đón Si-sê-ra, và nói với ông rằng: &amp;quot;Mời ngài vào. Hãy vào với tôi. Đừng sợ!&amp;quot; Khi hắn đã vào trong trại của bà, bà đã lấy mền che giấu hắn. 19. Hắn nói với bà: &amp;quot;Tôi khát quá. Xin cho tôi một ít nước để uống.&amp;quot; Bà mở bầu da đựng sữa cho hắn uống, rồi che giấu hắn. 20. Hắn bảo bà: &amp;quot;Hãy đứng nơi cửa lều. Nếu có người nào đến hỏi bà rằng có ai ở đây không, thì hãy trả lời rằng: Không có.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Vì quá mệt, hắn đã ngủ mê. Gia-ên, vợ của Hê-be, đã lấy một cây cọc lều, tay cầm cái búa, nhẹ nhàng đến bên hắn, rồi đóng cây cọc xuyên qua màng tang của hắn thấu xuống đất. Hắn chết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Sau đó, khi Ba-rác truy tìm Si-sê-ra đến đó, Gia-ên đã ra đón ông, rồi nói với ông: &amp;quot;Mời ông vào đây, tôi sẽ chỉ cho ông người mà ông đang tìm kiếm.&amp;quot; Khi ông vào trong trại của bà, ông nhìn thấy Si-sê-ra nằm chết với cây cọc đâm xuyên màng tang.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Từ ngày hôm đó, Đức Chúa Trời bắt Gia-bin, vua của dân Ca-na-an, phải khuất phục trước dân Y-sơ-ra-ên. 24. Tay của dân Y-sơ-ra-ên càng ngày càng mạnh hơn đối với Gia-bin, vua của dân Ca-na-an, cho đến khi họ tiêu diệt Gia-bin, vua của dân Ca-na-an.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Sau khi Ê-hút đã qua đời, dân Y-sơ-ra-ên lại làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va. 2.  Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay Gia-bin, là vua Ca-na-an trị vì tại Hát-so. Quan thống lãnh đạo binh người là Si-sê-ra ở tại Ha-rô-sết của dân ngoại bang. 3.  Vua Gia-bin có chín trăm xe sắt và trong hai mươi năm, người hà hiếp dân Y-sơ-ra-ên cách hung bạo; nên Y-sơ-ra-ên kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va. 4.  Trong lúc đó, Đê-bô-ra, là nữ tiên tri, vợ của Láp-bi-đốt, đoán xét dân Y-sơ-ra-ên. 5.  Bà ở trên núi Ép-ra-im, giữa khoảng Ra-ma và Bê-tên, dưới cây chà là Đê-bô-ra, và dân Y-sơ-ra-ên lên đến cùng người, đặng nghe sự xét đoán. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Bà sai gọi Ba-rác, con trai A-bi-nô-am, từ Kê-đe trong đất Nép-ta-li, mà nói cùng người rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã truyền lịnh nầy: Hãy chọn đem theo ngươi một vạn người trong con cháu Nép-ta-li và trong con cháu Sa-bu-lôn, mà đi thẳng đến núi Tha-bô. 7.  Ta sẽ khiến Si-sê-ra, là thống lãnh đạo binh vua Gia-bin, đến cùng người tại khe Ki-sôn, luôn với các xe cộ và cả quân lính của hắn; ta sẽ phó hắn vào tay ngươi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Ba-rác đáp rằng: Nếu bà đi với tôi, thì tôi sẽ đi; nhưng nếu bà không đi với tôi, tôi sẽ không đi. 9.  Bà bèn đáp: Ừ, phải, ta sẽ đi với ngươi, song sự vinh hiển của việc nầy sẽ chẳng về ngươi; vì Đức Giê-hô-va sẽ phó Si-sê-ra vào tay một người nữ. Vậy, Đê-bô-ra đứng dậy, đi cùng Ba-rác đến Kê-đe. 10.  Ba-rác nhóm hiệp người Sa-bu-lôn và người Nép-ta-li tại Kê-đe, có một muôn người đi theo sau người, và Đê-bô-ra cũng đi lên với người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Vả, Hê-be, người Kê-nít, đã lìa khỏi dân Kê-nít, là con cháu Hô-báp, anh em vợ của Môi-se, và đi dựng trại mình ở về cây dẻ bộp Sa-na-im, gần bên Kê-đe. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Người ta thuật cho Si-sê-ra hay rằng Ba-rác, con trai của A-bi-nô-am, đã đi đến núi Tha-bô. 13.  Si-sê-ra bèn nhóm hiệp hết thảy xe cộ sắt mình là chín trăm cái bằng sắt, và toàn quân binh vẫn ở với mình, từ Ha-rô-sết về dân ngoại bang cho đến khe Ki-sôn. 14.  Đê-bô-ra nói cùng Ba-rác rằng: Hãy đứng dậy, vì nầy là ngày Đức Giê-hô-va phó Si-sê-ra vào tay ngươi. Đức Giê-hô-va há chẳng đi đằng trước ngươi sao? Rồi Ba-rác đi xuống Tha-bô, có mười ngàn người theo sau. 15.  Đức Giê-hô-va dùng mũi gươm làm cho Si-sê-ra và hết thảy xe cộ cùng toàn quân lính người vỡ chạy trước mặt Ba-rác; Si-sê-ra bèn xuống xe mình, chạy bộ mà trốn. 16.  Ba-rác đuổi theo xe cộ và đạo binh cho đến Ha-rô-sết về dân ngoại bang; cả đạo binh Si-sê-ra bị gươm giết, không còn lại một người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Si-sê-ra chạy bộ trốn đến trại Gia-ên, vợ của Hê-be, người Kê-nít; vì Gia-bin, vua Hát-so, và nhà Hê-be, người Kê-nít, hòa hảo với nhau. 18.  Gia-ên ra đón Si-sê-ra, mà nói rằng: Hỡi chúa, xin hãy vào nơi nhà tôi, chớ sợ chi. Vậy, người vào trại nàng, và nàng lấy mền đắp người lại. 19.  Đoạn, người nói cùng nàng rằng: Ta xin nàng cho ta chút nước uống, vì ta khát. Nàng bèn mở bầu sữa ra, cho người uống, rồi trùm người lại. 20.  Người lại nói cùng nàng rằng: Hãy đứng nơi cửa trại, nếu có ai đến hỏi rằng: Ở đây có ai chăng? thì hãy đáp: Chẳng có ai hết. 21.  Bấy giờ người ngủ say, vì mệt nhọc quá; Gia-ên, vợ Hê-be, bèn lấy một cây nọc trại, và tay nắm cái búa, nhẹ nhẹ đến bên người, lấy cái nọc đóng thủng màng tang người, thấu xuống đất, và người chết đi. 22.  Ba-rác đang còn rượt theo Si-sê-ra, Gia-ên bèn ra đón người, mà nói rằng: Hãy đến, tôi sẽ chỉ cho ông thấy người mà ông đang tìm kiếm. Ba-rác vào nhà nàng, thấy Si-sê-ra nằm chết sải, có nọc đâm nơi màng tang. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23.  Trong ngày đó, Đức Chúa Trời khiến cho Gia-bin, vua Ca-na-an, bị phục trước mặt dân Y-sơ-ra-ên. 24.  Tay dân Y-sơ-ra-ên càng ngày càng mạnh thắng Gia-bin, vua Ca-na-an, cho đến chừng chúng đã diệt người đi. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B07\V02B07C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Ðê-bô-ra và Ba-rác'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Sau khi Ê-hút qua đời, dân I-sơ-ra-ên lại làm điều tội lỗi trước mặt CHÚA.  2 Nên CHÚA phó họ vào tay Gia-bin vua Ca-na-an, đang trị vì tại Ha-xơ.  Tổng Tư Lệnh quân đội của Gia-bin là Si-sê-ra.  Si-sê-ra đặt bộ chỉ huy tại Ha-rô-sét Ha-gô-gim.  3 Gia-bin có chín trăm thiết xa và đã đàn áp dân I-sơ-ra-ên rất tàn bạo trong hai mươi năm, nên dân I-sơ-ra-ên kêu cầu CHÚA xin giải cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Lúc ấy Nữ Tiên Tri Ðê-bô-ra vợ của Láp-pi-đốt làm thủ lãnh và xét xử trong I-sơ-ra-ên.  5 Bà ngồi làm việc dưới bóng mát của Cây Kè Ðê-bô-ra, ở giữa Ra-ma và Bê-tên, trong miền cao nguyên Ép-ra-im; dân I-sơ-ra-ên đến với bà để bà xét xử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Bà sai người đi mời Ba-rác con trai của A-bi-nô-am ở Kê-đét, thuộc địa phận của chi tộc Náp-ta-li, đến.  Bà nói với ông, “CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, truyền cho ông, ‘Hãy đi, đem theo mười ngàn người từ chi tộc Náp-ta-li và chi tộc Xê-bu-lun mà chiếm lấy Núi Ta-bô.  7 Ta sẽ khiến Si-sê-ra, Tổng Tư Lệnh quân đội của Gia-bin, với các thiết xa và quân đội của nó đến gặp ngươi ở Khe Ki-sôn.  Ta sẽ trao nó vào tay ngươi.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Ba-rác đáp, “Nếu bà đi với tôi, tôi sẽ đi; nhưng nếu bà không đi với tôi, tôi sẽ không đi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Bà nói, “Chắc chắn tôi sẽ đi với ông; nhưng công chiến thắng trong trận này sẽ không về tay ông, vì CHÚA sẽ phó Si-sê-ra vào tay một phụ nữ.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vậy Ðê-bô-ra đứng dậy đi với Ba-rác đến Kê-đét.  10 Ba-rác triệu tập người Xê-bu-lun và người Náp-ta-li lại tại Kê-đét.  Có mười ngàn người theo ông, và cũng có Ðê-bô-ra đi với ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Bấy giờ Hê-be người Kê-ni đã tách rời khỏi dân Kê-ni, tức dòng dõi của Hô-báp, em vợ của Môi-se, mà ra ở riêng.  Ông dựng trại của ông ở tận Cây Sồi ở Xa-an-an-nim, gần Kê-đét.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Khi Si-sê-ra đã hay rằng Ba-rác con trai của A-bi-nô-am đã đến Núi Ta-bô, 13 Si-sê-ra liền truyền lịnh kéo tất cả chiến xa, gồm chín trăm thiết xa, và tất cả quân đội dưới quyền ông từ Ha-rô-sét Ha-gô-gim tụ tập về Khe Ki-sôn.  14 Bấy giờ Ðê-bô-ra nói với Ba-rác, “Hãy đứng lên, vì đây là ngày CHÚA trao Si-sê-ra vào tay ông.  Há chẳng phải chính CHÚA đi trước ông sao?”  Vậy Ba-rác từ trên Núi Ta-bô đi xuống với mười ngàn người đi theo ông.  15 Khi Ba-rác tấn công, CHÚA khiến Si-sê-ra, tất cả các chiến xa của ông ấy, và tất cả quân đội đi theo ông ấy đều ngã chết dưới gươm.  Si-sê-ra phải bỏ chiến xa chạy bộ để thoát thân.  16 Ba-rác đuổi theo các chiến xa và bộ binh đến tận Ha-rô-sét Ha-gô-gim.  Tất cả các quân sĩ của Si-sê-ra đều ngã chết dưới gươm, không người nào sống sót, 17 ngoại trừ một mình Si-sê-ra chạy bộ thoát được.  Ông chạy đến trại của Gia-ên vợ của Hê-be người Kê-ni, bởi vì giữa Vua Gia-bin ở Ha-xơ và gia tộc của Hê-be người Kê-ni có mối giao hảo thân thiện với nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Gia-ên đi ra đón Si-sê-ra và nói với ông, “Thưa ngài, xin mời ngài vào tệ xá.  Ðừng sợ gì cả.”  Vậy ông vào trại của bà, rồi bà lấy mền đắp ông lại.  19 Ông nói với bà, “Tôi khát quá.  Cho tôi miếng nước.”  Bà mở bầu da đựng sữa ra, cho ông uống, rồi lấy mền đắp ông lại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Ông bảo bà, “Bà hãy đứng nơi cửa trại.  Nếu có ai đi qua và hỏi, ‘Có ai ở đây không?’ thì hãy trả lời rằng, ‘Không.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Nói xong Si-sê-ra lăn ra ngủ say vì ông đã quá mệt.  Bấy giờ Gia-ên vợ của Hê-be lấy một cây cọc trại, tay cầm cái búa, nhè nhẹ đến bên ông.  Bà đóng cây cọc trại vào màng tang ông, thấu xuống đất, và ông chết liền tại chỗ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Vừa khi Ba-rác truy tầm Si-sê-ra đi ngang qua đó, Gia-ên đi ra đón ông và nói, “Hãy đến đây.  Tôi sẽ chỉ cho ông người ông đang tìm kiếm.”  Vậy Ba-rác đi theo bà, và kìa, ông thấy Si-sê-ra nằm chết với cây cọc trại đâm thủng màng tang.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Trong ngày đó Ðức Chúa Trời bắt Gia-bin vua dân Ca-na-an phải khuất phục trước dân I-sơ-ra-ên.  24 Tay của dân I-sơ-ra-ên càng ngày càng mạnh đối với Gia-bin vua dân Ca-na-an, cho đến khi họ tiêu diệt vua ấy đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Giô-suê]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 3]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 5]]&lt;br /&gt;
:* [[Ru-tơ]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=II_C%C3%B4-rinh-t%C3%B4:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_6&amp;diff=35705</id>
		<title>II Cô-rinh-tô: Chương 6</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=II_C%C3%B4-rinh-t%C3%B4:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_6&amp;diff=35705"/>
		<updated>2026-05-19T22:35:59Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Cũng vậy, chúng tôi khuyên anh em hãy làm việc chung với nhau. Xin đừng nhận ân điển của Đức Chúa Trời rồi lãng phí. 2. Bởi vì Ngài đã phán: “Ta đã nhậm lời ngươi trong thì thuận tiện, Ta đã phù hộ ngươi trong ngày cứu rỗi.” Kìa, hiện nay là thì thuận tiện! Kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Chúng tôi không đặt để điều gì để gây vấp phạm cho ai, để chức vụ không bị chỉ trích. 4. Nhưng trong mọi sự, chúng tôi chứng tỏ mình là đầy tớ của Đức Chúa Trời trong sự kiên trì, trong hoạn nạn, trong gian khổ, trong khốn cùng, 5. trong đòn vọt, trong tù đày, trong loạn lạc, trong nhọc nhằn, lúc thiếu ngủ, lúc thiếu ăn; 6. trong sự thanh sạch, trong sự hiểu biết, trong sự kiên nhẫn, trong sự nhân từ, trong Đức Thánh Linh, trong tình yêu thương chân thành, 7. trong sứ điệp chân thật, và trong quyền năng của Đức Chúa Trời; với vũ khí công chính trong cả tay phải và tay trái; 8. dù vinh hay nhục, dù nhận tiếng xấu hay được tiếng tốt; bị xem là những kẻ lừa đảo, nhưng lại là những người chân thật; 9. như những kẻ không ai biết, nhưng lại được nhiều người biết đến; như đang chết, nhưng kìa, chúng tôi vẫn sống; xem như bị trừng phạt, nhưng không bị giết; 10. xem như buồn rầu, nhưng luôn vui mừng; xem như nghèo thiếu, nhưng lại làm cho nhiều người giàu có; xem như không có gì, nhưng lại có tất cả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Các anh em tại Cô-rinh-tô! Miệng của chúng tôi mở ra và lòng chúng tôi trải rộng với anh em. 12. Anh em dè giữ, không phải vì chúng tôi, nhưng anh em dè giữ là vì tình cảm của anh em. 13. Tôi nói với anh em như nói với các con: Hãy đối đãi lại giống như vậy. Anh em hãy cởi mở!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Đừng mang ách chung với những người không tin. Bởi vì công chính và gian ác có kết hợp nhau không? Hay ánh sáng và bóng tối có gì liên hợp với nhau? 15. Đấng Christ và Bê-li-an có điều gì hòa hợp nhau? Hay là người tin có phần gì với người không tin? 16. Đền thờ của Đức Chúa Trời với các thần tượng có điều gì hợp nhau? Bởi vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như chính Đức Chúa Trời đã phán: “Ta sẽ ở trong họ, và đi lại giữa họ. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ sẽ làm dân Ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Vì vậy, Chúa phán: “Hãy ra khỏi giữa chúng! Hãy phân rẽ, đừng đá động đến đồ ô uế, thì Ta sẽ tiếp nhận các ngươi. 18. Ta sẽ làm Cha của các ngươi, và các ngươi sẽ làm con trai và con gái của Ta”, Chúa Toàn Năng phán vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cũng vậy chúng tôi khuyên anh em hãy làm việc chung với nhau, xin đừng nhận ân điển của Đức Chúa Trời, và rồi lãng phí. Bởi vì Ngài phán rằng: “Ta đã nhậm lời ngươi trong thì thuận tiện, Ta đã phù hộ ngươi trong ngày cứu rỗi.” Kìa, hiện nay là thì thuận tiện; kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng tôi không đặt để điều gì gây vấp phạm trước bất kỳ ai, để chức vụ không bị chỉ trích. Nhưng trong mọi sự, chúng tôi chứng tỏ mình là đầy tớ của Đức Chúa Trời trong sự kiên trì, trong hoạn nạn, trong gian khổ, trong khốn cùng, trong đòn vọt, trong tù đày, trong loạn lạc, trong nhọc nhằn, lúc thiếu ngủ, lúc thiếu ăn; trong sự thanh sạch, trong sự hiểu biết, trong sự kiên nhẫn, trong sự nhân từ, trong Đức Thánh Linh, trong tình yêu thương chân thành, trong sứ điệp chân thật, và trong quyền năng của Đức Chúa Trời; với vũ khí công chính trong cả tay phải và tay trái; dù vinh hay nhục, dù nhận tiếng xấu hay được tiếng tốt; bị xem là những kẻ lừa đảo, nhưng lại là những người chân thật; như những kẻ không ai biết, nhưng lại được nhiều người biết đến; như đang chết, nhưng kìa, chúng tôi vẫn sống; xem như bị trừng phạt, nhưng không bị giết; xem như buồn rầu, nhưng luôn vui mừng; xem như nghèo thiếu, nhưng lại làm cho nhiều người giàu có; xem như không có gì, nhưng lại có tất cả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các anh em tại Cô-rinh-tô! Miệng của chúng tôi mở ra và lòng chúng tôi trải rộng với anh em. Anh em dè giữ, không phải vì chúng tôi, nhưng anh em dè giữ là vì tình cảm của anh em. Tôi nói với anh em như nói với các con:  Hãy đối đãi lại giống như vậy. Anh em hãy cởi mở!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đừng mang ách chung với những người không tin. Bởi vì công chính và gian ác có kết hợp nhau không? Hay ánh sáng và bóng tối có gì liên hợp với nhau? Đấng Christ và Bê-li-an có điều gì hòa hợp nhau? Hay là người tin có phần gì với người không tin chăng? Đền thờ của Đức Chúa Trời với các thần tượng có điều gì hợp nhau? Bởi vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như chính Đức Chúa Trời đã phán: “Ta sẽ ở trong họ, và đi lại giữa họ; Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ sẽ làm dân Ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, Chúa phán: “Hãy ra khỏi giữa họ và hãy phân rẽ, đừng đá động đến đồ ô uế, thì Ta sẽ tiếp nhận các ngươi. Ta sẽ làm Cha của các ngươi, và các ngươi sẽ làm con trai và con gái của Ta”, Chúa Toàn Năng phán vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Cũng vậy chúng tôi khuyên hãy làm việc cùng với nhau, đừng nhận ân điển của Đức Chúa Trời một cách vô ích. 2. Bởi vì Ngài phán rằng: “Ta đã nhậm lời ngươi trong thì thuận tiện, Ta đã phù hộ ngươi trong ngày cứu rỗi.” Kìa, hiện nay là thì thuận tiện; kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Đừng đặt để điều gì gây vấp phạm trước bất kỳ ai, để chức vụ không bị chỉ trích. 4. Nhưng trong mọi sự, chúng tôi chứng tỏ mình là đầy tớ của Đức Chúa Trời trong sự kiên trì, trong hoạn nạn, trong gian khổ, trong khốn cùng, 5. trong đòn vọt, trong tù đày, trong loạn lạc, trong nhọc nhằn, lúc thiếu ngủ, lúc thiếu ăn; 6. trong sự thanh sạch, trong sự hiểu biết, trong sự kiên nhẫn, trong sự nhân từ, trong Đức Thánh Linh, trong tình yêu thương chân thành, 7. trong sứ điệp chân thật, và trong quyền năng của Đức Chúa Trời; với vũ khí công chính trong tay phải và tay trái; 8. dù vinh hay nhục, dù nhận tiếng xấu hay được tiếng tốt; bị xem là những kẻ lừa đảo, nhưng lại là những người chân thật; 9. như những kẻ không ai biết, nhưng lại được nhiều người biết đến; như đang chết, nhưng kìa, chúng tôi vẫn sống; xem như bị trừng phạt, nhưng không bị giết; 10. xem như buồn rầu, nhưng luôn vui mừng; xem như nghèo thiếu, nhưng lại làm cho nhiều người giàu có; xem như không có gì, nhưng lại có tất cả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Các anh em tại Cô-rinh-tô! Miệng của chúng tôi mở ra và lòng chúng tôi trải rộng với anh em. 12. Anh em dè giữ, không phải vì chúng tôi, nhưng anh em dè giữ là vì tình cảm của anh em. 13. Tôi nói với anh em như nói với các con:  Hãy đối đãi lại giống như vậy. Anh em hãy cởi mở!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Đừng mang ách chung với những người không tin. Bởi vì công chính và gian ác có kết hợp nhau không? Hay ánh sáng và bóng tối có gì liên hợp với nhau? 15. Đấng Christ và Bê-li-an có điều gì hòa hợp nhau? Hay người tin có phần gì với người không tin chăng? 16. Đền thờ của Đức Chúa Trời với các thần tượng có điều gì hợp nhau? Bởi vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như chính Đức Chúa Trời đã phán: “Ta sẽ ở trong họ, và đi lại giữa họ; Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ sẽ làm dân Ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Vì vậy, Chúa phán: “Hãy ra khỏi giữa họ và hãy phân rẽ, đừng đá động đến đồ ô uế, thì Ta sẽ tiếp nhận các ngươi. 18. Ta sẽ làm Cha của các ngươi, và các ngươi sẽ làm con trai và con gái của Ta”, Chúa Toàn Năng phán vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ấy vậy, vì chúng tôi làm việc với Chúa, nên xin anh em chớ chịu ơn Đức Chúa Trời luống không. 2.  Vì Ngài phán rằng: Ta đã nhậm lời ngươi trong thì thuận tiện, Ta đã phù hộ ngươi trong ngày cứu rỗi. Kìa, hiện nay là thì thuận tiện; kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi! 3.  Chúng tôi chẳng làm cho ai vấp phạm, hầu cho chức vụ của mình khỏi bị một tiếng chê bai nào. 4.  Nhưng chúng tôi làm cho mình đáng trượng trong mọi sự, như kẻ hầu việc Đức Chúa Trời, bởi lòng nhịn nhục lắm trong những sự hoạn nạn, thiếu thốn, khốn khổ, 5.  đòn vọt, lao tù, rối loạn, khó nhọc, tỉnh thức, kiêng ăn; 6.  bởi sự thanh sạch, thông biết, khoan nhẫn, nhơn từ, bởi Đức Thánh Linh, bởi lòng yêu thương thật tình, 7.  bởi lời chân thật, bởi quyền phép Đức Chúa Trời, cầm những khí giới công bình ở tay hữu và tay tả; 8.  dầu vinh dầu nhục, dầu mang tiếng xấu, dầu được tiếng tốt; 9.  ngó như kẻ phỉnh dỗ, nhưng là kẻ thật thà; ngó như kẻ xa lạ, nhưng là kẻ quen biết lắm; ngó như gần chết, mà nay vẫn sống; ngó như bị sửa phạt, mà không đến chịu giết; 10.  ngó như buồn rầu, mà thường được vui mừng; ngó như nghèo ngặt, mà thật làm cho nhiều người được giàu có ngó như không có gì cả, mà có đủ mọi sự! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Hỡi người Cô-rinh-tô, miệng chúng tôi hả ra vì anh em, lòng chúng tôi mở rộng. 12.  Chẳng phải chúng tôi hẹp hòi đãi anh em, nhưng ấy là lòng anh em tự làm nên hẹp hòi. 13.  Hãy báo đáp chúng tôi như vậy, tôi nói với anh em như nói với con cái mình, cũng hãy mở rộng lòng anh em! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin. Bởi vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có thông đồng nhau được chăng? 15.  Đấng Christ và Bê-li-an nào có hòa hiệp chi, hay là kẻ tin có phần gì với kẻ chẳng tin? 16.  Có thể nào hiệp đền thờ Đức Chúa Trời lại với hình tượng tà thần? Vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ; ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ làm dân ta. 17.  Bởi vậy Chúa phán rằng: Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, Thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi: 18.  Ta sẽ làm Cha các ngươi, Các ngươi làm con trai con gái ta, Chúa Toàn năng phán như vậy. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B47\V02B47C006.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Những Gian Khó Trong Chức Vụ Hầu Việc Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Với tư cách những người cùng làm việc với Chúa, chúng tôi nài xin anh chị em đừng nhận ân sủng của Ðức Chúa Trời cách uổng phí, 2 vì Ngài phán,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ta đã nhậm lời ngươi trong thời điểm thuận lợi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta đã phù hộ ngươi trong ngày cứu rỗi.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Này, bây giờ là thời điểm thuận lợi!  Này, hôm nay là ngày cứu rỗi!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Chúng tôi không để điều gì làm cớ vấp ngã cho ai, kẻo chức vụ của chúng tôi bị người ta chê trách.  4 Nhưng trong mọi sự chúng tôi luôn luôn chứng tỏ mình là những đầy tớ của Ðức Chúa Trời, trong sự kiên trì chịu đựng, trong những hoạn nạn, trong những gian khổ, trong những lúc khốn cùng, 5 trong những lần bị đánh đập, trong những ngày bị giam cầm, trong những khi người ta nổi loạn, trong những lúc lao động nhọc nhằn, trong những đêm thiếu ngủ, trong những ngày thiếu ăn, 6 trong sự trong sạch, trong sự hiểu biết, trong sự nhịn nhục, trong sự nhân từ, trong Ðức Thánh Linh, trong tình thương chân thật, 7 trong khi rao giảng lời chân lý, trong quyền năng Ðức Chúa Trời.  Chúng tôi dùng sự công chính làm vũ khí để tấn công và tự vệ, 8 khi được vinh hiển cũng như khi bị tủi nhục, khi bị chê bai cũng như khi được khen ngợi. Chúng tôi bị tưởng như những kẻ lừa đảo nhưng là những người chân thật, 9 tưởng như những kẻ vô danh tiểu tốt nhưng lại được nhiều người biết đến, tưởng như những kẻ sắp chết đến nơi, nhưng xem đây, chúng tôi vẫn sống sờ sờ, tưởng như những kẻ bị trừng phạt nhưng vẫn không bị giết chết, 10 tưởng như những kẻ phải đau buồn nhưng luôn luôn vui vẻ, tưởng như những kẻ nghèo khó nhưng đã làm cho nhiều người giàu có, tưởng như những kẻ chẳng có gì nhưng có đủ mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Thưa anh chị em người Cô-rinh-tô, chúng tôi nói thật lòng với anh chị em, chúng tôi đang mở rộng lòng chúng tôi.  12 Chúng tôi không hẹp hòi với anh chị em, nhưng lòng anh chị em hẹp hòi với chúng tôi.  13 Tôi nói với anh chị em như nói với các con cái tôi: xin hãy đối xử với chúng tôi như cách chúng tôi đã đối xử với anh chị em; xin hãy mở rộng lòng anh chị em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cảnh Cáo về Sự Kết Hiệp với Quyền Lực Ðối Nghịch Thuộc Linh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Chớ mang ách chung với những kẻ không tin, vì công chính và gian tà có hợp tác với nhau được chăng?  Ánh sáng và bóng tối có hiệp thông được chăng?  15 Ðấng Christ và Bê-li-an có hòa hợp chăng?  Hay người tin Chúa có gì chung với kẻ không tin chăng?  16 Ðền thờ của Ðức Chúa Trời có thỏa hiệp gì với các thần tượng chăng?  Vì chúng ta là đền thờ của Ðức Chúa Trời hằng sống, như Ðức Chúa Trời đã phán, &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ta sẽ ở giữa họ và đi lại giữa họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta sẽ là Ðức Chúa Trời của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và họ sẽ làm dân Ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Vậy hãy ra khỏi chúng nó,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và hãy phân rẽ khỏi chúng nó,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúa phán,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðừng đụng đến đồ ô uế,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thì Ta sẽ tiếp nhận các ngươi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Ta sẽ làm Cha các ngươi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các ngươi sẽ làm con trai và con gái Ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúa Toàn Năng phán vậy.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B47\V01B47C006.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Cùng Học Kinh Thánh==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [https://www.thuvientinlanh.org/2_corinhto_060113  II Cô-rinh-tô 6:1-13] - [http://www.thuvientinlanh.org Thư Viện Tin Lành]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [https://www.thuvientinlanh.org/2_corinhto_061418  II Cô-rinh-tô 6:14-16] - [http://www.thuvientinlanh.org Thư Viện Tin Lành]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[I Cô-rinh-tô]]&lt;br /&gt;
:* [[II Cô-rinh-tô]]&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti]]&lt;br /&gt;
:* [[II Cô-rinh-tô: Chương 5]]&lt;br /&gt;
:* [[II Cô-rinh-tô: Chương 7]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35678</id>
		<title>Các Quan Xét: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35678"/>
		<updated>2026-05-18T05:39:56Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Đây là các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã chừa lại, Ngài đã dùng chúng để thử luyện những người Y-sơ-ra-ên chưa hề biết về chiến tranh tại Ca-na-an. Ngài chỉ muốn dùng chúng để dạy những thế hệ mới của Y-sơ-ra-ên, là những người trước kia chưa hề biết về chiến tranh, để biết về chiến trận: 3. Năm lãnh chúa của dân Phi-li-tin, tất cả các dân Ca-na-an và dân Si-đôn, dân Hê-vít cư ngụ trên núi Li-ban, từ Ba-anh Hẹt-môn cho đến lối vào Ha-mát. 4. Chúng được dùng để thử dân Y-sơ-ra-ên, xem họ có vâng theo những điều răn mà Đức Giê-hô-va đã dùng Môi-se truyền dạy cho các tổ phụ của họ hay không. 5. Vì vậy, người Y-sơ-ra-ên đã sống giữa dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-rô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít. 6. Họ đã cưới con gái của chúng làm vợ, gả con gái của họ cho con trai của chúng, và họ đã thờ lạy các thần của chúng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, họ quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, mà thờ phượng Ba-anh và các A-sê-ra. 8. Vì vậy, cơn giận của Đức Giê-hô-va đã bừng lên nghịch lại Y-sơ-ra-ên. Ngài đã phó họ vào tay của Cút-san Ri-sa-tha-im, vua của A-ram Na-ha-ra-im. Dân Y-sơ-ra-ên phục vụ Cút-san Ri-sa-tha-im tám năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Nhưng khi dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu Đức Giê-hô-va, Đức Giê-hô-va dấy lên một người giải cứu để dân Y-sơ-ra-ên. Đó là Ốt-ni-ên, con trai của Kê-na là em trai của Ca-lép. 10. Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên ông, ông đã lãnh đạo Y-sơ-ra-ên, và ông đã tranh chiến. Đức Giê-hô-va đã phó Cút-san Ri-sa-tha-im, vua của A-ram vào tay của ông. Tay của ông đã thắng hơn Cút-san Ri-sa-tha-im. 11. Nhờ đó, xứ được hòa bình trong bốn mươi năm, rồi Ốt-ni-ên, con trai của Kê-na, qua đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Dân Y-sơ-ra-ên lại làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va. Bởi vì điều ác họ đã làm trước mặt Đức Giê-hô-va, cho nên Đức Giê-hô-va đã khiến cho Éc-lôn, vua của Mô-áp, mạnh hơn Y-sơ-ra-ên. 13. Éc-lôn liên kết với dân Am-môn và dân A-ma-léc tiến đánh Y-sơ-ra-ên rồi chiếm thành Cây Kè. 14. Dân Y-sơ-ra-ên phải phục dịch Éc-lôn, vua của Mô-áp, mười tám năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Những khi dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu Đức Giê-hô-va, Đức Giê-hô-va đã dấy lên cho họ một người giải cứu là Ê-hút, con trai của Ghê-ra, một người Bên-gia-min. Ông là người thuận tay trái. Dân Y-sơ-ra-ên đã cử ông để đem lễ vật cống nạp cho Éc-lôn, vua của Mô-áp. 16. Ê-hút tự làm lấy một đoản gươm hai lưỡi, dài một cu-bít. Ông buộc nó trong đùi phải, khuất dưới trang phục của mình. 17. Ông đem lễ vật cống nạp cho Éc-lôn, vua của Mô-áp, là một người rất mập. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Sau khi cống nạp lễ vật xong, ông cho những người mang lễ vật ra về.  19. Khi đến chỗ các tượng đá ở gần Ghinh-ganh thì ông quay trở lại và nói: &amp;quot;Tôi có một điều bí mật muốn tâu với vua.&amp;quot; Vua bảo: &amp;quot;Khoan đã!&amp;quot; Tất cả những người đứng chầu vua đều đi ra. 20. Ê-hút đến gần vua khi vua đang ngồi một mình, trên căn phòng nghỉ mát ở trên lầu. Ông nói: &amp;quot;Tôi có sứ điệp từ Đức Chúa Trời dành cho vua.”  Vua vừa đứng dậy khỏi chỗ ngồi, 21. Ê-hút giơ tay trái, rút gươm từ đùi bên phải của mình, đâm vào bụng của vua. 22. Cán gươm lút theo lưỡi, mỡ líp lại chung quanh lưỡi gươm.  Ông không rút gươm ra khỏi bụng, những thứ dơ bẩn tuôn ra. 23. Ê-hút đi ra ngoài hành lang, đóng các cửa phòng, rồi khóa lại. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Khi ông đã đi khỏi rồi, các đầy tớ đến xem, thấy các cửa trên lầu đều khóa chặt, họ nói với nhau rằng: “Có lẽ ngài đang thư giản mát mẻ trong phòng.” 25. Họ chờ đợi rất lâu đến nỗi bối rối. Vì vua không mở cửa phòng, họ đã lấy chìa khóa rồi mở cửa. Kìa, chủ của họ nằm dài chết trên đất. 26. Trong khi họ còn đang chần chờ, Ê-hút đã tẩu thoát, ông đã vượt qua khỏi chỗ các tượng đá, rồi chạy thoát đến Sê-i-ra. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Khi về đến nơi, ông đã thổi kèn khắp vùng núi Ép-ra-im. Dân Y-sơ-ra-ên từ trên núi kéo xuống đến với ông, và ông lãnh đạo họ. 28. Ông nói với họ: “Hãy theo tôi bởi vì Đức Giê-hô-va đã phó kẻ thù của các ngươi là dân Mô-áp vào tay của các ngươi.” Họ đã theo ông xuống chiếm những chỗ cạn của sông Giô-đanh dẫn đến Mô-áp, không cho một người nào vượt qua. 29. Lúc đó, họ đã giết khoảng mười ngàn người Mô-áp, tất cả đều là những người lực lưỡng và dũng mãnh; không một ai thoát khỏi. 30. Từ ngày đó, dân Mô-áp chịu khuất phục dưới tay của Y-sơ-ra-ên. Xứ sở được hòa bình trong tám mươi năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31. Sau Ê-hút, có Sam-ga, con trai của A-nát. Ông đã dùng cây gậy thúc bò đánh giết sáu trăm người Phi-li-tin. Ông cũng là người giải cứu dân Y-sơ-ra-ên.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Nầy là các dân tộc mà Đức Giê-hô-va để còn lại, đặng dùng chúng nó thử thách người Y-sơ-ra-ên nào chưa từng thấy những chiến trận Ca-na-an. 2.  Ngài chỉ muốn thử thách các dòng dõi mới của dân Y-sơ-ra-ên, tập cho chúng nó việc chiến trận, nhất là những kẻ chưa từng thấy chiến trận khi trước. 3.  Các dân tộc nầy là dân Phi-li-tin cùng năm vua chúng nó, hết thảy dân Ca-na-an, dân Si-đôn, và dân Hê-vít ở tại núi Li-ban, từ núi Ba-anh-Hẹt-môn cho đến cửa Ha-mát. 4.  Đức Giê-hô-va dùng các dân tộc nầy để thử thách Y-sơ-ra-ên, đặng xem thử chúng nó có ý vâng theo các điều răn mà Ngài cậy Môi-se truyền cho tổ phụ chúng nó chăng. 5.  Như vậy, dân Y-sơ-ra-ên ở chung cùng dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, dân Giê-bu-sít, 6.  cưới con gái của chúng nó làm vợ, gả con gái mình cho con trai chúng nó, và hầu việc các thần của chúng nó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Dân Y-sơ-ra-ên còn làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, cúng thờ các hình tượng Ba-anh và A-sê-ra. 8.  Vì vậy, cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi phừng cùng Y-sơ-ra-ên, Ngài phó chúng vào tay Cu-san-Ri-sa-tha-im, vua nước Mê-sô-bô-ta-mi. Dân Y-sơ-ra-ên bị tám năm phục dịch vua Cu-san-Ri-sa-tha-im. 9.  Kế ấy, dân Y-sơ-ra-ên kêu la cùng Đức Giê-hô-va; Đức Giê-hô-va bèn dấy lên cho chúng nó một người giải cứu, là Ốt-ni-ên, con trai của Kê-na, em thứ của Ca-lép, và người ấy giải cứu họ. 10.  Thần của Đức Giê-hô-va cảm động người, người đoán xét Y-sơ-ra-ên, và đi ra chiến trận. Đức Giê-hô-va phó Cu-san-Ri-sa-tha-im, vua A-ram, vào tay người, khiến cho người thắng Cu-san-Ri-sa-tha-im. 11.  Xứ được hòa bình trong bốn mươi năm; kế đó, Ốt-ni-ên, con trai Kê-na, qua đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Dân Y-sơ-ra-ên lại làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va; nên Đức Giê-hô-va khiến Éc-lôn, vua Mô-áp trở nên cường thạnh để hãm đánh Y-sơ-ra-ên. 13.  Vậy, Éc-lôn nhóm hiệp chung quanh mình dân Am-môn và dân A-ma-léc, kéo đi đánh Y-sơ-ra-ên và chiếm lấy thành Cây chà là. 14.  Dân Y-sơ-ra-ên bị phục dịch Éc-lôn, vua Mô-áp, trong mười tám năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15.  Đoạn, dân Y-sơ-ra-ên kêu la cùng Đức Giê-hô-va, Đức Giê-hô-va dấy lên cho chúng một đấng giải cứu, là Ê-hút, con trai Ghê-ra, thuộc về chi phái Bên-gia-min, là người có tật thuận tay tả. Dân Y-sơ-ra-ên sai người đem lễ cống cho Éc-lôn, vua Mô-áp. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16.  Ê-hút tự làm lấy một cây gươm hai lưỡi, dài một thước, và đeo theo trong mình áo nơi háng hữu. 17.  Vậy, người đem dâng lễ cống cho Éc-lôn, vua Mô-áp, là một người rất mập. 18.  Khi dâng lễ cống rồi, bèn cho những kẻ đã đem lễ vật đến đi về. 19.  Nhưng chính người đến hầm lấy đá ở gần Ghinh-ganh, thì trở lại, nói rằng: Hỡi vua, tôi có một lời tâu kín cùng vua. Vua truyền: Hãy nín! Hết thảy những kẻ hầu cận vua bèn đi ra. 20.  Bấy giờ, vua đang ngồi một mình nơi lầu mát; Ê-hút đến gần mà nói rằng: Tôi có một lời của Đức Chúa Trời tâu lại với vua. Éc-lôn vừa đứng dậy khỏi ngai; 21.  Ê-hút bèn giơ tay tả ra rút gươm đeo ở phía hữu, mà đâm người nơi bụng. 22.  Cán gươm cũng lút theo lưỡi, mỡ líp lại xung quanh lưỡi gươm; vì người không rút gươm ra khỏi bụng, nó thấu ra sau lưng. 23.  Đoạn, Ê-hút lánh ra nơi hiên cửa, đóng các cửa lầu mát lại và gài chốt. 24.  Khi Ê-hút đi ra khỏi, các đầy tớ đến xem, thấy các cửa lầu mát đều đóng gài chốt, thì nói với nhau rằng: Hoặc vua đi ngơi trong lầu mát chăng. 25.  Chúng đợi rất lâu, đến đỗi hổ thẹn; song vì không thấy vua mở cửa phòng, bèn lấy chìa khóa và mở: kìa thấy chúa mình đã chết, nằm sải trên đất. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Trong khi chúng trì hoãn, Ê-hút đã trốn qua khỏi các hầm đá, lánh đến Sê-ri-a. 27.  Người vừa đến, bèn thổi kèn lên trong núi Ép-ra-im; dân Y-sơ-ra-ên đều cùng người xuống khỏi núi và chính người đi ở đầu hết. 28.  Ê-hút nói cùng chúng rằng: Hãy theo ta, vì Đức Giê-hô-va đã phó vào tay các ngươi dân Mô-áp, là kẻ thù nghịch các ngươi. Chúng đều theo người xuống chiếm cứ các chỗ cạn sông Giô-đanh, là đường đi đến Mô-áp, cấm không cho ai đi qua. 29.  Vậy, trong lúc đó dân Y-sơ-ra-ên đánh giết chừng mười ngàn người Mô-áp, thảy đều là tay mạnh mẽ, can đảm, không một ai thoát khỏi được. 30.  Trong ngày đó, dân Mô-áp bị phục dưới tay Y-sơ-ra-ên; xứ được hòa bình trong tám mươi năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31.  Sau Ê-hút, có Sam-ga, con trai của A-nát. Người dùng một cây đót bò mà đánh giết sáu trăm người Phi-li-tin, và cũng giải cứu Y-sơ-ra-ên. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B07\V02B07C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Các Dân Còn Lại trong Xứ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là các dân mà CHÚA còn chừa lại để dùng họ thử thách những người I-sơ-ra-ên chưa có kinh nghiệm chiến đấu ở Ca-na-an (2 Ngài làm thế chỉ vì muốn dùng chúng để dạy những thế hệ mới của I-sơ-ra-ên về chiến trận; ấy là những kẻ chưa hề thấy những trận chiến ngày trước): 3 Năm lãnh chúa của dân Phi-li-tin, các dân Ca-na-an, dân Si-đôn, và dân Hi-vi cư ngụ trên rặng Núi Li-băng từ Núi Ba-anh Hẹt-môn cho đến Lê-bô Ha-mát.  4 Các dân ấy được dùng để thử lòng dân I-sơ-ra-ên, xem họ có vâng theo các điều răn mà CHÚA đã dùng Môi-se truyền dạy cho các tổ tiên của họ chăng.  5 Vì thế dân I-sơ-ra-ên đã sống lẫn lộn giữa dân Ca-na-an, dân Hít-ti, dân A-mô-ri, dân Pê-ri-xi, dân Hi-vi, và dân Giê-bu-si.  6 Họ cưới các con gái của chúng làm vợ, gả các con gái của họ cho các con trai của chúng, và thờ lạy các thần của chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ốt-ni-ên'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Dân I-sơ-ra-ên làm điều tội lỗi trước mặt CHÚA, họ quên CHÚA, Ðức Chúa Trời của họ, mà thờ phượng các Thần Ba-anh và Nữ Thần A-sê-ra.  8 Vì vậy cơn giận của CHÚA bừng lên nghịch lại I-sơ-ra-ên.  Ngài phó họ vào tay Cút-san Ri-sa-tha-im vua A-ram Na-ha-ra-im.  Dân I-sơ-ra-ên phục vụ Cút-san Ri-sa-tha-im tám năm.  9 Nhưng khi dân I-sơ-ra-ên kêu cầu CHÚA, CHÚA dấy lên một người giải cứu dân I-sơ-ra-ên; người ấy là Ốt-ni-ên con trai Kê-na – Kê-na là em trai của Ca-lép.  10 Thần của CHÚA ngự trên ông và ông xử đoán trong I-sơ-ra-ên.  Ông dấy binh khởi nghĩa, và CHÚA phó Cút-san Ri-sa-tha-im vua A-ram vào tay ông; tay ông thắng hơn Cút-san Ri-sa-tha-im.  11 Nhờ thế xứ được hòa bình bốn mươi năm.  Sau đó Ốt-ni-ên con trai của Kê-na qua đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ê-hút'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Dân I-sơ-ra-ên lại làm điều tội lỗi trước mặt CHÚA, nên CHÚA cho Éc-lon vua Mô-áp mạnh hơn I-sơ-ra-ên, bởi vì họ đã làm điều tội lỗi trước mặt CHÚA.  13 Éc-lon liên minh với dân Am-môn và dân A-ma-léc rồi xuất quân đánh bại dân I-sơ-ra-ên.  Chúng chiếm được Thành Các Cây Kè.  14 Thế là dân I-sơ-ra-ên phải phục vụ Éc-lon vua Mô-áp mười tám năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Nhưng khi dân I-sơ-ra-ên kêu cầu CHÚA, CHÚA dấy lên một người giải cứu; người ấy là Ê-hút con trai của Ghê-ra, thuộc chi tộc Bên-gia-min.  Ê-hút là người thuận tay trái.  Dân I-sơ-ra-ên phái ông đem cống vật đến Éc-lon vua Mô-áp.  16 Ê-hút tự làm lấy một đoản gươm hai lưỡi, dài khoảng năm tấc.  Ông buộc nó trong đùi phải, khuất dưới áo quần; 17 rồi ông mang cống vật đến nộp cho Éc-lon vua Mô-áp.  Vả, Éc-lon là một người rất mập.  18 Khi Ê-hút trình dâng các cống vật xong, ông cho những người mang cống vật đi về trước.  19 Còn ông, khi đến hầm đục đá gần Ghinh-ganh, ông quay trở lại và nói, “Tâu vua, tôi có một việc bí mật muốn tâu riêng với ngài.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vua phán, “Im lặng!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tất cả những kẻ hầu cận của vua đều lui ra.  20 Ðang khi vua ngồi một mình nơi lầu mát, Ê-hút đến gần vua và nói, “Tôi có một sứ điệp từ Ðức Chúa Trời cho ngài.”  Vừa khi vua đứng dậy khỏi ngai, 21 Ê-hút dùng tay trái rút đoản gươm dấu nơi đùi phải và đâm mạnh vào bụng Éc-lon.  22 Cán gươm lút theo với lưỡi, mỡ phủ lại quanh lưỡi gươm, và ruột lòi ra.  Ông để nguyên đoản gươm trong bụng, không rút ra, vì nó thấu đến sau lưng.  23 Ê-hút đóng tất cả cửa lầu mát lại, khóa chặt các cửa, rồi lẻn đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Sau khi Ê-hút đã đi rồi, các tôi tớ của vua trở lại và thấy các cửa lầu mát đều khóa chặt, họ nghĩ, “Chắc nhà vua đang nghỉ trong lầu mát.”  25 Vì thế họ đứng đợi bên ngoài cho đến khi bối rối.  Họ cứ đợi mãi mà vẫn thấy vua không mở cửa, nên họ lấy chìa khóa và mở cửa vào.  Kìa, vua họ đã nằm chết dưới sàn nhà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Ðang khi họ bối rối và lính quýnh, thì Ê-hút đã chạy thoát được, vượt qua khu tạc tượng đá, và chạy về Sê-i-ra.  27 Về đến nơi, ông thổi kèn tập họp quân dân trong miền cao nguyên Ép-ra-im.  Dân I-sơ-ra-ên nhóm lại theo ông xuống núi.  Ông đi trước dẫn đầu họ.  28 Ông nói, “Hãy theo tôi.  Vì CHÚA đã phó kẻ thù của anh chị em là dân Mô-áp vào tay anh chị em.”  Vậy họ theo ông xuống chiếm những chỗ cạn, nơi người Mô-áp thường lội qua Sông Giô-đanh, và cấm không cho ai qua sông.  29 Trong trận ấy họ giết khoảng mười ngàn người Mô-áp.  Tất cả đều là những người lực lưỡng và dũng mãnh; không một ai thoát khỏi.  30 Vậy dân Mô-áp bị khuất phục dưới tay dân I-sơ-ra-ên, và xứ được hòa bình tám mươi năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sam-ga'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 Sau Ê-hút có Sam-ga con trai của A-nát.  Sam-ga dùng một cây đót bò đánh chết sáu trăm người Phi-li-tin.  Vì thế Sam-ga cũng đã giải cứu dân I-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Giô-suê]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 2]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 4]]&lt;br /&gt;
:* [[Ru-tơ]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Kh%E1%BA%A3i_Huy%E1%BB%81n:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35677</id>
		<title>Khải Huyền: Chương 4</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Kh%E1%BA%A3i_Huy%E1%BB%81n:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35677"/>
		<updated>2026-05-18T05:25:09Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đó, tôi nhìn và thấy một cánh cửa đang mở trên trời! Ban đầu tôi nghe giống như có một tiếng kèn, và rồi có một giọng nói với tôi rằng: &amp;quot;Hãy lên đây! Ta sẽ chỉ cho ngươi thấy những gì sẽ xảy ra sau những điều nầy.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Ngay lập tức, tôi được ở trong Thánh Linh, và tôi thấy có một ngai ở trên trời, trên ngai có một Đấng đang ngồi. 3. Đấng ngồi trên ngai xuất hiện như bích ngọc và hồng ngọc. Chung quanh ngai có cầu vồng giống như bửu thạch. 4. Quanh ngai có hai mươi bốn ngai khác, trên những ngai đó có hai mươi bốn trưởng lão đang ngồi. Họ mặc trang phục trắng và trên đầu của họ có mão miện bằng vàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Có những tia chớp, những tiếng nói, và những tiếng sấm phát ra từ ngai. Có bảy ngọn đèn cháy rực trước ngai, đó là bảy Thần Linh của Đức Chúa Trời. 6. Phía trước ngai giống như một biển thủy tinh, trong như pha lê. Ở giữa ngai và chung quanh ngai có bốn sinh vật mà phía trước và phía sau đầy những mắt. 7. Sinh vật thứ nhất giống như sư tử, sinh vật thứ nhì giống như bò tơ, sinh vật thứ ba có mặt giống mặt người, và sinh vật thứ tư giống như đại bàng đang bay. 8. Bốn sinh vật ấy, mỗi con có sáu cánh, chung quanh và bên trong đầy những mắt. Suốt ngày đêm chúng không nghỉ ngơi nhưng nói: &amp;quot;Thánh thay! Thánh thay! Thánh thay! Chúa, là Đức Chúa Trời, là Đấng Toàn Năng, Đấng hiện có, đã có và đang đến!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Mỗi khi các sinh vật dâng vinh quang, tôn kính, và cảm tạ cho Đấng ngồi trên ngai, là Đấng sống đời đời, 10. thì hai mươi bốn trưởng lão phủ phục trước mặt Đấng ngồi trên ngai và thờ phượng Đấng sống đời đời. Họ ném mão miện của họ trước ngai, và nói: 11. &amp;quot;Lạy Đức Chúa Trời là Chúa của chúng con! Ngài xứng đáng được vinh quang, tôn kính và quyền uy, bởi vì Ngài đã tạo dựng mọi vật, và do ý muốn của Ngài mà chúng đã được tạo dựng và hiện hữu.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó, tôi nhìn và thấy một cánh cửa đang mở trên trời! Ban đầu tôi nghe giống như có một tiếng kèn, và rồi có một giọng nói với tôi rằng: Hãy lên đây! Ta sẽ chỉ cho ngươi thấy những gì sẽ xảy ra sau những điều nầy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngay lập tức, tôi được Thánh Linh cảm thúc, và tôi thấy có một ngai ở trên trời, trên ngai có một Đấng đang ngồi. Đấng ngồi trên ngai xuất hiện như bích ngọc và hồng ngọc. Chung quanh ngai có cầu vồng giống như bửu thạch. Quanh ngai có hai mươi bốn ngai khác, và trên những ngai đó có hai mươi bốn trưởng lão đang ngồi. Họ mặc trang phục trắng và trên đầu của họ có mão miện bằng vàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có những tia chớp, những tiếng nói, và những tiếng sấm phát ra từ ngai. Có bảy ngọn đèn cháy rực trước ngai, đó là bảy Thần Linh của Đức Chúa Trời. Phía trước ngai giống như có một biển thủy tinh trong suốt như pha lê. Ở giữa ngai và chung quanh ngai có bốn sinh vật mà phía trước và phía sau đầy những mắt. Sinh vật thứ nhất giống như sư tử, sinh vật thứ nhì giống như bò tơ, sinh vật thứ ba có mặt giống mặt người, và sinh vật thứ tư giống như đại bàng đang bay. Bốn sinh vật ấy, mỗi con có sáu cánh, chung quanh và bên trong đầy những mắt. Suốt ngày đêm chúng không nghỉ ngơi nhưng nói: Thánh thay! Thánh thay! Thánh thay! Chúa, là Đức Chúa Trời, là Đấng Toàn Năng, ĐẤNG ĐÃ CÓ, HIỆN CÓ, VÀ ĐANG ĐẾN!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mỗi khi các sinh vật dâng vinh quang, tôn kính, và cảm tạ cho Đấng ngồi trên ngai, là Đấng sống đời đời, thì hai mươi bốn trưởng lão phủ phục trước mặt Đấng ngồi trên ngai và thờ phượng Đấng sống đời đời. Họ ném mão miện của họ trước ngai, và nói: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lạy Đức Chúa Trời là Chúa của chúng con! Ngài xứng đáng được vinh quang, tôn kính và quyền uy, bởi vì Ngài đã tạo dựng mọi vật, và do ý muốn của Ngài mà chúng đã được tạo dựng và hiện hữu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đó, tôi nhìn và thấy một cánh cửa đang mở trên trời! Ban đầu tôi nghe giống như có một tiếng kèn, và rồi có một giọng nói với tôi rằng: Hãy lên đây! Ta sẽ chỉ cho ngươi thấy những gì xảy ra sau những điều nầy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Ngay lập tức, tôi được ở trong Thánh Linh, rồi tôi thấy có một ngai ở trên trời; trên ngai có một Đấng đang ngồi; 3. Đấng ngồi trên ngai xuất hiện như bích ngọc và hồng ngọc. Chung quanh ngai có cầu vồng giống như bửu thạch. 4. Quanh ngai có hai mươi bốn ngai khác, trên những ngai đó có hai mươi bốn trưởng lão đang ngồi, họ mặc trang phục trắng, và trên đầu của họ có mão miện bằng vàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Có những tia chớp, những tiếng nói và những tiếng sấm phát ra từ ngai. Và có bảy ngọn đèn cháy rực trước ngai, đó là bảy Thần Linh của Đức Chúa Trời. 6. Phía trước ngai giống như một biển thủy tinh, trong như pha lê. Ở giữa ngai và chung quanh ngai có bốn sinh vật mà phía trước và phía sau đầy những mắt. 7. Sinh vật thứ nhất giống như sư tử, sinh vật thứ nhì giống như bò tơ, sinh vật thứ ba có mặt giống mặt người, và sinh vật thứ tư giống như đại bàng đang bay. 8. Bốn sinh vật ấy, mỗi một con có sáu cánh, chung quanh và bên trong đầy những mắt; suốt ngày đêm chúng không nghỉ nhưng nói: Thánh thay! Thánh thay! Thánh thay! Chúa, là Đức Chúa Trời, là Đấng Toàn Năng, ĐẤNG ĐÃ CÓ, HIỆN CÓ, VÀ ĐANG ĐẾN!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Mỗi khi các sinh vật dâng vinh quang, tôn kính, và cảm tạ cho Đấng ngồi trên ngai, là Đấng sống đời đời, 10. thì hai mươi bốn trưởng lão phủ phục trước mặt Đấng ngồi trên ngai, và thờ phượng Đấng sống đời đời. Họ ném mão miện của họ trước ngai, và nói: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Lạy Đức Chúa Trời là Chúa của chúng con! Ngài xứng đáng được vinh quang, tôn kính và quyền uy, vì Ngài đã tạo dựng mọi vật, và do ý muốn của Ngài mà chúng đã được tạo dựng và hiện hữu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Kế đó, tôi nhìn xem, nầy, một cái cửa mở ra trên trời; và tiếng thứ nhất mà tôi đã nghe nói với tôi, vang rầm như tiếng loa, phán cùng tôi rằng: Hãy lên đây, ta sẽ cho ngươi thấy điều sau nầy phải xảy đến. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2.  Tức thì tôi bị Thánh Linh cảm hóa; thấy một ngôi đặt tại trên trời, trên ngôi có một Đấng đang ngồi đó. 3.  Đấng ngồi đó rực rỡ như bích ngọc và mã não; có cái mống dáng như lục bửu thạch bao chung quanh ngôi. 4.  Chung quanh ngôi lại có hai mươi bốn ngôi; trên những ngôi ấy tôi thấy hai mươi bốn trưởng lão ngồi, mặc áo trắng và đầu đội mão triều thiên vàng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Từ ngôi ra những chớp nhoáng, những tiếng cùng sấm; và bảy ngọn đèn sáng rực thắp trước ngôi: đó là bảy vì thần của Đức Chúa Trời. 6.  Trước ngôi có như biển trong ngần giống thủy tinh, còn chính giữa và chung quanh có bốn con sanh vật, đằng trước đằng sau chỗ nào cũng có mắt. 7.  Con sanh vật thứ nhất giống như sư tử, con thứ nhì như bò đực, con thứ ba mặt như mặt người, con thứ tư như chim phụng hoàng đang bay. 8.  Bốn con sanh vật ấy mỗi con có sáu cánh, chung quanh mình và trong mình đều có mắt; ngày đêm lúc nào cũng nói luôn không dứt: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Chúa, là Đức Chúa Trời, Đấng Toàn năng, Trước Đã Có, Nay Hiện Có, Sau Còn Đến! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Khi các sanh vật lấy những sự vinh hiển, tôn quí, cảm tạ mà dâng cho Đấng ngự trên ngôi là Đấng hằng sống đời đời, 10.  thì hai mươi bốn trưởng lão sấp mình xuống trước mặt Đấng ngự trên ngôi, và thờ lạy Đấng hằng sống đời đời; rồi quăng mão triều thiên mình trước ngôi mà rằng: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Lạy Đức Chúa Trời là Chúa chúng tôi, Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí và quyền lực; vì Chúa đã dựng nên muôn vật, và ấy là vì ý muốn Chúa mà muôn vật mới có và đã được dựng nên. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B66\V02B66C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Khải Tượng về Sự Thờ Phượng trên Thiên Ðàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Sau đó tôi nhìn, và kìa, một cánh cửa trên trời mở ra, và tiếng tôi đã nghe trước đây có âm vang như tiếng kèn nói với tôi, “Hãy lên đây, Ta sẽ chỉ cho ngươi những điều sẽ xảy ra sau các việc ấy.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Lập tức tôi được ở trong Ðức Thánh Linh, và kìa, trên trời có một cái ngai, trên ngai có một Ðấng đang ngồi.  3 Ðấng đang ngồi ấy trông giống như lục bửu ngọc và hồng bảo ngọc; bao quanh ngai có một cầu vồng trông giống như lam bích ngọc.  4 Chung quanh ngai có hai mươi bốn ngai khác; trên các ngai ấy tôi thấy hai mươi bốn vị trưởng lão đang ngồi, mình mặc y phục trắng, và đầu đội mão miện đắc thắng bằng vàng.  5 Từ ngai phát ra sét chớp, âm vang, và sấm nổ.  Trước ngai có bảy ngọn đèn, tức bảy Thần Linh của Ðức Chúa Trời, đang rực cháy.  6 Phía trước ngai là một cảnh trông giống như một biển thủy tinh, trong suốt như pha lê.  Chiếc ngai ở giữa, và bốn phía của ngai có bốn Sinh Vật với phía trước và phía sau đầy những mắt.  7 Sinh Vật thứ nhất giống như sư tử, Sinh Vật thứ nhì giống như bò tơ, Sinh Vật thứ ba có mặt giống như mặt người, và Sinh Vật thứ tư giống như đại bàng đang bay.  8 Bốn Sinh Vật ấy, mỗi Sinh Vật có sáu cánh, toàn thân và luôn cả bên dưới cánh đều đầy những mắt.  Bốn Sinh Vật ấy ngày đêm tung hô không dứt rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Thánh thay! Thánh thay! Thánh thay!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúa và Ðức Chúa Trời Toàn Năng!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðấng Ðã Là, Ðấng Hiện Là, và Ðấng Sắp Ðến!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Khi các Sinh Vật ấy dâng vinh hiển, tôn kính, và tạ ơn lên Ðấng ngự trên ngai, tức Ðấng Hằng Sống đời đời vô cùng, 10 hai mươi bốn vị trưởng lão sấp mình xuống trước Ðấng đang ngự trên ngai, thờ lạy Ðấng Hằng Sống đời đời vô cùng, rồi họ tung các mão miện đắc thắng của họ trước ngai và nói,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 “Lạy Chúa là Ðức Chúa Trời của chúng con,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài thật xứng đáng nhận vinh hiển, tôn kính, và quyền uy,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ngài đã dựng nên mọi vật,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhờ ý muốn Ngài mà chúng hiện hữu và được dựng nên.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B66\V01B66C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1926 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền: Chương 5]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* Thánh Kinh Lược Khảo - Nhà Xuất Bản Tin Lành Sài Gòn (1970)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35676</id>
		<title>Các Quan Xét: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35676"/>
		<updated>2026-05-14T03:40:24Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Đây là các dân tộc mà Đức Giê-hô-va đã chừa lại, Ngài đã dùng chúng để thử luyện những người Y-sơ-ra-ên chưa hề biết về chiến tranh tại Ca-na-an. Ngài chỉ muốn dùng chúng để dạy những thế hệ mới của Y-sơ-ra-ên, là những người trước kia chưa hề biết về chiến tranh, để biết về chiến trận: 3. Năm lãnh chúa của dân Phi-li-tin, các dân Ca-na-an, dân Si-đôn, và dân Hê-vít cư ngụ trên núi Li-ban, từ Ba-anh Hẹt-môn cho đến lối vào Ha-mát. 4. Chúng được dùng để thử dân Y-sơ-ra-ên, xem họ có vâng theo những điều răn mà Đức Giê-hô-va đã dùng Môi-se truyền dạy cho các tổ phụ của họ hay không. 5. Vì vậy, người Y-sơ-ra-ên đã sống giữa dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-rô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít. 6. Họ đã cưới con gái của chúng làm vợ, gả con gái của họ cho con trai của chúng, và họ đã thờ lạy các thần của chúng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, họ quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, mà thờ phượng Ba-anh và các A-sê-ra. 8. Vì vậy, cơn giận của Đức Giê-hô-va đã bừng lên nghịch lại Y-sơ-ra-ên. Ngài đã phó họ vào tay của Cút-san Ri-sa-tha-im, vua của A-ram Na-ha-ra-im. Dân Y-sơ-ra-ên phục vụ Cút-san Ri-sa-tha-im tám năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Nhưng khi dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu Đức Giê-hô-va, Đức Giê-hô-va dấy lên một người giải cứu để dân Y-sơ-ra-ên. Đó là Ốt-ni-ên, con trai Kê-na là em trai của Ca-lép. 10. Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên ông, ông đã lãnh đạo Y-sơ-ra-ên, và ông đã tranh chiến. Đức Giê-hô-va đã phó Cút-san Ri-sa-tha-im, vua của A-ram vào tay của ông. Tay của ông đã thắng hơn Cút-san Ri-sa-tha-im. 11. Nhờ đó, xứ được hòa bình trong bốn mươi năm, rồi Ốt-ni-ên, con trai của Kê-na, qua đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Dân Y-sơ-ra-ên lại làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va. Bởi vì điều ác họ đã làm trước mặt Đức Giê-hô-va, cho nên Đức Giê-hô-va đã khiến cho Éc-lôn, vua của Mô-áp, mạnh hơn Y-sơ-ra-ên. 13. Éc-lôn liên kết với dân Am-môn và dân A-ma-léc tiến đánh Y-sơ-ra-ên rồi chiếm thành Cây Kè. 14. Dân Y-sơ-ra-ên phải phục dịch Éc-lôn, vua của Mô-áp, mười tám năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Những khi dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu Đức Giê-hô-va, Đức Giê-hô-va đã dấy lên cho họ một người giải cứu là Ê-hút, con trai của Ghê-ra, một người Bên-gia-min. Ông là người thuận tay trái. Dân Y-sơ-ra-ên đã cử ông để đem lễ vật cống nạp cho Éc-lôn, vua của Mô-áp. 16. Ê-hút tự làm lấy một đoản gươm hai lưỡi, dài một cu-bít. Ông buộc nó trong đùi phải, khuất dưới trang phục của mình. 17. Ông đem lễ vật cống nạp cho Éc-lôn, vua của Mô-áp, là một người rất mập. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Sau khi cống nạp lễ vật xong, ông cho những người mang lễ vật ra về.  19. Khi đến chỗ các tượng đá ở gần Ghinh-ganh thì ông quay trở lại và nói: &amp;quot;Tôi có một điều bí mật muốn tâu với vua.&amp;quot; Vua bảo: &amp;quot;Khoan đã!&amp;quot; Tất cả những người đứng chầu vua đều đi ra. 20. Ê-hút đến gần vua khi vua đang ngồi một mình, trên căn phòng nghỉ mát ở trên lầu. Ông nói: &amp;quot;Tôi có sứ điệp từ Đức Chúa Trời dành cho vua.”  Vua vừa đứng dậy khỏi chỗ ngồi, 21. Ê-hút giơ tay trái, rút gươm từ đùi bên phải của mình, đâm vào bụng của vua. 22. Cán gươm lút theo lưỡi, mỡ líp lại chung quanh lưỡi gươm.  Ông không rút gươm ra khỏi bụng, những thứ dơ bẩn tuôn ra. 23. Ê-hút đi ra ngoài hành lang, đóng các cửa phòng, rồi khóa lại. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Khi ông đã đi khỏi rồi, các đầy tớ đến xem, thấy các cửa trên lầu đều khóa chặt, họ nói với nhau rằng: “Có lẽ ngài đang thư giản mát mẻ trong phòng.” 25. Họ chờ đợi rất lâu đến nỗi bối rối. Vì vua không mở cửa phòng, họ đã lấy chìa khóa rồi mở cửa. Kìa, chủ của họ nằm dài chết trên đất. 26. Trong khi họ còn đang chần chờ, Ê-hút đã tẩu thoát, ông đã vượt qua khỏi chỗ các tượng đá, rồi chạy thoát đến Sê-i-ra. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Khi về đến nơi, ông đã thổi kèn khắp vùng núi Ép-ra-im. Dân Y-sơ-ra-ên từ trên núi kéo xuống đến với ông, và ông lãnh đạo họ. 28. Ông nói với họ: “Hãy theo tôi bởi vì Đức Giê-hô-va đã phó kẻ thù của các ngươi là dân Mô-áp vào tay của các ngươi.” Họ đã theo ông xuống chiếm những chỗ cạn của sông Giô-đanh dẫn đến Mô-áp, không cho một người nào vượt qua. 29. Lúc đó, họ đã giết khoảng mười ngàn người Mô-áp, tất cả đều là những người lực lưỡng và dũng mãnh; không một ai thoát khỏi. 30. Từ ngày đó, dân Mô-áp chịu khuất phục dưới tay của Y-sơ-ra-ên. Xứ sở được hòa bình trong tám mươi năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31. Sau Ê-hút, có Sam-ga, con trai của A-nát. Ông đã dùng cây gậy thúc bò đánh giết sáu trăm người Phi-li-tin. Ông cũng là người giải cứu dân Y-sơ-ra-ên.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Nầy là các dân tộc mà Đức Giê-hô-va để còn lại, đặng dùng chúng nó thử thách người Y-sơ-ra-ên nào chưa từng thấy những chiến trận Ca-na-an. 2.  Ngài chỉ muốn thử thách các dòng dõi mới của dân Y-sơ-ra-ên, tập cho chúng nó việc chiến trận, nhất là những kẻ chưa từng thấy chiến trận khi trước. 3.  Các dân tộc nầy là dân Phi-li-tin cùng năm vua chúng nó, hết thảy dân Ca-na-an, dân Si-đôn, và dân Hê-vít ở tại núi Li-ban, từ núi Ba-anh-Hẹt-môn cho đến cửa Ha-mát. 4.  Đức Giê-hô-va dùng các dân tộc nầy để thử thách Y-sơ-ra-ên, đặng xem thử chúng nó có ý vâng theo các điều răn mà Ngài cậy Môi-se truyền cho tổ phụ chúng nó chăng. 5.  Như vậy, dân Y-sơ-ra-ên ở chung cùng dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, dân Giê-bu-sít, 6.  cưới con gái của chúng nó làm vợ, gả con gái mình cho con trai chúng nó, và hầu việc các thần của chúng nó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Dân Y-sơ-ra-ên còn làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, cúng thờ các hình tượng Ba-anh và A-sê-ra. 8.  Vì vậy, cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi phừng cùng Y-sơ-ra-ên, Ngài phó chúng vào tay Cu-san-Ri-sa-tha-im, vua nước Mê-sô-bô-ta-mi. Dân Y-sơ-ra-ên bị tám năm phục dịch vua Cu-san-Ri-sa-tha-im. 9.  Kế ấy, dân Y-sơ-ra-ên kêu la cùng Đức Giê-hô-va; Đức Giê-hô-va bèn dấy lên cho chúng nó một người giải cứu, là Ốt-ni-ên, con trai của Kê-na, em thứ của Ca-lép, và người ấy giải cứu họ. 10.  Thần của Đức Giê-hô-va cảm động người, người đoán xét Y-sơ-ra-ên, và đi ra chiến trận. Đức Giê-hô-va phó Cu-san-Ri-sa-tha-im, vua A-ram, vào tay người, khiến cho người thắng Cu-san-Ri-sa-tha-im. 11.  Xứ được hòa bình trong bốn mươi năm; kế đó, Ốt-ni-ên, con trai Kê-na, qua đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Dân Y-sơ-ra-ên lại làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va; nên Đức Giê-hô-va khiến Éc-lôn, vua Mô-áp trở nên cường thạnh để hãm đánh Y-sơ-ra-ên. 13.  Vậy, Éc-lôn nhóm hiệp chung quanh mình dân Am-môn và dân A-ma-léc, kéo đi đánh Y-sơ-ra-ên và chiếm lấy thành Cây chà là. 14.  Dân Y-sơ-ra-ên bị phục dịch Éc-lôn, vua Mô-áp, trong mười tám năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15.  Đoạn, dân Y-sơ-ra-ên kêu la cùng Đức Giê-hô-va, Đức Giê-hô-va dấy lên cho chúng một đấng giải cứu, là Ê-hút, con trai Ghê-ra, thuộc về chi phái Bên-gia-min, là người có tật thuận tay tả. Dân Y-sơ-ra-ên sai người đem lễ cống cho Éc-lôn, vua Mô-áp. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16.  Ê-hút tự làm lấy một cây gươm hai lưỡi, dài một thước, và đeo theo trong mình áo nơi háng hữu. 17.  Vậy, người đem dâng lễ cống cho Éc-lôn, vua Mô-áp, là một người rất mập. 18.  Khi dâng lễ cống rồi, bèn cho những kẻ đã đem lễ vật đến đi về. 19.  Nhưng chính người đến hầm lấy đá ở gần Ghinh-ganh, thì trở lại, nói rằng: Hỡi vua, tôi có một lời tâu kín cùng vua. Vua truyền: Hãy nín! Hết thảy những kẻ hầu cận vua bèn đi ra. 20.  Bấy giờ, vua đang ngồi một mình nơi lầu mát; Ê-hút đến gần mà nói rằng: Tôi có một lời của Đức Chúa Trời tâu lại với vua. Éc-lôn vừa đứng dậy khỏi ngai; 21.  Ê-hút bèn giơ tay tả ra rút gươm đeo ở phía hữu, mà đâm người nơi bụng. 22.  Cán gươm cũng lút theo lưỡi, mỡ líp lại xung quanh lưỡi gươm; vì người không rút gươm ra khỏi bụng, nó thấu ra sau lưng. 23.  Đoạn, Ê-hút lánh ra nơi hiên cửa, đóng các cửa lầu mát lại và gài chốt. 24.  Khi Ê-hút đi ra khỏi, các đầy tớ đến xem, thấy các cửa lầu mát đều đóng gài chốt, thì nói với nhau rằng: Hoặc vua đi ngơi trong lầu mát chăng. 25.  Chúng đợi rất lâu, đến đỗi hổ thẹn; song vì không thấy vua mở cửa phòng, bèn lấy chìa khóa và mở: kìa thấy chúa mình đã chết, nằm sải trên đất. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Trong khi chúng trì hoãn, Ê-hút đã trốn qua khỏi các hầm đá, lánh đến Sê-ri-a. 27.  Người vừa đến, bèn thổi kèn lên trong núi Ép-ra-im; dân Y-sơ-ra-ên đều cùng người xuống khỏi núi và chính người đi ở đầu hết. 28.  Ê-hút nói cùng chúng rằng: Hãy theo ta, vì Đức Giê-hô-va đã phó vào tay các ngươi dân Mô-áp, là kẻ thù nghịch các ngươi. Chúng đều theo người xuống chiếm cứ các chỗ cạn sông Giô-đanh, là đường đi đến Mô-áp, cấm không cho ai đi qua. 29.  Vậy, trong lúc đó dân Y-sơ-ra-ên đánh giết chừng mười ngàn người Mô-áp, thảy đều là tay mạnh mẽ, can đảm, không một ai thoát khỏi được. 30.  Trong ngày đó, dân Mô-áp bị phục dưới tay Y-sơ-ra-ên; xứ được hòa bình trong tám mươi năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31.  Sau Ê-hút, có Sam-ga, con trai của A-nát. Người dùng một cây đót bò mà đánh giết sáu trăm người Phi-li-tin, và cũng giải cứu Y-sơ-ra-ên. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B07\V02B07C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Các Dân Còn Lại trong Xứ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là các dân mà CHÚA còn chừa lại để dùng họ thử thách những người I-sơ-ra-ên chưa có kinh nghiệm chiến đấu ở Ca-na-an (2 Ngài làm thế chỉ vì muốn dùng chúng để dạy những thế hệ mới của I-sơ-ra-ên về chiến trận; ấy là những kẻ chưa hề thấy những trận chiến ngày trước): 3 Năm lãnh chúa của dân Phi-li-tin, các dân Ca-na-an, dân Si-đôn, và dân Hi-vi cư ngụ trên rặng Núi Li-băng từ Núi Ba-anh Hẹt-môn cho đến Lê-bô Ha-mát.  4 Các dân ấy được dùng để thử lòng dân I-sơ-ra-ên, xem họ có vâng theo các điều răn mà CHÚA đã dùng Môi-se truyền dạy cho các tổ tiên của họ chăng.  5 Vì thế dân I-sơ-ra-ên đã sống lẫn lộn giữa dân Ca-na-an, dân Hít-ti, dân A-mô-ri, dân Pê-ri-xi, dân Hi-vi, và dân Giê-bu-si.  6 Họ cưới các con gái của chúng làm vợ, gả các con gái của họ cho các con trai của chúng, và thờ lạy các thần của chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ốt-ni-ên'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Dân I-sơ-ra-ên làm điều tội lỗi trước mặt CHÚA, họ quên CHÚA, Ðức Chúa Trời của họ, mà thờ phượng các Thần Ba-anh và Nữ Thần A-sê-ra.  8 Vì vậy cơn giận của CHÚA bừng lên nghịch lại I-sơ-ra-ên.  Ngài phó họ vào tay Cút-san Ri-sa-tha-im vua A-ram Na-ha-ra-im.  Dân I-sơ-ra-ên phục vụ Cút-san Ri-sa-tha-im tám năm.  9 Nhưng khi dân I-sơ-ra-ên kêu cầu CHÚA, CHÚA dấy lên một người giải cứu dân I-sơ-ra-ên; người ấy là Ốt-ni-ên con trai Kê-na – Kê-na là em trai của Ca-lép.  10 Thần của CHÚA ngự trên ông và ông xử đoán trong I-sơ-ra-ên.  Ông dấy binh khởi nghĩa, và CHÚA phó Cút-san Ri-sa-tha-im vua A-ram vào tay ông; tay ông thắng hơn Cút-san Ri-sa-tha-im.  11 Nhờ thế xứ được hòa bình bốn mươi năm.  Sau đó Ốt-ni-ên con trai của Kê-na qua đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ê-hút'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Dân I-sơ-ra-ên lại làm điều tội lỗi trước mặt CHÚA, nên CHÚA cho Éc-lon vua Mô-áp mạnh hơn I-sơ-ra-ên, bởi vì họ đã làm điều tội lỗi trước mặt CHÚA.  13 Éc-lon liên minh với dân Am-môn và dân A-ma-léc rồi xuất quân đánh bại dân I-sơ-ra-ên.  Chúng chiếm được Thành Các Cây Kè.  14 Thế là dân I-sơ-ra-ên phải phục vụ Éc-lon vua Mô-áp mười tám năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Nhưng khi dân I-sơ-ra-ên kêu cầu CHÚA, CHÚA dấy lên một người giải cứu; người ấy là Ê-hút con trai của Ghê-ra, thuộc chi tộc Bên-gia-min.  Ê-hút là người thuận tay trái.  Dân I-sơ-ra-ên phái ông đem cống vật đến Éc-lon vua Mô-áp.  16 Ê-hút tự làm lấy một đoản gươm hai lưỡi, dài khoảng năm tấc.  Ông buộc nó trong đùi phải, khuất dưới áo quần; 17 rồi ông mang cống vật đến nộp cho Éc-lon vua Mô-áp.  Vả, Éc-lon là một người rất mập.  18 Khi Ê-hút trình dâng các cống vật xong, ông cho những người mang cống vật đi về trước.  19 Còn ông, khi đến hầm đục đá gần Ghinh-ganh, ông quay trở lại và nói, “Tâu vua, tôi có một việc bí mật muốn tâu riêng với ngài.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vua phán, “Im lặng!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tất cả những kẻ hầu cận của vua đều lui ra.  20 Ðang khi vua ngồi một mình nơi lầu mát, Ê-hút đến gần vua và nói, “Tôi có một sứ điệp từ Ðức Chúa Trời cho ngài.”  Vừa khi vua đứng dậy khỏi ngai, 21 Ê-hút dùng tay trái rút đoản gươm dấu nơi đùi phải và đâm mạnh vào bụng Éc-lon.  22 Cán gươm lút theo với lưỡi, mỡ phủ lại quanh lưỡi gươm, và ruột lòi ra.  Ông để nguyên đoản gươm trong bụng, không rút ra, vì nó thấu đến sau lưng.  23 Ê-hút đóng tất cả cửa lầu mát lại, khóa chặt các cửa, rồi lẻn đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Sau khi Ê-hút đã đi rồi, các tôi tớ của vua trở lại và thấy các cửa lầu mát đều khóa chặt, họ nghĩ, “Chắc nhà vua đang nghỉ trong lầu mát.”  25 Vì thế họ đứng đợi bên ngoài cho đến khi bối rối.  Họ cứ đợi mãi mà vẫn thấy vua không mở cửa, nên họ lấy chìa khóa và mở cửa vào.  Kìa, vua họ đã nằm chết dưới sàn nhà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Ðang khi họ bối rối và lính quýnh, thì Ê-hút đã chạy thoát được, vượt qua khu tạc tượng đá, và chạy về Sê-i-ra.  27 Về đến nơi, ông thổi kèn tập họp quân dân trong miền cao nguyên Ép-ra-im.  Dân I-sơ-ra-ên nhóm lại theo ông xuống núi.  Ông đi trước dẫn đầu họ.  28 Ông nói, “Hãy theo tôi.  Vì CHÚA đã phó kẻ thù của anh chị em là dân Mô-áp vào tay anh chị em.”  Vậy họ theo ông xuống chiếm những chỗ cạn, nơi người Mô-áp thường lội qua Sông Giô-đanh, và cấm không cho ai qua sông.  29 Trong trận ấy họ giết khoảng mười ngàn người Mô-áp.  Tất cả đều là những người lực lưỡng và dũng mãnh; không một ai thoát khỏi.  30 Vậy dân Mô-áp bị khuất phục dưới tay dân I-sơ-ra-ên, và xứ được hòa bình tám mươi năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sam-ga'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 Sau Ê-hút có Sam-ga con trai của A-nát.  Sam-ga dùng một cây đót bò đánh chết sáu trăm người Phi-li-tin.  Vì thế Sam-ga cũng đã giải cứu dân I-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Giô-suê]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 2]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 4]]&lt;br /&gt;
:* [[Ru-tơ]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35675</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35675"/>
		<updated>2026-05-12T16:53:14Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Các phụ nữ, cũng vậy, phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phụ nữ, cũng vậy, phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thú nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Các phụ nữ, cũng vậy, phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ma-thi-%C6%A1:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_5&amp;diff=35674</id>
		<title>Ma-thi-ơ: Chương 5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ma-thi-%C6%A1:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_5&amp;diff=35674"/>
		<updated>2026-05-05T19:23:49Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Khi nhìn thấy những đám đông, Ngài đã đi lên núi, rồi Ngài ngồi xuống, các môn đồ của Ngài đến với Ngài. 2. Và rồi Ngài mở miệng và dạy họ rằng: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. “Phước cho những người nghèo khó tâm linh, vì vương quốc thiên đàng thuộc về họ!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Phước cho những người than khóc, vì họ sẽ được an ủi!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Phước cho những người nhu mì, vì họ sẽ thừa hưởng đất!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Phước cho những người đói khát sự công chính, vì họ sẽ được đầy đủ!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Phước cho những người có lòng thương xót, vì họ sẽ được thương xót!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Phước cho những người có lòng trong sạch, vì họ sẽ thấy Đức Chúa Trời!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Phước cho những người kiến tạo hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con của Đức Chúa Trời!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Phước cho những người bị bắt bớ vì sự công chính, vì vương quốc thiên đàng thuộc về họ!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phước cho các ngươi, khi vì cớ Ta bị người ta nhục mạ, bách hại, và dùng tất cả những lời xấu xa chống lại các ngươi. 12. Hãy vui mừng và hân hoan, bởi vì phần thưởng của các ngươi ở trên trời rất lớn; bởi vì họ đã bách hại các tiên tri trước các ngươi cũng như vậy.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. “Các ngươi là muối của đất, nhưng nếu muối mất mặn, thì điều gì sẽ làm cho nó mặn trở lại? Nó không còn dùng được vào việc gì nữa, ngoại trừ bị quăng ra ngoài và bị người ta giẫm đạp dưới chân.&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. &amp;quot;Các ngươi là ánh sáng của thế gian. Một cái thành nằm trên núi thì không thể nào bị che khuất. 15. Cũng không ai thắp đèn rồi đặt nó dưới cái thúng, nhưng đặt trên chân đèn, để nó soi sáng mọi người trong nhà. 16. Cũng vậy, hãy tỏa soi ánh sáng của các ngươi trước mặt người ta, để họ thấy những việc làm tốt đẹp của các ngươi, và tôn vinh Cha của các ngươi ở trên trời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. “Đừng nghĩ rằng Ta đến để hủy bỏ luật pháp hay lời tiên tri; Ta đến, không phải để hủy bỏ nhưng để hoàn thành. 18. Bởi vì thật vậy, Ta nói cùng các ngươi, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không thể bỏ qua được, cho đến lúc mọi sự được thành tựu. 19. Do đó, nếu ai hủy bỏ một điều nhỏ nhất trong những điều răn nầy, và dạy những người khác làm như vậy, thì người đó sẽ bị coi là nhỏ nhất trong vương quốc thiên đàng; còn ai vâng giữ và dạy những điều đó, thì người nầy sẽ được gọi là lớn trong vương quốc thiên đàng. 20. Vì Ta nói cùng các ngươi rằng: Nếu sự công chính của các ngươi không hơn so với sự công chính của các học giả giáo luật và những người Pha-ri-si, các ngươi sẽ không vào vương quốc thiên đàng.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. &amp;quot;Các ngươi đã nghe lời phán dạy cho những người xưa rằng: ‘Không được giết người. Ai giết người sẽ phải chịu trách nhiệm với tòa án.’ 22. Nhưng Ta nói với các ngươi: Ai giận dữ với anh em của mình, sẽ chịu trách nhiệm với tòa án; ai mắng anh em mình là ‘Đồ ngu’, sẽ chịu trách nhiệm với Hội Đồng Công Luận; còn ai nói 'Đồ khùng', thì sẽ chịu trách nhiệm với lửa hỏa ngục. 23. Vì vậy, nếu con sắp dâng lễ vật của mình nơi bàn thờ, và tại đó nhớ rằng anh em của mình đang có điều gì nghịch lại với mình, 24. hãy để lễ vật tại đó trước bàn thờ, rồi đi, và trước hết hãy giải hòa với anh em của mình, rồi hãy đến dâng lễ vật của con. 25. Hãy nhanh chóng giải hòa với người tố cáo con, trong khi con đang hiện diện với người đó, và còn đang trong tiến trình; nếu không, người tố cáo sẽ nộp con cho quan tòa, quan tòa giao cho một viên chức, và con sẽ bị bỏ tù. 26. Thật vậy, Ta nói cùng con, con sẽ không bao giờ ra khỏi cho đến khi trả xong đồng tiền cuối cùng.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. &amp;quot;Các ngươi có nghe lời phán rằng: ‘Ngươi chớ phạm tội ngoại tình.’ 28. Nhưng Ta nói cùng các ngươi rằng: Ai nhìn một phụ nữ mà ham muốn nàng, thì trong lòng người đó đã phạm tội ngoại tình với nàng. 29. Nếu con mắt bên phải của con khiến con vấp phạm, hãy móc nó ra, và ném nó khỏi con; bởi vì thà rằng con mất một phần thân thể của con, để cả thân thể của con không bị ném vào hỏa ngục. 30. Nếu tay phải của con gây cho con vấp phạm, hãy chặt nó và ném nó khỏi con; bởi vì thà rằng con mất một phần thân thể của con, để cả thân thể của con không bị ném vào hỏa ngục.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31. &amp;quot;Cũng có lời phán rằng: ‘Người nào ly dị vợ của mình, người đó hãy cho nàng một giấy ly hôn.’ 32. Nhưng Ta nói cùng các ngươi rằng: 'Ai ly dị vợ của mình, không phải vì lý do gian dâm, thì tạo cớ cho nàng phạm tội ngoại tình. Còn ai cưới một phụ nữ bị ly dị, thì phạm tội ngoại tình.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. &amp;quot;Cũng vậy, các ngươi có nghe lời dạy cho những người xưa rằng: ‘Đừng thề nguyện cách gian dối, nhưng hãy giữ những lời hứa nguyện của mình với Chúa.’ 34. Nhưng Ta nói cùng các ngươi rằng: Đừng thề gì hết. Đừng chỉ trời mà thề, vì đó là ngai của Đức Chúa Trời; 35. đừng chỉ đất mà thề, vì đó là bệ chân của Ngài; cũng đừng chỉ Giê-ru-sa-lem mà thề, vì đó là thành của Vua lớn. 36. Cũng đừng chỉ đầu của con mà thề, vì con không thể tự làm cho một sợi tóc ra trắng hay đen được. 37. Nhưng lời xác nhận của con là ‘phải', thì nói 'Phải!’;  hay ‘không', thì nói 'Không!’ Nhưng những gì thêm thắt thì đến từ kẻ xấu.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38. &amp;quot;Các ngươi đã nghe lời phán rằng: ‘Mắt đền mắt, răng đền răng.’ 39. Nhưng Ta nói cùng các ngươi: Đừng chống cự kẻ ác. Tuy nhiên, nếu ai đánh vào má bên phải của con, hãy xoay luôn phía bên kia cho người đó; 40. nếu ai muốn kiện con để lấy áo ngoài, hãy cho người ấy luôn áo trong; 41. nếu ai bắt con đi một dặm, hãy đi với người ấy hai dặm. 42. Ai xin, hãy cho; ai mượn của con thì đừng tránh né.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
43. &amp;quot;Các ngươi đã nghe lời phán rằng: ‘Hãy thương yêu người lân cận của mình, và ghét kẻ thù của mình.’ 44. Nhưng Ta nói cùng các ngươi: Hãy thương yêu kẻ thù của mình và cầu nguyện cho kẻ bách hại các ngươi, 45. để các ngươi được trở thành những người con của Cha của các ngươi, là Đấng đang ở trên trời, bởi vì Ngài khiến mặt trời của Ngài mọc lên cho kẻ gian ác lẫn người lương thiện, và ban mưa cho người công chính lẫn người bất chính. 46. Nếu các ngươi chỉ yêu thương những ai yêu thương mình thì có gì đáng khen đâu? Không phải những người thu thuế cũng làm như vậy hay sao? 47. Nếu các ngươi chỉ chào đón những anh em của mình thì các ngươi có gì trổi hơn đâu? Không phải những người ngoại quốc cũng làm như vậy hay sao? 48. Vì vậy, các ngươi phải trở nên toàn vẹn như Cha của các ngươi ở trên trời là toàn vẹn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Các phước lành'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi nhìn thấy nhiều đoàn người, Ngài đã đi lên núi, rồi Ngài ngồi xuống, các môn đồ của Ngài đến với Ngài. Và rồi Ngài phán và dạy họ rằng: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Phước cho những người nghèo khó tâm linh, vì vương quốc thiên đàng thuộc về họ!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phước cho những người than khóc, vì họ sẽ được an ủi!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phước cho những người nhu mì, vì họ sẽ thừa hưởng đất!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phước cho những người đói khát sự công chính, vì họ sẽ được đầy đủ!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phước cho những người có lòng thương xót, vì họ sẽ được thương xót!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phước cho những người có lòng trong sạch, vì họ sẽ thấy Đức Chúa Trời!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phước cho những người kiến tạo hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con của Đức Chúa Trời!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phước cho những người bị bắt bớ vì sự công chính, vì vương quốc thiên đàng thuộc về họ!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phước cho các ngươi, khi vì cớ Ta bị người ta nhục mạ, bách hại, và dùng tất cả những lời xấu xa chống lại các ngươi. Hãy vui mừng và hân hoan, bởi vì phần thưởng của các ngươi ở trên trời rất lớn; bởi vì họ đã bách hại các tiên tri trước các ngươi cũng như vậy.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Muối và ánh sáng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Các ngươi là muối của đất, nhưng nếu muối mất mặn, thì điều gì sẽ làm cho nó mặn trở lại? Nó không còn dùng được vào việc gì nữa, ngoại trừ bị quăng ra ngoài và bị người ta giẫm đạp dưới chân.&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;quot;Các ngươi là ánh sáng của thế gian. Một cái thành nằm trên núi thì không thể nào bị che khuất. Cũng không ai thắp đèn rồi đặt nó dưới cái thúng, nhưng đặt trên chân đèn, để nó soi sáng mọi người trong nhà. Cũng vậy, hãy tỏa soi ánh sáng của các ngươi trước mặt người ta, để họ thấy những việc làm tốt đẹp của các ngươi, và tôn vinh Cha của các ngươi ở trên trời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Về việc giữ luật pháp và lời tiên tri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Đừng nghĩ rằng Ta đến để hủy bỏ luật pháp hay lời tiên tri; Ta đến, không phải để hủy bỏ nhưng để hoàn thành. Bởi vì thật vậy, Ta nói cùng các ngươi, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không thể bỏ qua được, cho đến lúc mọi sự được thành tựu. Do đó, nếu ai hủy bỏ một điều nhỏ nhất trong những điều răn nầy, và dạy những người khác làm như vậy, thì người đó sẽ bị coi là nhỏ nhất trong vương quốc thiên đàng; còn ai vâng giữ và dạy những điều đó, thì người nầy sẽ được gọi là lớn trong vương quốc thiên đàng. Vì Ta nói cùng các ngươi rằng: Nếu sự công chính của các ngươi không hơn so với sự công chính của các học giả giáo luật và những người Pha-ri-si, các ngươi sẽ không vào vương quốc thiên đàng.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Về việc giải hòa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;quot;Các ngươi đã nghe lời phán dạy cho những người xưa rằng: ‘Không được giết người; ai giết người sẽ chịu trách nhiệm với tòa án.’ Nhưng Ta nói với các ngươi: Ai giận dữ với anh em của mình, sẽ chịu trách nhiệm với tòa án; ai mắng anh em mình là ‘Đồ ngu’, sẽ chịu trách nhiệm với Hội Đồng Công Luận; còn ai nói 'Đồ khùng', thì sẽ chịu trách nhiệm với lửa hỏa ngục. Vì vậy, nếu con sắp dâng lễ vật của mình nơi bàn thờ, và tại đó nhớ rằng anh em của mình đang có điều gì nghịch lại với mình, hãy để lễ vật tại đó trước bàn thờ, rồi đi, và trước hết hãy giải hòa với anh em của mình, rồi hãy đến dâng lễ vật của con. Hãy nhanh chóng giải hòa với người tố cáo con, trong khi con đang hiện diện với người đó, và còn đang trong tiến trình; nếu không, người tố cáo sẽ nộp con cho quan tòa, quan tòa giao cho một viên chức, và con sẽ bị bỏ tù. Thật vậy, Ta nói cùng con, con sẽ không bao giờ ra khỏi cho đến khi trả xong đồng tiền cuối cùng.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Về tội tà dâm'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;quot;Các ngươi có nghe lời phán rằng: ‘Ngươi chớ phạm tội ngoại tình.’ Nhưng Ta nói cùng các ngươi rằng: Ai nhìn một phụ nữ mà ham muốn nàng, thì trong lòng người đó đã phạm tội ngoại tình với nàng. Nếu con mắt bên phải của con khiến con vấp phạm, hãy móc nó ra, và ném nó khỏi con; bởi vì thà rằng con mất một phần thân thể của con, để cả thân thể của con không bị ném vào hỏa ngục. Nếu tay phải của con gây cho con vấp phạm, hãy chặt nó và ném nó khỏi con; bởi vì thà rằng con mất một phần thân thể của con, để cả thân thể của con không bị ném vào hỏa ngục.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Về việc ly dị'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;quot;Cũng có lời phán rằng: ‘Người nào ly dị vợ của mình, người đó hãy cho nàng một giấy ly hôn.’ Nhưng Ta nói cùng các ngươi rằng: 'Ai ly dị vợ của mình, không phải vì lý do gian dâm, thì tạo cớ cho nàng phạm tội ngoại tình. Còn ai cưới một phụ nữ bị ly dị, thì phạm tội ngoại tình.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Về việc thề nguyện'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;quot;Cũng vậy, các ngươi có nghe lời dạy cho những người xưa rằng: ‘Đừng thề nguyện cách gian dối, nhưng hãy giữ những lời hứa nguyện của mình với Chúa.’ Nhưng Ta nói cùng các ngươi rằng: Đừng thề gì hết. Đừng chỉ trời mà thề, vì đó là ngai của Đức Chúa Trời; đừng chỉ đất mà thề, vì đó là bệ chân của Ngài; cũng đừng chỉ Giê-ru-sa-lem mà thề, vì đó là thành của Vua lớn. Cũng đừng chỉ đầu của con mà thề, vì con không thể tự làm cho một sợi tóc ra trắng hay đen được. Nhưng lời xác nhận của con là ‘phải', thì nói 'Phải!’;  hay ‘không', thì nói 'Không!’ Nhưng những gì thêm thắt thì đến từ kẻ xấu.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Về sự trả đũa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;quot;Các ngươi đã nghe lời phán rằng: ‘Mắt đền mắt, răng đền răng.’ Nhưng Ta nói cùng các ngươi: Đừng chống cự kẻ ác. Tuy nhiên, nếu ai đánh vào má bên phải của con, hãy xoay luôn phía bên kia cho người đó; nếu ai muốn kiện con để lấy áo ngoài, hãy cho người ấy luôn áo trong; nếu ai bắt con đi một dặm, hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin, hãy cho; ai mượn của con thì đừng tránh né.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Về sự yêu thương'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;quot;Các ngươi đã nghe lời phán rằng: ‘Hãy thương yêu người lân cận của mình, và ghét kẻ thù của mình.’ Nhưng Ta nói cùng các ngươi: Hãy thương yêu kẻ thù của mình và cầu nguyện cho kẻ bách hại các ngươi, để các ngươi được trở thành những người con của Cha của các ngươi, là Đấng đang ở trên trời, bởi vì Ngài khiến mặt trời của Ngài mọc lên cho kẻ gian ác lẫn người lương thiện, và ban mưa cho người công chính lẫn người bất chính. Nếu các ngươi chỉ yêu thương những ai yêu thương mình thì có gì đáng khen đâu? Không phải những người thu thuế cũng làm như vậy hay sao? Nếu các ngươi chỉ chào đón những anh em của mình thì các ngươi có gì trổi hơn đâu? Không phải những người ngoại quốc cũng làm như vậy hay sao? Vì vậy, các ngươi phải trở nên toàn vẹn như Cha của các ngươi ở trên trời là toàn vẹn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Các phước lành'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Khi nhìn thấy những đám đông, Ngài đã đi lên núi, rồi Ngài ngồi xuống, các môn đồ của Ngài đến với Ngài. 2. Rồi Ngài mở miệng của Ngài và dạy họ rằng: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. “Phước cho những người nghèo khó tâm linh, vì vương quốc thiên đàng thuộc về họ!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Phước cho những người than khóc, vì họ sẽ được an ủi!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Phước cho những người nhu mì, vì họ sẽ thừa hưởng đất!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Phước cho những người đói khát sự công chính, vì họ sẽ được đầy đủ!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Phước cho những người có lòng thương xót, vì họ sẽ được thương xót!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Phước cho những người có lòng trong sạch, vì họ sẽ thấy Đức Chúa Trời!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Phước cho những người kiến tạo hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con của Đức Chúa Trời!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Phước cho những người bị bắt bớ vì sự công chính, vì vương quốc thiên đàng thuộc về họ!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phước cho các ngươi khi vì cớ Ta, bị người ta nhục mạ, bách hại, và dùng tất cả những lời xấu xa chống lại các ngươi. 12. Hãy vui mừng và hân hoan, bởi vì phần thưởng của các ngươi ở trên trời rất lớn; vì họ đã bách hại các tiên tri trước các ngươi cũng như vậy.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Muối và ánh sáng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. “Các ngươi là muối của đất, nhưng nếu muối mất mặn, thì điều gì sẽ làm cho nó mặn trở lại? Nó không còn dùng được vào việc gì nữa, ngoại trừ bị quăng ra ngoài và bị người ta giẫm đạp dưới chân.&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. &amp;quot;Các ngươi là ánh sáng của thế gian. Một cái thành nằm trên núi thì không thể nào bị che khuất. 15. Cũng không ai thắp đèn rồi đặt nó dưới cái thúng, nhưng đặt trên chân đèn, để nó soi sáng mọi người trong nhà. 16. Cũng vậy, hãy tỏa ánh sáng của các ngươi trước mặt người ta, để họ thấy những việc làm tốt đẹp của các ngươi, và tôn vinh Cha của các ngươi ở trên trời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Về việc giữ luật pháp và lời tiên tri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. “Đừng nghĩ rằng Ta đến để hủy bỏ luật pháp hay lời tiên tri; Ta đến, không phải để hủy bỏ nhưng để hoàn thành. 18. Bởi vì thật vậy, Ta nói cùng các ngươi, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không thể bỏ qua được, cho đến lúc mọi sự được thành tựu. 19. Do đó, nếu ai hủy bỏ một điều nhỏ nhất trong những điều răn nầy, và dạy những người khác làm như vậy, thì người đó sẽ bị coi là nhỏ nhất trong vương quốc thiên đàng; còn ai vâng giữ và dạy những điều đó, thì người nầy sẽ được gọi là lớn trong vương quốc thiên đàng. 20. Vì Ta nói cùng các ngươi rằng: Nếu sự công chính của các ngươi không hơn so với sự công chính của các học giả giáo luật và những người Pha-ri-si, các ngươi sẽ không vào vương quốc thiên đàng.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Về việc giải hòa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. &amp;quot;Các ngươi đã nghe lời phán dạy cho những người xưa rằng: ‘Không được giết người; ai giết người sẽ chịu trách nhiệm với tòa án.’ 22. Nhưng Ta nói với các ngươi: Ai giận dữ với anh em của mình, sẽ chịu trách nhiệm với tòa án; ai mắng anh em mình là ‘Đồ ngu’, sẽ chịu trách nhiệm với Hội Đồng Công Luận; còn ai nói 'Đồ khùng', thì sẽ chịu trách nhiệm với lửa hỏa ngục. 23. Vì vậy, nếu con sắp dâng lễ vật của mình nơi bàn thờ, và tại đó nhớ rằng anh em của mình đang có điều gì nghịch lại với mình, 24. hãy để lễ vật tại đó trước bàn thờ, rồi đi, và trước hết hãy giải hòa với anh em của mình, rồi hãy đến dâng lễ vật của con. 25. Hãy nhanh chóng giải hòa với người tố cáo con, trong khi con đang hiện diện với người đó, và còn đang trong tiến trình; nếu không, người tố cáo sẽ nộp con cho quan tòa, quan tòa giao cho một viên chức, và con sẽ bị bỏ tù. 26. Thật vậy, Ta nói cùng con, con sẽ không bao giờ ra khỏi cho đến khi trả xong đồng tiền cuối cùng.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Về tội tà dâm'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. &amp;quot;Các ngươi có nghe lời phán rằng: ‘Ngươi chớ phạm tội ngoại tình.’ 28. Nhưng Ta nói cùng các ngươi rằng: Ai nhìn một phụ nữ mà ham muốn nàng, thì trong lòng người đó đã phạm tội ngoại tình với nàng. 29. Nếu con mắt bên phải của con khiến con vấp phạm, hãy móc nó ra, và ném nó khỏi con; bởi vì thà rằng con mất một phần thân thể của con, để cả thân thể của con không bị ném vào hỏa ngục. 30. Nếu tay phải của con gây cho con vấp phạm, hãy chặt nó và ném nó khỏi con; bởi vì thà rằng con mất một phần thân thể của con, để cả thân thể của con không bị ném vào hỏa ngục.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Về việc ly dị'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31. &amp;quot;Cũng có lời phán rằng: ‘Người nào ly dị vợ của mình, người đó hãy cho nàng một giấy ly hôn.’ 32. Nhưng Ta nói cùng các ngươi rằng: 'Ai ly dị vợ của mình, không phải vì lý do gian dâm, thì tạo cớ cho nàng phạm tội ngoại tình. Còn ai cưới một phụ nữ bị ly dị, thì phạm tội ngoại tình.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Về việc thề nguyện'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. &amp;quot;Cũng vậy, các ngươi có nghe lời dạy cho những người xưa rằng: ‘Đừng thề nguyện cách gian dối, nhưng hãy giữ những lời hứa nguyện của mình với Chúa.’ 34. Nhưng Ta nói cùng các ngươi rằng: Đừng thề gì hết. Đừng chỉ trời, vì đó là ngai của Đức Chúa Trời; 35. đừng chỉ đất, vì đó là bệ chân của Ngài; cũng đừng chỉ Giê-ru-sa-lem, vì đó là thành của Vua lớn. 36. Cũng đừng chỉ đầu của con, vì con không thể tự làm cho một sợi tóc ra trắng hay đen được. 37. Nhưng lời xác nhận của con là ‘phải', thì nói 'Phải!’;  hay ‘không', thì nói 'Không!’ Nhưng những gì thêm thắt thì đến từ kẻ xấu.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Về sự trả đũa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38. &amp;quot;Các ngươi đã nghe lời phán rằng: ‘Mắt đền mắt, răng đền răng.’ 39. Nhưng Ta nói cùng các ngươi: Đừng chống cự kẻ ác. Tuy nhiên, nếu ai đánh vào má bên phải của con, hãy xoay phía bên kia cho người đó; 40. nếu ai muốn kiện con để lấy áo ngoài, hãy cho người ấy luôn áo trong; 41. nếu ai bắt con đi một dặm, hãy đi với người ấy hai dặm. 42. Ai xin, hãy cho; ai mượn của con thì đừng tránh né.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Về sự yêu thương'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
43. &amp;quot;Các ngươi đã nghe lời phán rằng: ‘Hãy thương yêu người lân cận của mình, và ghét kẻ thù của mình.’ 44. Nhưng Ta nói cùng các ngươi: Hãy thương yêu kẻ thù của mình và cầu nguyện cho kẻ bách hại các ngươi, 45. để các ngươi được trở thành những đứa con của Cha của các ngươi, là Đấng đang ở trên trời, bởi vì Ngài khiến mặt trời của Ngài mọc lên cho kẻ gian ác lẫn người lương thiện, và ban mưa cho người công chính lẫn người bất chính. 46. Nếu các ngươi chỉ yêu thương những ai yêu thương mình thì có gì đáng khen đâu? Không phải những người thu thuế cũng làm như vậy hay sao? 47. Nếu các ngươi chỉ chào đón những anh em của mình thì các ngươi có gì trổi hơn đâu? Không phải những người ngoại quốc cũng làm như vậy hay sao? 48. Vì vậy, các ngươi phải trở nên toàn vẹn như Cha của các ngươi ở trên trời là toàn vẹn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Đức Chúa Jêsus xem thấy đoàn dân đông, bèn lên núi kia; khi Ngài đã ngồi, thì các môn đồ đến gần. 2.  Ngài bèn mở miệng mà truyền dạy rằng: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Phước cho những kẻ đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Phước cho những kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Khi nào vì cớ ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước. 12.  Hãy vui vẻ, và nức lòng mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm; bởi vì người ta cũng từng bắt bớ các đấng tiên tri trước các ngươi như vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13.  Các ngươi là muối của đất; song nếu mất mặn đi, thì sẽ lấy giống chi mà làm cho mặn lại? Muối ấy không dùng chi được nữa, chỉ phải quăng ra ngoài và bị người ta đạp dưới chân. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Các ngươi là sự sáng của thế gian; một cái thành ở trên núi thì không khi nào bị khuất được: 15.  cũng không ai thắp đèn mà để dưới cái thùng, song người ta để trên chân đèn, thì nó soi sáng mọi người ở trong nhà. 16.  Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri; ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn. 18.  Vì ta nói thật cùng các ngươi, đang khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19.  Vậy, ai hủy một điều cực nhỏ nào trong những điều răn nầy, và dạy người ta làm như vậy, thì sẽ bị xưng là cực nhỏ trong nước thiên đàng; còn như ai giữ những điều răn ấy, và dạy người ta nữa, thì sẽ được xưng là lớn trong nước thiên đàng. 20.  Vì ta phán cho các ngươi rằng, nếu sự công bình của các ngươi chẳng trổi hơn sự công bình của các thầy thông giáo và người dòng Pha-ri-si, thì các ngươi chắc không vào nước thiên đàng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Các ngươi có nghe lời phán cho người xưa rằng: Ngươi chớ giết ai; và rằng: Hễ ai giết người thì đáng bị tòa án xử đoán. 22.  Song ta phán cho các ngươi: Hễ ai giận anh em mình thì đáng bị tòa án xử đoán; ai mắng anh em mình rằng: Ra-ca, thì đáng bị tòa công luận xử đoán; ai mắng anh em mình là đồ điên, thì đáng bị lửa địa ngục hành phạt. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23.  Ấy vậy, nếu khi nào ngươi đem dâng của lễ nơi bàn thờ, mà nhớ lại anh em có điều gì nghịch cùng mình, 24.  thì hãy để của lễ trước bàn thờ, trở về giảng hòa với anh em trước đã; rồi hãy đến dâng của lễ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25.  Khi ngươi đi đường với kẻ nghịch mình, phải lập tức hòa với họ, kẻo họ nộp ngươi cho quan án, quan án giao ngươi cho thầy đội, mà ngươi phải ở tù. 26.  Quả thật, ta nói cùng ngươi, ngươi trả còn thiếu một đồng tiền, thì không ra khỏi tù được. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27.  Các ngươi có nghe lời phán rằng: Ngươi chớ phạm tội tà dâm. 28.  Song ta phán cho các ngươi biết: Hễ ai ngó đàn bà mà động tình tham muốn, thì trong lòng đã phạm tội tà dâm cùng người rồi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29.  Vậy nếu con mắt bên hữu xui cho ngươi phạm tội, thì hãy móc mà quăng nó cho xa ngươi đi; vì thà chịu một phần thân thể ngươi phải hư, còn hơn là cả thân thể bị ném vào địa ngục. 30.  Lại nếu tay hữu xui cho ngươi phạm tội, thì hãy chặt mà liệng nó cho xa ngươi đi; vì thà chịu một phần thân thể ngươi phải hư, còn hơn là cả thân thể vào địa ngục. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31.  Lại có nói rằng: Nếu người nào để vợ mình, thì hãy cho vợ cái tờ để. 32.  Song ta phán cùng các ngươi: Nếu người nào để vợ mà không phải vì cớ ngoại tình, thì người ấy làm cho vợ mình ra người tà dâm; lại nếu người nào cưới đàn bà bị để, thì cũng phạm tội tà dâm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33.  Các ngươi còn có nghe lời phán cho người xưa rằng: Ngươi chớ thề dối, nhưng đối với Chúa, phải giữ vẹn lời thề mình. 34.  Song ta phán cùng các ngươi rằng đừng thề chi hết: đừng chỉ trời mà thề, vì là ngôi của Đức Chúa Trời; 35.  đừng chỉ đất mà thề, vì là bệ chân của Đức Chúa Trời; đừng chỉ thành Giê-ru-sa-lem mà thề, vì là thành của Vua lớn. 36.  Lại cũng đừng chỉ đầu ngươi mà thề, vì tự ngươi không thể làm cho một sợi tóc nên trắng hay là đen được. 37.  Song ngươi phải nói rằng: phải, phải; không, không. Còn điều người ta nói thêm đó, bởi nơi quỉ dữ mà ra. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38.  Các ngươi có nghe lời phán rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng. 39.  Song ta bảo các ngươi, đừng chống cự kẻ dữ. Trái lại, nếu ai vả má bên hữu ngươi, hãy đưa má bên kia cho họ luôn; 40.  nếu ai muốn kiện ngươi đặng lột cái áo vắn, hãy để họ lấy luôn cái áo dài nữa; 41.  nếu ai muốn bắt ngươi đi một dặm đường, hãy đi hai dặm với họ. 42.  Ai xin của ngươi hãy cho, ai muốn mượn của ngươi, thì đừng trớ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
43.  Các ngươi có nghe lời phán rằng: Hãy yêu người lân cận, và hãy ghét kẻ thù nghịch mình. 44.  Song ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi, 45.  hầu cho các ngươi được làm con của Cha các ngươi ở trên trời; bởi vì Ngài khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46.  Nếu các ngươi yêu những kẻ yêu mình, thì có được thưởng gì đâu? Những kẻ thâu thuế há chẳng làm như vậy sao? 47.  Lại nếu các ngươi tiếp đãi anh em mình mà thôi, thì có lạ gì hơn ai? Người ngoại há chẳng làm như vậy sao? 48.  Thế thì các ngươi hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B40\V02B40C005.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phước Hạnh Thật'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(Lu 6:20-23)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Khi thấy những đoàn dân đông, Ngài đi lên núi.  Sau khi Ngài ngồi xuống, các môn đồ Ngài đến gần, 2 Ngài cất tiếng dạy rằng, &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 “Phước cho những người nghèo thiếu trong tâm linh, vì vương quốc thiên đàng là của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Phước cho những người than khóc, vì họ sẽ được yên ủi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Phước cho những người khiêm nhu, vì họ sẽ thừa hưởng đất.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Phước cho những người đói khát sự công chính, vì họ sẽ được no thỏa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Phước cho những người thương người, vì họ sẽ được thương xót.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Phước cho những người có lòng trong sạch, vì họ sẽ thấy Ðức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Phước cho những người đem lại hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Ðức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Phước cho những người bị bách hại vì lẽ công chính, vì vương quốc thiên đàng là của những người ấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Phước cho các ngươi khi người ta nhục mạ, bách hại, và lấy mọi điều dữ vu khống các ngươi vì cớ Ta.  12 Hãy hân hoan mừng rỡ, vì phần thưởng cho các ngươi trên trời lớn lắm, bởi họ cũng đã bách hại các vị tiên tri trước các ngươi như vậy.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Muối và Ánh Sáng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(Mác 9:50; Lu 14:34-35)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 “Các ngươi là muối của đất, nhưng nếu muối ấy mất mặn, lấy gì làm nó mặn lại?  Nó chẳng thể được dùng vào việc gì nữa, ngoại trừ bị quăng ra ngoài và bị người ta giẫm dưới chân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Các ngươi là ánh sáng của thế gian.  Một thành ở trên núi không thể bị che khuất.  15 Không ai thắp đèn rồi đem đặt dưới thùng, nhưng đặt trên giá đèn, để nó soi sáng mọi người trong nhà.  16 Cũng vậy, ánh sáng các ngươi phải tỏa rạng trước mặt người ta để họ có thể thấy những việc tốt đẹp của các ngươi mà tôn vinh Cha các ngươi trên trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Luật Pháp và Lời Tiên Tri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 “Các ngươi đừng tưởng Ta đến để hủy bỏ Luật Pháp hay Các Tiên Tri.  Ta đến không phải để hủy bỏ nhưng để làm trọn.  18 Vì quả thật, Ta nói với các ngươi, trước khi trời đất qua đi, một chấm hay một nét trong Luật Pháp cũng không được bỏ qua, cho đến khi mọi sự được làm trọn.  19 Vậy nếu ai bỏ một điều cực nhỏ nào trong các điều răn này và dạy người khác làm như vậy, kẻ ấy sẽ bị gọi là nhỏ nhất trong vương quốc thiên đàng; nhưng ai vâng giữ những điều răn này và dạy người khác làm theo, người ấy sẽ được gọi là lớn trong vương quốc thiên đàng.  20 Vì Ta nói với các ngươi, nếu đức công chính của các ngươi không hơn đức công chính của các thầy dạy giáo luật và những người Pha-ri-si, các ngươi sẽ không thể nào vào vương quốc thiên đàng được.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giận Dữ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(Lu 12:58-59)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 “Các ngươi có nghe người xưa được bảo, ‘Ngươi chớ sát nhân, vì hễ ai sát nhân sẽ bị đưa ra tòa xét xử.’  22 Nhưng Ta nói với các ngươi, ai giận anh chị em mình thì đáng bị đưa ra tòa xét xử; ai mắng anh chị em mình là ‘Ðồ ngu!’ thì đáng bị Hội Ðồng Lãnh Ðạo xét xử; ai mắng anh chị em mình là ‘Ðồ điên!’ thì đáng bị lửa hỏa ngục thiêu đốt.     &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Vậy khi ngươi đem của lễ đến dâng nơi bàn thờ mà chợt nhớ có điều gì bất hòa giữa anh chị em ngươi với ngươi, 24 hãy để của lễ đó trước bàn thờ, trở về giải hòa với anh chị em ngươi trước, rồi hãy trở lại dâng của lễ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25 Hãy giải quyết mau lẹ vấn đề kiện tụng với kẻ chống nghịch ngươi trong khi còn trên đường đến tòa án, kẻo kẻ ấy nộp ngươi cho quan tòa; quan tòa trao ngươi cho thuộc hạ, và ngươi bị tống giam.  26 Quả thật, Ta nói với ngươi, ngươi sẽ không ra khỏi tù cho đến khi trả xong xu nợ cuối cùng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ngoại Tình'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 “Các ngươi có nghe lời xưa dạy bảo, ‘Ngươi chớ phạm tội ngoại tình.’  28 Nhưng Ta nói với các ngươi, hễ ai nhìn một người nữ mà động lòng thèm muốn, trong lòng người ấy đã phạm tội ngoại tình với người nữ đó rồi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29 Nếu mắt phải ngươi khiến ngươi phạm tội, hãy móc nó và quăng đi, vì thà ngươi bị mất một phần thân thể còn hơn giữ trọn cả thân mà bị quăng vào hỏa ngục.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30 Nếu tay phải ngươi khiến ngươi phạm tội, hãy chặt nó và quăng đi, vì thà ngươi bị mất một phần thân thể còn hơn giữ trọn cả thân mà bị quăng vào hỏa ngục.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ly Dị'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(Mác 10:11-12; Lu 16:18)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 “Cũng có lời dạy rằng, ‘Ai muốn ly dị vợ, người ấy phải cho nàng một chứng thư ly dị.’  32 Nhưng Ta nói với các ngươi, người nào ly dị vợ không phải vì vợ gian dâm tức là đã làm cho nàng phạm tội ngoại tình; còn ai cưới người đàn bà ly dị, người ấy cũng phạm tội ngoại tình.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thề Thốt'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 “Còn điều này nữa, các ngươi có nghe lời dạy cho người xưa rằng, ‘Ngươi chớ thề dối; nhưng đối với Chúa, ngươi phải giữ trọn lời thề.’  34 Nhưng Ta nói với các ngươi, đừng thề thốt chi cả.  Ðừng chỉ trời mà thề, vì ấy là ngai Ðức Chúa Trời.  35 Ðừng chỉ đất mà thề, vì ấy là bệ chân Ngài.  Ðừng chỉ Giê-ru-sa-lem mà thề, vì ấy là thành của Vua cao cả.  36 Cũng đừng chỉ vào đầu ngươi mà thề, vì ngươi không thể làm một sợi tóc trở thành trắng hay đen được.  37 Nhưng có nói ‘Có,’ không nói ‘Không’; còn những điều thêm bớt là do Ác Quỷ mà ra.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Báo Thù'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(Lu 6:29-30)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38 “Các ngươi có nghe nói, ‘Mắt đền mắt, răng đền răng.’  39 Nhưng Ta nói với các ngươi, đừng chống cự kẻ ác.  Nếu ai tát má bên phải ngươi, hãy đưa luôn má bên trái.  40 Nếu ai muốn kiện ngươi để lấy áo trong, hãy để cho họ lấy luôn áo ngoài.  41 Nếu ai bắt ngươi đi một dặm đường, hãy đi với họ hai dặm.  42 Ai xin, hãy cho; ai muốn vay mượn, đừng ngoảnh mặt làm ngơ.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Yêu Kẻ Thù'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(Lu 6:27-28, 32-36)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
43 “Các ngươi đã nghe dạy, ‘Hãy thương người lân cận và ghét kẻ nghịch thù.’  44 Nhưng Ta nói với các ngươi, hãy yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ bách hại các ngươi.  45 Như thế, các ngươi mới có thể trở nên các con của Cha các ngươi trên trời, vì Ngài khiến mặt trời của Ngài mọc lên cho kẻ xấu và người tốt.  Ngài ban mưa xuống cho người công chính lẫn kẻ gian tà.  46 Nếu các ngươi chỉ thương người thương mình, các ngươi sẽ được thưởng gì?  Những người thu thuế há chẳng làm như thế sao?  47 Nếu các ngươi chỉ chào hỏi anh chị em mình, các ngươi có gì hơn ai?  Những người lương chẳng làm như thế sao?  48 Vậy các ngươi phải trở nên trọn vẹn như Cha các ngươi trên trời là Ðấng trọn vẹn.”     &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B40\V01B40C005.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1926 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Ma-thi-ơ]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Ma-thi-ơ: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Ma-thi-ơ: Chương 6]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35673</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35673"/>
		<updated>2026-04-28T20:09:18Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không dùng vũ lực, không tham tiền, nhưng dịu dàng, hòa nhã, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Các phụ nữ, cũng vậy, phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không dùng vũ lực, không tham tiền, nhưng dịu dàng, hòa nhã, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phụ nữ, cũng vậy, phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thú nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không dùng vũ lực, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Các phụ nữ, cũng vậy, phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35672</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35672"/>
		<updated>2026-04-28T18:18:18Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tĩnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không dùng vũ lực, không tham tiền, nhưng dịu dàng, hòa nhã, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Các phụ nữ, cũng vậy, phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tĩnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không dùng vũ lực, không tham tiền, nhưng dịu dàng, hòa nhã, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phụ nữ, cũng vậy, phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thú nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không dùng vũ lực, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Các phụ nữ, cũng vậy, phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=B%C3%AAn_Kia_B%C3%B3ng_M%E1%BB%9D&amp;diff=35671</id>
		<title>Bên Kia Bóng Mờ</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=B%C3%AAn_Kia_B%C3%B3ng_M%E1%BB%9D&amp;diff=35671"/>
		<updated>2026-04-21T17:01:20Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: Beyond the Shadows (1948)&lt;br /&gt;
*Tựa đề:  Bên Kia Bóng Mờ&lt;br /&gt;
*Lời: Dale Schulz&lt;br /&gt;
*Nhạc: Dale Schulz&lt;br /&gt;
*Tài Liệu: Tuyển Tập Thánh Ca Chép Tay của Nhạc sĩ [[Vĩnh Phúc]].&lt;br /&gt;
==Lời Anh==&lt;br /&gt;
:'''Beyond the Shadows'''&lt;br /&gt;
:1. Of all our troubles, God makes a rainbow,&lt;br /&gt;
:Thro' all our tears, hope will shine again;&lt;br /&gt;
:If God be for us, there's naught can harm us,&lt;br /&gt;
:He turns our sorrow to joy again.&lt;br /&gt;
:'''Refrain'''&lt;br /&gt;
:Beyond the shadows, the sun still shines,&lt;br /&gt;
:And God will answer that prayer of thine;&lt;br /&gt;
:Look up in faith then, not in despair,&lt;br /&gt;
:Beyond the shadows, God still is there.&lt;br /&gt;
:2. The night of sorrow, the time of weeping&lt;br /&gt;
:Will soon be over and morn will come;&lt;br /&gt;
:Oh glorious dawning of day unending,&lt;br /&gt;
:When with our Savior we'll dwell at Home. &lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Bên Kia Bóng Mờ - Lời Việt: Lưu Văn Tường - [[Lưu Văn Tường | Tường Lưu]]''' - (7/6/1977)&lt;br /&gt;
:1. Trong những phiền ưu ta, hào quang Chúa soi lòa&lt;br /&gt;
:Dù lệ tràn trên má đức tin không nhòa &lt;br /&gt;
:Dù phong ba tối trời khi sóng xô tơi bời&lt;br /&gt;
:Trong Chúa muôn điều ấy sẽ như hoa cười. &lt;br /&gt;
:'''Điệp Khúc:''' &lt;br /&gt;
:Mặt trời hằng sáng soi trên tầng mây tối&lt;br /&gt;
:Lời nghẹn ngào vướng môi Chúa đã nghe rồi &lt;br /&gt;
:Người ơi, nâng đức tin nhìn lên Thiên Chúa&lt;br /&gt;
:Vì bên kia bóng mờ, tay Ngài dẫn đưa. &lt;br /&gt;
:2. Trong bóng mờ gian nan, đầy giông tố phũ phàng&lt;br /&gt;
:Lòng thường nghe êm ấm tiếng Vua thiên đàng &lt;br /&gt;
:Ngài xua tan tố giông, ban đức tin can trường&lt;br /&gt;
:Trong khó nguy thử thách Chúa luôn luôn gần. &lt;br /&gt;
:3. Đêm tối đầy thương đau, lệ hoen mắt u sầu&lt;br /&gt;
:Đều cùng nhau qua hết lúc ban mai về&lt;br /&gt;
:Ngày vinh quang bất tận sẽ đến trong huy hoàng&lt;br /&gt;
:Sung sướng ta cùng Chúa sống nơi thiên đàng.&lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/beat/735.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/sheet/735.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Hoa Kỳ]] (1998) - Bài số 287&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Miền Nam]] (2011) - Bài số 735&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] - Thư Viện Tin Lành&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=B%C3%AAn_Kia_B%C3%B3ng_M%E1%BB%9D&amp;diff=35670</id>
		<title>Bên Kia Bóng Mờ</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=B%C3%AAn_Kia_B%C3%B3ng_M%E1%BB%9D&amp;diff=35670"/>
		<updated>2026-04-21T17:00:24Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: Beyond the Shadows (1948)&lt;br /&gt;
*Tựa đề:  Bên Kia Bóng Mờ&lt;br /&gt;
*Lời: Dale Schulz&lt;br /&gt;
*Nhạc: Dale Schulz&lt;br /&gt;
*Tài Liệu: Tuyển Tập Thánh Ca Chép Tay của Nhạc sĩ [[Vĩnh Phúc]].&lt;br /&gt;
==Lời Anh==&lt;br /&gt;
:'''Beyond the Shadows'''&lt;br /&gt;
:1. Of all our troubles, God makes a rainbow,&lt;br /&gt;
:Thro' all our tears, hope will shine again;&lt;br /&gt;
:If God be for us, there's naught can harm us,&lt;br /&gt;
:He turns our sorrow to joy again.&lt;br /&gt;
:'''Refrain'''&lt;br /&gt;
:Beyond the shadows, the sun still shines,&lt;br /&gt;
:And God will answer that prayer of thine;&lt;br /&gt;
:Look up in faith then, not in despair,&lt;br /&gt;
:Beyond the shadows, God still is there.&lt;br /&gt;
:2. The night of sorrow, the time of weeping&lt;br /&gt;
:Will soon be over and morn will come;&lt;br /&gt;
:Oh glorious dawning of day unending,&lt;br /&gt;
:When with our Savior we'll dwell at Home. &lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Bên Kia Bóng Mờ - Lời Việt: Lưu Văn Tường - [[Tường Lưu]]''' - (7/6/1977)&lt;br /&gt;
:1. Trong những phiền ưu ta, hào quang Chúa soi lòa&lt;br /&gt;
:Dù lệ tràn trên má đức tin không nhòa &lt;br /&gt;
:Dù phong ba tối trời khi sóng xô tơi bời&lt;br /&gt;
:Trong Chúa muôn điều ấy sẽ như hoa cười. &lt;br /&gt;
:'''Điệp Khúc:''' &lt;br /&gt;
:Mặt trời hằng sáng soi trên tầng mây tối&lt;br /&gt;
:Lời nghẹn ngào vướng môi Chúa đã nghe rồi &lt;br /&gt;
:Người ơi, nâng đức tin nhìn lên Thiên Chúa&lt;br /&gt;
:Vì bên kia bóng mờ, tay Ngài dẫn đưa. &lt;br /&gt;
:2. Trong bóng mờ gian nan, đầy giông tố phũ phàng&lt;br /&gt;
:Lòng thường nghe êm ấm tiếng Vua thiên đàng &lt;br /&gt;
:Ngài xua tan tố giông, ban đức tin can trường&lt;br /&gt;
:Trong khó nguy thử thách Chúa luôn luôn gần. &lt;br /&gt;
:3. Đêm tối đầy thương đau, lệ hoen mắt u sầu&lt;br /&gt;
:Đều cùng nhau qua hết lúc ban mai về&lt;br /&gt;
:Ngày vinh quang bất tận sẽ đến trong huy hoàng&lt;br /&gt;
:Sung sướng ta cùng Chúa sống nơi thiên đàng.&lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/beat/735.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/sheet/735.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Hoa Kỳ]] (1998) - Bài số 287&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Miền Nam]] (2011) - Bài số 735&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] - Thư Viện Tin Lành&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35669</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35669"/>
		<updated>2026-04-14T23:59:32Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, ta kêu gọi trước hết hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, là một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này mà ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng, làm sứ đồ, và giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, 10. nhưng hãy thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hay tự mình cầm quyền trên một người đàn ông, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt rồi đi đến sự phạm tội. 15. Dầu vậy, người nữ sẽ được cứu giúp trong lúc cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Kêu gọi cầu nguyện'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, trước hết, ta khuyên con nên nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta, là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. Ngài đã hiến chính mình Ngài để làm giá chuộc cho tất cả nhân loại - một sự xác nhận đúng thời điểm. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này ta đã được bổ nhiệm làm nhà truyền giảng, làm sứ đồ, làm giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp mọi nơi hãy đưa những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện - đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Hướng dẫn cho phụ nữ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. Tuy nhiên, ta không cho phép phụ nữ dạy, hoặc tự mình cầm quyền trên một người đàn ông, nhưng hãy yên lặng. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt và đi đến sự phạm tội. Dầu vậy, người nữ sẽ được cứu giúp trong lúc cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, trước hết, ta kêu gọi hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người đang có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Vì điều này, ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng và sứ đồ  - Ta nói thật, không nói dối -  làm giáo sư cho các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người đàn ông ở khắp mọi nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng cách kết tóc, hay vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, 10. nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời, qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hay tự mình cầm quyền trên một người đàn ông, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt đi đến sự phạm tội. 15. Dầu vậy, người nữ sẽ được cứu giúp trong lúc cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, 2.  cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhân đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. 3.  Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, 4.  Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật. 5.  Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người; 6.  Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ 7.  (ta nói thật, không nói dối), vì lời chứng ấy, ta đã được cử làm thầy giảng, là sứ đồ và giáo sư cho dân ngoại, để dạy họ về đức tin và về lẽ thật. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vậy, ta muốn những người đàn ông đều giơ tay thánh sạch lên trời, mà cầu nguyện khắp mọi nơi, chớ có giận dữ và cãi cọ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Ta cũng muốn rằng những người đàn bà ăn mặc một cách gọn ghẽ, lấy nết na và đức hạnh giồi mình, không dùng những tóc gióc, vàng, châu ngọc và áo quần quí giá, 10.  nhưng dùng việc lành, theo lẽ đang nhiên của người đàn bà tin kính Chúa. 11.  Đàn bà phải yên lặng mà nghe dạy, lại phải vâng phục mọi đàng. 12.  Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ, cũng không được cầm quyền trên đàn ông; nhưng phải ở yên lặng. 13.  Vì A-đam được dựng nên trước nhất, rồi mới tới Ê-va. 14.  Lại không phải A-đam bị dỗ dành, bèn là người đàn bà bị dỗ dành mà sa vào tội lỗi. 15.  Dầu vậy, nếu đàn bà lấy đức hạnh mà bền đỗ trong đức tin, trong sự yêu thương, và trong sự nên thánh, thì sẽ nhân đẻ con mà được cứu rỗi. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cầu Nguyện cho Mọi Người'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vậy trước hết, ta khuyên con hãy cầu xin, khẩn nguyện, cầu thay, và cảm tạ cho mọi người, 2 cho các vua và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta có thể sống một đời bình tịnh và êm ả, trong nếp sống đạo vẹn toàn và đầy phẩm giá.  3 Ðây là điều tốt đẹp và vui lòng trước mặt Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của chúng ta; 4 Ngài muốn mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Vì chỉ có một Ðức Chúa Trời và một Ðấng Trung Gian giữa Ðức Chúa Trời và loài người, đó là Ðức Chúa Jesus Christ, một người, 6 Ðấng đã hiến chính Ngài làm giá chuộc mọi người, một sự kiện được xác chứng là đã xảy ra đúng thời điểm.  7 Vì sự kiện đó mà ta đã được bổ nhiệm làm giảng sư và sứ đồ –ta nói thật, chứ không nói dối– tức làm giáo sư để dạy các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nam Nữ Trong Hội Thánh Khi Nhóm Lại Thờ Phượng Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Vậy ta muốn quý ông hãy cầu nguyện ở mọi nơi, đưa đôi tay thánh sạch lên, đừng giận dữ và cãi nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Quý bà cũng vậy, hãy ăn mặc lịch sự, trang sức thanh nhã và giản dị, không bới những kiểu tóc cầu kỳ, không đeo vàng ngọc đắt giá, hoặc mặc những y phục đắt tiền, 10 nhưng làm những việc từ thiện, đó là những điều thích hợp với các phụ nữ xưng mình là người tin kính Ðức Chúa Trời.  11 Phụ nữ hãy học trong yên lặng và thuận phục hoàn toàn.  12 Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ hay cầm quyền trên đàn ông, nhưng phải yên lặng, 13 vì A-đam được dựng nên trước rồi mới đến Ê-va; 14 và không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người đàn bà bị lừa gạt và phạm tội.  15 Tuy vậy đàn bà sẽ được cứu qua việc sinh con, nếu họ cứ tiếp tục ở trong đức tin, tình yêu, và thánh khiết, với sự điềm đạm.       &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 1]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=S%C3%A1ng_Th%E1%BA%BF_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_14&amp;diff=35668</id>
		<title>Sáng Thế Ký: Chương 14</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=S%C3%A1ng_Th%E1%BA%BF_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_14&amp;diff=35668"/>
		<updated>2026-04-14T01:43:17Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Thời gian trôi qua, vào thời Am-ra-phên làm vua của Si-nê-a, A-ri-óc làm vua của Ê-la-sa, Kết-rô-lao-me làm vua của Ê-lam, và Ti-đanh làm vua của Gô-im, 2. họ đã gây chiến với Bê-ra vua của Sô-đôm, Bi-rê-sa - vua của Gô-mô-rơ, Si-nê-áp - vua của Át-ma, Sê-mê-bê - vua của Xê-bô-im, và vua của Bê-la, tức là Xoa. 3. Tất cả những vị nầy đã tập hợp với nhau tại thung lũng Si-điêm, tức là Biển Muối. 4. Họ đã thần phục Vua Kết-rô-lao-me mười hai năm, nhưng đến năm thứ mười ba thì họ nổi loạn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Vào năm thứ mười bốn, Kết-rô-lao-me và các vua theo ông đã tấn công dân Rê-pha-im tại Ách-tê-rót Ca-na-im, dân Xu-xin tại Ham, dân Ê-mim tại đồng bằng Ki-ri-a-ta-im, 6. và dân Hô-rít trong vùng núi Sê-i-rơ, cho đến tận Ên Pa-ran, giáp ranh với hoang mạc. 7. Sau đó họ quay về Ên Mích-pát, tức Ca-đe, triệt hạ cả xứ của dân A-ma-léc, và của dân A-mô-rít đang ở tại Hát-sát-sôn Tha-ma. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Các vua của Sô-đôm, vua của Gô-mô-rơ, vua của Át-ma, vua của Xê-bô-im, và vua của Bê-la, tức là Xoa, đã cùng nhau dàn trận tại thung lũng Si-điêm 9. để chống lại Vua Kết-rô-lao-me của Ê-lam, Vua Ti-đanh của Gô-im, Vua Am-ra-phên của Si-nê-a, và Vua A-ri-óc của Ê-la-sa: Năm vua chống lại bốn vua. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Lúc đó, thung lũng Si-điêm có những hố đầy nhựa chai, vua của Sô-đôm và vua của Gô-mô-rơ chạy trốn, đã rơi xuống đó - số còn lại chạy trốn vào trong núi. 11. Họ đã chiếm hết tài sản và lương thực của Sô-đôm và Gô-mô-rơ rồi bỏ đi. 12. Họ cũng bắt Lót - là con trai của em trai của Áp-ram - cùng với những tài sản của ông đem đi, bởi vì ông đã ở tại Sô-đôm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Có một người thoát được đã đến báo cho Áp-ram, người Hê-bơ-rơ, đang sống gần những cây sồi của Mam-rê, người A-mô-rít, là anh em của Ếch-côn và anh em của A-ne. Những người nầy đã lập giao ước với Áp-ram. 14. Khi Áp-ram nghe tin cháu của mình bị bắt, ông đã trang bị cho những gia nhân đã được huấn luyện, là những người đã sinh ra trong nhà của ông, rồi rượt theo họ cho đến tận Đan. 15. Ông phân chia lực lượng để đánh họ.  Ông và những gia nhân của ông đã tấn công họ vào ban đêm, rồi truy đuổi họ cho đến Hô-ba, nằm ở phía bắc của Đa-mách. 16. Áp-ram đã đoạt lại tất cả tài sản, cũng đem Lót, cháu của mình, trở về cùng với tài sản của ông, cũng như những phụ nữ và dân chúng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Sau khi đã đánh bại Kết-rô-lao-me cùng với những vị vua theo ông, lúc Áp-ram trở về, vua của Sô-đôm đã ra tiếp đón ông tại thung lũng Sa-ve, tức là thung lũng của các vua. 18. Mên-chi-xê-đéc, vua của Sa-lem, cũng đã đem bánh và rượu đến, bởi vì ông là tư tế của Đức Chúa Trời Chí Cao. 19. Vua đã chúc phước và nói: &amp;quot;Nguyện Đức Chúa Trời Chí Cao, là Đấng dựng nên trời và đất, ban phước cho Áp-ram. 20. Tôn ngợi Đức Chúa Trời Chí Cao đã trao kẻ thù vào tay của ngươi.&amp;quot; Áp-ram đã dâng cho vua một phần mười của mọi thứ.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Vua của Sô-đôm đã nói với Áp-ram: &amp;quot;Xin cho tôi lại những con người, còn tài sản thì xin ông giữ lấy.&amp;quot; 22. Tuy nhiên Áp-ram đã nói với vua của Sô-đôm: &amp;quot;Tôi đã giơ tay lên hứa với Giê-hô-va Đức Chúa Trời Chí Cao, là Đấng sáng tạo trời và đất, 23. rằng tôi sẽ không lấy bất cứ vật gì thuộc về vua, dù chỉ là một sợi chỉ hay là một dây giày, kẻo vua sẽ nói rằng: Ta đã làm cho Áp-ram giàu có. 24. Ngoại trừ những gì các thanh niên đã ăn. Tuy nhiên, những người đã cùng đi với tôi là A-ne, Ếch-côn, và Mam-rê, họ có thể nhận phần của họ.&amp;quot;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Trong đời Am-ra-phên, vua Si-nê-a; A-ri-óc, vua Ê-la-sa; Kết-rô-Lao me, vua Ê-lam, và Ti-đanh, vua Gô-im, 2.  bốn vua hiệp lại tranh chiến cùng Bê-ra, vua Sô-đôm; Bi-rê-sa, vua Gô-mô-rơ; Si-nê-áp, vua Át-ma; Sê-mê-bê, vua Xê-bô-im, và vua Bê-la, tức là Xoa. 3.  Các vua nầy hiệp lại tại trũng Si-điêm, bây giờ là biển muối. 4.  Trong mười hai năm các vua nầy đều là chư-hầu của vua Kết-rô-Lao me; nhưng qua năm thứ mười ba, thì họ dấy loạn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Nhằm năm thứ mười bốn, Kết-rô-Lao-me cùng các vua đồng minh kéo quân đến dẹp dân Rê-pha-im ở đất Ách-tê-rót-Ca-na-im, dân Xu-xin tại đất Ham, dân Ê-mim ở trong đồng bằng Ki-ri-a-ta-im, 6.  và dân Hô-rít tại núi Sê-i-rơ, cho đến nơi Ên-Ba-ran, ở gần đồng vắng. 7.  Đoạn, các vua thâu binh trở về, đến Suối Xử đoán, tức Ca-đe, hãm đánh khắp miền dân A-ma-léc, và dân A-mô-rít ở tại Hát-sát sôn-Tha-ma. 8.  Các vua của Sô-đôm, Gô-mô-rơ, Át-ma, Xê-bô-im và vua Bê-la, tức là Xoa, bèn xuất trận và dàn binh đóng tại trũng Si-điêm, 9.  đặng chống cự cùng Kết-rô-Lao-me, vua Ê-lam; Ti-đanh, vua Gô-im; Am-ra-phên, vua Si-nê-a, và A-ri-óc, vua Ê-la-sa; bốn vị đang địch cùng năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Vả, trong trũng Si-điêm có nhiều hố nhựa chai; vua Sô-đôm và vua Gô-mô-rơ thua chạy, sa xuống hố, còn kẻ nào thoát được chạy trốn trên núi. 11.  Bên thắng trận bèn cướp lấy hết của cải và lương thực của Sô-đôm và Gô-mô-rơ, rồi đi. 12.  Giặc cũng bắt Lót, là cháu của Áp-ram, ở tại Sô-đôm, và hết thảy gia tài người, rồi đem đi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13.  Có một người thoát được chạy đến báo điều đó cùng Áp-ram, là người Hê-bơ-rơ. Áp-ram ở tại lùm cây dẻ bộp của Mam-rê, là người A-mô-rít, anh của Ếch-côn và A-ne; ba người nầy đã có kết-ước cùng Áp-ram. 14.  Khi Áp-ram hay được cháu mình bị quân giặc bắt, bèn chiêu tập ba trăm mười tám gia nhân đã tập luyện, sanh đẻ nơi nhà mình, mà đuổi theo các vua đó đến đất Đan. 15.  Đoạn Áp-ram chia bọn đầy tớ mình ra, thừa ban đêm xông hãm quân nghịch, đánh đuổi theo đến đất Hô-ba ở về phía tả Đa-mách. 16.  Người thâu về đủ hết các tài vật mà quân giặc đã cướp lấy; lại cũng dẫn cháu mình, là Lót cùng gia tài người, đàn bà và dân chúng trở về. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Sau khi Áp-ram đánh bại Kết-rô-Lao-me và các vua đồng minh, thắng trận trở về, thì vua Sô-đôm ra đón rước người tại trũng Sa-ve, tức là trũng Vua. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Mên-chi-xê-đéc, vua Sa-lem, sai đem bánh và rượu ra. Vả, vua nầy là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời Chí cao, 19.  chúc phước cho Áp-ram và nói rằng: Nguyện Đức Chúa Trời Chí cao, là Đấng dựng nên trời và đất, ban phước cho Áp-ram! 20.  Đáng ngợi khen thay Đức Chúa Trời Chí cao đã phó kẻ thù nghịch vào tay ngươi! Đoạn, Áp-ram lấy một phần mười về cả của giặc mà dâng cho vua đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Vua Sô-đôm bèn nói cùng Áp-ram rằng: Hãy giao người cho ta, còn của cải, thì ngươi thâu lấy. 22.  Áp-ram đáp lại rằng: Tôi giơ tay lên trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời Chí cao, Chúa Tể của trời và đất, mà thề rằng: 23.  Hễ của chi thuộc về vua, dầu đến một sợi chỉ, hay là một sợi dây giày đi nữa, tôi cũng chẳng hề lấy; e vua nói được rằng: Nhờ ta làm cho Áp-ram giàu có, 24.  chỉ món chi của những người trẻ đã ăn, và phần của các người cùng đi với tôi, là A-ne, Ếch-côn và Mam-rê; về phần họ, họ hãy lấy phần của họ đi. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B01\V02B01C014.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Lót Bị Giặc Bắt và Ðược Cứu'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Trong thời của Am-ra-phên vua Si-na, A-ri-ốt vua Ên-la-sa, Kê-đô-lao-me vua Ê-lam, và Ti-đanh vua Gô-im, 2 các vua ấy liên kết với nhau để giao tranh với Bê-ra vua Sô-đôm, Bích-sa vua Gô-mô-ra, Si-náp vua Át-ma, Sê-mê-be vua Xê-boi-im, và Bê-la vua Xô-a. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Tất cả các vua ấy tập trung quân đội trong Thung Lũng Sít-đim, thuộc vùng Biển Muối.  4 Số là trong mười hai năm họ thần phục Vua Kê-đô-lao-me, nhưng đến năm thứ mười ba họ làm phản.  5 Qua năm thứ mười bốn, Kê-đô-lao-me cùng các vua trong liên minh của ông kéo đến đánh bại dân Rê-pha ở Ách-tê-rốt Ca-na-im, dân Xu-xim ở Ham, dân Ê-mim ở Sa-vê Ki-ri-a-tha-im, 6 dân Hô-ri ở miền đồi núi Sê-i-rơ cho đến tận Ên Pa-ran, nơi giáp ranh với đồng hoang.  7 Sau đó họ trở về và đến tại Ên Mích-pát, tức Ca-đe, và triệt hạ cả xứ của dân A-ma-léc và dân A-mô-ri đang sống trong vùng Ha-xa-xôn Ta-ma.  8 Bấy giờ vua Sô-đôm, vua Gô-mô-ra, vua Át-ma, vua Xê-boi-im, và Vua Bê-la của Xô-a liên minh với nhau rồi kéo quân ra dàn trận tại Thung Lũng Sít-đim 9 để giao tranh với Kê-đô-lao-me vua Ê-lam, Ti-đanh vua Gô-im, Am-ra-phên vua Si-na, và A-ri-ốt vua Ên-la-sa; bốn vua đấu với năm vua.  10 Thuở ấy Thung Lũng Sít-đim có đầy những hố nhựa đen.  Hai vua Sô-đôm và Gô-mô-ra bại trận, chạy trốn, và bị rơi vào hố, còn những người khác chạy thoát được đều trốn trên núi.  11 Quân thắng trận tiến vào Sô-đôm và Gô-mô-ra cướp tất cả của cải và lấy hết thảy lương thực ở hai nơi đó, rồi rút đi.  12 Họ cũng bắt Lót cháu của Áp-ram, đang sống tại Sô-đôm, và lấy tất cả của cải của ông, rồi rút đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Có một người thoát được đến báo cho Áp-ram người Hê-bơ-rơ lúc ấy đang ngụ tại đám sồi của Mam-rê người A-mô-ri, anh của hai ông Ếch-côn và A-ne; những người ấy là đồng minh của Áp-ram.  14 Khi Áp-ram nghe tin cháu mình đã bị bắt làm tù binh, ông trang bị vũ khí cho ba trăm mười tám gia nhân đã được tập luyện, tức những tôi tớ đã sinh ra trong nhà ông, và đuổi theo quân giặc đến tận Ðan.  15 Ông chia những người đi với ông ra và thừa lúc đêm tối tấn công vào trại giặc.  Ông và các tôi tớ ông đánh chúng và rượt đuổi chúng đến tận Khô-ba, về phía bắc của Ða-mách.  16 Ðoạn ông đem về tất cả những của cải đã bị giặc cướp; ông cũng đem Lót cháu ông, cùng tất cả của cải của ông ấy, các phụ nữ, và dân đã bị giặc bắt trở về.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Áp-ram và Mên-chi-xê-đéc'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Sau khi Áp-ram chiến thắng Kê-đô-lao-me và các vua đồng minh của vua ấy trở về, vua Sô-đôm đi ra nghênh đón ông ở Thung Lũng Sa-vê, tức Thung Lũng Nhà Vua.  18 Mên-chi-xê-đéc vua Sa-lem mang bánh và rượu đến đón ông.  Vua ấy là tư tế của Ðức Chúa Trời Tối Cao.  19 Vua ấy chúc phước cho ông và nói, &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Cầu xin Ðức Chúa Trời Tối Cao,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðấng dựng nên trời và đất, ban phước cho Áp-ram.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Chúc tụng Ðức Chúa Trời Tối Cao,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðấng đã trao vào tay ông những kẻ thù của ông.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Áp-ram bèn lấy một phần mười trong tất cả chiến lợi phẩm tặng vua ấy.  21 Bấy giờ vua Sô-đôm nói với Áp-ram, “Cho tôi xin lại những người ông đã cứu; còn các chiến lợi phẩm, xin ông giữ lấy.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Nhưng Áp-ram đáp lại với vua Sô-đôm, “Tôi đã đưa tay lên thề trước mặt CHÚA, Ðức Chúa Trời Tối Cao, Ðấng dựng nên trời và đất, 23 rằng tôi sẽ không lấy bất cứ vật chi, dù là một sợi chỉ hay một quai dép.  Tôi sẽ không lấy một vật chi thuộc về ngài, để ngài sẽ không thể nói, ‘Nhờ ta mà Áp-ram được giàu có,’ 24 ngoại trừ những gì các trai tráng theo tôi đã ăn rồi.  Tuy nhiên đối với những người đã đi với tôi là A-ne, Ếch-côn, và Mam-rê, xin ngài để họ được lấy phần của họ.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký: Chương 13]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký: Chương 15]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=D%C3%A2n_S%E1%BB%91_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_30&amp;diff=35667</id>
		<title>Dân Số Ký: Chương 30</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=D%C3%A2n_S%E1%BB%91_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_30&amp;diff=35667"/>
		<updated>2026-04-07T18:18:23Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Môi-se nói với các lãnh đạo của những chi tộc Y-sơ-ra-ên: &amp;quot;Đây là điều mà Đức Giê-hô-va đã truyền: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Nếu một người khấn hứa với Đức Giê-hô-va điều gì, hoặc thề nguyện buộc chính mình vào điều gì, người đó không được phá bỏ lời của mình, nhưng phải thực hiện tất cả những gì miệng của mình đã nói.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Nếu một thiếu nữ lúc còn trong tuổi thanh xuân, khi còn ở trong nhà cha của nàng, khấn hứa điều gì với Đức Giê-hô-va, hoặc cam kết buộc mình vào điều gì, 4. nếu cha nàng nghe được sự khấn hứa hoặc cam kết mà nàng đã buộc mình vào, nhưng cha nàng vẫn yên lặng với nàng, thì tất cả những gì nàng đã khấn hứa đều có hiệu lực. Bất cứ sự ràng buộc nào nàng đã cam kết đều có hiệu lực. 5.  Nhưng nếu vào ngày cha nàng nghe được, ông không cho phép nàng, thì tất cả những gì nàng đã khấn hứa hoặc cam kết buộc nàng vào đó, đều trở thành vô hiệu lực. Đức Giê-hô-va sẽ tha thứ cho nàng bởi vì cha nàng không cho phép nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nhưng nếu nàng đã lấy chồng, nàng khấn hứa, hay môi của nàng vội vàng thốt ra điều gì để tự ràng buộc chính nàng vào đó, 7. nếu vào ngày chồng nàng nghe được, ông nghe mà không nói gì với nàng, thì những gì nàng đã khấn hứa sẽ có hiệu lực và những cam kết mà nàng đã buộc mình vào đều có hiệu lực. 8. Nhưng nếu vào ngày chồng của nàng nghe được, ông không cho phép nàng, thì ông đã vô hiệu hóa lời khấn hứa mà nàng đã hứa cùng với những lời mà môi của nàng đã thốt ra cách vội vàng khiến nàng bị ràng buộc vào đó. Đức Giê-hô-va sẽ tha thứ cho nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Về phần phụ nữ góa phụ hoặc đã ly dị, bất cứ điều gì nàng cam kết để ràng buộc chính mình vào đó, lời hứa đó sẽ hiệu lực. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Nếu một phụ nữ trong khi đang sống trong nhà của chồng, khấn hứa hoặc cam kết ràng buộc chính mình vào một lời thệ nguyện, 11. nếu chồng của nàng nghe mà không nói gì với nàng, cũng không phản đối nàng, thì tất cả những gì nàng đã khấn hứa sẽ có hiệu lực và tất cả những cam kết mà nàng đã buộc mình vào đó, đều có hiệu lực. 12. Nhưng nếu vào ngày chồng của nàng nghe được, ông vô hiệu hóa chúng, thì bất cứ điều gì mà môi của nàng đã thốt ra trước đó, dù đó là lời khấn hứa hoặc cam kết của nàng, thì sẽ vô hiệu lực. Chồng của nàng đã vô hiệu hóa nên Đức Giê-hô-va sẽ tha thứ cho nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Chồng của nàng có quyền xác nhận, và chồng của nàng cũng có quyền hủy bỏ, mọi khấn hứa và mọi cam kết mà nàng ràng buộc chính nàng vào đó. 14. Nếu chồng của nàng không nói gì với nàng từ ngày nầy cho đến ngày khác, nghĩa là chồng của nàng đã xác nhận mọi lời khấn hứa hay tất cả những cam kết, đang ràng buộc nàng. Chồng của nàng đã xác nhận chúng, bởi vì anh ta đã không nói gì với nàng vào ngày anh nghe về điều đó. 15. Nếu người chồng đã nghe, nhưng về sau mới hủy bỏ chúng, thì người chồng phải gánh chịu trách nhiệm về tội lỗi của nàng.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Đó là những quy định mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se liên hệ đến người chồng và vợ của mình, người cha và con gái của mình lúc nàng còn thanh xuân đang ở trong nhà cha của mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Môi-se nói cùng dân Y-sơ-ra-ên mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2.  Môi-se cũng nói cùng những quan trưởng của các chi phái Y-sơ-ra-ên rằng: Này là điều mà Đức Giê-hô-va đã phán: 3.  Khi một người nào có hứa nguyện cùng Đức Giê-hô-va, hoặc phát thề buộc lấy lòng mình phải giữ một sự gì, thì chớ nên thất tín. Mọi lời ra khỏi miệng người, người phải làm theo. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Khi một người nữ, trong buổi còn thơ ấu, ở nhà cha mình, có hứa nguyện cùng Đức Giê-hô-va, và buộc lấy lòng mình phải giữ một điều chi, 5.  nếu người cha đã biết lời hứa nguyện nàng, và sự buộc lòng nàng tự chịu lấy, mà đối với nàng vẫn làm thinh, thì nàng phải làm y lời hứa nguyện, và giữ mọi sự buộc lòng mình mà nàng tự chịu lấy. 6.  Còn nhược bằng ngày nào cha nàng biết mà cấm đi, thì nàng sẽ không mắc lời hứa nguyện mình hay là các sự buộc lòng giữ mà nàng đã tự chịu lấy; Đức Giê-hô-va sẽ tha tội cho nàng, vì cha nàng cấm nàng vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Nếu người nữ ấy đã kết hôn, hoặc vì hứa nguyện, hoặc vì lời chi lỡ ra khỏi môi mà nàng đã chịu lấy một sự buộc mình, 8.  nhược bằng ngày nào chồng nàng hay mà đối cùng nàng vẫn làm thinh, thì nàng phải làm y lời hứa nguyện, và giữ những sự buộc lòng mình mà nàng tự chịu lấy. 9.  Còn nếu ngày nào chồng đã biết, cấm nàng đi, hủy lời hứa nguyện mà nàng mắc đó và lời gì lỡ ra khỏi môi, mà vì cớ đó nàng đã buộc lấy mình, thì Đức Giê-hô-va sẽ tha tội cho nàng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Lời hứa nguyện của một người đàn bà góa hoặc một người đàn bà bị để, mọi điều chi người đã buộc mình, thì phải giữ lấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Nếu một người đàn bà đã hứa nguyện trong nhà chồng mình, hoặc phát thề buộc lấy lòng mình phải giữ một sự gì, 12.  và nếu chồng đã hay, vẫn làm thinh cùng nàng, không cấm, thì nàng phải làm y lời hứa nguyện và giữ mọi sự buộc lòng mà nàng đã tự chịu lấy. 13.  Nhưng nhược bằng ngày nào chồng nàng hay biết, hủy đi, thì mọi lời đã ra khỏi môi về những sự hứa nguyện, và về sự buộc lòng mình sẽ bị hủy đi; chồng nàng đã hủy các lời đó, thì Đức Giê-hô-va sẽ tha tội cho nàng. 14.  Chồng nàng có thế ưng hay hủy mọi sự hứa nguyện, và mọi lời thề mà nàng sẽ buộc mình đặng ép linh hồn mình. 15.  Nhược bằng chồng vẫn làm thinh cùng nàng ngày nay qua ngày mai, như vậy chồng ưng các sự hứa nguyện của nàng; chồng ưng, vì không nói chi ngày mà người đã hay biết. 16.  Còn nếu chồng hủy các sự hứa nguyện một ít lâu sau khi đã hay biết thì chồng sẽ mang sự hình phạt về tội lỗi của vợ mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Đó là các lệ định mà Đức Giê-hô-va truyền cho Môi-se về một người chồng và vợ mình, một người cha và con gái mình, buổi thơ ấu khi còn ở nhà cha. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B04\V02B04C030.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Luật về Sự Thệ Nguyện'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Bấy giờ Môi-se nói với các thủ lãnh các chi tộc của dân I-sơ-ra-ên, “Ðây là những điều CHÚA đã truyền: 2 Khi một người khấn hứa với CHÚA điều gì hoặc lấy lời thề buộc mình vào một điều gì, người ấy không được nuốt lời; người ấy phải thực hiện những gì miệng mình đã nói ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Khi một thiếu nữ khấn hứa điều gì với CHÚA hoặc lấy lời thề buộc mình vào điều gì, mà khi còn ở trong nhà cha nàng, lúc tuổi còn thanh xuân, 4 nếu cha nàng nghe được lời khấn hứa đó hoặc lời thệ nguyện mà nàng đã buộc mình vào đó, nhưng cha nàng không nói gì, thì tất cả những gì nàng đã khấn hứa đều có hiệu lực, bất cứ lời thệ nguyện nào nàng đã thề đều có hiệu lực.  5 Nhưng nếu cha nàng nghe được và cho hay rằng ông không tán thành những gì nàng đã khấn hứa hoặc thệ nguyện, thì tất cả những gì nàng đã khấn hứa hoặc thệ nguyện đều trở thành vô hiệu lực, và CHÚA cũng sẽ bỏ qua cho nàng, bởi vì cha nàng không đồng ý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Nếu nàng lập gia đình và đang bị ràng buộc do những lời khấn hứa hoặc thệ nguyện lúc thiếu suy nghĩ đã vụt miệng thốt ra, 7 nếu chồng nàng nghe được và không nói gì, thì những gì nàng đã khấn hứa hoặc thệ nguyện đều có hiệu lực.  8 Nhưng nếu chồng nàng nghe được điều đó và tỏ ý không tán thành, thì ông đã vô hiệu hóa lời khấn hứa nàng đang bị ràng buộc, hoặc những lời thề nguyện thiếu suy nghĩ mà nàng đã buộc mình vào, và CHÚA cũng sẽ bỏ qua cho nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Nhưng một phụ nữ đã góa chồng hoặc đã ly dị mà thệ hứa điều gì, những gì nàng thệ hứa đều có hiệu lực.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Nếu một người phụ nữ đã có chồng, và đang khi sống trong nhà chồng, nàng khấn hứa hoặc thệ nguyện điều gì, 11 và nếu chồng nàng nghe được điều đó mà không nói gì với nàng và cũng không tỏ ý bất tán thành về những gì nàng đã thệ hứa, thì tất cả những gì nàng đã khấn hứa hoặc thệ nguyện đều có hiệu lực.  12 Nhưng nếu chồng nàng không tán thành và nhất định vô hiệu hóa những điều đó, thì những gì môi nàng đã khấn hứa hoặc những gì nàng đã thệ nguyện đều trở nên vô hiệu lực.  Chồng nàng đã vô hiệu hóa những lời thệ hứa đó, và CHÚA cũng sẽ bỏ qua cho nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Bất cứ lời khấn hứa nào của nàng nhằm hãm mình, chồng nàng đều có quyền để cho nó có hiệu lực hay có thể làm cho nó trở nên vô hiệu.  14 Nếu từ khi chồng nàng nghe nàng đã khấn hứa hoặc thệ nguyện điều gì mà một hai ngày trôi qua chồng nàng vẫn không nói gì về việc đó, thì như thế chồng nàng đã mặc nhiên nhìn nhận những lời khấn hứa hoặc thệ nguyện của nàng có hiệu lực.  Sự im lặng của chồng nàng khi nghe việc đó được xem như ông đã tán thành lời thệ hứa của nàng.  15 Nhưng nếu chồng nàng dù đã nghe nhưng để mãi về sau mới lên tiếng phản đối, hầu vô hiệu hóa những gì nàng đã thệ hứa, thì chồng nàng phải mang lấy tội bội hứa của nàng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Ðó là những luật lệ mà CHÚA đã truyền cho Môi-se liên quan đến người chồng và vợ người ấy, người cha và con gái người ấy khi nàng còn trẻ và còn sống trong nhà cha nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Lê-vi Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Dân Số Ký: Chương 29]]&lt;br /&gt;
:* [[Dân Số Ký: Chương 31]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35666</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35666"/>
		<updated>2026-04-07T17:44:03Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, ta kêu gọi trước hết hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, là một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này mà ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng, làm sứ đồ, và giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, 10. nhưng hãy thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hay tự mình cầm quyền trên một người đàn ông, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt rồi đi đến sự phạm tội. 15. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Kêu gọi cầu nguyện'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, trước hết, ta khuyên con nên nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta, là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. Ngài đã hiến chính mình Ngài để làm giá chuộc cho tất cả nhân loại - một sự xác nhận đúng thời điểm. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này ta đã được bổ nhiệm làm nhà truyền giảng, làm sứ đồ, làm giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp mọi nơi hãy đưa những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện - đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Hướng dẫn cho phụ nữ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. Tuy nhiên, ta không cho phép phụ nữ dạy, hoặc tự mình cầm quyền trên một người đàn ông, nhưng hãy yên lặng. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt và đi đến sự phạm tội. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, trước hết, ta kêu gọi hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người đang có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Vì điều này, ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng và sứ đồ  - Ta nói thật, không nói dối -  làm giáo sư cho các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người đàn ông ở khắp mọi nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng cách kết tóc, hay vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, 10. nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời, qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hay tự mình cầm quyền trên một người đàn ông, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt đi đến sự phạm tội. 15. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống trong đức tin, trong tình yêu thương, trong sự thánh khiết, và với sự tiết chế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, 2.  cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhân đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. 3.  Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, 4.  Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật. 5.  Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người; 6.  Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ 7.  (ta nói thật, không nói dối), vì lời chứng ấy, ta đã được cử làm thầy giảng, là sứ đồ và giáo sư cho dân ngoại, để dạy họ về đức tin và về lẽ thật. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vậy, ta muốn những người đàn ông đều giơ tay thánh sạch lên trời, mà cầu nguyện khắp mọi nơi, chớ có giận dữ và cãi cọ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Ta cũng muốn rằng những người đàn bà ăn mặc một cách gọn ghẽ, lấy nết na và đức hạnh giồi mình, không dùng những tóc gióc, vàng, châu ngọc và áo quần quí giá, 10.  nhưng dùng việc lành, theo lẽ đang nhiên của người đàn bà tin kính Chúa. 11.  Đàn bà phải yên lặng mà nghe dạy, lại phải vâng phục mọi đàng. 12.  Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ, cũng không được cầm quyền trên đàn ông; nhưng phải ở yên lặng. 13.  Vì A-đam được dựng nên trước nhất, rồi mới tới Ê-va. 14.  Lại không phải A-đam bị dỗ dành, bèn là người đàn bà bị dỗ dành mà sa vào tội lỗi. 15.  Dầu vậy, nếu đàn bà lấy đức hạnh mà bền đỗ trong đức tin, trong sự yêu thương, và trong sự nên thánh, thì sẽ nhân đẻ con mà được cứu rỗi. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cầu Nguyện cho Mọi Người'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vậy trước hết, ta khuyên con hãy cầu xin, khẩn nguyện, cầu thay, và cảm tạ cho mọi người, 2 cho các vua và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta có thể sống một đời bình tịnh và êm ả, trong nếp sống đạo vẹn toàn và đầy phẩm giá.  3 Ðây là điều tốt đẹp và vui lòng trước mặt Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của chúng ta; 4 Ngài muốn mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Vì chỉ có một Ðức Chúa Trời và một Ðấng Trung Gian giữa Ðức Chúa Trời và loài người, đó là Ðức Chúa Jesus Christ, một người, 6 Ðấng đã hiến chính Ngài làm giá chuộc mọi người, một sự kiện được xác chứng là đã xảy ra đúng thời điểm.  7 Vì sự kiện đó mà ta đã được bổ nhiệm làm giảng sư và sứ đồ –ta nói thật, chứ không nói dối– tức làm giáo sư để dạy các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nam Nữ Trong Hội Thánh Khi Nhóm Lại Thờ Phượng Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Vậy ta muốn quý ông hãy cầu nguyện ở mọi nơi, đưa đôi tay thánh sạch lên, đừng giận dữ và cãi nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Quý bà cũng vậy, hãy ăn mặc lịch sự, trang sức thanh nhã và giản dị, không bới những kiểu tóc cầu kỳ, không đeo vàng ngọc đắt giá, hoặc mặc những y phục đắt tiền, 10 nhưng làm những việc từ thiện, đó là những điều thích hợp với các phụ nữ xưng mình là người tin kính Ðức Chúa Trời.  11 Phụ nữ hãy học trong yên lặng và thuận phục hoàn toàn.  12 Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ hay cầm quyền trên đàn ông, nhưng phải yên lặng, 13 vì A-đam được dựng nên trước rồi mới đến Ê-va; 14 và không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người đàn bà bị lừa gạt và phạm tội.  15 Tuy vậy đàn bà sẽ được cứu qua việc sinh con, nếu họ cứ tiếp tục ở trong đức tin, tình yêu, và thánh khiết, với sự điềm đạm.       &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 1]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=B%C6%B0%E1%BB%9Bc_V%E1%BB%9Bi_Ch%C3%BAa_Y%C3%AAu_Th%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=35665</id>
		<title>Bước Với Chúa Yêu Thương</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=B%C6%B0%E1%BB%9Bc_V%E1%BB%9Bi_Ch%C3%BAa_Y%C3%AAu_Th%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=35665"/>
		<updated>2026-03-23T21:36:26Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: I'll Go with God&lt;br /&gt;
*Lời: John W. Peterson&lt;br /&gt;
*Nhạc: John W. Peterson&lt;br /&gt;
==Lời Anh==&lt;br /&gt;
:'''I'll Go with God'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:'''Verse 1'''&lt;br /&gt;
:Deep within my heart I hear a tender, loving call - &lt;br /&gt;
:'Tis a voice divine that speaks to me,  &lt;br /&gt;
:Bidding me to turn from sin and yield my very all, &lt;br /&gt;
:Walk the road of joy and victory.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:'''Chorus 1''' &lt;br /&gt;
:I'll go with God and leave the world behind,  &lt;br /&gt;
:I'll go with God -in Him all things I find,  &lt;br /&gt;
:I've made my choice, His will I must obey,  &lt;br /&gt;
:I'll go with God and walk the narrow way.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:'''Verse 2'''                &lt;br /&gt;
:All the foolish fading pleasures of the world seem vain &lt;br /&gt;
:Gone the charm that once they seemed to hold; &lt;br /&gt;
:Now I want to live for God and walk that higher plain, &lt;br /&gt;
:By the Holy Spirit be controlled.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:'''Verse 3''' &lt;br /&gt;
:Some day in a better land where burdens are laid down, &lt;br /&gt;
:I'll be thankful that He called my name,  &lt;br /&gt;
:Bade me follow on to win a mansion and a crown - &lt;br /&gt;
:Joyfully His name I will proclaim.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Bước Với Chúa Yêu Thương'''&lt;br /&gt;
:'''Lời Việt: [[Vĩnh Phúc]] (05/10/1982)'''&lt;br /&gt;
:1.	 Bước với Chúa yêu thương tôi đi muôn phương, không vương lo buồn&lt;br /&gt;
:Đường gập ghềnh nhưng chan hòa ánh chiêu dương&lt;br /&gt;
:Bước với Chúa yêu thương, tôi không cô đơn vui tươi trên đường&lt;br /&gt;
:Lòng nhẹ nhàng quăng xa mọi gánh sầu vương.&lt;br /&gt;
:'''Điệp Khúc:'''&lt;br /&gt;
:Được đi với Cha, khi mộng trần gian khuất xa&lt;br /&gt;
:Bước cùng với Cha, trong tình thắm thiết bao la&lt;br /&gt;
:Được đi với Cha, cho dù thời gian lướt qua&lt;br /&gt;
:Tôi luôn vui thỏa, sống trong yêu mến chan hòa.&lt;br /&gt;
:2.	Bước với Chúa yêu thương, khi sương đêm buông mênh mông trên đường&lt;br /&gt;
:Đời nhạt nhòa bên kia màn khói mây vương&lt;br /&gt;
:Núp bóng Chúa yêu thương, trong khi muôn phương phong ba điên cuồng&lt;br /&gt;
:Đời mờ dần sau muôn đợt sóng trùng dương.&lt;br /&gt;
:3.	Bước với Chúa yêu thương, tay trong tay luôn gian lao không sờn&lt;br /&gt;
:Vượt dặm trường men theo đường tới thiên cung&lt;br /&gt;
:Bước với Chúa yêu thương, tôi nghe lâng lâng vui trong tâm hồn&lt;br /&gt;
:Ngày lại ngày thêm sâu nhiệm Chúa nhiều hơn.&lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/mp3/798.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/beat/798.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/sheet/798.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Giám Lý]] - Bài số 153&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Hoa Kỳ]] - Bài số 156&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Baptist]] - Bài số 328&lt;br /&gt;
* Tuyển Tập Thánh Ca Chép Tay của Nhạc sĩ Vĩnh Phúc.&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] - Thư Viện Tin Lành&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=B%C6%B0%E1%BB%9Bc_V%E1%BB%9Bi_Ch%C3%BAa_Y%C3%AAu_Th%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=35664</id>
		<title>Bước Với Chúa Yêu Thương</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=B%C6%B0%E1%BB%9Bc_V%E1%BB%9Bi_Ch%C3%BAa_Y%C3%AAu_Th%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=35664"/>
		<updated>2026-03-23T21:29:07Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: I'll Go with God&lt;br /&gt;
*Lời: John W. Peterson&lt;br /&gt;
*Nhạc: John W. Peterson&lt;br /&gt;
==Lời Anh==&lt;br /&gt;
:'''I'll Go with God'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:'''Verse 1'''&lt;br /&gt;
:Deep within my heart I hear a tender, loving call - &lt;br /&gt;
:'Tis a voice divine that speaks to me,  &lt;br /&gt;
:Bidding me to turn from sin and yield my very all, &lt;br /&gt;
:Walk the road of joy and victory.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:'''Chorus 1''' &lt;br /&gt;
:I'll go with God and leave the world behind,  &lt;br /&gt;
:I'll go with God -in Him all things I find,  &lt;br /&gt;
:I've made my choice, His will I must obey,  &lt;br /&gt;
:I'll go with God and walk the narrow way.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:'''Verse 2'''                &lt;br /&gt;
:All the foolish fading pleasures of the world seem vain &lt;br /&gt;
:Gone the charm that once they seemed to hold; &lt;br /&gt;
:Now I want to live for God and walk that higher plain, &lt;br /&gt;
:By the Holy Spirit be controlled.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:'''Verse 3''' &lt;br /&gt;
:Some day in a better land where burdens are laid down, &lt;br /&gt;
:I'll be thankful that He called my name,  &lt;br /&gt;
:Bade me follow on to win a mansion and a crown - &lt;br /&gt;
:Joyfully his name I will proclaim.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Bước Với Chúa Yêu Thương'''&lt;br /&gt;
:'''Lời Việt: [[Vĩnh Phúc]] (05/10/1982)'''&lt;br /&gt;
:1.	 Bước với Chúa yêu thương tôi đi muôn phương, không vương lo buồn&lt;br /&gt;
:Đường gập ghềnh nhưng chan hòa ánh chiêu dương&lt;br /&gt;
:Bước với Chúa yêu thương, tôi không cô đơn vui tươi trên đường&lt;br /&gt;
:Lòng nhẹ nhàng quăng xa mọi gánh sầu vương.&lt;br /&gt;
:'''Điệp Khúc:'''&lt;br /&gt;
:Được đi với Cha, khi mộng trần gian khuất xa&lt;br /&gt;
:Bước cùng với Cha, trong tình thắm thiết bao la&lt;br /&gt;
:Được đi với Cha, cho dù thời gian lướt qua&lt;br /&gt;
:Tôi luôn vui thỏa, sống trong yêu mến chan hòa.&lt;br /&gt;
:2.	Bước với Chúa yêu thương, khi sương đêm buông mênh mông trên đường&lt;br /&gt;
:Đời nhạt nhòa bên kia màn khói mây vương&lt;br /&gt;
:Núp bóng Chúa yêu thương, trong khi muôn phương phong ba điên cuồng&lt;br /&gt;
:Đời mờ dần sau muôn đợt sóng trùng dương.&lt;br /&gt;
:3.	Bước với Chúa yêu thương, tay trong tay luôn gian lao không sờn&lt;br /&gt;
:Vượt dặm trường men theo đường tới thiên cung&lt;br /&gt;
:Bước với Chúa yêu thương, tôi nghe lâng lâng vui trong tâm hồn&lt;br /&gt;
:Ngày lại ngày thêm sâu nhiệm Chúa nhiều hơn.&lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/mp3/798.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/beat/798.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/sheet/798.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Giám Lý]] - Bài số 153&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Hoa Kỳ]] - Bài số 156&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Baptist]] - Bài số 328&lt;br /&gt;
* Tuyển Tập Thánh Ca Chép Tay của Nhạc sĩ Vĩnh Phúc.&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] - Thư Viện Tin Lành&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ga-la-ti:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35663</id>
		<title>Ga-la-ti: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ga-la-ti:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35663"/>
		<updated>2026-03-04T02:05:58Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Hỡi những người Ga-la-ti khờ dại kia! Ai đã mê hoặc anh em là những người mà việc Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá đã được giải bày tỏ tường trước mắt? 2. Đây là điều duy nhất tôi muốn tìm hiểu từ anh em: Anh em đã nhận Đức Thánh Linh là nhờ vào công việc của luật pháp hay là bởi nghe và tin? 3. Tại sao anh em khờ dại như vậy? Anh em đã bắt đầu với Đức Thánh Linh, bây giờ lại hoàn tất bằng xác thịt? 4. Anh em đã chịu khổ nhọc quá nhiều để rồi chẳng được gì, nếu vậy có phải chỉ là vô ích hay không? 5. Có phải Đấng đã ban Đức Thánh Linh và làm nhiều việc phi thường ở giữa anh em, là do anh em làm theo luật pháp, hay là bởi nghe và tin?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Bởi vì chính Áp-ra-ham “tin Đức Chúa Trời, và ông được kể là công chính.” 7. Như vậy hãy biết rằng những ai có đức tin, thì những người đó là con cháu của Áp-ra-ham.  8. Hơn nữa Kinh Thánh đã báo trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng công chính cho dân ngoại bởi đức tin, cho nên Ngài đã báo trước tin mừng cho Áp-ra-ham: “Mọi dân tộc sẽ nhờ ngươi mà được phước.” 9. Vì vậy, những người nào tin thì được hưởng phước cùng với Áp-ra-ham - là người có lòng tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Còn những ai lệ thuộc vào công việc của luật pháp thì bị nguyền rủa; bởi vì có lời chép: “Người nào không tiếp tục tuân giữ tất cả những điều phải làm đã được chép trong sách luật pháp sẽ bị nguyền rủa.” 11. Bây giờ, không một ai nhờ luật pháp mà được xưng công chính trước mặt Đức Chúa Trời; bởi vì “người công chính sẽ sống bởi đức tin.” 12. Hơn nữa, luật pháp không phải là đức tin; nhưng mà: “ai thực hiện những điều này thì sẽ nhờ đó mà sống.” 13. Đấng Christ đã cứu chuộc chúng ta khỏi sự nguyền rủa của luật pháp, và trở thành sự nguyền rủa vì chúng ta — bởi vì có lời chép rằng: “Đáng rủa thay cho kẻ bị treo trên cây gỗ” — 14. để các dân ngoại có thể nhận phước hạnh của Áp-ra-ham qua Đức Chúa Jesus Christ, và để bởi đức tin chúng ta nhận lãnh Ðức Thánh Linh của lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Thưa anh em! Tôi nói theo cách của loài người: Khi một giao ước - dù là của con người - đã được phê chuẩn, thì không một ai được quyền bỏ qua hay thêm bớt. 16. Hơn nữa, về những lời hứa đã truyền cho Áp-ra-ham và hậu tự của ông, Ngài không nói: “Và cho những hậu tự” như dành cho nhiều người, nhưng nói: “Và cho hậu tự của con”, như chỉ về một người, đó là Đấng Christ. 17. Ðiều tôi muốn nói là thế nầy: Giao ước đã được Đức Chúa Trời xác lập từ trước, sau đó bốn trăm ba mươi năm luật pháp mới có, cho nên không thể hủy bỏ cũng như vô hiệu hóa lời hứa được. 18. Bởi vì nếu nhờ luật pháp mà được thừa kế thì không phải là bởi lời hứa nữa – tuy nhiên Đức Chúa Trời đã ban điều đó cho Áp-ra-ham qua lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Như vậy tại sao có luật pháp? Nó đã được thêm vào là bởi vì tội lỗi. Luật pháp được các thiên thần công bố, qua một người trung gian cho đến khi nào hậu tự, là Đấng mà lời hứa được thiết lập, đến.  20. Người trung gian thì không phải là Đấng đó, nhưng Đức Chúa Trời chỉ có một.  21. Như vậy, luật pháp mâu thuẫn với những lời hứa của Đức Chúa Trời hay sao? Không hề như vậy! Bởi vì nếu luật pháp được ban ra để có thể đem lại sự sống, thì sự công chính phải hiển lộ từ luật pháp; 22. tuy nhiên theo Kinh Thánh, mọi vật đều bị giam cầm dưới tội lỗi; để lời hứa, qua đức tin trong Đức Chúa Jesus Christ, được ban cho những người tin. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Trước khi đức tin đến, chúng ta bị giam giữ và bị cầm tù ở dưới luật pháp, cho đến khi đức tin được bày tỏ. 24. Như vậy, luật pháp là người hướng dẫn chúng ta đến với Đấng Christ, để bởi đức tin chúng ta được xưng công chính. 25. Tuy nhiên, khi đức tin đã đến, chúng ta không còn ở dưới quyền của người hướng dẫn nữa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Thật vậy, tất cả anh chị em đều là con của Đức Chúa Trời nhờ đức tin trong Đấng Christ Jesus. 27. Anh chị em - những người đã được báp-têm trong Đấng Christ - đang mặc lấy Đấng Christ. 28. Không phân biệt người Do Thái hay người Hy Lạp; không phân biệt nô lệ hay tự do, không phân biệt nam hay nữ, bởi vì tất cả anh chị em đều là một trong Đấng Christ Jesus. 29. Nếu anh chị em thuộc về Đấng Christ, anh chị em là hậu tự của Áp-ra-ham, là những người thừa kế theo lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Luật pháp và đức tin'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hỡi những người Ga-la-ti khờ dại kia! Ai đã mê hoặc anh em - là những người mà việc Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá đã được giải bày tỏ tường trước mắt? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Điều duy nhất tôi mà muốn biết từ anh em đó là anh em đã nhận Đức Thánh Linh là nhờ vào công việc của luật pháp hay là bởi nghe và tin? Tại sao anh em khờ dại như vậy? Anh em đã bắt đầu với Đức Thánh Linh, sao bây giờ lại hoàn tất bằng xác thịt? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh em đã chịu khổ nhọc quá nhiều để rồi chẳng được gì, nếu vậy có phải chỉ là vô ích hay không? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có phải Đấng đã ban Đức Thánh Linh và làm nhiều việc phi thường ở giữa anh em, là do anh em làm theo luật pháp, hay là bởi nghe và tin? Bởi vì chính Áp-ra-ham “tin Đức Chúa Trời, và ông được kể là công chính.” Như vậy hãy biết rằng những ai có đức tin, thì những người đó là con cháu của Áp-ra-ham.  Hơn nữa Kinh Thánh đã nói trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng công chính cho dân ngoại bởi đức tin, cho nên Ngài đã báo trước tin mừng cho Áp-ra-ham rằng: “Mọi dân tộc sẽ nhờ ngươi mà được phước.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, những người nào tin thì được hưởng phước cùng với Áp-ra-ham - là người có lòng tin. Còn những ai lệ thuộc vào công việc của luật pháp thì bị nguyền rủa, bởi vì có lời chép: “Người nào không tiếp tục tuân giữ tất cả những điều phải làm đã được chép trong sách luật pháp, sẽ bị nguyền rủa.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ðấng Christ cứu chuộc chúng ta'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bây giờ, không một ai nhờ luật pháp mà được xưng công chính trước mặt Đức Chúa Trời, bởi vì “người công chính sẽ sống bởi đức tin.” Hơn nữa, luật pháp không phải là đức tin, nhưng mà: “ai thực hiện những điều này thì sẽ nhờ đó mà sống.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đấng Christ đã trở thành sự nguyền rủa vì chúng ta — bởi vì có lời chép rằng: “Đáng rủa thay cho kẻ bị treo trên cây gỗ”.  Ngài cứu chuộc chúng ta khỏi sự nguyền rủa của luật pháp, để các dân ngoại có thể nhận phước hạnh của Áp-ra-ham qua Đức Chúa Jesus Christ, và để chúng ta bởi đức tin nhận lãnh Ðức Thánh Linh của lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Luật pháp và lời hứa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thưa anh em! Tôi nói theo cách của loài người: Khi một giao ước - dù là của con người - đã được phê chuẩn, thì không một ai được quyền bỏ qua hay thêm bớt. Hơn nữa, trong những lời hứa đã truyền cho Áp-ra-ham và hậu tự của ông, Ngài không nói: “Và cho những hậu tự” như dành cho nhiều người, nhưng nói: “Và cho hậu tự của con”, như chỉ về một người, đó là Đấng Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðiều tôi muốn nói là thế nầy: Luật pháp, là điều đến sau bốn trăm ba mươi năm, không thể nào hủy bỏ giao ước mà Đức Chúa Trời đã kết lập từ trước cũng như vô hiệu hóa lời hứa được. Bởi vì nếu nhờ luật pháp mà được thừa kế thì không phải là bởi lời hứa; tuy nhiên Đức Chúa Trời đã ban điều đó cho Áp-ra-ham qua lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Mục đích của luật pháp'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy tại sao lại có luật pháp? Luật pháp đã được thêm vào là vì tội lỗi. Luật pháp được các thiên thần công bố, qua một người trung gian cho đến khi nào hậu tự, là Đấng mà lời hứa được thiết lập, đến. Người trung gian thì không phải là Đấng đó, nhưng Đức Chúa Trời chỉ có một.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, luật pháp mâu thuẫn với những lời hứa của Đức Chúa Trời hay sao? Không hề như vậy! Bởi vì nếu luật pháp được ban ra để có thể đem lại sự sống, thì sự công chính phải hiển lộ từ luật pháp; tuy nhiên theo Kinh Thánh, mọi vật đều bị giam cầm dưới tội lỗi; để lời hứa, qua đức tin trong Đức Chúa Jesus Christ, được ban cho những người tin. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước khi đức tin đến, chúng ta bị giam giữ và bị cầm tù ở dưới luật pháp, cho đến khi đức tin được bày tỏ. Như vậy, luật pháp là người hướng dẫn chúng ta đến với Đấng Christ, để bởi đức tin chúng ta được xưng công chính. Tuy nhiên, khi đức tin đã đến, chúng ta không còn ở dưới quyền của người hướng dẫn nữa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, tất cả anh chị em đều là con của Đức Chúa Trời nhờ đức tin trong Đấng Christ Jesus. Anh chị em - những người đã được báp-têm trong Đấng Christ - đang mặc lấy Đấng Christ. Không phân biệt là người Do Thái hay người Hy Lạp; không phân biệt là nô lệ hay tự do, không phân biệt là nam hay nữ, bởi vì tất cả anh chị em đều là một trong Đấng Christ Jesus. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu anh chị em thuộc về Đấng Christ, anh chị em là hậu tự của Áp-ra-ham, là những người thừa kế theo lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Hỡi những người Ga-la-ti khờ dại kia! Ai đã mê hoặc anh em - là những người mà việc Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá đã được trình bày tỏ tường trước mắt? 2. Đây là điều duy nhất tôi muốn tìm hiểu từ anh em: Anh em đã nhận Đức Thánh Linh là nhờ vào công việc của luật pháp hay là bởi nghe và tin? 3. Tại sao anh em khờ dại như vậy? Anh em đã bắt đầu với Đức Thánh Linh, bây giờ lại hoàn tất bằng xác thịt? 4. Anh em đã chịu khổ nhọc quá nhiều để rồi chẳng được gì, nếu vậy có phải chỉ là vô ích hay không? 5. Có phải Đấng đã ban Đức Thánh Linh và làm nhiều việc phi thường ở giữa anh em, là do anh em làm theo luật pháp, hay là bởi nghe và tin?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Bởi vì chính Áp-ra-ham “tin Đức Chúa Trời, và ông được kể là công chính.” 7. Như vậy hãy biết rằng những ai có đức tin, thì những người đó là con cháu của Áp-ra-ham.  8. Hơn nữa Kinh Thánh đã báo trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng công chính cho dân ngoại bởi đức tin, cho nên Ngài đã báo trước tin mừng cho Áp-ra-ham: “Mọi dân tộc sẽ nhờ ngươi mà được phước.” 9. Vì vậy, những người nào tin thì được hưởng phước cùng với Áp-ra-ham - là người có lòng tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Còn những ai lệ thuộc vào công việc của luật pháp thì bị nguyền rủa; bởi vì có lời chép: “Người nào không tiếp tục tuân giữ tất cả những điều phải làm đã được chép trong sách luật pháp sẽ bị nguyền rủa.” 11. Bây giờ, không một ai nhờ luật pháp mà được xưng công chính trước mặt Đức Chúa Trời; bởi vì “người công chính sẽ sống bởi đức tin.” 12. Hơn nữa, luật pháp không phải là đức tin; nhưng mà: “ai thực hiện những điều này thì sẽ nhờ đó mà sống.” 13. Đấng Christ đã cứu chuộc chúng ta khỏi sự nguyền rủa của luật pháp, và trở thành sự nguyền rủa vì chúng ta — bởi vì có lời chép rằng: “Đáng rủa thay cho kẻ bị treo trên cây gỗ” — 14. để các dân ngoại có thể nhận phước hạnh của Áp-ra-ham qua Đức Chúa Jesus Christ, để bởi đức tin chúng ta nhận lãnh Ðức Thánh Linh của lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Thưa anh em! Tôi nói theo cách của loài người: Khi một giao ước, dù là của con người, đã được phê chuẩn, thì không một ai được quyền bỏ qua hay thêm bớt. 16. Hơn nữa, về những lời hứa đã truyền cho Áp-ra-ham và hậu tự của ông, Ngài không nói: “Và cho những hậu tự” như dành cho nhiều người, nhưng nói: “Và cho hậu tự của con”, như chỉ về một người, đó là Đấng Christ. 17. Ðiều tôi muốn nói là thế nầy: Giao ước đã được Đức Chúa Trời xác lập từ trước, và sau đó bốn trăm ba mươi năm luật pháp mới có, cho nên không thể hủy bỏ, cũng như vô hiệu hóa lời hứa được. 18. Bởi vì nếu nhờ luật pháp mà được thừa kế thì không phải là bởi lời hứa nữa – tuy nhiên Đức Chúa Trời đã ban điều đó cho Áp-ra-ham qua lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Như vậy tại sao có luật pháp? Nó đã được thêm vào bởi vì tội lỗi. Luật pháp được các thiên thần công bố, qua một người trung gian cho đến khi nào hậu tự, là Đấng mà lời hứa được thiết lập, đến.  20. Người trung gian thì không phải là Đấng đó, nhưng Đức Chúa Trời chỉ có một.  21. Như vậy, luật pháp mâu thuẫn với những lời hứa của Đức Chúa Trời hay sao? Không hề như vậy! Bởi vì nếu luật pháp được ban ra để có thể đem lại sự sống, thì sự công chính phải hiển lộ từ luật pháp; 22. tuy nhiên theo Kinh Thánh, mọi vật đều bị giam cầm dưới tội lỗi; để lời hứa, qua đức tin trong Đức Chúa Jesus Christ, được ban cho những người tin.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Trước khi đức tin đến, chúng ta bị giam giữ và bị cầm tù ở dưới luật pháp, cho đến khi đức tin được bày tỏ. 24. Như vậy, luật pháp là người hướng dẫn chúng ta đến với Đấng Christ, để bởi đức tin chúng ta được xưng công chính. 25. Tuy nhiên, khi đức tin đã đến, chúng ta không còn ở dưới quyền của người hướng dẫn nữa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Thật vậy, tất cả anh chị em đều là con của Đức Chúa Trời nhờ đức tin trong Đấng Christ Jesus. 27. Anh chị em - những người đã được báp-têm trong Đấng Christ - đang mặc lấy Đấng Christ. 28. Không phân biệt người Do Thái hay người Hy Lạp; không phân biệt nô lệ hay tự do, không phân biệt nam hay nữ, bởi vì tất cả anh chị em đều là một trong Đấng Christ Jesus. 29. Nếu anh chị em thuộc về Đấng Christ, anh chị em là hậu tự của Áp-ra-ham, là những người thừa kế theo lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Hỡi người Ga-la-ti ngu muội kia, ai bùa ếm anh em là người mà trước mắt đã được rõ bày ra Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá? 2.  Tôi chỉ hỏi anh em một câu nầy: Ấy là cậy các việc luật pháp hay là bởi nghe và tin mà anh em đã nhận được Đức Thánh Linh? 3.  Sao anh em ngu muội dường ấy? Sau khi đã khởi sự nhờ Đức Thánh Linh, nay sao lại cậy xác thịt mà làm cho trọn? 4.  Anh em há luống công mà chịu sự khốn khó dường ấy sao? nếu quả là luống công! 5.  Đấng ban Đức Thánh Linh cho anh em và làm các phép lạ trong anh em, thì làm bởi các việc luật pháp, hay là bởi đã nghe mà tin? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Như Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, thì đã kể là công bình cho người, 7.  vậy anh em hãy nhận biết rằng những kẻ có đức tin là con cháu thật của Áp-ra-ham. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Kinh Thánh cũng biết trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng dân ngoại là công bình bởi đức tin, nên đã rao truyền trước cho Áp-ra-ham tin lành nầy: Các dân sẽ nhờ ngươi mà được phước. 9.  Ấy vậy, ai tin thì nấy được phước với Áp-ra-ham, là người có lòng tin. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Vì mọi kẻ cậy các việc luật pháp, thì bị rủa sả, bởi có chép rằng: Đáng rủa thay là kẻ không bền đỗ trong mọi sự đã chép ở sách luật, đặng làm theo những sự ấy! 11.  Vả lại chẳng hề có ai cậy luật pháp mà được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời, điều đó là rõ ràng lắm, vì người công bình sẽ sống bởi đức tin. 12.  Vả, luật pháp vốn không phải đồng một thứ với đức tin, nhưng luật pháp có chép rằng: Người nào vâng giữ các điều răn thì sẽ nhờ đó mà sống. 13.  Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta, vì có lời chép: Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ, 14.  hầu cho phước lành ban cho Áp-ra-ham nhờ Đức Chúa Jêsus Christ mà được rải khắp trên dân ngoại, lại hầu cho chúng ta cậy đức tin mà nhận lãnh Đức Thánh Linh đã hứa cho. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15.  Hỡi Anh em, tôi nói theo thói quen người ta rằng: Khi một người đã làm tờ giao ước thành rồi, thì không ai có phép được xóa đi hay thêm vào sự gì. 16.  Vả, các lời hứa đã được phán cho Áp-ra-ham và cho dòng dõi người. không nói: Và cho các dòng dõi người, như chỉ về nhiều người; nhưng nói: Và cho dòng dõi ngươi, như chỉ về một người mà thôi, tức là Đấng Christ. 17.  Vậy thì tôi nói rằng: Lời giao ước mà Đức Chúa Trời trước kia đã kết lập thành rồi, thì không có thể bị hủy đi, và lời hứa cũng không có thể bị bỏ đi bởi luật pháp, là sự cách sau bốn trăm ba mươi năm mới có. 18.  Vì, nếu cơ nghiệp được ban cho bởi luật pháp, thì không bởi lời hứa nữa. Nhưng Đức Chúa Trời đã dùng lời hứa mà ban cơ nghiệp cho Áp-ra-ham. 19.  Vậy thì làm sao có luật pháp? luật pháp đã đặt thêm, vì cớ những sự phạm phép, cho tới chừng nào người dòng dõi đến, là người mà lời hứa đã hứa cho; luật pháp được ban ra bởi mấy thiên sứ và truyền ra bởi một người trung bảo. 20.  Vả, người trung bảo chẳng phải là người trung bảo về một bề mà thôi, nhưng Đức Chúa Trời chỉ có một. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Vậy thì luật pháp nghịch cùng lời hứa của Đức Chúa Trời hay sao? chẳng hề như vậy; vì nếu đã ban cho một luật pháp có thể làm cho sống, thì sự công bình chắc bởi luật pháp mà đến. 22.  Nhưng Kinh Thánh đã nhốt hết thảy mọi sự dưới tội lỗi, hầu cho điều chi đã hứa, bởi đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ mà được ban cho những kẻ tin. 23.  Trước khi đức tin chưa đến, chúng ta bị nhốt dưới sự canh giữ của luật pháp mà chờ đức tin phải bày ra. 24.  Ấy vậy, luật pháp đã như thầy giáo đặng dẫn chúng ta đến Đấng Christ, hầu cho chúng ta bởi đức tin mà được xưng công bình. 25.  Song khi đức tin đã đến, chúng ta không còn phục dưới thầy giáo ấy nữa. 26.  Vì chưng anh em bởi tin Đức Chúa Jêsus Christ, nên hết thảy đều là con trai của Đức Chúa Trời. 27.  Vả, anh em thảy đều chịu phép báp tem trong Đấng Christ, đều mặc lấy Đấng Christ vậy. 28.  Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn đàn ông hoặc đàn bà; vì trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em thảy đều làm một. 29.  Lại nếu anh em thuộc về Đấng Christ, thì anh em là dòng dõi của Áp-ra-ham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B48\V02B48C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Luật Pháp và Ðức tin'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Hỡi những người Ga-la-ti khờ khạo kia!  Ai đã mê hoặc anh chị em, những người đã được trình bày rõ ràng trước mắt rằng Ðức Chúa Jesus Christ đã chịu đóng đinh trên thập tự giá?  2 Ðiều duy nhất tôi muốn tìm hiểu từ anh chị em là anh chị em đã nhận lãnh Ðức Thánh Linh nhờ làm theo các việc của Luật Pháp hay nhờ tin vào những điều đã nghe giảng dạy?  3 Sao anh chị em lại khờ khạo đến thế!  Sau khi đã bắt đầu với Ðức Thánh Linh rồi, sao bây giờ lại nhờ cậy xác thịt để mong cho được trọn vẹn?  4 Anh chị em đã trải qua nhiều gian khổ để chẳng được gì sao?  Nếu quả thật là chẳng được gì.  5 Vậy có phải Ðấng đã ban Ðức Thánh Linh cho anh chị em và thực hiện những việc quyền năng giữa anh chị em vì anh chị em đã vâng giữ các việc của Luật Pháp hay vì đã tin vào những điều nghe giảng dạy?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Giống như Áp-ra-ham, ông tin Ðức Chúa Trời, nên ông được kể là công chính.  7 Vậy anh chị em hãy biết rằng, hễ ai có đức tin thì người ấy là con cháu của Áp-ra-ham.  8 Kinh Thánh đã thấy trước rằng Ðức Chúa Trời sẽ cho muôn dân được xưng công chính bởi đức tin, nên đã báo Tin Mừng trước cho Áp-ra-ham,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Mọi dân tộc sẽ nhờ ngươi mà được phước.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Vậy hễ ai có đức tin thì người ấy sẽ được phước với Áp-ra-ham, là người có đức tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Vì tất cả những ai nhờ cậy vào các việc làm theo Luật Pháp đều bị nguyền rủa, bởi có lời chép rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ðáng nguyền rủa thay là những kẻ không vâng giữ  mọi điều đã chép trong sách Luật Pháp để làm theo.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Thật là rõ ràng rằng không ai nhờ Luật Pháp mà được xưng công chính trước mặt Ðức Chúa Trời, vì&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Người công chính sẽ sống bởi đức tin.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Luật Pháp không đặt nền tảng trên đức tin, ngược lại,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ai làm theo những điều này sẽ nhờ đó mà sống.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Ðấng Christ đã cứu chuộc chúng ta ra khỏi sự nguyền rủa của Luật Pháp bằng cách trở thành người gánh chịu sự nguyền rủa đó thay cho chúng ta, như có chép rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ðáng nguyền rủa thay cho kẻ bị treo trên cây gỗ.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Nhờ thế các phước hạnh dành cho Áp-ra-ham có thể đến với muôn dân trong Ðức Chúa Jesus Christ, để bởi đức tin chúng ta có thể nhận được Ðức Thánh Linh như đã hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Luật Pháp và Lời hứa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Thưa anh chị em, tôi nói theo cách của loài người rằng, dù là giao ước giữa người với người, một khi giao ước đã được ký kết xong, không ai được quyền tự ý loại bỏ hay thêm bớt điều gì.  16 Về các lời hứa đã hứa với Áp-ra-ham và với dòng dõi ông thì không nói “cho các con cháu ngươi” như cho nhiều người, nhưng nói “cho con ngươi” như chỉ cho một người, và người đó chính là Ðấng Christ.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Ðiều tôi muốn nói là thế này: Luật Pháp bốn trăm ba mươi năm sau mới đến không có quyền hủy bỏ giao ước đã được Ðức Chúa Trời phê chuẩn từ trước, mà làm cho lời hứa bị vô hiệu hóa.  18 Vì nếu sự thừa hưởng cơ nghiệp căn cứ vào Luật Pháp thì không còn căn cứ vào lời hứa; nhưng Ðức Chúa Trời đã ban cơ nghiệp cho Áp-ra-ham dựa trên lời hứa kia mà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Mục Ðích của Luật Pháp'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Vậy thì Luật Pháp để làm gì?  Luật Pháp được thêm vào sau này để người ta hiểu thế nào là phạm tội.  Luật Pháp tồn tại cho đến khi Con của lời hứa đến, đó là Người mà lời hứa đã hứa.  Luật Pháp đã được các thiên sứ truyền xuống cho dân qua trung gian của một người.  20 Vả, người trung gian hàm ý không chỉ có một bên, nhưng Ðức Chúa Trời là Ðấng chỉ có một. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Như thế Luật Pháp nghịch lại với lời hứa của Ðức Chúa Trời chăng?  Chẳng hề như vậy!  Vì nếu Luật Pháp được ban cho có thể mang đến sự sống, thì sự công chính phải đến từ Luật Pháp.  22 Nhưng Kinh Thánh đã nhốt mọi người dưới quyền lực của tội lỗi, để những gì đã hứa qua đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ có thể ban cho những người có lòng tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Nhưng trước khi đức tin đến, chúng ta đều bị nhốt và bị canh giữ dưới quyền lực của Luật Pháp, chờ đến khi đức tin xuất hiện.  24 Vì thế Luật Pháp đã trở thành người giám hộ của chúng ta cho đến khi Ðấng Christ đến, để khi ấy nhờ đức tin chúng ta có thể được xưng công chính.  25 Khi đức tin đến rồi, chúng ta không còn ở dưới quyền của người giám hộ nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Vì bởi đức tin trong Ðức Chúa Jesus Christ, tất cả anh chị em là con cái của Ðức Chúa Trời.  27 Vì hễ ai đã được báp-têm vào trong Ðấng Christ đều được mặc lấy Ðấng Christ.  28 Không còn phân biệt chủng tộc Do-thái hay Hy-lạp, không còn phân biệt giai cấp nô lệ hay tự do, không còn phân biệt phái tính nam hay nữ, vì tất cả anh chị em đều là một trong Ðức Chúa Jesus Christ.  29 Và nếu anh chị em thuộc về Ðấng Christ, anh chị em là dòng dõi của Áp-ra-ham, những người thừa kế theo lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B48\V01B48C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[II Cô-rinh-tô]]&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti]]&lt;br /&gt;
:* [[Ê-phê-sô]]&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti: Chương 2]]&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti: Chương 4]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=V%C4%A9nh_Ph%C3%BAc&amp;diff=35662</id>
		<title>Vĩnh Phúc</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=V%C4%A9nh_Ph%C3%BAc&amp;diff=35662"/>
		<updated>2026-03-03T21:42:49Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&lt;br /&gt;
==Vài Nét Về Tiểu Sử==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Vĩnh Phúc: Thánh Ca Việt Nam==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Tựa đề'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
#[[Bài Ca Marie]]&lt;br /&gt;
#Bài Ca Ma-ry&lt;br /&gt;
#Chèo Ra Khơi&lt;br /&gt;
#Chiều Mưa&lt;br /&gt;
#[[Chúa Hòa Bình]]&lt;br /&gt;
#Đêm Buồn&lt;br /&gt;
#Jêsus&lt;br /&gt;
#Khúc Nhạc Nô-ên&lt;br /&gt;
#[[Lời Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Lời Tạ Ơn Con Dâng Lên Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Nhớ Chúa Hy Sinh Vì Tôi]]&lt;br /&gt;
#Rồi Ngày Sẽ Trôi Qua&lt;br /&gt;
#[[Tâm Sự Người Mù]]&lt;br /&gt;
#Về Đây Hỡi Chiên Xa Bầy&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Lời'''&lt;br /&gt;
*Lu-ca 1:46-55, [[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*Lu-ca 1:46-55, [[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Lưu Văn Tường]] - Vĩnh Phúc&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nhạc'''&lt;br /&gt;
*Anh Thư - Tuấn Nhã (1976)&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng (1976)&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
*Vũ Đức Nghiêm&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
*Vũ Đức Nghiêm&lt;br /&gt;
*Vũ Đức Nghiêm&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Vĩnh Phúc: Thánh Ca Lời Việt==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Tựa đề'''&lt;br /&gt;
#Ánh Sáng&lt;br /&gt;
#[[Ánh Sáng Giữa Bóng Tối Trần Gian]]&lt;br /&gt;
#[[Ánh Sáng Tuyệt Vời]]&lt;br /&gt;
#[[Ba Vua Hành Khúc]]&lt;br /&gt;
#[[Bài Ca Cảm Tạ]]&lt;br /&gt;
#[[Bài Ca Mới: Hallelujah]]&lt;br /&gt;
#[[Bài Hát Trong Đêm]]&lt;br /&gt;
#[[Bàn Tay Mang Dấu Đinh]]&lt;br /&gt;
#[[Bạn Dành Chỗ Cho Jêsus Chưa?]]&lt;br /&gt;
#[[Bạn Hãy Vui Lên]]&lt;br /&gt;
#[[Bạn Mỉm Cười Đi]]&lt;br /&gt;
#[[Bầu Trời Bày Tỏ Quyền Năng Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Bên Chúa Nhân Hiền]]&lt;br /&gt;
#[[Bên Dòng Nước Êm Đềm]]&lt;br /&gt;
#[[Bên Tôi Là Chúa Jêsus]]&lt;br /&gt;
#[[Bình An Bên Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Bình An Trên Trái Đất]]&lt;br /&gt;
#[[Bình An Trong Đêm]]&lt;br /&gt;
#[[Bình An Trong Thung Lũng]]&lt;br /&gt;
#[[Bình Minh]]&lt;br /&gt;
#[[Bình Minh Đã Đến]]&lt;br /&gt;
#[[Bọn Chăn Chiên Trong Đêm Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Bóng Mờ Sẽ Bay Đi ... Không Còn!]]&lt;br /&gt;
#[[Bóng Tối Sẽ Qua Khi Bình Minh Đến]]&lt;br /&gt;
#[[Bốn Phương Một Nhà]]&lt;br /&gt;
#[[Bước Gần Chúa Hơn]]&lt;br /&gt;
#[[Bước Trong Đường Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Bước Với Chúa Yêu Thương]]&lt;br /&gt;
#[[Ca Chúc Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#Ca Mừng Chúa Giáng Sinh&lt;br /&gt;
#[[Ca Hát, Mỉm Cười Và Cầu Nguyện]]&lt;br /&gt;
#[[Ca Ngợi Đấng Cứu Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Ca Ngợi Chúa Trong Mùa Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Ca Ngợi Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Các Con Đừng Lo Buồn]]&lt;br /&gt;
#[[Cảm Ơn Bạn]]&lt;br /&gt;
#[[Câu Chuyện Đời Tôi]]&lt;br /&gt;
#Câu Chuyện Về Hài Nhi&lt;br /&gt;
#[[Em-ma-nu-ên Xin Hãy Đến | Cầu Xin Emmanuel Viếng Thăm Dân Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Chẳng Ai Cảm Thông Nỗi Buồn Trong Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Chặng Đường Gô-gô-tha]]&lt;br /&gt;
#[[Chỉ Có Jêsus]]&lt;br /&gt;
#Chiêm Ngưỡng Chiên Con&lt;br /&gt;
#[[Chính Jêsus | Chính Jêsus!]] &lt;br /&gt;
#[[Chúa Biết Tôi Yêu Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Đã Tới]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Đang Mong Chờ]]&lt;br /&gt;
#Chúa Đấng Tôi Tôn Thờ&lt;br /&gt;
#[[Chúa Hiểu Thấu Vô Cùng]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Jesus Đang Sống]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Jesus Là Cứu Chúa]]&lt;br /&gt;
#Chúa Jesus, Món Quà Tuyệt Vời&lt;br /&gt;
#Chúa Jesus Sẽ Trị Vì&lt;br /&gt;
#[[Chúa Jesus Sẽ Trở Lại]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Là Đấng Thánh]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Là Mọi Nhu Cầu Của Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Mong Bạn Quay Về]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Ngự Nơi Thiêng Liêng]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Quá Yêu Nhân Thế]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Quá Yêu Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Tác Động Trong Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Vác Tôi Trên Vai Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Vẫn Là Vua Trên Muôn Vua]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Yêu Thương Người]]&lt;br /&gt;
#[[Chúc Mừng Hôn Lễ Phước Hạnh]]&lt;br /&gt;
#[[Chúc Mừng Sinh Nhật]]&lt;br /&gt;
#Chúc Mừng Sinh Nhật Chúa&lt;br /&gt;
#[[Chúng Ta Sẽ Gặp Nhau Bên Sông Vàng]]&lt;br /&gt;
#[[Có Một Dòng Suối]]&lt;br /&gt;
#[[Cớ Sao Còn Lo Lắng?]]&lt;br /&gt;
#[[Con Được Dựng Nên Để Ca Ngợi Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Con Đường Xưa Chúa Đã Đi Qua]]&lt;br /&gt;
#[[Con Làm Buồn Thánh Linh]]&lt;br /&gt;
#[[Con Xin Ghi Nhớ Ơn Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Cùng Hát Halêlugia!]]&lt;br /&gt;
#[[Cứu Chúa Sống Lại Rồi]]&lt;br /&gt;
#[[Danh Cao Quý Tuyệt Vời]]&lt;br /&gt;
#[[Dâng Lời Ca Vang Trong Gió]]&lt;br /&gt;
#[[Dậy Đi! Hỡi Người!]]&lt;br /&gt;
#[[Diệu Kỳ Thay, Chúa Tôi!]]&lt;br /&gt;
#[[Dưới Cờ Thập Tự]]&lt;br /&gt;
#[[Đấng Chăn Giữ Tôi.]]&lt;br /&gt;
#Đây Mùa Giáng Sinh&lt;br /&gt;
#[[Đêm Giáng Sinh Năm Xưa]]&lt;br /&gt;
#[[Đêm Sẽ Tan Mau]]&lt;br /&gt;
#[[Đêm Thánh]]&lt;br /&gt;
#[[Đêm Yên Lặng]]&lt;br /&gt;
#[[Đến Với Chúa Tay Trắng Thôi Sao]]?&lt;br /&gt;
#[[Đi Tìm Hạnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Điệu Ru Đêm Thánh]]&lt;br /&gt;
#[[Đời Sống Mới Bắt Đầu | Đời Sống Tươi Mới Đang Bắt Đầu]]&lt;br /&gt;
#[[Đón Mùa Xuân Ấm]]&lt;br /&gt;
#[[Đón Mừng Niềm Vui]]&lt;br /&gt;
#[[Đón Mừng Vua Trên Muôn Vua]]&lt;br /&gt;
#[[Đưa Người Đến Tin Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Đức Chúa Trời Có Thật]]&lt;br /&gt;
#[[Đức Chúa Trời Của Niềm Vui]]&lt;br /&gt;
#[[Đức Chúa Trời Sáng Tạo Trời Đất]]&lt;br /&gt;
#[[Đức Chúa Trời Trên Cao]]&lt;br /&gt;
#[[Được Làm Dân Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Đừng Hoang Phí Tháng Năm Dài]]&lt;br /&gt;
#[[Em-ma-nu-ên Xin Hãy Đến]]&lt;br /&gt;
#[[Êm Dịu Thay Tiếng Jêsus]]&lt;br /&gt;
#[[Gần Bên Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Ghết-sê-ma-nê.]]&lt;br /&gt;
#[[Giờ Tưởng Niệm Chúa Chịu Chết]]&lt;br /&gt;
#[[Gô-gô-tha]]&lt;br /&gt;
#[[Gương Sống Đẹp]]&lt;br /&gt;
#[[Ha-lê-lu-gia!]]&lt;br /&gt;
#[[Ha-lê-lu-gia! Ha-lê-lu-gia!]]&lt;br /&gt;
#[[Ha-lê-lu-gia! Tôn Vinh Cứu Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Hài Nhi Bé Nhỏ]]&lt;br /&gt;
#Hài Nhi Của Tình Thương&lt;br /&gt;
#[[Hài Nhi Jesus]]&lt;br /&gt;
#Hài Nhi Nơi Máng Chiên&lt;br /&gt;
#[[Hài Nhi Thánh Giáng Sinh Vì Ngươi]]&lt;br /&gt;
#[[Hàng Ngàn Thiên Binh]]&lt;br /&gt;
#[[Hành Trình Theo Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Hát Ru Hài Nhi]]&lt;br /&gt;
#[[Hãy Chúc Tụng Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Hãy Mau Tin Nhận Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Hãy Mở Lối Cho Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Hãy Ngắm Những Đóa Hoa]]&lt;br /&gt;
#[[Hãy Tin Nơi Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Hãy Yêu Thương Nhau]]&lt;br /&gt;
#[[Hoài Niệm Về Gô-gô-tha]]&lt;br /&gt;
#[[Học Nương Dựa Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Hô-sa-na]]&lt;br /&gt;
#[[Hội Thánh Hoàn Dương Tạ Ơn Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Hỡi Bết-lê-hem Nhỏ Bé]]&lt;br /&gt;
#[[Jêsus Cứu Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Jêsus Cứu Chúa Đời Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Jêsus, Con Đức Chúa Trời]]&lt;br /&gt;
#[[Jêsus Danh Cao Tuyệt Vời]]&lt;br /&gt;
#[[Jêsus, Niềm Ước Mơ Của Loài Người]]&lt;br /&gt;
#[[Jêsus Sẽ Tái Lâm]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Bình Minh Đến]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Chúa Vô Lòng]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Chúa Vào Đời]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Chúng Ta Đang Sống]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Con Vua Khóc Chào Đời]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Đôi Mắt Nhìn Ngắm Con Trời]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Đêm Qua Rồi]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Ngài Lau Mắt Lệ Rơi]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Xưa, Hôm Nay và Mai Đây]]&lt;br /&gt;
#[[Không Ai Cảm Thông Được Nỗi Buồn Trong Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Không Ai Lo Cho Linh Hồn Con]]&lt;br /&gt;
#[[Không Chỗ Cho Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Không Nói Sao Hết Yêu Thương Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Khúc Ca Bình An]]&lt;br /&gt;
#[[Khúc Ca Chào Mừng Thiên Chúa Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Khúc Ca Mùa Vọng]]&lt;br /&gt;
#[[Khúc Hát Tình Yêu]]&lt;br /&gt;
#[[Khúc Hát Trong Tâm Hồn]]&lt;br /&gt;
#[[Kỷ Niệm Chúa Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#Kỷ Niệm Tình Yêu Trời&lt;br /&gt;
#[[Lạy Chúa Đấng Tuyệt Vời]]&lt;br /&gt;
#[[Liên Khúc Hát Mừng Chúa Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Liên Khúc Niềm Vui Cho Trần Gian]]&lt;br /&gt;
#[[Loan Tin Trên Núi]]&lt;br /&gt;
#[[Lời Cầu Nguyện Buổi Tối]]&lt;br /&gt;
#[[Lời Cầu Xin Chân Thành]]&lt;br /&gt;
#[[Lời Chúa Là Chân Thật]]&lt;br /&gt;
#[[Lời Con Cầu Xin Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Lời Con Dâng Cha]]&lt;br /&gt;
#[[Lời Con Dâng Chúa]]&lt;br /&gt;
#Lời Ru Đêm Vắng&lt;br /&gt;
#[[Lời Tạ Ơn Dâng Lên Thiên Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Lòng Con Chớ Bối Rối]]&lt;br /&gt;
#[[Lòng Mong Chung Bước Cùng Jêsus]]&lt;br /&gt;
#[[Lòng Ngài Tan Vỡ Vì Tôi!]]&lt;br /&gt;
#[[Lòng Nguyện Theo Giê-xu]]&lt;br /&gt;
#[[Lòng Tôi Mơ Đêm Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Mang Thập Tự]]&lt;br /&gt;
#[[Mari Hạ Sinh Em Bé Trai]]&lt;br /&gt;
#[[Marie, Bà Có Biết]]&lt;br /&gt;
#[[Mary! Nàng Có Biết]]&lt;br /&gt;
#[[Món Quà Cho Bạn]]&lt;br /&gt;
#[[Món Quà Yêu Thương]]&lt;br /&gt;
#[[Mong Bạn Quay Về | Mong Bạn Tin Cứu Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Mong Đến Nơi Chúa Ngự]]&lt;br /&gt;
#[[Mỗi Bước Trên Đường]]&lt;br /&gt;
#[[Mùa Nô-ên Tuyết Trắng]]&lt;br /&gt;
#[[Mùa Giáng Sinh Gợi Nhớ]]&lt;br /&gt;
#Mùa Giáng Sinh Vẫn Về Với Tôi&lt;br /&gt;
#Mùa Giáng Sinh Xa Quê&lt;br /&gt;
#[[Mừng Chúa Giáng Sinh.]]&lt;br /&gt;
#Mừng Ngày Thiên Chúa Đến&lt;br /&gt;
#[[Mừng Vua Giáng Trần]]&lt;br /&gt;
#[[Mừng Xuân Hát Lên Người Ơi!]]&lt;br /&gt;
#[[Nếu Dân Ngài Cầu Xin]]&lt;br /&gt;
#[[Nếu Linh Hồn Hư Mất]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Chiếu Sáng Trên Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Cứu Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Đã Đến]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Đầy Lòng Yêu Thương]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Mang Danh Cao Sang]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Nâng Tôi Lên]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Là Duyên Cớ]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Thay Đổi Đời Sống Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Yêu Tôi Rất Thiết Tha]]&lt;br /&gt;
#[[Ngày Ấy Sẽ Đến]]&lt;br /&gt;
#[[Ngày Chẳng Vương Mây]]&lt;br /&gt;
#[[Ngày Ngài Mau Đến]]&lt;br /&gt;
#[[Ngày Tươi Mới]]&lt;br /&gt;
#[[Ngôi Nhà Trong Bão Tố]]&lt;br /&gt;
#[[Ngôi Sao Mùa Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Ngủ Đi, Con Thánh]]&lt;br /&gt;
#[[Nguyện Cầu.]]&lt;br /&gt;
#[[Nguyện Mãi Nhớ Ghi Ơn Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Nguyện Tay Chúa Nắm Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Nguyện Ước Trong Ngày Cưới]]&lt;br /&gt;
#[[Người Bạn Tôi Yêu Mến]]&lt;br /&gt;
#[[Nhà Thờ Là Nơi Ấm Cúng]]&lt;br /&gt;
#[[Nhà Tôi Đó Bên Kia Bờ Sông]]&lt;br /&gt;
#[[Nhạc Chuông Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Nhận Ơn Chúa Bằng Đức Tin]]&lt;br /&gt;
#[[Nhiều Khi Tôi Nhớ Về]]&lt;br /&gt;
#Nhịp Thở Thiên Cung&lt;br /&gt;
#[[Nhìn Lên Thập Giá]]&lt;br /&gt;
#[[Nhớ Ơn Người Gieo Giống]]&lt;br /&gt;
#[[Như Cánh Chim Bay Lên]]&lt;br /&gt;
#[[Như Chiên Con Đi Lạc]]&lt;br /&gt;
#Niềm Vui&lt;br /&gt;
#[[Niềm Vui Cho Trần Gian]]&lt;br /&gt;
#[[Niềm Vui Chúa Phục Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Niềm Vui Của Người Chăn Chiên]]&lt;br /&gt;
#[[Noel Đầu Tiên]]&lt;br /&gt;
#[[Nỗi Lòng Mary]]&lt;br /&gt;
#[[Nỗi Lòng Mục Tử]]&lt;br /&gt;
#[[Nỗi Lòng Người Chăn Chiên]]&lt;br /&gt;
#[[Nơi Nương Náu Tâm Hồn]]&lt;br /&gt;
#[[Ô! Bết-lê-hem]] &lt;br /&gt;
#[[Ôi! Chẳng Mưa Đó Sao?]] &lt;br /&gt;
#Ông Già Nô-ên Ơi!&lt;br /&gt;
#[[Ơn Chúa Lòng Ghi Sâu]]&lt;br /&gt;
#[[Ơn Chúa Tuyệt Vời]]&lt;br /&gt;
#[[Ơn Chúa Viếng Thăm Việt Nam]]&lt;br /&gt;
#[[Ơn Cứu Rỗi]]&lt;br /&gt;
#[[Phải Để Dân Ta Đi]]&lt;br /&gt;
#[[Phép Lạ Chúa Phục Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Quà Tặng Của Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Quỳ Bên Cứu Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Quyền Năng Từ Ngàn Xưa]]&lt;br /&gt;
#[[Rồi Đây Chúa Đến]]&lt;br /&gt;
#[[Rồi Một Ngày]]&lt;br /&gt;
#[[Sanh Lại]]&lt;br /&gt;
#[[Sao Tôi Lại Lo Lắng]]&lt;br /&gt;
#[[Sẽ Không Còn Bóng Tối]]&lt;br /&gt;
#[[Sự Bình An Chẳng Phai Tàn]]&lt;br /&gt;
#[[Sự Bình An Tuyệt Vời]]&lt;br /&gt;
#[[Ta Chết Thay Cho Con]]&lt;br /&gt;
#[[Ta Sẽ Trở Lại]]&lt;br /&gt;
#[[Tạ Ơn Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Tay Trong Tay]]&lt;br /&gt;
#[[Tại Vầng Đá Ngất Cao]]&lt;br /&gt;
#[[Tạm Biệt]]&lt;br /&gt;
#[[Tâm Hồn Trong Sạch]]&lt;br /&gt;
#[[Tâm Sự Với Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Tấm Lòng Con Là Nhà Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Thánh Nhi Bé Nhỏ]]&lt;br /&gt;
#[[Thập Giá, Nơi Chúa Mong Anh Về]]&lt;br /&gt;
#[[Thi Thiên 150]]&lt;br /&gt;
#[[Thiên Chúa Ban Một Bài Ca]]&lt;br /&gt;
#[[Thiên Chúa Xuống Trần]]&lt;br /&gt;
#[[Thiên Thần Hòa Ca]]&lt;br /&gt;
#Thiếu Chỗ Cho Ngài&lt;br /&gt;
#[[Thoạt Đến Đêm Nọ]]&lt;br /&gt;
#[[Hỡi Bết-lê-hem Nhỏ Bé | Thôn Bết-lê-hem Bé Nhỏ]]&lt;br /&gt;
#[[Thuận Phục Ý Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Thuốc Chữa Linh Hồn Tội Lỗi]]&lt;br /&gt;
#[[Thư Con Viết Dâng Lên Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Tiếng Nhạc Nguyện Cầu]]&lt;br /&gt;
#[[Tìm Được Niểm Vui]]&lt;br /&gt;
#[[Tìm Nghĩa Cho Đời]]&lt;br /&gt;
#[[Tìm Về Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Ta Là Khúc Nhạc]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Thương Cứu Người]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Thương Lớn Lao]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Yêu Chúa Ban]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Yêu Diệu Kỳ]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Yêu Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Yêu Thiên Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Yêu Thương Chúa Ngập Tràn Lòng Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Yêu Tuyệt Vời]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Yêu Từ Thiên Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Yêu Vững Bền | Tình Yêu Vững Bền Của Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Thân Nhất Trên Đời]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Biết Chúa Đáp Lời]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Không Bước Đi Một Mình]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Không Có Bạc Vàng]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Là Ai]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Nghe Chúa Gọi]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Nghe Dòng Suối Tuôn Tràn Trong Lòng]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Sẽ Thưa Chuyện Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Sẽ Về Nhà Đêm Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Tìm Tình Yêu]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Tin Và Chẳng Lo Sợ]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Vừa Gặp Chúa Jesus]]&lt;br /&gt;
#[[Tội Tôi Được Đóng Đinh Rồi]]&lt;br /&gt;
#[[Tôn Cao Danh Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Tôn Vinh Chúa Phục Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Tôn Vinh Danh Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Trên Đường Đời]]&lt;br /&gt;
#[[Trong Cánh Tay Toàn Năng]]&lt;br /&gt;
#[[Trở Về]]&lt;br /&gt;
#[[Trước Ngôi Thiên Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Tung Hô Danh Chúa Quyền Năng]]&lt;br /&gt;
#[[Từ Đại Dương Ngài Gọi Con]]&lt;br /&gt;
#[[Từ Lòng Tôi Một Bài Ca Mới]]&lt;br /&gt;
#[[Tương Lai Sáng Tươi]]&lt;br /&gt;
#[[Ước Vọng Đêm Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Vào Lúc Đêm Xuống]]&lt;br /&gt;
#[[Vâng Theo Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Vầng Đá Thiêng Liêng]]&lt;br /&gt;
#[[Về Nhà Cha]]&lt;br /&gt;
#[[Vì Bạn Và Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Vì Bạn Với Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Vì Ngài Đang Sống]]&lt;br /&gt;
#[[Vì Ngài Tôi Hát]]&lt;br /&gt;
#[[Vì Sao Tôi Yêu Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Vinh Quang Ha-lê-lu-gia]]&lt;br /&gt;
#[[Vinh Quang Thuộc Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Vinh Quang Trên Cao]]&lt;br /&gt;
#[[Vua Trên Muôn Vua]]&lt;br /&gt;
#[[Vừa Lúc Rạng Đông]]&lt;br /&gt;
#[[Vượt Qua Bóng Mây Sầu]]&lt;br /&gt;
#[[Vượt Qua Mọi Hoàn Cảnh]]&lt;br /&gt;
#[[Xây Dựng Hằng Ngày]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Cảm Ơn Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Chạm Thấu Tâm Hồn Con]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Chúa Chúc Phước Cho Nhà Mới]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Chúa Dẫn Dắt Con Từng Ngày]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Chúa Sai Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Dìu Dắt Tôi!]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Đưa Tôi Về Đồi Xưa]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Đừng Đem Yêu Thương Khỏi Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Làm Sạch Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Ngài Giúp Quên]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Nghe Lời Cầu Nguyện Của Con]]&lt;br /&gt;
#[[Xuân Tạ Ơn]]&lt;br /&gt;
#[[Ý Nghĩa Ngày Chúa Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Yêu Là Khi]]&lt;br /&gt;
   &lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nguyên Tác'''&lt;br /&gt;
*In a Cave, a Lowly Stable&lt;br /&gt;
*In Dark World There's a Bright Light&lt;br /&gt;
*The Holy and The Ivy&lt;br /&gt;
*La Marche des Rois&lt;br /&gt;
*My Tribute &lt;br /&gt;
*A New Hallelujah&lt;br /&gt;
*Come Thou Almighty King &lt;br /&gt;
*The Nail Scarred Hand&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Be Ye Glad&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*The Heavens Are Telling&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*All the Way Along &lt;br /&gt;
*Take Jesus As Your Friend&lt;br /&gt;
*Let There Be Peace On Earth&lt;br /&gt;
*All Through the Night&lt;br /&gt;
*Peace in the Valley&lt;br /&gt;
*Daybreak&lt;br /&gt;
*Morning Has Broken &lt;br /&gt;
*While Shepherds Watched Their Flocks&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*All Creatures of Our God and King&lt;br /&gt;
*Just A Closer Walk With Thee&lt;br /&gt;
*To Walk in Thy Way&lt;br /&gt;
*I'll Go with God &lt;br /&gt;
*We Wish You a Merry Christmas &lt;br /&gt;
*Liên Khúc Giáng Sinh&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Majesty&lt;br /&gt;
*Let Not Your Heart Be Trouble&lt;br /&gt;
*Thank You&lt;br /&gt;
*Blessed Assurance&lt;br /&gt;
*This Child Is&lt;br /&gt;
*O Antiphon &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Behold the Lamb&lt;br /&gt;
*Jesus Will &lt;br /&gt;
*You Know I Love Thee&lt;br /&gt;
*Love Was When &lt;br /&gt;
*The Savior Is Waiting &lt;br /&gt;
*Here I Am to Worship&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*He Lives&lt;br /&gt;
*Jesus Christ Is Lord&lt;br /&gt;
*What a Gift Is Jesus&lt;br /&gt;
*Jesus Will Reign&lt;br /&gt;
*The Next Time He Comes&lt;br /&gt;
*Holy! Holy! Holy! &lt;br /&gt;
*All That I Need Is Jesus&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Awesome In This Place&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*You Needed Me &lt;br /&gt;
*He Touched Me&lt;br /&gt;
*He Carried Me on His Shoulder&lt;br /&gt;
*He’s Still The King of Kings&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Blessed Quietness&lt;br /&gt;
*Happy Birthday to You&lt;br /&gt;
*Happy Birthday, Jesus&lt;br /&gt;
*Shall We Gather at the River&lt;br /&gt;
*There Is A Fountain&lt;br /&gt;
*Why Should I Care If the Sun Doesn't Shine?&lt;br /&gt;
*I Was Made to Praise You &lt;br /&gt;
*Have I Grieved Thy Holy Spirit?&lt;br /&gt;
*Via Dolorosa&lt;br /&gt;
*We Will Remember&lt;br /&gt;
*Sing Hallelujah&lt;br /&gt;
*Up From The Grave&lt;br /&gt;
*A Name I Highly Treasure&lt;br /&gt;
*Give Your Voice to the Wind&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*The Banner of the Cross &lt;br /&gt;
*A Faithful Shepherd&lt;br /&gt;
*This Is the Season&lt;br /&gt;
*A 50’s Christmas&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Cantique de Noël &lt;br /&gt;
*Stille Nacht &lt;br /&gt;
*Must I Go, And Empty-Handed? &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Des Knaben Wunderhorn&lt;br /&gt;
*That’s For Me &lt;br /&gt;
*Beyond Tomorrow &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Lord of the Dance&lt;br /&gt;
*God Created Heaven And Earth&lt;br /&gt;
*God On the Mountain&lt;br /&gt;
*To Be God’s People &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*O Antiphon &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Close To Thee&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*In Remembrance&lt;br /&gt;
*Calvary &lt;br /&gt;
*When The Poor Ones&lt;br /&gt;
*Hallelujah!&lt;br /&gt;
*Alleluia, Alleluia&lt;br /&gt;
*Hallelujah! What A Savior!&lt;br /&gt;
*One Small Child&lt;br /&gt;
*Child of Love&lt;br /&gt;
*What Is the Name of the Baby Boy?&lt;br /&gt;
*Away in A Manger&lt;br /&gt;
*The Child Was Born For You&lt;br /&gt;
*Ten Thousand Angels &lt;br /&gt;
*I Walked Today Where Jesus Walked &lt;br /&gt;
*Away in A manger&lt;br /&gt;
*Everybody Sing Praise To The Lord&lt;br /&gt;
*Have Faith in God&lt;br /&gt;
*Lift Up Your Heads, Ye Mighty Gates&lt;br /&gt;
*Consider the Lilies &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Love One Another &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Learning To Lean&lt;br /&gt;
*Hosanna &lt;br /&gt;
*Glorious Things Of Thee Are Spoken&lt;br /&gt;
*O Little Town of Bethlehem &lt;br /&gt;
*He Lifted Me Out&lt;br /&gt;
*Jesus Is The Lord Of All&lt;br /&gt;
*Jesus: Son of God&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Je­sus bleib­et meine Freude&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*But the Sunrise We’ll See &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*When a Child Is Born &lt;br /&gt;
*When We Are Living&lt;br /&gt;
*I Was There To Hear Your Borning Cry &lt;br /&gt;
*When Her Eyes Are on The Child&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Yesterday, Today and Tomorrow&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*No Room&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Carol of Christmas&lt;br /&gt;
*Season of Hope&lt;br /&gt;
*Love Never Fails &lt;br /&gt;
*This Is The Time I Must Sing &lt;br /&gt;
*Let Us Put Christ Back in Christmas&lt;br /&gt;
*Celebrate the Gift of Jesus&lt;br /&gt;
*O Lord! How Wonderful&lt;br /&gt;
*Caroling Medley&lt;br /&gt;
*Joy To The World Medley&lt;br /&gt;
*Go, Tell Tt on the Mountain &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Rob tu mo bhoile, a Com­di cri­de &lt;br /&gt;
*La Palabra del Señor&lt;br /&gt;
*Lời Con Cầu Xin Chúa&lt;br /&gt;
*Just As I Am&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Still, Still&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Let Not Your Heart Be Troubled&lt;br /&gt;
*I Have Decided To Follow Jesus&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*That First Christmas&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Mary, Did You Know?&lt;br /&gt;
*Mary, Did You Know?&lt;br /&gt;
*It Was For You &lt;br /&gt;
*The Gift of Love&lt;br /&gt;
*Mong Bạn Quay Về &lt;br /&gt;
*To Where You Are&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*White Christmas&lt;br /&gt;
*Memories of a Merry Christmas&lt;br /&gt;
*I Heard Bells on Christmas Day&lt;br /&gt;
*My Christmas Song for You&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*We Need a Little Christmas&lt;br /&gt;
*Deck the Halls &lt;br /&gt;
*Songs in the Daytime&lt;br /&gt;
*If My People Will Pray&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*You Light Up My Life&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*He Came&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*King Jesus Is His Name&lt;br /&gt;
*You Raise Me Up &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*He Turned My Dessert Into a Garden&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*The Christmas Star&lt;br /&gt;
*Sleep, Holy Child&lt;br /&gt;
*The Prayer &lt;br /&gt;
*To Take a Little Time&lt;br /&gt;
*Take Hold of My Hand&lt;br /&gt;
*Ke Kali Nei Ru&lt;br /&gt;
*This Wonderful Friend&lt;br /&gt;
*Crying in the Chapel&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Jingle Bells&lt;br /&gt;
*I Can Only Imagine&lt;br /&gt;
*When I Remember &lt;br /&gt;
*Breath of Heaven&lt;br /&gt;
*On Yonder Cross&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Flee As A Bird &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Joy!&lt;br /&gt;
*Joy to the World! &lt;br /&gt;
*Gone &lt;br /&gt;
*Shepherd’s Joy&lt;br /&gt;
*The First Noel &lt;br /&gt;
*Breath of Heaven&lt;br /&gt;
*God Rest Ye Merry Gentlemen &lt;br /&gt;
*Auprès de ma Blonde&lt;br /&gt;
*The Hiding Place&lt;br /&gt;
*O, Bethlehem!&lt;br /&gt;
*Santa Claus Is Coming to Town&lt;br /&gt;
*My! Didn’t It Rain?&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Amazing Grace&lt;br /&gt;
*The Battle Hymn of the Republic&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Go Down, Moses&lt;br /&gt;
*It Took A Miracle&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*On My Knees &lt;br /&gt;
*Old-Time Power&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Why Should I Worry?&lt;br /&gt;
*When I've Done My Best &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Wondrous Peace&lt;br /&gt;
*For Those Tears, I Died &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Thank You, Lord&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*A Clean Heart&lt;br /&gt;
*I Must Tell Jesus &lt;br /&gt;
*My Heart, Your Home &lt;br /&gt;
*One Small Child&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Heaven Came Down&lt;br /&gt;
*Hark! The Herald Angels Sing&lt;br /&gt;
*There Was No Room for Christ &lt;br /&gt;
*It Came Upon the Midnight Clear &lt;br /&gt;
*O Little Town of Bethlehem&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*There Is A Balm In Gilead&lt;br /&gt;
*A Note to God&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Discovery&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*There's a Song in My Heart&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*The Savior's Love &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*What Child Is This? &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*What Wondrous Love Is This&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*I Know He Answers&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Silver And Gold Have I None&lt;br /&gt;
*Who Am I&lt;br /&gt;
*I Hear My Savior Call&lt;br /&gt;
*A Well Springs Up in My Soul&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*I'll Be Home for Christmas&lt;br /&gt;
*I Look for Love&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*I’ve Just Seen Jesus &lt;br /&gt;
*Nailed to the Cross&lt;br /&gt;
*Lord, I Lift Your Name On High &lt;br /&gt;
*All Hail to Christ &lt;br /&gt;
*Glorify Thy Name &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*On Eagle’s Wings&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Before the Throne of God Above&lt;br /&gt;
*Crown Him Lord&lt;br /&gt;
*Oceans (Where Feet May Fail)&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*The Future’s Looking Brighter&lt;br /&gt;
*Some Children See Him&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Submission&lt;br /&gt;
*The Cornerstone&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Ten Thousand Angels &lt;br /&gt;
*Because He Lives&lt;br /&gt;
*I Sing of Thee&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Glory To The Lord&lt;br /&gt;
*The Specious Firmament on High&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Overshadowed&lt;br /&gt;
*Through It All&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Touch Me Again, Lord&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Dear Lord, Lead Me Day By Day&lt;br /&gt;
*Lord! Send Me! &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Don't Take That Love from Me&lt;br /&gt;
*Cleanse Me&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*This Christmas Day&lt;br /&gt;
*Love Was When&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Tác Giả'''&lt;br /&gt;
*Harold B. Franklin&lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Andrae Crouch&lt;br /&gt;
*Michael W. Smith&lt;br /&gt;
*Charles Wesley  &lt;br /&gt;
*Baylus B. McKinney&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Michael Kelly Blanchard &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Fransz Joseph Haydn&lt;br /&gt;
*Johnson Oatman, Jr.&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Ada Blenkhorn &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Sy Miller &amp;amp; Jill Jackson &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Thomas A. Dorsey&lt;br /&gt;
*G. Banor, B. Hernandez &lt;br /&gt;
*Eleanor Farjeon &lt;br /&gt;
*Nahum Tate &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*J. R. Baxter Jr. &lt;br /&gt;
*Francis of Assisi&lt;br /&gt;
*John T. Benson&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*Hà Hữu Quang, [[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*Nhiều Tác Giả&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Jack W. Hayford &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Kathy Frizell, Kara Worley&lt;br /&gt;
*Latin, 12th Century &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Lance Latham &lt;br /&gt;
*Rebecca J. Peck, Phil Barfoot&lt;br /&gt;
*Ina Duley Ogdon&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John E. Walvoord &lt;br /&gt;
*[[Ralph Carmichael]] &lt;br /&gt;
*Tim Hughes&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*I. &amp;amp; M. Houghton, C. Ratcliff  &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Tom Fettke&lt;br /&gt;
*Dennis Jernigan&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John B. Dykes &lt;br /&gt;
*Gladys Tomkins&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Randy Goodrum&lt;br /&gt;
*William J. Gaither&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*William J. Gaither&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Lưu Văn Mão &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Carol Cymbals&lt;br /&gt;
*Robert Lowry &lt;br /&gt;
*William Cowper&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Chris Christensen &lt;br /&gt;
*Billy Sprague &amp;amp; Niles Borop&lt;br /&gt;
*Oswald J. Smith &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Orien Johnson&lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*[[Isaac Watts]], Mosie Lister, Ken Bible&lt;br /&gt;
*Charlotte G. Homer &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Daniel W. Whittle&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Phil Barfoot, Rebecca J. Peck &lt;br /&gt;
*Johnny Marks &lt;br /&gt;
*B. D. Ackley &lt;br /&gt;
*[[Placide Cappeau]]&lt;br /&gt;
*Joseph Mohr &lt;br /&gt;
*Charles C. Lu­ther&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Dân Ca Đức&lt;br /&gt;
*[[Ralph Carmichael]] &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Sydney Carter&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Tracy Dartt &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Latin, 12th Century &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Ragan Courtney &lt;br /&gt;
*B.D.Ackley&lt;br /&gt;
*J.A. Olivar &amp;amp; Miguel Manzano &lt;br /&gt;
*Darlene Zschech &lt;br /&gt;
*Donald Fishel&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Tina English&lt;br /&gt;
*Mosie Lister&lt;br /&gt;
*Martin Luther&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Lynn Copper &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Catherine Winkworth&lt;br /&gt;
*Joel Hemphill&lt;br /&gt;
*May Agnew &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John Stallings &lt;br /&gt;
*Carl Tuttle &lt;br /&gt;
*Franz Joseph Haydn&lt;br /&gt;
*Phill­ips Brooks &lt;br /&gt;
*Lawrence E. Brooks &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Ken Bible &amp;amp; G.T. Haywood &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Mar­tin Ja­nus&lt;br /&gt;
*John W. Peterson&lt;br /&gt;
*Jesse Randall Baxter, Jr. &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Ciro Dammicco&lt;br /&gt;
*Elise S. Eslinger&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Ira Stanphill&lt;br /&gt;
*Don Wyrtzen &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Gloria &amp;amp; William Gaither &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Allen Koppelberger, Twilla Paris&lt;br /&gt;
*Mosie Lister &amp;amp; Ken Bible &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John W. Work, Jr.&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Dal­lan For­gaill&lt;br /&gt;
*Juan Luis Garcia&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*David Phelps &amp;amp; Cindy Morgan &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Harry Dixon Loes &lt;br /&gt;
*Sadhu Sundar Singh &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Mark Lowry &lt;br /&gt;
*Mark Lowry &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*W. Elmo Mercer   &lt;br /&gt;
*Irving Berlin&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Johnny Marks&lt;br /&gt;
*Furniss Peterson, Paul Smith Webster&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Jerry Herman&lt;br /&gt;
*Dân ca Welsh &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Joe Brooks &lt;br /&gt;
*John W. Peterson&lt;br /&gt;
*S. E. Parsons Jr., E. E.S. Elliott &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Brendan Graham &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Lulu W. Kock &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
* &lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*David Foster, Tony Renis &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Charles E. King &lt;br /&gt;
*Robert Parsons&lt;br /&gt;
*Artie Glenn &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*James Lord Pierpont&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John W. Peterson&lt;br /&gt;
*Chris Eaton, Amy Grant &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Mary Shindler&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*[[Isaac Watts]]&lt;br /&gt;
*[[Isaac Watts]]&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John Parker &amp;amp; Mark Hayes &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Chris Eaton, Amy Grant &lt;br /&gt;
*Khuyết Danh (Thế Kỷ 15) &lt;br /&gt;
*Dân ca Pháp &lt;br /&gt;
*Bryan Jeffery Leech &lt;br /&gt;
*Mosie Lister &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John Frederick Coots, Haven Gillespie&lt;br /&gt;
*Henry Smith &lt;br /&gt;
*John Newton&lt;br /&gt;
*Julia Ward Howe &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Afro-American Spiritual &lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*David Mullen &lt;br /&gt;
*Charlie D. Tillman&lt;br /&gt;
*Beautric Bush Bixler &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*William O. Custing &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Marsha J. Stevens&lt;br /&gt;
*Eugene Clark &lt;br /&gt;
*Michael Ryan &lt;br /&gt;
*Steve Green&lt;br /&gt;
*Charlie Hall &lt;br /&gt;
*Robert Burns &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Eli­sha A. Hoff­man&lt;br /&gt;
*Denise Calazans &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Ira F. Stanphill &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John W. Peterson&lt;br /&gt;
*[[Charles Wesley]] &lt;br /&gt;
*John W. Peterson&lt;br /&gt;
*[[Richard Storrs Willis]] &lt;br /&gt;
*Phillips Brooks&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Diane Warren &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Charles H. Gabriel&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Mary Carolin Robbins &lt;br /&gt;
*William Chatterton Dix&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Dân ca Hoa Kỳ &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Alfred H. Ackley &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Alfred H. Ackley &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Harold Lillenas&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Kim Gannon&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Mrs. Frank A. Breck &lt;br /&gt;
*Rick Founds &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Donna Adkins&lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Matt Crocker &lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Austin Miles &lt;br /&gt;
*Lari Goss &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Ray Overholt &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*G. B. Muller &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Leland Green &lt;br /&gt;
*Lynn De Shazo &lt;br /&gt;
*Joseph Addison&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Henry Allan Ironside &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Colbert Croft &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Francisca Asuncion&lt;br /&gt;
*Louis P. Lehman Jr.&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*James Bland &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Don Wyrtzen &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nhạc''' &lt;br /&gt;
#Harold B. Franklin&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#Dân Ca Pháp&lt;br /&gt;
#Ca Khúc Giáng Sinh Pháp&lt;br /&gt;
#Andrae Crouch &lt;br /&gt;
#Michael W. Smith&lt;br /&gt;
#Felice de Giardini &lt;br /&gt;
#Baylus B. McKinney&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Michael Kelly Blanchard &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Fransz Joseph Haydn&lt;br /&gt;
#[[William J. Kirkpatrick]] &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Lewis E. Jones &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Sy Miller &amp;amp; Jill Jackson&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Thomas A. Dorsey&lt;br /&gt;
#G. Banor, B. Hernandez&lt;br /&gt;
#Dân ca Gaelic &lt;br /&gt;
#[[George Frideric Handel]]&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Eugene Wright &lt;br /&gt;
#Geist­liche Kirch­en­ge­säng&lt;br /&gt;
#John T. Benson&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#Dân Ca Anh&lt;br /&gt;
#Nhiều Tác Giả&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Jack W. Hayford &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Kathy Frizell, Kara Worley&lt;br /&gt;
#Plainsong, 13th Century &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Lance Latham &lt;br /&gt;
#Rebecca J. Peck, Phil Barfoot&lt;br /&gt;
#Bentley D. Ackley&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John E. Walvoord &lt;br /&gt;
#[[Ralph Carmichael]] &lt;br /&gt;
#Tim Hughes&lt;br /&gt;
#[[William J. Kirkpatrick]]  &lt;br /&gt;
#I. &amp;amp; M. Houghton, C. Ratcliff&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Tom Fettke&lt;br /&gt;
#Dennis Jernigan&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John B. Dykes &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Buddy Lawson  &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Randy Goodrum&lt;br /&gt;
#William J. Gaither&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#William J. Gaither&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#W.S. Marshall,&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Carol Cymbals&lt;br /&gt;
#Robert Lowry&lt;br /&gt;
#William Cowper&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Chris Christensen &lt;br /&gt;
#Billy Sprague &amp;amp; Niles Borop&lt;br /&gt;
#Bentley D. Ackley&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Orien Johnson&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#[[George Frideric Handel]], Mosie Lister, Ken Bible&lt;br /&gt;
#Charles H. Gabriel &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Phil Barfoot, Rebecca J. Peck&lt;br /&gt;
#Johnny Marks &lt;br /&gt;
#Bentley D. Ackley&lt;br /&gt;
#[[Adolphe Charles Adam]]&lt;br /&gt;
#Franz Xaver Gruber &lt;br /&gt;
#George C. Stebbins &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Johannes Brahms &lt;br /&gt;
#[[Ralph Carmichael]] &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Giai điệu Thế-kỷ 19&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Tracy Dartt &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Plainsong, 13th Century &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Buryl Red &lt;br /&gt;
#Bentley D. Ackley&lt;br /&gt;
#J.A. Olivar &amp;amp; Miguel Manzano &lt;br /&gt;
#Darlene Zschech &lt;br /&gt;
#Donald Fishel&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Tina English&lt;br /&gt;
#Mosie Lister&lt;br /&gt;
#[[William J. Kirkpatrick]]&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Lynn Copper &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Psalmodia Evangelica,&lt;br /&gt;
#Joel Hemphill&lt;br /&gt;
#May Agnew &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John Stallings &lt;br /&gt;
#Carl Tuttle &lt;br /&gt;
#Franz Joseph Haydn&lt;br /&gt;
#Lewis H. Red­ner &lt;br /&gt;
#Lawrence E. Brooks &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Ken Bible &amp;amp; G.T. Haywood &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Johann Sebastian Bach&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#Eugene Wright &lt;br /&gt;
#Albert Simpson Reitz &lt;br /&gt;
#Ciro Dammicco&lt;br /&gt;
#Dân ca Tây Ban Nha&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Ira Stanphill &lt;br /&gt;
#Don Wyrtzen &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#William Gaither &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#William Gaither &lt;br /&gt;
#R. J. Hughes &lt;br /&gt;
#Allen Koppelberger, Twilla Paris&lt;br /&gt;
#Mosie Lister &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Juan Luis Garcia &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Brett Ziegier &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Nhạc Giáng Sinh Đức&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Allen Alket&lt;br /&gt;
#Harry Dixon Loes &lt;br /&gt;
#Giai điệu Hindu &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Thos. C. Wallace &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Buddy Greene &lt;br /&gt;
#Buddy Greene &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Khuyết Danh&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#W. Elmo Mercer &lt;br /&gt;
#Irving Berlin&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Johnny Marks&lt;br /&gt;
#Hoagy Carmichael&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Jerry Herman&lt;br /&gt;
#Dân ca Welsh&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Jimmy Owens &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Joe Brooks &lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#S. E. Parsons, Jr. Timothy R. Matthews &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Rolf Lovland &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Wilbur E. Nelson &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#David Foster, Tony Renis &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#W. Elmo Mercer &lt;br /&gt;
#Charles E. King &lt;br /&gt;
#Robert Parsons&lt;br /&gt;
#Artie Glenn &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#James Lord Pierpont&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#Chris Eaton, Amy Grant &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Giai điệu Tây Ban Nha&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#[[George Frideric Handel]] &lt;br /&gt;
#[[George Frideric Handel]] &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Mark Hayes &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Khuyết Danh (Thế Kỷ 15) &lt;br /&gt;
#Dân ca Pháp &lt;br /&gt;
#Bryan Jeffery Leech &lt;br /&gt;
#Mosie Lister &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John Frederick Coots, Haven Gillespie&lt;br /&gt;
#Henry Smith &lt;br /&gt;
#Dân Ca Phi Châu&lt;br /&gt;
#William Steffe&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Afro-American Spiritual &lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#David Mullen &lt;br /&gt;
#Charlie D. Tillman&lt;br /&gt;
#Beautric Bush Bixler &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Ira Sankey &lt;br /&gt;
#Thomas A. Dorsey&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Marsha J. Stevens&lt;br /&gt;
#Eugene Clark &lt;br /&gt;
#Michael Ryan &lt;br /&gt;
#Steve Green&lt;br /&gt;
#Robert Harkness &lt;br /&gt;
#Dân ca Tô-Cách-Lan &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Eli­sha A. Hoff­man&lt;br /&gt;
#Denise Calazans &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Ira F. Stanphill &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#[[Felix Mendelssohn]] &lt;br /&gt;
#John W. Peterson&lt;br /&gt;
#Edmund H. Sears &lt;br /&gt;
#Lewis H. Redner&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Diane Warren &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Don Wyrtzen &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Charles H. Gabriel&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Mary Carolin Robbins &lt;br /&gt;
#Dân ca Anh Greensleeves &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Dân ca Hoa Kỳ &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Edwin O. Exell &lt;br /&gt;
#Alfred H. Ackley &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Alfred H. Ackley &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Mark Hall &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Harold Lillenas &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Walter Kent&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Grant Colfax Tullar &lt;br /&gt;
#Rick Founds &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Donna Adkins &lt;br /&gt;
#John W. Peterson&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Louise Smith &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Matt Crocker&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Alfred Burt &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Mrs. R. R. Forman &lt;br /&gt;
#Lari Goss &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Ray Overholt &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Gladys Blanchard Muller&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Lynn DeShazo &lt;br /&gt;
#Franz Joseph Haydn&lt;br /&gt;
#Cổ điệu Do Thái &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#George S. Schuler &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Joyce Croft &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Philippine Folk Melody &lt;br /&gt;
#Louis P. Lehman Jr.&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#James Bland &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Albert Simpson Reitz &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Don Wyrtzen &lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Liên Khúc==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Tựa đề'''&lt;br /&gt;
#Liên Khúc Hát Mừng Giáng Sinh&lt;br /&gt;
#Liên Khúc Niềm Vui Cho Trần Gian&lt;br /&gt;
#Liên Khúc Thiên Thần Hòa Ca&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nguyên Tác'''&lt;br /&gt;
#The First Noel/O Little Town of Bethlehem/We Wish You &lt;br /&gt;
#Joy to the World/Angels, From the Realms of Glory/Hark! The Angels Sing&lt;br /&gt;
#Angels, From the Realms of Glory/Hark! The Angels Sing&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Lời'''&lt;br /&gt;
*Vĩnh Phúc, Hà Hữu Quang&lt;br /&gt;
*Vĩnh Phúc&lt;br /&gt;
*[[Lưu Văn Hồng | Trần Lưu Hoàng]], Vĩnh Phúc&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nhạc'''&lt;br /&gt;
*Nhiều Tác Giả&lt;br /&gt;
*Nhiều Tác Giả&lt;br /&gt;
*Nhiều Tác Giả&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Vĩnh Phúc: Nhạc Hôn Lễ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Tựa đề'''&lt;br /&gt;
#[[Bài Ca Lứa Đôi]]&lt;br /&gt;
#Đám Cưới Đôi Chim Hồng&lt;br /&gt;
#Đám Cưới Người Chăn Chiên&lt;br /&gt;
#Khúc Nhạc Lứa Đôi&lt;br /&gt;
#Khúc Tình Ca Ngày Cưới&lt;br /&gt;
#Lời Chúc Lứa Đôi&lt;br /&gt;
#[[Lời Thề Trước Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Miền Hoa Thắm Không Phai Tàn]]&lt;br /&gt;
#Mừng Đôi Uyên Ương&lt;br /&gt;
#Mừng Hoàng Anh - Hoài Ngọc&lt;br /&gt;
#Mừng Ngày Cưới&lt;br /&gt;
#Mừng Ngày Hôn Lễ&lt;br /&gt;
#Ngày Vui Đôi Lứa&lt;br /&gt;
#Người Yêu Anh Chăn Bầy&lt;br /&gt;
#Nhánh Nho Chung Gốc&lt;br /&gt;
#Tâm Sự Người Chăn Chiên&lt;br /&gt;
#Thuyền Tình Trên Nước Xanh&lt;br /&gt;
#[[Tình Ta Là Bài Ca Yêu Thương]]&lt;br /&gt;
#Xin Ngài Chứng Giám Tình Yêu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nguyên Tác'''&lt;br /&gt;
#I Love You So&lt;br /&gt;
#Đám Cưới Đôi Chim Hồng&lt;br /&gt;
#In My Heart&lt;br /&gt;
#When Love Shines In&lt;br /&gt;
#Khúc Tình Ca Ngày Cưới&lt;br /&gt;
#Sunlights&lt;br /&gt;
#Oui, Devant Dieu&lt;br /&gt;
#In the Land Where the Flowers Bloom Forever&lt;br /&gt;
#Mừng Đôi Uyên Ương&lt;br /&gt;
#Dân Ca&lt;br /&gt;
#Where You and I Were Young - Maggie&lt;br /&gt;
#Mừng Ngày Hôn Lễ&lt;br /&gt;
#Little Brown Church in the Vale&lt;br /&gt;
#In My Heart There Rings a Melody&lt;br /&gt;
#Silver Threads Among the Golds&lt;br /&gt;
#How Firm a Foundation (1787)&lt;br /&gt;
#Love Found a Way&lt;br /&gt;
#There's a Song in My Heart&lt;br /&gt;
#Each for the Other&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Lời'''&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]] (18/1/1983)&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]] (10/3/1983)&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]] (28/9/1984)&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nhạc''' &lt;br /&gt;
#Paulina Hatchers (1547)&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#John W. Peterson&lt;br /&gt;
#[[William J. Kirkpatrick]] &lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Winfield J. Weeden&lt;br /&gt;
#Gloria Lasso&lt;br /&gt;
#B. D. Ackley&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Dân Ca&lt;br /&gt;
#J.A. Butterfield&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#William J. Pills&lt;br /&gt;
#Elton M. Roth&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Jo­seph Funk (1778-1862)&lt;br /&gt;
#Harry Dixon Loes&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Vĩnh Phúc: Nhạc Thiếu Nhi==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Tựa đề'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
#Bàn Tay Em&lt;br /&gt;
#Bầy Học Sinh Nhỏ&lt;br /&gt;
#Bầu Trời Xanh&lt;br /&gt;
#Cầu Nguyện Buổi Tối&lt;br /&gt;
#Cầm Tay Nhau Hát&lt;br /&gt;
#Chiến Thắng Cho Chúa&lt;br /&gt;
#Chúa Gọi&lt;br /&gt;
#Chúa Phán Hứa&lt;br /&gt;
#Chúa Yêu Em&lt;br /&gt;
#Đón Một Mùa Hè&lt;br /&gt;
#Đi Nhà Thờ&lt;br /&gt;
#Em Mong Là Sao Trời&lt;br /&gt;
#Em Muốn Là Đoá Hoa&lt;br /&gt;
#Em Ngoan Để Chúa Vui&lt;br /&gt;
#Em Ước Sẽ Là Đàn Chim&lt;br /&gt;
#Em Vui Hát Không Ngừng&lt;br /&gt;
#Em Yêu Chúa&lt;br /&gt;
#Gia Đình Em&lt;br /&gt;
#Gió Chiều&lt;br /&gt;
#Lên Đường&lt;br /&gt;
#Lòng Biết Ơn&lt;br /&gt;
#Lòng Em Vui&lt;br /&gt;
#Lời Cầu Nguyện Hằng Ngày&lt;br /&gt;
#Mau Đến Tin Chúa Giê-xu&lt;br /&gt;
#Mong Ước&lt;br /&gt;
#Niềm Vui Sum Họp&lt;br /&gt;
#Niềm Vui Thơ Ấu&lt;br /&gt;
#Nhà Trên Trời&lt;br /&gt;
#Ôi Chẳng Mưa Đó Sao&lt;br /&gt;
#Tìm Về Đất Đứa&lt;br /&gt;
#Tôi Không Có Bạc Vàng&lt;br /&gt;
#Trong Nhà Thờ&lt;br /&gt;
#Vâng Lời Chúa&lt;br /&gt;
#Xuân Về&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Lời'''&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]] &lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]] &lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]] &lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]] &lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nhạc''' &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Vĩnh Phúc&lt;br /&gt;
#Vĩnh Phúc&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Vĩnh Phúc&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Vĩnh Phúc: Tình Ca==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Tựa đề'''&lt;br /&gt;
#[[Cánh Hoa Tình Yêu]]&lt;br /&gt;
#Đây Bình Minh&lt;br /&gt;
#[[Đường Về Dĩ Vãng]]&lt;br /&gt;
#Đường Tôi Đi Tới&lt;br /&gt;
#[[Hai Phương Trời Cách Biệt]]&lt;br /&gt;
#[[Hoài Mong]]&lt;br /&gt;
#[[Một Người Lên Xe Hoa]]&lt;br /&gt;
#[[Một Thuở Yêu Đàn]]&lt;br /&gt;
#[[Ngàn Thu Áo Tím]]&lt;br /&gt;
#[[Người Đi Chưa Về]]&lt;br /&gt;
#[[Người Yêu Dấu Mang Tên Một Loài Hoa]]&lt;br /&gt;
#[[Nhặt Lá Vàng]]&lt;br /&gt;
#[[Nhớ Hoài]]&lt;br /&gt;
#[[Thơ Ấu Qua Rồi]]&lt;br /&gt;
#[[Tìm Một Ánh Sao]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Ta Như Giấc Mơ]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Thơ Mộng]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím]]&lt;br /&gt;
#[[Trang Nhật Ký]]&lt;br /&gt;
#[[Vào Mộng]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Lời'''&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nhạc''' &lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Jaques Revaux &lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Phạm Anh Dũng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Phạm Anh Dũng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Phạm Anh Dũng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Tuyển Tập Thánh Ca Chép Tay của Nhạc sĩ [[Vĩnh Phúc]].&lt;br /&gt;
* Tuyển Tập Thánh Ca của Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thanh.&lt;br /&gt;
* Phúc Âm Ca (1988).&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Giám Lý]] (1992) &lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Baptist]] (1993) &lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Hoa Kỳ]] (1998) &lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Miền Nam]] (2011) &lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ch%E1%BB%97_H%C3%B3c_%C4%90%C3%A1_V%E1%BB%AFng_An&amp;diff=35661</id>
		<title>Chỗ Hóc Đá Vững An</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ch%E1%BB%97_H%C3%B3c_%C4%90%C3%A1_V%E1%BB%AFng_An&amp;diff=35661"/>
		<updated>2026-02-20T21:14:08Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: He Hideth My Soul&lt;br /&gt;
*Lời: Fanny J. Crosby&lt;br /&gt;
*Nhạc: [[William J. Kirkpatrick]]&lt;br /&gt;
==Lời Anh==&lt;br /&gt;
:'''He Hideth My Soul'''&lt;br /&gt;
:1.    A wonderful Savior is Jesus my Lord,&lt;br /&gt;
:    A wonderful Savior to me;&lt;br /&gt;
:    He hideth my soul in the cleft of the rock,&lt;br /&gt;
:    Where rivers of pleasure I see.&lt;br /&gt;
:'''        Refrain:'''&lt;br /&gt;
:        He hideth my soul in the cleft of the rock,&lt;br /&gt;
:        That shadows a dry, thirsty land;&lt;br /&gt;
:        He hideth my life in the depths of His love,&lt;br /&gt;
:        And covers me there with His hand,&lt;br /&gt;
:        And covers me there with His hand.&lt;br /&gt;
:2.    A wonderful Savior is Jesus my Lord,&lt;br /&gt;
:    He taketh my burden away,&lt;br /&gt;
:    He holdeth me up and I shall not be moved,&lt;br /&gt;
:    He giveth me strength as my day.&lt;br /&gt;
:3.    With numberless blessings each moment He crowns,&lt;br /&gt;
:    And filled with His fullness divine,&lt;br /&gt;
:    I sing in my rapture, oh, glory to God!&lt;br /&gt;
:    For such a Redeemer as mine.&lt;br /&gt;
:4.    When clothed with His brightness transported I rise&lt;br /&gt;
:    To meet Him in clouds of the sky,&lt;br /&gt;
:    His perfect salvation, His wonderful love,&lt;br /&gt;
:    I’ll shout with the millions on high.&lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Chỗ Hóc Đá Vững An'''&lt;br /&gt;
:1.	 Chỉ có Giê-xu siêu phàm là chính Cứu Chúa tôi&lt;br /&gt;
:Cứu Chúa thật lạ lùng muôn muôn đời&lt;br /&gt;
:Chỗ hóc đá thiêng kia đem hồn linh tôi yên giấu&lt;br /&gt;
:Ở đây tôi vui xem sông linh mầu&lt;br /&gt;
:'''Điệp Khúc:'''&lt;br /&gt;
:Hồn tôi Giê-xu đem đặt chỗ hóc đá vững an&lt;br /&gt;
:Bóng linh thạch che dải đất khô hạn&lt;br /&gt;
:Ngài lấy ái đức phủ tôi trong chốn thâm uyên thay&lt;br /&gt;
:Cánh tay Giê-xu che an ninh thay&lt;br /&gt;
:Cánh thiêng che trùm khiến bình tịnh thay.&lt;br /&gt;
:2.	Chỉ có Giê-xu siêu phàm là chính Cứu Chúa tôi&lt;br /&gt;
:Cất gánh ác khiên ra khỏi tôi rồi&lt;br /&gt;
:Chúa đỡ nâng tâm tôi không dời lay không nao núng&lt;br /&gt;
:Bổ thêm cho tôi linh năng vô cùng.&lt;br /&gt;
:3. Mỗi phút phước thiêng vô tận Ngài đổ xuống biết bao,&lt;br /&gt;
:Mỗi phút ơn lành dường suối tuôn dào,&lt;br /&gt;
:Bởi thế trước ngôi tôn vinh lòng tôi vui ca xướng,&lt;br /&gt;
:Đấng yêu thương mua tôi cách lạ thường.&lt;br /&gt;
:4. Lúc cất lên cao tôi được cùng khoác áo trắng tinh&lt;br /&gt;
:Rước Chúa quang lâm từ trên thiên đình&lt;br /&gt;
:Với cả thiên dân chung hòa giọng hoan ca cung kính&lt;br /&gt;
:Cứu ân cao siêu yêu thương trọn tình. &lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/mp3/267.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/beat/267.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/sheet/267.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam]] (1950) - Bài số 267&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Giám Lý]] - Bài số 103&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Hoa Kỳ]] - Bài số 262&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Baptist]] - Bài số 377&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] - Thư Viện Tin Lành&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ch%E1%BB%97_H%C3%B3c_%C4%90%C3%A1_V%E1%BB%AFng_An&amp;diff=35660</id>
		<title>Chỗ Hóc Đá Vững An</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ch%E1%BB%97_H%C3%B3c_%C4%90%C3%A1_V%E1%BB%AFng_An&amp;diff=35660"/>
		<updated>2026-02-20T20:55:06Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: He Hideth My Soul&lt;br /&gt;
*Lời: Fanny J. Crosby&lt;br /&gt;
*Nhạc: [[William J. Kirkpatrick]]&lt;br /&gt;
==Lời Anh==&lt;br /&gt;
:'''He Hideth My Soul'''&lt;br /&gt;
:1.    A wonderful Savior is Jesus my Lord,&lt;br /&gt;
:    A wonderful Savior to me;&lt;br /&gt;
:    He hideth my soul in the cleft of the rock,&lt;br /&gt;
:    Where rivers of pleasure I see.&lt;br /&gt;
:'''        Refrain:'''&lt;br /&gt;
:        He hideth my soul in the cleft of the rock,&lt;br /&gt;
:        That shadows a dry, thirsty land;&lt;br /&gt;
:        He hideth my life in the depths of His love,&lt;br /&gt;
:        And covers me there with His hand,&lt;br /&gt;
:        And covers me there with His hand.&lt;br /&gt;
:2.    A wonderful Savior is Jesus my Lord,&lt;br /&gt;
:    He taketh my burden away,&lt;br /&gt;
:    He holdeth me up and I shall not be moved,&lt;br /&gt;
:    He giveth me strength as my day.&lt;br /&gt;
:3.    With numberless blessings each moment He crowns,&lt;br /&gt;
:    And filled with His fullness divine,&lt;br /&gt;
:    I sing in my rapture, oh, glory to God!&lt;br /&gt;
:    For such a Redeemer as mine.&lt;br /&gt;
:4.    When clothed with His brightness transported I rise&lt;br /&gt;
:    To meet Him in clouds of the sky,&lt;br /&gt;
:    His perfect salvation, His wonderful love,&lt;br /&gt;
:    I’ll shout with the millions on high.&lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Chỗ Hóc Đá Vững An'''&lt;br /&gt;
:1.	 Chỉ có Giê-xu siêu phàm là chính Cứu Chúa tôi&lt;br /&gt;
:Cứu Chúa thật lạ lùng muôn muôn đời&lt;br /&gt;
:Chỗ hóc đá thiêng kia đem hồn linh tôi yên giấu&lt;br /&gt;
:Ở đây tôi vui xem sông linh mầu&lt;br /&gt;
:'''Điệp Khúc:'''&lt;br /&gt;
:Hồn tôi Giê-xu đem đặt chỗ hóc đá vững an&lt;br /&gt;
:Bóng linh thạch che dải đất khô hạn&lt;br /&gt;
:Ngài lấy ái đức phủ tôi trong chốn thâm uyên thay&lt;br /&gt;
:Cánh tay Giê-xu che an ninh thay&lt;br /&gt;
:Cánh thiêng che trùm khiến bình tịnh thay.&lt;br /&gt;
:2.	Chỉ có Giê-xu siêu phàm là chính Cứu Chúa tôi&lt;br /&gt;
:Cất gánh ác khiên ra khỏi tôi rồi&lt;br /&gt;
:Chúa đỡ nâng tâm tôi không dời lay không nao núng&lt;br /&gt;
:Bổ thêm cho tôi linh năng vô cùng.&lt;br /&gt;
:3. Mỗi phút phước thiêng vô tận Ngài đổ xuống biết bao,&lt;br /&gt;
:Mỗi phút ơn lành dường suối tuôn dào,&lt;br /&gt;
:Bởi thế trước ngôi tôn vinh lòng tôi vui ca xướng,&lt;br /&gt;
:Đấng yêu thương mua tôi cách lạ tình.&lt;br /&gt;
:4. Lúc cất lên cao tôi được cùng khoác áo trắng tinh&lt;br /&gt;
:Rước Chúa quang lâm từ trên thiên đình&lt;br /&gt;
:Với cả thiên dân chung hòa giọng hoan ca cung kính&lt;br /&gt;
:Cứu ân cao siêu yêu thương trọn tình. &lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/mp3/267.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/beat/267.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/sheet/267.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam]] (1950) - Bài số 267&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Giám Lý]] - Bài số 103&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Hoa Kỳ]] - Bài số 262&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Baptist]] - Bài số 377&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] - Thư Viện Tin Lành&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35659</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35659"/>
		<updated>2026-02-12T06:57:23Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, ta kêu gọi trước hết hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, là một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này mà ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng, làm sứ đồ, và giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, 10. nhưng hãy thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hoặc cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt rồi đi đến sự phạm tội. 15. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Kêu gọi cầu nguyện'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, trước hết, ta khuyên con nên nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta, là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. Ngài đã hiến chính mình Ngài để làm giá chuộc cho tất cả nhân loại - một sự xác nhận đúng thời điểm. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này ta đã được bổ nhiệm làm nhà truyền giảng, làm sứ đồ, làm giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp mọi nơi hãy đưa những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện - đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Hướng dẫn cho phụ nữ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. Tuy nhiên, ta không cho phép phụ nữ dạy, hoặc cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt và đi đến sự phạm tội. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, trước hết, ta kêu gọi hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người đang có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Vì điều này, ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng và sứ đồ  - Ta nói thật, không nói dối -  làm giáo sư cho các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người đàn ông ở khắp mọi nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng cách kết tóc, hay vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, 10. nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời, qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hay cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt đi đến sự phạm tội. 15. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống trong đức tin, trong tình yêu thương, trong sự thánh khiết, và với sự tiết chế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, 2.  cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhân đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. 3.  Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, 4.  Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật. 5.  Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người; 6.  Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ 7.  (ta nói thật, không nói dối), vì lời chứng ấy, ta đã được cử làm thầy giảng, là sứ đồ và giáo sư cho dân ngoại, để dạy họ về đức tin và về lẽ thật. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vậy, ta muốn những người đàn ông đều giơ tay thánh sạch lên trời, mà cầu nguyện khắp mọi nơi, chớ có giận dữ và cãi cọ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Ta cũng muốn rằng những người đàn bà ăn mặc một cách gọn ghẽ, lấy nết na và đức hạnh giồi mình, không dùng những tóc gióc, vàng, châu ngọc và áo quần quí giá, 10.  nhưng dùng việc lành, theo lẽ đang nhiên của người đàn bà tin kính Chúa. 11.  Đàn bà phải yên lặng mà nghe dạy, lại phải vâng phục mọi đàng. 12.  Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ, cũng không được cầm quyền trên đàn ông; nhưng phải ở yên lặng. 13.  Vì A-đam được dựng nên trước nhất, rồi mới tới Ê-va. 14.  Lại không phải A-đam bị dỗ dành, bèn là người đàn bà bị dỗ dành mà sa vào tội lỗi. 15.  Dầu vậy, nếu đàn bà lấy đức hạnh mà bền đỗ trong đức tin, trong sự yêu thương, và trong sự nên thánh, thì sẽ nhân đẻ con mà được cứu rỗi. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cầu Nguyện cho Mọi Người'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vậy trước hết, ta khuyên con hãy cầu xin, khẩn nguyện, cầu thay, và cảm tạ cho mọi người, 2 cho các vua và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta có thể sống một đời bình tịnh và êm ả, trong nếp sống đạo vẹn toàn và đầy phẩm giá.  3 Ðây là điều tốt đẹp và vui lòng trước mặt Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của chúng ta; 4 Ngài muốn mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Vì chỉ có một Ðức Chúa Trời và một Ðấng Trung Gian giữa Ðức Chúa Trời và loài người, đó là Ðức Chúa Jesus Christ, một người, 6 Ðấng đã hiến chính Ngài làm giá chuộc mọi người, một sự kiện được xác chứng là đã xảy ra đúng thời điểm.  7 Vì sự kiện đó mà ta đã được bổ nhiệm làm giảng sư và sứ đồ –ta nói thật, chứ không nói dối– tức làm giáo sư để dạy các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nam Nữ Trong Hội Thánh Khi Nhóm Lại Thờ Phượng Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Vậy ta muốn quý ông hãy cầu nguyện ở mọi nơi, đưa đôi tay thánh sạch lên, đừng giận dữ và cãi nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Quý bà cũng vậy, hãy ăn mặc lịch sự, trang sức thanh nhã và giản dị, không bới những kiểu tóc cầu kỳ, không đeo vàng ngọc đắt giá, hoặc mặc những y phục đắt tiền, 10 nhưng làm những việc từ thiện, đó là những điều thích hợp với các phụ nữ xưng mình là người tin kính Ðức Chúa Trời.  11 Phụ nữ hãy học trong yên lặng và thuận phục hoàn toàn.  12 Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ hay cầm quyền trên đàn ông, nhưng phải yên lặng, 13 vì A-đam được dựng nên trước rồi mới đến Ê-va; 14 và không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người đàn bà bị lừa gạt và phạm tội.  15 Tuy vậy đàn bà sẽ được cứu qua việc sinh con, nếu họ cứ tiếp tục ở trong đức tin, tình yêu, và thánh khiết, với sự điềm đạm.       &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 1]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Nh%C3%A3_Ca:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35658</id>
		<title>Nhã Ca: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Nh%C3%A3_Ca:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35658"/>
		<updated>2026-02-11T21:19:01Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Tôi là đóa hồng của Sa-rôn, là đóa huệ của các thung lũng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Người yêu của tôi giữa các thiếu nữ, như đóa huệ giữa những bụi gai. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Người yêu của tôi giữa những chàng trai, giống như cây táo giữa những cây rừng. Tôi vui thích được ngồi dưới bóng của chàng, và trái của chàng ngọt ngào vị giác của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Chàng đưa tôi vào đại yến sảnh, và kỳ hiệu vẫy trên tôi là ái tình. 5. Chàng bồi bổ tôi bằng những bánh nho, hồi phục tôi bằng những trái táo, bởi vì tôi bệnh tương tư. 6. Tay trái chàng kê dưới đầu tôi, &lt;br /&gt;
còn tay phải chàng ôm lấy tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Các thiếu nữ Giê-ru-sa-lem! Tôi van xin các cô. Vì những hoàng dương và nai đồng nội, xin đừng khuấy động, xin đừng đánh thức ái tình cho đến khi thỏa nguyện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Kìa! Tiếng của người yêu tôi. Chàng đang đến, chàng nhảy qua các núi, vượt qua những đồi. 9. Người yêu của tôi như con hoàng dương, hay là chú nai tơ. Kìa, chàng đứng sau bức tường của chúng tôi, nhìn ngang qua cửa sổ, ngó qua các chấn song.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Người yêu của tôi lên tiếng và nói với tôi: “Người yêu của anh! Hãy chổi dậy với anh. Người đẹp của anh! Hãy đến, rồi cùng đi. 11. Vì mùa đông đã qua, mưa đã dứt, 12. hoa xuất hiện trên đất. Mùa ca hát đã đến, tiếng chim bồ câu vang dậy khắp quê nhà. 13. Cây vả đang trổ những trái xanh, các cành nho ra nụ tỏa ngát hương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của anh! Hãy đứng lên! Hãy trỗi dậy! Người đẹp của anh! Hãy đến, rồi cùng đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Bồ câu của anh! Nép trong khe đá, ẩn bên vách núi. Hãy cho anh được nhìn gương mặt của em, và cho anh nghe giọng của em; vì giọng của em ngọt dịu, và gương mặt của em yêu kiều. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Xin bắt giùm chúng tôi những con chồn, những con chồn nhỏ phá hoại những cành nho; bởi vì những cành nho của chúng tôi đang ra nụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Người yêu của tôi thuộc về tôi, và tôi thuộc về chàng. Chàng đang ăn giữa những hoa huệ, 17.	 cho tới khi hừng đông đến, và bóng tối tan đi. Người yêu của tôi - đối với tôi - như một con hoàng dương, hay là một chú nai tơ trên những ngọn núi tại Bê-thẹt. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cô Gái'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi là đóa hồng của Sa-rôn, là đóa huệ của các thung lũng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chàng Trai'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của tôi ở giữa những thiếu nữ,&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như đóa huệ giữa những bụi gai.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cô Gái'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của tôi ở giữa những chàng trai,&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như cây táo giữa những cây rừng.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi vui thích được ngồi dưới bóng của chàng,&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
và trái của chàng ngọt ngào cho vị giác của tôi.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cô Gái Nói Với Các Bạn'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chàng đưa tôi vào dinh đại yến,&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và niềm kiêu hãnh của chàng cho tôi là tình yêu&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bồi bổ tôi bằng những bánh nho,&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hồi phục tôi bằng những trái táo;&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì tôi bệnh tương tư.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tay trái chàng kê dưới đầu tôi,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Còn tay phải chàng ôm lấy tôi.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các thiếu nữ Giê-ru-sa-lem! Tôi van các cô,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì những hoàng dương và nai đồng nội,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin đừng khuấy động, đừng đánh thức ái tình&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cho đến khi thỏa nguyện.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kìa! Tiếng của người yêu tôi.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chàng đến,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhảy qua các núi,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vượt qua những đồi.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của tôi như hoàng dương,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hoặc chú nai tơ.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kìa, chàng đứng sau bức tường của chúng tôi,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhìn ngang qua cửa sổ,&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngó qua các chấn song.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của tôi lên tiếng và nói với tôi:&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Người yêu của anh,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy chổi dậy với anh &amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người đẹp của anh,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy đến, rồi đi.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì mùa đông đã qua,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mưa đã dứt;&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hoa xuất hiện trên đất;&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mùa ca hát đã đến,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và tiếng chim bồ câu vang dậy khắp quê mình.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cây vả đang trổ những trái xanh,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các cành nho ra nụ tỏa ngát hương.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của anh!&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy đứng lên! Hãy chỗi dậy!&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người đẹp của anh!&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy đến, rồi đi.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chàng Trai'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bồ câu của anh!&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong khe đá,&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ẩn bên vách núi,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy cho anh được nhìn gương mặt của em,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và cho anh nghe giọng của em;&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì giọng của em ngọt dịu,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và gương mặt em yêu kiều.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Các Anh Của Cô Gái'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin bắt giùm chúng tôi những con chồn,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những con chồn nhỏ&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phá hoại những cành nho;&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì những cành nho của chúng tôi đang ra nụ.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cô Gái'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của tôi thuộc về tôi,&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và tôi thuộc về chàng;&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chàng cho ăn giữa những hoa huệ.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cho tới khi hừng đông đến,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và bóng tối tan đi.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của tôi - đối với tôi - như con hoàng dương,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hay là chú nai tơ trên những ngọn núi tại Bê-thẹt.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ta là hoa tường vi của Sa-rôn, Bông huệ của trũng.&amp;lt;br/&amp;gt;2.  Bạn tình ta ở giữa đám con gái Như bông huệ ở giữa gai gốc.&amp;lt;br/&amp;gt;3.  Lương nhân tôi ở giữa đám con trai Như cây bình bát ở giữa những cây rừng. Tôi vui lòng ngồi dưới bóng người; Trái người ngọt ngào cho ổ gà tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;4.  Người đưa tôi vào phòng yến tiệc, Ngọn cờ người phất trên tôi ấy là ái tình.&amp;lt;br/&amp;gt;5.  Hãy lấy bánh nho nâng đỡ lòng tôi; Dùng trái bình bát bổ sức tôi lại; Vì tôi có bịnh bởi ái tình.&amp;lt;br/&amp;gt;6.  Tay tả người kê dưới đầu tôi, Còn tay hữu người ôm lấy tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;7.  Hỡi các con gái Giê-ru-sa-lem, ta ép nài các ngươi Bởi những con hoàng dương hay là con nai đồng nội, Chớ kinh động, chớ làm tỉnh thức ái tình ta Cho đến khi nó muốn.&amp;lt;br/&amp;gt;8.  Ấy là tiếng của lương nhân tôi! Kìa, người đến, nhảy qua các núi, Vượt qua các gò.&amp;lt;br/&amp;gt;9.  Lương nhân tôi giống như con hoàng dương hay là con nai tơ. Kìa, người đứng sau tường chúng tôi, Xem ngang qua cửa sổ, Ngó ngang qua chấn song.&amp;lt;br/&amp;gt;10.  Lương nhân tôi nói chuyện với tôi rằng: Hỡi bạn tình ta, người đẹp của ta ơi, hãy chổi dậy và đến.&amp;lt;br/&amp;gt;11.  Vì kìa, mùa đông đã qua, Mưa đã dứt hết rồi;&amp;lt;br/&amp;gt;12.  Bóng hoa nở ra trên đất; Mùa hát xướng đã đến nơi, Và tiếng chim cu nghe trong xứ;&amp;lt;br/&amp;gt;13.  Cây vả đang chín trái xanh tươi của nó, Và nho trổ hoa nức mùi hương. Hỡi bạn tình ta, người đẹp của ta ơi, hãy chổi dậy và đến.&amp;lt;br/&amp;gt;14.  Hỡi chim bò câu ta trong hóc đá, Tại chốn đụt của nơi hê hẩm, Hãy tỏ cho ta xem mặt mũi mình, Cho ta nghe tiếng mình; Vì tiếng mình êm dịu. mặt mũi mình có duyên.&amp;lt;br/&amp;gt;15.  Hãy bắt cho chúng tôi những con chồn, Những con chồn nhỏ phá hại vườn nho; Vì vườn nho chúng tôi đang trổ bông.&amp;lt;br/&amp;gt;16.  Lương nhân tôi thuộc về tôi, và tôi thuộc về người; Người chăn bầy mình giữa đám bông huệ,&amp;lt;br/&amp;gt;17.  Cho đến hừng đông lố ra, Và bóng tối tan đi. Hỡi lương nhân tôi, hãy trở về, Khá giống như con hoàng dương hay là con nai tơ Trên hòn núi Bê-thẹt.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B22\V02B22C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Nàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Tôi là đóa hoa hồng của Sa-rôn,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Là hoa huệ trong các thung lũng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Như đóa hoa huệ ở giữa những gai góc thể nào,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của tôi ở giữa các thiếu nữ cũng như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Như cây táo ở giữa những cây rừng thể nào,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của tôi ở giữa các chàng trai cũng như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi yêu thích được ngồi dưới bóng mát của chàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trái của chàng làm ngọt lịm miệng tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Chàng đưa tôi vào phòng tiệc;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Băng biểu ngữ của chàng trên tôi là tình yêu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Hãy cho tôi những trái nho khô để bổ sức tôi lại,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy cho tôi những trái táo tươi để tôi được bồi dưỡng lại,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi tôi đang kiệt lực vì yêu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Tay trái chàng để dưới đầu tôi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Còn tay phải chàng ôm tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Hỡi các thiếu nữ ở Giê-ru-sa-lem, tôi nài xin các chị:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy quan sát những linh dương và những nai tơ trong đồng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mà đừng khơi dậy hay đánh thức ái tình cho đến khi nó muốn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Tán Tụng Yêu Ðương Khi Mùa Xuân Ðến'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Hãy lắng nghe!  Tiếng của người yêu tôi đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xem kìa!  Chàng đang đến,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vượt qua các rặng núi, băng qua các ngọn đồi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Người yêu của tôi như một con linh dương, như một chú nai tơ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kìa, chàng đang đứng sau tường của chúng tôi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chàng đang nhìn qua cửa sổ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ sau các chấn song, chàng đang đưa mắt nhìn tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Người yêu của tôi cất tiếng nói, chàng bảo tôi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Dậy đi em, người yêu của anh, người đẹp của anh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy ra đây với anh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Vì kìa, mùa đông đã qua rồi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mưa đã tạnh và đã dứt hẳn rồi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Hoa tươi đang nở rộ khắp nơi trên đất,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mùa ca hát đã đến,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tiếng chim gáy đã trỗi lên trong khắp xứ chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Cây vả đang ra trái non,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hoa nho đang tỏa mùi thơm ngát.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dậy đi em, người yêu của anh, người đẹp của anh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy ra đây với anh.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Hỡi bồ câu của anh trong hốc đá,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong hốc nhỏ giữa lưng chừng vách núi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy cho anh trông thấy mặt em,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin cho anh nghe tiếng nói của em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì tiếng em ngọt ngào,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và mặt em xinh đẹp đáng yêu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Hãy bắt giùm chúng tôi mấy con chồn,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mấy con chồn nhỏ phá hoại vườn nho.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vườn nho của chúng tôi đang trổ hoa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Người yêu của tôi là của tôi, và tôi là của chàng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chàng cho bầy chiên của chàng ăn cỏ giữa đám hoa huệ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Trước khi bình minh đến và bóng tối biến đi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy quay lại với em, anh yêu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy như con linh dương hay như con nai tơ trên gành núi lởm chởm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Nhã Ca]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_33&amp;diff=35657</id>
		<title>Giê-rê-mi: Chương 33</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_33&amp;diff=35657"/>
		<updated>2026-02-11T02:18:22Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đó, có lời của Đức Giê-hô-va đến với Giê-rê-mi lần thứ hai trong khi ông bị giam trong sân của vệ binh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Đức Giê-hô-va là Đấng đã làm nên việc nầy. Đức Giê-hô-va là Đấng đã hình thành và thiết lập việc nầy, danh Ngài là Đức Giê-hô-va, đã phán: 3. Hãy kêu cầu Ta, Ta sẽ trả lời. Ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và diệu kỳ, là những việc ngươi chưa từng biết. 4. Bởi vì đây là điều mà Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã phán về những ngôi nhà trong thành nầy và những cung điện của vua Giu-đa đã bị triệt hạ vì chống lại việc đắp đồn vây hãm và gươm đao. 5. Khi giao chiến với người Canh-đê, những ngôi nhà nầy sẽ đầy xác của những kẻ mà Ta đã giết trong cơn nóng giận và thịnh nộ của Ta, bởi vì tất cả những sự gian ác của thành nầy đã khiến Ta ngoảnh mặt khỏi nó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nầy, Ta sẽ đem đến cho nó sự phục hồi và chữa lành. Ta sẽ chữa lành cho chúng và bày tỏ cho chúng sự hòa bình thịnh vượng và ổn định. 7. Ta sẽ đem những kẻ lưu đày của Giu-đa và Y-sơ-ra-ên trở về, rồi tái lập chúng như thuở ban đầu. 8. Ta sẽ thanh tẩy tất cả những việc gian ác mà chúng đã phạm cùng Ta. Ta sẽ tha thứ tất cả những việc gian ác mà chúng đã làm để chống lại Ta. 9. Nó sẽ đem lại cho Ta danh tiếng, sự vui mừng, ca ngợi, và vinh quang trước mặt tất cả các dân tộc trên trái đất.  Những người nào nghe về tất cả những phước hạnh mà Ta đã ban cho chúng, họ sẽ khiếp sợ và kinh ngạc trước tất cả những phước hạnh và tất cả sự hòa bình thịnh vượng mà Ta ban cho nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Đây là nơi mà các ngươi đã nói “Đó là một nơi hoang vu, không còn có người, cũng không có loài thú”, thì các thành của Giu-đa và các đường phố của Giê-ru-sa-lem - tức là những nơi đã bị hoang vu không có người, không có dân cư, cũng không có loài thú - sẽ huyên náo trở lại, 11. sẽ có tiếng reo mừng, tiếng hân hoan, tiếng của chàng rể, tiếng của cô dâu, tiếng hát của những người đem tế lễ tạ ơn vào trong nhà của Đức Giê-hô-va, rằng: &amp;quot;Hãy tôn ngợi Đức Giê-hô-va của các đạo quân, vì Đức Giê-hô-va thật tốt lành và tình thương của Ngài còn đến đời đời.&amp;quot; Bởi vì Ta sẽ đem những kẻ lưu đày trở về xứ sở như lúc ban đầu. Đức Giê-hô-va phán vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Tại nơi hoang vu nầy, là nơi không có người hay thú vật, thì trong mọi thành của nó sẽ có chỗ cho người chăn chiên và bầy súc vật nằm nghỉ. 13. Trong các thành ở miền núi, các thành ở Sơ-phê-la, các thành ở miền Nam, trong đất Bên-gia-min, trong các làng phụ cận của Giê-ru-sa-lem, và trong các thành của Giu-đa, những bầy chiên sẽ lại đi qua dưới bàn tay của người đếm chúng. Đức Giê-hô-va phán vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, trong những ngày đến, Ta sẽ hoàn thành điều tốt lành mà Ta đã hứa với nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa. 15. Trong những ngày đó, vào đúng thời điểm, Ta sẽ khiến một Nhánh công chính đâm chồi từ dòng Đa-vít. Người sẽ thực thi sự công lý và chính trực trên đất. 16. Trong những ngày đó, Giu-đa sẽ được giải cứu và Giê-ru-sa-lem sẽ sống an bình. Thành sẽ mang tên là: &amp;quot;Đức Giê-hô-va, sự công chính của chúng tôi.&amp;quot; 17. Vì đây là điều Đức Giê-hô-va phán: Đa-vít sẽ không thiếu người ngự trên ngôi của nhà Y-sơ-ra-ên. 18. Các tư tế thuộc dòng Lê-vi cũng không bao giờ thiếu người đứng trước mặt Ta để dâng tế lễ thiêu, đốt tế lễ chay, và dâng sinh tế hằng ngày.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi: 20. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nếu các ngươi có thể phá vỡ giao ước của Ta với ban ngày và giao ước của Ta với ban đêm, để chúng không đến đúng chu kỳ của ngày và đêm, 21. thì giao ước của Ta với Ða-vít, là tôi tớ của Ta, sẽ không có con cháu trị vì trên ngôi của nó, và với các tư tế và dòng Lê-vi, là những người phục vụ Ta, có thể bị phá bỏ. 22. Không ai có thể đếm được số lượng các tinh tú ở trên trời hay đo lường cát của biển. Ta cũng sẽ làm cho con cháu của Đa-vít, là tôi tớ của ta, và con cháu của Lê-vi, người phục vụ Ta, gia tăng như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi: 24. Ngươi không thấy những người nầy đã nói: &amp;quot;Hai gia tộc mà Đức Giê-hô-va đã chọn, Ngài đã bỏ họ rồi.&amp;quot; Vì vậy, chúng khinh bỉ dân của Ta, và chúng không xem họ là một dân nữa. 25. Đức Giê-hô-va phán: Nếu Ta không lập giao ước với ngày và đêm, và không chỉ định luật lệ cho trời và đất, 26. thì Ta sẽ từ bỏ dòng dõi của Gia-cốp và Đa-vít, là đầy tớ của Ta, và sẽ không chọn một ai trong dòng dõi của người để cai trị dòng dõi của Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Bởi vì Ta sẽ đem những kẻ lưu đày trở về và sẽ thương xót chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Trong khi Giê-rê-mi còn bị giam trong hành lang lính canh, thì có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng người lần thứ hai rằng: 2.  Đức Giê-hô-va là Đấng làm nên sự nầy, Đức Giê-hô-va là Đấng tạo và lập sự nầy, danh Ngài là Giê-hô-va, phán như vầy: 3.  Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Về nhà cửa của thành nầy và cung điện của vua Giu-đa, mà người ta đã phá đi để ngự lại đồn lũy và gươm dao của giặc, thì Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: 5.  Khi đi đánh cùng người Canh-đê, nhà cửa nầy sẽ đầy dẫy xác chết của những người mà ta đã giết trong cơn giận và thạnh nộ của ta; ấy là vì cớ dân nầy hung ác mà ta đã lánh mặt khỏi thành đó. 6.  Nầy, ta sẽ ban sức mạnh cho nó, và chữa lành; ta sẽ chữa lành chúng nó, sẽ tỏ cho chúng nó thấy dư dật sự bình an và lẽ thật. 7.  Ta sẽ khiến những phu tù Giu-đa và phu tù Y-sơ-ra-ên trở về; gây dựng lại chúng nó như hồi trước. 8.  Ta sẽ làm cho sạch mọi sự gian ác chúng nó đã phạm nghịch cùng ta; ta sẽ tha mọi sự gian ác chúng nó đã phạm nghịch cùng ta, và đã phạm pháp nghịch cùng ta. 9.  Thành nầy sẽ có danh vui vẻ, ngợi khen, vinh hiển cho ta ở trước mặt mọi dân thiên hạ; họ sẽ nghe mọi sự lành ta làm cho chúng nó, thì đều sợ hãi và run rẩy về mọi phước lành cùng mọi sự bình an mà ta sẽ ban cho chúng nó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Đức Giê-hô-va phán như vầy: Trong chốn nầy là nơi các ngươi nói: Ấy là một nơi hoang vu; không còn có loài người, cũng không có loài thú; trong các thành của Giu-đa và các đường phố Giê-ru-sa-lem, tức những nơi đã bị hoang vu, không người, không dân ở, cũng không loài thú, 11.  thì người ta sẽ còn nghe tiếng kêu vui và reo mừng, tiếng của rể mới và dâu mới, tiếng của những kẻ nói rằng: Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va vạn quân, vì Đức Giê-hô-va là nhân lành, sự nhân từ của Ngài còn đời đời! và của những kẻ đến dâng của lễ tạ ơn trong nhà Đức Giê-hô-va. Vì ta sẽ khiến những phu tù của đất nầy trở về, làm cho như trước, Đức Giê-hô-va đã phán. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Trong chỗ nầy là chỗ bị hoang vu, không có loài người nữa, cũng không có loài thú, và trong mọi thành nó, lại sẽ có những gia cư của kẻ chăn chiên khiến bầy mình nằm nghỉ. 13.  Trong những thành miền núi và những thành đồng bằng, trong những thành phương nam, trong đất Bên-gia-min, trong các nơi chung quanh Giê-ru-sa-lem và trong các thành Giu-đa, những bầy sẽ lại qua dưới tay kẻ đếm, Đức Giê-hô-va phán vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Đức Giê-hô-va lại phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ làm ứng nghiệm lời tốt lành mà ta đã phán về nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa. 15.  Trong những ngày ấy và kỳ đó ta sẽ khiến nẩy lên một Nhánh của sự công bình cho Đa-vít; Đấng ấy sẽ làm ra sự công bình chánh trực trong đất nầy. 16.  Trong những ngày đó, Giu-đa sẽ được cứu; Giê-ru-sa-lem sẽ ở an ổn; danh nó sẽ được xưng rằng: Đức Giê-hô-va, sự công bình chúng ta. 17.  Vả, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Đa-vít sẽ chẳng thiếu một người nam để ngồi trên ngai nhà Y-sơ-ra-ên; 18.  các thầy tế lễ, tức là người Lê-vi, sẽ cũng không thiếu một người trước mặt ta để dâng của lễ thiêu, đốt của lễ chay, và dâng của lễ hằng ngày. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19.  Có lời Đức Giê-hô-va lại phán cho Giê-rê-mi rằng: 20.  Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu các ngươi có thể phá giao ước ban ngày của ta và giao ước ban đêm của ta, đến nỗi chẳng có ngày và đêm trong kỳ nó nữa, 21.  thì mới có thể phá giao ước của ta với Đa-vít, tôi tớ ta, mà người sẽ không có con cháu trị vì trên ngai mình nữa, và phá giao ước ta với các thầy tế lễ, tức người Lê-vi, kẻ hầu việc ta. 22.  Người ta không thể đếm được cơ binh trên trời, và lường cát dưới biển: ta cũng sẽ ban cho Đa-vít, tôi tớ ta, và cho người Lê-vi hầu việc ta, được dòng dõi đông nhiều như vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23.  Có lời của Đức Giê-hô-va lại phán cho Giê-rê-mi như vầy: 24.  Ngươi há chẳng xét dân nầy nói hay sao? Chúng nó nói: Hai họ mà Đức Giê-hô-va đã kén chọn, thì Ngài bỏ rồi. Như vậy, chúng nó khinh dể dân ta, coi dân nầy chẳng thành một nước nữa! 25.  Nhưng, nầy là lời Đức Giê-hô-va phán: Nếu giao ước của ta về ngày và đêm chẳng đứng, và nếu ta đã chẳng định luật phép cho trời và đất, 26.  thì cũng vậy, ta sẽ bỏ dòng dõi của Gia-cốp và dòng dõi của Đa-vít, tôi tớ ta, đến nỗi ta sẽ chẳng lấy trong vòng dòng dõi người những kẻ cai trị dòng dõi của Áp-ra-ham, của Y-sác, và của Gia-cốp. Vì ta sẽ đem những phu tù trở về, và thương xót chúng nó. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B24\V02B24C033.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Ðược Chữa Lành Sau Khi Bị Sửa Phạt'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Lời của CHÚA đến với Giê-rê-mi lần thứ hai đang khi ông bị giam trong doanh trại các vệ binh.  2 “CHÚA, Ðấng đã dựng nên trái đất, hình thành nó, và lập vững nó, danh Ngài là CHÚA, phán thế này, 3 ‘Hãy kêu cầu Ta, Ta sẽ trả lời ngươi.  Ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết.’  4 Vì CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này về các căn nhà trong thành này và các cung điện của các vua Giu-đa đã bị phá ra để làm công sự phòng thủ nhằm đối phó với những ụ đất để tấn công thành và với gươm giáo, 5 ‘Quân Canh-đê sẽ đánh vào và làm cho những nơi ấy đầy những tử thi của những kẻ Ta sẽ đánh hạ trong cơn giận và cơn thịnh nộ của Ta, vì mọi điều gian ác của chúng.  Ta sẽ ngoảnh mặt Ta khỏi thành này.  6 Này, Ta sẽ làm cho nó được phục hồi và chữa lành cho nó.   Ta sẽ chữa lành cho chúng và cho chúng hưởng hòa bình thịnh vượng và yên ổn lâu dài.  7 Ta sẽ tái lập vận mạng của Giu-đa và vận mạng của I-sơ-ra-ên, và xây dựng chúng lại như trước.  8 Ta sẽ tẩy sạch khỏi chúng mọi mặc cảm tội lỗi đối với Ta.  Ta sẽ tha thứ chúng về mọi tội mà chúng đã phạm và đã phản nghịch Ta.  9 Rồi thành này sẽ trở thành một danh tiêu biểu cho sự vui vẻ, khen ngợi, và vinh hiển trước mọi dân trên đất, là những kẻ sẽ nghe về mọi phước hạnh Ta làm cho chúng.  Bấy giờ chúng sẽ kính sợ và run rẩy vì mọi phước hạnh và hòa bình thịnh vượng Ta làm cho thành này.’” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 CHÚA phán thế này, “Tại nơi này, nơi các ngươi đã từng nói, ‘Ðó chỉ là nơi hoang vắng điêu tàn, không một bóng người và thú vật.’  Các thành của Giu-đa và các đường phố ở Giê-ru-sa-lem vốn thật hoang vắng, chẳng có ai ở, dù là người ta hay thú vật, rồi đây người ta sẽ lại được nghe 11 những tiếng ca hát vui mừng và những lời hát ca vui vẻ, tiếng của chàng rể và tiếng của nàng dâu, tiếng của những người trỗi giọng hoan ca khi họ mang các của lễ tạ ơn tiến về nhà CHÚA:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
‘Hãy dâng lòng biết ơn lên CHÚA các đạo quân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì CHÚA thật tốt,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì tình thương của Ngài còn đến đời đời!’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ta sẽ tái lập vận mạng của xứ này như thuở ban đầu,” CHÚA phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 CHÚA các đạo quân phán, “Tại xứ này, nơi hoang vắng điêu tàn, nơi không một bóng người và thú vật, rồi đây quanh các thành của nó sẽ có đồng cỏ, để những kẻ chăn chiên sẽ cho các đàn chiên của chúng nghỉ ngơi.  13 Trong các thành trên cao nguyên, trong các thung lũng, trong miền nam, trong đất của Bên-gia-min, trong những vùng chung quanh Giê-ru-sa-lem, và trong các thành của Giu-đa, các đàn chiên lại sẽ đi qua dưới tay của những kẻ đếm chúng,” CHÚA phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nhánh Công Chính và Giao Ước với Ða-vít'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 CHÚA phán,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Này, những ngày đến Ta sẽ làm ứng nghiệm lời hứa tốt đẹp Ta đã hứa với nhà I-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Trong những ngày ấy và đến lúc đó,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta sẽ làm cho một Nhánh Công Chính mọc ra từ dòng dõi của Ða-vít,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và Người sẽ thi hành công lý và chính trực trong xứ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Trong những ngày ấy Giu-đa sẽ được giải cứu,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và Giê-ru-sa-lem sẽ sống an toàn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðây là tên người ta sẽ gọi thành ấy, ‘CHÚA Là Ðấng Công Chính của Chúng Ta.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Vì CHÚA phán thế này, “Ða-vít sẽ không bao giờ thiếu một người ngồi trên ngai của nhà I-sơ-ra-ên.  18 Các tư tế dòng Lê-vi cũng không bao giờ thiếu người đứng trước mặt Ta để dâng của lễ thiêu, thiêu dâng của lễ chay, và dâng sinh tế hằng ngày.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Lời của CHÚA đến với Giê-rê-mi: 20 CHÚA phán thế này, “Nếu các ngươi có thể phá bỏ được giao ước của Ta với ngày và giao ước của Ta với đêm, đến nỗi ngày và đêm không đến đúng kỳ của chúng nữa, 21 thì giao ước của Ta với Ða-vít tôi tớ Ta, và giao ước của Ta với các tư tế dòng Lê-vi phục vụ trước mặt Ta có thể bị phá bỏ, tức Ða-vít sẽ không có con cháu nối dõi để ngồi trên ngai của nó.  22 Ta sẽ làm cho dòng dõi của Ða-vít tôi tớ Ta và cho con cháu của Lê-vi những kẻ phục vụ trước mặt Ta đông như sao trên trời không sao đếm được, và nhiều như cát bờ biển không thể kể xiết.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Lời của CHÚA đến với Giê-rê-mi: 24 “Ngươi không thấy sao?  Các dân ngoại nói rằng, ‘Hai vương quốc mà CHÚA đã chọn, bây giờ Ngài đã bỏ họ rồi.’  Vì thế chúng khinh bỉ dân Ta, và chúng chẳng coi dân ấy là một dân nữa.”  25 CHÚA phán thế này, “Nếu Ta không lập giao ước của Ta với ngày và đêm, nếu Ta không đặt các định luật cho trời và đất, 26 thì Ta sẽ loại bỏ dòng dõi của Gia-cốp và Ða-vít tôi tớ Ta, mà không chọn một người trong các con cháu của Ða-vít để cai trị dòng dõi của Áp-ra-ham, I-sác, và Gia-cốp; vì Ta sẽ tái lập vận mạng của chúng, và Ta sẽ thương xót chúng.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Ê-sai]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 32]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 34]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35656</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35656"/>
		<updated>2026-02-11T00:04:05Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, trước hết, ta kêu gọi hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, là một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này mà ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng, làm sứ đồ, và giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, 10. nhưng hãy thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hoặc cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt rồi đi đến sự phạm tội. 15. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Kêu gọi cầu nguyện'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, trước hết, ta khuyên con nên nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta, là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. Ngài đã hiến chính mình Ngài để làm giá chuộc cho tất cả nhân loại - một sự xác nhận đúng thời điểm. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này ta đã được bổ nhiệm làm nhà truyền giảng, làm sứ đồ, làm giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp mọi nơi hãy đưa những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện - đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Hướng dẫn cho phụ nữ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. Tuy nhiên, ta không cho phép phụ nữ dạy, hoặc cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt và đi đến sự phạm tội. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, trước hết, ta kêu gọi hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người đang có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Vì điều này, ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng và sứ đồ  - Ta nói thật, không nói dối -  làm giáo sư cho các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người đàn ông ở khắp mọi nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng cách kết tóc, hay vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, 10. nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời, qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hay cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt đi đến sự phạm tội. 15. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống trong đức tin, trong tình yêu thương, trong sự thánh khiết, và với sự tiết chế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, 2.  cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhân đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. 3.  Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, 4.  Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật. 5.  Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người; 6.  Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ 7.  (ta nói thật, không nói dối), vì lời chứng ấy, ta đã được cử làm thầy giảng, là sứ đồ và giáo sư cho dân ngoại, để dạy họ về đức tin và về lẽ thật. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vậy, ta muốn những người đàn ông đều giơ tay thánh sạch lên trời, mà cầu nguyện khắp mọi nơi, chớ có giận dữ và cãi cọ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Ta cũng muốn rằng những người đàn bà ăn mặc một cách gọn ghẽ, lấy nết na và đức hạnh giồi mình, không dùng những tóc gióc, vàng, châu ngọc và áo quần quí giá, 10.  nhưng dùng việc lành, theo lẽ đang nhiên của người đàn bà tin kính Chúa. 11.  Đàn bà phải yên lặng mà nghe dạy, lại phải vâng phục mọi đàng. 12.  Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ, cũng không được cầm quyền trên đàn ông; nhưng phải ở yên lặng. 13.  Vì A-đam được dựng nên trước nhất, rồi mới tới Ê-va. 14.  Lại không phải A-đam bị dỗ dành, bèn là người đàn bà bị dỗ dành mà sa vào tội lỗi. 15.  Dầu vậy, nếu đàn bà lấy đức hạnh mà bền đỗ trong đức tin, trong sự yêu thương, và trong sự nên thánh, thì sẽ nhân đẻ con mà được cứu rỗi. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cầu Nguyện cho Mọi Người'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vậy trước hết, ta khuyên con hãy cầu xin, khẩn nguyện, cầu thay, và cảm tạ cho mọi người, 2 cho các vua và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta có thể sống một đời bình tịnh và êm ả, trong nếp sống đạo vẹn toàn và đầy phẩm giá.  3 Ðây là điều tốt đẹp và vui lòng trước mặt Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của chúng ta; 4 Ngài muốn mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Vì chỉ có một Ðức Chúa Trời và một Ðấng Trung Gian giữa Ðức Chúa Trời và loài người, đó là Ðức Chúa Jesus Christ, một người, 6 Ðấng đã hiến chính Ngài làm giá chuộc mọi người, một sự kiện được xác chứng là đã xảy ra đúng thời điểm.  7 Vì sự kiện đó mà ta đã được bổ nhiệm làm giảng sư và sứ đồ –ta nói thật, chứ không nói dối– tức làm giáo sư để dạy các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nam Nữ Trong Hội Thánh Khi Nhóm Lại Thờ Phượng Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Vậy ta muốn quý ông hãy cầu nguyện ở mọi nơi, đưa đôi tay thánh sạch lên, đừng giận dữ và cãi nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Quý bà cũng vậy, hãy ăn mặc lịch sự, trang sức thanh nhã và giản dị, không bới những kiểu tóc cầu kỳ, không đeo vàng ngọc đắt giá, hoặc mặc những y phục đắt tiền, 10 nhưng làm những việc từ thiện, đó là những điều thích hợp với các phụ nữ xưng mình là người tin kính Ðức Chúa Trời.  11 Phụ nữ hãy học trong yên lặng và thuận phục hoàn toàn.  12 Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ hay cầm quyền trên đàn ông, nhưng phải yên lặng, 13 vì A-đam được dựng nên trước rồi mới đến Ê-va; 14 và không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người đàn bà bị lừa gạt và phạm tội.  15 Tuy vậy đàn bà sẽ được cứu qua việc sinh con, nếu họ cứ tiếp tục ở trong đức tin, tình yêu, và thánh khiết, với sự điềm đạm.       &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 1]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35655</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35655"/>
		<updated>2026-02-10T23:57:36Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, trước hết, ta kêu gọi hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta được dẫn đến một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, là một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này mà ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng, làm sứ đồ, và giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, 10. nhưng hãy thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hoặc cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt rồi đi đến sự phạm tội. 15. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Kêu gọi cầu nguyện'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, trước hết, ta khuyên con nên nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta được dẫn đến một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta, là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. Ngài đã hiến chính mình Ngài để làm giá chuộc cho tất cả nhân loại - một sự xác nhận đúng thời điểm. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này ta đã được bổ nhiệm làm nhà truyền giảng, làm sứ đồ, làm giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp mọi nơi hãy đưa những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện - đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Hướng dẫn cho phụ nữ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. Tuy nhiên, ta không cho phép phụ nữ dạy, hoặc cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt và đi đến sự phạm tội. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, trước hết, ta kêu gọi hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người đang có thẩm quyền, để chúng ta được dẫn đến một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Vì điều này, ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng và sứ đồ  - Ta nói thật, không nói dối -  làm giáo sư cho các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người đàn ông ở khắp mọi nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng cách kết tóc, hay vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, 10. nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời, qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hay cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt đi đến sự phạm tội. 15. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống trong đức tin, trong tình yêu thương, trong sự thánh khiết, và với sự tiết chế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, 2.  cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhân đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. 3.  Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, 4.  Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật. 5.  Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người; 6.  Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ 7.  (ta nói thật, không nói dối), vì lời chứng ấy, ta đã được cử làm thầy giảng, là sứ đồ và giáo sư cho dân ngoại, để dạy họ về đức tin và về lẽ thật. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vậy, ta muốn những người đàn ông đều giơ tay thánh sạch lên trời, mà cầu nguyện khắp mọi nơi, chớ có giận dữ và cãi cọ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Ta cũng muốn rằng những người đàn bà ăn mặc một cách gọn ghẽ, lấy nết na và đức hạnh giồi mình, không dùng những tóc gióc, vàng, châu ngọc và áo quần quí giá, 10.  nhưng dùng việc lành, theo lẽ đang nhiên của người đàn bà tin kính Chúa. 11.  Đàn bà phải yên lặng mà nghe dạy, lại phải vâng phục mọi đàng. 12.  Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ, cũng không được cầm quyền trên đàn ông; nhưng phải ở yên lặng. 13.  Vì A-đam được dựng nên trước nhất, rồi mới tới Ê-va. 14.  Lại không phải A-đam bị dỗ dành, bèn là người đàn bà bị dỗ dành mà sa vào tội lỗi. 15.  Dầu vậy, nếu đàn bà lấy đức hạnh mà bền đỗ trong đức tin, trong sự yêu thương, và trong sự nên thánh, thì sẽ nhân đẻ con mà được cứu rỗi. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cầu Nguyện cho Mọi Người'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vậy trước hết, ta khuyên con hãy cầu xin, khẩn nguyện, cầu thay, và cảm tạ cho mọi người, 2 cho các vua và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta có thể sống một đời bình tịnh và êm ả, trong nếp sống đạo vẹn toàn và đầy phẩm giá.  3 Ðây là điều tốt đẹp và vui lòng trước mặt Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của chúng ta; 4 Ngài muốn mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Vì chỉ có một Ðức Chúa Trời và một Ðấng Trung Gian giữa Ðức Chúa Trời và loài người, đó là Ðức Chúa Jesus Christ, một người, 6 Ðấng đã hiến chính Ngài làm giá chuộc mọi người, một sự kiện được xác chứng là đã xảy ra đúng thời điểm.  7 Vì sự kiện đó mà ta đã được bổ nhiệm làm giảng sư và sứ đồ –ta nói thật, chứ không nói dối– tức làm giáo sư để dạy các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nam Nữ Trong Hội Thánh Khi Nhóm Lại Thờ Phượng Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Vậy ta muốn quý ông hãy cầu nguyện ở mọi nơi, đưa đôi tay thánh sạch lên, đừng giận dữ và cãi nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Quý bà cũng vậy, hãy ăn mặc lịch sự, trang sức thanh nhã và giản dị, không bới những kiểu tóc cầu kỳ, không đeo vàng ngọc đắt giá, hoặc mặc những y phục đắt tiền, 10 nhưng làm những việc từ thiện, đó là những điều thích hợp với các phụ nữ xưng mình là người tin kính Ðức Chúa Trời.  11 Phụ nữ hãy học trong yên lặng và thuận phục hoàn toàn.  12 Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ hay cầm quyền trên đàn ông, nhưng phải yên lặng, 13 vì A-đam được dựng nên trước rồi mới đến Ê-va; 14 và không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người đàn bà bị lừa gạt và phạm tội.  15 Tuy vậy đàn bà sẽ được cứu qua việc sinh con, nếu họ cứ tiếp tục ở trong đức tin, tình yêu, và thánh khiết, với sự điềm đạm.       &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 1]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=%C4%90%E1%BB%92I_G%C3%94-G%C3%94-THA_CH%E1%BB%90N_X%C6%AFA&amp;diff=35654</id>
		<title>ĐỒI GÔ-GÔ-THA CHỐN XƯA</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=%C4%90%E1%BB%92I_G%C3%94-G%C3%94-THA_CH%E1%BB%90N_X%C6%AFA&amp;diff=35654"/>
		<updated>2026-02-06T03:02:20Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: Đồi Gô-Gô-Tha Chốn Xưa&lt;br /&gt;
*Nhạc và lời: Đinh Hiền Nhân&lt;br /&gt;
*Tài Liệu:&lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Đồi Gô-Gô-Tha Chốn Xưa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Đồi Gô-gô-tha chốn xưa Chúa mang thập giá nặng&lt;br /&gt;
:Nỗi đau âm thầm mà nào ai thấu chăng?&lt;br /&gt;
:Tội lỗi nhân thế chất trên thân Ngài càng thêm nhiều&lt;br /&gt;
:Bởi yêu thế nhân Giê-xu chịu hy sinh&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Ơn Chúa cao sâu vô đối&lt;br /&gt;
:Tình yêu Chúa quá tuyệt vời&lt;br /&gt;
:Có ai yêu như Giê-xu&lt;br /&gt;
:Ai dám chết thế cho người&lt;br /&gt;
:Thứ tha cho bao tội nhân&lt;br /&gt;
:Xóa hết quá khứ lạc lầm&lt;br /&gt;
:Giúp cho ta luôn bình an bước trên nẻo chánh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Ấy chính Chúa Giê-xu &lt;br /&gt;
:Ngài đã đến cõi thế gian với bao ưu tư nặng mang&lt;br /&gt;
:Tội lỗi khắp chốn ngập tràn&lt;br /&gt;
:Chúng sinh đang trong lầm than&lt;br /&gt;
:Bởi tội loài người Chúa gánh nhục hình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Lạy Chúa Giê-xu lắng nghe con đang kêu khẩn Ngài&lt;br /&gt;
:Giúp ban năng lực để vượt qua khó khăn&lt;br /&gt;
:Nguyện Chúa dẫn dắt sửa sai bao điều con bất toàn&lt;br /&gt;
:Đóng đinh xác thịt con trên thập tự ngay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Ơn Chúa cao sâu vô đối&lt;br /&gt;
:Tình yêu Chúa quá tuyệt vời&lt;br /&gt;
:Có ai yêu như Giê-xu&lt;br /&gt;
:Ai dám chết thế cho người&lt;br /&gt;
:Thứ tha cho bao tội nhân&lt;br /&gt;
:Xóa hết quá khứ lạc lầm&lt;br /&gt;
:Giúp cho ta luôn bình an bước trên nẻo chánh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Ấy chính Chúa Giê-xu &lt;br /&gt;
:Ngài đã đến cõi thế gian với bao ưu tư nặng mang&lt;br /&gt;
:Tội lỗi khắp chốn ngập tràn&lt;br /&gt;
:Chúng sinh đang trong lầm than&lt;br /&gt;
:Bởi tội loài người Chúa gánh nhục hình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Đồi Gô-gô-tha chốn xưa Chúa mang thập giá nặng&lt;br /&gt;
:Nỗi đau âm thầm mà nào ai thấu chăng?&lt;br /&gt;
:Tội lỗi nhân thế chất trên thân Ngài càng thêm nhiều&lt;br /&gt;
:Bởi yêu thế nhân Giê-xu chịu hy sinh&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Category:Thương Khó-Phục Sinh]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TVCHH/mp3/339.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TVCHH/beat/339.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TVCHH/sheet/339.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] – Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
* [[Tôn Vinh Chúa Hằng Hữu]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
</feed>