<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/api.php?action=feedcontributions&amp;feedformat=atom&amp;user=Admin</id>
	<title>Thư Viện Tin Lành - Đóng góp của người dùng [vi]</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/api.php?action=feedcontributions&amp;feedformat=atom&amp;user=Admin"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=%C4%90%E1%BA%B7c_bi%E1%BB%87t:%C4%90%C3%B3ng_g%C3%B3p/Admin"/>
	<updated>2026-10-11T09:50:27Z</updated>
	<subtitle>Đóng góp của người dùng</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.34.0</generator>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=%C3%8A-ph%C3%AA-s%C3%B4:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35811</id>
		<title>Ê-phê-sô: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=%C3%8A-ph%C3%AA-s%C3%B4:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35811"/>
		<updated>2026-09-23T14:21:14Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Anh em đã chết trong những vi phạm và tội lỗi của mình, 2. trong những điều mà anh em đã từng bước đi theo đường lối của thế gian, theo quyền lực của kẻ cầm quyền chốn không trung, là thần linh hiện đang hành động trong những đứa con không vâng phục. 3. Trong vòng những người đó, tất cả chúng ta đã có lần hướng chính mình vào những dục vọng của xác thịt, thỏa mãn những đam mê của xác thịt, của tâm trí – và theo lẽ tự nhiên, chúng ta là những đứa con của sự thịnh nộ giống như những người khác.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Tuy nhiên Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót; vì tình yêu lớn lao của Ngài, Ngài đã yêu chúng ta, 5. cho nên ngay khi chúng ta còn chết trong những vi phạm, Ngài đã khiến cho chúng ta được cùng sống với Đấng Christ - nhờ vào ân điển mà anh em được cứu - 6. và Ngài đã khiến chúng ta cùng sống lại, rồi được cùng ngồi trên trời trong Đấng Christ Jesus, 7. để Ngài có thể bày tỏ, trong những thời đại sắp đến, ân điển phong phú vô hạn của Ngài trong sự nhân từ được dành cho chúng ta trong Đấng Christ Jesus. 8. Bởi vì nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em đã được cứu, điều nầy không phải của chính anh em, nhưng là tặng phẩm của Đức Chúa Trời; 9. không phải bởi việc làm, cho nên không ai có thể tự hào. 10. Bởi vì chúng ta là tác phẩm của Ngài, được tạo dựng trong Đấng Christ Jesus cho những công việc tốt đẹp mà Đức Chúa Trời đã chuẩn bị từ trước, để chúng ta tiến hành những điều đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Vì vậy, hãy nhớ lại rằng trước kia anh em đã có lần là dân ngoại theo phần xác, là những người được gọi là chưa cắt bì - theo như điều được gọi là cắt bì được thực hiện bởi những bàn tay trong thể xác - 12. lúc đó, anh em không có Đấng Christ, là những người xa lạ với cộng đồng  Y-sơ-ra-ên, và là những khách lạ với những giao ước của lời hứa, sống không có hy vọng, trong một thế giới không có Đức Chúa Trời. 13. Nhưng bây giờ trong Đấng Christ Jesus, anh em - là người đã có lần xa cách - đã được mang lại gần nhờ huyết của Đấng Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Thật vậy, chính Ngài, là Đấng hòa giải của chúng ta, đã làm cho cả hai thành một. Ngài đã phá vỡ bức tường ngăn cách gây thù địch ở chính giữa, 15. và qua thân xác của Ngài, Ngài đã hủy bỏ luật pháp của những điều răn được chứa đựng trong những luật lệ, để từ cả hai, Ngài tạo dựng trong chính Ngài một nhân loại mới. Như vậy hòa bình được thực thi; 16. và qua thập tự giá, Ngài có thể hòa giải cả hai cho Đức Chúa Trời trong một thân thể; và bằng cách đó, sự thù địch đã bị tiêu diệt. 17. Và rồi Ngài đã đến, đã công bố Phúc Âm bình an cho anh em là những người ở xa, và cho những người ở gần. 18. Bởi vì nhờ Ngài, chúng ta, cả hai, đều có thể đến với Đức Chúa Cha trong một Đức Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Như vậy, giờ đây anh em không còn là những người xa lạ hoặc là dân ngoại nữa, nhưng là những công dân đồng quốc tịch với các thánh đồ và là những thành viên trong gia đình của Đức Chúa Trời, 20. được xây dựng trên nền tảng của các sứ đồ và của những tiên tri, mà chính Đấng Christ Jesus là đá góc nhà, 21. trong Ngài, cả tòa nhà được kết hợp với nhau, phát triển thành một đền thờ thánh ở trong Chúa, 22. trong Ngài, anh em cũng được xây dựng với nhau để trở thành một nơi ngự của Đức Chúa Trời trong Đức Thánh Linh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nhờ ân điển bởi đức tin'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh em vốn đã chết trong những vi phạm và tội lỗi của mình, trong những điều mà anh em đã từng sống theo cách của thế gian, theo quyền lực của kẻ cầm quyền chốn không trung, là thần linh hiện đang hành động trong những đứa con không vâng phục. Trong số những người đó, tất cả chúng ta đã có lần hướng chính mình vào những dục vọng của xác thịt, thỏa mãn những đam mê của xác thịt, của tâm trí – và theo lẽ tự nhiên, chúng ta là những đứa con của sự thịnh nộ  giống như những người khác.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót; vì tình yêu lớn lao của Ngài, Ngài đã yêu chúng ta, cho nên ngay khi chúng ta còn chết trong những vi phạm, Ngài đã khiến cho chúng ta được cùng sống với Đấng Christ - nhờ vào ân điển mà anh em được cứu - và Ngài đã khiến chúng ta cùng sống lại, rồi được cùng ngồi trên trời trong Đấng Christ Jesus, để Ngài có thể bày tỏ, trong những thời đại sắp đến, ân điển phong phú vô hạn của Ngài trong sự nhân từ được dành cho chúng ta trong Đấng Christ Jesus. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em đã được cứu, điều nầy không phải của chính anh em, nhưng là tặng phẩm của Đức Chúa Trời; không phải bởi việc làm, cho nên không ai có thể tự hào. Bởi vì chúng ta là tác phẩm của Ngài, được tạo dựng trong Đấng Christ Jesus cho những công việc tốt đẹp mà Đức Chúa Trời đã chuẩn bị từ trước, để chúng ta thực hiện những điều đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Hiệp nhất trong Đấng Christ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, hãy nhớ lại rằng trước kia anh em đã có lần là dân ngoại theo phần xác, là những người được gọi là chưa cắt bì - theo định nghĩa cắt bì được thực hiện bởi bàn tay trên thân xác - lúc đó, anh em không có Đấng Christ, là những người xa lạ với cộng đồng Y-sơ-ra-ên, và là những khách lạ với những giao ước của lời hứa, không có hy vọng, và sống trong một thế giới không có Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng bây giờ trong Đấng Christ Jesus, anh em - là người đã có lần xa cách - đã được mang lại gần nhờ huyết của Đấng Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, chính Ngài là Đấng hòa giải của chúng ta, Ngài đã làm cho cả hai thành một, Ngài đã phá vỡ bức tường ngăn cách gây thù địch ở chính giữa; bằng thân xác của Ngài, Ngài đã hủy bỏ luật pháp của những điều răn được chứa đựng trong những luật lệ, để từ cả hai, Ngài tạo dựng trong chính Ngài một nhân loại mới, như vậy hòa bình đã được thực thi; và qua thập tự giá, Ngài có thể hòa giải cả hai cho Đức Chúa Trời trong một thân thể; và bằng cách đó, sự thù địch bị tiêu diệt. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi Ngài đã đến, đã công bố Phúc Âm bình an cho anh em là những người ở xa, và cho những người ở gần. Vì vậy, nhờ Ngài chúng ta - cả hai - đều có thể đến với Đức Chúa Cha trong một Đức Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, giờ đây anh em không còn là những người xa lạ hoặc là dân ngoại nữa, nhưng là những công dân đồng quốc tịch với các thánh đồ và là những thành viên trong gia đình của Đức Chúa Trời, được xây dựng trên nền tảng của các sứ đồ và những tiên tri mà chính Đấng Christ Jesus là đá góc nhà; trong Ngài, cả tòa nhà được kết hợp với nhau, phát triển thành một đền thờ thánh ở trong Chúa, trong Ngài, anh em cũng được xây dựng với nhau để trở thành một nơi ngự của Đức Chúa Trời trong Đức Thánh Linh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Anh em đã chết trong những vi phạm và tội lỗi của mình, 2. trong những điều mà anh em đã từng bước đi theo đường lối của thế gian, theo quyền lực của kẻ cầm quyền chốn không trung, là thần linh hiện đang hành động trong những đứa con không vâng phục; 3. trong số những người đó, tất cả chúng ta đã có lần hướng chính mình vào những dục vọng của xác thịt, thỏa mãn những đam mê của xác thịt, của tâm trí – và theo lẽ tự nhiên, chúng ta là những đứa con của sự thịnh nộ giống như những người khác.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Tuy nhiên Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót; vì tình yêu lớn lao của Ngài, Ngài đã yêu chúng ta, 5. cho nên ngay khi chúng ta còn chết trong những vi phạm, Ngài đã khiến cho chúng ta được cùng sống với Đấng Christ - nhờ vào ân điển mà anh em được cứu - 6. và Ngài đã khiến chúng ta cùng sống lại, rồi được cùng ngồi trên trời trong Đấng Christ Jesus, 7. để Ngài có thể bày tỏ, trong những thời đại sắp đến, ân điển phong phú vô hạn của Ngài trong sự nhân từ được dành cho chúng ta trong Đấng Christ Jesus. 8. Bởi vì nhờ ân điển, bởi đức tin mà anh em đã được cứu, điều nầy không phải của chính anh em, nhưng là tặng phẩm của Đức Chúa Trời; 9. không phải bởi việc làm, cho nên không ai có thể tự hào. 10. Bởi vì chúng ta là tác phẩm của Ngài, được tạo dựng trong Đấng Christ Jesus cho những công việc tốt đẹp mà Đức Chúa Trời đã chuẩn bị từ trước, để chúng ta tiến hành những điều đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Vì vậy, hãy nhớ lại rằng trước kia anh em đã có lần là dân ngoại theo phần xác – là những người được gọi là chưa cắt bì, theo điều được gọi là cắt bì được thực hiện bởi những bàn tay trong thể xác - 12. lúc đó, anh em không có Đấng Christ, là những người xa lạ với cộng đồng  Y-sơ-ra-ên, và là những khách lạ với những giao ước của lời hứa, không có hy vọng, và trong một thế giới không có Đức Chúa Trời. 13. Nhưng bây giờ trong Đấng Christ Jesus, anh em, là người đã có lần xa cách, đã được mang lại gần nhờ huyết của Đấng Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Thật vậy, chính Ngài là sự an hòa của chúng ta, Ngài đã làm cho cả hai thành một, đã phá vỡ bức tường ngăn cách gây thù địch ở chính giữa, 15. qua thân xác của Ngài, đã hủy bỏ luật pháp của những điều răn được chứa đựng trong những luật lệ, để từ cả hai, tạo dựng trong chính Ngài một nhân loại mới, như vậy hòa bình đã được thực thi; 16. và qua thập tự giá, Ngài có thể hòa giải cả hai cho Đức Chúa Trời trong một thân thể; và bằng cách đó, sự thù địch bị tiêu diệt. 17. Và rồi Ngài đã đến, đã công bố Phúc Âm bình an cho anh em là những người ở xa, và cho những người ở gần. 18. Bởi vì nhờ Ngài, chúng ta, cả hai, đều có thể đến với Đức Chúa Cha trong một Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Như vậy, giờ đây anh em không còn là những người xa lạ hoặc là dân ngoại nữa, nhưng là những công dân đồng quốc tịch với các thánh đồ và là những thành viên trong gia đình của Đức Chúa Trời, 20. được xây dựng trên nền tảng của các sứ đồ và những tiên tri, mà chính Đấng Christ Jesus là đá góc nhà, 21. trong Ngài, cả tòa nhà được kết hợp với nhau, phát triển thành một đền thờ thánh ở trong Chúa, 22. trong Ngài, anh em cũng được xây dựng với nhau để trở thành một nơi ngự của Đức Chúa Trời trong Thánh Linh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Còn anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình, 2.  đều là những sự anh em xưa đã học đòi, theo thói quen đời nầy, vâng phục vua cầm quyền chốn không trung tức là thần hiện đang hành động trong các con bạn nghịch. 3.  Chúng ta hết thảy cũng đều ở trong số ấy, trước kia sống theo tư dục xác thịt mình, làm trọn các sự ham mê của xác thịt và ý tưởng chúng ta, tự nhiên làm con của sự thạnh nộ, cũng như mọi người khác. 4.  Nhưng Đức Chúa Trời, là Đấng giàu lòng thương xót, vì cớ lòng yêu thương lớn Ngài đem mà yêu chúng ta, 5.  nên đang khi chúng ta chết vì tội mình, thì Ngài làm cho chúng ta sống với Đấng Christ, ấy là nhờ ân điển mà anh em được cứu, 6.  và Ngài làm cho chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đức Chúa Jêsus Christ, 7.  hầu cho về đời sau tỏ ra sự giàu có vô hạn của ân điển Ngài, mà Ngài bởi lòng nhân từ đã dùng ra cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ. 8.  Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9.  Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình; 10.  vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Vậy, anh em, theo xác thịt là người ngoại, bị những kẻ xưng mình là người chịu cắt bì trong xác thịt bởi tay người ta, gọi anh em là người không chịu cắt bì, hãy nhớ lại lúc trước, 12.  trong thuở đó, anh em không có Đấng Christ, bị ngoại quyền công dân trong Y-sơ-ra-ên, chẳng dự vào giao ước của lời hứa, ở thế gian không có sự trông cậy và không có Đức Chúa Trời. 13.  Nhưng trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em là kẻ ngày trước cách xa, hiện nay đã nhờ huyết Đấng Christ mà được gần rồi. 14.  Vì, ấy chính Ngài là sự hòa hiệp của chúng ta; Ngài đã hiệp cả hai lại làm một, phá đổ bức thường ngăn cách, 15.  là sự thù nghịch đã phân rẽ ra, bởi vì Ngài đã đem thân mình mà trừ bỏ luật pháp của các điều răn chép thành điều lệ. Như vậy, khi làm cho hòa nhau, Ngài muốn lấy cả hai lập nên một người mới trong Ngài, 16.  và vì bởi thập tự giá Ngài đã làm cho sự thù nghịch tiêu diệt, nên nhờ thập tự giá đó Ngài khiến cả hai hiệp thành một thể, mà làm hòa thuận với Đức Chúa Trời. 17.  Ngài lại đã đến rao truyền sự hòa bình cho anh em là kẻ ở xa, và sự hòa bình cho kẻ ở gần. 18.  Vì ấy là nhờ Ngài mà chúng ta cả hai đều được phép đến gần Đức Chúa Cha, đồng trong một Thánh Linh. 19.  Dường ấy anh em chẳng phải là người ngoại, cũng chẳng phải là kẻ ở trọ nữa, nhưng là người đồng quốc với các thánh đồ, và là người nhà của Đức Chúa Trời. 20.  Anh em đã được dựng lên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Đức Chúa Jêsus Christ là đá góc nhà, 21.  cả cái nhà đã dựng lên trên đá đó, sắp đặt cách hẳn hoi, để làm nên một đền thờ thánh trong Chúa. 22.  Ấy, anh em cũng nhờ Ngài mà được dự phần vào nhà đó, đặng trở nên nhà ở của Đức Chúa Trời trong Thánh Linh. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B49\V02B49C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Từ Chết Ðến Sống'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Về phần anh chị em, anh chị em đã chết vì các vi phạm và tội lỗi mình; 2 đó là nếp sống ngày trước của anh chị em, tức sống theo xu hướng của đời này, theo kẻ cầm quyền trên không trung, là tà linh đang hành động giữa các con cái không vâng lời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Trước kia tất cả chúng ta cũng đã sống giữa họ như vậy, tức sống theo những ham muốn của xác thịt, chiều theo sự thèm khát của nhục dục và những ý tưởng xấu xa, và theo lẽ tự nhiên là con cái của sự thịnh nộ như bao nhiêu người khác.  4 Nhưng Ðức Chúa Trời là Ðấng giàu lòng thương xót, vì tình yêu lớn lao của Ngài, Ngài đã yêu chúng ta, 5 ngay cả khi chúng ta còn chết trong các vi phạm mình, Ngài đã làm cho chúng ta được cùng sống lại với Ðấng Christ –ấy là nhờ ân sủng mà anh chị em được cứu– 6 và cho chúng ta được cùng sống lại và cùng được ngồi ở các nơi trên trời trong Ðức Chúa Jesus Christ, 7 để trong các đời sau Ngài có thể bày tỏ sự giàu có vô lượng của ân sủng Ngài, thể hiện qua lòng nhân từ của Ngài, đối với chúng ta trong Ðức Chúa Jesus Christ.  8 Vì nhờ ân sủng, bởi đức tin, mà anh chị em được cứu; điều ấy không đến từ anh chị em, bèn là tặng phẩm của Ðức Chúa Trời; 9 đó không phải là thành quả của việc làm, vì thế không ai có thể tự hào.  10 Vì chúng ta là những tác phẩm của Ngài, được tạo dựng trong Ðức Chúa Jesus Christ, để thực hiện những việc tốt đẹp mà Ðức Chúa Trời đã chuẩn bị trước, hầu chúng ta cứ theo đó mà sống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Hiệp Nhất trong Ðấng Christ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Vậy xin anh chị em hãy nhớ lại rằng trước kia theo phần xác anh chị em là dân ngoại, bị những người mệnh danh là “được cắt bì” –một nghi thức trên thân xác do tay người ta thực hiện– gọi anh chị em là “những kẻ không được cắt bì.” 12 Thuở ấy anh chị em còn ở ngoài Ðấng Christ, bị xem là dân ngoại đối với cộng đồng dân I-sơ-ra-ên và là những người xa lạ đối với những giao ước của lời hứa; lúc ấy anh chị em sống vô vọng, và trong thế giới của anh chị em Ðức Chúa Trời như không hề hiện hữu.  13 Nhưng bây giờ, trong Ðức Chúa Jesus Christ và nhờ huyết của Ðấng Christ, anh chị em vốn một thời xa cách nay đã được đem lại gần.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Thật vậy chính Ngài đã đem lại hòa bình cho chúng ta.  Ngài đã làm cho hai khối dân trở thành một, và đã phá vỡ bức tường thù nghịch ngăn cách giữa chúng ta qua thân thể Ngài.  15 Ngài đã hủy bỏ Luật Pháp với những điều răn và quy luật của Luật Pháp, để từ hai khối dân Ngài đã tạo nên một nhân loại mới trong Ngài, và như thế Ngài đã tạo lập hòa bình.  16 Qua thập tự giá Ngài đã giải hòa cả hai khối dân về với Ðức Chúa Trời trong thân thể Ngài, và như thế Ngài đã tiêu diệt sự thù nghịch trên thập tự giá.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Vậy Ngài đã đến để rao truyền Tin Mừng hòa bình cho anh chị em là những người ở xa, và hòa bình cho những người gần gũi bên Ngài.  18 Vì nhờ Ngài cả hai khối dân chúng ta có thể đến với Ðức Chúa Cha trong một Ðức Thánh Linh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Như thế anh chị em không còn là người xa lạ hoặc dân ngoại nữa, nhưng anh chị em là những công dân đồng quốc tịch với các thánh đồ và những người nhà trong gia đình Ðức Chúa Trời, 20 được xây dựng trên nền của các sứ đồ và các tiên tri với chính Ðức Chúa Jesus Christ là đá góc nhà.  21 Trong Ngài cả cấu trúc được kết hợp với nhau, phát triển thành một đền thờ thánh cho Chúa; 22 trong Ngài anh chị em cũng được xây dựng với nhau thành một nơi ngự của Ðức Chúa Trời trong Ðức Thánh Linh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B49\V01B49C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Ê-phê-sô: Chương 1]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Ê-phê-sô: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Ê-phê-sô]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Phi-líp]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=XIN_CH%C3%9AA_SAI_T%C3%94I&amp;diff=35810</id>
		<title>XIN CHÚA SAI TÔI</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=XIN_CH%C3%9AA_SAI_T%C3%94I&amp;diff=35810"/>
		<updated>2026-09-22T14:07:22Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: Lord Send Me / If Some Dark Corner Needs the Light (1952)&lt;br /&gt;
*Tựa đề: Xin Chúa Sai Tôi&lt;br /&gt;
*Lời Việt: Vĩnh Phúc&lt;br /&gt;
*Nhạc và lời: Louis Paul Lehman Jr. (1914–1986) &lt;br /&gt;
*Tài Liệu: Word Music&lt;br /&gt;
==Lời Anh==&lt;br /&gt;
:'''Lord Send Me'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:If some dark corner needs the light&lt;br /&gt;
:Lord send me! With the light&lt;br /&gt;
:If some sad soul should need a song, &lt;br /&gt;
:Lord send me with a song.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:If near or distant where hope is dim &lt;br /&gt;
:Someone is waiting to hear of Him&lt;br /&gt;
:If someone waits who's never heard, &lt;br /&gt;
:Lord send me with Your Word. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:If some dark soul has never heard,&lt;br /&gt;
:Lord send me with Thy Word.&lt;br /&gt;
:If some sad soul should need a song, &lt;br /&gt;
:Lord send me with a song.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:If near or distant where hope is dim &lt;br /&gt;
:Someone is waiting to hear of Him&lt;br /&gt;
:If someone waits who's never heard, &lt;br /&gt;
:Lord send me with Your Word. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Xin Chúa Sai Tôi'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:1. Kìa chốn thiếu ánh sáng trong đêm trường&lt;br /&gt;
:Cần ánh dương, ngời sáng luôn&lt;br /&gt;
:Kìa chốn thiếu ánh sáng trong tâm hồn&lt;br /&gt;
:Cần khúc ca mang tình thương&lt;br /&gt;
:Gần đây quanh tôi tới nơi nao xa xôi&lt;br /&gt;
:Còn bao nhiêu linh hồn chưa biết đến Chúa&lt;br /&gt;
:Lạy Chúa hãy kíp sai tôi lên đường&lt;br /&gt;
:Qua bốn phương loan tình thương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:2. Lạy Chúa hãy kíp sai tôi lên đường&lt;br /&gt;
:Rọi ánh dương ngời sáng luôn&lt;br /&gt;
:Lạy Chúa hãy kíp sai tôi lên đường&lt;br /&gt;
:Dùng tiếng ca mang tình thương&lt;br /&gt;
:Cầu xin Giê-xu sớm hôm đi bên tôi&lt;br /&gt;
:Dạy tôi rao danh Ngài trên khắp các lối&lt;br /&gt;
:Lạy Chúa hãy kíp sai tôi lên đường&lt;br /&gt;
:Qua bốn phương loan tình thương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TVCHH/mp3/144.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TVCHH/beat/144.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TVCHH/sheet/144.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] – Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
* [[Tôn Vinh Chúa Hằng Hữu]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=XIN_CH%C3%9AA_SAI_T%C3%94I&amp;diff=35809</id>
		<title>XIN CHÚA SAI TÔI</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=XIN_CH%C3%9AA_SAI_T%C3%94I&amp;diff=35809"/>
		<updated>2026-09-22T13:47:07Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: Lord Send Me / If Some Dark Corner Needs the Light&lt;br /&gt;
*Tựa đề: Xin Chúa Sai Tôi&lt;br /&gt;
*Lời Việt: Vĩnh Phúc&lt;br /&gt;
*Nhạc và lời: Louis Paul Lehman Jr. (1914–1986) &lt;br /&gt;
*Tài Liệu:&lt;br /&gt;
==Lời Anh==&lt;br /&gt;
:'''Lord Send Me'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:If some dark corner needs the light&lt;br /&gt;
:Lord send me! With the light&lt;br /&gt;
:If some sad soul should need a song, &lt;br /&gt;
:Lord send me with a song.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:If near or distant where hope is dim &lt;br /&gt;
:Someone is waiting to hear of Him&lt;br /&gt;
:If someone waits who's never heard, &lt;br /&gt;
:Lord send me with Your Word. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Xin Chúa Sai Tôi'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:1. Kìa chốn thiếu ánh sáng trong đêm trường&lt;br /&gt;
:Cần ánh dương, ngời sáng luôn&lt;br /&gt;
:Kìa chốn thiếu ánh sáng trong tâm hồn&lt;br /&gt;
:Cần khúc ca mang tình thương&lt;br /&gt;
:Gần đây quanh tôi tới nơi nao xa xôi&lt;br /&gt;
:Còn bao nhiêu linh hồn chưa biết đến Chúa&lt;br /&gt;
:Lạy Chúa hãy kíp sai tôi lên đường&lt;br /&gt;
:Qua bốn phương loan tình thương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:2. Lạy Chúa hãy kíp sai tôi lên đường&lt;br /&gt;
:Rọi ánh dương ngời sáng luôn&lt;br /&gt;
:Lạy Chúa hãy kíp sai tôi lên đường&lt;br /&gt;
:Dùng tiếng ca mang tình thương&lt;br /&gt;
:Cầu xin Giê-xu sớm hôm đi bên tôi&lt;br /&gt;
:Dạy tôi rao danh Ngài trên khắp các lối&lt;br /&gt;
:Lạy Chúa hãy kíp sai tôi lên đường&lt;br /&gt;
:Qua bốn phương loan tình thương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TVCHH/mp3/144.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TVCHH/beat/144.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TVCHH/sheet/144.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] – Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
* [[Tôn Vinh Chúa Hằng Hữu]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=XIN_CH%C3%9AA_SAI_T%C3%94I&amp;diff=35808</id>
		<title>XIN CHÚA SAI TÔI</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=XIN_CH%C3%9AA_SAI_T%C3%94I&amp;diff=35808"/>
		<updated>2026-09-22T13:21:40Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: Lord Send Me / If Some Dark Corner Needs the Light&lt;br /&gt;
*Tựa đề: Xin Chúa Sai Tôi&lt;br /&gt;
*Lời Việt: Vĩnh Phúc&lt;br /&gt;
*Nhạc: L. P. Lehman Jr.&lt;br /&gt;
*Tài Liệu:&lt;br /&gt;
==Lời Anh==&lt;br /&gt;
:'''Lord Send Me'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:If some dark corner needs the light&lt;br /&gt;
:Lord send me! With the light&lt;br /&gt;
:If some sad soul should need a song, &lt;br /&gt;
:Lord send me with a song.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:If near or distant where hope is dim &lt;br /&gt;
:Someone is waiting to hear of Him&lt;br /&gt;
:If someone waits who's never heard, &lt;br /&gt;
:Lord send me with Your Word. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Xin Chúa Sai Tôi'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:1. Kìa chốn thiếu ánh sáng trong đêm trường&lt;br /&gt;
:Cần ánh dương, ngời sáng luôn&lt;br /&gt;
:Kìa chốn thiếu ánh sáng trong tâm hồn&lt;br /&gt;
:Cần khúc ca mang tình thương&lt;br /&gt;
:Gần đây quanh tôi tới nơi nao xa xôi&lt;br /&gt;
:Còn bao nhiêu linh hồn chưa biết đến Chúa&lt;br /&gt;
:Lạy Chúa hãy kíp sai tôi lên đường&lt;br /&gt;
:Qua bốn phương loan tình thương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:2. Lạy Chúa hãy kíp sai tôi lên đường&lt;br /&gt;
:Rọi ánh dương ngời sáng luôn&lt;br /&gt;
:Lạy Chúa hãy kíp sai tôi lên đường&lt;br /&gt;
:Dùng tiếng ca mang tình thương&lt;br /&gt;
:Cầu xin Giê-xu sớm hôm đi bên tôi&lt;br /&gt;
:Dạy tôi rao danh Ngài trên khắp các lối&lt;br /&gt;
:Lạy Chúa hãy kíp sai tôi lên đường&lt;br /&gt;
:Qua bốn phương loan tình thương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TVCHH/mp3/144.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TVCHH/beat/144.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TVCHH/sheet/144.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] – Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
* [[Tôn Vinh Chúa Hằng Hữu]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_14&amp;diff=35807</id>
		<title>Các Quan Xét: Chương 14</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_14&amp;diff=35807"/>
		<updated>2026-09-17T03:46:37Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sam-sôn đi xuống Thim-na. Chàng thấy một thiếu nữ trong các cô gái Phi-li-tin tại Thim-na. 2. Chàng đã đi lên thưa với cha mẹ của mình: “Con thấy có một thiếu nữ tại Thim-na, là con gái của người Phi-li-tin. Bây giờ, xin hãy cưới nàng làm vợ cho con.” 3. Cha mẹ của chàng đáp: “Trong vòng bà con của chúng ta hay trong vòng dân tộc của chúng ta không có một người nữ nào con có thể lấy làm vợ hay sao mà con phải đi cưới một thiếu nữ trong dân Phi-li-tin không được cắt bì để làm vợ?” Sam-sôn nói với cha của chàng: “Xin cưới nàng cho con, bởi vì nàng vừa ý con.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Cha mẹ của chàng không biết việc nầy đã đến từ Đức Giê-hô-va và Ngài đã tạo cơ hội để chàng đối đầu với dân Phi-li-tin, bởi vì lúc đó người Phi-li-tin đang cai trị trên Y-sơ-ra-ên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Sam-sôn cùng với cha mẹ của chàng đi xuống Thim-na. Khi họ đến các vườn nho tại Thim-na, kìa, có một con sư tử tơ gầm lên, tấn công chàng. 6. Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên chàng cách mạnh mẽ, cho nên chàng đã dùng hai tay không xé nó ra như xé một con dê con. Nhưng chàng đã  không nói cho cha mẹ của chàng biết chuyện chàng đã làm. 7. Sau đó, chàng đi xuống, trò chuyện với cô thiếu nữ, là người đã đẹp mắt Sam-sôn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Một thời gian sau, Sam-sôn trở lại để cưới cô gái. Chàng đã đi rẽ qua để xem xác của con sư tử, và nhìn thấy có mật cùng với một bầy ong ở trong xác của con sư tử. 9. Chàng đã dùng tay bốc  mật vừa đi vừa ăn. Chàng cũng đem đến cho cha mẹ của chàng. Họ đã ăn, nhưng chàng không nói cho họ biết mật đã được lấy ra từ xác của con sư tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Cha của chàng đã xuống đãi tiệc để cưới thiếu nữ đó cho Sam-sôn theo thông lệ của các thanh niên. 11. Khi thấy chàng, họ đã đem ba mươi thanh niên đến để giao tiếp với chàng. 12. Sam-sôn nói với họ: “Tôi xin đố các anh một câu đố. Nếu trong vòng bảy ngày của bữa tiệc, các anh trả lời đúng, tôi sẽ cho các anh ba mươi tấm vải gai và ba mươi bộ y phục. 13. Còn nếu các anh không thể giải thích được câu đố cho tôi, thì các anh phải cho tôi ba mươi tấm vải gai và ba mươi bộ y phục.” Họ nói: “Anh hãy ra câu đố. Chúng tôi nghe đây.” 14. Chàng nói: “Từ vật ăn lấy ra được món ăn. Từ kẻ mạnh lấy ra được món ngọt.” Ba ngày trôi qua, họ vẫn không tìm được câu giải đáp. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Thời gian trôi qua, sắp đến ngày thứ bảy, họ đã đến nói với vợ của Sam-sôn: “Cô phải dụ cho chồng của cô giải đáp câu đố cho chúng tôi. Đừng để chúng tôi sẽ thiêu cô và cả nhà cha của cô trong lửa. Các người mời chúng tôi đến đây để cướp của chúng tôi hay sao?” 16. Vì vậy, vợ của Sam-sôn đã khóc lóc trước mặt chàng và nói rằng: “Anh ghét em, chứ anh đâu có thương em. Anh đã ra một câu đố cho dân tộc của em mà anh không nói cho em.” Chàng đã nói với nàng: “Anh không nói cho cha của anh, hay mẹ của anh, tại sao anh phải nói cho em?” 17. Nàng đã khóc như vậy trong bảy ngày của tiệc cưới. Đến ngày thứ bảy, chàng đã nói cho nàng, bởi vì nàng cứ liên tục làm áp lực với chàng; rồi nàng đã giải thích câu đố cho dân tộc của nàng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Trước lúc mặt trời lặn của ngày thứ bảy, các thanh niên trong thành đã đến nói với chàng: “Có gì ngọt hơn mật ong? Có gì mạnh hơn sư tử?” Chàng đã nói với họ: “Nếu các anh không cày bằng con bò cái tơ của tôi, thì làm sao các anh có thể giải thích được câu đố của tôi.”    &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên chàng cách mạnh mẽ. Chàng đã đi xuống Ách-ca-lôn giết ba mươi người, rồi lấy áo của họ thưởng cho những người đã giải đáp được câu đố. Sau đó, cơn giận của chàng nổi lên, chàng đã đi về nhà cha của mình. 20. Còn vợ của Sam-sôn thì bị gả cho một thanh niên đã giao tiếp với chàng, và người đó là bạn của chàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Sam-sôn đi xuống Thim-na, thấy một người nữ trong vòng con gái Phi-li-tin. 2.  Người đã trở lên, thuật điều đó cho cha mẹ mình, mà rằng: Con có thấy tại Thim-na một người nữ trong vòng con gái Phi-li-tin; bây giờ xin hãy hỏi nàng cưới cho con. 3.  Cha mẹ người nói rằng: Trong vòng các con gái của anh em con và trong cả dân sự chúng ta, há chẳng có người nữ nào, mà con phải đi cưới vợ nơi dân Phi-li-tin chẳng chịu cắt bì đó sao? Sam-sôn đáp cùng cha rằng: Xin cha hãy cưới nàng đó cho con, vì nó đẹp mắt con. 4.  Vả, cha mẹ người chẳng rõ điều đó bởi nơi Đức Giê-hô-va mà đến; vì người tìm dịp tranh đấu cùng dân Phi-li-tin. Lúc bấy giờ dân Phi-li-tin quản hạt Y-sơ-ra-ên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Sam-sôn đi xuống Thim-na với cha mẹ mình; khi đến vườn nho Thim-na, thấy một con sư tử tơ đến đón gầm hét. 6.  Thần của Đức Giê-hô-va cảm động Sam-sôn rất mạnh, tuy chẳng cầm vật chi, song người xé con sư tử đó như xé con dê con vậy. Nhưng người chẳng thuật cho cha mẹ hay điều mình đã làm. 7.  Vậy, người đi xuống, nói cùng người nữ, người nữ đẹp lòng Sam-sôn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Sau một ít lâu, người trở lại đặng cưới nàng; đi vòng lại xem cái thây sư tử, thấy trong xác nó có một đoàn ong và mật. 9.  Người bụm mật trong tay, vừa ăn vừa đi. Đến gần cha mẹ, người đưa cho cha mẹ ăn, nhưng chẳng thuật lại rằng mình đã lấy mật đó trong thây sư tử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Cha người đi xuống nhà người nữ ấy, và tại đó Sam-sôn bày ra một tiệc. Ấy là thường tục của các gã thanh niên hay làm. 11.  Vừa thấy chàng, người ta bèn mời ba mươi gã thanh niên để kết bạn cùng chàng. 12.  Sam-sôn nói: Tôi sẽ ra cho anh em một câu đố; nếu trong bảy ngày tiệc, anh em giải nó ra, thì tôi sẽ thưởng anh em ba mươi cái áo trong và ba mươi bộ áo lễ; 13.  còn nếu anh em không giải nó ra được, thì anh em phải nộp cho tôi ba mươi cái áo trong, và ba mươi bộ áo lễ. Chúng đáp rằng: Hãy ra câu đố anh đi cho chúng tôi nghe. 14.  Vậy, chàng ra cho chúng rằng: Của ăn từ giống ăn mà ra; vật ngọt từ giống mạnh mà ra. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong ba ngày chúng không giải được câu đố. 15.  Đến ngày thứ bảy, chúng nói cùng vợ Sam-sôn rằng: Hãy dụ chồng nàng giải câu đố cho chúng ta; bằng chẳng, chúng ta sẽ đốt nàng và nhà cha nàng. Có phải để bóc lột chúng ta mà các ngươi thỉnh chúng ta chăng? 16.  Vợ Sam-sôn khóc trước mặt người mà rằng: Quả thật, chàng ghét tôi, chẳng thương tôi chút nào: chàng đã ra một câu đố cho người dân sự tôi, mà không có giải nghĩa cho tôi. Người đáp: Kìa, ta không giải nghĩa cho cha mẹ ta thay, mà ta lại phải giải nghĩa cho nàng sao? 17.  Trong bảy ngày ăn tiệc nàng cứ khóc như vậy trước mặt người. Qua ngày thứ bảy, người giải nghĩa cho nàng, bởi vì nàng làm cực lòng người. Đoạn, nàng giải lại cho người dân sự mình. 18.  Vậy, ngày thứ bảy, trước khi mặt trời lặn, người trong thành đến nói cùng chàng rằng: Có gì ngọt hơn mật, có chi mạnh hơn sư tử? Sam-sôn bèn đáp: Nếu các ngươi không cày ruộng bằng bò cái tơ ta, thì các ngươi không giải được câu đố ta. 19.  Bấy giờ Thần của Đức Giê-hô-va cảm động người; người đi xuống Ách-ca-lôn, giết ba mươi người, cướp lấy áo xống của chúng nó, thưởng cho những người giải được câu đố; đoạn, người nổi giận phừng phừng trở lên về nhà cha mình. 20.  Vợ Sam-sôn bị gả cho một người trai trẻ mà chàng đã chọn làm bạn. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B07\V02B07C014.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Sam-sôn Cưới Vợ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Sam-sôn đi xuống Tim-na và thấy một thiếu nữ Phi-li-tin ở Tim-na.  2 Khi trở về nhà, ông thưa với cha mẹ, “Con thấy một thiếu nữ Phi-li-tin ở Tim-na; bây giờ xin cha mẹ cưới cô ấy làm vợ cho con.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Nhưng cha mẹ ông đáp, “Trong vòng bà con chúng ta hay trong vòng dân tộc chúng ta không có một người nữ nào con có thể lấy làm vợ hay sao mà con phải đi cưới một người nữ trong dân Phi-li-tin không cắt bì làm vợ?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng Sam-sôn nói với cha ông, “Xin cha cưới cô ấy cho con, vì cô ấy đẹp mắt con.”  4 Cha mẹ ông không biết rằng việc ấy đến từ CHÚA.  Ngài tạo cơ hội để ông đối đầu với dân Phi-li-tin, vì lúc ấy người Phi-li-tin đang cai trị dân I-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Sam-sôn và cha mẹ ông đi xuống Tim-na.  Khi họ vừa đến khu các vườn nho ở Tim-na, này, một con sư tử tơ gầm lên và phóng tới vồ Sam-sôn.  6 Thần của CHÚA tác động trên ông mạnh mẽ, ông dùng hai tay không xé con sư tử như thể xé một con dê con.  Nhưng ông không nói cho cha mẹ ông biết việc ông đã làm.  7 Rồi ông đi xuống, nói chuyện với cô thiếu nữ ấy, và cô ta làm cho Sam-sôn hài lòng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Cách ít lâu Sam-sôn trở lại để cưới cô gái.  Ông đi tẻ lại xem thử xác con sư tử hôm trước đã ra sao.  Này, trong xác khô của nó đang có một tổ ong đầy mật.  9 Ông đưa tay lấy vỉ mật rồi vừa đi vừa ăn.  Ông cũng đem mời cha mẹ ông ăn nữa, và họ cùng ăn, nhưng ông không nói cho họ biết mật ấy đã lấy ra từ xác sư tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Bấy giờ cha của Sam-sôn xuống lo lễ cưới cô thiếu nữ đó cho Sam-sôn.  Sam-sôn tổ chức một bữa tiệc để thết đãi theo phong tục của các chàng rể thời bấy giờ.  11 Khi thấy ông, họ giới thiệu cho ông ba mươi thanh niên địa phương để làm bạn với ông.  12 Sam-sôn nói với họ, “Xin cho tôi đố các bạn một câu đố, nếu trong vòng bảy ngày tiệc các bạn trả lời được, tôi sẽ tặng các bạn ba mươi chiếc áo lót bằng vải gai và ba mươi bộ áo mặc vào các dịp lễ.  13 Còn nếu các bạn không thể giải được câu đố của tôi, các bạn phải cho tôi ba mươi chiếc áo lót bằng vải gai và ba mươi bộ áo mặc vào các dịp lễ.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Họ đáp, “Anh hãy ra câu đố đi.  Chúng tôi nghe đây.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ông nói,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Món ăn lấy ra từ giống ăn,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Món ngọt lấy ra từ giống mạnh.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ba ngày trôi qua mà họ vẫn chưa tìm ra câu giải đáp.  15 Ðến ngày thứ tư, họ đến nói với vợ Sam-sôn, “Cô phải dụ chồng cô giải đáp câu đố ấy cho chúng tôi, nếu không chúng tôi sẽ đốt nhà cô, thiêu sống cô và cả nhà cha cô trong đó.  Bộ các người tính mời chúng tôi đến đây để bóc lột chúng tôi sao?” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Thế là vợ Sam-sôn đến khóc lóc với ông, “Anh ghét em chứ có thương em gì đâu.  Anh ra câu đố cho dân em mà không nói cho em biết câu giải đáp.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ông đáp, “Ngay cả cha mẹ anh mà anh còn không cho biết thì tại sao anh phải nói cho em?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Từ hôm đó cho đến ngày thứ bảy của tiệc cưới, nàng cứ thút thít khóc mãi.  Cho nên đến ngày thứ bảy, ông chịu không nổi mà phải giải nghĩa câu đố cho nàng, vì nàng cứ làm áp lực với ông.  Nàng liền nói lại cho dân của nàng biết câu giải đáp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Trước lúc mặt trời lặn của ngày thứ bảy, các thanh niên trong thành đến nói với ông,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Có gì ngọt hơn mật ong?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có gì mạnh hơn sư tử?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sam-sôn nói với họ, “Nếu các bạn không cày bằng bò cái tơ của tôi, các bạn không thể giải được câu đố của tôi đâu.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Thần của CHÚA tác động trên ông mạnh mẽ.  Ông đi xuống Ách-kê-lôn đánh hạ ba mươi người Phi-li-tin, lột lấy áo xống của họ, rồi đem thưởng cho những người giải đáp được câu đố.  Ðoạn ông nổi giận phừng phừng và bỏ về nhà cha ông.  20 Còn vợ của Sam-sôn thì bị bắt gả cho người phụ rể mà ông đã chọn trong đám bạn đến dự tiệc cưới của ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Giô-suê]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 13]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 15]]&lt;br /&gt;
:* [[Ru-tơ]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35806</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 4</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35806"/>
		<updated>2026-09-15T23:27:56Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng Đức Thánh Linh nói rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, 2. theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, 3. cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. 4. Bởi vì mọi vật do Đức Chúa Trời tạo dựng đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - đáng được tiếp nhận với lòng biết ơn, 5. bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. 7. Nhưng hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. 8. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. 9. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. 10. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, là Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy truyền và dạy những điều này. 12. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch để làm gương cho các tín hữu. 13. Hãy chú trọng vào việc đọc Kinh Thánh nơi công cộng, hãy khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. 14. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. 15. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, hãy thấm nhuần trong những điều nầy, để mọi người nhìn thấy sự tiến bộ của con. 16. Hãy cẩn trọng với chính mình và trong sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, bởi vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng Thánh Linh nói rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. Bởi vì mọi vật do Đức Chúa Trời tạo dựng đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - hãy tiếp nhận với lòng biết ơn, bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, con được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. Tuy nhiên hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, là Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy truyền và dạy những điều này. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch để làm gương cho các tín hữu. Hãy chú trọng vào việc đọc Kinh Thánh nơi công cộng, hãy khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, hãy thấm nhuần trong những điều nầy, để mọi người nhìn thấy sự tiến bộ của con. Hãy cẩn trọng với chính mình và trong sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, bởi vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng Thánh Linh phán rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, 2. theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, 3. cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo ra để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. 4. Bởi vì mọi tạo vật của Đức Chúa Trời đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - nên được tiếp nhận với lòng biết ơn, 5. bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. 7. Tuy nhiên hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. 8. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. 9. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. 10. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy truyền và dạy những điều này. 12. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch làm gương cho các tín hữu.  13.Hãy chú trọng vào việc đọc Kinh Thánh nơi công cộng, hãy khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. 14. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. 15. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, hãy thấm nhuần trong những điều nầy, để mọi người nhìn thấy sự tiến bộ của con. 16. Hãy cẩn trọng với chính mình và trong sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, bởi vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ, 2.  bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì, 3.  họ sẽ cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin và biết lẽ thật, tạ ơn mà dùng lấy. 4.  Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được; 5.  vì nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Con giải tỏ các việc đó cho anh em, thì con sẽ nên kẻ giúp việc ngay lành của Đức Chúa Jêsus Christ, được nuôi bởi các lời của đức tin và đạo lý lành mà con đã theo. 7.  Những lời hư ngụy phàm tục giống như chuyện bịa các bà già, thì hãy bỏ đi, và tập tành sự tin kính. 8.  Vì sự tập tành thân thể ích lợi chẳng bao lăm, còn như sự tin kính là ích cho mọi việc, vì có lời hứa về đời nầy và về đời sau nữa. 9.  Ấy đó là một lời nói chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy. 10.  Vả, nếu chúng ta khó nhọc và đánh trận, ấy là đã để sự trông cậy ta trong Đức Chúa Trời hằng sống, Ngài là Cứu Chúa của mọi người, mà nhất là của tín đồ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Kìa là điều con phải rao truyền và dạy dỗ. 12.  Chớ để người ta khinh con vì trẻ tuổi; nhưng phải lấy lời nói, nết làm, sự yêu thương, đức tin và sự tinh sạch mà làm gương cho các tín đồ. 13.  Hãy chăm chỉ đọc sách, khuyên bảo, dạy dỗ, cho đến chừng ta đến. 14.  Đừng bỏ quên ơn ban trong lòng con, là ơn bởi lời tiên tri nhân hội trưởng lão đặt tay mà đã ban cho con vậy. 15.  Hãy săn sóc chuyên lo những việc đó, hầu cho thiên hạ thấy sự tấn tới của con. 16.  Hãy giữ chính mình con và sự dạy dỗ của con; phải bền đỗ trong mọi sự đó, vì làm như vậy thì con và kẻ nghe con sẽ được cứu. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cảnh Cáo về Những Tín Lý Sai Lầm'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðức Thánh Linh đã phán rõ ràng rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có những người lìa bỏ đức tin để theo các tà linh lừa dối và các giáo lý của các quỷ.  2 Họ theo thói đạo đức giả của bọn dối trá, là những kẻ có lương tâm chai lỳ.  3 Họ cấm cưới gả và bắt kiêng cữ các thức ăn Ðức Chúa Trời đã dựng nên, để những người có lòng tin và hiểu biết chân lý cảm tạ và dùng.  4 Vì mọi vật do Ðức Chúa Trời dựng nên đều tốt cả, không vật gì đáng bỏ, miễn là được nhận lấy với lòng biết ơn, 5 vì nhờ lời Ðức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chức Vụ của Người Phục Vụ Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Nếu con giãi bày những điều ấy cho anh chị em, con sẽ là một đầy tớ tốt của Ðức Chúa Jesus Christ, được nuôi dưỡng trong lời của đức tin và trong tín lý chân chính mà con đã tin theo.  7 Ðừng để con dính líu gì đến những chuyện báng bổ và những chuyện nhảm nhí của các bà già; thay vào đó hãy luyện tập cho con thành một người tin kính đạo đức, 8 vì sự luyện tập cơ thể ích lợi chẳng bao nhiêu, nhưng sự tin kính đạo đức ích lợi đủ mọi mặt, bởi trong đó có lời hứa cho cuộc sống hiện tại và đời sống hầu đến.  9 Ðó là những lời đáng tin cậy và đáng chấp nhận hoàn toàn.  10 Vì mục đích ấy chúng ta lao động vất vả và phấn đấu, bởi chúng ta đặt hy vọng nơi Ðức Chúa Trời hằng sống, Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người có lòng tin.  11 Ðó là những điều con hãy truyền và dạy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Ðừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng hãy lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin, và sự trong sạch mà làm gương cho các tín hữu.  13 Cho đến khi ta đến, con hãy chú trọng vào việc tuyên đọc Kinh Thánh, khuyên bảo, và giảng dạy.  14 Ðừng quên ân tứ ở trong con, tức ân tứ đã ban cho con qua lời tiên tri khi Hội Ðồng Trưởng Lão đặt tay trên con.  15 Hãy đem những điều ta nói ở trên ra áp dụng, hãy tận tụy làm theo những điều ấy, để mọi người có thể thấy sự tiến bộ của con.  16 Con hãy thận trọng trong cách ăn nết ở và trong sự giảng dạy của mình.  Hãy kiên trì trong các lĩnh vực đó, vì làm như thế con sẽ cứu được chính mình và những người nghe con giảng dạy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 5]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35805</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 4</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35805"/>
		<updated>2026-09-15T23:22:52Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng Đức Thánh Linh nói rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, 2. theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, 3. cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. 4. Bởi vì mọi vật do Đức Chúa Trời tạo dựng đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - đáng được tiếp nhận với lòng biết ơn, 5. bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. 7. Nhưng hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. 8. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. 9. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. 10. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, là Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy truyền và dạy những điều này. 12. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch để làm gương cho các tín hữu. 13. Hãy chú trọng vào việc đọc Kinh Thánh nơi công cộng, hãy khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. 14. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. 15. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, hãy thấm nhuần trong những điều nầy, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. 16. Hãy cẩn trọng với chính mình và trong sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, bởi vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng Thánh Linh nói rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. Bởi vì mọi vật do Đức Chúa Trời tạo dựng đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - hãy tiếp nhận với lòng biết ơn, bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, con được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. Tuy nhiên hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, là Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy truyền và dạy những điều này. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch để làm gương cho các tín hữu. Hãy chú trọng vào việc đọc Kinh Thánh nơi công cộng, hãy khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, hãy thấm nhuần trong những điều nầy, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. Hãy cẩn trọng với chính mình và trong sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, bởi vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng Thánh Linh phán rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, 2. theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, 3. cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo ra để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. 4. Bởi vì mọi tạo vật của Đức Chúa Trời đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - nên được tiếp nhận với lòng biết ơn, 5. bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. 7. Tuy nhiên hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. 8. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. 9. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. 10. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy truyền và dạy những điều này. 12. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch làm gương cho các tín hữu.  13.Hãy chú trọng vào việc đọc Kinh Thánh nơi công cộng, hãy khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. 14. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. 15. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, hãy thấm nhuần trong những điều nầy, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. 16. Hãy cẩn trọng với chính mình và trong sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, bởi vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ, 2.  bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì, 3.  họ sẽ cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin và biết lẽ thật, tạ ơn mà dùng lấy. 4.  Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được; 5.  vì nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Con giải tỏ các việc đó cho anh em, thì con sẽ nên kẻ giúp việc ngay lành của Đức Chúa Jêsus Christ, được nuôi bởi các lời của đức tin và đạo lý lành mà con đã theo. 7.  Những lời hư ngụy phàm tục giống như chuyện bịa các bà già, thì hãy bỏ đi, và tập tành sự tin kính. 8.  Vì sự tập tành thân thể ích lợi chẳng bao lăm, còn như sự tin kính là ích cho mọi việc, vì có lời hứa về đời nầy và về đời sau nữa. 9.  Ấy đó là một lời nói chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy. 10.  Vả, nếu chúng ta khó nhọc và đánh trận, ấy là đã để sự trông cậy ta trong Đức Chúa Trời hằng sống, Ngài là Cứu Chúa của mọi người, mà nhất là của tín đồ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Kìa là điều con phải rao truyền và dạy dỗ. 12.  Chớ để người ta khinh con vì trẻ tuổi; nhưng phải lấy lời nói, nết làm, sự yêu thương, đức tin và sự tinh sạch mà làm gương cho các tín đồ. 13.  Hãy chăm chỉ đọc sách, khuyên bảo, dạy dỗ, cho đến chừng ta đến. 14.  Đừng bỏ quên ơn ban trong lòng con, là ơn bởi lời tiên tri nhân hội trưởng lão đặt tay mà đã ban cho con vậy. 15.  Hãy săn sóc chuyên lo những việc đó, hầu cho thiên hạ thấy sự tấn tới của con. 16.  Hãy giữ chính mình con và sự dạy dỗ của con; phải bền đỗ trong mọi sự đó, vì làm như vậy thì con và kẻ nghe con sẽ được cứu. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cảnh Cáo về Những Tín Lý Sai Lầm'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðức Thánh Linh đã phán rõ ràng rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có những người lìa bỏ đức tin để theo các tà linh lừa dối và các giáo lý của các quỷ.  2 Họ theo thói đạo đức giả của bọn dối trá, là những kẻ có lương tâm chai lỳ.  3 Họ cấm cưới gả và bắt kiêng cữ các thức ăn Ðức Chúa Trời đã dựng nên, để những người có lòng tin và hiểu biết chân lý cảm tạ và dùng.  4 Vì mọi vật do Ðức Chúa Trời dựng nên đều tốt cả, không vật gì đáng bỏ, miễn là được nhận lấy với lòng biết ơn, 5 vì nhờ lời Ðức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chức Vụ của Người Phục Vụ Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Nếu con giãi bày những điều ấy cho anh chị em, con sẽ là một đầy tớ tốt của Ðức Chúa Jesus Christ, được nuôi dưỡng trong lời của đức tin và trong tín lý chân chính mà con đã tin theo.  7 Ðừng để con dính líu gì đến những chuyện báng bổ và những chuyện nhảm nhí của các bà già; thay vào đó hãy luyện tập cho con thành một người tin kính đạo đức, 8 vì sự luyện tập cơ thể ích lợi chẳng bao nhiêu, nhưng sự tin kính đạo đức ích lợi đủ mọi mặt, bởi trong đó có lời hứa cho cuộc sống hiện tại và đời sống hầu đến.  9 Ðó là những lời đáng tin cậy và đáng chấp nhận hoàn toàn.  10 Vì mục đích ấy chúng ta lao động vất vả và phấn đấu, bởi chúng ta đặt hy vọng nơi Ðức Chúa Trời hằng sống, Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người có lòng tin.  11 Ðó là những điều con hãy truyền và dạy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Ðừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng hãy lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin, và sự trong sạch mà làm gương cho các tín hữu.  13 Cho đến khi ta đến, con hãy chú trọng vào việc tuyên đọc Kinh Thánh, khuyên bảo, và giảng dạy.  14 Ðừng quên ân tứ ở trong con, tức ân tứ đã ban cho con qua lời tiên tri khi Hội Ðồng Trưởng Lão đặt tay trên con.  15 Hãy đem những điều ta nói ở trên ra áp dụng, hãy tận tụy làm theo những điều ấy, để mọi người có thể thấy sự tiến bộ của con.  16 Con hãy thận trọng trong cách ăn nết ở và trong sự giảng dạy của mình.  Hãy kiên trì trong các lĩnh vực đó, vì làm như thế con sẽ cứu được chính mình và những người nghe con giảng dạy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 5]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35804</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35804"/>
		<updated>2026-09-15T23:21:26Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. 12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Đức Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, phải công nhận đây là một huyền nhiệm rất lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Đức Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, phải công nhận đây là một huyền nhiệm rất lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. 12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Đức Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, phải công nhận đây là một huyền nhiệm rất lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35803</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 4</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35803"/>
		<updated>2026-09-15T23:01:00Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng Đức Thánh Linh nói rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, 2. theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, 3. cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. 4. Bởi vì mọi vật do Đức Chúa Trời tạo dựng đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - đáng được tiếp nhận với lòng biết ơn, 5. bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. 7. Nhưng hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. 8. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. 9. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. 10. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, là Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy truyền và dạy những điều này. 12. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch để làm gương cho các tín hữu. 13. Hãy chú trọng vào việc đọc Kinh Thánh nơi công cộng, hãy khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. 14. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. 15. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, hãy thấm nhuần trong những điều nầy, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. 16. Hãy cẩn trọng với chính mình và trong sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, bởi vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng Thánh Linh nói rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. Bởi vì mọi vật do Đức Chúa Trời tạo dựng đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - hãy tiếp nhận với lòng biết ơn, bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, con được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. Tuy nhiên hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, là Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy truyền và dạy những điều này. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch để làm gương cho các tín hữu. Hãy chú trọng vào việc đọc Kinh Thánh nơi công cộng, hãy khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, thấm nhuần chúng, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. Hãy cẩn trọng với chính mình con và sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng Thánh Linh phán rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, 2. theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, 3. cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo ra để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. 4. Bởi vì mọi tạo vật của Đức Chúa Trời đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - nên được tiếp nhận với lòng biết ơn, 5. bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. 7. Tuy nhiên hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. 8. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. 9. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. 10. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy truyền và dạy những điều này. 12. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch làm gương cho các tín hữu.  13.Hãy chú trọng vào việc đọc Kinh Thánh nơi công cộng, hãy khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. 14. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. 15. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, hãy thấm nhuần trong những điều nầy, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. 16. Hãy cẩn trọng với chính mình và trong sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, bởi vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ, 2.  bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì, 3.  họ sẽ cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin và biết lẽ thật, tạ ơn mà dùng lấy. 4.  Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được; 5.  vì nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Con giải tỏ các việc đó cho anh em, thì con sẽ nên kẻ giúp việc ngay lành của Đức Chúa Jêsus Christ, được nuôi bởi các lời của đức tin và đạo lý lành mà con đã theo. 7.  Những lời hư ngụy phàm tục giống như chuyện bịa các bà già, thì hãy bỏ đi, và tập tành sự tin kính. 8.  Vì sự tập tành thân thể ích lợi chẳng bao lăm, còn như sự tin kính là ích cho mọi việc, vì có lời hứa về đời nầy và về đời sau nữa. 9.  Ấy đó là một lời nói chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy. 10.  Vả, nếu chúng ta khó nhọc và đánh trận, ấy là đã để sự trông cậy ta trong Đức Chúa Trời hằng sống, Ngài là Cứu Chúa của mọi người, mà nhất là của tín đồ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Kìa là điều con phải rao truyền và dạy dỗ. 12.  Chớ để người ta khinh con vì trẻ tuổi; nhưng phải lấy lời nói, nết làm, sự yêu thương, đức tin và sự tinh sạch mà làm gương cho các tín đồ. 13.  Hãy chăm chỉ đọc sách, khuyên bảo, dạy dỗ, cho đến chừng ta đến. 14.  Đừng bỏ quên ơn ban trong lòng con, là ơn bởi lời tiên tri nhân hội trưởng lão đặt tay mà đã ban cho con vậy. 15.  Hãy săn sóc chuyên lo những việc đó, hầu cho thiên hạ thấy sự tấn tới của con. 16.  Hãy giữ chính mình con và sự dạy dỗ của con; phải bền đỗ trong mọi sự đó, vì làm như vậy thì con và kẻ nghe con sẽ được cứu. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cảnh Cáo về Những Tín Lý Sai Lầm'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðức Thánh Linh đã phán rõ ràng rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có những người lìa bỏ đức tin để theo các tà linh lừa dối và các giáo lý của các quỷ.  2 Họ theo thói đạo đức giả của bọn dối trá, là những kẻ có lương tâm chai lỳ.  3 Họ cấm cưới gả và bắt kiêng cữ các thức ăn Ðức Chúa Trời đã dựng nên, để những người có lòng tin và hiểu biết chân lý cảm tạ và dùng.  4 Vì mọi vật do Ðức Chúa Trời dựng nên đều tốt cả, không vật gì đáng bỏ, miễn là được nhận lấy với lòng biết ơn, 5 vì nhờ lời Ðức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chức Vụ của Người Phục Vụ Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Nếu con giãi bày những điều ấy cho anh chị em, con sẽ là một đầy tớ tốt của Ðức Chúa Jesus Christ, được nuôi dưỡng trong lời của đức tin và trong tín lý chân chính mà con đã tin theo.  7 Ðừng để con dính líu gì đến những chuyện báng bổ và những chuyện nhảm nhí của các bà già; thay vào đó hãy luyện tập cho con thành một người tin kính đạo đức, 8 vì sự luyện tập cơ thể ích lợi chẳng bao nhiêu, nhưng sự tin kính đạo đức ích lợi đủ mọi mặt, bởi trong đó có lời hứa cho cuộc sống hiện tại và đời sống hầu đến.  9 Ðó là những lời đáng tin cậy và đáng chấp nhận hoàn toàn.  10 Vì mục đích ấy chúng ta lao động vất vả và phấn đấu, bởi chúng ta đặt hy vọng nơi Ðức Chúa Trời hằng sống, Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người có lòng tin.  11 Ðó là những điều con hãy truyền và dạy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Ðừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng hãy lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin, và sự trong sạch mà làm gương cho các tín hữu.  13 Cho đến khi ta đến, con hãy chú trọng vào việc tuyên đọc Kinh Thánh, khuyên bảo, và giảng dạy.  14 Ðừng quên ân tứ ở trong con, tức ân tứ đã ban cho con qua lời tiên tri khi Hội Ðồng Trưởng Lão đặt tay trên con.  15 Hãy đem những điều ta nói ở trên ra áp dụng, hãy tận tụy làm theo những điều ấy, để mọi người có thể thấy sự tiến bộ của con.  16 Con hãy thận trọng trong cách ăn nết ở và trong sự giảng dạy của mình.  Hãy kiên trì trong các lĩnh vực đó, vì làm như thế con sẽ cứu được chính mình và những người nghe con giảng dạy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 5]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35802</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 4</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35802"/>
		<updated>2026-09-09T04:02:46Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng Đức Thánh Linh nói rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, 2. theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, 3. cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. 4. Bởi vì mọi vật do Đức Chúa Trời tạo dựng đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - đáng được tiếp nhận với lòng biết ơn, 5. bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. 7. Nhưng hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. 8. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. 9. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. 10. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, là Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy truyền và dạy những điều này. 12. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch để làm gương cho các tín hữu. 13. Hãy chú trọng vào việc đọc Kinh Thánh nơi công cộng, hãy khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. 14. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. 15. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, thấm nhuần chúng, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. 16. Hãy cẩn trọng với chính mình con và sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, bởi vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng Thánh Linh nói rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. Bởi vì mọi vật do Đức Chúa Trời tạo dựng đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - hãy tiếp nhận với lòng biết ơn, bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, con được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. Tuy nhiên hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, là Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy truyền và dạy những điều này. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch để làm gương cho các tín hữu. Hãy chú trọng vào việc đọc Kinh Thánh nơi công cộng, hãy khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, thấm nhuần chúng, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. Hãy cẩn trọng với chính mình con và sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng Thánh Linh phán rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, 2. theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, 3. cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo ra để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. 4. Bởi vì mọi tạo vật của Đức Chúa Trời đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - nên được tiếp nhận với lòng biết ơn, 5. bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. 7. Tuy nhiên hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. 8. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. 9. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. 10. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy truyền và dạy những điều này. 12. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch làm gương cho các tín hữu.  13.Hãy chú trọng vào việc đọc Kinh Thánh nơi công cộng, hãy khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. 14. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. 15. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, thấm nhuần chúng, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. 16. Hãy cẩn trọng với chính mình con và sự giảng dạy. Hãy tiếp tục trong những điều đó, vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ, 2.  bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì, 3.  họ sẽ cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin và biết lẽ thật, tạ ơn mà dùng lấy. 4.  Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được; 5.  vì nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Con giải tỏ các việc đó cho anh em, thì con sẽ nên kẻ giúp việc ngay lành của Đức Chúa Jêsus Christ, được nuôi bởi các lời của đức tin và đạo lý lành mà con đã theo. 7.  Những lời hư ngụy phàm tục giống như chuyện bịa các bà già, thì hãy bỏ đi, và tập tành sự tin kính. 8.  Vì sự tập tành thân thể ích lợi chẳng bao lăm, còn như sự tin kính là ích cho mọi việc, vì có lời hứa về đời nầy và về đời sau nữa. 9.  Ấy đó là một lời nói chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy. 10.  Vả, nếu chúng ta khó nhọc và đánh trận, ấy là đã để sự trông cậy ta trong Đức Chúa Trời hằng sống, Ngài là Cứu Chúa của mọi người, mà nhất là của tín đồ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Kìa là điều con phải rao truyền và dạy dỗ. 12.  Chớ để người ta khinh con vì trẻ tuổi; nhưng phải lấy lời nói, nết làm, sự yêu thương, đức tin và sự tinh sạch mà làm gương cho các tín đồ. 13.  Hãy chăm chỉ đọc sách, khuyên bảo, dạy dỗ, cho đến chừng ta đến. 14.  Đừng bỏ quên ơn ban trong lòng con, là ơn bởi lời tiên tri nhân hội trưởng lão đặt tay mà đã ban cho con vậy. 15.  Hãy săn sóc chuyên lo những việc đó, hầu cho thiên hạ thấy sự tấn tới của con. 16.  Hãy giữ chính mình con và sự dạy dỗ của con; phải bền đỗ trong mọi sự đó, vì làm như vậy thì con và kẻ nghe con sẽ được cứu. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cảnh Cáo về Những Tín Lý Sai Lầm'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðức Thánh Linh đã phán rõ ràng rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có những người lìa bỏ đức tin để theo các tà linh lừa dối và các giáo lý của các quỷ.  2 Họ theo thói đạo đức giả của bọn dối trá, là những kẻ có lương tâm chai lỳ.  3 Họ cấm cưới gả và bắt kiêng cữ các thức ăn Ðức Chúa Trời đã dựng nên, để những người có lòng tin và hiểu biết chân lý cảm tạ và dùng.  4 Vì mọi vật do Ðức Chúa Trời dựng nên đều tốt cả, không vật gì đáng bỏ, miễn là được nhận lấy với lòng biết ơn, 5 vì nhờ lời Ðức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chức Vụ của Người Phục Vụ Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Nếu con giãi bày những điều ấy cho anh chị em, con sẽ là một đầy tớ tốt của Ðức Chúa Jesus Christ, được nuôi dưỡng trong lời của đức tin và trong tín lý chân chính mà con đã tin theo.  7 Ðừng để con dính líu gì đến những chuyện báng bổ và những chuyện nhảm nhí của các bà già; thay vào đó hãy luyện tập cho con thành một người tin kính đạo đức, 8 vì sự luyện tập cơ thể ích lợi chẳng bao nhiêu, nhưng sự tin kính đạo đức ích lợi đủ mọi mặt, bởi trong đó có lời hứa cho cuộc sống hiện tại và đời sống hầu đến.  9 Ðó là những lời đáng tin cậy và đáng chấp nhận hoàn toàn.  10 Vì mục đích ấy chúng ta lao động vất vả và phấn đấu, bởi chúng ta đặt hy vọng nơi Ðức Chúa Trời hằng sống, Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người có lòng tin.  11 Ðó là những điều con hãy truyền và dạy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Ðừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng hãy lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin, và sự trong sạch mà làm gương cho các tín hữu.  13 Cho đến khi ta đến, con hãy chú trọng vào việc tuyên đọc Kinh Thánh, khuyên bảo, và giảng dạy.  14 Ðừng quên ân tứ ở trong con, tức ân tứ đã ban cho con qua lời tiên tri khi Hội Ðồng Trưởng Lão đặt tay trên con.  15 Hãy đem những điều ta nói ở trên ra áp dụng, hãy tận tụy làm theo những điều ấy, để mọi người có thể thấy sự tiến bộ của con.  16 Con hãy thận trọng trong cách ăn nết ở và trong sự giảng dạy của mình.  Hãy kiên trì trong các lĩnh vực đó, vì làm như thế con sẽ cứu được chính mình và những người nghe con giảng dạy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 5]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35801</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 4</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35801"/>
		<updated>2026-09-09T04:00:34Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng Đức Thánh Linh nói rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, 2. theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, 3. cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. 4. Bởi vì mọi vật do Đức Chúa Trời tạo dựng đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - đáng được tiếp nhận với lòng biết ơn, 5. bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. 7. Nhưng hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. 8. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. 9. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. 10. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, là Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy truyền và dạy những điều này. 12. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch để làm gương cho các tín hữu. 13. Hãy chú trọng trong việc đọc Kinh Thánh nơi công cộng, hãy khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. 14. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. 15. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, thấm nhuần chúng, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. 16. Hãy cẩn trọng với chính mình con và sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, bởi vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng Thánh Linh nói rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. Bởi vì mọi vật do Đức Chúa Trời tạo dựng đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - hãy tiếp nhận với lòng biết ơn, bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, con được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. Tuy nhiên hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, là Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy truyền và dạy những điều này. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch để làm gương cho các tín hữu. Hãy chú trọng đọc Kinh Thánh nơi công cộng, khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, thấm nhuần chúng, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. Hãy cẩn trọng với chính mình con và sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng Thánh Linh phán rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, 2. theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, 3. cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo ra để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. 4. Bởi vì mọi tạo vật của Đức Chúa Trời đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - nên được tiếp nhận với lòng biết ơn, 5. bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. 7. Tuy nhiên hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. 8. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. 9. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. 10. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy truyền và dạy những điều này. 12. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch làm gương cho các tín hữu. 13. Hãy chú trọng đọc Kinh Thánh nơi công cộng, khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. 14. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. 15. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, thấm nhuần chúng, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. 16. Hãy cẩn trọng với chính mình con và sự giảng dạy. Hãy tiếp tục trong những điều đó, vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ, 2.  bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì, 3.  họ sẽ cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin và biết lẽ thật, tạ ơn mà dùng lấy. 4.  Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được; 5.  vì nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Con giải tỏ các việc đó cho anh em, thì con sẽ nên kẻ giúp việc ngay lành của Đức Chúa Jêsus Christ, được nuôi bởi các lời của đức tin và đạo lý lành mà con đã theo. 7.  Những lời hư ngụy phàm tục giống như chuyện bịa các bà già, thì hãy bỏ đi, và tập tành sự tin kính. 8.  Vì sự tập tành thân thể ích lợi chẳng bao lăm, còn như sự tin kính là ích cho mọi việc, vì có lời hứa về đời nầy và về đời sau nữa. 9.  Ấy đó là một lời nói chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy. 10.  Vả, nếu chúng ta khó nhọc và đánh trận, ấy là đã để sự trông cậy ta trong Đức Chúa Trời hằng sống, Ngài là Cứu Chúa của mọi người, mà nhất là của tín đồ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Kìa là điều con phải rao truyền và dạy dỗ. 12.  Chớ để người ta khinh con vì trẻ tuổi; nhưng phải lấy lời nói, nết làm, sự yêu thương, đức tin và sự tinh sạch mà làm gương cho các tín đồ. 13.  Hãy chăm chỉ đọc sách, khuyên bảo, dạy dỗ, cho đến chừng ta đến. 14.  Đừng bỏ quên ơn ban trong lòng con, là ơn bởi lời tiên tri nhân hội trưởng lão đặt tay mà đã ban cho con vậy. 15.  Hãy săn sóc chuyên lo những việc đó, hầu cho thiên hạ thấy sự tấn tới của con. 16.  Hãy giữ chính mình con và sự dạy dỗ của con; phải bền đỗ trong mọi sự đó, vì làm như vậy thì con và kẻ nghe con sẽ được cứu. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cảnh Cáo về Những Tín Lý Sai Lầm'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðức Thánh Linh đã phán rõ ràng rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có những người lìa bỏ đức tin để theo các tà linh lừa dối và các giáo lý của các quỷ.  2 Họ theo thói đạo đức giả của bọn dối trá, là những kẻ có lương tâm chai lỳ.  3 Họ cấm cưới gả và bắt kiêng cữ các thức ăn Ðức Chúa Trời đã dựng nên, để những người có lòng tin và hiểu biết chân lý cảm tạ và dùng.  4 Vì mọi vật do Ðức Chúa Trời dựng nên đều tốt cả, không vật gì đáng bỏ, miễn là được nhận lấy với lòng biết ơn, 5 vì nhờ lời Ðức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chức Vụ của Người Phục Vụ Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Nếu con giãi bày những điều ấy cho anh chị em, con sẽ là một đầy tớ tốt của Ðức Chúa Jesus Christ, được nuôi dưỡng trong lời của đức tin và trong tín lý chân chính mà con đã tin theo.  7 Ðừng để con dính líu gì đến những chuyện báng bổ và những chuyện nhảm nhí của các bà già; thay vào đó hãy luyện tập cho con thành một người tin kính đạo đức, 8 vì sự luyện tập cơ thể ích lợi chẳng bao nhiêu, nhưng sự tin kính đạo đức ích lợi đủ mọi mặt, bởi trong đó có lời hứa cho cuộc sống hiện tại và đời sống hầu đến.  9 Ðó là những lời đáng tin cậy và đáng chấp nhận hoàn toàn.  10 Vì mục đích ấy chúng ta lao động vất vả và phấn đấu, bởi chúng ta đặt hy vọng nơi Ðức Chúa Trời hằng sống, Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người có lòng tin.  11 Ðó là những điều con hãy truyền và dạy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Ðừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng hãy lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin, và sự trong sạch mà làm gương cho các tín hữu.  13 Cho đến khi ta đến, con hãy chú trọng vào việc tuyên đọc Kinh Thánh, khuyên bảo, và giảng dạy.  14 Ðừng quên ân tứ ở trong con, tức ân tứ đã ban cho con qua lời tiên tri khi Hội Ðồng Trưởng Lão đặt tay trên con.  15 Hãy đem những điều ta nói ở trên ra áp dụng, hãy tận tụy làm theo những điều ấy, để mọi người có thể thấy sự tiến bộ của con.  16 Con hãy thận trọng trong cách ăn nết ở và trong sự giảng dạy của mình.  Hãy kiên trì trong các lĩnh vực đó, vì làm như thế con sẽ cứu được chính mình và những người nghe con giảng dạy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 5]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ma-la-chi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35800</id>
		<title>Ma-la-chi: Chương 1</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ma-la-chi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35800"/>
		<updated>2026-09-01T15:59:58Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời tiên cáo của Đức Giê-hô-va dành cho Y-sơ-ra-ên, bởi Ma-la-chi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Đức Giê-hô-va phán: “Ta yêu các con.&amp;quot; Nhưng các ngươi nói rằng: &amp;quot;Chúa yêu chúng con ở đâu?” Đức Giê-hô-va phán: “Không phải Ê-sau là anh của Gia-cốp hay sao?  Nhưng Ta yêu Gia-cốp 3. và Ta ghét Ê-sau. Ta khiến núi non của nó hoang vu và sản nghiệp của nó dành cho những chó rừng.” 4. Mặc dầu Ê-đôm nói: “Chúng tôi đã bị làm cho kiệt quệ, nhưng chúng tôi sẽ trở về xây lại những nơi hoang tàn.” Nhưng Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: “Chúng sẽ xây lại nhưng Ta sẽ phá đổ, và người ta sẽ gọi chúng là lãnh thổ gian tà, là một dân tộc bị Đức Giê-hô-va giận mãi mãi.” 5. Mắt các ngươi sẽ thấy, và các ngươi sẽ nói rằng: “Đức Giê-hô-va thật vĩ đại. Ngài vượt khỏi biên cương của Y-sơ-ra-ên!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán cùng các ngươi: “Hỡi những tư tế! Các ngươi đã khinh dể danh của Ta. Con trai tôn kính cha của mình, đầy tớ tôn kính chủ của mình. Nếu Ta là Cha, sự tôn kính dành cho Ta ở đâu? Và nếu Ta là Chủ, sự kính sợ dành cho Ta ở đâu?” Nhưng các ngươi nói: “Chúng tôi có khinh dể danh Ngài đâu?” 7. “Các ngươi đã dâng bánh ô uế trên bàn thờ của Ta mà các ngươi còn nói rằng ‘Chúng tôi có làm ô uế đâu?’ Không phải các ngươi nói rằng: ‘Bàn của Đức Giê-hô-va thật kinh tởm’ hay sao? 8. Khi các ngươi dâng vật đui mù làm sinh tế, không phải là điều gian ác hay sao? Khi các ngươi dâng vật què quặt và bệnh tật, không phải là điều gian ác hay sao? Bây giờ, hãy tặng nó cho quan tổng đốc của các ngươi, người có hài lòng hoặc chấp nhận từ các ngươi hay không?” Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. “Bây giờ, hãy nài xin ân huệ của Đức Chúa Trời, để Ngài sẽ khoan dung những người mà chính tay của họ đã làm những điều đó. Liệu Ngài sẽ chấp nhận tha thứ điều này, đã được làm bởi tay của các ngươi, hay không?” Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. “Ước gì trong các ngươi có ai đóng những cửa đền thờ vào buổi tối để các ngươi không vào đốt lửa nơi bàn thờ của Ta một cách vô ích.” Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: “Ta không hài lòng các ngươi và Ta cũng không nhận lễ vật nơi tay của các ngươi. 11. Bởi vì từ nơi mặt trời mọc cho đến nơi mặt trời lặn, danh của Ta là vĩ đại giữa các nước. Tại khắp mọi nơi, danh của Ta được dâng hương cùng với lễ vật tinh khiết, bởi vì danh của Ta là vĩ đại ở giữa các nước.” Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. “Nhưng các ngươi đã xúc phạm danh Ta khi nói rằng: ‘Bàn của Đức Giê-hô-va thật ô uế, thức ăn và trái cây trên nó thật kinh tởm.’ 13. Các ngươi nói: ‘Kìa, thật là chuyện khó nhọc!’ rồi các ngươi khịt mũi khinh dể nó.” Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: “Các ngươi lấy vật đã ăn cướp, bị què quặt, bệnh tật, rồi các ngươi đem đến để làm tế lễ cho Ta. Ta có thể nhận lễ vật ấy nơi tay của các ngươi hay sao?”  Đức Giê-hô-va phán vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. “Đáng nguyền rủa kẻ gian trá! Trong bầy nó có con thú đực tốt đã hứa, nhưng dâng vật khuyết tật làm sinh tế.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: “Vì Ta là Vua Vĩ Đại! Danh của Ta được kính sợ giữa các nước.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Gánh nặng lời Đức Giê-hô-va cho Y-sơ-ra-ên bởi Ma-la-chi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2.  Đức Giê-hô-va có phán: Ta yêu các ngươi; và các ngươi nói rằng: Chúa yêu chúng tôi ở đâu? Đức Giê-hô-va phán: Ê-sau há chẳng phải là anh Gia-cốp sao? 3.  Nhưng ta yêu Gia-cốp, mà ghét Ê-sau, ta làm cho những núi nó nên hoang vu, và phó sản nghiệp nó cho những chó nơi đồng vắng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Nếu Ê-đôm nói rằng: Chúng ta đã bị hủy diệt, song chúng ta sẽ trở về dựng lại những nơi đổ nát, thì Đức Giê-hô-va vạn quân cũng phán rằng: Chúng nó sẽ dựng lại, nhưng ta sẽ đổ xuống, người ta sẽ gọi chúng nó là Cõi độc ác, và là dân mà Đức Giê-hô-va nổi giận nghịch cùng đời đời. 5.  Mắt các ngươi sẽ thấy, và các ngươi sẽ nói rằng: Nguyền Đức Giê-hô-va là lớn ngoài cõi Y-sơ-ra-ên! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Con trai tôn kính cha mình, đầy tớ tôn kính chủ mình. Vậy nếu ta là cha, nào sự tôn kính thuộc về ta ở đâu? và nếu ta là chủ, nào sự kính sợ ta ở đâu? Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy cùng các ngươi, hỡi các thầy tế lễ khinh dể danh ta! Các ngươi lại nói rằng: Chúng tôi có khinh dể danh Ngài ở đâu? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Các ngươi dâng bánh ô uế trên bàn thờ ta, rồi các ngươi nói rằng: Chúng tôi có làm ô uế Ngài ở đâu? Ấy là ở điều các ngươi nói rằng: Bàn của Đức Giê-hô-va đáng khinh dể. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Khi các ngươi dâng một con vật mù làm của lễ, điều đó há chẳng phải là dữ sao? Khi các ngươi dâng một con vật què hoặc đau, điều đó há chẳng phải là dữ sao? Thử dân nó cho quan trấn thủ ngươi, thì người há đẹp lòng và vui nhận cho ngươi sao? Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Các ngươi đã làm điều đó, nay ta xin các ngươi hãy nài xin ơn Đức Chúa Trời, hầu cho Ngài làm ơn cho chúng ta, thì Ngài há sẽ nhận một người nào trong các ngươi sao? Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Ước gì trong các ngươi có một người đóng các cửa, hầu cho các ngươi không nhen lửa vô ích nơi bàn thờ ta. Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Ta chẳng lấy làm vui lòng nơi các ngươi, và ta chẳng nhận nơi tay các ngươi một của dâng nào hết. 11.  Vì từ nơi mặt trời mọc cho đến nơi mặt trời lặn, danh ta sẽ là lớn giữa các dân ngoại. Trong khắp mọi nơi, người ta sẽ dâng hương và của lễ thanh sạch cho danh ta; vì danh ta sẽ là lớn giữa các dân ngoại, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. 12.  Song các ngươi đã làm uế tục danh ta mà rằng: Bàn của Đức Giê-hô-va là ô uế, đồ ăn đến từ trên nó là đáng khinh dể. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13.  Các ngươi lại nói rằng: Ôi! việc khó nhọc là dường nào! rồi các ngươi khinh dể nó, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy! Các ngươi đem đến vật bị cướp, vật què và đau, đó là của các ngươi đem dâng cho ta. Ta há có thể nhận vật nầy nơi tay các ngươi sao? Đức Giê-hô-va phán vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Đáng rủa thay là kẻ hay lừa dối, trong bầy nó có con đực, mà nó hứa nguyện và dâng con tàn tật làm của lễ cho Chúa! Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Vì ta là Vua lớn, danh ta là đáng sợ giữa các dân ngoại. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B39\V02B39C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
''''''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Sấm ngôn:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời CHÚA phán với dân I-sơ-ra-ên qua Ma-la-chi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Gia-cốp Ðược Thương, Ê-sau Bị Ghét'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 CHÚA phán, “Ta đã yêu các ngươi.  Nhưng các ngươi hỏi, ‘Ngài đã yêu chúng tôi như thế nào?’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
CHÚA phán, “Có phải Ê-sau là anh Gia-cốp chăng?  Nhưng Ta đã yêu Gia-cốp, 3 và Ta ghét Ê-sau.  Ta đã biến núi non của nó ra hoang vu và khiến sản nghiệp nó thành đồng hoang cho chó rừng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Mặc dù Ê-đôm đã nói, “Tuy chúng tôi đã bị nghiền nát, nhưng chúng tôi sẽ trở về và xây dựng lại những gì đã đổ nát.”  Tuy nhiên CHÚA các đạo quân phán thế này, “Phần chúng, chúng cứ xây lại, nhưng phần Ta, Ta sẽ phá đổ.  Rồi chúng sẽ bị gọi là một xứ gian tà và một dân ở dưới cơn thịnh nộ của CHÚA mãi mãi.  5 Chính các ngươi sẽ thấy tận mắt mình, rồi các ngươi sẽ nói, ‘CHÚA là Ðấng vĩ đại ngay cả với những nước bên ngoài bờ cõi I-sơ-ra-ên.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lòng Bất Kính trong Sự Thờ Phượng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 CHÚA các đạo quân phán, “Con cái tôn kính cha, tôi tớ kính trọng chủ.  Nếu Ta là Cha, sự tôn kính dành cho Ta ở đâu?  Nếu Ta là Chủ, sự kính trọng dành cho Ta ở đâu?  Hỡi các tư tế, ấy chính các ngươi, các ngươi đã khinh bỉ danh Ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng các ngươi nói, ‘Chúng tôi đã khinh bỉ danh Ngài như thế nào?’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Bằng cách dâng bánh ô uế trên bàn thờ Ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các ngươi còn hỏi, ‘Chúng tôi đã làm ô danh Ngài như thế nào?’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðó là khi các ngươi nói, ‘Bàn của CHÚA thật là đáng khinh.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Khi các ngươi dâng một con vật đui mù làm của lễ, điều ấy chẳng phải là sai sao?  Khi các ngươi dâng những con vật què quặt hoặc bịnh tật làm của lễ, điều ấy chẳng phải là sai sao?  Thử đem biếu cho quan tổng trấn của các ngươi xem.  Nó sẽ vui lòng với các ngươi chăng?  Nó sẽ chấp nhận các ngươi sao?” CHÚA các đạo quân phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Thế thì, bây giờ hãy van nài với Ðức Chúa Trời, để xin Ngài tỏ lòng khoan dung đối với chúng ta.  Tay các người đã làm như thế, liệu Ngài sẽ chấp nhận ai trong vòng các người sao?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
CHÚA các đạo quân phán, 10 “Ôi, ước gì có người nào trong vòng các ngươi đóng các cửa Ðền Thờ lại, để các ngươi không thể đốt lửa trên bàn thờ của Ta một cách vô ích.  Ta không vui lòng về các ngươi chút nào,” CHÚA các đạo quân phán.  “Ta sẽ không nhận một của lễ nào từ tay các ngươi.  11 Thật vậy danh Ta thật lớn lao giữa các dân ngoại, từ phương đông cho đến phương tây.  Khắp nơi người ta dâng hương và dâng những của lễ tinh khiết cho danh Ta, vì danh Ta thật lớn lao giữa các dân ngoại,” CHÚA các đạo quân phán, 12 “Thế mà các ngươi đã làm ô danh Ta khi nói, ‘Bàn của CHÚA bẩn thỉu,’ và ‘Bánh trái trên bàn ấy thật đáng khinh.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Các ngươi còn nói, ‘Hãy xem, đó chỉ là một gánh nặng!’  Rồi các ngươi khinh bỉ bàn ấy,” CHÚA các đạo quân phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Khi các ngươi đem các con vật thương tích, què quặt, bịnh tật dâng làm của lễ, Ta há sẽ nhận các của lễ như thế sao?”  CHÚA các đạo quân phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 “Ðáng nguyền rủa thay là kẻ xảo trá.  Nó có con đực trong bầy và đã hứa dâng con ấy, nhưng đến khi đem dâng, nó lại dâng lên Chúa một con vật tật nguyền làm của lễ.  Khá biết rằng Ta là Vua cao cả.  Danh Ta được kính sợ giữa các dân,” CHÚA các đạo quân phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Xa-cha-ri]]&lt;br /&gt;
:* [[Xa-cha-ri: Chương 1]]&lt;br /&gt;
:* [[Ma-la-chi]]&lt;br /&gt;
:* [[Ma-la-chi: Chương 2]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Sa-mu-%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35799</id>
		<title>I Sa-mu-ên: Chương 1</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Sa-mu-%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35799"/>
		<updated>2026-09-01T15:59:12Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Có một người quê tại Ra-ma-tha-im Xô-phim, thuộc vùng núi Ép-ra-im, tên là Ên-ca-na, con trai của Giê-rô-ham, con trai của Ê-li-hu, con trai của Tô-hu, con trai của Xu-phơ, là cư dân tại Ép-ra-im. 2. Ên-ca-na có hai vợ, một người tên là An-ne, người kia tên là Phê-ni-na. Phê-ni-na có nhiều con, nhưng An-ne không có con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Hằng năm, Ên-ca-na từ thành của mình đi lên để thờ phượng và dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va của các đạo quân tại Si-lô. Hai con trai của Hê-li, là Hóp-ni và Phi-nê-a, đang làm tư tế của Đức Giê-hô-va tại đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Đến ngày dâng sinh tế, Ên-ca-na chia lễ vật ra cho vợ của mình là Phê-ni-na, và cho tất cả các con trai và con gái của bà; 5. tuy nhiên ông dành cho An-ne một phần gấp đôi, bởi vì ông yêu An-ne, mặc dù Đức Giê-hô-va đã khiến nàng hiếm muộn 6. Kẻ ghét nàng không ngớt trêu chọc để nàng ưu phiền, bởi vì Đức Giê-hô-va đã khiến cho nàng hiếm muộn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Việc này cứ diễn ra như vậy năm nầy sang năm khác, mỗi khi nàng lên nhà của Đức Giê-hô-va, người phụ nữ kia chọc tức nàng; vì vậy, nàng khóc và bỏ ăn. 8. Ên-ca-na, chồng của nàng, nói cùng nàng: &amp;quot;An-ne! Tại sao em khóc? Tại sao em không ăn? Tại sao lòng của em phiền muộn? Anh không đáng cho em hơn mười đứa con trai hay sao?&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Sau khi họ đã ăn uống xong tại Si-lô, An-ne trỗi dậy – Lúc đó, thầy tế lễ Hê-li đang ngồi trên ghế gần bên trụ cửa của nhà Đức Giê-hô-va – 10. Với tâm hồn đau khổ, nàng khóc cách thảm sầu, rồi cầu nguyện cùng Đức Giê-hô-va. 11. Nàng đã khấn nguyện: &amp;quot;Đức Giê-hô-va của các đạo quân! Nếu Ngài đoái xem nỗi sầu khổ của tớ gái Ngài, nhớ lại con và không quên tớ gái của Ngài, nhưng ban cho tớ gái của Ngài một con trai, thì con sẽ hiến dâng nó cho Đức Giê-hô-va trọn đời, và dao cạo sẽ không chạm đến đầu của nó.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Thời gian trôi qua, nhưng nàng tiếp tục cầu nguyện trước mặt Đức Giê-hô-va. Hê-li chú ý đến miệng của nàng – 13. bởi vì An-ne cầu nguyện trong lòng, chỉ mấp máy môi, không nghe tiếng – do đó, Hê-li nghĩ rằng nàng đang say rượu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Hê-li nói với nàng: &amp;quot;Con còn say cho đến bao giờ? Hãy đi dã rượu đi!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. An-ne trả lời và nói: &amp;quot;Chúa ôi! Không phải vậy! Con là một phụ nữ có tâm linh đau khổ. Con không uống rượu mạnh hay rượu nho, nhưng con dốc đổ nỗi lòng của con trước mặt Đức Giê-hô-va. 16. Xin đừng nghĩ tớ gái của ngài là một phụ nữ hư đốn. Nỗi đau khổ và ưu phiền quá nhiều của con khiến con phải cầu khẩn cho đến bây giờ.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Hê-li trả lời và nói: &amp;quot;Hãy đi bình an! Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên sẽ ban cho con điều con cầu xin Ngài!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. An-ne thưa: &amp;quot;Nguyện tớ gái của ngài được ơn trước mặt ngài.&amp;quot; Rồi nàng đi về, ăn, và nét mặt không còn u sầu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Sáng sớm, họ thờ phượng Đức Giê-hô-va, rồi trở về nhà của họ tại Ra-ma.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ên-ca-na biết An-ne, vợ của mình. Đức Giê-hô-va nhớ đến nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Thời gian trôi qua, sau khi An-ne thụ thai, đến kỳ hạn, nàng sinh một con trai và đặt tên là Sa-mu-ên – nghĩa là “Tôi đã khẩn cầu nó từ Đức Giê-hô-va.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Ên-ca-na, người đàn ông, cùng với cả gia đình, đi lên để dâng sinh tế hằng năm cho Đức Giê-hô-va, và làm trọn lời khấn nguyện của mình; 22. nhưng An-ne không đi. Nàng nói với chồng: “Khi đứa trẻ thôi bú, em sẽ dẫn nó lên để trình diện với Đức Giê-hô-va, và ở đó mãi mãi.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Ên-ca-na, chồng nàng nói với nàng: “Hãy làm theo điều em cho là phải; hãy ở lại cho đến khi em dứt sữa cho con - miễn là hoàn thành lời hứa với Đức Giê-hô-va.” Vì vậy, nàng ở lại, cho con bú cho đến khi dứt sữa cho nó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Khi đứa trẻ thôi bú, nàng mang nó, cùng ba con bò tơ đực, một ê-pha bột, và một bầu rượu, rồi mang nó lên nhà của Đức Giê-hô-va tại Si-lô – đứa trẻ vẫn còn nhỏ. 25. Họ giết một con bò đực, rồi mang đứa trẻ đến Hê-li. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Nàng nói: “Thưa chúa! Thật như linh hồn ngài đang sống. Thưa chúa! Tôi chính là người phụ nữ đã đứng tại đây bên cạnh ngài để cầu khẩn Đức Giê-hô-va. 27. Tôi đã cầu xin để được đứa trẻ nầy, và Đức Giê-hô-va đã ban cho tôi điều tôi khẩn cầu. 28. Vì vậy, tôi trao nó cho Đức Giê-hô-va. Khi nào nó còn sống, nó sẽ được trao cho Đức Giê-hô-va.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi cậu bé phục vụ Đức Giê-hô-va tại đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cha mẹ của Sa-mu-ên'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có một người quê tại Ra-ma-tha-im Xô-phim, thuộc vùng đồi Ép-ra-im, tên là Ên-ca-na, con trai của Giê-rô-ham, con trai của Ê-li-hu, con trai của Tô-hu, con trai của Xu-phơ, là cư dân tại Ép-ra-im. Ên-ca-na có hai vợ, một người tên là An-ne, người kia tên là Phê-ni-na. Phê-ni-na có nhiều con, nhưng An-ne không có con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hằng năm, Ên-ca-na từ thành của mình đi lên để thờ phượng và dâng sinh tế cho Đức Giê-hô-va của các đạo quân tại Si-lô. Hai con trai của Hê-li, là Hóp-ni và Phi-nê-a, đang làm thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va tại đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến ngày dâng sinh tế, Ên-ca-na chia lễ vật ra cho vợ của mình là Phê-ni-na, và cho tất cả các con trai và con gái của bà; tuy nhiên ông dành cho An-ne một phần gấp đôi, bởi vì ông yêu An-ne, mặc dù Đức Giê-hô-va đã khiến nàng hiếm muộn Kẻ ghét nàng không ngớt trêu chọc để nàng ưu phiền, bởi vì Đức Giê-hô-va đã khiến nàng hiếm muộn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Việc này cứ diễn ra như vậy năm nầy sang năm khác, mỗi khi nàng lên nhà của Đức Giê-hô-va, người phụ nữ kia chọc tức nàng; vì vậy, nàng khóc và bỏ ăn.  Ên-ca-na, chồng của nàng, nói cùng nàng: An-ne! Tại sao em khóc? Tại sao em không ăn? Tại sao lòng của em phiền muộn? Anh không đáng cho em hơn mười đứa con trai hay sao?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi họ đã ăn uống xong tại Si-lô, An-ne chỗi dậy – Lúc đó, thầy tế lễ Hê-li đang ngồi trên ghế gần bên trụ cửa của nhà Đức Giê-hô-va – Với tâm hồn đau khổ, nàng khóc cách thảm sầu, rồi cầu nguyện cùng Đức Giê-hô-va. Nàng đã khấn nguyện: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đức Giê-hô-va của các đạo quân! Nếu Ngài đoái xem nỗi sầu khổ của tớ gái Ngài, nhớ lại con và không quên tớ gái của Ngài, nhưng ban cho tớ gái của Ngài một con trai, thì con sẽ hiến dâng nó cho Đức Giê-hô-va trọn đời, và dao cạo sẽ không chạm đến đầu của nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thời gian trôi qua, nàng tiếp tục cầu nguyện trước Đức Giê-hô-va. Hê-li chú ý đến miệng của nàng – bởi vì An-ne cầu nguyện trong lòng, chỉ mấp máy môi, nhưng không nghe tiếng – do đó, Hê-li nghĩ rằng nàng đang say rượu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hê-li nói với nàng: Con còn say cho đến bao giờ? Hãy đi dã rượu đi!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
An-ne trả lời và nói: Chúa ôi! Không phải vậy! Con là một phụ nữ có tâm linh đau khổ. Con không uống rượu mạnh hay rượu nho, nhưng con dốc đổ nỗi lòng của con trước mặt Đức Giê-hô-va. Xin đừng nghĩ tớ gái của ngài là một phụ nữ hư đốn. Nỗi đau khổ và ưu phiền quá nhiều của con khiến con phải cầu khẩn cho đến bây giờ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hê-li trả lời và nói: Hãy đi bình an! Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên sẽ ban cho con điều con cầu xin Ngài!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
An-ne thưa: Nguyện tớ gái của ngài được ơn trước mặt ngài. Rồi nàng đi về, ăn, và nét mặt không còn u sầu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sáng sớm, họ thờ phượng Đức Giê-hô-va, rồi trở về nhà của họ tại Ra-ma.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ên-ca-na gần gũi với An-ne, vợ của mình. Đức Giê-hô-va nhớ đến nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thời gian trôi qua, sau khi An-ne thụ thai, đến kỳ hạn, nàng sinh một con trai và đặt tên là Sa-mu-ên – vì “Tôi đã khẩn cầu nó từ Đức Giê-hô-va.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ên-ca-na, người đàn ông, cùng với cả gia đình, đi lên để dâng sinh tế hằng năm cho Đức Giê-hô-va, và làm trọn lời khấn nguyện của mình. Nhưng An-ne không đi, vì nàng nói với chồng: “Khi đứa trẻ thôi bú, em sẽ dẫn nó lên để trình diện với Đức Giê-hô-va, và ở đó mãi mãi.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ên-ca-na, chồng nàng nói với nàng: “Hãy làm theo điều em cho là phải; hãy ở lại cho đến khi em dứt sữa cho con - miễn là hoàn thành lời hứa với Đức Giê-hô-va.” Vì vậy, nàng ở lại, cho con bú cho đến khi dứt sữa nó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi đứa trẻ thôi bú, nàng mang nó, cùng ba con bò tơ đực, một ê-pha bột, và một bầu rượu, rồi mang nó lên nhà của Đức Giê-hô-va tại Si-lô – đứa trẻ vẫn còn nhỏ. Họ giết một con bò đực, rồi mang đứa trẻ đến Hê-li. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nàng nói: “Thưa chúa! Thật như linh hồn ngài đang sống. Thưa chúa! Tôi chính là người phụ nữ đã đứng tại đây bên cạnh ngài để cầu khẩn Đức Giê-hô-va. Tôi đã cầu xin để được đứa trẻ nầy, và Đức Giê-hô-va đã ban cho tôi điều tôi khẩn cầu. Vì vậy, tôi giao nó cho Đức Giê-hô-va; khi nào nó còn sống, nó sẽ được giao cho Đức Giê-hô-va.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi cậu bé thờ phượng Đức Giê-hô-va tại đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Xưa tại Ra-ma-tha-im-xô-phim, có một người quê ở núi Ép-ra-im, tên là Ên-ca-na, con trai của Giê-rô-ham, cháu của Ê-li-hu, chắt của Tô-hu, chít của Xu-phơ, người Ép-ra-im; 2.  Ên-ca-na có hai vợ, người này tên là An-ne, và người kia tên là Phê-ni-na. Phê-ni-na có con, còn An-ne không có. 3.  Mỗi năm, Ên-ca-na ở thành mình đi lên Si-lô đặng thờ phượng Đức Giê-hô-va vạn quân, và dâng của tế lễ cho Ngài; tại Si-lô có hai con trai của Hê-li, là Hốp-ni và Phi-nê-a, thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Đến ngày Ên-ca-na dâng tế lễ, thì chia của lễ ra từng phần ban cho Phê-ni-na, vợ mình, và cho các con trai và con gái mình. 5.  Nhưng người lại ban cho An-ne một phần bằng hai, vì người thương nàng, dẫu rằng Đức Giê-hô-va khiến cho nàng son sẻ. 6.  Kẻ phân bì nàng khôn xiết trêu ghẹo nàng, để giục nàng lằm bằm vì Đức Giê-hô-va đã khiến nàng son sẻ. 7.  Từ năm nầy đến năm kia, mỗi khi nàng đi lên đền Đức Giê-hô-va, chồng đãi nàng như vậy, còn Phê-ni-na cứ trêu ghẹo nàng; An-ne khóc và không ăn. 8.  Ên-ca-na, chồng nàng, nói rằng: Hỡi An-ne, sao nàng khóc? Cớ sao không ăn và lòng buồn bực dường ấy? Ta há chẳng đáng cho nàng hơn mười đứa con trai ư? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Sau khi người ta đã ăn uống tại Si-lô rồi, An-ne bèn đứng dậy; lúc ấy Hê-li, thầy tế lễ, đang ngồi trên một cái ghế gần bên cửa của đền Đức Giê-hô-va. 10.  An-ne lấy làm sầu khổ trong lòng, vừa cầu khẩn Đức Giê-hô-va, vừa tuôn tràn giọt lệ. 11.  Nàng hứa nguyện rằng: Ôi, Đức Giê-hô-va của vạn quân, nếu Ngài đoái xem nỗi sầu khổ của con đòi Ngài, nhớ lại nó chẳng quên, và ban cho con đòi Ngài một đứa trai, thì tôi sẽ phú dâng nó trọn đời cho Đức Giê-hô-va, và dao cạo sẽ chẳng đưa ngang qua đầu nó. 12.  Vì nàng cầu nguyện lâu dài trước mặt Đức Giê-hô-va, Hê-li chăm xem miệng nàng; 13.  vả, An-ne nói trong lòng, chỉ nhóp nhép miệng mà thôi, không có ai nghe tiếng nàng; nên Hê-li tưởng nàng say, 14.  bèn hỏi rằng: Chừng nào nàng mới hết say? Hãy đi giã rượu đi. 15.  An-ne thưa rằng: Chẳng phải vậy, chúa; tôi vốn một đàn bà có lòng buồn bực, chẳng uống rượu hay là vật gì uống say; nhưng tôi giãi bày lòng tôi ra trước mặt Đức Giê-hô-va. 16.  Chớ tưởng con đòi của ông là một người đàn bà gian ác; vì nỗi đau đớn và ưu phiền quá độ của tôi bắt tôi phải nói đến bây giờ. 17.  Hê-li bèn tiếp rằng: Hãy đi bình yên, nguyện Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên nhậm lời nàng đã cầu xin cùng Ngài! 18.  Nàng thưa rằng: Nguyện con đòi ông được ơn trước mắt ông! Đoạn, người nữ lui ra, ăn, và nét mặt nàng chẳng còn ra ưu sầu nữa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19.  Qua ngày sau vợ chồng dậy sớm, thờ lạy trước mặt Đức Giê-hô-va, đoạn trở về nhà mình tại Ra-ma. Ên-ca-na ăn ở cùng An-ne, là vợ mình; Đức Giê-hô-va bèn nhớ đến nàng. 20.  Đang trong năm, An-ne thọ thai và sanh một con trai, đặt tên là Sa-mu-ên, mà nói rằng: Tôi đã cầu xin nó nơi Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Ên-ca-na, chồng nàng, và cả nhà người đi lên đặng dâng cho Đức Giê-hô-va của lễ hằng năm và làm xong sự hứa nguyện mình. 22.  Nhưng An-ne không đi lên, vì nói cùng chồng nàng rằng: Khi đứa trẻ dứt sữa, tôi sẽ dẫn nó lên, để nó ra mắt Đức Giê-hô-va, và ở đó luôn luôn. 23.  Ên-ca-na, chồng nàng, đáp rằng: Hãy làm theo ý nàng cho là phải, ở lại đây cho đến chừng nàng dứt sữa nó. Chỉn nguyện Đức Giê-hô-va làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài! Vậy, nàng ở lại nhà, cho con bú đến lúc dứt sữa. 24.  Vừa khi dứt sữa, nàng bèn dẫn nó theo mình đến đền của Đức Giê-hô-va tại Si-lô, cùng đem theo ba con bò đực, một Ê-pha bột mì, và một bầu rượu. Đứa trẻ hãy còn nhỏ lắm. 25.  Họ giết con bò đực, rồi dẫn đứa trẻ đến Hê-li. 26.  Nàng bèn nói cùng người rằng: Xin lỗi, chúa! xưa có người đàn bà đứng tại đây, gần bên ông, đặng cầu khẩn Đức Giê-hô-va, tôi chỉ sanh mạng ông mà thề rằng tôi là người đó. 27.  Ấy vì đứa trẻ nầy mà tôi cầu nguyện. Đức Giê-hô-va đã nhậm lời tôi đã cầu xin cùng Ngài. 28.  Vì vậy, tôi cũng dâng nó cho Đức Giê-hô-va; tôi cho Đức Giê-hô-va mượn nó trọn đời nó. Đoạn mẹ con đều thờ lạy tại đó trước mặt Đức Giê-hô-va. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B09\V02B09C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Nỗi Buồn của An-ne'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ngày xưa ở Ra-ma-tha-im có dòng họ Xô-phim sống trong miền cao nguyên Ép-ra-im; tại đó có một người tên Ên-ca-na con của Giê-rô-ham, con của Ê-li-hu, con của Tô-hu, con của Xu-phơ, thuộc chi tộc Ép-ra-im.  2 Ên-ca-na có hai vợ; một bà tên An-ne và bà kia tên Pê-nin-na.  Pê-nin-na có con, còn An-ne không con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Hằng năm Ên-ca-na thường đi từ thành ông ở lên Si-lô, nơi hai con trai của Hê-li là Hóp-ni và Phi-nê-a làm tư tế của CHÚA, để thờ phượng và dâng con vật hiến tế lên CHÚA các đạo quân.  4 Ðến ngày Ên-ca-na dâng con vật hiến tế, ông thường chia phần cho Pê-nin-na vợ ông và cho các con trai và con gái của bà; 5 nhưng đối với An-ne, ông cho bà một phần gấp đôi, vì ông rất thương yêu bà, mặc dù CHÚA đã để cho dạ bà hiếm muộn không con.  6 Bà vợ kia, đối thủ của bà, luôn tìm mọi cơ hội để chọc tức bà, làm cho bà càng thêm sầu khổ, vì CHÚA đã để cho dạ bà hiếm muộn không con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Việc đó cứ tái diễn từ năm này qua năm khác.  Mỗi khi bà An-ne lên nhà CHÚA, đối thủ của bà cứ chọc tức bà, đến nỗi bà phải khóc và chẳng thiết gì ăn uống.  8 Ên-ca-na chồng bà thường an ủi bà, “An-ne, sao em khóc?  Sao em không chịu ăn?  Sao lòng em buồn bã như vậy?  Anh không xứng đáng cho em hơn mười đứa con trai sao?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''An-ne Cầu Nguyện'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Sau khi gia đình ăn uống xong tại Si-lô, An-ne đứng dậy cầu nguyện.  Lúc ấy Tư Tế Hê-li đang ngồi trên ghế bên cửa đền thờ của CHÚA.  10 Với tâm hồn cực kỳ sầu khổ, bà vừa cầu nguyện vừa khóc lóc đắng cay trước mặt CHÚA.  11 Bà khấn nguyện, “Lạy CHÚA của các đạo quân, ước chi Ngài nhìn thấy nỗi khổ của con, tớ gái của Ngài.  Xin nhớ đến con, và đừng quên tớ gái của Ngài, mà cho tớ gái của Ngài một con trai.  Con nguyện dâng nó lên CHÚA, để nó phục vụ Ngài suốt đời nó.  Dao cạo sẽ không đụng đến tóc nó.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Ðang khi bà cứ lâm râm cầu nguyện trước mặt CHÚA, Hê-li để ý miệng bà.  13 An-ne cứ lầm thầm cầu nguyện trong lòng, chỉ có môi bà mấp máy, mà không nghe thành tiếng, vì thế Hê-li tưởng bà say rượu.  14 Hê-li bảo bà, “Bà còn say rượu cho đến bao lâu nữa?  Thôi hãy về, lo dã rượu đi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Nhưng An-ne đáp, “Thưa ngài, không phải vậy đâu.  Tôi là người đàn bà có tâm sự rất sầu khổ.  Không phải tôi bị say vì uống rượu hoặc bia đâu, nhưng tôi đã dốc đổ lòng mình ra trước mặt CHÚA.  16 Xin ngài đừng hiểu lầm tớ gái của ngài là một phụ nữ không đàng hoàng.  Vì quá sầu khổ và phiền muộn nên tôi mới cầu nguyện lâu như vậy.”   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Nghe thế Hê-li nói, “Hãy đi bình an.  Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên sẽ ban cho bà điều bà cầu xin Ngài.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Bà đáp, “Nguyện tớ gái của ngài được ơn trước mặt ngài.”  Rồi người đàn bà ra về, ăn uống, và nét mặt bà không còn buồn rầu nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sa-mu-ên Chào Ðời và Ðược Dâng Lên CHÚA'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Sáng hôm sau gia đình Ên-ca-na dậy sớm; họ thờ phượng trước mặt CHÚA, rồi trở về nhà họ ở Ra-ma.  Ên-ca-na biết An-ne vợ ông, và CHÚA nhớ đến bà.  20 An-ne thụ thai.  Mãn kỳ thai nghén, bà sinh một con trai.  Bà đặt tên cho nó là Sa-mu-ên, vì bà nói, “Tôi đã cầu xin CHÚA mới có được nó.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Ðến kỳ lễ người chồng là Ên-ca-na đưa cả gia đình ông đi lên để dâng lên CHÚA con vật hiến tế hằng năm và làm trọn lời khấn nguyện của họ, 22 nhưng An-ne không đi với họ.  Bà nói với chồng bà, “Ðợi cho đến khi con dứt sữa, em sẽ dẫn nó theo, để nó ra mắt CHÚA, rồi nó sẽ ở lại đó luôn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Ên-ca-na chồng bà nói, “Em thấy điều gì đúng thì cứ làm.  Ðợi đến khi con dứt sữa cũng được, miễn sao em đã hứa với CHÚA thế nào thì phải làm thế ấy là được rồi.”  Vậy bà cứ ở nhà, cho con bú cho đến khi nó dứt sữa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Khi đứa trẻ đã dứt sữa, bà đưa nó lên với bà.  Bà đem theo một con bò đực ba tuổi, một bao bột khoảng hai mươi hai lít, và một bầu da rượu đến nhà CHÚA ở Si-lô.  Lúc ấy đứa trẻ vẫn còn nhỏ lắm.  25 Sau khi người ta giết con vật hiến tế, ông bà đưa đứa trẻ đến gặp Hê-li.  26 Bà nói, “Thưa ngài, tôi xin chỉ mạng sống của ngài mà thề rằng tôi là người đàn bà đã đứng trước mặt ngài ở chỗ này trước đây mà cầu nguyện với CHÚA.  27 Tôi đã cầu nguyện để có được đứa trẻ này, và CHÚA đã ban cho tôi điều tôi cầu xin Ngài.  28 Vì thế hôm nay tôi xin dâng nó lên CHÚA.  Tôi cho CHÚA mượn nó suốt đời nó.”  Sau đó cả gia đình ông bà thờ phượng CHÚA tại đó.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[II Sa-mu-ên]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên: Chương 2]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Xu%E1%BA%A5t_%C3%8A-d%C3%ADp-t%C3%B4_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_21&amp;diff=35798</id>
		<title>Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 21</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Xu%E1%BA%A5t_%C3%8A-d%C3%ADp-t%C3%B4_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_21&amp;diff=35798"/>
		<updated>2026-08-27T16:27:00Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. &amp;quot;Ðây là những luật lệ mà ngươi sẽ thiết lập cho họ:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Nếu có ai mua một người Hê-bơ-rơ làm nô lệ, người đó sẽ phục vụ sáu năm, nhưng đến năm thứ bảy người đó sẽ được tự do ra đi mà không phải trả tiền gì cả. 3. Nếu người đó đến lúc còn độc thân, người đó sẽ ra đi cách độc thân.  Nếu người đó có vợ, người đó sẽ ra đi cùng với vợ của mình. 4. Nếu chủ cưới vợ cho người đó, nàng sinh con trai hoặc con gái cho người đó, thì vợ và các con thuộc về chủ, người đó sẽ ra đi một mình. 5. Nhưng nếu người nô lệ nói: 'Tôi thương chủ của tôi, vợ và các con của tôi; tôi không muốn ra đi tự do,' 6. thì người chủ sẽ đem người đó đến với các thẩm phán. Chủ sẽ dẫn người nô lệ đến một cái cửa hay trụ cửa, rồi dùng dùi xỏ tai người đó, và người đó sẽ làm nô lệ cho chủ vĩnh viễn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Nếu một người bán con gái của mình làm nữ nô lệ, người con gái đó sẽ không được ra đi như những nam nô lệ. 8. Nếu nàng không làm hài lòng theo mắt của chủ, là người đã lấy nàng làm hầu thiếp, thì chủ phải để cho nàng được chuộc ra, chứ không có quyền bán nàng cho người ngoại quốc bởi vì chủ đã đối xử cách bất công với nàng. 9. Còn nếu chủ muốn để dành nàng cho con trai của mình thì phải cư xử với nàng theo phong tục dành cho những người con gái. 10. Nếu chủ cưới một người phụ nữ khác làm vợ, chủ không được quyền cắt giảm phần lương thực, quần áo, và quyền làm vợ của nàng. 11. Nếu người chủ không thực hiện ba điều nầy, nàng được tự do ra đi mà không phải trả tiền.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Người nào đánh chết một người, người đó sẽ bị tử hình. 13. Tuy nhiên, nếu người đó không cố sát nhưng Đức Chúa Trời đã trao kẻ bị giết vào tay của người đó, thì Ta sẽ định cho ngươi một chỗ để người đó chạy đến ẩn náu. 14. Nhưng nếu người nào chủ ý tấn công và cố ý giết người lân cận của mình, thì hãy lôi nó ra khỏi bàn thờ của Ta mà giết đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Người nào đánh cha hay mẹ của mình, người đó sẽ bị tử hình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Người nào bắt cóc một người, bất kể người bị bắt cóc đã bị bán hay còn bị giam giữ, kẻ bắt cóc sẽ bị xử tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Người nào nguyền rủa cha hay mẹ của mình, người đó sẽ bị xử tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Khi hai người cãi nhau, nếu một người đánh người kia bằng cục đá hay bằng nắm tay, khiến người kia dù không thiệt mạng nhưng phải nằm liệt giường, 19. rồi sau đó có thể đứng dậy, và chống gậy đi ra ngoài, thì kẻ đánh người sẽ được tha, và người đó chỉ phải đền bù thiệt hại về thời gian và chăm sóc cho đến khi hoàn toàn bình phục.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Khi một người đánh một nô lệ nam hay nữ của mình bằng gậy, khiến người đó bị chết dưới tay của mình, người chủ phải bị trừng phạt.  21. Nhưng nếu người nô lệ còn sống một hai ngày thì người chủ không bị trừng phạt, bởi vì người nô lệ đó vốn là tài sản của chủ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Nếu người ta đánh nhau, rồi đánh trúng một phụ nữ có thai khiến cho con của nàng phải ra ngoài, nhưng sau đó không nguy hại gì, thì người có lỗi phải bồi thường theo yêu cầu từ chồng của người phụ nữ, và phải đền bù thông qua thẩm phán. 23. Tuy nhiên nếu có thương tích xảy ra thì mạng đền mạng, 24. mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, 25. phỏng đền phỏng, thương tích đền thương tích, bầm giập đền bầm giập.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Nếu một người đánh vào mắt của người nô lệ nam hay mắt của người nô lệ nữ của mình, làm cho nó bị hư hỏng, thì vì con mắt người chủ phải cho người nô lệ được tự do. 27. Nếu một người đánh gãy răng người nô lệ nam hay người nô lệ nữ của mình, thì vì cái răng người chủ phải cho người nô lệ được tự do.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Khi có một con bò húc chết một người đàn ông hay một người đàn bà thì con bò phải bị ném đá chết; người ta không được ăn thịt nó; và người chủ của con bò sẽ không phải chịu trách nhiệm. 29. Tuy nhiên nếu con bò đã có tật hay húc người trong quá khứ, và chủ bò đã biết nhưng vẫn không canh giữ, để nó húc chết một người đàn ông hay một người đàn bà thì con bò phải bị ném đá, và chủ bò sẽ bị tử hình. 30. Tuy nhiên, nếu có giá chuộc mạng được ấn định cho người đó thì người đó phải trả theo giá đã ấn định để chuộc lại mạng sống của mình. 31. Nếu con bò húc phải một người con trai hay con gái thì chủ bò cũng sẽ bị xử theo luật nầy. 32. Nếu bò húc chết một nam nô lệ hay một nữ nô lệ, chủ bò phải trả cho chủ của người nô lệ ba mươi siếc-lơ bạc, và con bò phải bị ném đá chết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. Nếu có người mở một cái hầm hay đào một cái hầm mà không đậy nó lại, để rồi có một bò hay một con lừa té xuống đó, 34. thì người chủ của cái hầm phải đền bù thiệt hại tương đương với giá của con vật cho chủ của con vật bị chết, nhưng con vật chết sẽ thuộc về người bồi thường. 35. Nếu bò của người nầy húc chết bò của người kia thì họ sẽ bán con bò còn sống rồi chia đôi số tiền, và họ cũng phân chia con vật bị chết. 36. Nhưng nếu trong quá khứ việc con bò có tật húc nhau đã được biết mà người chủ không canh giữ, thì người chủ đó phải lấy bò bồi thường cho bò, và con bò bị chết sẽ thuộc về người đó.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Đây là luật lệ ngươi phải truyền cho dân sự: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2.  Nếu ngươi mua một người đầy tớ Hê-bơ-rơ, nó sẽ hầu việc cho sáu năm; nhưng qua năm thứ bảy nó sẽ được thả ra, không phải thối tiền. 3.  Nếu nó vào ở một mình, thì sẽ ra một mình; nếu có vợ, thì sẽ ra với vợ. 4.  Nếu người chủ cưới vợ cho, và nếu vợ sanh được con trai hay gái, thì nó sẽ ra một mình, vợ và con thuộc về chủ. 5.  Nếu kẻ tôi mọi nói rằng: Tôi thương chủ, vợ và con tôi, không muốn ra được tự do, 6.  thì người chủ sẽ dẫn nó đến trước mặt Đức Chúa Trời, biểu lại gần cửa hay là cột, rồi lấy mũi dùi xỏ tai; nó sẽ hầu việc người chủ đó trọn đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Nếu ai bán con gái mình làm con đòi, con gái đó không được ra như các đầy tớ kia. 8.  Nếu chủ trước đã ưng lấy con đòi làm hầu, rồi sau lại chẳng muốn, thì chủ phải biểu chuộc nàng lại, chớ không có phép gạt, rồi đem bán nàng cho kẻ ngoại bang. 9.  Nhưng nếu chủ định để cho con trai mình, thì phải xử với nàng theo phép như con gái mình vậy. 10.  Nếu chủ có lấy người khác, thì đối với người thứ nhất chẳng được phép giảm đồ ăn, đồ mặc, và tình nghĩa vợ chồng chút nào. 11.  Nếu người chủ không làm theo ba điều nầy, nàng được phép ra không, chẳng phải thối tiền lại. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Kẻ nào đánh chết một người, sẽ bị xử tử. 13.  Nhược bằng kẻ đó chẳng phải mưu giết, nhưng vì Đức Chúa Trời đã phú người bị giết vào tay kẻ đó, thì ta sẽ lập cho ngươi một chỗ đặng kẻ giết người ẩn thân. 14.  Còn nhược bằng kẻ nào dấy lên cùng người lân cận mà lập mưu giết người, thì dẫu rằng nó núp nơi bàn thờ ta, ngươi cũng bắt mà giết đi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15.  Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16.  Kẻ nào bắt người và bán, hoặc giữ lại trong tay mình, sẽ bị xử tử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Kẻ nào mắng cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Khi hai người đánh lộn nhau, người nầy đánh người kia bằng đá hay là đấm cú, không đến đỗi phải chết, nhưng phải nằm liệt giường, 19.  nếu đứng dậy chống gậy đi ra ngoài được, người đánh đó sẽ được tha tội. Nhưng chỉ phải đền tiền thiệt hại trong mấy ngày nghỉ và nuôi cho đến khi lành mạnh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20.  Khi người chủ lấy gậy đánh đầy tớ trai hay gái mình và chết liền theo tay, thì chắc phải bị phạt. 21.  Song nếu đầy tớ trai hay gái còn sống một hai ngày, người chủ khỏi tội, vì nó vốn là tài sản của chủ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  Nếu người ta đánh nhau, đụng nhằm một người đàn bà có thai, làm cho phải sảo, nhưng chẳng bị sự hại chi khác, thì kẻ đánh nhằm đó phải bồi thường theo lời chồng người sẽ định, và trả tiền trước mặt quan án. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23.  Còn nếu có sự hại chi, thì ngươi sẽ lấy mạng thường mạng, 24.  lấy mắt thường mắt, lấy răng thường răng, lấy tay thường tay, lấy chân thường chân, 25.  lấy phỏng thường phỏng, lấy bầm thường bầm, lấy thương thường thương. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Nếu ai đánh nhằm con mắt đầy tớ trai hay gái mình, làm cho mất đi, thì hãy tha nó ra tự do, vì cớ mất con mắt. 27.  Nếu ai làm rụng một răng của đầy tớ trai hay gái mình, thì hãy tha nó ra tự do, vì cớ mất một răng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28.  Ví có một con bò báng nhằm một người đàn ông hay đàn bà phải chết đi, con bò sẽ bị ném đá chết, người ta không nên ăn thịt nó; còn người chủ bò sẽ được vô tội. 29.  Nhưng ngộ từ trước con bò có tật hay báng và chủ đã bị mắng vốn mà không cầm giữ, nếu bò nầy còn giết một người đàn ông hay đàn bà, thì nó sẽ bị ném đá, và chủ sẽ bị xử tử nữa. 30.  Nhược bằng người ta định giá cho chủ bò chuộc mạng, chủ phải chuộc mạng mình y như giá đã định. 31.  Nếu bò báng nhằm một đứa con trai hay là con gái, người ta cũng sẽ chiếu theo luật nầy. 32.  Con bò báng nhằm một đứa đầy tớ trai hay gái, chủ bò phải trả ba chục siếc lơ bạc cho chủ nó; rồi bò sẽ bị ném đá chết. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33.  Nếu ai mở miệng hầm hay là đào hầm mà chẳng đậy lại, và nếu có bò hay là lừa té xuống đó, 34.  chủ hầm sẽ bồi thường giá tiền cho chủ của súc vật, nhưng súc vật bị giết đó sẽ về phần mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35.  Bằng bò của ai báng nhằm bò của kẻ lân cận mình phải chết đi, hai người hãy bán bò sống đó, chia tiền và chia luôn con bò chết nữa. 36.  Nếu người chủ đã tỏ tường trước rằng bò mình có tật hay báng, mà không lo cầm giữ, chủ phải lấy bò thường bò, nhưng bò chết sẽ về phần người. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B02\V02B02C021.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Luật về Nô Lệ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(Phục 15:12-18)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là các luật lệ ngươi sẽ đặt trước mặt dân:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Khi ngươi mua một người Hê-bơ-rơ làm nô lệ, người ấy sẽ phục vụ ngươi sáu năm, nhưng năm thứ bảy người ấy sẽ được tự do ra đi mà không phải trả tiền chuộc.  3 Nếu lúc đến làm nô lệ mà người ấy độc thân, khi ra đi người ấy sẽ ra đi độc thân; nhưng nếu lúc đến làm nô lệ mà người ấy đã lập gia đình, khi ra đi, vợ người ấy cũng sẽ ra đi với người ấy.  4 Nếu trong thời gian làm nô lệ, chủ cưới vợ cho người ấy, rồi vợ người ấy sinh cho người ấy con trai hoặc con gái, khi ra đi vợ và con người ấy sẽ thuộc về chủ, người ấy chỉ ra đi một mình.  5 Nhưng nếu người ấy nói, ‘Tôi thương chủ tôi, vợ tôi, và các con tôi.  Tôi không muốn ra đi làm người tự do,’ 6 thì chủ người ấy sẽ đem người ấy đến trước mặt các quan tòa.  Người ấy sẽ được dẫn đến bên cổng hoặc khung cửa, rồi chủ người ấy sẽ lấy dùi xỏ lủng tai người ấy, và người ấy sẽ phục vụ chủ suốt đời mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Khi một người bán con gái mình làm tỳ nữ, người con gái ấy sẽ không được tự do ra đi như các nam nô lệ.  8 Nếu nàng không vừa ý chủ là người đã dành nàng cho mình, chủ phải cho nàng được chuộc lại.  Chủ không có quyền bán nàng cho dân ngoại, vì như thế là thất tín với nàng.  9 Nếu chủ muốn dành người con gái đó cho con trai mình, chủ phải đối xử với nàng như con gái mình.  10 Nếu chủ cưới một người phụ nữ khác làm vợ, chủ không được quyền cắt giảm phần lương thực, quần áo, và quyền phối ngẫu của nàng.  11 Nếu chủ không làm ba điều trên cho nàng, nàng có quyền ra đi tự do, không nợ nần, không phải trả tiền gì cả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Luật về Tội Bạo Hành'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Hễ ai đánh chết người, kẻ ấy sẽ bị xử tử.  13 Nếu người ấy không cố ý giết người, nhưng án mạng đã xảy ra do Ðức Chúa Trời cho phép kẻ bị chết phải chết bởi tay người ấy, thì Ta sẽ chỉ định cho ngươi một chỗ để người ấy có thể chạy đến đó ẩn náu.  14 Nhưng nếu ai cố tình toan tính, rồi xông vào giết người lân cận mình, ngươi phải lôi kẻ sát nhân ấy ra khỏi bàn thờ Ta, mà xử tử nó đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Kẻ nào đánh cha hoặc đánh mẹ sẽ bị xử tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Kẻ nào bắt cóc người ta, bất kể người bị bắt cóc đã bị bán hay còn bị nó giam giữ, kẻ bắt cóc ấy sẽ bị xử tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Kẻ nào chưởi cha hoặc mắng mẹ sẽ bị xử tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Khi hai người cãi nhau, nếu một người đánh người kia bằng cục đá hay bằng nắm tay, khiến người kia bị trọng thương, dù không gây cho người kia bị thiệt mạng, nhưng phải nằm liệt giường, 19 rồi sau đó có thể đứng dậy, chống gậy đi lại, và đi ra ngoài được, thì kẻ đánh người sẽ được tha, nhưng phải trả tiền chữa trị và thiệt hại cho người kia trong suốt thời gian dưỡng bịnh cho đến khi hoàn toàn bình phục.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Khi người chủ nô lệ đánh một nam nô lệ hay một nữ nô lệ bằng roi, và người nô lệ chết ngay dưới tay chủ, người chủ phải bị trừng phạt.  21 Nhưng nếu người nô lệ còn sống được một, hai ngày, người chủ khỏi bị trừng phạt, vì chủ đã bỏ tiền ra mua nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Khi người ta ẩu đả nhau, nếu ai gây cho một phụ nữ đang mang thai bị hư thai, nhưng không thiệt hại chi khác, kẻ gây cho nàng bị hư thai phải bồi thường theo số tiền chồng nàng đòi, và theo quyết định của quan tòa.  23 Nhưng nếu có thiệt hại gì khác, ngươi sẽ lấy mạng đền mạng, 24 mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, 25 phỏng đền phỏng, thương tích đền thương tích, bầm đền bầm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Khi người chủ nô lệ đánh nhằm con mắt của một nam nô lệ hay một nữ nô lệ của mình, khiến nó bị mù, người chủ nô lệ đó phải để cho người nô lệ được ra đi tự do, để đền bù cho con mắt của người đó.  27 Nếu người chủ nô lệ đánh gãy răng của một nam nô lệ hay một nữ nô lệ của mình, người nô lệ ấy được ra đi tự do, để đền bù cho cái răng bị gãy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Luật về Tài Sản'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Khi một con bò húc chết một người đàn ông hay đàn bà, con bò ấy phải bị ném đá chết; không ai được ăn thịt nó.  Chủ con bò ấy sẽ được xem là vô can.  29 Nhưng nếu con bò ấy hay có tật húc người, và chủ bò đã được khuyến cáo, nhưng không chịu kiềm chế nó, để nó húc chết một người nam hay nữ, con bò ấy sẽ bị ném đá chết và chủ nó cũng sẽ bị xử tử.  30 Nếu người ta cho chủ bò được đền tiền chuộc mạng, chủ bò phải đền bất cứ giá nào thân nhân của nạn nhân đòi cho mạng sống của nạn nhân.  31 Nếu bò húc chết một đứa bé trai hay một đứa bé gái, chủ bò cũng bị xử theo luật này.  32 Nếu bò húc chết một nam nô lệ hay một nữ nô lệ, chủ bò phải trả cho chủ người nô lệ ba trăm bốn mươi lăm gờ-ram bạc, còn con bò phải bị ném đá chết. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Nếu ai để giếng mình không đậy, hoặc đào giếng mà không đậy miệng giếng lại, rủi bò hay lừa của ai té vào giếng ấy, 34 chủ giếng phải bồi thường tiền cho chủ con vật, nhưng xác con vật sẽ thuộc về chủ giếng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 Nếu bò của người này húc bò của người kia chết, phải bán con bò còn sống mà chia nhau số tiền, và họ cũng sẽ chia nhau con bò chết.  36 Nhưng nếu người ta biết một con bò đã có tật hay húc, mà chủ bò không kiềm chế nó, thì chủ bò phải lấy bò đền bò, và người ấy sẽ được giữ con bò chết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Lê-vi Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 20]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 22]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Xu%E1%BA%A5t_%C3%8A-d%C3%ADp-t%C3%B4_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_21&amp;diff=35797</id>
		<title>Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 21</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Xu%E1%BA%A5t_%C3%8A-d%C3%ADp-t%C3%B4_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_21&amp;diff=35797"/>
		<updated>2026-08-27T16:26:15Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. &amp;quot;Ðây là những luật lệ mà ngươi sẽ thiết lập cho họ:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Nếu có ai mua một người Hê-bơ-rơ làm nô lệ, người đó sẽ phục vụ sáu năm, nhưng đến năm thứ bảy người đó sẽ được tự do ra đi mà không phải trả tiền gì cả. 3. Nếu người đó đến lúc còn độc thân, người đó sẽ ra đi cách độc thân.  Nếu người đó có vợ, người đó sẽ ra đi cùng với vợ của mình. 4. Nếu chủ cưới vợ cho người đó, nàng sinh con trai hoặc con gái cho người đó, thì vợ và các con thuộc về chủ, người đó sẽ ra đi một mình. 5. Nhưng nếu người nô lệ nói: 'Tôi thương chủ của tôi, vợ và các con của tôi; tôi không muốn ra đi tự do,' 6. thì người chủ sẽ đem người đó đến với các thẩm phán. Chủ sẽ dẫn người nô lệ đến một cái cửa hay trụ cửa, rồi dùng dùi xỏ tai người đó, và người đó sẽ làm nô lệ cho chủ vĩnh viễn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Nếu một người bán con gái của mình làm nữ nô lệ, người con gái đó sẽ không được ra đi như những nam nô lệ. 8. Nếu nàng không làm hài lòng theo mắt của chủ, là người đã lấy nàng làm hầu thiếp, thì chủ phải để cho nàng được chuộc ra, chứ không có quyền bán nàng cho người ngoại quốc bởi vì chủ đã đối xử cách bất công với nàng. 9. Còn nếu chủ muốn để dành nàng cho con trai của mình thì phải cư xử với nàng theo phong tục dành cho những người con gái. 10. Nếu chủ cưới một người phụ nữ khác làm vợ, chủ không được quyền cắt giảm phần lương thực, quần áo, và quyền làm vợ của nàng. 11. Nếu người chủ không thực hiện ba điều nầy, nàng được tự do ra đi mà không phải trả tiền.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Người nào đánh chết một người, người đó sẽ bị tử hình. 13. Tuy nhiên, nếu người đó không cố sát nhưng Đức Chúa Trời đã trao kẻ bị giết vào tay của người đó, thì Ta sẽ định cho ngươi một chỗ để người đó chạy đến ẩn náu. 14. Nhưng nếu người nào chủ ý tấn công và cố ý giết người lân cận của mình, thì hãy lôi nó ra khỏi bàn thờ của Ta mà giết đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Người nào đánh cha hay mẹ của mình, người đó sẽ bị tử hình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Người nào bắt cóc một người, bất kể người bị bắt cóc đã bị bán hay còn bị giam giữ, kẻ bắt cóc sẽ bị xử tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Người nào nguyền rủa cha hay mẹ của mình, người đó sẽ bị xử tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Khi hai người cãi nhau, nếu một người đánh người kia bằng cục đá hay bằng nắm tay, khiến người kia dù không thiệt mạng nhưng phải nằm liệt giường, 19. rồi sau đó có thể đứng dậy, và chống gậy đi ra ngoài, thì kẻ đánh người sẽ được tha, và người đó chỉ phải đền bù thiệt hại về thời gian và chăm sóc cho đến khi hoàn toàn bình phục.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Khi một người đánh một nô lệ nam hay nữ của mình bằng gậy, khiến người đó bị chết dưới tay của mình, người chủ phải bị trừng phạt.  21. Nhưng nếu người nô lệ còn sống một hai ngày thì người chủ không bị trừng phạt, bởi vì người nô lệ đó vốn là tài sản của chủ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Nếu người ta đánh nhau, rồi đánh trúng một phụ nữ có thai khiến cho con của nàng phải ra ngoài, nhưng sau đó không bị nguy hại gì, thì người có lỗi phải bồi thường theo yêu cầu từ chồng của người phụ nữ, và phải đền bù thông qua thẩm phán. 23. Tuy nhiên nếu có thương tích xảy ra thì mạng đền mạng, 24. mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, 25. phỏng đền phỏng, thương tích đền thương tích, bầm giập đền bầm giập.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Nếu một người đánh vào mắt của người nô lệ nam hay mắt của người nô lệ nữ của mình, làm cho nó bị hư hỏng, thì vì con mắt người chủ phải cho người nô lệ được tự do. 27. Nếu một người đánh gãy răng người nô lệ nam hay người nô lệ nữ của mình, thì vì cái răng người chủ phải cho người nô lệ được tự do.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Khi có một con bò húc chết một người đàn ông hay một người đàn bà thì con bò phải bị ném đá chết; người ta không được ăn thịt nó; và người chủ của con bò sẽ không phải chịu trách nhiệm. 29. Tuy nhiên nếu con bò đã có tật hay húc người trong quá khứ, và chủ bò đã biết nhưng vẫn không canh giữ, để nó húc chết một người đàn ông hay một người đàn bà thì con bò phải bị ném đá, và chủ bò sẽ bị tử hình. 30. Tuy nhiên, nếu có giá chuộc mạng được ấn định cho người đó thì người đó phải trả theo giá đã ấn định để chuộc lại mạng sống của mình. 31. Nếu con bò húc phải một người con trai hay con gái thì chủ bò cũng sẽ bị xử theo luật nầy. 32. Nếu bò húc chết một nam nô lệ hay một nữ nô lệ, chủ bò phải trả cho chủ của người nô lệ ba mươi siếc-lơ bạc, và con bò phải bị ném đá chết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. Nếu có người mở một cái hầm hay đào một cái hầm mà không đậy nó lại, để rồi có một bò hay một con lừa té xuống đó, 34. thì người chủ của cái hầm phải đền bù thiệt hại tương đương với giá của con vật cho chủ của con vật bị chết, nhưng con vật chết sẽ thuộc về người bồi thường. 35. Nếu bò của người nầy húc chết bò của người kia thì họ sẽ bán con bò còn sống rồi chia đôi số tiền, và họ cũng phân chia con vật bị chết. 36. Nhưng nếu trong quá khứ việc con bò có tật húc nhau đã được biết mà người chủ không canh giữ, thì người chủ đó phải lấy bò bồi thường cho bò, và con bò bị chết sẽ thuộc về người đó.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Đây là luật lệ ngươi phải truyền cho dân sự: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2.  Nếu ngươi mua một người đầy tớ Hê-bơ-rơ, nó sẽ hầu việc cho sáu năm; nhưng qua năm thứ bảy nó sẽ được thả ra, không phải thối tiền. 3.  Nếu nó vào ở một mình, thì sẽ ra một mình; nếu có vợ, thì sẽ ra với vợ. 4.  Nếu người chủ cưới vợ cho, và nếu vợ sanh được con trai hay gái, thì nó sẽ ra một mình, vợ và con thuộc về chủ. 5.  Nếu kẻ tôi mọi nói rằng: Tôi thương chủ, vợ và con tôi, không muốn ra được tự do, 6.  thì người chủ sẽ dẫn nó đến trước mặt Đức Chúa Trời, biểu lại gần cửa hay là cột, rồi lấy mũi dùi xỏ tai; nó sẽ hầu việc người chủ đó trọn đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Nếu ai bán con gái mình làm con đòi, con gái đó không được ra như các đầy tớ kia. 8.  Nếu chủ trước đã ưng lấy con đòi làm hầu, rồi sau lại chẳng muốn, thì chủ phải biểu chuộc nàng lại, chớ không có phép gạt, rồi đem bán nàng cho kẻ ngoại bang. 9.  Nhưng nếu chủ định để cho con trai mình, thì phải xử với nàng theo phép như con gái mình vậy. 10.  Nếu chủ có lấy người khác, thì đối với người thứ nhất chẳng được phép giảm đồ ăn, đồ mặc, và tình nghĩa vợ chồng chút nào. 11.  Nếu người chủ không làm theo ba điều nầy, nàng được phép ra không, chẳng phải thối tiền lại. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Kẻ nào đánh chết một người, sẽ bị xử tử. 13.  Nhược bằng kẻ đó chẳng phải mưu giết, nhưng vì Đức Chúa Trời đã phú người bị giết vào tay kẻ đó, thì ta sẽ lập cho ngươi một chỗ đặng kẻ giết người ẩn thân. 14.  Còn nhược bằng kẻ nào dấy lên cùng người lân cận mà lập mưu giết người, thì dẫu rằng nó núp nơi bàn thờ ta, ngươi cũng bắt mà giết đi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15.  Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16.  Kẻ nào bắt người và bán, hoặc giữ lại trong tay mình, sẽ bị xử tử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Kẻ nào mắng cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Khi hai người đánh lộn nhau, người nầy đánh người kia bằng đá hay là đấm cú, không đến đỗi phải chết, nhưng phải nằm liệt giường, 19.  nếu đứng dậy chống gậy đi ra ngoài được, người đánh đó sẽ được tha tội. Nhưng chỉ phải đền tiền thiệt hại trong mấy ngày nghỉ và nuôi cho đến khi lành mạnh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20.  Khi người chủ lấy gậy đánh đầy tớ trai hay gái mình và chết liền theo tay, thì chắc phải bị phạt. 21.  Song nếu đầy tớ trai hay gái còn sống một hai ngày, người chủ khỏi tội, vì nó vốn là tài sản của chủ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  Nếu người ta đánh nhau, đụng nhằm một người đàn bà có thai, làm cho phải sảo, nhưng chẳng bị sự hại chi khác, thì kẻ đánh nhằm đó phải bồi thường theo lời chồng người sẽ định, và trả tiền trước mặt quan án. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23.  Còn nếu có sự hại chi, thì ngươi sẽ lấy mạng thường mạng, 24.  lấy mắt thường mắt, lấy răng thường răng, lấy tay thường tay, lấy chân thường chân, 25.  lấy phỏng thường phỏng, lấy bầm thường bầm, lấy thương thường thương. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Nếu ai đánh nhằm con mắt đầy tớ trai hay gái mình, làm cho mất đi, thì hãy tha nó ra tự do, vì cớ mất con mắt. 27.  Nếu ai làm rụng một răng của đầy tớ trai hay gái mình, thì hãy tha nó ra tự do, vì cớ mất một răng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28.  Ví có một con bò báng nhằm một người đàn ông hay đàn bà phải chết đi, con bò sẽ bị ném đá chết, người ta không nên ăn thịt nó; còn người chủ bò sẽ được vô tội. 29.  Nhưng ngộ từ trước con bò có tật hay báng và chủ đã bị mắng vốn mà không cầm giữ, nếu bò nầy còn giết một người đàn ông hay đàn bà, thì nó sẽ bị ném đá, và chủ sẽ bị xử tử nữa. 30.  Nhược bằng người ta định giá cho chủ bò chuộc mạng, chủ phải chuộc mạng mình y như giá đã định. 31.  Nếu bò báng nhằm một đứa con trai hay là con gái, người ta cũng sẽ chiếu theo luật nầy. 32.  Con bò báng nhằm một đứa đầy tớ trai hay gái, chủ bò phải trả ba chục siếc lơ bạc cho chủ nó; rồi bò sẽ bị ném đá chết. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33.  Nếu ai mở miệng hầm hay là đào hầm mà chẳng đậy lại, và nếu có bò hay là lừa té xuống đó, 34.  chủ hầm sẽ bồi thường giá tiền cho chủ của súc vật, nhưng súc vật bị giết đó sẽ về phần mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35.  Bằng bò của ai báng nhằm bò của kẻ lân cận mình phải chết đi, hai người hãy bán bò sống đó, chia tiền và chia luôn con bò chết nữa. 36.  Nếu người chủ đã tỏ tường trước rằng bò mình có tật hay báng, mà không lo cầm giữ, chủ phải lấy bò thường bò, nhưng bò chết sẽ về phần người. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B02\V02B02C021.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Luật về Nô Lệ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(Phục 15:12-18)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là các luật lệ ngươi sẽ đặt trước mặt dân:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Khi ngươi mua một người Hê-bơ-rơ làm nô lệ, người ấy sẽ phục vụ ngươi sáu năm, nhưng năm thứ bảy người ấy sẽ được tự do ra đi mà không phải trả tiền chuộc.  3 Nếu lúc đến làm nô lệ mà người ấy độc thân, khi ra đi người ấy sẽ ra đi độc thân; nhưng nếu lúc đến làm nô lệ mà người ấy đã lập gia đình, khi ra đi, vợ người ấy cũng sẽ ra đi với người ấy.  4 Nếu trong thời gian làm nô lệ, chủ cưới vợ cho người ấy, rồi vợ người ấy sinh cho người ấy con trai hoặc con gái, khi ra đi vợ và con người ấy sẽ thuộc về chủ, người ấy chỉ ra đi một mình.  5 Nhưng nếu người ấy nói, ‘Tôi thương chủ tôi, vợ tôi, và các con tôi.  Tôi không muốn ra đi làm người tự do,’ 6 thì chủ người ấy sẽ đem người ấy đến trước mặt các quan tòa.  Người ấy sẽ được dẫn đến bên cổng hoặc khung cửa, rồi chủ người ấy sẽ lấy dùi xỏ lủng tai người ấy, và người ấy sẽ phục vụ chủ suốt đời mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Khi một người bán con gái mình làm tỳ nữ, người con gái ấy sẽ không được tự do ra đi như các nam nô lệ.  8 Nếu nàng không vừa ý chủ là người đã dành nàng cho mình, chủ phải cho nàng được chuộc lại.  Chủ không có quyền bán nàng cho dân ngoại, vì như thế là thất tín với nàng.  9 Nếu chủ muốn dành người con gái đó cho con trai mình, chủ phải đối xử với nàng như con gái mình.  10 Nếu chủ cưới một người phụ nữ khác làm vợ, chủ không được quyền cắt giảm phần lương thực, quần áo, và quyền phối ngẫu của nàng.  11 Nếu chủ không làm ba điều trên cho nàng, nàng có quyền ra đi tự do, không nợ nần, không phải trả tiền gì cả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Luật về Tội Bạo Hành'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Hễ ai đánh chết người, kẻ ấy sẽ bị xử tử.  13 Nếu người ấy không cố ý giết người, nhưng án mạng đã xảy ra do Ðức Chúa Trời cho phép kẻ bị chết phải chết bởi tay người ấy, thì Ta sẽ chỉ định cho ngươi một chỗ để người ấy có thể chạy đến đó ẩn náu.  14 Nhưng nếu ai cố tình toan tính, rồi xông vào giết người lân cận mình, ngươi phải lôi kẻ sát nhân ấy ra khỏi bàn thờ Ta, mà xử tử nó đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Kẻ nào đánh cha hoặc đánh mẹ sẽ bị xử tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Kẻ nào bắt cóc người ta, bất kể người bị bắt cóc đã bị bán hay còn bị nó giam giữ, kẻ bắt cóc ấy sẽ bị xử tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Kẻ nào chưởi cha hoặc mắng mẹ sẽ bị xử tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Khi hai người cãi nhau, nếu một người đánh người kia bằng cục đá hay bằng nắm tay, khiến người kia bị trọng thương, dù không gây cho người kia bị thiệt mạng, nhưng phải nằm liệt giường, 19 rồi sau đó có thể đứng dậy, chống gậy đi lại, và đi ra ngoài được, thì kẻ đánh người sẽ được tha, nhưng phải trả tiền chữa trị và thiệt hại cho người kia trong suốt thời gian dưỡng bịnh cho đến khi hoàn toàn bình phục.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Khi người chủ nô lệ đánh một nam nô lệ hay một nữ nô lệ bằng roi, và người nô lệ chết ngay dưới tay chủ, người chủ phải bị trừng phạt.  21 Nhưng nếu người nô lệ còn sống được một, hai ngày, người chủ khỏi bị trừng phạt, vì chủ đã bỏ tiền ra mua nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Khi người ta ẩu đả nhau, nếu ai gây cho một phụ nữ đang mang thai bị hư thai, nhưng không thiệt hại chi khác, kẻ gây cho nàng bị hư thai phải bồi thường theo số tiền chồng nàng đòi, và theo quyết định của quan tòa.  23 Nhưng nếu có thiệt hại gì khác, ngươi sẽ lấy mạng đền mạng, 24 mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, 25 phỏng đền phỏng, thương tích đền thương tích, bầm đền bầm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Khi người chủ nô lệ đánh nhằm con mắt của một nam nô lệ hay một nữ nô lệ của mình, khiến nó bị mù, người chủ nô lệ đó phải để cho người nô lệ được ra đi tự do, để đền bù cho con mắt của người đó.  27 Nếu người chủ nô lệ đánh gãy răng của một nam nô lệ hay một nữ nô lệ của mình, người nô lệ ấy được ra đi tự do, để đền bù cho cái răng bị gãy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Luật về Tài Sản'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Khi một con bò húc chết một người đàn ông hay đàn bà, con bò ấy phải bị ném đá chết; không ai được ăn thịt nó.  Chủ con bò ấy sẽ được xem là vô can.  29 Nhưng nếu con bò ấy hay có tật húc người, và chủ bò đã được khuyến cáo, nhưng không chịu kiềm chế nó, để nó húc chết một người nam hay nữ, con bò ấy sẽ bị ném đá chết và chủ nó cũng sẽ bị xử tử.  30 Nếu người ta cho chủ bò được đền tiền chuộc mạng, chủ bò phải đền bất cứ giá nào thân nhân của nạn nhân đòi cho mạng sống của nạn nhân.  31 Nếu bò húc chết một đứa bé trai hay một đứa bé gái, chủ bò cũng bị xử theo luật này.  32 Nếu bò húc chết một nam nô lệ hay một nữ nô lệ, chủ bò phải trả cho chủ người nô lệ ba trăm bốn mươi lăm gờ-ram bạc, còn con bò phải bị ném đá chết. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Nếu ai để giếng mình không đậy, hoặc đào giếng mà không đậy miệng giếng lại, rủi bò hay lừa của ai té vào giếng ấy, 34 chủ giếng phải bồi thường tiền cho chủ con vật, nhưng xác con vật sẽ thuộc về chủ giếng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 Nếu bò của người này húc bò của người kia chết, phải bán con bò còn sống mà chia nhau số tiền, và họ cũng sẽ chia nhau con bò chết.  36 Nhưng nếu người ta biết một con bò đã có tật hay húc, mà chủ bò không kiềm chế nó, thì chủ bò phải lấy bò đền bò, và người ấy sẽ được giữ con bò chết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Lê-vi Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 20]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 22]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Xu%E1%BA%A5t_%C3%8A-d%C3%ADp-t%C3%B4_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_21&amp;diff=35796</id>
		<title>Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 21</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Xu%E1%BA%A5t_%C3%8A-d%C3%ADp-t%C3%B4_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_21&amp;diff=35796"/>
		<updated>2026-08-27T16:20:30Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. &amp;quot;Ðây là những luật lệ mà ngươi sẽ thiết lập cho họ:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Nếu có ai mua một người Hê-bơ-rơ làm nô lệ, người đó sẽ phục vụ sáu năm, nhưng đến năm thứ bảy người đó sẽ được tự do ra đi mà không phải trả tiền gì cả. 3. Nếu người đó đến lúc còn độc thân, người đó sẽ ra đi cách độc thân.  Nếu người đó có vợ, người đó sẽ ra đi cùng với vợ của mình. 4. Nếu chủ cưới vợ cho người đó, nàng sinh con trai hoặc con gái cho người đó, thì vợ và các con thuộc về chủ, người đó sẽ ra đi một mình. 5. Nhưng nếu người nô lệ nói: 'Tôi thương chủ của tôi, vợ và các con của tôi; tôi không muốn ra đi tự do,' 6. thì người chủ sẽ đem người đó đến với các thẩm phán. Chủ sẽ dẫn người nô lệ đến một cái cửa hay trụ cửa, rồi dùng dùi xỏ tai người đó, và người đó sẽ làm nô lệ cho chủ vĩnh viễn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Nếu một người bán con gái của mình làm nữ nô lệ, người con gái đó sẽ không được ra đi như những nam nô lệ. 8. Nếu nàng không làm hài lòng theo mắt của chủ, là người đã lấy nàng làm hầu thiếp, thì chủ phải để cho nàng được chuộc ra, chứ không có quyền bán nàng cho người ngoại quốc bởi vì chủ đã đối xử cách bất công với nàng. 9. Còn nếu chủ muốn để dành nàng cho con trai của mình thì phải cư xử với nàng theo phong tục dành cho những người con gái. 10. Nếu chủ cưới một người phụ nữ khác làm vợ, chủ không được quyền cắt giảm phần lương thực, quần áo, và quyền làm vợ của nàng. 11. Nếu người chủ không thực hiện ba điều nầy, nàng được tự do ra đi mà không phải trả tiền.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Người nào đánh chết một người, người đó sẽ bị tử hình. 13. Tuy nhiên, nếu người đó không cố sát nhưng Đức Chúa Trời đã trao kẻ bị giết vào tay của người đó, thì Ta sẽ định cho ngươi một chỗ để người đó chạy đến ẩn náu. 14. Nhưng nếu người nào chủ ý tấn công và cố ý giết người lân cận của mình, thì hãy lôi nó ra khỏi bàn thờ của Ta mà giết đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Người nào đánh cha hay mẹ của mình, người đó sẽ bị tử hình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Người nào bắt cóc một người, bất kể người bị bắt cóc đã bị bán hay còn bị giam giữ, kẻ bắt cóc sẽ bị xử tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Người nào nguyền rủa cha hay mẹ của mình, người đó sẽ bị xử tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Khi hai người cãi nhau, nếu một người đánh người kia bằng cục đá hay bằng nắm tay, khiến người kia dù không thiệt mạng nhưng phải nằm liệt giường, 19. rồi sau đó có thể đứng dậy, và chống gậy đi ra ngoài, thì kẻ đánh người sẽ được tha, và người đó chỉ phải đền bù thiệt hại về thời gian và chăm sóc cho đến khi hoàn toàn bình phục.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Khi một người đánh một nô lệ nam hay nữ của mình bằng gậy, khiến người đó bị chết dưới tay của mình, người chủ phải bị trừng phạt.  21. Nhưng nếu người nô lệ còn sống một hai ngày thì người chủ không bị trừng phạt, bởi vì người nô lệ đó vốn là tài sản của chủ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Nếu người ta đánh nhau, rồi đánh trúng một phụ nữ có thai khiến cho con của nàng ra ngoài, nhưng sau đó không bị nguy hại gì, thì người có lỗi phải bồi thường theo mức mà người chồng của phụ nữ ấy đòi hỏi và được thẩm phán chấp thuận. 23. Nhưng nếu có thương tích xảy ra thì mạng đền mạng, 24. mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, 25. phỏng đền phỏng, thương tích đền thương tích, bầm giập đền bầm giập.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Nếu một người đánh vào mắt của người nô lệ nam hay mắt của người nô lệ nữ của mình, làm cho nó bị hư hỏng, thì vì con mắt người chủ phải cho người nô lệ được tự do. 27. Nếu một người đánh gãy răng người nô lệ nam hay người nô lệ nữ của mình, thì vì cái răng người chủ phải cho người nô lệ được tự do.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Khi có một con bò húc chết một người đàn ông hay một người đàn bà thì con bò phải bị ném đá chết; người ta không được ăn thịt nó; và người chủ của con bò sẽ không phải chịu trách nhiệm. 29. Tuy nhiên nếu con bò đã có tật hay húc người trong quá khứ, và chủ bò đã biết nhưng vẫn không canh giữ, để nó húc chết một người đàn ông hay một người đàn bà thì con bò phải bị ném đá, và chủ bò sẽ bị tử hình. 30. Tuy nhiên, nếu có giá chuộc mạng được ấn định cho người đó thì người đó phải trả theo giá đã ấn định để chuộc lại mạng sống của mình. 31. Nếu con bò húc phải một người con trai hay con gái thì chủ bò cũng sẽ bị xử theo luật nầy. 32. Nếu bò húc chết một nam nô lệ hay một nữ nô lệ, chủ bò phải trả cho chủ của người nô lệ ba mươi siếc-lơ bạc, và con bò phải bị ném đá chết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. Nếu có người mở một cái hầm hay đào một cái hầm mà không đậy nó lại, để rồi có một bò hay một con lừa té xuống đó, 34. thì người chủ của cái hầm phải đền bù thiệt hại tương đương với giá của con vật cho chủ của con vật bị chết, nhưng con vật chết sẽ thuộc về người bồi thường. 35. Nếu bò của người nầy húc chết bò của người kia thì họ sẽ bán con bò còn sống rồi chia đôi số tiền, và họ cũng phân chia con vật bị chết. 36. Nhưng nếu trong quá khứ việc con bò có tật húc nhau đã được biết mà người chủ không canh giữ, thì người chủ đó phải lấy bò bồi thường cho bò, và con bò bị chết sẽ thuộc về người đó.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Đây là luật lệ ngươi phải truyền cho dân sự: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2.  Nếu ngươi mua một người đầy tớ Hê-bơ-rơ, nó sẽ hầu việc cho sáu năm; nhưng qua năm thứ bảy nó sẽ được thả ra, không phải thối tiền. 3.  Nếu nó vào ở một mình, thì sẽ ra một mình; nếu có vợ, thì sẽ ra với vợ. 4.  Nếu người chủ cưới vợ cho, và nếu vợ sanh được con trai hay gái, thì nó sẽ ra một mình, vợ và con thuộc về chủ. 5.  Nếu kẻ tôi mọi nói rằng: Tôi thương chủ, vợ và con tôi, không muốn ra được tự do, 6.  thì người chủ sẽ dẫn nó đến trước mặt Đức Chúa Trời, biểu lại gần cửa hay là cột, rồi lấy mũi dùi xỏ tai; nó sẽ hầu việc người chủ đó trọn đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Nếu ai bán con gái mình làm con đòi, con gái đó không được ra như các đầy tớ kia. 8.  Nếu chủ trước đã ưng lấy con đòi làm hầu, rồi sau lại chẳng muốn, thì chủ phải biểu chuộc nàng lại, chớ không có phép gạt, rồi đem bán nàng cho kẻ ngoại bang. 9.  Nhưng nếu chủ định để cho con trai mình, thì phải xử với nàng theo phép như con gái mình vậy. 10.  Nếu chủ có lấy người khác, thì đối với người thứ nhất chẳng được phép giảm đồ ăn, đồ mặc, và tình nghĩa vợ chồng chút nào. 11.  Nếu người chủ không làm theo ba điều nầy, nàng được phép ra không, chẳng phải thối tiền lại. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Kẻ nào đánh chết một người, sẽ bị xử tử. 13.  Nhược bằng kẻ đó chẳng phải mưu giết, nhưng vì Đức Chúa Trời đã phú người bị giết vào tay kẻ đó, thì ta sẽ lập cho ngươi một chỗ đặng kẻ giết người ẩn thân. 14.  Còn nhược bằng kẻ nào dấy lên cùng người lân cận mà lập mưu giết người, thì dẫu rằng nó núp nơi bàn thờ ta, ngươi cũng bắt mà giết đi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15.  Kẻ nào đánh cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16.  Kẻ nào bắt người và bán, hoặc giữ lại trong tay mình, sẽ bị xử tử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Kẻ nào mắng cha hay mẹ mình, sẽ bị xử tử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Khi hai người đánh lộn nhau, người nầy đánh người kia bằng đá hay là đấm cú, không đến đỗi phải chết, nhưng phải nằm liệt giường, 19.  nếu đứng dậy chống gậy đi ra ngoài được, người đánh đó sẽ được tha tội. Nhưng chỉ phải đền tiền thiệt hại trong mấy ngày nghỉ và nuôi cho đến khi lành mạnh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20.  Khi người chủ lấy gậy đánh đầy tớ trai hay gái mình và chết liền theo tay, thì chắc phải bị phạt. 21.  Song nếu đầy tớ trai hay gái còn sống một hai ngày, người chủ khỏi tội, vì nó vốn là tài sản của chủ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  Nếu người ta đánh nhau, đụng nhằm một người đàn bà có thai, làm cho phải sảo, nhưng chẳng bị sự hại chi khác, thì kẻ đánh nhằm đó phải bồi thường theo lời chồng người sẽ định, và trả tiền trước mặt quan án. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23.  Còn nếu có sự hại chi, thì ngươi sẽ lấy mạng thường mạng, 24.  lấy mắt thường mắt, lấy răng thường răng, lấy tay thường tay, lấy chân thường chân, 25.  lấy phỏng thường phỏng, lấy bầm thường bầm, lấy thương thường thương. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Nếu ai đánh nhằm con mắt đầy tớ trai hay gái mình, làm cho mất đi, thì hãy tha nó ra tự do, vì cớ mất con mắt. 27.  Nếu ai làm rụng một răng của đầy tớ trai hay gái mình, thì hãy tha nó ra tự do, vì cớ mất một răng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28.  Ví có một con bò báng nhằm một người đàn ông hay đàn bà phải chết đi, con bò sẽ bị ném đá chết, người ta không nên ăn thịt nó; còn người chủ bò sẽ được vô tội. 29.  Nhưng ngộ từ trước con bò có tật hay báng và chủ đã bị mắng vốn mà không cầm giữ, nếu bò nầy còn giết một người đàn ông hay đàn bà, thì nó sẽ bị ném đá, và chủ sẽ bị xử tử nữa. 30.  Nhược bằng người ta định giá cho chủ bò chuộc mạng, chủ phải chuộc mạng mình y như giá đã định. 31.  Nếu bò báng nhằm một đứa con trai hay là con gái, người ta cũng sẽ chiếu theo luật nầy. 32.  Con bò báng nhằm một đứa đầy tớ trai hay gái, chủ bò phải trả ba chục siếc lơ bạc cho chủ nó; rồi bò sẽ bị ném đá chết. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33.  Nếu ai mở miệng hầm hay là đào hầm mà chẳng đậy lại, và nếu có bò hay là lừa té xuống đó, 34.  chủ hầm sẽ bồi thường giá tiền cho chủ của súc vật, nhưng súc vật bị giết đó sẽ về phần mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35.  Bằng bò của ai báng nhằm bò của kẻ lân cận mình phải chết đi, hai người hãy bán bò sống đó, chia tiền và chia luôn con bò chết nữa. 36.  Nếu người chủ đã tỏ tường trước rằng bò mình có tật hay báng, mà không lo cầm giữ, chủ phải lấy bò thường bò, nhưng bò chết sẽ về phần người. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B02\V02B02C021.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Luật về Nô Lệ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(Phục 15:12-18)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là các luật lệ ngươi sẽ đặt trước mặt dân:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Khi ngươi mua một người Hê-bơ-rơ làm nô lệ, người ấy sẽ phục vụ ngươi sáu năm, nhưng năm thứ bảy người ấy sẽ được tự do ra đi mà không phải trả tiền chuộc.  3 Nếu lúc đến làm nô lệ mà người ấy độc thân, khi ra đi người ấy sẽ ra đi độc thân; nhưng nếu lúc đến làm nô lệ mà người ấy đã lập gia đình, khi ra đi, vợ người ấy cũng sẽ ra đi với người ấy.  4 Nếu trong thời gian làm nô lệ, chủ cưới vợ cho người ấy, rồi vợ người ấy sinh cho người ấy con trai hoặc con gái, khi ra đi vợ và con người ấy sẽ thuộc về chủ, người ấy chỉ ra đi một mình.  5 Nhưng nếu người ấy nói, ‘Tôi thương chủ tôi, vợ tôi, và các con tôi.  Tôi không muốn ra đi làm người tự do,’ 6 thì chủ người ấy sẽ đem người ấy đến trước mặt các quan tòa.  Người ấy sẽ được dẫn đến bên cổng hoặc khung cửa, rồi chủ người ấy sẽ lấy dùi xỏ lủng tai người ấy, và người ấy sẽ phục vụ chủ suốt đời mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Khi một người bán con gái mình làm tỳ nữ, người con gái ấy sẽ không được tự do ra đi như các nam nô lệ.  8 Nếu nàng không vừa ý chủ là người đã dành nàng cho mình, chủ phải cho nàng được chuộc lại.  Chủ không có quyền bán nàng cho dân ngoại, vì như thế là thất tín với nàng.  9 Nếu chủ muốn dành người con gái đó cho con trai mình, chủ phải đối xử với nàng như con gái mình.  10 Nếu chủ cưới một người phụ nữ khác làm vợ, chủ không được quyền cắt giảm phần lương thực, quần áo, và quyền phối ngẫu của nàng.  11 Nếu chủ không làm ba điều trên cho nàng, nàng có quyền ra đi tự do, không nợ nần, không phải trả tiền gì cả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Luật về Tội Bạo Hành'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Hễ ai đánh chết người, kẻ ấy sẽ bị xử tử.  13 Nếu người ấy không cố ý giết người, nhưng án mạng đã xảy ra do Ðức Chúa Trời cho phép kẻ bị chết phải chết bởi tay người ấy, thì Ta sẽ chỉ định cho ngươi một chỗ để người ấy có thể chạy đến đó ẩn náu.  14 Nhưng nếu ai cố tình toan tính, rồi xông vào giết người lân cận mình, ngươi phải lôi kẻ sát nhân ấy ra khỏi bàn thờ Ta, mà xử tử nó đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Kẻ nào đánh cha hoặc đánh mẹ sẽ bị xử tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Kẻ nào bắt cóc người ta, bất kể người bị bắt cóc đã bị bán hay còn bị nó giam giữ, kẻ bắt cóc ấy sẽ bị xử tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Kẻ nào chưởi cha hoặc mắng mẹ sẽ bị xử tử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Khi hai người cãi nhau, nếu một người đánh người kia bằng cục đá hay bằng nắm tay, khiến người kia bị trọng thương, dù không gây cho người kia bị thiệt mạng, nhưng phải nằm liệt giường, 19 rồi sau đó có thể đứng dậy, chống gậy đi lại, và đi ra ngoài được, thì kẻ đánh người sẽ được tha, nhưng phải trả tiền chữa trị và thiệt hại cho người kia trong suốt thời gian dưỡng bịnh cho đến khi hoàn toàn bình phục.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Khi người chủ nô lệ đánh một nam nô lệ hay một nữ nô lệ bằng roi, và người nô lệ chết ngay dưới tay chủ, người chủ phải bị trừng phạt.  21 Nhưng nếu người nô lệ còn sống được một, hai ngày, người chủ khỏi bị trừng phạt, vì chủ đã bỏ tiền ra mua nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Khi người ta ẩu đả nhau, nếu ai gây cho một phụ nữ đang mang thai bị hư thai, nhưng không thiệt hại chi khác, kẻ gây cho nàng bị hư thai phải bồi thường theo số tiền chồng nàng đòi, và theo quyết định của quan tòa.  23 Nhưng nếu có thiệt hại gì khác, ngươi sẽ lấy mạng đền mạng, 24 mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay, chân đền chân, 25 phỏng đền phỏng, thương tích đền thương tích, bầm đền bầm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Khi người chủ nô lệ đánh nhằm con mắt của một nam nô lệ hay một nữ nô lệ của mình, khiến nó bị mù, người chủ nô lệ đó phải để cho người nô lệ được ra đi tự do, để đền bù cho con mắt của người đó.  27 Nếu người chủ nô lệ đánh gãy răng của một nam nô lệ hay một nữ nô lệ của mình, người nô lệ ấy được ra đi tự do, để đền bù cho cái răng bị gãy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Luật về Tài Sản'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Khi một con bò húc chết một người đàn ông hay đàn bà, con bò ấy phải bị ném đá chết; không ai được ăn thịt nó.  Chủ con bò ấy sẽ được xem là vô can.  29 Nhưng nếu con bò ấy hay có tật húc người, và chủ bò đã được khuyến cáo, nhưng không chịu kiềm chế nó, để nó húc chết một người nam hay nữ, con bò ấy sẽ bị ném đá chết và chủ nó cũng sẽ bị xử tử.  30 Nếu người ta cho chủ bò được đền tiền chuộc mạng, chủ bò phải đền bất cứ giá nào thân nhân của nạn nhân đòi cho mạng sống của nạn nhân.  31 Nếu bò húc chết một đứa bé trai hay một đứa bé gái, chủ bò cũng bị xử theo luật này.  32 Nếu bò húc chết một nam nô lệ hay một nữ nô lệ, chủ bò phải trả cho chủ người nô lệ ba trăm bốn mươi lăm gờ-ram bạc, còn con bò phải bị ném đá chết. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Nếu ai để giếng mình không đậy, hoặc đào giếng mà không đậy miệng giếng lại, rủi bò hay lừa của ai té vào giếng ấy, 34 chủ giếng phải bồi thường tiền cho chủ con vật, nhưng xác con vật sẽ thuộc về chủ giếng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 Nếu bò của người này húc bò của người kia chết, phải bán con bò còn sống mà chia nhau số tiền, và họ cũng sẽ chia nhau con bò chết.  36 Nhưng nếu người ta biết một con bò đã có tật hay húc, mà chủ bò không kiềm chế nó, thì chủ bò phải lấy bò đền bò, và người ấy sẽ được giữ con bò chết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Lê-vi Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 20]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 22]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Thi_Thi%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_51&amp;diff=35795</id>
		<title>Thi Thiên: Chương 51</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Thi_Thi%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_51&amp;diff=35795"/>
		<updated>2026-08-27T16:06:11Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cho Trưởng Ban Nhạc - Thơ của Ða-vít - Viết lúc Tiên Tri Na-than đến gặp ông, sau khi ông đã đến cùng Bát-sê-ba'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Đức Chúa Trời ôi! Xin thương xót con tùy theo tình thương của Ngài. Xin xóa những vi phạm của con tùy theo sự nhân từ của Ngài. 2. Xin rửa con thật sạch khỏi sự gian ác của con, và thanh tẩy con khỏi tội lỗi của con. 3. Bởi vì con nhận biết các vi phạm của con; tội lỗi của con luôn ở trước mặt con. 4. Con đã phạm tội cùng Ngài, chỉ với một mình Ngài. Con đã làm điều ác trước mặt Ngài; vì vậy Ngài công chính khi phán quyết, và chính đáng khi xét xử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Hãy xem, con đã được sinh ra trong sự gian ác; mẹ con đã hoài thai con trong tội lỗi.  6. Hãy xem, Ngài muốn sự chân thật từ bên trong; Ngài đã làm cho con thấu hiểu sự khôn ngoan tại trong nơi sâu thẳm. 7. Xin dùng nhánh bài hương thanh tẩy con, để con được tinh sạch; xin hãy tẩy rửa con, để con trở nên trắng hơn tuyết. 8. Xin cho con nghe được tiếng hớn hở và reo mừng. Xin cho những xương cốt mà Ngài đã bẻ gãy được hoan lạc. 9. Xin Ngài hãy ngoảnh mặt khỏi những tội lỗi của con, và bôi xóa tất cả những gian ác của con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Đức Chúa Trời ôi! Xin dựng nên trong con một tấm lòng trong sạch, và làm mới lại trong con một tâm linh ngay thẳng. 11. Xin đừng đuổi con xa khỏi mặt Ngài; xin đừng cất Thánh Linh của Ngài khỏi con. 12. Xin phục hồi cho con niềm vui về sự cứu rỗi của Ngài, và lấy tinh thần khoan dung mà nâng đỡ con. 13. Ðể con sẽ dạy cho những người vi phạm biết đường lối của Ngài, và tội nhân sẽ trở về cùng Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Đức Chúa Trời ôi! Xin giải cứu con khỏi tội làm đổ huyết. Đức Chúa Trời cứu rỗi của con! Lưỡi con sẽ ca ngợi sự công chính của Ngài. 15. Chúa ôi! Xin mở các môi của con thì miệng của con sẽ truyền ra sự tôn ngợi Ngài. 16. Bởi vì Ngài không vui thích sinh tế, nếu không con đã dâng. Ngài cũng không thích tế lễ thiêu. 17. Sinh tế đẹp lòng Đức Chúa Trời đó là một tâm linh tan vỡ. Đức Chúa Trời ôi! Ngài không xem thường một tấm lòng ăn năn tan vỡ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Bởi ân huệ tốt đẹp của Ngài, nguyện Ngài làm điều tốt cho Si-ôn. Nguyện các bức tường của Giê-ru-sa-lem được xây dựng. 19. Và rồi Ngài sẽ vui lòng về các tế lễ công chính, tức là tế lễ thiêu và tế lễ toàn thiêu. Và rồi những bò đực sẽ được dâng trên bàn thờ của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Đức Chúa Trời ôi! xin hãy thương xót tôi tùy lòng nhân từ của Chúa; Xin hãy xóa các sự vi phạm tôi theo sự từ bi rất lớn của Chúa.&amp;lt;br/&amp;gt;2.  Xin hãy rửa tôi cho sạch hết trọi gian ác, Và làm tôi được thanh khiết về tội lỗi tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;3.  Vì tôi nhận biết các sự vi phạm tôi, Tội lỗi tôi hằng ở trước mặt tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;4.  Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi, Và làm điều ác trước mặt Chúa; Hầu cho Chúa được xưng công bình khi Chúa phán, Và được thanh sạch khi Chúa xét đoán.&amp;lt;br/&amp;gt;5.  Kìa, tôi sanh ra trong sự gian ác, Mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi.&amp;lt;br/&amp;gt;6.  Nầy, Chúa muốn sự chân thật nơi bề trong; Chúa sẽ làm cho tôi được biết sự khôn ngoan trong nơi bí mật của lòng tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;7.  Xin hãy lấy chùm kinh giới tẩy sạch tội lỗi tôi, thì tôi sẽ được tinh sạch; Cầu Chúa hãy rửa tôi, thì tôi sẽ nên trắng hơn tuyết,&amp;lt;br/&amp;gt;8.  Hãy cho tôi nghe sự vui vẻ mừng rỡ, Để các xương cốt mà Chúa đã bẻ gãy được khoái lạc.&amp;lt;br/&amp;gt;9.  Xin Chúa ngảnh mặt khỏi các tội lỗi tôi, Và xóa hết thảy sự gian ác tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;10.  Đức Chúa Trời ôi! xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, Và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng.&amp;lt;br/&amp;gt;11.  Xin chớ từ bỏ tôi khỏi trước mặt Chúa, Cũng đừng cất khỏi tôi Thánh Linh Chúa.&amp;lt;br/&amp;gt;12.  Xin hãy ban lại cho tôi sự vui vẻ về sự cứu rỗi của Chúa, Dùng thần linh sẵn lòng mà nâng đỡ tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;13.  Bấy giờ tôi sẽ dạy đường lối Chúa cho kẻ vi phạm, Và kẻ có tội sẽ trở về cùng Chúa.&amp;lt;br/&amp;gt;14.  Hỡi Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi tôi, Xin giải tôi khỏi tội làm đổ huyết, Thì lưỡi tôi sẽ hát ngợi khen sự công bình của Chúa.&amp;lt;br/&amp;gt;15.  Chúa ơn, xin mở môi tôi, Rồi miệng tôi sẽ truyền ra sự ngợi khen Chúa.&amp;lt;br/&amp;gt;16.  Vì Chúa không ưa thích của lễ, bằng vậy, tôi chắc đã dâng; Của lễ thiêu cũng không đẹp lòng Chúa:&amp;lt;br/&amp;gt;17.  Của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là tâm thần đau thương: Đức Chúa Trời ôi! lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu.&amp;lt;br/&amp;gt;18.  Cầu xin Chúa hãy làm lành cho Si-ôn tùy ý tốt Ngài; Hãy xây cất các vách tường của Giê-ru-sa-lem.&amp;lt;br/&amp;gt;19.  Bấy giờ Chúa sẽ ưa thích các của lễ công bình, Của lễ thiêu, và các con sinh dâng trọn; Bấy giờ người ta sẽ dâng bò đực trên bàn thờ của Chúa.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B19\V02B19C051.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cầu Xin CHÚA Tha Thứ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Cầu Nguyện của Người Thật Lòng Ăn Năn Sám Hối'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thơ của Ða-vít'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cho Trưởng Ban Nhạc'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cảm tác khi Tiên Tri Na-than đến gặp ông,'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''sau khi ông đã phạm tội với bà Bát-sê-ba'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðức Chúa Trời ôi, xin thương xót con theo tình thương của Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin xóa bỏ các vi phạm con theo lòng thương xót lớn lao của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Xin rửa sạch con khỏi mọi gian ác của con;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin tẩy sạch con khỏi mọi tội lỗi của con,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Vì con nhận biết các vi phạm con;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tội lỗi con hằng ở trước mặt con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Con đã phạm tội đối với Ngài và chỉ đối với Ngài mà thôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Con đã làm điều ác trước mặt Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì thế Ngài thật đúng khi Ngài phán xét;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi Ngài tuyên án, con không thể trách Ngài được.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Kìa, vừa mới sinh ra, con đã là người có tội;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Con đã là tội nhân từ lúc con được thụ thai trong lòng mẹ con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Kìa, Ngài muốn sự thật trong đáy lòng con;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn, Ngài dạy con biết lẽ khôn ngoan.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Xin dùng nhánh bài hương tẩy rửa con, để con được sạch;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin thanh tẩy con, để con trở nên trắng hơn tuyết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Xin cho con được hưởng niềm vui và niềm hoan hỉ của người được tha thứ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể các xương con đã bị Ngài bẻ gãy được vui mừng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Xin che mặt Ngài để khỏi nhìn thấy các tội lỗi con,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin xóa sạch mọi gian ác của con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Ðức Chúa Trời ôi, xin dựng nên trong con một lòng trong sạch,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và làm mới lại trong con một tâm linh ngay thẳng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Xin đừng quăng con ra khỏi thánh nhan Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin đừng cất Ðức Thánh Linh của Ngài khỏi con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Xin khôi phục cho con niềm vui của ơn cứu rỗi Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và xin giữ con luôn có tinh thần đầu phục,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Ðể con sẽ chỉ cho những ai vi phạm biết đường lối Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi những kẻ tội lỗi sẽ quay về với Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ðức Chúa Trời ôi, xin giải cứu con khỏi tội làm đổ máu,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lạy Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của con,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể lưỡi con sẽ vui mừng ca ngợi ơn cứu rỗi của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 CHÚA ôi, xin mở môi con,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể miệng con truyền ra những lời ca tụng Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Vì Ngài không vui thích của tế lễ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi nếu Ngài thích, con đã dâng rồi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dù con dâng của lễ thiêu, Ngài cũng chẳng vui lòng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Của lễ đẹp lòng Ðức Chúa Trời là một tâm linh tan vỡ;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðức Chúa Trời ôi, một tấm lòng tan vỡ và thống hối Ngài sẽ chẳng khinh thường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Cầu xin Ngài làm điều tốt cho Si-ôn theo ý tốt của Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cầu xin Ngài dựng lại các tường thành của Giê-ru-sa-lem.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Bấy giờ Ngài sẽ vui lòng về các của lễ dâng lên để được xưng công chính,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tức các của lễ thiêu và các của lễ toàn thiêu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi các bò đực tơ sẽ được hiến dâng trên bàn thờ Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Thi Thiên]]&lt;br /&gt;
:* [[Thi Thiên: Chương 50]]&lt;br /&gt;
:* [[Thi Thiên: Chương 52]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Thi_Thi%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_51&amp;diff=35794</id>
		<title>Thi Thiên: Chương 51</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Thi_Thi%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_51&amp;diff=35794"/>
		<updated>2026-08-27T15:58:54Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cho Trưởng Ban Nhạc - Thơ của Ða-vít - Viết lúc Tiên Tri Na-than đến gặp ông, sau khi ông đã đến cùng Bát-sê-ba'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Đức Chúa Trời ôi! Xin thương xót con tùy theo tình thương của Ngài. Xin xóa những vi phạm của con tùy theo sự nhân từ của Ngài. 2. Xin rửa con thật sạch khỏi sự gian ác của con, và thanh tẩy con khỏi tội lỗi của con. 3. Bởi vì con nhận biết các vi phạm của con; tội lỗi của con luôn ở trước mặt con. 4. Con đã phạm tội cùng Ngài, chỉ với một mình Ngài. Con đã làm điều ác trước mặt Ngài; vì vậy Ngài công chính khi phán quyết, và chính đáng khi xét xử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Hãy xem, con đã được sinh ra trong sự gian ác; mẹ con đã hoài thai con trong tội lỗi.  6. Hãy xem, Ngài muốn sự chân thật từ bên trong; Ngài đã làm cho con thấu hiểu sự khôn ngoan tại trong nơi sâu thẳm. 7. Xin dùng nhánh bài hương để thanh tẩy con, để con được sạch; xin hãy tẩy rửa con, để con trở nên trắng hơn tuyết. 8. Xin cho con nghe được tiếng hớn hở và reo mừng. Xin cho những xương cốt mà Ngài đã bẻ gãy được hoan lạc. 9. Xin Ngài hãy ngoảnh mặt khỏi những tội lỗi của con, và bôi xóa tất cả những gian ác của con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Đức Chúa Trời ôi! Xin dựng nên trong con một tấm lòng trong sạch, và làm mới lại trong con một tâm linh ngay thẳng. 11. Xin đừng đuổi con xa khỏi mặt Ngài; xin đừng cất Thánh Linh của Ngài khỏi con. 12. Xin phục hồi cho con niềm vui về sự cứu rỗi của Ngài, và lấy tinh thần khoan dung mà nâng đỡ con. 13. Ðể con sẽ dạy cho những người vi phạm biết đường lối của Ngài, và tội nhân sẽ trở về cùng Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Đức Chúa Trời ôi! Xin giải cứu con khỏi tội làm đổ huyết. Đức Chúa Trời cứu rỗi của con! Lưỡi con sẽ ca ngợi sự công chính của Ngài. 15. Chúa ôi! Xin mở các môi của con thì miệng của con sẽ truyền ra sự tôn ngợi Ngài. 16. Bởi vì Ngài không vui thích sinh tế, nếu không con đã dâng. Ngài cũng không thích tế lễ thiêu. 17. Sinh tế đẹp lòng Đức Chúa Trời đó là một tâm linh tan vỡ. Đức Chúa Trời ôi! Ngài không xem thường một tấm lòng ăn năn tan vỡ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Bởi ân huệ tốt đẹp của Ngài, nguyện Ngài làm điều tốt cho Si-ôn. Nguyện các bức tường của Giê-ru-sa-lem được xây dựng. 19. Và rồi Ngài sẽ vui lòng về các tế lễ công chính, tức là tế lễ thiêu và tế lễ toàn thiêu. Và rồi những bò đực sẽ được dâng trên bàn thờ của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Đức Chúa Trời ôi! xin hãy thương xót tôi tùy lòng nhân từ của Chúa; Xin hãy xóa các sự vi phạm tôi theo sự từ bi rất lớn của Chúa.&amp;lt;br/&amp;gt;2.  Xin hãy rửa tôi cho sạch hết trọi gian ác, Và làm tôi được thanh khiết về tội lỗi tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;3.  Vì tôi nhận biết các sự vi phạm tôi, Tội lỗi tôi hằng ở trước mặt tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;4.  Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi, Và làm điều ác trước mặt Chúa; Hầu cho Chúa được xưng công bình khi Chúa phán, Và được thanh sạch khi Chúa xét đoán.&amp;lt;br/&amp;gt;5.  Kìa, tôi sanh ra trong sự gian ác, Mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi.&amp;lt;br/&amp;gt;6.  Nầy, Chúa muốn sự chân thật nơi bề trong; Chúa sẽ làm cho tôi được biết sự khôn ngoan trong nơi bí mật của lòng tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;7.  Xin hãy lấy chùm kinh giới tẩy sạch tội lỗi tôi, thì tôi sẽ được tinh sạch; Cầu Chúa hãy rửa tôi, thì tôi sẽ nên trắng hơn tuyết,&amp;lt;br/&amp;gt;8.  Hãy cho tôi nghe sự vui vẻ mừng rỡ, Để các xương cốt mà Chúa đã bẻ gãy được khoái lạc.&amp;lt;br/&amp;gt;9.  Xin Chúa ngảnh mặt khỏi các tội lỗi tôi, Và xóa hết thảy sự gian ác tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;10.  Đức Chúa Trời ôi! xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, Và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng.&amp;lt;br/&amp;gt;11.  Xin chớ từ bỏ tôi khỏi trước mặt Chúa, Cũng đừng cất khỏi tôi Thánh Linh Chúa.&amp;lt;br/&amp;gt;12.  Xin hãy ban lại cho tôi sự vui vẻ về sự cứu rỗi của Chúa, Dùng thần linh sẵn lòng mà nâng đỡ tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;13.  Bấy giờ tôi sẽ dạy đường lối Chúa cho kẻ vi phạm, Và kẻ có tội sẽ trở về cùng Chúa.&amp;lt;br/&amp;gt;14.  Hỡi Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi tôi, Xin giải tôi khỏi tội làm đổ huyết, Thì lưỡi tôi sẽ hát ngợi khen sự công bình của Chúa.&amp;lt;br/&amp;gt;15.  Chúa ơn, xin mở môi tôi, Rồi miệng tôi sẽ truyền ra sự ngợi khen Chúa.&amp;lt;br/&amp;gt;16.  Vì Chúa không ưa thích của lễ, bằng vậy, tôi chắc đã dâng; Của lễ thiêu cũng không đẹp lòng Chúa:&amp;lt;br/&amp;gt;17.  Của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là tâm thần đau thương: Đức Chúa Trời ôi! lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu.&amp;lt;br/&amp;gt;18.  Cầu xin Chúa hãy làm lành cho Si-ôn tùy ý tốt Ngài; Hãy xây cất các vách tường của Giê-ru-sa-lem.&amp;lt;br/&amp;gt;19.  Bấy giờ Chúa sẽ ưa thích các của lễ công bình, Của lễ thiêu, và các con sinh dâng trọn; Bấy giờ người ta sẽ dâng bò đực trên bàn thờ của Chúa.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B19\V02B19C051.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cầu Xin CHÚA Tha Thứ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Cầu Nguyện của Người Thật Lòng Ăn Năn Sám Hối'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thơ của Ða-vít'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cho Trưởng Ban Nhạc'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cảm tác khi Tiên Tri Na-than đến gặp ông,'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''sau khi ông đã phạm tội với bà Bát-sê-ba'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðức Chúa Trời ôi, xin thương xót con theo tình thương của Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin xóa bỏ các vi phạm con theo lòng thương xót lớn lao của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Xin rửa sạch con khỏi mọi gian ác của con;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin tẩy sạch con khỏi mọi tội lỗi của con,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Vì con nhận biết các vi phạm con;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tội lỗi con hằng ở trước mặt con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Con đã phạm tội đối với Ngài và chỉ đối với Ngài mà thôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Con đã làm điều ác trước mặt Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì thế Ngài thật đúng khi Ngài phán xét;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi Ngài tuyên án, con không thể trách Ngài được.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Kìa, vừa mới sinh ra, con đã là người có tội;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Con đã là tội nhân từ lúc con được thụ thai trong lòng mẹ con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Kìa, Ngài muốn sự thật trong đáy lòng con;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn, Ngài dạy con biết lẽ khôn ngoan.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Xin dùng nhánh bài hương tẩy rửa con, để con được sạch;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin thanh tẩy con, để con trở nên trắng hơn tuyết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Xin cho con được hưởng niềm vui và niềm hoan hỉ của người được tha thứ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể các xương con đã bị Ngài bẻ gãy được vui mừng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Xin che mặt Ngài để khỏi nhìn thấy các tội lỗi con,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin xóa sạch mọi gian ác của con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Ðức Chúa Trời ôi, xin dựng nên trong con một lòng trong sạch,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và làm mới lại trong con một tâm linh ngay thẳng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Xin đừng quăng con ra khỏi thánh nhan Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin đừng cất Ðức Thánh Linh của Ngài khỏi con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Xin khôi phục cho con niềm vui của ơn cứu rỗi Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và xin giữ con luôn có tinh thần đầu phục,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Ðể con sẽ chỉ cho những ai vi phạm biết đường lối Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi những kẻ tội lỗi sẽ quay về với Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ðức Chúa Trời ôi, xin giải cứu con khỏi tội làm đổ máu,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lạy Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của con,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể lưỡi con sẽ vui mừng ca ngợi ơn cứu rỗi của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 CHÚA ôi, xin mở môi con,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể miệng con truyền ra những lời ca tụng Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Vì Ngài không vui thích của tế lễ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi nếu Ngài thích, con đã dâng rồi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dù con dâng của lễ thiêu, Ngài cũng chẳng vui lòng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Của lễ đẹp lòng Ðức Chúa Trời là một tâm linh tan vỡ;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðức Chúa Trời ôi, một tấm lòng tan vỡ và thống hối Ngài sẽ chẳng khinh thường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Cầu xin Ngài làm điều tốt cho Si-ôn theo ý tốt của Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cầu xin Ngài dựng lại các tường thành của Giê-ru-sa-lem.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Bấy giờ Ngài sẽ vui lòng về các của lễ dâng lên để được xưng công chính,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tức các của lễ thiêu và các của lễ toàn thiêu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi các bò đực tơ sẽ được hiến dâng trên bàn thờ Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Thi Thiên]]&lt;br /&gt;
:* [[Thi Thiên: Chương 50]]&lt;br /&gt;
:* [[Thi Thiên: Chương 52]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Gi%C4%83ng:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35793</id>
		<title>I Giăng: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Gi%C4%83ng:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35793"/>
		<updated>2026-08-27T15:43:15Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Hãy nhìn xem! Tình yêu Ðức Chúa Cha đã ban cho chúng ta thật tuyệt diệu là dường nào -  đến nỗi chúng ta được gọi là con của Ðức Chúa Trời, và chúng ta thật là như vậy. Sở dĩ thế gian không biết chúng ta, bởi vì thế gian không biết Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Anh em yêu dấu! Bây giờ chúng ta là con của Ðức Chúa Trời, còn chúng ta sẽ như thế nào thì chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, bởi vì chúng ta sẽ thấy Ngài như Ngài vốn hiện hữu. 3. Và ai có niềm hy vọng như vậy nơi Ngài thì phải giữ mình thanh sạch, như Ngài là thanh sạch. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Ai phạm tội, cũng phạm điều phi pháp, bởi vì tội lỗi là phi pháp. 5. Nhưng anh em biết rằng Ngài đã xuất hiện để cất bỏ tội lỗi, và trong Ngài không có tội lỗi. 6. Ai ở trong Ngài thì không phạm tội; ai phạm tội thì người ấy chưa thấy Ngài, hoặc chưa biết Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Các con bé nhỏ ơi! Đừng để ai lừa dối các con. Ai làm điều công chính là người công chính - như chính Ngài là Đấng công chính. 8. Ai phạm tội thì thuộc về ma quỷ; bởi vì ma quỷ đã phạm tội từ ban đầu. Chính vì điều này, Con Đức Chúa Trời đã hiện ra để hủy phá công việc của ma quỷ. 9. Người nào do Đức Chúa Trời sinh ra thì không làm theo tội lỗi, bởi vì mầm sống của Đức Chúa Trời ở trong người ấy; người ấy không thể cứ phạm tội, bởi vì người ấy đã được sinh bởi Đức Chúa Trời. 10. Điều nầy biểu lộ ai là con của Đức Chúa Trời và ai là con của ma quỷ: Ai không làm điều công chính, cũng như ai không yêu thương anh em mình, thì không thuộc về Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Vì đây là sứ điệp mà anh em đã nghe từ lúc ban đầu, đó là: Chúng ta phải yêu thương lẫn nhau. 12. Đừng như Ca-in là người thuộc về ma quỷ và đã giết em của mình. Tại sao ông giết em của mình? Bởi vì những việc làm của ông là gian ác, còn những việc của em ông là công chính. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Anh em ơi! Nếu thế gian ghét anh em thì đừng ngạc nhiên. 14. Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết để đến sự sống - bởi vì chúng ta yêu thương anh em mình. Ai không yêu thương thì ở trong sự chết. 15. Ai ghét anh em mình là kẻ giết người, và anh em biết rằng không một kẻ giết người nào có sự sống đời đời ở trong người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Nhờ vào điều nầy, chúng ta biết được tình yêu: Bởi vì Ngài đã hy sinh mạng sống của Ngài cho chúng ta, chúng ta cũng phải hy sinh mạng sống vì anh em của mình. 17. Nếu ai có của cải trong đời nầy, và thấy anh em mình đang túng thiếu, nhưng khép kín lòng mình với người đó, làm thế nào tình yêu thương của Đức Chúa Trời ở trong người ấy được? 18. Các con bé nhỏ ơi! Đừng yêu thương bằng lời nói hay miệng lưỡi, nhưng bằng việc làm và sự chân thật.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Nhờ điều nầy, chúng ta biết mình thuộc về chân lý, và được an tâm trước mặt Ngài 20. Bởi vì nếu lòng của chúng ta lên án chúng ta, vì Đức Chúa Trời lớn hơn lòng của chúng ta và Ngài biết hết mọi sự. 21. Anh em yêu dấu! Nếu lòng của chúng ta không lên án chúng ta, chúng ta được vững tâm đến với Đức Chúa Trời; 22. và bất cứ điều gì chúng ta xin, chúng ta đều nhận được từ Ngài, bởi vì chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài và làm những điều đẹp lòng Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Và đây là điều răn của Ngài: Chúng ta phải tin nơi danh của Con Ngài, là Đức Chúa Jesus Christ; và hãy yêu thương nhau, như Ngài đã truyền dạy chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Ai vâng giữ các điều răn của Ngài thì ở trong Ngài, và Ngài ở trong người ấy. Và qua điều này, chúng ta biết Ngài đang ở trong chúng ta, nhờ Đức Thánh Linh mà Ngài đã ban cho chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy nhìn xem! Tình yêu Ðức Chúa Cha đã ban cho chúng ta thật tuyệt diệu là dường nào, đến nỗi chúng ta được gọi là con của Ðức Chúa Trời, và chúng ta thật là như vậy. Sở dĩ thế gian không biết chúng ta, bởi vì thế gian không biết Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh em yêu dấu! Bây giờ chúng ta là con của Ðức Chúa Trời, còn chúng ta sẽ như thế nào thì chưa được bày tỏ.  Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, bởi vì chúng ta sẽ thấy Ngài như Ngài vốn hiện hữu. Và ai có niềm hy vọng như vậy nơi Ngài thì phải giữ mình thanh sạch, như Ngài là thanh sạch. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ai phạm tội, cũng phạm điều phi pháp, bởi vì tội lỗi là phi pháp. Nhưng anh em biết rằng Ngài đã xuất hiện để cất bỏ tội lỗi, và trong Ngài không có tội lỗi. Ai ở trong Ngài thì không phạm tội; ai phạm tội thì người ấy chưa thấy Ngài hoặc chưa biết Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các con bé nhỏ ơi! Đừng để ai lừa dối các con. Ai làm điều công chính là người công chính, như chính Ngài là Đấng công chính. Ai phạm tội thì thuộc về ma quỷ; bởi vì ma quỷ đã phạm tội từ ban đầu. Chính vì điều này, Con Đức Chúa Trời đã hiện ra để hủy phá công việc của ma quỷ. Người nào do Đức Chúa Trời sinh ra thì không làm theo tội lỗi, bởi vì mầm sống của Đức Chúa Trời ở trong người ấy; người ấy không thể cứ phạm tội, bởi vì người ấy đã được sinh bởi Đức Chúa Trời. Điều nầy cho biết ai là con của Đức Chúa Trời, và ai là con của ma quỷ: Ai không làm điều công chính, cũng như ai không yêu thương anh em mình, thì không thuộc về Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì đây là sứ điệp mà anh em đã nghe từ lúc ban đầu, đó là: Chúng ta phải yêu thương lẫn nhau. Đừng như Ca-in là người thuộc về ma quỷ và đã giết em của mình. Tại sao ông giết em của mình? Bởi vì những việc làm của ông là gian ác, còn những việc của em ông là công chính. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh em ơi! Nếu thế gian ghét anh em thì đừng ngạc nhiên. Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết để đến sự sống, bởi vì chúng ta yêu thương anh em mình. Ai không yêu thương thì ở trong sự chết. Ai ghét anh em mình là kẻ giết người, và anh em biết rằng không một kẻ giết người nào có sự sống đời đời ở trong người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhờ vào điều nầy, chúng ta biết được tình yêu: Bởi vì Ngài đã hy sinh mạng sống của Ngài cho chúng ta, chúng ta cũng phải hy sinh mạng sống vì anh em của mình. Nếu ai có của cải trong đời nầy, và thấy anh em mình đang túng thiếu, nhưng khép kín lòng mình với người đó, làm thế nào tình yêu thương của Đức Chúa Trời ở trong người ấy được? Các con bé nhỏ ơi! Đừng yêu thương bằng lời nói hay miệng lưỡi, nhưng bằng việc làm và sự chân thật.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhờ điều nầy, chúng ta biết mình thuộc về chân lý, và được an tâm trước mặt Ngài Bởi vì nếu lòng của chúng ta lên án chúng ta, và vì Đức Chúa Trời lớn hơn lòng của chúng ta và Ngài biết hết mọi sự. Anh em yêu dấu! Nếu lòng của chúng ta không lên án chúng ta, chúng ta được vững tâm đến với Đức Chúa Trời; và bất cứ điều gì chúng ta xin, chúng ta đều nhận được từ Ngài, bởi vì chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài và làm những điều đẹp lòng Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và đây là điều răn của Ngài: Chúng ta phải tin nơi danh của Con Ngài, là Đức Chúa Jesus Christ; và hãy yêu thương nhau, như Ngài đã truyền dạy chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ai vâng giữ các điều răn của Ngài thì ở trong Ngài, và Ngài ở trong người ấy. Và qua điều này, chúng ta biết Ngài đang ở trong chúng ta, bởi Đức Thánh Linh mà Ngài đã ban cho chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Hãy nhìn xem! Tình yêu Ðức Chúa Cha đã ban cho chúng ta thật tuyệt diệu là dường nào, đến nỗi chúng ta được gọi là con của Ðức Chúa Trời, và chúng ta thật là như vậy. Sở dĩ thế gian không biết chúng ta, bởi vì thế gian không biết Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Anh em yêu dấu! Bây giờ chúng ta là con của Ðức Chúa Trời, còn chúng ta sẽ như thế nào thì chưa được bày tỏ.  Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, bởi vì chúng ta sẽ thấy Ngài như Ngài vốn hiện hữu. 3. Và ai có niềm hy vọng như vậy nơi Ngài thì phải giữ mình thanh sạch, như Ngài là thanh sạch. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Ai phạm tội, cũng phạm điều phi pháp, bởi vì tội lỗi là phi pháp. 5. Nhưng anh em biết rằng Ngài đã xuất hiện để cất bỏ tội lỗi, và trong Ngài không có tội lỗi. 6. Ai ở trong Ngài thì không phạm tội; ai phạm tội thì người ấy chưa thấy Ngài hoặc chưa biết Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Các con bé nhỏ ơi! Đừng để ai lừa dối các con. Ai làm điều công chính là người công chính, như chính Ngài là Đấng công chính. 8. Ai phạm tội thì thuộc về ma quỷ; bởi vì ma quỷ đã phạm tội từ ban đầu. Chính vì điều này, Con Đức Chúa Trời đã được khải tỏ để hủy phá công việc của ma quỷ. 9. Ai do Đức Chúa Trời sinh ra thì không làm theo tội lỗi, bởi vì mầm sống của Đức Chúa Trời ở trong người ấy; người ấy không thể cứ phạm tội, bởi vì người ấy đã được sinh bởi Đức Chúa Trời. 10. Điều nầy cho biết ai là con của Đức Chúa Trời, và ai là con của ma quỷ: Ai không làm điều công chính, cũng như ai không yêu thương anh em mình, thì không thuộc về Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Vì đây là sứ điệp mà anh em đã nghe từ lúc ban đầu, đó là: Chúng ta phải yêu thương lẫn nhau. 12. Đừng như Ca-in là người thuộc về ma quỷ và đã giết em mình. Tại sao ông giết em mình? Bởi vì những việc làm của ông là gian ác, còn những việc của em ông là công chính. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Anh em! Nếu thế gian ghét anh em thì đừng ngạc nhiên. 14. Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết để đến sự sống, bởi vì chúng ta yêu thương anh em mình. Ai không yêu thương thì ở trong sự chết. 15. Ai ghét anh em mình là kẻ giết người, và anh em biết rằng không một kẻ giết người nào có sự sống đời đời ở trong người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Nhờ vào điều nầy, chúng ta biết được tình yêu: Bởi vì Ngài đã hy sinh mạng sống của Ngài cho chúng ta, chúng ta cũng phải hy sinh mạng sống vì anh em của mình. 17. Nếu ai có của cải trong đời nầy, và thấy anh em mình đang túng thiếu, nhưng khép kín lòng mình với người đó, làm thế nào tình yêu thương của Đức Chúa Trời ở trong người ấy được? 18. Các con bé nhỏ ơi! Đừng yêu thương bằng lời nói hay miệng lưỡi, nhưng bằng việc làm và sự chân thật.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Nhờ điều nầy, chúng ta biết mình thuộc về chân lý, và được an tâm trước mặt Ngài 20. Bởi vì nếu lòng của chúng ta lên án chúng ta, và vì Đức Chúa Trời lớn hơn lòng của chúng ta, và Ngài biết hết mọi sự. 21. Anh em yêu dấu! Nếu lòng của chúng ta không lên án chúng ta, chúng ta được vững tâm đến với Đức Chúa Trời; 22. và bất cứ điều gì chúng ta xin, chúng ta đều nhận được từ Ngài, bởi vì chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài và làm những điều đẹp lòng Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Và đây là điều răn của Ngài: Chúng ta phải tin nơi danh của Con Ngài, là Đức Chúa Jesus Christ; và hãy yêu thương nhau, như Ngài đã truyền dạy chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Ai vâng giữ các điều răn của Ngài thì ở trong Ngài, và Ngài ở trong người ấy. Và qua điều này, chúng ta biết Ngài đang ở trong chúng ta, bởi Đức Thánh Linh mà Ngài đã ban cho chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Hãy xem Đức Chúa Cha đã tỏ cho chúng ta sự yêu thương dường nào, mà cho chúng ta được xưng là con cái Đức Chúa Trời; và chúng ta thật là con cái Ngài. Ấy là vì đó mà thế gian chẳng biết chúng ta, vì họ chẳng từng biết Ngài. 2.  Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy. 3.  Ai có sự trông cậy đó trong lòng, thì tự mình làm nên thanh sạch, cũng như Ngài là thanh sạch. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp. 5.  Vả, các con biết Đức Chúa Jêsus Christ đã hiện ra để cất tội lỗi đi, và biết trong Ngài không có tội lỗi. 6.  Ai ở trong Ngài thì không phạm tội; còn ai phạm tội, thì chẳng từng thấy Ngài và chẳng từng biết Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Hỡi các con cái bé mọn, chớ để cho ai lừa dối mình: kẻ làm sự công bình là người công bình, như chính mình Chúa là công bình. 8.  Kẻ nào phạm tội là thuộc về ma quỉ; vì ma quỉ phạm tội từ lúc ban đầu. Vả, Con Đức Chúa Trời đã hiện ra để hủy phá công việc của ma quỉ. 9.  Ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì chẳng phạm tội, vì hột giống của Đức Chúa Trời ở trong người, và người không thể phạm tội được, vì đã sanh bởi Đức Chúa Trời. 10.  Bởi đó, người ta nhận biết con cái Đức Chúa Trời và con cái ma quỉ: ai chẳng làm điều công bình là không thuộc về Đức Chúa Trời, kẻ chẳng yêu anh em mình cũng vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Vả, lời rao truyền mà các con đã nghe từ lúc ban đầu, ấy là chúng ta phải yêu thương lẫn nhau. 12.  Chớ làm như Ca-in, là kẻ thuộc về ma quỉ, đã giết em mình. Vì sao người giết đi? Bởi việc làm của người là dữ, còn việc làm của em người là công bình. 13.  Hỡi anh em, nếu thế gian ghen ghét anh em, thì chớ lấy làm lạ. 14.  Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình. Còn ai chẳng yêu thì ở trong sự chết. 15.  Ai ghét anh em mình, là kẻ giết người; anh em biết rằng chẳng một kẻ nào giết người có sự sống đời đời ở trong mình. 16.  Bởi đó chúng ta nhận biết lòng yêu thương, ấy là Chúa đã vì chúng ta bỏ sự sống; chúng ta cũng nên bỏ sự sống vì anh em mình vậy. 17.  Nếu ai có của cải đời nầy, thấy anh em mình đang cùng túng mà chặt dạ, thì lòng yêu mến Đức Chúa Trời thể nào ở trong người ấy được! 18.  Hỡi các con cái bé mọn, chớ yêu mến bằng lời nói và lưỡi, nhưng bằng việc làm và lẽ thật. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19.  Bởi đó, chúng ta biết mình là thuộc về lẽ thật, và giục lòng vững chắc ở trước mặt Ngài. 20.  Vì nếu lòng mình cáo trách mình, thì Đức Chúa Trời lại lớn hơn lòng mình nữa, và biết cả mọi sự. 21.  Hỡi kẻ rất yêu dấu, ví bằng lòng mình không cáo trách, thì chúng ta có lòng rất dạn dĩ, đặng đến gần Đức Chúa Trời: 22.  và chúng ta xin điều gì mặc dầu, thì nhận được điều ấy, bởi chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài và làm những điều đẹp ý Ngài. 23.  Vả, nầy là điều răn của Ngài: là chúng ta phải tin đến danh Con Ngài, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, và chúng ta phải yêu mến lẫn nhau như Ngài đã truyền dạy ta. 24.  Ai vâng giữ các điều răn Ngài thì ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy; chúng ta biết Ngài ở trong lòng chúng ta, là nhờ Đức Thánh Linh mà Ngài đã ban cho chúng ta. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Con Cái của Ðức Chúa Trời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Hãy xem, tình yêu Ðức Chúa Cha đã ban cho chúng ta thật tuyệt diệu dường nào, đó là chúng ta được gọi là con cái Ðức Chúa Trời, và thật vậy chúng ta là con cái Ngài.  Sở dĩ thế gian không biết chúng ta vì thế gian không biết Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Anh chị em yêu dấu, bây giờ chúng ta là con cái Ðức Chúa Trời, và chúng ta sẽ ra sao thì chưa được tiết lộ, nhưng điều chúng ta biết chắc là khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ trở nên giống như Ngài, vì Ngài như thế nào, chúng ta sẽ thấy Ngài như thể ấy.  3 Phàm ai có hy vọng này nơi Ngài thì phải làm cho mình trở nên tinh khiết như Ngài là tinh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Ai phạm tội là phạm điều trái với luật pháp, vì tội lỗi là trái với luật pháp.  5 Anh chị em biết rằng Ngài đã xuất hiện để cất bỏ tội lỗi, và trong Ngài không có tội lỗi.  6 Ai cứ ở trong Ngài thì không còn khuynh hướng phạm tội; ai cứ phạm tội là chưa thấy Ngài và chưa biết Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Hỡi các con thơ, đừng để ai lừa gạt các con.  Ai làm điều công chính là người công chính, như chính Ngài là công chính.  8 Ai cứ phạm tội là thuộc về Ác Quỷ, vì Ác Quỷ đã phạm tội từ ban đầu.  Vì lý do đó Con Ðức Chúa Trời đã xuất hiện để hủy diệt công việc của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Ai do Ðức Chúa Trời sinh ra thì không còn khuynh hướng phạm tội, vì mầm sống của Ngài ở trong người ấy; người ấy không thể cứ phạm tội vì đã được Ðức Chúa Trời sinh ra.  10 Bởi điều này con cái Ðức Chúa Trời và con cái Ác Quỷ được phân biệt rõ ràng: ai không làm điều công chính là không thuộc về Ðức Chúa Trời, và ai không yêu thương anh chị em mình cũng vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Yêu Thương Lẫn Nhau'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Ðây là sứ điệp anh chị em đã nghe từ ban đầu: chúng ta phải yêu thương nhau.  12 Chớ như Ca-in là người thuộc về kẻ ác và đã giết em mình.  Vì cớ gì ông ấy đã giết em ông?  Vì những việc làm của ông là gian ác, còn những việc làm của em ông là ngay lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Ðừng ngạc nhiên, thưa anh chị em, nếu thế gian ghét anh chị em.  14 Chúng ta biết rằng chúng ta đã vượt từ cõi chết mà vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh chị em mình.  Ai không yêu thương thì còn ở trong cõi chết.  15 Ai ghét anh chị em mình là kẻ sát nhân.  Anh chị em biết rằng không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở trong mình.  16 Bởi điều này chúng ta biết tình yêu: Ngài đã hy sinh mạng sống Ngài cho chúng ta; chúng ta cũng phải hy sinh mạng sống mình cho anh chị em mình vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Nếu ai có của cải ở đời này và thấy anh chị em mình lâm vào cảnh khốn cùng mà chặt dạ đối với người ấy, thì làm thể nào tình yêu của Ðức Chúa Trời ở trong người đó được?  18 Hỡi các con thơ, chúng ta đừng yêu thương bằng đầu môi chót lưỡi, nhưng hãy bằng hành động cụ thể và sự chân thật.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''An Tâm Trước Mặt Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Qua điều này chúng ta biết rằng chúng ta thuộc về chân lý và sẽ được an tâm trước mặt Ngài, 20 ngay cả khi lòng chúng ta cáo trách chúng ta; vì Ðức Chúa Trời vĩ đại hơn lòng chúng ta, và Ngài biết rõ mọi sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Anh chị em yêu dấu, nếu lòng chúng ta không cáo trách chúng ta, chúng ta được vững tâm trước mặt Ðức Chúa Trời.  22 Bất cứ điều gì chúng ta cầu xin, chúng ta nhận được từ Ngài, vì chúng ta vâng giữ các điều răn Ngài và làm những điều đẹp mắt  Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Ðây là điều răn Ngài: chúng ta phải tin vào danh Con Ngài là Ðức Chúa Jesus Christ, và phải yêu thương nhau, như Ngài đã truyền cho chúng ta.  24 Ai vâng giữ các điều răn Ngài thì ở trong Ngài, và Ngài ở trong người ấy.  Bởi điều này chúng ta biết Ngài đang ở trong chúng ta: nhờ Ðức Thánh Linh, Ðấng Ngài ban cho chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B62\V01B62C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Giăng]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[II Giăng]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[III Giăng]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Giăng: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Giăng: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Gi%C4%83ng:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_5&amp;diff=35792</id>
		<title>I Giăng: Chương 5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Gi%C4%83ng:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_5&amp;diff=35792"/>
		<updated>2026-08-27T15:32:58Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Ai tin Đức Chúa Jesus là Đấng Christ, thì sinh bởi Đức Chúa Trời; ai yêu Đấng sinh thành thì cũng yêu người được Ngài sinh ra. 2. Bởi điều nầy, chúng ta biết chúng ta yêu các con của Đức Chúa Trời: Đó là lúc chúng ta yêu Đức Chúa Trời và vâng giữ các điều răn của Ngài. 3. Vì yêu Đức Chúa Trời, cho nên chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài; và điều răn của Ngài không phải là gánh nặng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Vì ai sinh bởi Đức Chúa Trời thì chiến thắng thế gian; và điều làm cho chúng ta chiến thắng thế gian chính là đức tin của chúng ta. 5. Ai là người chiến thắng thế gian, nếu không phải là người tin Đức Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Đức Chúa Jesus Christ là Đấng đã đến bởi nước và huyết, không phải chỉ bởi nước mà thôi, nhưng bởi nước và huyết. Và Thánh Linh là Đấng làm chứng, bởi vì Thánh Linh là chân lý. 7. Bởi vì có ba minh chứng: [ở trên trời: Đức Chúa Cha, Ngôi Lời, và Đức Thánh Linh; và cả ba hiệp nhất.] 8. Thánh Linh, nước, và huyết; và cả ba hiệp nhất.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Nếu chúng ta nhận lời chứng của loài người, thì lời chứng của Đức Chúa Trời còn cao trọng hơn; bởi vì đây lời chứng của Ðức Chúa Trời, và Ngài làm chứng về Con của Ngài. 10. Ai tin Con Đức Chúa Trời thì có lời chứng ở trong chính mình; còn ai không tin Đức Chúa Trời thì cho Ngài là người nói dối, bởi vì không tin lời chứng mà Đức Chúa Trời đã làm chứng về Con Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Đây là lời chứng: Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta sự sống đời đời, và sự sống nầy ở trong Con của Ngài. 12. Ai có Đức Chúa Con, có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời, không có sự sống. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Tôi viết những điều nầy cho anh em, là những người đã tin vào danh Con Đức Chúa Trời, để anh em có thể biết rằng mình có sự sống đời đời, và để anh em có thể tin vào danh Con Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Đây là sự vững tâm mà chúng ta có trước mặt Ngài: Đó là chúng ta có thể cầu xin bất kỳ điều gì theo ý muốn của Ngài, thì Ngài nghe chúng ta. 15. Và nếu chúng ta biết Ngài nghe bất cứ điều gì chúng ta cầu xin, chúng ta biết rằng chúng ta nhận được những thỉnh cầu mà chúng ta đã cầu xin với Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Nếu ai thấy anh em mình phạm tội - một tội không đến nỗi chết - người đó hãy cầu xin, và Ngài sẽ ban cho người ấy sự sống - tức là cho những người mà tội không đến nỗi chết. Cũng có tội dẫn đến sự chết, tôi không bảo người đó nên cầu nguyện cho điều nầy. 17. Mọi điều không công chính đều là tội, nhưng cũng có tội không đến nỗi chết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Chúng ta biết rằng ai sinh bởi Đức Chúa Trời thì không phạm tội, bởi vì Đấng sinh bởi Đức Chúa Trời đang gìn giữ người ấy, và ma quỷ không đụng đến người ấy. 19. Chúng ta biết rằng chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời, còn cả thế gian đều ở dưới quyền của ma quỷ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Chúng ta biết Con Đức Chúa Trời đã đến và đã ban cho chúng ta sự hiểu biết để chúng ta có thể nhận biết Ngài, là Đấng chân thật; và chúng ta ở trong Ngài, là Đấng chân thật, tức là trong Con của Ngài - là Đức Chúa Jesus Christ. Ngài là Đức Chúa Trời chân thật và là sự sống đời đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Các con bé nhỏ! Hãy giữ mình khỏi những hình tượng. A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ai tin Đức Chúa Jesus là Đấng Christ, thì sinh bởi Đức Chúa Trời; ai yêu Đấng sinh thành thì cũng yêu người được Ngài sinh ra. Bởi điều nầy, chúng ta biết chúng ta yêu các con của Đức Chúa Trời: Đó là lúc chúng ta yêu Đức Chúa Trời và vâng giữ các điều răn của Ngài. Vì yêu Đức Chúa Trời, cho nên chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài; và điều răn của Ngài không phải là gánh nặng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì ai sinh bởi Đức Chúa Trời thì chiến thắng thế gian; và điều làm cho chúng ta chiến thắng thế gian chính là đức tin của chúng ta. Ai là người chiến thắng thế gian, nếu không phải là người tin Đức Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đức Chúa Jesus Christ là Đấng đã đến bởi nước và huyết, không phải chỉ bởi nước mà thôi, nhưng bởi nước và huyết. Và Thánh Linh là Đấng làm chứng, bởi vì Thánh Linh là chân lý. Bởi vì có ba minh chứng ở trên trời: Đức Chúa Cha, Ngôi Lời, và Đức Thánh Linh; và cả ba hiệp nhất. Và có ba minh chứng ở dưới đất: Thánh Linh, nước, và huyết; và cả ba hiệp nhất.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu chúng ta nhận lời chứng của loài người, thì lời chứng của Đức Chúa Trời còn cao trọng hơn; bởi vì đây lời chứng của Ðức Chúa Trời, và Ngài làm chứng về Con của Ngài. Ai tin Con Đức Chúa Trời thì có lời chứng ở trong chính mình; còn ai không tin Đức Chúa Trời thì cho Ngài là người nói dối, bởi vì không tin lời chứng mà Đức Chúa Trời đã làm chứng về Con Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây là lời chứng: Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta sự sống đời đời, và sự sống nầy ở trong Con của Ngài.  Ai có Đức Chúa Con, có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời, không có sự sống. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi viết những điều nầy cho anh em, là những người đã tin vào danh Con Đức Chúa Trời, để anh em có thể biết rằng mình có sự sống đời đời, và để anh em có thể tin vào danh Con Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây là điều an tâm mà chúng ta có trước mặt Ngài: đó là chúng ta có thể cầu xin bất kỳ điều gì theo ý muốn của Ngài, thì Ngài nghe chúng ta. Và nếu chúng ta biết Ngài nghe bất cứ điều gì chúng ta cầu xin, chúng ta biết rằng chúng ta nhận được những thỉnh cầu mà chúng ta đã cầu xin với Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu ai thấy anh em mình phạm tội - một tội không đến nỗi chết - người đó hãy cầu xin, và Ngài sẽ ban cho người ấy sự sống - tức là cho những người mà tội không đến nỗi chết. Cũng có tội dẫn đến sự chết, tôi không bảo người đó nên cầu nguyện cho điều nầy. Mọi điều không công chính đều là tội, nhưng cũng có tội không đến nỗi chết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng ta biết rằng ai sinh bởi Đức Chúa Trời thì không phạm tội, bởi vì Đấng sinh bởi Đức Chúa Trời đang gìn giữ người ấy, và ma quỷ không đụng đến người ấy. Chúng ta biết rằng chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời, còn cả thế gian đều ở dưới quyền của ma quỷ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng ta biết Con Đức Chúa Trời đã đến và đã ban cho chúng ta sự hiểu biết để chúng ta có thể nhận biết Ngài, là Đấng chân thật; và chúng ta ở trong Ngài, là Đấng chân thật, tức là trong Con của Ngài - là Đức Chúa Jesus Christ. Ngài là Đức Chúa Trời chân thật và là sự sống đời đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các con bé nhỏ! Hãy giữ mình khỏi những hình tượng. A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Ai tin Đức Chúa Jesus là Đấng Christ, thì sinh bởi Đức Chúa Trời; ai yêu Đấng sinh thành thì cũng yêu người được Ngài sinh ra. 2. Bởi điều nầy, chúng ta biết chúng ta yêu các con của Đức Chúa Trời: Đó là lúc chúng ta yêu Đức Chúa Trời và giữ các điều răn của Ngài. 3. Vì yêu Đức Chúa Trời, cho nên chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài; và điều răn của Ngài không phải là gánh nặng. 4. Bởi vì ai sinh bởi Đức Chúa Trời thì chiến thắng thế gian; và điều làm cho chúng ta chiến thắng thế gian chính là đức tin của chúng ta. 5. Ai là người chiến thắng thế gian, nếu không phải là người tin Đức Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Đức Chúa Jesus Christ là Đấng đã đến bởi nước và huyết, không phải chỉ bởi nước mà thôi, nhưng bởi nước và huyết. Và Thánh Linh là Đấng làm chứng, bởi vì Thánh Linh là chân lý. 7. Bởi vì có ba minh chứng: 8. Thánh Linh, nước, và huyết; và cả ba hiệp nhất.  9. Nếu chúng ta nhận lời chứng của loài người, thì lời chứng của Đức Chúa Trời còn cao trọng hơn; bởi vì đây lời chứng của Ðức Chúa Trời, và Ngài làm chứng về Con của Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Ai tin Con Đức Chúa Trời thì có lời chứng ở trong chính mình; còn ai không tin Đức Chúa Trời thì cho Ngài là người nói dối, bởi vì không tin lời chứng mà Đức Chúa Trời đã làm chứng về Con Ngài. 11. Đây là lời chứng: Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta sự sống đời đời, và sự sống nầy ở trong Con của Ngài. 12. Ai có Đức Chúa Con, có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời, không có sự sống. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Tôi viết những điều nầy cho anh em, là những người đã tin vào danh Con Đức Chúa Trời, để anh em có thể biết rằng mình có sự sống đời đời, và để anh em có thể tin vào danh Con Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Đây là điều an tâm mà chúng ta có trước mặt Ngài: đó là chúng ta có thể cầu xin bất kỳ điều gì theo ý muốn của Ngài, thì Ngài nghe chúng ta. 15. Và nếu chúng ta biết Ngài nghe bất cứ điều gì chúng ta cầu xin, chúng ta biết rằng chúng ta nhận được những thỉnh cầu mà chúng ta đã cầu xin với Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Nếu ai thấy anh em mình phạm tội - một tội không đến nỗi chết - người đó hãy cầu xin, và Ngài sẽ ban cho người ấy sự sống - tức là cho những người mà tội không đến nỗi chết. Cũng có tội dẫn đến sự chết, tôi không bảo người đó nên cầu nguyện cho tội nầy. 17. Mọi điều không công chính đều là tội, nhưng cũng có tội không đến nỗi chết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Chúng ta biết rằng ai sinh bởi Đức Chúa Trời thì không phạm tội, bởi vì Đấng sinh bởi Đức Chúa Trời đang gìn giữ người ấy, và ma quỷ không đụng đến người ấy. 19. Chúng ta biết rằng chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời, còn cả thế gian đều ở dưới quyền của ma quỷ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Chúng ta biết Con Đức Chúa Trời đã đến và đã ban cho chúng ta sự hiểu biết để chúng ta có thể nhận biết Ngài, là Đấng chân thật; và chúng ta ở trong Ngài, là Đấng chân thật, tức là trong Con của Ngài - là Đức Chúa Jesus Christ. Ngài là Đức Chúa Trời chân thật và là sự sống đời đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Các con bé nhỏ! Hãy giữ mình khỏi những hình tượng. A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ai tin Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, thì sanh bởi Đức Chúa Trời; và ai yêu Đức Chúa Trời là Đấng đã sanh ra, thì cũng yêu kẻ đã sanh ra bởi Ngài. 2.  Chúng ta biết mình yêu con cái Đức Chúa Trời, khi chúng ta yêu Đức Chúa Trời và giữ vẹn các điều răn Ngài. 3.  Vì nầy là sự yêu mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài. Điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề, 4.  vì hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời, thì thắng hơn thế gian; và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Ai là người thắng hơn thế gian, há chẳng phải kẻ tin Đức Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời hay sao? 6.  Ấy chính Đức Chúa Jêsus Christ đã lấy nước và huyết mà đến, chẳng những lấy nước mà thôi, bèn là lấy nước và huyết; 7.  ấy là Đức Thánh Linh đã làm chứng, vì Đức Thánh Linh tức là lẽ thật. 8.  Vì có ba làm chứng: Đức Thánh Linh, nước và huyết; ba ấy hiệp một. 9.  Ví bằng chúng ta nhận chứng của loài người, thì chứng của Đức Chúa Trời trọng hơn; vả, chứng của Đức Chúa Trời ấy là chứng mà Ngài làm về Con Ngài. 10.  Ai tin đến Con Đức Chúa Trời, thì có chứng ấy trong mình; còn ai không tin Đức Chúa Trời, thì cho Ngài là nói dối, vì chẳng tin đến chứng Đức Chúa Trời đã làm về Con Ngài. 11.  Chừng ấy tức là Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài. 12.  Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống. 13.  Ta đã viết những điều nầy cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời, là kẻ nào tin đến danh Con Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Nầy là điều chúng ta dạn dĩ ở trước mặt Chúa, nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì, thì Ngài nghe chúng ta. 15.  Nếu chúng ta biết không cứ mình xin điều gì, Ngài cũng nghe chúng ta, thì chúng ta biết mình đã nhận lãnh điều mình xin Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16.  Vì có kẻ thấy anh em mình phạm tội, mà tội không đến nỗi chết, thì hãy cầu xin, và Đức Chúa Trời sẽ ban sự sống cho, tức là ban cho những kẻ phạm tội mà chưa đến nỗi chết. Cũng có tội đến nỗi chết; ấy chẳng phải vì tội đó mà ta nói nên cầu xin. 17.  Mọi sự không công bình đều là tội; mà cũng có tội không đến nỗi chết. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Chúng ta biết rằng ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì hẳn chẳng phạm tội; nhưng ai sanh bởi Đức Chúa Trời, thì tự giữ lấy mình, ma quỉ chẳng làm hại người được. 19.  Chúng ta biết mình thuộc về Đức Chúa Trời, còn cả thế gian đều phục dưới quyền ma quỉ. 20.  Nhưng chúng ta biết Con Đức Chúa Trời đã đến, Ngài đã ban trí khôn cho chúng ta đặng chúng ta biết Đấng chân thật, và chúng ta ở trong Đấng chân thật, là ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, Con của Ngài. Ấy chính Ngài là Đức Chúa Trời chân thật và là sự sống đời đời. 21.  Hỡi các con cái bé mọn, hãy giữ mình về hình tượng! &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chiến Thắng Thế Gian'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ai tin rằng Ðức Chúa Jesus là Ðấng Christ thì được sinh ra bởi Ðức Chúa Trời.  Ai yêu Ðấng sinh ra Con cũng yêu Con do Ngài sinh ra.  2 Bởi điều này chúng ta biết rằng chúng ta yêu con cái Ðức Chúa Trời: ấy là khi chúng ta yêu kính Ðức Chúa Trời và vâng giữ các điều răn Ngài.  3 Vì yêu kính Ðức Chúa Trời là vâng giữ các điều răn Ngài; và các điều răn Ngài không phải là nặng nề.  4 Vì ai được sinh ra bởi Ðức Chúa Trời đều chiến thắng thế gian, và đây là bí quyết đắc thắng để chiến thắng thế gian: đức tin của chúng ta.  5 Ai là người chiến thắng thế gian, nếu không là người tin rằng Ðức Chúa Jesus là Con Ðức Chúa Trời?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Chứng về Ðấng Christ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Chính Ngài, Ðức Chúa Jesus Christ, đã đến bởi nước và huyết, không phải chỉ bởi nước, nhưng bởi nước và huyết.  Chính Ðức Thánh Linh là Ðấng làm chứng, vì Ðức Thánh Linh là chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Có ba nguồn làm chứng: 8 Ðức Thánh Linh, nước, và huyết; và cả ba đều ăn khớp về một việc.  9 Nếu chúng ta chấp nhận lời chứng của người phàm, thì lời chứng của Ðức Chúa Trời cao trọng hơn, vì đó là lời chứng của Ðức Chúa Trời, và Ngài làm chứng về Con Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Ai tin Con Ðức Chúa Trời thì có lời chứng đó trong lòng; ai không tin Ðức Chúa Trời thì mặc nhiên cho Ngài là kẻ nói dối, vì đã không tin lời chứng của Ðức Chúa Trời đã làm chứng về Con Ngài.  11 Ðây là lời chứng: Ðức Chúa Trời đã ban cho chúng ta sự sống đời đời, và sự sống ấy ở trong Con Ngài.  12 Ai có Ðức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Ðức Chúa Trời thì không có sự sống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sự Sống Ðời Ðời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Tôi viết những điều này cho anh chị em, những người tin vào danh Con Ðức Chúa Trời, để anh chị em biết rằng anh chị em có sự sống đời đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Vững Tâm Cầu Nguyện'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ðây là sự vững tâm chúng ta có trước thánh nhan Ngài: đó là nếu chúng ta theo ý muốn Ngài cầu xin điều chi thì Ngài nghe chúng ta.  15 Nếu chúng ta biết rằng Ngài nghe chúng ta bất cứ điều gì chúng ta cầu xin, thì chúng ta biết rằng chúng ta có những gì chúng ta đã cầu xin Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Nếu ai thấy anh chị em mình phạm một tội không đến nỗi chết, người ấy hãy cầu xin, Ngài sẽ ban cho người ấy được sống, tức là ban cho người phạm tội không đến nỗi chết.  Có một tội đưa đến cái chết, và tôi không bảo anh chị em cầu xin cho điều đó.  17 Mọi sự bất chính đều là tội, nhưng cũng có tội không đến nỗi chết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Kết'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Chúng ta biết rằng không ai được sinh ra bởi Ðức Chúa Trời lại cứ phạm tội, nhưng người được sinh ra bởi Ðức Chúa Trời thì Ngài bảo vệ, và kẻ ác không đụng đến người ấy được.  19 Chúng ta biết rằng chúng ta thuộc về Ðức Chúa Trời, còn cả thế gian ở dưới quyền kẻ ác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Chúng ta cũng biết rằng Con Ðức Chúa Trời đã đến và đã ban cho chúng ta tri thức, để chúng ta có thể biết Ðấng chân thật, và chúng ta ở trong Ngài là Ðấng chân thật, vì chúng ta ở trong Con Ngài là Ðức Chúa Jesus Christ.  Chính Ngài là Ðức Chúa Trời chân thật và sự sống đời đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Hỡi các con thơ, hãy giữ mình khỏi các thần tượng.  A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B62\V01B62C005.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Giăng]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[II Giăng]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[III Giăng]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Giăng: Chương 1]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Giăng: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_11&amp;diff=35791</id>
		<title>Các Quan Xét: Chương 11</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_11&amp;diff=35791"/>
		<updated>2026-08-27T15:01:56Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Giép-thê, người Ga-la-át, là một dũng sĩ can trường, nhưng ông là con của một gái điếm. Cha của ông là Ga-la-át. 2. Vợ của Ga-la-át sinh nhiều con trai. Khi các con trai của vợ ông lớn lên, họ đuổi Giép-thê ra, và nói: “Mầy không được hưởng phần sản nghiệp trong nhà cha của chúng ta, bởi vì mầy là con của một người đàn bà khác.” 3. Giép-thê đã lánh xa khỏi các anh em của mình, đến cư ngụ trong xứ Tóp. Có những du đãng tụ tập quanh ông, rồi đi ăn cướp với ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Một thời gian sau, dân Am-môn gây chiến với Y-sơ-ra-ên. 5. Khi dân Am-môn tiến đánh Y-sơ-ra-ên, lúc đó các trưởng lão của Ga-la-át đi đến xứ Tóp mời Giép-thê về. 6. Họ nói với ông: “Xin hãy trở về lãnh đạo chúng tôi, để chúng tôi có thể đánh lại dân Am-môn.” 7. Nhưng Giép-thê nói với các trưởng lão của Ga-la-át: “Không phải các ông đã ghét tôi, đã đuổi tôi ra khỏi nhà cha của tôi hay sao? Rồi bây giờ khi các ông bị khốn khổ, tại sao các ông lại đến với tôi?” 8. Các trưởng lão của Ga-la-át nói với Giép-thê: “Thật vậy, bây giờ chúng tôi trở lại với ông, để ông đi với chúng tôi chống lại dân Am-môn. Ông sẽ là lãnh tụ của chúng tôi để lãnh đạo tất cả dân Ga-la-át.” 9. Giép-thê hỏi lại các trưởng lão của Ga-la-át: “Nếu các ông đem tôi về để đánh dân Am-môn, và nếu Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay tôi, có chắc rằng tôi sẽ là lãnh tụ của các ông hay không?” 10. Các trưởng lão của Ga-la-át nói với Giép-thê: “Chúng tôi sẽ làm đúng như lời ông nói. Nguyện Đức Giê-hô-va làm chứng giữa chúng ta!” 11. Vì vậy, Giép-thê đã đi với các trưởng lão của Ga-la-át. Dân chúng đã lập ông làm lãnh tụ và là chỉ huy của họ. Tại Mích-ba, Giép-thê lặp lại trước mặt Đức Giê-hô-va mọi lời ông đã nói.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Giép-thê sai các sứ giả đến với vua của dân Am-môn, nói rằng: “Tôi với ông có chuyện gì mà ông đến đất nước tôi để đánh tôi?” 13. Vua của dân Am-môn trả lời với các sứ giả của Giép-thê rằng: “Bởi vì Y-sơ-ra-ên đã chiếm đất của ta từ Ạt-nôn, đến Gia-bốc, cho đến tận sông Giô-đanh vào lúc họ ra khỏi Ai Cập. Vì vậy, bây giờ hãy trả lại đất cách êm thắm.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Giép-thê sai các sứ giả trở lại với vua của dân Am-môn. 15. Hãy nói với người là Giép-thê nói như thế nầy: &amp;quot;Y-sơ-ra-ên không xâm chiếm đất của dân Mô-áp hay của dân Am-môn. 16. Nhưng xuất phát từ Ai Cập, Y-sơ-ra-ên đã đi ngang qua hoang mạc để đến Biển Đỏ, rồi đến Ca-đe. 17. Lúc đó, Y-sơ-ra-ên đã sai các sứ giả đến gặp vua của Ê-đôm và nói rằng: ‘Xin ngài cho chúng tôi đi ngang qua lãnh thổ của ngài,’ nhưng vua của Ê-đôm đã không bằng lòng. Cũng vậy, họ đã sai các sứ giả đến gặp vua của Mô-áp, và vua nầy cũng từ chối, nên dân Y-sơ-ra-ên cứ ở tại Ca-đe. 18. Sau đó, họ phải đi vòng qua hoang mạc, để tránh đất của Ê-đôm và đất của Mô-áp, rồi đến phía đông của đất Mô-áp. Họ đã đóng trại ở bên kia Ạt-nôn, nhưng không vào địa phận của Mô-áp, bởi vì Ạt-nôn là biên giới của Mô-áp. 19. Y-sơ-ra-ên đã sai các sứ giả đến gặp Si-hôn, vua của dân A-mô-rít, tại Hết-bôn, và nói: ‘Xin ngài cho chúng tôi đi ngang qua lãnh thổ của ngài để đến xứ của chúng tôi.’ 20. Nhưng Si-hôn không tin dân Y-sơ-ra-ên để cho họ đi ngang qua xứ của mình. Si-hôn đã tập hợp toàn thể dân chúng kéo đến đóng trại tại Gia-hát, rồi tiến đánh Y-sơ-ra-ên. 21. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phó Si-hôn và toàn thể dân chúng của hắn vào tay của Y-sơ-ra-ên. Họ đã đánh bại chúng rồi chiếm toàn bộ đất của A-mô-rít, là cư dân trong xứ. 22. Họ đã chiếm toàn bộ đất của dân A-mô-rít, từ Ạt-nôn cho đến Gia-bốc, và từ hoang mạc cho đến sông Giô-đanh. 23. Thật vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã đuổi dân A-mô-rít khỏi trước mặt dân của Ngài là Y-sơ-ra-ên, thế mà bây giờ ông lại muốn chiếm đất của họ hay sao? 24. Không phải ông nhận được đất mà Kê-mốt, là thần của ông, đã ban cho ông hay sao? Cũng vậy, chúng ta cũng chiếm hữu đất của những kẻ nào mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta đã đuổi khỏi trước mặt của chúng ta. 25. Hơn nữa, ông có trổi hơn Ba-lác, con trai của Xếp-bô, vua của Mô-áp hay không? Có khi nào ông ấy tranh chấp hay giao chiến với Y-sơ-ra-ên hay không? 26. Trong ba trăm năm, Y-sơ-ra-ên đã ở tại Hết-bôn và vùng phụ cận, A-rô-e và vùng phụ cận, cùng tất cả các thành dọc theo bờ của Ạt-nôn. Tại sao ông không lấy lại các thành ấy trong thời gian đó? 27. Như vậy, tôi không có phạm lỗi gì với ông, nhưng ông đã sai quấy mà gây chiến với tôi. Nguyện Đức Giê-hô-va, là Đấng phán xét, hôm nay sẽ phân xử giữa dân Y-sơ-ra-ên và dân Am-môn!” 28. Nhưng vua của dân Am-môn không nghe lời các sứ giả của Giép-thê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29. Bấy giờ, Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên Giép-thê, ông đi qua Ga-la-át và Ma-na-se, đến Mích-ba thuộc Ga-la-át, rồi từ Mích-ba thuộc Ga-la-át, ông vượt qua lãnh thổ của dân Am-môn. 30. Giép-thê khấn hứa với Đức Giê-hô-va rằng: “Nếu Ngài phó dân Am-môn vào tay của con thì khi thắng trận trở về, 31. bất cứ người hay vật nào từ cửa nhà của con, đi ra đón rước con, thì người hay vật đó sẽ thuộc về Đức Giê-hô-va, và con sẽ dâng làm tế lễ thiêu.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32. Giép-thê đã vượt sang lãnh thổ của dân Am-môn, và Đức Giê-hô-va đã phó chúng vào tay của ông. 33. Ông đánh bại chúng từ A-rô-e cho đến vùng phụ cận của Mi-nít, cho đến tận A-bên Kê-ra-mim, và chiếm được hai mươi thành. Đó là một cuộc tàn sát rất lớn. Dân Am-môn bị đại bại và chịu khuất phục trước dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34. Giép-thê trở về nhà của mình tại Mích-ba.  Kìa, con gái của ông cầm trống nhỏ nhảy múa đón rước ông. Nàng là con duy nhất của ông. Ngoài nàng, ông không có con trai hay con gái nào khác. 35. Giép-thê vừa thấy nàng, liền xé y phục của mình, rồi nói: “Ôi! Con gái của cha, con làm cho cha khốn khổ vô cùng! Con thuộc vào số những kẻ làm cho cha rối trí, bởi vì cha có mở miệng khấn hứa với Đức Giê-hô-va và không thể nuốt lời.” 36. Nàng nói với ông: “Thưa cha! Nếu cha đã mở miệng khấn hứa với Đức Giê-hô-va, xin cứ làm cho con đúng như lời cha đã hứa, bởi vì bây giờ Đức Giê-hô-va đã báo trả dân Am-môn, là những kẻ thù của cha.” 37. Nàng nói với cha của mình: “Hãy làm cho con điều nầy. Hãy để cho con đơn độc trong hai tháng. Con sẽ đi rong chơi trên núi, rồi cùng với những người bạn của con than khóc về thân phận trinh nữ của con.” 38. Giép-thê trả lời: “Con cứ đi!” Rồi ông để nàng đi trong hai tháng. Nàng đi với các bạn của nàng, khóc cho thân phận trinh nữ của mình trên núi. 39. Sau hai tháng, nàng trở về với cha của mình, và ông đã thực hiện điều mà ông đã khấn hứa về nàng. Nàng không hề biết một người nam nào. Kể từ đó, dân Y-sơ-ra-ên có tục lệ nầy: 40. Năm nầy sang năm khác, các cô gái Y-sơ-ra-ên đã đi ra, nhắc lại về con gái của Giép-thê, người Ga-la-át, bốn ngày mỗi năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Giép-thê, người Ga-la-át, là tay dõng sĩ, con của một người kỵ nữ, và cha là Ga-la-át. 2.  Vợ của Ga-la-át có sanh cho người những con trai. Khi các con trai của vợ ấy lớn lên, bèn đuổi Giép-thê đi, mà rằng: Mầy không được ăn phần gia tài trong nhà cha chúng ta, vì mầy là con của người đàn bà khác. 3.  Vậy, Giép-thê trốn xa anh em mình, và ở trong xứ Tóp. Có những đứa du đãng hiệp lại chung quanh Giép-thê, và đi ra với người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Sau một ít lâu, dân Am-môn giao chiến cùng Y-sơ-ra-ên. 5.  Trong lúc dân Am-môn đánh Y-sơ-ra-ên, các trưởng lão Ga-la-át đi đem Giép-thê ở xứ Tóp về. 6.  Họ nói cùng người rằng: Xin hãy đến làm quan tướng chúng ta, chúng ta sẽ đánh dân Am-môn. 7.  Nhưng Giép-thê đáp cùng các trưởng lão Ga-la-át rằng: Các ông há chẳng phải là kẻ ghét tôi và đuổi tôi khỏi nhà cha tôi sao? Còn bây giờ các ông đang bị cùng-khốn, sao lại đến tôi? 8.  Các trưởng lão Ga-la-át đáp cùng Giép-thê rằng: Bây giờ chúng ta lại đến cùng ngươi, hầu cho ngươi đi với chúng ta: ngươi sẽ đánh dân Am-môn, rồi sẽ làm đầu của chúng ta, và của hết thảy dân xứ Ga-la-át. 9.  Giép-thê lại đáp cùng các trưởng lão Ga-la-át rằng: Ví bằng các ông đem tôi về đặng đánh dân Am-môn, và nếu Đức Giê-hô-va phó chúng nó vào tay tôi, thì tôi sẽ làm đầu các ông chớ. 10.  Các trưởng lão Ga-la-át nói cùng Giép-thê rằng: Chúng ta quả sẽ làm y như lời ngươi đã nói; nguyện Đức Giê-hô-va làm chứng giữa chúng ta! 11.  Vậy, Giép-thê đi cùng các trưởng lão Ga-la-át; dân sự lập người làm đầu và tướng; rồi tại Mích-ba Giép-thê lặp lại trước mặt Đức Giê-hô-va hết thảy những lời người đã nói. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Đoạn Giép-thê sai sứ giả đến cùng vua dân Am-môn mà nói rằng: Ta với ngươi có việc chi, nên ngươi kéo đến ta đặng hãm đánh xứ ta? 13.  Vua dân Am-môn đáp cùng sứ giả Giép-thê rằng: Ấy bởi Y-sơ-ra-ên khi ra khỏi nước Ê-díp-tô, có chiếm lấy xứ ta từ Ạt-nôn cho đến Gia-bốc và Giô-đanh. Bây giờ hãy trả êm lại xứ ấy cho ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Giép-thê lại sai sứ giả đến cùng vua dân Am-môn đặng nói rằng: 15.  Giép-thê nói như vầy: Y-sơ-ra-ên không có xâm đoạt địa phận Mô-áp, cũng chẳng có chiếm lấy xứ của dân Am-môn. 16.  Song khi Y-sơ-ra-ên ra xứ Ê-díp-tô, thì đi ngang qua đồng vắng cho đến Biển đỏ, rồi tới Ca-đe. 17.  Bấy giờ, người sai sứ giả đến vua Ê-đôm đặng tâu rằng: Xin cho tôi đi ngang qua xứ vua. Nhưng vua Ê-đôm không bằng lòng. Người cũng sai sứ giả đến vua Mô-áp, vua Mô-áp cũng không khứng cho, nên Y-sơ-ra-ên cứ ở tại Ca-đe. 18.  Đoạn, người lại đi vào đồng vắng, vòng quanh xứ Ê-đôm và xứ Mô-áp; rồi đến cõi phía đông xứ Mô-áp. Người hạ trại ở bên kia Ạt-nôn, không vào bờ cõi Mô-áp; vì Ạt-nôn là giới hạn của xứ Mô-áp. 19.  Rốt lại, Y-sơ-ra-ên sai sứ giả đến cùng Si-hôn, vua người A-mô-rít, ở tại Bết-hôn, và dặn nói rằng: Xin để cho chúng tôi đi ngang qua xứ vua đặng đến xứ chúng tôi. 20.  Nhưng Si-hôn không đủ tin dân Y-sơ-ra-ên, nên không cho đi ngang qua xứ mình, bèn hiệp lại cả cơ binh mình, kéo đến đóng trại tại Gia-hát và chống đấu cùng Y-sơ-ra-ên. 21.  Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phó Si-hôn và cả cơ binh người vào tay Y-sơ-ra-ên. Y-sơ-ra-ên đánh bại chúng nó, và lấy toàn xứ dân A-mô-rít, là dân ở miền đó. 22.  Vậy, Y-sơ-ra-ên nhận được toàn xứ dân A-mô-rít, từ Ạt-nôn cho đến Gia-bốc, và từ đồng vắng cho đến Giô-đanh. 23.  Vậy bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã đuổi dân A-mô-rít khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên của Ngài rồi, thì ngươi lại muốn chiếm lấy xứ của họ sao! 24.  Ngươi há chẳng nhận được đất mà Kê-mốt, là thần của ngươi, đã ban cho ngươi sao? Thế thì, chúng ta cũng nhận được đất của những kẻ nào mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã đuổi khỏi trước mặt chúng ta. 25.  Vả lại, ngươi cho trổi hơn Ba-lác, con trai Xếp-bô, vua Mô-áp chăng? Hắn há có khi nào cãi cọ hay là chiến đấu cùng Y-sơ-ra-ên chăng? 26.  Đang lúc ba trăm năm mà Y-sơ-ra-ên ở tại Hết-bôn và các thành địa hạt nó, A-rô-e và các thành địa hạt nó, cùng hết thảy các thành ở dọc theo Ạt-nôn, sao ngươi không lấy nó lại trong khi đó? 27.  Vậy, ta không có phạm tội cùng ngươi, nhưng ngươi đã làm quấy cùng ta mà hãm đánh ta. Nguyện Đức Giê-hô-va, là Đấng đoán xét, ngày nay xét đoán giữa dân Y-sơ-ra-ên và dân Am-môn! 28.  Nhưng vua dân Am-môn không khứng nghe lời của Giép-thê sai nói cùng người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29.  Thần của Đức Giê-hô-va bèn cảm động Giép-thê; người trải qua Ga-la-át và Ma-na-se, sang đến Mích-ba ở Ga-la-át, rồi từ Mích-ba ở Ga-la-át, người đi đánh dân Am-môn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30.  Giép-thê khẩn nguyện cùng Đức Giê-hô-va rằng: Nếu Ngài phó dân Am-môn vào tay tôi, khi tôi thắng chúng nó trở về, 31.  hễ chi ở cửa nhà tôi đi ra đầu hết đặng đón rước tôi, thì nấy sẽ thuộc về Đức Chúa Trời, và tôi sẽ dâng nó làm của lễ thiêu. 32.  Đoạn, Giép-thê đi đến dân Am-môn đặng giao chiến cùng chúng nó, và Đức Giê-hô-va phó chúng nó vào tay người. 33.  Người đánh bại chúng nó từ A-rô-e cho đến Mi-nít, và cho đến A-bên-Kê-ra-mim, cùng chiếm lấy của chúng nó hai mươi cái thành. Ấy là một trận-bại rất lớn; dân Am-môn bị phục trước mặt dân Y-sơ-ra-ên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34.  Giép-thê trở về nhà mình tại Mích-ba; kìa, con gái người ra đón-rước người, có cầm trống nhỏ và nhảy múa. Nàng là con một của người, ngoài nàng chẳng có con trai hoặc con gái nào khác hơn. 35.  Giép-thê vừa thấy nàng, liền xé áo mình mà rằng: Ớ con, than ôi! con gây cho cha tức tối quá thay! Con thuộc vào số kẻ làm rối cha! Vì cha có mở miệng khấn nguyện cùng Đức Giê-hô-va, không thế nuốt lời. 36.  Nàng thưa rằng: Cha ôi, nếu cha có mở miệng khấn nguyện cùng Đức Giê-hô-va, xin hãy làm cho con y như lời ra khỏi miệng cha, vì bây giờ Đức Giê-hô-va đã báo thù kẻ cừu địch cha rồi, tức là dân Am-môn. 37.  Đoạn, nàng lại nói cùng cha mình rằng: Xin cha hãy nhậm cho con lời nầy: Để cho con thong thả trong hai tháng, con sẽ đi ở trên núi đặng cùng chị em bạn con khóc về sự đồng trinh của con. 38.  Giép-thê đáp rằng: Con cứ đi. Rồi người để nàng đi hai tháng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vậy, nàng đi cùng chị em bạn mình, khóc sự đồng trinh mình tại trên núi. 39.  Cuối hai tháng, nàng trở về cha mình, và người làm cho nàng tùy theo lời khấn nguyện mình đã hứa. Nàng chẳng có biết người nam. Tại cớ đó trong Y-sơ-ra-ên có thường lệ nầy: 40.  Mỗi năm, các con gái Y-sơ-ra-ên đi than khóc con gái của Giép-thê, người Ga-la-át, trong bốn ngày. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B07\V02B07C011.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Giép-thê'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Giép-thê người Ghi-lê-át là một dũng sĩ, nhưng mẹ của ông là một gái điếm; Ghi-lê-át là cha của Giép-thê.  2 Sau đó vợ của Ghi-lê-át sinh được các con trai.  Khi các con trai ấy lớn lên, chúng đuổi Giép-thê đi và bảo rằng, “Anh không được hưởng gia tài trong gia đình này, vì anh là con ngoại hôn của người đàn bà khác.”  3 Vậy Giép-thê lánh xa các em mình và đến sống tại xứ Tóp.  Những kẻ lãng tử tụ hiệp quanh ông và theo ông đi tung hoành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Một thời gian sau đó, dân Am-môn kéo ra giao chiến với dân I-sơ-ra-ên.  5 Khi dân Am-môn kéo ra giao chiến với dân I-sơ-ra-ên, các trưởng lão ở Ghi-lê-át đến xứ Tóp mời Giép-thê về.  6 Họ nói với Giép-thê, “Xin về lãnh đạo chúng tôi để đối phó với dân Am-môn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Nhưng Giép-thê đáp với các trưởng lão của Ghi-lê-át, “Quý vị há chẳng ghét tôi và đuổi tôi khỏi nhà cha tôi sao?  Tại sao bây giờ khi gặp hoạn nạn quý vị lại đến với tôi?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Các trưởng lão của Ghi-lê-át đáp với Giép-thê, “Xin ông bỏ qua chuyện cũ, bây giờ chúng tôi đều quay về với ông; xin ông hãy đi với chúng tôi để đánh dân Am-môn, và xin ông làm thủ lãnh tất cả chúng tôi ở Ghi-lê-át.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Giép-thê nói với các trưởng lão của Ghi-lê-át, “Quý vị mời tôi về đánh dân Am-môn và nếu CHÚA phó dân Am-môn vào tay tôi, liệu quý vị có thật sự để tôi làm thủ lãnh của quý vị không?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Các trưởng lão của Ghi-lê-át đáp với Giép-thê, “Xin CHÚA làm chứng.  Chúng tôi quả quyết sẽ làm theo điều ông nói.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Vậy Giép-thê đi với các trưởng lão của Ghi-lê-át.  Dân Ghi-lê-át lập ông làm thủ lãnh và thống soái của họ.  Rồi tại Mích-pa, ông lặp lại mọi lời ông đã giao kết trước mặt CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Sau đó Giép-thê sai sứ đến với vua Am-môn và hỏi, “Chúng tôi với ngài có thù nghịch chi mà ngài xua quân hãm đánh đất nước chúng tôi?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Vua Am-môn trả lời các sứ giả của Giép-thê, “Ðó là vì khi dân I-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, các ngươi đã chiếm đất của ta từ Ạc-nôn đến Gia-bốc và đến tận Sông Giô-đanh.  Vậy bây giờ hãy êm thắm trả lại cho ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Giép-thê sai các sứ giả trở lại vua Am-môn, 15 và nói, “Giép-thê nói thế này: I-sơ-ra-ên không lấy đất của Mô-áp hoặc đất của người Am-môn.  16 Nhưng khi ra khỏi Ai-cập, dân I-sơ-ra-ên đã đi qua đồng hoang để đến Hồng Hải, rồi tiếp tục đến Ca-đe.  17 Khi ấy I-sơ-ra-ên đã sai các sứ giả đến thưa với vua Ê-đôm rằng, ‘Xin cho phép chúng tôi đi ngang qua xứ của ngài.’  Nhưng vua Ê-đôm không chấp thuận.  Họ bèn sai các sứ giả đến với vua Mô-áp, nhưng vua ấy cũng chối từ.  Vậy dân I-sơ-ra-ên đành phải ở lại Ca-đe.  18 Sau đó I-sơ-ra-ên phải đi tiếp vô đồng hoang và đi vòng bên ngoài lãnh thổ của Ê-đôm và Mô-áp, rồi đi dọc theo biên giới phía đông của nước Mô-áp, và hạ trại phía bên kia của Ạc-nôn.  Họ không vào lãnh thổ của Mô-áp, vì Ạc-nôn là ranh giới của Mô-áp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Kế đó I-sơ-ra-ên đã sai các sứ giả đến Si-hôn vua dân A-mô-ri đang trị vì tại Hếch-bôn và thưa rằng, ‘Xin cho phép chúng tôi đi ngang qua nước của ngài để vào xứ của chúng tôi.’  20 Tuy nhiên Si-hôn không tin tưởng dân I-sơ-ra-ên nên đã không cho họ đi ngang qua nước của ông ấy.  Ðã thế ông ấy còn triệu tập tất cả quân đội của ông đến và hạ trại tại Gia-ha để đánh I-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Bấy giờ CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, đã trao Si-hôn và tất cả quân đội của ông ấy vào tay I-sơ-ra-ên.  I-sơ-ra-ên đánh bại họ và chiếm toàn xứ của dân A-mô-ri sống lúc bấy giờ.  22 Họ tiếp thu cả xứ của dân A-mô-ri, từ Ạc-nôn cho đến Gia-bốc, từ trong đồng hoang cho đến Sông Giô-đanh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Vậy CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, đã đuổi dân A-mô-ri đi khỏi trước mặt dân I-sơ-ra-ên của Ngài, bây giờ ngài lấy quyền gì mà đòi những đất ấy lại?  24 Ngài há chẳng nhận lấy những gì mà Kê-mốt, thần của ngài, ban cho ngài sao?  Cũng vậy, những gì mà CHÚA, Ðức Chúa Trời của chúng tôi, ban cho chúng tôi, thì chúng tôi giữ.  25 Ngài há giỏi hơn Ba-lác con trai Xíp-pô vua Mô-áp chăng?  Ông ấy có bao giờ tranh chấp hay chống chọi với I-sơ-ra-ên chăng?  26 Trong ba trăm năm, I-sơ-ra-ên chiếm lấy Hếch-bôn và các vùng phụ cận của nó, A-rô-e và các vùng phụ cận của nó, cùng tất cả các thành dọc theo Ạc-nôn; tại sao trong khoảng thời gian đó ngài không đòi chúng lại?  27 Tôi không làm gì sai đối với ngài, nhưng ngài đã làm điều sai với tôi, vì ngài đã gây chiến chống lại tôi.  Cầu xin CHÚA, Ðấng Phán Xét, sẽ đoán xét giữa dân I-sơ-ra-ên và dân Am-môn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Tuy nhiên vua Am-môn không thèm để ý đến những lời của Giép-thê sai người đến phân giải với ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29 Bấy giờ Thần của CHÚA ngự trên Giép-thê.  Ông băng qua Ghi-lê-át và Ma-na-se, rồi vượt qua Mích-pa ở Ghi-lê-át, và từ đó ông tiến đánh dân Am-môn.  30 Giép-thê khấn nguyện với CHÚA rằng, “Nếu CHÚA phó dân Am-môn vào tay con, 31 thì khi con chiến thắng dân Am-môn trở về bình an, bất cứ ai từ cửa nhà con ra đón con sẽ thuộc về CHÚA, con sẽ dâng người ấy làm của lễ thiêu.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32 Ðoạn Giép-thê tiến đánh dân Am-môn, và CHÚA phó chúng vào tay ông.  33 Ông đánh hạ hai mươi thành của chúng, từ A-rô-e cho đến vùng phụ cận của Min-nít, kéo dài đến A-bên Kê-ra-mim.  Ấy là một cuộc tàn sát rất lớn.  Vì thế dân Am-môn bị khuất phục trước mặt dân I-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34 Khi Giép-thê trở về nhà ông tại Mích-pa; kìa, con gái của ông cầm trống con đi ra nhảy múa đón mừng ông.  Nàng lại là đứa con một của ông.  Ngoài nàng ra Giép-thê không có con trai hay con gái nào khác.  35 Khi Giép-thê thấy nàng, ông xé áo ông và khóc, “Ôi, con gái của cha, con làm cho cha đau khổ và khó xử biết bao, bởi vì cha đã khấn nguyện với CHÚA, và cha không thể nuốt lời được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36 Nàng đáp, “Thưa cha, nếu cha đã có lời khấn nguyện với CHÚA, xin cha hãy làm cho con y như những lời cha đã khấn nguyện, vì bây giờ CHÚA đã báo trả những kẻ thù của cha, tức dân Am-môn, rồi.”  37 Nàng lại nói với ông, “Nhưng xin cha cho con xin điều này: xin cha cho con hai tháng để rong chơi trên núi và để cùng bạn bè của con khóc cho sự đồng trinh của con.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38 Ông đáp, “Con cứ đi.”  Rồi ông để nàng đi hai tháng.  Nàng và các bạn của nàng lên núi và khóc cho sự đồng trinh của nàng.  39 Sau hai tháng, nàng trở về với cha nàng, và ông đã làm cho nàng như lời ông đã khấn nguyện.  Nàng chẳng hề biết một người nam nào. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kể từ đó trong I-sơ-ra-ên có tục lệ, 40 hằng năm các thiếu nữ trong I-sơ-ra-ên dành bốn ngày để than khóc con gái của Giép-thê người Ghi-lê-át.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Giô-suê]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 10]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 12]]&lt;br /&gt;
:* [[Ru-tơ]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_11&amp;diff=35790</id>
		<title>Các Quan Xét: Chương 11</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_11&amp;diff=35790"/>
		<updated>2026-08-27T14:56:06Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Giép-thê, người Ga-la-át, là một dũng sĩ can trường, nhưng ông là con của một gái điếm. Cha của ông là Ga-la-át. 2. Vợ của Ga-la-át sinh nhiều con trai. Khi các con trai của vợ ông lớn lên, họ đuổi Giép-thê ra, và nói: “Mầy không được hưởng phần sản nghiệp trong nhà cha của chúng ta, bởi vì mầy là con của một người đàn bà khác.” 3. Giép-thê đã lánh xa khỏi các anh em của mình, đến cư ngụ trong xứ Tóp. Có những du đãng tụ tập quanh ông, rồi đi ăn cướp với ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Một thời gian sau, dân Am-môn gây chiến với Y-sơ-ra-ên. 5. Khi dân Am-môn tiến đánh Y-sơ-ra-ên, lúc đó các trưởng lão của Ga-la-át đi đến xứ Tóp mời Giép-thê về. 6. Họ nói với ông: “Xin hãy trở về lãnh đạo chúng tôi, để chúng tôi có thể đánh lại dân Am-môn.” 7. Nhưng Giép-thê nói với các trưởng lão của Ga-la-át: “Không phải các ông đã ghét tôi, đã đuổi tôi ra khỏi nhà cha của tôi hay sao? Rồi bây giờ khi các ông bị khốn khổ, tại sao các ông lại đến với tôi?” 8. Các trưởng lão của Ga-la-át nói với Giép-thê: “Thật vậy, bây giờ chúng tôi trở lại với ông, để ông đi với chúng tôi chống lại dân Am-môn. Ông sẽ là lãnh tụ của chúng tôi để lãnh đạo tất cả dân Ga-la-át.” 9. Giép-thê hỏi lại các trưởng lão của Ga-la-át: “Nếu các ông đem tôi về để đánh dân Am-môn, và nếu Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay tôi, có chắc rằng tôi sẽ là lãnh tụ của các ông hay không?” 10. Các trưởng lão của Ga-la-át nói với Giép-thê: “Chúng tôi sẽ làm đúng như lời ông nói. Nguyện Đức Giê-hô-va làm chứng giữa chúng ta!” 11. Vì vậy, Giép-thê đã đi với các trưởng lão của Ga-la-át. Dân chúng đã lập ông làm lãnh tụ và là chỉ huy của họ. Tại Mích-ba, Giép-thê lặp lại trước mặt Đức Giê-hô-va mọi lời ông đã nói.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Giép-thê sai các sứ giả đến với vua của dân Am-môn, nói rằng: “Tôi với ông có chuyện gì mà ông đến đất nước tôi để đánh tôi?” 13. Vua của dân Am-môn trả lời với các sứ giả của Giép-thê rằng: “Bởi vì Y-sơ-ra-ên đã chiếm đất của ta từ Ạt-nôn, đến Gia-bốc, cho đến tận sông Giô-đanh vào lúc họ ra khỏi Ai Cập. Vì vậy, bây giờ hãy trả lại đất cách êm thắm.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Giép-thê sai các sứ giả trở lại với vua của dân Am-môn. 15. Hãy nói với người là Giép-thê nói như thế nầy: &amp;quot;Y-sơ-ra-ên không xâm chiếm đất của dân Mô-áp hay của dân Am-môn. 16. Nhưng xuất phát từ Ai Cập, Y-sơ-ra-ên đã đi ngang qua hoang mạc để đến Biển Đỏ, rồi đến Ca-đe. 17. Lúc đó, Y-sơ-ra-ên đã sai các sứ giả đến gặp vua của Ê-đôm và nói rằng: ‘Xin ngài cho chúng tôi đi ngang qua lãnh thổ của ngài,’ nhưng vua của Ê-đôm đã không bằng lòng. Cũng vậy, họ đã sai các sứ giả đến gặp vua của Mô-áp, và vua nầy cũng từ chối, nên dân Y-sơ-ra-ên cứ ở tại Ca-đe. 18. Sau đó, họ phải đi vòng qua hoang mạc, để tránh đất của Ê-đôm và đất của Mô-áp, rồi đến phía đông của đất Mô-áp. Họ đã đóng trại ở bên kia Ạt-nôn, nhưng không vào địa phận của Mô-áp, bởi vì Ạt-nôn là biên giới của Mô-áp. 19. Y-sơ-ra-ên đã sai các sứ giả đến gặp Si-hôn, vua của dân A-mô-rít, tại Hết-bôn, và nói: ‘Xin ngài cho chúng tôi đi ngang qua lãnh thổ của ngài để đến xứ của chúng tôi.’ 20. Nhưng Si-hôn không tin dân Y-sơ-ra-ên để cho họ đi ngang qua xứ của mình. Si-hôn đã tập hợp toàn thể dân chúng kéo đến đóng trại tại Gia-hát, rồi tiến đánh Y-sơ-ra-ên. 21. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phó Si-hôn và toàn thể dân chúng của hắn vào tay của Y-sơ-ra-ên. Họ đã đánh bại chúng rồi chiếm toàn bộ đất của A-mô-rít, là cư dân trong xứ. 22. Họ đã chiếm toàn bộ đất của dân A-mô-rít, từ Ạt-nôn cho đến Gia-bốc, và từ hoang mạc cho đến sông Giô-đanh. 23. Thật vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã đuổi dân A-mô-rít khỏi trước mặt dân của Ngài là Y-sơ-ra-ên, thế mà bây giờ ông lại muốn chiếm đất của họ hay sao? 24. Không phải ông nhận được đất mà Kê-mốt, là thần của ông, đã ban cho ông hay sao? Cũng vậy, chúng ta cũng chiếm hữu đất của những kẻ nào mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta đã đuổi khỏi trước mặt của chúng ta. 25. Hơn nữa, ông có trổi hơn Ba-lác, con trai của Xếp-bô, vua của Mô-áp hay không? Có khi nào ông ấy tranh chấp hay giao chiến với Y-sơ-ra-ên hay không? 26. Trong ba trăm năm, Y-sơ-ra-ên đã ở tại Hết-bôn và vùng phụ cận, A-rô-e và vùng phụ cận, cùng tất cả các thành dọc theo bờ của Ạt-nôn. Tại sao ông không lấy lại các thành ấy trong thời gian đó? 27. Như vậy, tôi không có phạm lỗi gì với ông, nhưng ông đã sai quấy mà gây chiến với tôi. Nguyện Đức Giê-hô-va, là Đấng phán xét, hôm nay sẽ phân xử giữa dân Y-sơ-ra-ên và dân Am-môn!” 28. Nhưng vua của dân Am-môn không nghe lời các sứ giả của Giép-thê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29. Bấy giờ, Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên Giép-thê, ông đi qua Ga-la-át và Ma-na-se, đến Mích-ba thuộc Ga-la-át, rồi từ Mích-ba thuộc Ga-la-át, ông vượt qua lãnh thổ của dân Am-môn. 30. Giép-thê khấn hứa với Đức Giê-hô-va rằng: “Nếu Ngài phó dân Am-môn vào tay của con thì khi thắng trận trở về, 31. bất cứ người hay vật nào từ cửa nhà của con, đi ra đón rước con, thì người hay vật đó sẽ thuộc về Đức Giê-hô-va, và con sẽ dâng làm tế lễ thiêu.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32. Giép-thê đã vượt sang lãnh thổ của dân Am-môn, và Đức Giê-hô-va đã phó chúng vào tay của ông. 33. Ông đánh bại chúng từ A-rô-e cho đến vùng phụ cận của Mi-nít, cho đến tận A-bên Kê-ra-mim, và chiếm được hai mươi thành. Đó là một cuộc tàn sát rất lớn. Dân Am-môn bị đại bại và chịu khuất phục trước dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34. Giép-thê trở về nhà của mình tại Mích-ba.  Kìa, con gái của ông cầm trống nhỏ nhảy múa đón rước ông. Nàng là con duy nhất của ông. Ngoài nàng, ông không có con trai hay con gái nào khác. 35. Giép-thê vừa thấy nàng, liền xé y phục của mình, rồi nói: “Ôi! Con gái của cha, con làm cho cha khốn khổ vô cùng! Con thuộc vào số những kẻ làm cho cha rối trí, bởi vì cha có mở miệng khấn hứa với Đức Giê-hô-va và không thể nuốt lời.” 36. Nàng nói với ông: “Thưa cha! Nếu cha đã mở miệng khấn hứa với Đức Giê-hô-va, xin cứ làm cho con đúng như lời cha đã hứa, bởi vì bây giờ Đức Giê-hô-va đã báo trả dân Am-môn, là những kẻ thù của cha.” 37. Nàng nói với cha của mình: “Hãy làm cho con điều nầy. Hãy để cho con đơn độc trong hai tháng. Con sẽ đi rong chơi trên núi, rồi cùng với những người bạn của con than khóc về thân phận trinh nữ của con.” 38. Giép-thê trả lời: “Con cứ đi!” Rồi ông để nàng đi trong hai tháng. Nàng đi với các bạn của nàng, khóc cho thân phận trinh nữ của mình trên núi. 39. Sau hai tháng, nàng trở về với cha của mình, và ông đã thực hiện điều mà ông đã khấn hứa về nàng. Nàng không hề biết một người nam nào. Kể từ đó, dân Y-sơ-ra-ên có tục lệ nầy: 40. Năm nầy sang năm khác, các cô gái Y-sơ-ra-ên đã đi ra để nhắc lại về con gái của Giép-thê, người Ga-la-át, bốn ngày mỗi năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Giép-thê, người Ga-la-át, là tay dõng sĩ, con của một người kỵ nữ, và cha là Ga-la-át. 2.  Vợ của Ga-la-át có sanh cho người những con trai. Khi các con trai của vợ ấy lớn lên, bèn đuổi Giép-thê đi, mà rằng: Mầy không được ăn phần gia tài trong nhà cha chúng ta, vì mầy là con của người đàn bà khác. 3.  Vậy, Giép-thê trốn xa anh em mình, và ở trong xứ Tóp. Có những đứa du đãng hiệp lại chung quanh Giép-thê, và đi ra với người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Sau một ít lâu, dân Am-môn giao chiến cùng Y-sơ-ra-ên. 5.  Trong lúc dân Am-môn đánh Y-sơ-ra-ên, các trưởng lão Ga-la-át đi đem Giép-thê ở xứ Tóp về. 6.  Họ nói cùng người rằng: Xin hãy đến làm quan tướng chúng ta, chúng ta sẽ đánh dân Am-môn. 7.  Nhưng Giép-thê đáp cùng các trưởng lão Ga-la-át rằng: Các ông há chẳng phải là kẻ ghét tôi và đuổi tôi khỏi nhà cha tôi sao? Còn bây giờ các ông đang bị cùng-khốn, sao lại đến tôi? 8.  Các trưởng lão Ga-la-át đáp cùng Giép-thê rằng: Bây giờ chúng ta lại đến cùng ngươi, hầu cho ngươi đi với chúng ta: ngươi sẽ đánh dân Am-môn, rồi sẽ làm đầu của chúng ta, và của hết thảy dân xứ Ga-la-át. 9.  Giép-thê lại đáp cùng các trưởng lão Ga-la-át rằng: Ví bằng các ông đem tôi về đặng đánh dân Am-môn, và nếu Đức Giê-hô-va phó chúng nó vào tay tôi, thì tôi sẽ làm đầu các ông chớ. 10.  Các trưởng lão Ga-la-át nói cùng Giép-thê rằng: Chúng ta quả sẽ làm y như lời ngươi đã nói; nguyện Đức Giê-hô-va làm chứng giữa chúng ta! 11.  Vậy, Giép-thê đi cùng các trưởng lão Ga-la-át; dân sự lập người làm đầu và tướng; rồi tại Mích-ba Giép-thê lặp lại trước mặt Đức Giê-hô-va hết thảy những lời người đã nói. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Đoạn Giép-thê sai sứ giả đến cùng vua dân Am-môn mà nói rằng: Ta với ngươi có việc chi, nên ngươi kéo đến ta đặng hãm đánh xứ ta? 13.  Vua dân Am-môn đáp cùng sứ giả Giép-thê rằng: Ấy bởi Y-sơ-ra-ên khi ra khỏi nước Ê-díp-tô, có chiếm lấy xứ ta từ Ạt-nôn cho đến Gia-bốc và Giô-đanh. Bây giờ hãy trả êm lại xứ ấy cho ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Giép-thê lại sai sứ giả đến cùng vua dân Am-môn đặng nói rằng: 15.  Giép-thê nói như vầy: Y-sơ-ra-ên không có xâm đoạt địa phận Mô-áp, cũng chẳng có chiếm lấy xứ của dân Am-môn. 16.  Song khi Y-sơ-ra-ên ra xứ Ê-díp-tô, thì đi ngang qua đồng vắng cho đến Biển đỏ, rồi tới Ca-đe. 17.  Bấy giờ, người sai sứ giả đến vua Ê-đôm đặng tâu rằng: Xin cho tôi đi ngang qua xứ vua. Nhưng vua Ê-đôm không bằng lòng. Người cũng sai sứ giả đến vua Mô-áp, vua Mô-áp cũng không khứng cho, nên Y-sơ-ra-ên cứ ở tại Ca-đe. 18.  Đoạn, người lại đi vào đồng vắng, vòng quanh xứ Ê-đôm và xứ Mô-áp; rồi đến cõi phía đông xứ Mô-áp. Người hạ trại ở bên kia Ạt-nôn, không vào bờ cõi Mô-áp; vì Ạt-nôn là giới hạn của xứ Mô-áp. 19.  Rốt lại, Y-sơ-ra-ên sai sứ giả đến cùng Si-hôn, vua người A-mô-rít, ở tại Bết-hôn, và dặn nói rằng: Xin để cho chúng tôi đi ngang qua xứ vua đặng đến xứ chúng tôi. 20.  Nhưng Si-hôn không đủ tin dân Y-sơ-ra-ên, nên không cho đi ngang qua xứ mình, bèn hiệp lại cả cơ binh mình, kéo đến đóng trại tại Gia-hát và chống đấu cùng Y-sơ-ra-ên. 21.  Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phó Si-hôn và cả cơ binh người vào tay Y-sơ-ra-ên. Y-sơ-ra-ên đánh bại chúng nó, và lấy toàn xứ dân A-mô-rít, là dân ở miền đó. 22.  Vậy, Y-sơ-ra-ên nhận được toàn xứ dân A-mô-rít, từ Ạt-nôn cho đến Gia-bốc, và từ đồng vắng cho đến Giô-đanh. 23.  Vậy bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã đuổi dân A-mô-rít khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên của Ngài rồi, thì ngươi lại muốn chiếm lấy xứ của họ sao! 24.  Ngươi há chẳng nhận được đất mà Kê-mốt, là thần của ngươi, đã ban cho ngươi sao? Thế thì, chúng ta cũng nhận được đất của những kẻ nào mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã đuổi khỏi trước mặt chúng ta. 25.  Vả lại, ngươi cho trổi hơn Ba-lác, con trai Xếp-bô, vua Mô-áp chăng? Hắn há có khi nào cãi cọ hay là chiến đấu cùng Y-sơ-ra-ên chăng? 26.  Đang lúc ba trăm năm mà Y-sơ-ra-ên ở tại Hết-bôn và các thành địa hạt nó, A-rô-e và các thành địa hạt nó, cùng hết thảy các thành ở dọc theo Ạt-nôn, sao ngươi không lấy nó lại trong khi đó? 27.  Vậy, ta không có phạm tội cùng ngươi, nhưng ngươi đã làm quấy cùng ta mà hãm đánh ta. Nguyện Đức Giê-hô-va, là Đấng đoán xét, ngày nay xét đoán giữa dân Y-sơ-ra-ên và dân Am-môn! 28.  Nhưng vua dân Am-môn không khứng nghe lời của Giép-thê sai nói cùng người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29.  Thần của Đức Giê-hô-va bèn cảm động Giép-thê; người trải qua Ga-la-át và Ma-na-se, sang đến Mích-ba ở Ga-la-át, rồi từ Mích-ba ở Ga-la-át, người đi đánh dân Am-môn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30.  Giép-thê khẩn nguyện cùng Đức Giê-hô-va rằng: Nếu Ngài phó dân Am-môn vào tay tôi, khi tôi thắng chúng nó trở về, 31.  hễ chi ở cửa nhà tôi đi ra đầu hết đặng đón rước tôi, thì nấy sẽ thuộc về Đức Chúa Trời, và tôi sẽ dâng nó làm của lễ thiêu. 32.  Đoạn, Giép-thê đi đến dân Am-môn đặng giao chiến cùng chúng nó, và Đức Giê-hô-va phó chúng nó vào tay người. 33.  Người đánh bại chúng nó từ A-rô-e cho đến Mi-nít, và cho đến A-bên-Kê-ra-mim, cùng chiếm lấy của chúng nó hai mươi cái thành. Ấy là một trận-bại rất lớn; dân Am-môn bị phục trước mặt dân Y-sơ-ra-ên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34.  Giép-thê trở về nhà mình tại Mích-ba; kìa, con gái người ra đón-rước người, có cầm trống nhỏ và nhảy múa. Nàng là con một của người, ngoài nàng chẳng có con trai hoặc con gái nào khác hơn. 35.  Giép-thê vừa thấy nàng, liền xé áo mình mà rằng: Ớ con, than ôi! con gây cho cha tức tối quá thay! Con thuộc vào số kẻ làm rối cha! Vì cha có mở miệng khấn nguyện cùng Đức Giê-hô-va, không thế nuốt lời. 36.  Nàng thưa rằng: Cha ôi, nếu cha có mở miệng khấn nguyện cùng Đức Giê-hô-va, xin hãy làm cho con y như lời ra khỏi miệng cha, vì bây giờ Đức Giê-hô-va đã báo thù kẻ cừu địch cha rồi, tức là dân Am-môn. 37.  Đoạn, nàng lại nói cùng cha mình rằng: Xin cha hãy nhậm cho con lời nầy: Để cho con thong thả trong hai tháng, con sẽ đi ở trên núi đặng cùng chị em bạn con khóc về sự đồng trinh của con. 38.  Giép-thê đáp rằng: Con cứ đi. Rồi người để nàng đi hai tháng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vậy, nàng đi cùng chị em bạn mình, khóc sự đồng trinh mình tại trên núi. 39.  Cuối hai tháng, nàng trở về cha mình, và người làm cho nàng tùy theo lời khấn nguyện mình đã hứa. Nàng chẳng có biết người nam. Tại cớ đó trong Y-sơ-ra-ên có thường lệ nầy: 40.  Mỗi năm, các con gái Y-sơ-ra-ên đi than khóc con gái của Giép-thê, người Ga-la-át, trong bốn ngày. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B07\V02B07C011.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Giép-thê'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Giép-thê người Ghi-lê-át là một dũng sĩ, nhưng mẹ của ông là một gái điếm; Ghi-lê-át là cha của Giép-thê.  2 Sau đó vợ của Ghi-lê-át sinh được các con trai.  Khi các con trai ấy lớn lên, chúng đuổi Giép-thê đi và bảo rằng, “Anh không được hưởng gia tài trong gia đình này, vì anh là con ngoại hôn của người đàn bà khác.”  3 Vậy Giép-thê lánh xa các em mình và đến sống tại xứ Tóp.  Những kẻ lãng tử tụ hiệp quanh ông và theo ông đi tung hoành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Một thời gian sau đó, dân Am-môn kéo ra giao chiến với dân I-sơ-ra-ên.  5 Khi dân Am-môn kéo ra giao chiến với dân I-sơ-ra-ên, các trưởng lão ở Ghi-lê-át đến xứ Tóp mời Giép-thê về.  6 Họ nói với Giép-thê, “Xin về lãnh đạo chúng tôi để đối phó với dân Am-môn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Nhưng Giép-thê đáp với các trưởng lão của Ghi-lê-át, “Quý vị há chẳng ghét tôi và đuổi tôi khỏi nhà cha tôi sao?  Tại sao bây giờ khi gặp hoạn nạn quý vị lại đến với tôi?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Các trưởng lão của Ghi-lê-át đáp với Giép-thê, “Xin ông bỏ qua chuyện cũ, bây giờ chúng tôi đều quay về với ông; xin ông hãy đi với chúng tôi để đánh dân Am-môn, và xin ông làm thủ lãnh tất cả chúng tôi ở Ghi-lê-át.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Giép-thê nói với các trưởng lão của Ghi-lê-át, “Quý vị mời tôi về đánh dân Am-môn và nếu CHÚA phó dân Am-môn vào tay tôi, liệu quý vị có thật sự để tôi làm thủ lãnh của quý vị không?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Các trưởng lão của Ghi-lê-át đáp với Giép-thê, “Xin CHÚA làm chứng.  Chúng tôi quả quyết sẽ làm theo điều ông nói.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Vậy Giép-thê đi với các trưởng lão của Ghi-lê-át.  Dân Ghi-lê-át lập ông làm thủ lãnh và thống soái của họ.  Rồi tại Mích-pa, ông lặp lại mọi lời ông đã giao kết trước mặt CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Sau đó Giép-thê sai sứ đến với vua Am-môn và hỏi, “Chúng tôi với ngài có thù nghịch chi mà ngài xua quân hãm đánh đất nước chúng tôi?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Vua Am-môn trả lời các sứ giả của Giép-thê, “Ðó là vì khi dân I-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, các ngươi đã chiếm đất của ta từ Ạc-nôn đến Gia-bốc và đến tận Sông Giô-đanh.  Vậy bây giờ hãy êm thắm trả lại cho ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Giép-thê sai các sứ giả trở lại vua Am-môn, 15 và nói, “Giép-thê nói thế này: I-sơ-ra-ên không lấy đất của Mô-áp hoặc đất của người Am-môn.  16 Nhưng khi ra khỏi Ai-cập, dân I-sơ-ra-ên đã đi qua đồng hoang để đến Hồng Hải, rồi tiếp tục đến Ca-đe.  17 Khi ấy I-sơ-ra-ên đã sai các sứ giả đến thưa với vua Ê-đôm rằng, ‘Xin cho phép chúng tôi đi ngang qua xứ của ngài.’  Nhưng vua Ê-đôm không chấp thuận.  Họ bèn sai các sứ giả đến với vua Mô-áp, nhưng vua ấy cũng chối từ.  Vậy dân I-sơ-ra-ên đành phải ở lại Ca-đe.  18 Sau đó I-sơ-ra-ên phải đi tiếp vô đồng hoang và đi vòng bên ngoài lãnh thổ của Ê-đôm và Mô-áp, rồi đi dọc theo biên giới phía đông của nước Mô-áp, và hạ trại phía bên kia của Ạc-nôn.  Họ không vào lãnh thổ của Mô-áp, vì Ạc-nôn là ranh giới của Mô-áp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Kế đó I-sơ-ra-ên đã sai các sứ giả đến Si-hôn vua dân A-mô-ri đang trị vì tại Hếch-bôn và thưa rằng, ‘Xin cho phép chúng tôi đi ngang qua nước của ngài để vào xứ của chúng tôi.’  20 Tuy nhiên Si-hôn không tin tưởng dân I-sơ-ra-ên nên đã không cho họ đi ngang qua nước của ông ấy.  Ðã thế ông ấy còn triệu tập tất cả quân đội của ông đến và hạ trại tại Gia-ha để đánh I-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Bấy giờ CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, đã trao Si-hôn và tất cả quân đội của ông ấy vào tay I-sơ-ra-ên.  I-sơ-ra-ên đánh bại họ và chiếm toàn xứ của dân A-mô-ri sống lúc bấy giờ.  22 Họ tiếp thu cả xứ của dân A-mô-ri, từ Ạc-nôn cho đến Gia-bốc, từ trong đồng hoang cho đến Sông Giô-đanh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Vậy CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, đã đuổi dân A-mô-ri đi khỏi trước mặt dân I-sơ-ra-ên của Ngài, bây giờ ngài lấy quyền gì mà đòi những đất ấy lại?  24 Ngài há chẳng nhận lấy những gì mà Kê-mốt, thần của ngài, ban cho ngài sao?  Cũng vậy, những gì mà CHÚA, Ðức Chúa Trời của chúng tôi, ban cho chúng tôi, thì chúng tôi giữ.  25 Ngài há giỏi hơn Ba-lác con trai Xíp-pô vua Mô-áp chăng?  Ông ấy có bao giờ tranh chấp hay chống chọi với I-sơ-ra-ên chăng?  26 Trong ba trăm năm, I-sơ-ra-ên chiếm lấy Hếch-bôn và các vùng phụ cận của nó, A-rô-e và các vùng phụ cận của nó, cùng tất cả các thành dọc theo Ạc-nôn; tại sao trong khoảng thời gian đó ngài không đòi chúng lại?  27 Tôi không làm gì sai đối với ngài, nhưng ngài đã làm điều sai với tôi, vì ngài đã gây chiến chống lại tôi.  Cầu xin CHÚA, Ðấng Phán Xét, sẽ đoán xét giữa dân I-sơ-ra-ên và dân Am-môn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Tuy nhiên vua Am-môn không thèm để ý đến những lời của Giép-thê sai người đến phân giải với ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29 Bấy giờ Thần của CHÚA ngự trên Giép-thê.  Ông băng qua Ghi-lê-át và Ma-na-se, rồi vượt qua Mích-pa ở Ghi-lê-át, và từ đó ông tiến đánh dân Am-môn.  30 Giép-thê khấn nguyện với CHÚA rằng, “Nếu CHÚA phó dân Am-môn vào tay con, 31 thì khi con chiến thắng dân Am-môn trở về bình an, bất cứ ai từ cửa nhà con ra đón con sẽ thuộc về CHÚA, con sẽ dâng người ấy làm của lễ thiêu.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32 Ðoạn Giép-thê tiến đánh dân Am-môn, và CHÚA phó chúng vào tay ông.  33 Ông đánh hạ hai mươi thành của chúng, từ A-rô-e cho đến vùng phụ cận của Min-nít, kéo dài đến A-bên Kê-ra-mim.  Ấy là một cuộc tàn sát rất lớn.  Vì thế dân Am-môn bị khuất phục trước mặt dân I-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34 Khi Giép-thê trở về nhà ông tại Mích-pa; kìa, con gái của ông cầm trống con đi ra nhảy múa đón mừng ông.  Nàng lại là đứa con một của ông.  Ngoài nàng ra Giép-thê không có con trai hay con gái nào khác.  35 Khi Giép-thê thấy nàng, ông xé áo ông và khóc, “Ôi, con gái của cha, con làm cho cha đau khổ và khó xử biết bao, bởi vì cha đã khấn nguyện với CHÚA, và cha không thể nuốt lời được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36 Nàng đáp, “Thưa cha, nếu cha đã có lời khấn nguyện với CHÚA, xin cha hãy làm cho con y như những lời cha đã khấn nguyện, vì bây giờ CHÚA đã báo trả những kẻ thù của cha, tức dân Am-môn, rồi.”  37 Nàng lại nói với ông, “Nhưng xin cha cho con xin điều này: xin cha cho con hai tháng để rong chơi trên núi và để cùng bạn bè của con khóc cho sự đồng trinh của con.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38 Ông đáp, “Con cứ đi.”  Rồi ông để nàng đi hai tháng.  Nàng và các bạn của nàng lên núi và khóc cho sự đồng trinh của nàng.  39 Sau hai tháng, nàng trở về với cha nàng, và ông đã làm cho nàng như lời ông đã khấn nguyện.  Nàng chẳng hề biết một người nam nào. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kể từ đó trong I-sơ-ra-ên có tục lệ, 40 hằng năm các thiếu nữ trong I-sơ-ra-ên dành bốn ngày để than khóc con gái của Giép-thê người Ghi-lê-át.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Giô-suê]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 10]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 12]]&lt;br /&gt;
:* [[Ru-tơ]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_11&amp;diff=35789</id>
		<title>Các Quan Xét: Chương 11</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_11&amp;diff=35789"/>
		<updated>2026-08-27T14:55:03Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Giép-thê, người Ga-la-át, là một dũng sĩ can trường, nhưng ông là con của một gái điếm. Cha của ông là Ga-la-át. 2. Vợ của Ga-la-át sinh nhiều con trai. Khi các con trai của vợ ông lớn lên, họ đuổi Giép-thê ra, và nói: “Mầy không được hưởng phần sản nghiệp trong nhà cha của chúng ta, bởi vì mầy là con của một người đàn bà khác.” 3. Giép-thê đã lánh xa khỏi các anh em của mình, đến cư ngụ trong xứ Tóp. Có những du đãng tụ tập quanh ông, rồi đi ăn cướp với ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Một thời gian sau, dân Am-môn gây chiến với Y-sơ-ra-ên. 5. Khi dân Am-môn tiến đánh Y-sơ-ra-ên, lúc đó các trưởng lão của Ga-la-át đi đến xứ Tóp mời Giép-thê về. 6. Họ nói với ông: “Xin hãy trở về lãnh đạo chúng tôi, để chúng tôi có thể đánh lại dân Am-môn.” 7. Nhưng Giép-thê nói với các trưởng lão của Ga-la-át: “Không phải các ông đã ghét tôi, đã đuổi tôi ra khỏi nhà cha của tôi hay sao? Rồi bây giờ khi các ông bị khốn khổ, tại sao các ông lại đến với tôi?” 8. Các trưởng lão của Ga-la-át nói với Giép-thê: “Thật vậy, bây giờ chúng tôi trở lại với ông, để ông đi với chúng tôi chống lại dân Am-môn. Ông sẽ là lãnh tụ của chúng tôi để lãnh đạo tất cả dân Ga-la-át.” 9. Giép-thê hỏi lại các trưởng lão của Ga-la-át: “Nếu các ông đem tôi về để đánh dân Am-môn, và nếu Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay tôi, có chắc rằng tôi sẽ là lãnh tụ của các ông hay không?” 10. Các trưởng lão của Ga-la-át nói với Giép-thê: “Chúng tôi sẽ làm đúng như lời ông nói. Nguyện Đức Giê-hô-va làm chứng giữa chúng ta!” 11. Vì vậy, Giép-thê đã đi với các trưởng lão của Ga-la-át. Dân chúng đã lập ông làm lãnh tụ và là chỉ huy của họ. Tại Mích-ba, Giép-thê lặp lại trước mặt Đức Giê-hô-va mọi lời ông đã nói.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Giép-thê sai các sứ giả đến với vua của dân Am-môn, nói rằng: “Tôi với ông có chuyện gì mà ông đến đất nước tôi để đánh tôi?” 13. Vua của dân Am-môn trả lời với các sứ giả của Giép-thê rằng: “Bởi vì Y-sơ-ra-ên đã chiếm đất của ta từ Ạt-nôn, đến Gia-bốc, cho đến tận sông Giô-đanh vào lúc họ ra khỏi Ai Cập. Vì vậy, bây giờ hãy trả lại đất cách êm thắm.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Giép-thê sai các sứ giả trở lại với vua của dân Am-môn. 15. Hãy nói với người là Giép-thê nói như thế nầy: &amp;quot;Y-sơ-ra-ên không xâm chiếm đất của dân Mô-áp hay của dân Am-môn. 16. Nhưng xuất phát từ Ai Cập, Y-sơ-ra-ên đã đi ngang qua hoang mạc để đến Biển Đỏ, rồi đến Ca-đe. 17. Lúc đó, Y-sơ-ra-ên đã sai các sứ giả đến gặp vua của Ê-đôm và nói rằng: ‘Xin ngài cho chúng tôi đi ngang qua lãnh thổ của ngài,’ nhưng vua của Ê-đôm đã không bằng lòng. Cũng vậy, họ đã sai các sứ giả đến gặp vua của Mô-áp, và vua nầy cũng từ chối, nên dân Y-sơ-ra-ên cứ ở tại Ca-đe. 18. Sau đó, họ phải đi vòng qua hoang mạc, để tránh đất của Ê-đôm và đất của Mô-áp, rồi đến phía đông của đất Mô-áp. Họ đã đóng trại ở bên kia Ạt-nôn, nhưng không vào địa phận của Mô-áp, bởi vì Ạt-nôn là biên giới của Mô-áp. 19. Y-sơ-ra-ên đã sai các sứ giả đến gặp Si-hôn, vua của dân A-mô-rít, tại Hết-bôn, và nói: ‘Xin ngài cho chúng tôi đi ngang qua lãnh thổ của ngài để đến xứ của chúng tôi.’ 20. Nhưng Si-hôn không tin dân Y-sơ-ra-ên để cho họ đi ngang qua xứ của mình. Si-hôn đã tập hợp toàn thể dân chúng kéo đến đóng trại tại Gia-hát, rồi tiến đánh Y-sơ-ra-ên. 21. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phó Si-hôn và toàn thể dân chúng của hắn vào tay của Y-sơ-ra-ên. Họ đã đánh bại chúng rồi chiếm toàn bộ đất của A-mô-rít, là cư dân trong xứ. 22. Họ đã chiếm toàn bộ đất của dân A-mô-rít, từ Ạt-nôn cho đến Gia-bốc, và từ hoang mạc cho đến sông Giô-đanh. 23. Thật vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã đuổi dân A-mô-rít khỏi trước mặt dân của Ngài là Y-sơ-ra-ên, thế mà bây giờ ông lại muốn chiếm đất của họ hay sao? 24. Không phải ông nhận được đất mà Kê-mốt, là thần của ông, đã ban cho ông hay sao? Cũng vậy, chúng ta cũng chiếm hữu đất của những kẻ nào mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta đã đuổi khỏi trước mặt của chúng ta. 25. Hơn nữa, ông có trổi hơn Ba-lác, con trai của Xếp-bô, vua của Mô-áp hay không? Có khi nào ông ấy tranh chấp hay giao chiến với Y-sơ-ra-ên hay không? 26. Trong ba trăm năm, Y-sơ-ra-ên đã ở tại Hết-bôn và vùng phụ cận, A-rô-e và vùng phụ cận, cùng tất cả các thành dọc theo bờ của Ạt-nôn. Tại sao ông không lấy lại các thành ấy trong thời gian đó? 27. Như vậy, tôi không có phạm lỗi gì với ông, nhưng ông đã sai quấy mà gây chiến với tôi. Nguyện Đức Giê-hô-va, là Đấng phán xét, hôm nay sẽ phân xử giữa dân Y-sơ-ra-ên và dân Am-môn!” 28. Nhưng vua của dân Am-môn không nghe lời các sứ giả của Giép-thê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29. Bấy giờ, Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên Giép-thê, ông đi qua Ga-la-át và Ma-na-se, đến Mích-ba thuộc Ga-la-át, rồi từ Mích-ba thuộc Ga-la-át, ông vượt qua lãnh thổ của dân Am-môn. 30. Giép-thê khấn hứa với Đức Giê-hô-va rằng: “Nếu Ngài phó dân Am-môn vào tay của con thì khi thắng trận trở về, 31. bất cứ người hay vật nào từ cửa nhà của con, đi ra đón rước con, thì người hay vật đó sẽ thuộc về Đức Giê-hô-va, và con sẽ dâng làm tế lễ thiêu.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32. Giép-thê đã vượt sang lãnh thổ của dân Am-môn, và Đức Giê-hô-va đã phó chúng vào tay của ông. 33. Ông đánh bại chúng từ A-rô-e cho đến vùng phụ cận của Mi-nít, cho đến tận A-bên Kê-ra-mim, và chiếm được hai mươi thành. Đó là một cuộc tàn sát rất lớn. Dân Am-môn bị đại bại và chịu khuất phục trước dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34. Giép-thê trở về nhà của mình tại Mích-ba.  Kìa, con gái của ông cầm trống nhỏ nhảy múa đón rước ông. Nàng là con duy nhất của ông. Ngoài nàng, ông không có con trai hay con gái nào khác. 35. Giép-thê vừa thấy nàng, liền xé y phục của mình, rồi nói: “Ôi! Con gái của cha, con làm cho cha khốn khổ vô cùng! Con thuộc vào số những kẻ làm cho cha rối trí, bởi vì cha có mở miệng khấn hứa với Đức Giê-hô-va và không thể nuốt lời.” 36. Nàng nói với ông: “Thưa cha! Nếu cha đã mở miệng khấn hứa với Đức Giê-hô-va, xin cứ làm cho con đúng như lời cha đã hứa, bởi vì bây giờ Đức Giê-hô-va đã báo trả dân Am-môn, là những kẻ thù của cha.” 37. Nàng nói với cha của mình: “Hãy làm cho con điều nầy. Hãy để cho con đơn độc trong hai tháng. Con sẽ đi rong chơi trên núi, rồi cùng với những người bạn của con than khóc về thân phận trinh nữ của con.” 38. Giép-thê trả lời: “Con cứ đi!” Rồi ông để nàng đi trong hai tháng. Nàng đi với các bạn của nàng, khóc cho thân phận trinh nữ của mình trên núi. 39. Sau hai tháng, nàng trở về với cha của mình, và ông đã thực hiện điều mà ông đã khấn hứa về nàng. Nàng không hề biết một người nam nào. Kể từ đó, dân Y-sơ-ra-ên có tục lệ nầy: 40. Năm nầy sang năm khác, các cô gái Y-sơ-ra-ên đã đi để nhắc lại về con gái của Giép-thê, người Ga-la-át, bốn ngày mỗi năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Giép-thê, người Ga-la-át, là tay dõng sĩ, con của một người kỵ nữ, và cha là Ga-la-át. 2.  Vợ của Ga-la-át có sanh cho người những con trai. Khi các con trai của vợ ấy lớn lên, bèn đuổi Giép-thê đi, mà rằng: Mầy không được ăn phần gia tài trong nhà cha chúng ta, vì mầy là con của người đàn bà khác. 3.  Vậy, Giép-thê trốn xa anh em mình, và ở trong xứ Tóp. Có những đứa du đãng hiệp lại chung quanh Giép-thê, và đi ra với người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Sau một ít lâu, dân Am-môn giao chiến cùng Y-sơ-ra-ên. 5.  Trong lúc dân Am-môn đánh Y-sơ-ra-ên, các trưởng lão Ga-la-át đi đem Giép-thê ở xứ Tóp về. 6.  Họ nói cùng người rằng: Xin hãy đến làm quan tướng chúng ta, chúng ta sẽ đánh dân Am-môn. 7.  Nhưng Giép-thê đáp cùng các trưởng lão Ga-la-át rằng: Các ông há chẳng phải là kẻ ghét tôi và đuổi tôi khỏi nhà cha tôi sao? Còn bây giờ các ông đang bị cùng-khốn, sao lại đến tôi? 8.  Các trưởng lão Ga-la-át đáp cùng Giép-thê rằng: Bây giờ chúng ta lại đến cùng ngươi, hầu cho ngươi đi với chúng ta: ngươi sẽ đánh dân Am-môn, rồi sẽ làm đầu của chúng ta, và của hết thảy dân xứ Ga-la-át. 9.  Giép-thê lại đáp cùng các trưởng lão Ga-la-át rằng: Ví bằng các ông đem tôi về đặng đánh dân Am-môn, và nếu Đức Giê-hô-va phó chúng nó vào tay tôi, thì tôi sẽ làm đầu các ông chớ. 10.  Các trưởng lão Ga-la-át nói cùng Giép-thê rằng: Chúng ta quả sẽ làm y như lời ngươi đã nói; nguyện Đức Giê-hô-va làm chứng giữa chúng ta! 11.  Vậy, Giép-thê đi cùng các trưởng lão Ga-la-át; dân sự lập người làm đầu và tướng; rồi tại Mích-ba Giép-thê lặp lại trước mặt Đức Giê-hô-va hết thảy những lời người đã nói. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Đoạn Giép-thê sai sứ giả đến cùng vua dân Am-môn mà nói rằng: Ta với ngươi có việc chi, nên ngươi kéo đến ta đặng hãm đánh xứ ta? 13.  Vua dân Am-môn đáp cùng sứ giả Giép-thê rằng: Ấy bởi Y-sơ-ra-ên khi ra khỏi nước Ê-díp-tô, có chiếm lấy xứ ta từ Ạt-nôn cho đến Gia-bốc và Giô-đanh. Bây giờ hãy trả êm lại xứ ấy cho ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Giép-thê lại sai sứ giả đến cùng vua dân Am-môn đặng nói rằng: 15.  Giép-thê nói như vầy: Y-sơ-ra-ên không có xâm đoạt địa phận Mô-áp, cũng chẳng có chiếm lấy xứ của dân Am-môn. 16.  Song khi Y-sơ-ra-ên ra xứ Ê-díp-tô, thì đi ngang qua đồng vắng cho đến Biển đỏ, rồi tới Ca-đe. 17.  Bấy giờ, người sai sứ giả đến vua Ê-đôm đặng tâu rằng: Xin cho tôi đi ngang qua xứ vua. Nhưng vua Ê-đôm không bằng lòng. Người cũng sai sứ giả đến vua Mô-áp, vua Mô-áp cũng không khứng cho, nên Y-sơ-ra-ên cứ ở tại Ca-đe. 18.  Đoạn, người lại đi vào đồng vắng, vòng quanh xứ Ê-đôm và xứ Mô-áp; rồi đến cõi phía đông xứ Mô-áp. Người hạ trại ở bên kia Ạt-nôn, không vào bờ cõi Mô-áp; vì Ạt-nôn là giới hạn của xứ Mô-áp. 19.  Rốt lại, Y-sơ-ra-ên sai sứ giả đến cùng Si-hôn, vua người A-mô-rít, ở tại Bết-hôn, và dặn nói rằng: Xin để cho chúng tôi đi ngang qua xứ vua đặng đến xứ chúng tôi. 20.  Nhưng Si-hôn không đủ tin dân Y-sơ-ra-ên, nên không cho đi ngang qua xứ mình, bèn hiệp lại cả cơ binh mình, kéo đến đóng trại tại Gia-hát và chống đấu cùng Y-sơ-ra-ên. 21.  Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phó Si-hôn và cả cơ binh người vào tay Y-sơ-ra-ên. Y-sơ-ra-ên đánh bại chúng nó, và lấy toàn xứ dân A-mô-rít, là dân ở miền đó. 22.  Vậy, Y-sơ-ra-ên nhận được toàn xứ dân A-mô-rít, từ Ạt-nôn cho đến Gia-bốc, và từ đồng vắng cho đến Giô-đanh. 23.  Vậy bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã đuổi dân A-mô-rít khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên của Ngài rồi, thì ngươi lại muốn chiếm lấy xứ của họ sao! 24.  Ngươi há chẳng nhận được đất mà Kê-mốt, là thần của ngươi, đã ban cho ngươi sao? Thế thì, chúng ta cũng nhận được đất của những kẻ nào mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã đuổi khỏi trước mặt chúng ta. 25.  Vả lại, ngươi cho trổi hơn Ba-lác, con trai Xếp-bô, vua Mô-áp chăng? Hắn há có khi nào cãi cọ hay là chiến đấu cùng Y-sơ-ra-ên chăng? 26.  Đang lúc ba trăm năm mà Y-sơ-ra-ên ở tại Hết-bôn và các thành địa hạt nó, A-rô-e và các thành địa hạt nó, cùng hết thảy các thành ở dọc theo Ạt-nôn, sao ngươi không lấy nó lại trong khi đó? 27.  Vậy, ta không có phạm tội cùng ngươi, nhưng ngươi đã làm quấy cùng ta mà hãm đánh ta. Nguyện Đức Giê-hô-va, là Đấng đoán xét, ngày nay xét đoán giữa dân Y-sơ-ra-ên và dân Am-môn! 28.  Nhưng vua dân Am-môn không khứng nghe lời của Giép-thê sai nói cùng người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29.  Thần của Đức Giê-hô-va bèn cảm động Giép-thê; người trải qua Ga-la-át và Ma-na-se, sang đến Mích-ba ở Ga-la-át, rồi từ Mích-ba ở Ga-la-át, người đi đánh dân Am-môn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30.  Giép-thê khẩn nguyện cùng Đức Giê-hô-va rằng: Nếu Ngài phó dân Am-môn vào tay tôi, khi tôi thắng chúng nó trở về, 31.  hễ chi ở cửa nhà tôi đi ra đầu hết đặng đón rước tôi, thì nấy sẽ thuộc về Đức Chúa Trời, và tôi sẽ dâng nó làm của lễ thiêu. 32.  Đoạn, Giép-thê đi đến dân Am-môn đặng giao chiến cùng chúng nó, và Đức Giê-hô-va phó chúng nó vào tay người. 33.  Người đánh bại chúng nó từ A-rô-e cho đến Mi-nít, và cho đến A-bên-Kê-ra-mim, cùng chiếm lấy của chúng nó hai mươi cái thành. Ấy là một trận-bại rất lớn; dân Am-môn bị phục trước mặt dân Y-sơ-ra-ên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34.  Giép-thê trở về nhà mình tại Mích-ba; kìa, con gái người ra đón-rước người, có cầm trống nhỏ và nhảy múa. Nàng là con một của người, ngoài nàng chẳng có con trai hoặc con gái nào khác hơn. 35.  Giép-thê vừa thấy nàng, liền xé áo mình mà rằng: Ớ con, than ôi! con gây cho cha tức tối quá thay! Con thuộc vào số kẻ làm rối cha! Vì cha có mở miệng khấn nguyện cùng Đức Giê-hô-va, không thế nuốt lời. 36.  Nàng thưa rằng: Cha ôi, nếu cha có mở miệng khấn nguyện cùng Đức Giê-hô-va, xin hãy làm cho con y như lời ra khỏi miệng cha, vì bây giờ Đức Giê-hô-va đã báo thù kẻ cừu địch cha rồi, tức là dân Am-môn. 37.  Đoạn, nàng lại nói cùng cha mình rằng: Xin cha hãy nhậm cho con lời nầy: Để cho con thong thả trong hai tháng, con sẽ đi ở trên núi đặng cùng chị em bạn con khóc về sự đồng trinh của con. 38.  Giép-thê đáp rằng: Con cứ đi. Rồi người để nàng đi hai tháng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vậy, nàng đi cùng chị em bạn mình, khóc sự đồng trinh mình tại trên núi. 39.  Cuối hai tháng, nàng trở về cha mình, và người làm cho nàng tùy theo lời khấn nguyện mình đã hứa. Nàng chẳng có biết người nam. Tại cớ đó trong Y-sơ-ra-ên có thường lệ nầy: 40.  Mỗi năm, các con gái Y-sơ-ra-ên đi than khóc con gái của Giép-thê, người Ga-la-át, trong bốn ngày. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B07\V02B07C011.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Giép-thê'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Giép-thê người Ghi-lê-át là một dũng sĩ, nhưng mẹ của ông là một gái điếm; Ghi-lê-át là cha của Giép-thê.  2 Sau đó vợ của Ghi-lê-át sinh được các con trai.  Khi các con trai ấy lớn lên, chúng đuổi Giép-thê đi và bảo rằng, “Anh không được hưởng gia tài trong gia đình này, vì anh là con ngoại hôn của người đàn bà khác.”  3 Vậy Giép-thê lánh xa các em mình và đến sống tại xứ Tóp.  Những kẻ lãng tử tụ hiệp quanh ông và theo ông đi tung hoành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Một thời gian sau đó, dân Am-môn kéo ra giao chiến với dân I-sơ-ra-ên.  5 Khi dân Am-môn kéo ra giao chiến với dân I-sơ-ra-ên, các trưởng lão ở Ghi-lê-át đến xứ Tóp mời Giép-thê về.  6 Họ nói với Giép-thê, “Xin về lãnh đạo chúng tôi để đối phó với dân Am-môn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Nhưng Giép-thê đáp với các trưởng lão của Ghi-lê-át, “Quý vị há chẳng ghét tôi và đuổi tôi khỏi nhà cha tôi sao?  Tại sao bây giờ khi gặp hoạn nạn quý vị lại đến với tôi?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Các trưởng lão của Ghi-lê-át đáp với Giép-thê, “Xin ông bỏ qua chuyện cũ, bây giờ chúng tôi đều quay về với ông; xin ông hãy đi với chúng tôi để đánh dân Am-môn, và xin ông làm thủ lãnh tất cả chúng tôi ở Ghi-lê-át.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Giép-thê nói với các trưởng lão của Ghi-lê-át, “Quý vị mời tôi về đánh dân Am-môn và nếu CHÚA phó dân Am-môn vào tay tôi, liệu quý vị có thật sự để tôi làm thủ lãnh của quý vị không?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Các trưởng lão của Ghi-lê-át đáp với Giép-thê, “Xin CHÚA làm chứng.  Chúng tôi quả quyết sẽ làm theo điều ông nói.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Vậy Giép-thê đi với các trưởng lão của Ghi-lê-át.  Dân Ghi-lê-át lập ông làm thủ lãnh và thống soái của họ.  Rồi tại Mích-pa, ông lặp lại mọi lời ông đã giao kết trước mặt CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Sau đó Giép-thê sai sứ đến với vua Am-môn và hỏi, “Chúng tôi với ngài có thù nghịch chi mà ngài xua quân hãm đánh đất nước chúng tôi?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Vua Am-môn trả lời các sứ giả của Giép-thê, “Ðó là vì khi dân I-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập, các ngươi đã chiếm đất của ta từ Ạc-nôn đến Gia-bốc và đến tận Sông Giô-đanh.  Vậy bây giờ hãy êm thắm trả lại cho ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Giép-thê sai các sứ giả trở lại vua Am-môn, 15 và nói, “Giép-thê nói thế này: I-sơ-ra-ên không lấy đất của Mô-áp hoặc đất của người Am-môn.  16 Nhưng khi ra khỏi Ai-cập, dân I-sơ-ra-ên đã đi qua đồng hoang để đến Hồng Hải, rồi tiếp tục đến Ca-đe.  17 Khi ấy I-sơ-ra-ên đã sai các sứ giả đến thưa với vua Ê-đôm rằng, ‘Xin cho phép chúng tôi đi ngang qua xứ của ngài.’  Nhưng vua Ê-đôm không chấp thuận.  Họ bèn sai các sứ giả đến với vua Mô-áp, nhưng vua ấy cũng chối từ.  Vậy dân I-sơ-ra-ên đành phải ở lại Ca-đe.  18 Sau đó I-sơ-ra-ên phải đi tiếp vô đồng hoang và đi vòng bên ngoài lãnh thổ của Ê-đôm và Mô-áp, rồi đi dọc theo biên giới phía đông của nước Mô-áp, và hạ trại phía bên kia của Ạc-nôn.  Họ không vào lãnh thổ của Mô-áp, vì Ạc-nôn là ranh giới của Mô-áp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Kế đó I-sơ-ra-ên đã sai các sứ giả đến Si-hôn vua dân A-mô-ri đang trị vì tại Hếch-bôn và thưa rằng, ‘Xin cho phép chúng tôi đi ngang qua nước của ngài để vào xứ của chúng tôi.’  20 Tuy nhiên Si-hôn không tin tưởng dân I-sơ-ra-ên nên đã không cho họ đi ngang qua nước của ông ấy.  Ðã thế ông ấy còn triệu tập tất cả quân đội của ông đến và hạ trại tại Gia-ha để đánh I-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Bấy giờ CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, đã trao Si-hôn và tất cả quân đội của ông ấy vào tay I-sơ-ra-ên.  I-sơ-ra-ên đánh bại họ và chiếm toàn xứ của dân A-mô-ri sống lúc bấy giờ.  22 Họ tiếp thu cả xứ của dân A-mô-ri, từ Ạc-nôn cho đến Gia-bốc, từ trong đồng hoang cho đến Sông Giô-đanh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Vậy CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, đã đuổi dân A-mô-ri đi khỏi trước mặt dân I-sơ-ra-ên của Ngài, bây giờ ngài lấy quyền gì mà đòi những đất ấy lại?  24 Ngài há chẳng nhận lấy những gì mà Kê-mốt, thần của ngài, ban cho ngài sao?  Cũng vậy, những gì mà CHÚA, Ðức Chúa Trời của chúng tôi, ban cho chúng tôi, thì chúng tôi giữ.  25 Ngài há giỏi hơn Ba-lác con trai Xíp-pô vua Mô-áp chăng?  Ông ấy có bao giờ tranh chấp hay chống chọi với I-sơ-ra-ên chăng?  26 Trong ba trăm năm, I-sơ-ra-ên chiếm lấy Hếch-bôn và các vùng phụ cận của nó, A-rô-e và các vùng phụ cận của nó, cùng tất cả các thành dọc theo Ạc-nôn; tại sao trong khoảng thời gian đó ngài không đòi chúng lại?  27 Tôi không làm gì sai đối với ngài, nhưng ngài đã làm điều sai với tôi, vì ngài đã gây chiến chống lại tôi.  Cầu xin CHÚA, Ðấng Phán Xét, sẽ đoán xét giữa dân I-sơ-ra-ên và dân Am-môn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Tuy nhiên vua Am-môn không thèm để ý đến những lời của Giép-thê sai người đến phân giải với ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29 Bấy giờ Thần của CHÚA ngự trên Giép-thê.  Ông băng qua Ghi-lê-át và Ma-na-se, rồi vượt qua Mích-pa ở Ghi-lê-át, và từ đó ông tiến đánh dân Am-môn.  30 Giép-thê khấn nguyện với CHÚA rằng, “Nếu CHÚA phó dân Am-môn vào tay con, 31 thì khi con chiến thắng dân Am-môn trở về bình an, bất cứ ai từ cửa nhà con ra đón con sẽ thuộc về CHÚA, con sẽ dâng người ấy làm của lễ thiêu.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32 Ðoạn Giép-thê tiến đánh dân Am-môn, và CHÚA phó chúng vào tay ông.  33 Ông đánh hạ hai mươi thành của chúng, từ A-rô-e cho đến vùng phụ cận của Min-nít, kéo dài đến A-bên Kê-ra-mim.  Ấy là một cuộc tàn sát rất lớn.  Vì thế dân Am-môn bị khuất phục trước mặt dân I-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34 Khi Giép-thê trở về nhà ông tại Mích-pa; kìa, con gái của ông cầm trống con đi ra nhảy múa đón mừng ông.  Nàng lại là đứa con một của ông.  Ngoài nàng ra Giép-thê không có con trai hay con gái nào khác.  35 Khi Giép-thê thấy nàng, ông xé áo ông và khóc, “Ôi, con gái của cha, con làm cho cha đau khổ và khó xử biết bao, bởi vì cha đã khấn nguyện với CHÚA, và cha không thể nuốt lời được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36 Nàng đáp, “Thưa cha, nếu cha đã có lời khấn nguyện với CHÚA, xin cha hãy làm cho con y như những lời cha đã khấn nguyện, vì bây giờ CHÚA đã báo trả những kẻ thù của cha, tức dân Am-môn, rồi.”  37 Nàng lại nói với ông, “Nhưng xin cha cho con xin điều này: xin cha cho con hai tháng để rong chơi trên núi và để cùng bạn bè của con khóc cho sự đồng trinh của con.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38 Ông đáp, “Con cứ đi.”  Rồi ông để nàng đi hai tháng.  Nàng và các bạn của nàng lên núi và khóc cho sự đồng trinh của nàng.  39 Sau hai tháng, nàng trở về với cha nàng, và ông đã làm cho nàng như lời ông đã khấn nguyện.  Nàng chẳng hề biết một người nam nào. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kể từ đó trong I-sơ-ra-ên có tục lệ, 40 hằng năm các thiếu nữ trong I-sơ-ra-ên dành bốn ngày để than khóc con gái của Giép-thê người Ghi-lê-át.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Giô-suê]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 10]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 12]]&lt;br /&gt;
:* [[Ru-tơ]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35788</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 4</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35788"/>
		<updated>2026-08-25T21:25:16Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng Đức Thánh Linh nói rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, 2. theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, 3. cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. 4. Bởi vì mọi vật do Đức Chúa Trời tạo dựng đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - đáng được tiếp nhận với lòng biết ơn, 5. bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. 7. Nhưng hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. 8. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. 9. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. 10. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, là Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy truyền và dạy những điều này. 12. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch để làm gương cho các tín hữu. 13. Hãy chú trọng đọc Kinh Thánh nơi công cộng, khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. 14. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. 15. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, thấm nhuần chúng, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. 16. Hãy cẩn trọng với chính mình con và sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng Thánh Linh nói rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. Bởi vì mọi vật do Đức Chúa Trời tạo dựng đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - hãy tiếp nhận với lòng biết ơn, bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, con được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. Tuy nhiên hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, là Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy truyền và dạy những điều này. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch để làm gương cho các tín hữu. Hãy chú trọng đọc Kinh Thánh nơi công cộng, khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, thấm nhuần chúng, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. Hãy cẩn trọng với chính mình con và sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng Thánh Linh phán rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, 2. theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, 3. cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo ra để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. 4. Bởi vì mọi tạo vật của Đức Chúa Trời đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - nên được tiếp nhận với lòng biết ơn, 5. bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. 7. Tuy nhiên hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. 8. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. 9. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. 10. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy truyền và dạy những điều này. 12. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch làm gương cho các tín hữu. 13. Hãy chú trọng đọc Kinh Thánh nơi công cộng, khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. 14. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. 15. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, thấm nhuần chúng, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. 16. Hãy cẩn trọng với chính mình con và sự giảng dạy. Hãy tiếp tục trong những điều đó, vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ, 2.  bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì, 3.  họ sẽ cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin và biết lẽ thật, tạ ơn mà dùng lấy. 4.  Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được; 5.  vì nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Con giải tỏ các việc đó cho anh em, thì con sẽ nên kẻ giúp việc ngay lành của Đức Chúa Jêsus Christ, được nuôi bởi các lời của đức tin và đạo lý lành mà con đã theo. 7.  Những lời hư ngụy phàm tục giống như chuyện bịa các bà già, thì hãy bỏ đi, và tập tành sự tin kính. 8.  Vì sự tập tành thân thể ích lợi chẳng bao lăm, còn như sự tin kính là ích cho mọi việc, vì có lời hứa về đời nầy và về đời sau nữa. 9.  Ấy đó là một lời nói chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy. 10.  Vả, nếu chúng ta khó nhọc và đánh trận, ấy là đã để sự trông cậy ta trong Đức Chúa Trời hằng sống, Ngài là Cứu Chúa của mọi người, mà nhất là của tín đồ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Kìa là điều con phải rao truyền và dạy dỗ. 12.  Chớ để người ta khinh con vì trẻ tuổi; nhưng phải lấy lời nói, nết làm, sự yêu thương, đức tin và sự tinh sạch mà làm gương cho các tín đồ. 13.  Hãy chăm chỉ đọc sách, khuyên bảo, dạy dỗ, cho đến chừng ta đến. 14.  Đừng bỏ quên ơn ban trong lòng con, là ơn bởi lời tiên tri nhân hội trưởng lão đặt tay mà đã ban cho con vậy. 15.  Hãy săn sóc chuyên lo những việc đó, hầu cho thiên hạ thấy sự tấn tới của con. 16.  Hãy giữ chính mình con và sự dạy dỗ của con; phải bền đỗ trong mọi sự đó, vì làm như vậy thì con và kẻ nghe con sẽ được cứu. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cảnh Cáo về Những Tín Lý Sai Lầm'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðức Thánh Linh đã phán rõ ràng rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có những người lìa bỏ đức tin để theo các tà linh lừa dối và các giáo lý của các quỷ.  2 Họ theo thói đạo đức giả của bọn dối trá, là những kẻ có lương tâm chai lỳ.  3 Họ cấm cưới gả và bắt kiêng cữ các thức ăn Ðức Chúa Trời đã dựng nên, để những người có lòng tin và hiểu biết chân lý cảm tạ và dùng.  4 Vì mọi vật do Ðức Chúa Trời dựng nên đều tốt cả, không vật gì đáng bỏ, miễn là được nhận lấy với lòng biết ơn, 5 vì nhờ lời Ðức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chức Vụ của Người Phục Vụ Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Nếu con giãi bày những điều ấy cho anh chị em, con sẽ là một đầy tớ tốt của Ðức Chúa Jesus Christ, được nuôi dưỡng trong lời của đức tin và trong tín lý chân chính mà con đã tin theo.  7 Ðừng để con dính líu gì đến những chuyện báng bổ và những chuyện nhảm nhí của các bà già; thay vào đó hãy luyện tập cho con thành một người tin kính đạo đức, 8 vì sự luyện tập cơ thể ích lợi chẳng bao nhiêu, nhưng sự tin kính đạo đức ích lợi đủ mọi mặt, bởi trong đó có lời hứa cho cuộc sống hiện tại và đời sống hầu đến.  9 Ðó là những lời đáng tin cậy và đáng chấp nhận hoàn toàn.  10 Vì mục đích ấy chúng ta lao động vất vả và phấn đấu, bởi chúng ta đặt hy vọng nơi Ðức Chúa Trời hằng sống, Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người có lòng tin.  11 Ðó là những điều con hãy truyền và dạy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Ðừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng hãy lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin, và sự trong sạch mà làm gương cho các tín hữu.  13 Cho đến khi ta đến, con hãy chú trọng vào việc tuyên đọc Kinh Thánh, khuyên bảo, và giảng dạy.  14 Ðừng quên ân tứ ở trong con, tức ân tứ đã ban cho con qua lời tiên tri khi Hội Ðồng Trưởng Lão đặt tay trên con.  15 Hãy đem những điều ta nói ở trên ra áp dụng, hãy tận tụy làm theo những điều ấy, để mọi người có thể thấy sự tiến bộ của con.  16 Con hãy thận trọng trong cách ăn nết ở và trong sự giảng dạy của mình.  Hãy kiên trì trong các lĩnh vực đó, vì làm như thế con sẽ cứu được chính mình và những người nghe con giảng dạy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 5]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=T%C3%ADt:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35787</id>
		<title>Tít: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=T%C3%ADt:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35787"/>
		<updated>2026-08-21T14:06:45Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng con hãy giảng dạy những gì phù hợp với tín lý lành mạnh: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Những người nam lớn tuổi phải trầm tĩnh, trang nghiêm, biết tự kiềm chế; vững vàng trong đức tin, trong tình yêu, và trong sự kiên trì. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Những người nữ lớn tuổi cũng vậy, phải cư xử cách lễ độ, đừng nói xấu, đừng nghiện rượu; biết dạy những điều tốt 4. để họ có thể huấn luyện những phụ nữ trẻ biết yêu chồng, thương con, 5. biết tự kiềm chế, thanh sạch, đảm đang việc nhà, nhân hậu, thuận phục chồng mình, để đạo của Đức Chúa Trời không bị xúc phạm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Cũng vậy, con hãy khuyên những người trẻ biết tự kiềm chế. 7. Trong mọi việc, hãy thể hiện chính con là một gương mẫu về những việc tốt; trong sự giảng dạy: hãy trung thực và điềm tỉnh; 8. lời nói phải đúng đắn, không thể bị bắt bẻ, để những người chống đối phải hổ thẹn, không thể nói xấu chúng ta điều gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Những người phục vụ hãy thuận phục chủ của mình, trong mọi việc hãy vui vẻ, đừng cãi trả, 10. đừng ăn cắp, nhưng tất cả hãy thể hiện điều tốt và đáng tin cậy, để đạo của Đức Chúa Trời, là Đấng Giải Cứu chúng ta, được tôn quý trong mọi phương diện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời đã được thể hiện, mang đến sự cứu rỗi cho tất cả mọi người, 12. hướng dẫn chúng ta từ bỏ sự không tin kính và những đam mê thế tục, để sống cách đứng đắn, công chính, và tin kính trong đời nầy, 13. đang khi chờ đợi niềm hy vọng phước hạnh và sự xuất hiện vinh quang của Đức Chúa Trời vĩ đại, và Đấng Giải Cứu của chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, 14. là Đấng đã phó chính Ngài vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội lỗi ô nhơ, và thanh tẩy chúng ta thành một dân thuộc riêng về Ngài, để nhiệt thành làm những việc tốt đẹp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Hãy dạy những điều này, hãy khích lệ, và khiển trách với tất cả thẩm quyền. Đừng để ai khinh thường con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng con hãy giảng dạy những gì phù hợp với tín lý lành mạnh: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những người nam lớn tuổi phải trầm tĩnh, trang nghiêm, biết tự kiềm chế; vững vàng trong đức tin, trong tình yêu, và trong sự kiên trì. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những người nữ lớn tuổi cũng vậy, phải cư xử cách lễ độ, đừng nói xấu, đừng nghiện rượu; biết dạy những điều tốt để họ có thể huấn luyện những phụ nữ trẻ biết yêu chồng, thương con, biết tự kiềm chế, thanh sạch, đảm đang việc nhà, nhân hậu, thuận phục chồng mình, để đạo của Đức Chúa Trời không bị xúc phạm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cũng vậy, con hãy khuyên những người trẻ biết tự kiềm chế. Trong mọi việc, hãy thể hiện chính con là một gương mẫu về những việc tốt; trong sự giảng dạy: hãy trung thực và điềm tỉnh; lời nói phải đúng đắn, không thể bị bắt bẻ, để những người chống đối phải hổ thẹn, không thể nói xấu chúng ta điều gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những người phục vụ hãy thuận phục chủ của mình, trong mọi việc hãy vui vẻ, đừng cãi trả, đừng ăn cắp, nhưng tất cả hãy thể hiện điều tốt và đáng tin cậy, để đạo của Đức Chúa Trời, là Đấng Giải Cứu chúng ta, được tôn quý trong mọi phương diện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời đã được thể hiện, mang đến sự cứu rỗi cho tất cả mọi người, hướng dẫn chúng ta từ bỏ sự không tin kính và những đam mê thế tục, để sống cách đứng đắn, công chính, và tin kính trong đời nầy, đang khi chờ đợi niềm hy vọng phước hạnh và sự xuất hiện vinh quang của Đức Chúa Trời vĩ đại, và Đấng Giải Cứu của chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, là Đấng đã phó chính Ngài vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội lỗi ô nhơ, và thanh tẩy chúng ta thành một dân thuộc riêng về Ngài, để nhiệt thành làm những việc tốt đẹp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy dạy những điều này, hãy khích lệ, và khiển trách với tất cả thẩm quyền. Đừng để ai khinh thường con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng con hãy nói những gì trở thành tín lý lành mạnh: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Những người nam lớn tuổi phải trầm tĩnh, trang nghiêm, biết tự kiềm chế; vững vàng trong đức tin, trong tình yêu, và trong sự kiên trì. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Những người nữ lớn tuổi cũng vậy, phải cư xử cách lễ độ, đừng nói xấu, đừng làm nô lệ của rượu; biết dạy những điều tốt 4. để họ có thể huấn luyện những phụ nữ trẻ biết yêu chồng, thương con, 5. biết tự kiềm chế, thanh sạch, đảm đang việc nhà, nhân hậu, thuận phục chồng mình, để đạo của Đức Chúa Trời không bị xúc phạm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Cũng vậy, hãy khuyên những người trẻ biết tự kiềm chế. 7. Trong mọi việc, hãy thể hiện chính con là một gương mẫu về những việc tốt; trong sự giảng dạy: hãy trung thực và điềm tỉnh; 8. lời nói phải đúng đắn, không thể bị bắt bẻ, để những người chống đối phải hổ thẹn, không thể nói xấu chúng ta điều gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Những người phục vụ hãy thuận phục chủ của mình, trong mọi việc hãy vui vẻ, đừng cãi trả, 10. đừng ăn cắp, nhưng tất cả hãy thể hiện điều tốt và đáng tin cậy, để đạo của Đức Chúa Trời, là Đấng Giải Cứu chúng ta, được tôn quý trong mọi phương diện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời - mang sự cứu rỗi cho tất cả mọi người - đã được thể hiện, 12. hướng dẫn chúng ta từ bỏ sự không tin kính và những đam mê thế tục, để sống đứng đắn, công chính, và tin kính trong đời nầy, 13. đang khi chờ đợi niềm hy vọng phước hạnh và sự xuất hiện vinh quang của Đức Chúa Trời vĩ đại, và Đấng Giải Cứu của chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, 14. là Đấng đã phó chính Ngài vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội lỗi ô nhơ, và thanh tẩy chúng ta thành một dân thuộc riêng về Ngài, nhiệt thành làm những việc tốt đẹp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Hãy nói những điều này, hãy khích lệ, và khiển trách với tất cả thẩm quyền. Đừng để ai khinh thường con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Nhưng con hãy dạy điều hiệp với đạo lành. 2.  Khuyên những người già cả phải tiết độ, nghiêm trang, khôn ngoan, có đức tin, lòng yêu thương và tánh nhịn nhục vẹn lành. 3.  Các bà già cũng vậy, phải có thái độ hiệp với sự thánh; đừng nói xấu, đừng uống rượu quá độ; phải lấy điều khôn ngoan dạy bảo; 4.  phải dạy đàn bà trẻ tuổi biết yêu chồng con mình, 5.  có nết na, trinh chánh, trông nom việc nhà; lại biết ở lành, vâng phục chồng mình, hầu cho đạo Đức Chúa Trời khỏi bị một lời chê bai nào. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Cũng phải khuyên những người tuổi trẻ ở cho có tiết độ. 7.  Hãy lấy mình con làm gương về việc lành cho họ, trong sự dạy dỗ phải cho thanh sạch, nghiêm trang, 8.  nói năng phải lời, không chỗ trách được, đặng kẻ nghịch hổ thẹn, không được nói xấu chúng ta điều chi. 9.  Hãy khuyên những tôi tớ phải vâng phục chủ mình, phải làm đẹp lòng chủ trong mọi việc, chớ cãi trả, 10.  chớ ăn cắp vật chi, nhưng phải hằng tỏ lòng trung thành trọn vẹn, để làm cho tôn quí đạo Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, trong mọi đường. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Vả, ân điển Đức Chúa Trời hay cứu mọi người, đã được bày tỏ ra rồi. 12.  Ân ấy dạy chúng ta chừa bỏ sự không tin kính và tình dục thế gian, phải sống ở đời nầy theo tiết độ, công bình, nhân đức, 13.  đang chờ đợi sự trông cậy hạnh phước của chúng ta, và sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ, 14.  là Đấng liều mình vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội và làm cho sạch, đặng lấy chúng ta làm một dân thuộc riêng về Ngài, là dân có lòng sốt sắng về các việc lành. 15.  Hãy dạy các điều đó, lấy quyền đầy đủ mà khuyên bảo quở trách. Chớ để ai khinh dể con. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nếp Sống Ðạo Lành Mạnh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Về phần con, hãy giảng dạy những gì phù hợp với tín lý lành mạnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Con hãy khuyên các cụ ông nên tiết độ, nghiêm trang, đứng đắn, vững vàng trong đức tin, trong tình yêu, và trong sự kiên trì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Tương tự, con hãy khuyên các cụ bà nên có thái độ phản ánh đức thánh khiết, không nói xấu, không ghiền rượu, biết dạy dỗ điều tốt, 4 để các cụ có thể khuyên các phụ nữ trẻ biết yêu chồng, yêu con, 5 đứng đắn, trong sạch, đảm đang việc nhà, tốt, thuận phục chồng, để Ðạo của Ðức Chúa Trời không bị nói xấu. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Tương tự, con hãy khuyên các thanh niên phải đứng đắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Trong mọi sự, con phải tỏ ra là một người gương mẫu trong những việc tốt.  Trong sự giảng dạy, con hãy trung thực và nghiêm chỉnh, 8 lời lẽ phải lành mạnh, để không ai có thể bắt bẻ, hầu những kẻ chống đối phải hổ thẹn, không nói xấu chúng ta được điều gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Con hãy khuyên các công nhân phải thuận phục chủ của họ trong mọi sự, hãy làm vui lòng chủ, đừng cãi lại, 10 đừng trộm cắp, nhưng hãy tỏ ra là người tốt và đáng tin cậy hoàn toàn, để giáo lý của Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của chúng ta, được tôn quý trong mọi phương diện. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Vì ân sủng của Ðức Chúa Trời đã được bày tỏ để đem ơn cứu rỗi đến mọi người.  12 Ân sủng ấy dạy chúng ta phải từ bỏ nếp sống tội lỗi và những đam mê trần tục, để sống đứng đắn, chính trực, và tin kính đạo đức trong đời này, 13 trong khi chờ đợi hy vọng phước hạnh và sự xuất hiện vinh hiển của Ðức Chúa Trời vĩ đại và Ðấng Giải Cứu của chúng ta là Ðức Chúa Jesus Christ, 14 Ðấng đã phó chính Ngài vì chúng ta, để cứu chuộc chúng ta khỏi mọi tội lỗi ô nhơ và thanh tẩy chúng ta thành một dân thuộc riêng về Ngài, một dân nhiệt thành làm những điều tốt.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Ðó là những điều con phải nói, phải khuyên, và phải sửa dạy với tất cả uy quyền.  Ðừng để ai coi thường con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B56\V01B56C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Tít]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Phi-lê-môn]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[ KTB56C001 | Tít: Chương 1]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[ KTB56C003 | Tít: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_9&amp;diff=35786</id>
		<title>Các Quan Xét: Chương 9</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_9&amp;diff=35786"/>
		<updated>2026-08-13T04:28:33Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. A-bi-mê-léc, con trai của Giê-ru-ba-anh, đã đến với những anh em của mẹ mình. Ông nói chuyện với họ và cả gia tộc bên thân phụ của mẹ mình tại Si-chem, rằng: 2. “Xin quý vị hãy nói vào tai mọi người ở Si-chem để họ xem điều nào là tốt hơn: Tất cả bảy mươi con trai của Giê-ru-ba-anh sẽ cai trị quý vị, hay chỉ một người cai trị quý vị? Xin hãy nhớ rằng tôi cùng cốt nhục với quý vị.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Các anh em của mẹ ông đã nói tất cả những lời nầy vào tai của mọi người tại Si-chem. Lòng của họ nghiêng về A-bi-mê-léc, vì họ nói: “Ông ấy là anh em của chúng ta.” 4. Họ đã cho ông bảy mươi miếng bạc lấy từ trong miếu của Ba-anh Bê-rít. A-bi-mê-léc đã mướn những kẻ du đảng và hoang đàng đi theo hắn. 5. Sau đó, ông đến nhà của cha mình tại Óp-ra, giết các anh em của mình là bảy mươi con trai của Giê-ru-ba-anh, trên một tảng đá. Chỉ có một mình Giô-tham, con út của Giê-ru-ba-anh, còn sống sót, bởi vì chàng đã trốn. 6. Và rồi tất cả người Si-chem và Bết Mi-lô đã họp nhau lại tại trụ đá gần cây sồi ở Si-chem để tôn A-bi-mê-léc làm vua.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Sau khi người ta thuật lại điều đó cho Giô-tham, ông đã đi và đứng trên đỉnh núi Ga-ri-xim, cất tiếng lớn nói với họ rằng: “Hỡi người Si-chem! Hãy lắng nghe tôi, để Đức Chúa Trời có thể nghe quý vị: 8. Cây cối đã đi xức dầu cho một vua để cai trị chúng. Chúng nói với cây ô-liu: ‘Hãy cai trị chúng tôi.’ 9. Nhưng cây ô-liu đã trả lời cho chúng: ‘Tôi có nên ngưng sản xuất loại dầu được dùng để tôn trọng Đức Chúa Trời và loài người, để đi lắc lư trên những cây cối hay sao?’ 10. Cây cối nói với cây vả: 'Hãy đến cai trị chúng tôi.’ 11. Nhưng cây vả đã trả lời cho chúng: ‘Tôi có nên bỏ sự ngọt ngào của tôi và trái cây tươi tốt của tôi, để đi lắc lư trên những cây cối hay sao?’ 12. Cây cối nói với cây nho: 'Hãy đến cai trị chúng tôi.’ 13. Nhưng cây nho đã trả lời cho chúng: ‘Tôi có nên bỏ rượu ngon, là thứ làm vui Đức Chúa Trời và loài người, để đi lắc lư trên những cây cối hay sao?’ 14. Tất cả cây cối đã nói với gai gốc rằng: ‘Hãy đến cai trị chúng tôi.’ 15. Gai gốc đã trả lời cho cây cối: ‘Nếu bởi lòng chân thật mà các ngươi muốn xức dầu cho ta làm vua của các ngươi, thì hãy đến núp dưới bóng của ta. Nếu không, nguyện lửa từ bụi gai bùng lên thiêu đốt những cây bá hương của Li-ban.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Vì vậy, bây giờ nếu quý vị thật sự và chân thành để tôn A-bi-mê-léc làm vua, thì quý vị có đối xử tốt với Giê-ru-ba-anh và nhà của người tương xứng với những điều người đã làm hay không 17. Bởi vì cha tôi đã chiến đấu cho quý vị, đã liều mình giải cứu quý vị khỏi tay dân Ma-đi-an. 18. Nhưng hôm nay quý vị lại nổi lên chống lại nhà cha của tôi, sát hại các con trai của người -  bảy mươi người trên một tảng đá - rồi tôn A-bi-mê-léc, con trai của một kẻ nô tì, làm vua của dân Si-chem, bởi vì hắn là anh em của quý vị. 19. Nếu hôm nay việc quý vị đối xử với Giê-ru-ba-anh và nhà của người là đúng và xứng đáng, thì A-bi-mê-léc cứ vui mừng nơi quý vị và quý vị cũng vui mừng với hắn. 20. Còn nếu không phải thì nguyện lửa ra từ A-bi-mê-léc thiêu nuốt dân Si-chem và nhà Bết Mi-lô; và nguyện lửa ra từ dân Si-chem và nhà Bết Mi-lô thiêu nuốt A-bi-mê-léc!” 21. Sau đó, Giô-tham đã chạy trốn rồi đến cư ngụ tại Bê-re, vì sợ A-bi-mê-léc, là anh của mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. A-bi-mê-léc cai trị Y-sơ-ra-ên trong ba năm. 23. Sau đó, Đức Chúa Trời sai một ác thần gây sự bất hòa giữa A-bi-mê-léc và người Si-chem, khiến người Si-chem phản lại A-bi-mê-léc. 24. Điều nầy xảy đến để báo thù tội sát nhân mà hắn đã phạm với bảy mươi con trai của Giê-ru-ba-anh. Máu của họ đã đổ lại trên A-bi-mê-léc, người anh em của họ, là người đã giết các anh em của mình; và đổ lại trên dân Si-chem, là những người đã giúp hắn giết các anh em của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25. Dân Si-chem thường sai nhiều kẻ nằm phục kích hắn trên đỉnh núi; rồi chúng cướp giựt những người đi qua đường. Điều nầy được báo cho A-bi-mê-léc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Lúc đó Ga-anh, con trai của Ê-bết, cùng những anh em của mình dọn đến Si-chem. Người Si-chem tin cậy hắn. 27. Chúng ra ngoài đồng, hái nho trong vườn, ép rượu nho, rồi tổ chức tiệc vui. Chúng vào miễu thờ thần của chúng để ăn uống, rồi rủa sả A-bi-mê-léc. 28. Ga-anh, con trai của Ê-bết, nói: “A-bi-mê-léc là ai? Dân Si-chem chúng ta là ai mà phải phục vụ hắn? Hắn không phải là con trai của Giê-ru-ba-anh sao? Còn Xê-bun không phải là kẻ phụ tá của hắn sao? Hãy phục vụ con cháu của Hê-mô, là tổ phụ của Si-chem! Tại sao chúng ta phải phục vụ hắn? 29. Ồ! Nếu dân nầy ở dưới tay ta, ta sẽ đuổi A-bi-mê-léc đi!” Hắn thách thức A-bi-mê-léc. &amp;quot;Hãy tăng cường quân lính, rồi đến đây.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30. Xê-bun, người cai trị thành, nghe những lời của Ga-anh, con trai của Ê-bết, thì nổi giận. 31. Ông bí mật sai sứ giả đến A-bi-mê-léc, nói rằng: “Nầy, Ga-anh, con trai của Ê-bết, và anh em của hắn đã đến Si-chem, chúng trang bị thành trì để chống lại ông. 32. Vì vậy, đêm nay ông và những người theo ông phải trỗi dậy đến mai phục ngoài đồng. 33. Sáng mai khi mặt trời vừa mọc, ông phải dậy sớm, tấn công thành. Khi hắn và quân của hắn kéo ra chống lại ông, thì ông hãy tùy cơ ứng biến.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34. Vì vậy, A-bi-mê-léc và tất cả quân lính theo ông đều trỗi dậy vào ban đêm, phân chia làm bốn đội, mai phục gần Si-chem. 35. Ga-anh, con trai của Ê-bết, kéo ra và đứng tại cổng thành. A-bi-mê-léc và những người theo ông rời khỏi nơi nằm chờ mai phục. 36. Khi Ga-anh thấy có nhiều người thì nói với Xê-bun rằng: “Kìa, ta thấy có những người từ trên đỉnh núi xuống.” Xê-bun nói: “Ngươi thấy bóng núi mà tưởng là người đó thôi!” 37. Nhưng Ga-anh lại nói một lần nữa: “Kìa, có những người từ giữa đồi đi xuống, và một toán quân đi dọc theo hướng cây sồi Thầy Bói.” 38. Xê-bun đã nói với hắn: “Chính miệng ông đã nói: ‘A-bi-mê-léc là ai mà chúng ta phục vụ hắn!’ Đây không phải là những kẻ mà ông đã khinh thường hay sao? Tôi xin ông hãy tiến ra giao chiến với chúng.” 39. Ga-anh dẫn đầu những người Si-chem đi ra giao chiến với A-bi-mê-léc. 40. A-bi-mê-léc rượt đuổi hắn, và hắn chạy trốn trước mặt ông. Nhiều người bị sát thương cho đến tận cổng thành. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
41. A-bi-mê-léc trú đồn tại A-ru-ma. Xê-bun trục xuất Ga-anh và anh em của hắn, họ không được ở tại Si-chem nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
42. Ngày hôm sau, dân chúng đi ra ngoài đồng, và người ta báo cho A-bi-mê-léc. 43. Ông dẫn dân chúng, chia làm ba đội, và mai phục ngoài đồng. Khi thấy dân trong thành kéo ra, ông liền trỗi dậy, tấn công, rồi giết họ. 44. A-bi-mê-léc và quân lính của ông vội vàng án ngữ trước cổng thành; còn hai đội kia xông vào những người đang ở ngoài đồng, đánh giết chúng. 45. A-bi-mê-léc tấn công thành trọn một ngày, chiếm lấy, rồi giết dân trong thành. Ông san bằng thành, rồi rắc muối trên đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46. Nghe tin đó, tất cả dân chúng ở tháp Si-chem đều rút vào trong đồn của miếu thần Bê-rít. 47. Người ta báo tin cho A-bi-mê-léc hay rằng tất cả dân chúng tại tháp Si-chem đều tụ họp lại với nhau. 48. A-bi-mê-léc và tất cả những người theo ông đã đi lên núi Sanh-môn. Ông cầm rìu trong tay, chặt một nhánh cây, nhấc nó lên, rồi vác trên vai của mình; và rồi ông nói với những người theo mình rằng: “Các ngươi đã thấy ta làm. Hãy nhanh chóng làm như ta đã làm!” 49. Vì vậy, mỗi người đã chặt một nhánh cây, rồi đi theo A-bi-mê-léc. Họ dựng chúng chung quanh tháp, rồi phóng hỏa đốt tháp cùng những người trong đó. Vì vậy, tất cả những người trong tháp Si-chem đã chết, cả nam lẫn nữ khoảng một ngàn người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50. Sau đó, A-bi-mê-léc đến Thê-bết, bao vây Thê-bết, rồi chiếm thành. 51. Trong thành có một cái tháp kiên cố, tất cả dân trong thành, cả nam lẫn nữ đều chạy vào đó, đóng cửa lại, rồi họ đi lên đỉnh tháp. 52. A-bi-mê-léc đến gần tháp để tấn công nó. Nhưng khi đến cửa tháp để đốt, 53. thì có một phụ nữ ném một thớt cối xuống trúng đầu A-bi-mê-léc làm cho ông bị vỡ sọ. 54. Ông vội vàng gọi người thanh niên mang vũ khí của ông, rồi nói: “Hãy rút gươm ra và giết ta. Đừng để người ta nói về ta rằng: ‘Một người đàn bà đã giết hắn’”. Vì vậy, chàng thanh niên đã đâm ông và ông chết. 55. Khi dân Y-sơ-ra-ên thấy A-bi-mê-léc đã chết, thì họ lìa khỏi đó, mỗi người ai nấy trở về nơi chốn của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
56. Như vậy, Đức Chúa Trời đã báo trả A-bi-mê-léc về tội ác mà ông đã phạm với cha của mình trong việc giết bảy mươi anh em của mình. 57. Đức Chúa Trời cũng báo trả lại trên đầu của dân Si-chem tất cả những điều ác mà họ đã làm, đúng như lời nguyền của Giô-tham, con trai của Giê-ru-ba-anh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  A-bi-mê-léc, con trai Giê-ru-ba-anh, sang qua Si-chem, đến cùng các cậu và cả nhà ông ngoại mình, mà nói rằng: 2.  Xin các ông hãy hỏi hết thảy người Si-chem, mà nói rằng: Hoặc tất cả bảy mươi người con trai Giê-ru-ba-anh cai trị trên các ngươi, hoặc chỉ một người làm vua của các ngươi, điều nào là tốt hơn? Cũng hãy nhớ rằng ta đồng cốt nhục với các ngươi. 3.  Các cậu người nói giùm người, đem các lời nầy thuật lại cho hết thảy dân Si-chem nghe, và lòng chúng nghiêng về A-bi-mê-léc, vì chúng nói rằng: Người là anh em ta. 4.  Chúng bèn ban cho người bảy mươi miếng bạc của miếu Ba-anh-Bê-rít; A-bi-mê-léc lấy bạc đó mướn những kẻ bại hoại hoang đàng đi theo mình. 5.  Đoạn, người đi đến nhà cha mình tại Óp-ra, và trên một hòn đá, giết các anh em mình, tức những con trai của Giê-ru-ba-anh, số là bảy mươi người. Chỉ một mình Giô-tham, con út của Giê-ru-ba-anh, còn sống, bởi vì chàng đã ẩn mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Bấy giờ, hết thảy người Si-chem nhóm hiệp với cả họ Mi-lô, đi đến cây dẻ bộp bia-đá ở tại Si-chem, mà tôn A-bi-mê-léc làm vua. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Giô-tham hay đặng điều đó, bèn đi lên đứng trên chót núi Ga-ri-xim, cất tiếng la rằng: Hỡi người Si-chem, hãy nghe ta, và nguyện Đức Chúa Trời nghe các ngươi! 8.  Các cây cối đều đi đặng xức dầu cho một vua cai trị chúng nó. Chúng nó nói cùng cây ô-li-ve rằng: Hãy cai trị chúng tôi. 9.  Cây ô-li-ve đáp: Ta há sẽ bỏ dầu ta mà Đức Chúa Trời và loài người đều tôn vinh, đặng đi xao động trên các cây cối ư? 10.  Các cây cối lại nói cùng cây vả rằng: Hãy đến cai trị chúng tôi. 11.  Nhưng cây vả đáp rằng: Ta há sẽ bỏ sự ngọt ngon và trái tươi tốt ta đặng đi xao động trên các cây cối ư? 12.  Đoạn, các cây cối nói cùng cây nho rằng: Hãy đến cai trị chúng tôi. 13.  Nhưng cây nho đáp: Ta há sẽ bỏ rượu ngon ta, là thứ làm cho vui Đức Chúa Trời và người ta, đặng đi xao động trên các cây cối ư? 14.  Bấy giờ, hết thảy cây cối nói cùng gai góc rằng: Hãy đến cai trị chúng tôi. 15.  Gai góc đáp cùng các cây cối rằng: Nếu bởi lòng chân thật mà các ngươi muốn xức dầu ta làm vua các ngươi, thì hãy đến núp dưới bóng ta; bằng không, nguyện lửa ra từ gai và thiêu nuốt cây bá hương Li-ban đi! 16.  Bây giờ, có phải các ngươi cư xử chân thật và công bình mà tôn A-bi-mê-léc làm vua chăng? Các ngươi có hậu đãi Giê-ru-ba-anh và nhà người chăng? Có báo đáp điều người đã làm cho các ngươi chăng? 17.  Vì cha ta có tranh chiến cho các ngươi, liều mình mà giải cứu các ngươi khỏi tay dân Ma-đi-an. 18.  Nhưng ngày nay các ngươi lại dấy lên cùng nhà cha ta, đã giết trên một hòn đá các con trai người, số là bảy mươi người, và lấy A-bi-mê-léc, con trai của con đòi người, mà tôn lên làm vua của dân Si-chem, vì hắn là anh em các ngươi. 19.  Vậy, ví bằng ngày nay các ngươi có lấy sự chân thật và chánh trực mà đãi Giê-ru-ba-anh và nhà người, thì A-bi-mê-léc khá vui mừng nơi các ngươi, và các ngươi hãy vui mừng nơi hắn! 20.  Bằng chẳng, nguyện lửa ra từ A-bi-mê-léc thiêu nuốt những người Si-chem cùng họ Mi-lô; và nguyện lửa ra từ những người Si-chem cùng họ Mi-lô mà thiêu nuốt A-bi-mê-léc! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Đoạn, Giô-tham trốn, đi ẩn náu tại Bê-re, và ở đó, vì sợ A-bi-mê-léc, anh mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  A-bi-mê-léc cai trị Y-sơ-ra-ên trong ba năm. 23.  Đoạn, Đức Chúa Trời sai đến một ác thần sanh sự bất bình giữa A-bi-mê-léc và người Si-chem; người Si-chem bèn phản nghịch A-bi-mê-léc, 24.  để báo thù tội sát nhân đã phạm cùng bảy mươi con trai Giê-ru-ba-anh, và khiến huyết họ đổ lại trên A-bi-mê-léc, là anh đã giết họ, cùng đổ trên người Si-chem đã giúp hắn giết anh em mình. 25.  Người Si-chem sai mấy kẻ đi rình rập người trên chót núi; chúng nó cướp giựt những kẻ đi qua đường gần bên chúng nó. A-bi-mê-léc hay được điều đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Bấy giờ, Ga-anh, con trai Ê-bết, cùng anh em mình đến vào trong Si-chem; người Si-chem đều để lòng tin cậy nơi người. 27.  Rồi chúng ra ngoài đồng, hái những vườn nho của mình, đạp trái nho, và dự tiệc yến. Đoạn, họ vào trong đền thờ của thần chúng, ăn và uống, rồi rủa sả A-bi-mê-léc. 28.  Ga-anh, con trai Ê-bết, bèn nói rằng: A-bi-mê-léc là ai, Si-chem là chi mà chúng ta phục sự A-bi-mê-léc? Hắn há chẳng phải là con trai Giê-ru-ba-anh sao? Còn Xê-bun, há chẳng phải là kẻ phụ tá hắn ư? Các ngươi khá phục sự những người Hê-mô, là cha của Si-chem; còn chúng ta sao lại phục sự hắn? 29.  Ồ! nếu ta có dân sự nầy dưới tay ta, ta sẽ đuổi A-bi-mê-léc đi! Đoạn, người nói cùng A-bi-mê-léc rằng: Hãy gia tăng quân lính ngươi mà ra trận! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30.  Xê-bun, quan cai thành, nghe được các lời của Ga-anh, con trai Ê-bết nói, thì cơn giận người phừng lên, 31.  mật sai sứ đến A-bi-mê-léc, mà nói rằng: Nầy Ga-anh, con trai Ê-bết, và anh em nó đã đến Si-chem, xui giục thành dấy nghịch cùng ông. 32.  Vậy, đêm nay ông và các người theo ông phải chổi dậy, đi phục binh ngoài đồng. 33.  Đến sáng mai khi mặt trời vừa mọc, ông phải dậy sớm, xông hãm thành. Khi Ga-anh và quân theo nó ra đánh ông, thì ông hãy tùy cơ mà làm. 34.  Vậy, A-bi-mê-léc và cả đạo binh theo người đều chổi dậy ban đêm, chia ra làm bốn đội, và mai phục gần Si-chem. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35.  Ga-anh, con trai Ê-bết, kéo ra và đứng tại cửa thành; A-bi-mê-léc và cả đạo binh theo người bèn đi ra khỏi nơi phục. 36.  Ga-anh thấy đạo binh ấy, nói cùng Xê-bun rằng: Ta thấy một đạo binh từ trên chót núi xuống. Xê-bun đáp: Ngươi thấy bóng núi mà tưởng là người ta đó chớ! 37.  Nhưng Ga-anh lại tiếp rằng: Quả thật một cơ binh ở trên núi xuống, và một đội do đường cây dẻ bộp thuật sĩ mà đến. 38.  Xê-bun bèn la lên rằng: Chính ngươi đã nói: A-bi-mê-léc là ai mà ta phục sự hắn! Vậy, những lời khoe khoang của ngươi đó đã ra sao? Đó há chẳng phải đạo binh mà người khinh dể ư? Bây giờ, khá đi ra giao chiến cùng chúng nó! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39.  Ga-anh bèn đứng đầu các người Si-chem, đi ra giao chiến cùng A-bi-mê-léc. 40.  Ga-anh bị A-bi-mê-léc đuổi theo, chạy trốn trước mặt người, và nhiều người bị thương ngã chết dọc đường, cho đến cửa thành. 41.  A-bi-mê-léc đi ở tại A-ru-ma. Còn Xê-bun đuổi Ga-anh và anh em người đi, không cho ở tại Si-chem nữa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
42.  Qua ngày sau, dân sự đi ra ngoài đồng, có người đem tin đó cho A-bi-mê-léc hay. 43.  Người bèn bắt cơ binh mình chia ra làm ba đội, để mai phục ngoài đồng. Khi thấy dân sự ở thành kéo ra, người liền chổi dậy và hãm đánh chúng nó. 44.  Đoạn A-bi-mê-léc và những kẻ đi theo lướt đến trước, dừng lại tại cửa thành; còn hai đội kia xông vào hết thảy người ở ngoài đồng, và đánh giết họ. 45.  A-bi-mê-léc hãm đánh thành trọn ngày, bèn chiếm lấy và giết hết thảy người ở trong, rồi phá thành và rắc muối ở đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46.  Nghe tin nầy, hết thảy dân sự ở tháp Si-chem đều rút về trong đồn của miếu thần Bê-rít. 47.  Người ta đem tin cho A-bi-mê-léc hay rằng hết thảy dân sự tháp Si-chem đều hiệp lại tại trong đồn. 48.  A-bi-mê-léc bèn đi lên núi Sanh-môn với cả đạo binh theo mình. Người cầm lấy nơi tay một cái rìu chặt một nhánh cây, đỡ nó lên và vác trên vai; rồi nói cùng quân theo mình rằng: Các ngươi có thấy điều ta làm chăng? Hãy mau mau làm như ta. 49.  Vậy, mỗi người chặt một nhánh cây, rồi đi theo A-bi-mê-léc. Họ dựng sắp nhánh cây đó nơi đồn, châm lửa vào, và thiêu đồn cùng những người ở trong. Như vậy hết thảy những người ở tháp Si-chem, nam và nữ, đều chết, số ước một ngàn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50.  A-bi-mê-léc liền đi đánh Thê-bết, vây và chiếm lấy nó. 51.  Giữa thành phố có một cái tháp vững bền, hết thảy dân sự của thành, nam và nữ, đều chạy vô núp tại đó, và đóng cửa lại, rồi lên trên đỉnh tháp. 52.  A-bi-mê-léc tấn tới tháp, xông hãm nó, và đi lại gần cửa đặng phóng hỏa. 53.  Nhưng một người nữ ném thớt cối trên đầu A-bi-mê-léc làm bể sọ người. 54.  Người liền kêu gã trai trẻ cầm binh khí hầu mình, mà nói rằng: Hãy rút gươm ngươi ra giết ta đi, kẻo người ta nói: một người đàn bà đã giết người! Vậy, gã trai trẻ bèn đâm người, thì người chết. 55.  Khi người Y-sơ-ra-ên thấy A-bi-mê-léc đã chết, thì mỗi người đi về nhà mình. 56.  Như vậy, Đức Chúa Trời báo ứng A-bi-mê-léc vì tội ác hắn đã phạm cùng cha mình mà giết bảy mươi người anh em mình. 57.  Đức Chúa Trời cũng báo ứng dân Si-chem vì mọi điều ác mà chúng nó làm. Sự rủa sả của Giô-tham, con trai Giê-ru-ba-anh, ứng nghiệm trên chúng nó là như vậy. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B07\V02B07C009.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''A-bi-mê-léc Mưu Ðồ Soán Vị'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Bấy giờ A-bi-mê-léc con của Giê-ru-ba-anh đến Sê-chem, gặp các cậu và những bà con bên ngoại của hắn, và nói với họ, 2 “Xin đi hỏi tất cả các thủ lãnh ở Sê-chem xem, ‘Ðiều nào là tốt hơn cho quý vị, tất cả bảy mươi con trai của Giê-ru-ba-anh trị vì quý vị, hay chỉ một người trị vì quý vị?’  Xin nhớ rằng tôi là máu mủ ruột thịt của quý vị.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Vậy những bà con bên ngoại của hắn lặp lại những lời ấy để ủng hộ hắn trước mặt các thủ lãnh của Sê-chem.  Lòng những người đó bèn nghiêng theo A-bi-mê-léc, vì họ nói, “Ông ấy là anh em của chúng ta.”  4 Họ bèn cho A-bi-mê-léc bảy mươi miếng bạc lấy từ quỹ trong đền thờ Ba-anh Bê-rít.  A-bi-mê-léc dùng số bạc đó mướn những tên du đãng hoang đàng theo hắn.  5 Hắn trở về nhà cha hắn ở Óp-ra, và trên một tảng đá giết bảy mươi anh em hắn, tức các con trai của Giê-ru-ba-anh, ngoại trừ Giô-tham con trai út của Giê-ru-ba-anh còn sống sót, vì chàng trốn thoát được.  6 Bấy giờ tất cả các thủ lãnh của Sê-chem và Bết Min-lô họp lại tại trụ đá cạnh cây sồi ở Sê-chem và lập A-bi-mê-léc làm vua.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ngụ Ngôn về Các Cây Cối'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Khi Giô-tham nghe được tin ấy, chàng đi lên đỉnh đèo trên Núi Ghê-ri-xim, cất tiếng lớn và nói, “Hỡi các thủ lãnh của Sê-chem, xin hãy nghe tôi, hầu Ðức Chúa Trời có thể nghe quý vị: 8 Các cây cối đến với nhau để xức dầu cho một kẻ làm vua trên chúng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng đến nói với cây ô-liu, ‘Hãy trị vì chúng tôi.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Cây ô-liu đáp, ‘Lẽ nào tôi ngừng sản xuất dầu của tôi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Là dầu mà Ðức Chúa Trời và các vua đều quý,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mà đi lăng xăng lít xít trên các cây cối hay sao?’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Các cây bèn đến cây vả và nói, ‘Hãy đến và lãnh đạo chúng tôi.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Nhưng cây vả đáp, ‘Lẽ nào tôi ngừng sản xuất sự ngọt ngào của tôi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và những trái ngọt ngon của tôi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mà đi lăng xăng lít xít trên các cây cối hay sao?’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Các cây bèn đến cây nho và nói, ‘Hãy đến và lãnh đạo chúng tôi.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Nhưng cây nho đáp, ‘Lẽ nào tôi ngừng sản xuất rượu nho của tôi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Là rượu làm cho Ðức Chúa Trời và loài người đều vui thích,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mà đi lăng xăng lít xít trên các cây cối hay sao?’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Các cây bèn đến cây gai và nói, ‘Hãy đến và lãnh đạo chúng tôi.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Cây gai bèn nói với chúng, ‘Nếu các người thật lòng muốn xức dầu cho tôi làm vua trên các người,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thì hãy đến núp dưới bóng của tôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu không, lửa từ các cộng gai của tôi cháy ra sẽ thiêu rụi cả những cây tùng hương ở Li-băng.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Vậy bây giờ nếu quý vị lấy lòng thành và chân thật mà tôn A-bi-mê-léc lên làm vua, nếu quý vị đối xử tốt với Giê-ru-ba-anh và gia đình người, và đáp đền người xứng đáng với những gì người đã làm, 17 vì cha tôi đã chiến đấu cho quý vị, xả thân cho quý vị, và giải  thoát quý vị khỏi tay dân Mi-đi-an, 18 nhưng bây giờ quý vị lại nổi lên chống gia đình của cha tôi, giết các con trai người, bảy mươi người chết trên một tảng đá, rồi quý vị tôn A-bi-mê-léc, con trai của nô tỳ người lên làm vua trên các thủ lãnh của Sê-chem, vì hắn là bà con của quý vị, 19 nếu ngày nay quả vì lòng thành và chân thật mà quý vị đáp đền với Giê-ru-ba-anh và gia đình của người như thế, thì xin quý vị hãy vui vẻ với A-bi-mê-léc, và để hắn vui vẻ với quý vị.  20 Nhưng nếu không phải như vậy, nguyện lửa từ A-bi-mê-léc cháy ra thiêu hủy các thủ lãnh của Sê-chem và Bết Min-lô, và nguyện lửa từ các thủ lãnh của Sê-chem và Bết Min-lô thiêu hủy A-bi-mê-léc.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Nói xong Giô-tham chạy trốn đến xứ Bê-e.  Chàng trốn đến đó vì sợ anh chàng là A-bi-mê-léc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''A-bi-mê-léc Thất Bại'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 A-bi-mê-léc lãnh đạo I-sơ-ra-ên được ba năm.  23 Bấy giờ Ðức Chúa Trời sai một tà linh đến giữa A-bi-mê-léc và các thủ lãnh của Sê-chem.  Các thủ lãnh của Sê-chem sinh lòng phản bội A-bi-mê-léc.  24 Ðiều ấy đã xảy ra để báo thù cho tội ác đối với bảy mươi con trai của Giê-ru-ba-anh, và máu của họ phải đổ lại trên A-bi-mê-léc, một anh em ruột của họ, kẻ đã giết họ, đồng thời cũng đổ lại trên các thủ lãnh của Sê-chem, những kẻ đã tiếp tay A-bi-mê-léc giết hại các anh em của hắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25 Vậy để bày tỏ sự chống đối của họ, các thủ lãnh của Sê-chem tổ chức những cuộc phục kích ở các đỉnh đèo.  Họ cướp giựt những khách bộ hành qua lại các nơi đó; và người ta báo cho A-bi-mê-léc biết chuyện ấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Lúc ấy Ga-anh con trai Ê-bết và các anh em của hắn dọn vào Sê-chem.  Các thủ lãnh của Sê-chem để lòng tin tưởng nơi hắn.  27 Chúng ra đồng, hái nho, ép rượu, và tổ chức tiệc mừng, rồi vào đền thờ thần của chúng mà ăn, uống, và chế giễu A-bi-mê-léc.  28 Ga-anh con trai Ê-bết nói, “A-bi-mê-léc là ai, còn chúng ta là ai trong thành Sê-chem này mà phải phục vụ hắn?  Há chẳng phải con trai của Giê-ru-ba-anh và Xê-bun, quan phụ tá của hắn, phải phục vụ những người trong dòng họ Ha-mô tổ tiên của Sê-chem, hay sao?  Tại sao chúng ta phải phục vụ hắn chứ?  29 Nếu dân thành này ở dưới quyền tôi, thì tôi sẽ dẹp bỏ hắn ngay.  Tôi sẽ bảo A-bi-mê-léc rằng, ‘Có giỏi thì hãy dẫn hết đạo quân của ngươi ra đây.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30 Khi Xê-bun quan cai trị của thành nghe những lời của Ga-anh con trai Ê-bết nói thế thì rất tức giận.  31 Xê-bun mật sai các sứ giả đến gặp A-bi-mê-léc tại A-ru-ma và tâu rằng, “Ðây này, Ga-anh con trai Ê-bết và anh em hắn đã kéo đến Sê-chem; chúng đang xúi giục dân thành chống lại ngài.  32 Vậy bây giờ, ban đêm xin ngài và các đội quân của ngài đến và nằm phục kích ngoài đồng.  33 Ðợi đến hừng đông, vừa khi mặt trời mọc, xin tấn công vào thành; rồi khi hắn và binh sĩ của hắn kéo ra đối địch, xin ngài xử chúng thế nào tùy ý.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34 Vậy A-bi-mê-léc và tất cả quân lính của hắn trỗi dậy, đang đêm tiến đến Sê-chem, chia thành bốn đội, và nằm phục kích ngoài đồng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 Khi Ga-anh con trai Ê-bết đi ra và đứng ở cổng thành, A-bi-mê-léc và các quân lính hắn từ chỗ phục kích trỗi dậy.  36 Ga-anh thấy vậy liền nói với Xê-bun, “Xem kìa, có người từ trên các đỉnh núi đi xuống!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xê-bun đáp, “Ấy chỉ là bóng mát của núi mà ông tưởng là người ta đó thôi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
37 Ga-anh lại nói, “Xem kìa, có người đang từ giữa đồi tràn xuống, và một đội nữa đang từ hướng Cây Thầy Bói đổ về.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38 Bấy giờ Xê-bun nói, “Những lời phách lối của ông đâu rồi?  Ông là người đã nói rằng ‘A-bi-mê-léc là ai mà chúng ta phải phục vụ hắn?’  Có phải đây là đội quân mà ông đã coi thường chăng?  Vậy bây giờ ông hãy ra đối địch với họ đi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39 Vậy Ga-anh đi trước các thủ lãnh của Sê-chem và ra đối địch với A-bi-mê-léc.  40 A-bi-mê-léc đánh bại hắn và hắn bỏ chạy trước mặt A-bi-mê-léc.  Nhiều người đã tử thương và ngã chết đến tận cổng thành.  41 Vậy A-bi-mê-léc ở tại A-ru-ma, trong khi đó Xê-bun đuổi Ga-anh và anh em hắn, để chúng không được ở trong Thành Sê-chem nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
42 Hôm sau dân thành đi ra đồng, và người ta báo tin cho A-bi-mê-léc biết. 43 Hắn liền dẫn quân của hắn, chia làm ba đội, nằm phục kích ngoài đồng.  Khi thấy dân chúng từ trong thành đã ra đồng, hắn và quân lính hắn trỗi dậy đánh giết họ.  44 A-bi-mê-léc và đội quân đi với hắn tiến vào án ngữ cổng thành, trong khi hai đội kia tấn công những người còn ở ngoài đồng và giết họ.  45 Suốt ngày hôm đó, A-bi-mê-léc tấn công thành; hắn chiếm được thành, giết chết dân cư trong thành, phá hủy thành, và rắc muối trên nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46 Khi các thủ lãnh ở Tháp Sê-chem nghe thế, họ rút quân vào chiến lũy của đền thờ Thần Bê-rít.  47 A-bi-mê-léc được báo tin rằng tất cả quân dân của Tháp Sê-chem đang rút vào trong đó.  48 A-bi-mê-léc liền đi lên Núi Xanh-môn và dẫn theo đội quân của hắn.  Hắn lấy một cái rìu, chặt mấy nhánh cây, rồi vác lên vai.  Ðoạn hắn bảo các quân sĩ của hắn, “Các ngươi có thấy điều ta làm chăng?  Lẹ lên.  Hãy làm như ta làm.”  49 Vậy mỗi binh sĩ đều chặt các nhánh cây, vác trên vai, đi theo A-bi-mê-léc, chất chung quanh chiến lũy, và nổi lửa đốt nó.  Thế là tất cả những người trong Tháp Sê-chem đều chết; ước chừng một ngàn người, cả nam lẫn nữ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50 Sau đó A-bi-mê-léc kéo đến Thành Thê-bê, bao vây Thê-bê, để đánh hạ thành ấy.  51 Nhưng trong thành có một cái tháp rất kiên cố.  Tất cả dân chúng trong thành, cả nam lẫn nữ, và các thủ lãnh của thành đều rút vào trong tháp đó, khóa chặt cửa lại, rồi lên trên sân thượng của tháp.  52 A-bi-mê-léc tiến gần và tấn công tháp.  Nhưng khi hắn lại gần cửa tháp để nổi lửa đốt nó, 53 một phụ nữ đã lấy nửa trên của cối đá ném xuống trúng đầu của A-bi-mê-léc và làm hắn bị vỡ sọ.  54 Hắn liền gọi người lính vác binh khí cho hắn và bảo, “Hãy rút gươm ra và giết ta ngay, kẻo người ta sẽ bảo, ‘Ông ấy đã bị giết bởi tay đàn bà.’”  Vậy người lính trẻ đâm hắn một nhát và hắn chết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
55 Khi dân I-sơ-ra-ên thấy A-bi-mê-léc đã chết, họ đều trở về nhà mình.  56 Như thế Ðức Chúa Trời đã báo trả A-bi-mê-léc về tội ác mà hắn đã phạm đối với cha hắn, vì hắn đã giết chết bảy mươi anh em hắn.  57 Ðức Chúa Trời cũng đã làm cho mọi điều gian ác của dân Sê-chem đổ lại trên đầu chúng.  Những lời nguyền rủa của Giô-tham con trai Giê-ru-ba-anh đã được ứng nghiệm trên chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Giô-suê]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 8]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 10]]&lt;br /&gt;
:* [[Ru-tơ]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35785</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 4</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35785"/>
		<updated>2026-08-05T00:29:33Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng Đức Thánh Linh nói rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, 2. theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, 3. cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. 4. Bởi vì mọi vật do Đức Chúa Trời tạo dựng đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - đáng được tiếp nhận với lòng biết ơn, 5. bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. 7. Nhưng hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. 8. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. 9. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. 10. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, là Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy truyền đạt và dạy dỗ những điều này. 12. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch để làm gương cho các tín hữu. 13. Hãy chú trọng đọc Kinh Thánh nơi công cộng, khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. 14. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. 15. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, thấm nhuần chúng, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. 16. Hãy cẩn trọng với chính mình con và sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng Thánh Linh nói rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. Bởi vì mọi vật do Đức Chúa Trời tạo dựng đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - hãy tiếp nhận với lòng biết ơn, bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, con được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. Tuy nhiên hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, là Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy truyền đạt và dạy dỗ những điều này. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch để làm gương cho các tín hữu. Hãy chú trọng đọc Kinh Thánh nơi công cộng, khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, thấm nhuần chúng, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. Hãy cẩn trọng với chính mình con và sự giảng dạy. Hãy kiên trì trong những điều đó, vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng Thánh Linh phán rõ rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có một số người lìa bỏ đức tin, chạy theo các thần linh giả dối, và những sự dạy dỗ của ma quỷ, 2. theo thói đạo đức giả của những kẻ nói dối, là những kẻ có lương tâm chai lì, 3. cấm đoán hôn nhân, kiêng cữ các thức ăn mà Đức Chúa Trời đã tạo ra để những người tin và hiểu biết chân lý nhận lãnh với lòng biết ơn. 4. Bởi vì mọi tạo vật của Đức Chúa Trời đều tốt đẹp, không có vật gì đáng loại bỏ - nên được tiếp nhận với lòng biết ơn, 5. bởi vì nhờ lời của Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nếu con giãi bày những điều nầy cho các anh em, thì con sẽ là đầy tớ tốt của Đấng Christ Jesus, được nuôi dưỡng bằng lời của đức tin và giáo lý chân chính mà con đã theo. 7. Tuy nhiên hãy khước từ những chuyện hoang đường và phàm tục. Hãy luyện tập cho mình sự tin kính. 8. Bởi vì sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi một ít, còn sự tin kính ích lợi mọi điều, chứa đựng lời hứa cho đời nầy và đời sẽ đến. 9. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn. 10. Chúng ta khổ nhọc và tranh đấu cho điều nầy, bởi vì chúng ta hy vọng nơi Đức Chúa Trời hằng sống, Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy truyền đạt và dạy dỗ những điều này. 12. Đừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng phải lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin và sự trong sạch làm gương cho các tín hữu. 13. Hãy chú trọng đọc Kinh Thánh nơi công cộng, khuyên bảo và dạy dỗ cho tới khi ta đến. 14. Đừng xao lãng ân tứ ở trong con, là điều đã ban cho con qua lời tiên tri, cùng với sự đặt tay của hội đồng trưởng lão. 15. Hãy chuyên tâm vào những điều nầy, thấm nhuần chúng, để mọi người thấy sự tiến bộ của con. 16. Hãy cẩn trọng với chính mình con và sự giảng dạy. Hãy tiếp tục trong những điều đó, vì làm như vậy, con và những người nghe con sẽ được cứu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vả, Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ, 2.  bị lầm lạc bởi sự giả hình của giáo sư dối, là kẻ có lương tâm đã lì, 3.  họ sẽ cấm cưới gả, và biểu kiêng các thức ăn Đức Chúa Trời đã dựng nên cho kẻ có lòng tin và biết lẽ thật, tạ ơn mà dùng lấy. 4.  Vả, mọi vật Đức Chúa Trời đã dựng nên đều là tốt lành cả, không một vật chi đáng bỏ, miễn là mình cảm ơn mà ăn lấy thì được; 5.  vì nhờ lời Đức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được nên thánh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Con giải tỏ các việc đó cho anh em, thì con sẽ nên kẻ giúp việc ngay lành của Đức Chúa Jêsus Christ, được nuôi bởi các lời của đức tin và đạo lý lành mà con đã theo. 7.  Những lời hư ngụy phàm tục giống như chuyện bịa các bà già, thì hãy bỏ đi, và tập tành sự tin kính. 8.  Vì sự tập tành thân thể ích lợi chẳng bao lăm, còn như sự tin kính là ích cho mọi việc, vì có lời hứa về đời nầy và về đời sau nữa. 9.  Ấy đó là một lời nói chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy. 10.  Vả, nếu chúng ta khó nhọc và đánh trận, ấy là đã để sự trông cậy ta trong Đức Chúa Trời hằng sống, Ngài là Cứu Chúa của mọi người, mà nhất là của tín đồ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Kìa là điều con phải rao truyền và dạy dỗ. 12.  Chớ để người ta khinh con vì trẻ tuổi; nhưng phải lấy lời nói, nết làm, sự yêu thương, đức tin và sự tinh sạch mà làm gương cho các tín đồ. 13.  Hãy chăm chỉ đọc sách, khuyên bảo, dạy dỗ, cho đến chừng ta đến. 14.  Đừng bỏ quên ơn ban trong lòng con, là ơn bởi lời tiên tri nhân hội trưởng lão đặt tay mà đã ban cho con vậy. 15.  Hãy săn sóc chuyên lo những việc đó, hầu cho thiên hạ thấy sự tấn tới của con. 16.  Hãy giữ chính mình con và sự dạy dỗ của con; phải bền đỗ trong mọi sự đó, vì làm như vậy thì con và kẻ nghe con sẽ được cứu. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cảnh Cáo về Những Tín Lý Sai Lầm'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðức Thánh Linh đã phán rõ ràng rằng trong thời kỳ cuối cùng sẽ có những người lìa bỏ đức tin để theo các tà linh lừa dối và các giáo lý của các quỷ.  2 Họ theo thói đạo đức giả của bọn dối trá, là những kẻ có lương tâm chai lỳ.  3 Họ cấm cưới gả và bắt kiêng cữ các thức ăn Ðức Chúa Trời đã dựng nên, để những người có lòng tin và hiểu biết chân lý cảm tạ và dùng.  4 Vì mọi vật do Ðức Chúa Trời dựng nên đều tốt cả, không vật gì đáng bỏ, miễn là được nhận lấy với lòng biết ơn, 5 vì nhờ lời Ðức Chúa Trời và lời cầu nguyện mà vật đó được thánh hóa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chức Vụ của Người Phục Vụ Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Nếu con giãi bày những điều ấy cho anh chị em, con sẽ là một đầy tớ tốt của Ðức Chúa Jesus Christ, được nuôi dưỡng trong lời của đức tin và trong tín lý chân chính mà con đã tin theo.  7 Ðừng để con dính líu gì đến những chuyện báng bổ và những chuyện nhảm nhí của các bà già; thay vào đó hãy luyện tập cho con thành một người tin kính đạo đức, 8 vì sự luyện tập cơ thể ích lợi chẳng bao nhiêu, nhưng sự tin kính đạo đức ích lợi đủ mọi mặt, bởi trong đó có lời hứa cho cuộc sống hiện tại và đời sống hầu đến.  9 Ðó là những lời đáng tin cậy và đáng chấp nhận hoàn toàn.  10 Vì mục đích ấy chúng ta lao động vất vả và phấn đấu, bởi chúng ta đặt hy vọng nơi Ðức Chúa Trời hằng sống, Ðấng Giải Cứu của mọi người, đặc biệt là của những người có lòng tin.  11 Ðó là những điều con hãy truyền và dạy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Ðừng để ai khinh con vì trẻ tuổi, nhưng hãy lấy lời nói, cách cư xử, tình thương, đức tin, và sự trong sạch mà làm gương cho các tín hữu.  13 Cho đến khi ta đến, con hãy chú trọng vào việc tuyên đọc Kinh Thánh, khuyên bảo, và giảng dạy.  14 Ðừng quên ân tứ ở trong con, tức ân tứ đã ban cho con qua lời tiên tri khi Hội Ðồng Trưởng Lão đặt tay trên con.  15 Hãy đem những điều ta nói ở trên ra áp dụng, hãy tận tụy làm theo những điều ấy, để mọi người có thể thấy sự tiến bộ của con.  16 Con hãy thận trọng trong cách ăn nết ở và trong sự giảng dạy của mình.  Hãy kiên trì trong các lĩnh vực đó, vì làm như thế con sẽ cứu được chính mình và những người nghe con giảng dạy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 5]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%B3p_:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_33&amp;diff=35784</id>
		<title>Gióp : Chương 33</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%B3p_:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_33&amp;diff=35784"/>
		<updated>2026-07-27T23:19:22Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, thưa ông Gióp, xin hãy nghe lời trình bày của tôi! Xin lắng nghe tất cả những lời nói của tôi. &lt;br /&gt;
2. Bây giờ, tôi mở miệng của mình, và lưỡi trong miệng của tôi sẽ nói. 3. Những lời nói từ tấm lòng của tôi là chính trực, môi của tôi thốt ra sự hiểu biết thuần khiết. 4. Thần của Đức Chúa Trời đã tạo ra tôi, và hơi thở của Đấng Toàn Năng ban cho tôi sự sống. 5. Nếu ông có thể phản biện, xin hãy sắp đặt lý luận của mình, rồi trình bày trước mặt tôi. 6. Thật vậy, trước mặt Đức Chúa Trời, tôi cũng như ông đã được tạo thành từ đất sét. 7. Hãy xem, tôi không có gì đáng sợ khiến ông phải kinh hãi, cũng không có áp lực nào đè nặng trên ông. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Thật vậy, ông đã nói vào tai của tôi. Tôi đã nghe những lời ông nói rằng: 9. &amp;quot;Tôi trong sạch, không làm điều gì sai phạm. Tôi vô tội và trong tôi không chất chứa sự gian ác nào. 10. Dầu vậy Ngài tìm những cơ hội để chống lại tôi. Ngài xem tôi như là kẻ thù của Ngài. 11. Ngài tra chân tôi vào xiềng. Ngài theo dõi mọi đường lối của tôi.” 12. Hãy xem! Tôi xin thưa là ông không đúng trong điều nầy, bởi vì Đức Chúa Trời vĩ đại hơn loài người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Tại sao ông cứ tranh luận với Ngài, bởi vì Ngài đâu có trách nhiệm phải giải thích mọi việc Ngài làm. 14. Ðức Chúa Trời đã phán cách này hay cách khác, nhưng người ta không quan tâm để ý: 15. Qua giấc mơ, qua khải tượng trong ban đêm, lúc người ta rơi vào giấc ngủ say, hay khi ngủ mê mệt trên giường của mình; 16. Ngài đã mở tai cho loài người, rồi ấn chứng những lời giáo huấn của Ngài; 17. để thay đổi việc con người đang làm, và che chở cho họ khỏi sự kiêu ngạo, 18. để giữ linh hồn của họ khỏi sa vào vực sâu, và sinh mạng của họ khỏi bị diệt bởi gươm đao. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Loài người được sửa dạy bởi sự đau đớn trên giường bệnh, xương cốt run rẩy triền miên.  20. Còn sống nhưng ngao ngán thức ăn, và bản thân không còn thích thực phẩm. 21. Thể xác tàn tạ không còn hình dung được nữa. Xương cốt vốn được giấu kín, bây giờ lại lộ ra. 22. Và rồi linh hồn bị kéo đến vực sâu và mạng sống bị đem đi hành xử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Nếu có một sứ giả, một vị trung gian được chọn ở giữa hàng ngàn người, để chỉ cho người đó điều gì là đúng cho người đó. 24. Và Ngài thương xót người, nói rằng: &amp;quot;Hãy giải cứu nó khỏi bị sa xuống vực sâu. Ta đã nhận giá chuộc mạng của nó rồi.&amp;quot; 25. Và rồi, thân thể của người được phục hồi như lúc còn trẻ, người sẽ trở lại thời thanh xuân. 26. Người sẽ cầu nguyện với Đức Chúa Trời và được Ngài vui nhận. Người sẽ gặp mặt Ngài và mừng vui, bởi vì Ngài phục hồi cho người sự công chính của Ngài. 27. Người sẽ gặp nhiều người và nói: &amp;quot;Tôi đã phạm tội, đã làm sai lệch những gì chân chính, và điều đó không ích lợi gì cho tôi. 28. Ngài đã giải cứu linh hồn tôi khỏi vực sâu, và đời sống của tôi sẽ thấy ánh sáng.&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29. Hãy xem, Đức Chúa Trời đã làm tất cả những việc này đôi ba lần như vậy cho con người, 30. để đem linh hồn của con người khỏi vực sâu, để con người có thể được soi sáng bởi ánh sáng của sự sống. 31. Thưa ông Gióp! Xin hãy để tai lắng nghe tôi. Hãy yên lặng, rồi tôi sẽ nói: 32. Tôi mong ước ông là công chính, vì vậy nếu ông có điều gì để nói, xin hãy nói với tôi. 33. Nếu không, xin hãy yên lặng và lắng nghe tôi. Tôi sẽ giải bày cho ông sự khôn ngoan. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, thưa ông Gióp, xin hãy nghe lời trình bày của tôi! Xin lắng nghe tất cả những lời nói của tôi. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Bây giờ, tôi mở miệng của mình, và lưỡi trong miệng của tôi sẽ nói.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Những lời nói từ tấm lòng của tôi là chính trực, môi của tôi thốt ra sự hiểu biết được chắt lọc.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Thần của Đức Chúa Trời đã tạo nên tôi, và hơi thở của Đấng Toàn Năng ban cho tôi sự sống.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Nếu ông có thể phản biện, xin hãy sắp đặt lý luận của mình, rồi trình bày trước mặt tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Thật vậy, trước mặt Đức Chúa Trời, tôi cũng như ông đã được tạo thành từ đất sét.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Hãy xem, tôi không có gì đáng sợ khiến ông phải kinh hãi, cũng không có áp lực nào đè nặng trên ông.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Thật vậy, ông đã nói vào tai của tôi. Tôi đã nghe những lời ông nói rằng:&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. &amp;quot;Tôi trong sạch - không làm điều gì sai phạm. Tôi vô tội và trong tôi không chất chứa sự gian ác nào.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Dầu vậy Ngài tìm những cơ hội để chống lại tôi. Ngài xem tôi như kẻ thù của Ngài.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Ngài tra chân tôi vào xiềng. Ngài theo dõi mọi đường lối của tôi.”&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Hãy xem! Tôi xin thưa là ông không đúng trong điều nầy, bởi vì Đức Chúa Trời vĩ đại hơn loài người.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Tại sao ông cứ tranh luận với Ngài, bởi vì Ngài đâu có trách nhiệm phải giải thích mọi việc Ngài làm.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ðức Chúa Trời đã phán một lần, hoặc hai lần, nhưng người ta không quan tâm để ý. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Qua giấc mơ, qua khải tượng trong ban đêm, lúc người ta rơi vào giấc ngủ say, hay khi ngủ mê mệt trên giường của mình;&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Sau đó Ngài mở tai cho loài người, và ấn chứng những lời giáo huấn của Ngài.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Để thay đổi việc con người đang làm, và che giấu họ khỏi sự kiêu ngạo.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Để giữ linh hồn của họ khỏi sa vào vực sâu, và sinh mạng của họ khỏi bị diệt bởi gươm đao.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Loài người được sửa dạy bởi sự đau đớn trên giường bệnh, xương cốt run rẩy triền miên. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Còn sống nhưng ngao ngán thức ăn, và bản thân không còn thích thực phẩm. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Thể xác tàn tạ không còn hình dung được nữa; xương cốt vốn được giấu kín, giờ lại lộ ra.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Và rồi linh hồn bị kéo đến vực sâu, và mạng sống bị đem đi hành xử.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Nếu có một sứ giả, một vị trung gian được chọn ở giữa hàng ngàn người, để chỉ cho người đó điều gì là đúng cho người đó.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Và Ngài thương xót người, nói rằng: &amp;quot;Hãy giải cứu nó khỏi bị sa xuống vực sâu. Ta đã nhận giá chuộc mạng nó rồi.&amp;quot;&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25. Và rồi thân thể của người được phục hồi như lúc còn trẻ, người sẽ trở lại thời thanh xuân.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Người sẽ cầu nguyện với Đức Chúa Trời và được Ngài vui nhận. Người sẽ gặp mặt Ngài và mừng vui, bởi vì Ngài phục hồi cho người sự công chính của Ngài.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Người sẽ gặp nhiều người và nói: &amp;quot;Tôi đã phạm tội, đã làm sai lệch những gì chân chính, và điều đó không ích lợi gì cho tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Ngài đã giải cứu linh hồn tôi khỏi vực sâu, và đời sống tôi sẽ thấy ánh sáng.&amp;quot;&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29. Hãy xem, Đức Chúa Trời đã làm tất cả những việc này đôi ba lần như vậy cho con người,&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30. Để đem linh hồn của con người khỏi vực sâu, để con người có thể được soi sáng bởi ánh sáng của sự sống.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31. Thưa ông Gióp! Xin hãy để tai lắng nghe tôi. Hãy yên lặng, rồi tôi sẽ nói:&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32. Tôi mong ước ông là công chính, vì vậy nếu ông có điều gì để nói, xin hãy nói với tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. Nếu không, xin hãy yên lặng và lắng nghe tôi. Tôi sẽ giải bày cho ông sự khôn ngoan.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Nhưng vậy, hỡi Gióp, xin hãy nghe diễn thuyết tôi. Khá lắng tai nghe các lời nói tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;2.  Kìa, tôi đã mở miệng ra, Lưỡi tôi nói trong họng tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;3.  Các lời tôi nói sẽ chiếu theo sự chánh trực của lòng tôi; Điều tôi biết lưỡi tôi sẽ nói cách thành thực.&amp;lt;br/&amp;gt;4.  Thần Đức Chúa Trời đã sáng tạo tôi, Hơi thở của Đấng Toàn năng ban cho tôi sự sống.&amp;lt;br/&amp;gt;5.  Nếu đáp được, hãy đáp lại cho tôi, Hãy đứng dậy, bày ra lời của ông tại trước mặt tôi!&amp;lt;br/&amp;gt;6.  Hãy xem, đối cùng Đức Chúa Trời tôi với ông có khác chi, Tôi cũng bởi đất bùn mà ra.&amp;lt;br/&amp;gt;7.  Sự oai nghi tôi nào sẽ làm cho ông kinh khiếp, Và quyền thế tôi sẽ chẳng đè ép ông.&amp;lt;br/&amp;gt;8.  Quả ông có nói đến tai tôi, Tôi đã nghe tiếng lời của ông nói rằng:&amp;lt;br/&amp;gt;9.  Tôi trong sạch, không có vi phạm; Tôi vô tội, và trong lòng tôi chẳng có gian ác gì.&amp;lt;br/&amp;gt;10.  Dầu vậy, Đức Chúa Trời tìm dịp đối địch tôi, Cầm tôi như kẻ thù nghịch Ngài;&amp;lt;br/&amp;gt;11.  Ngài riết chân tôi vào cùm, Và coi chừng đường lối tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;12.  Nầy, tôi muốn đáp với ông rằng trong các lời ấy ông nói vô lý; Vì Đức Chúa Trời là lớn hơn loài người.&amp;lt;br/&amp;gt;13.  Nhân sao ông tranh luận với Ngài? Ngài không bày giãi điều nào Ngài làm.&amp;lt;br/&amp;gt;14.  Vì Đức Chúa Trời phán một lần, Hoặc hai lần; nhưng người ta không để ý đến.&amp;lt;br/&amp;gt;15.  Ngài phán trong chiêm bao, trong dị tượng ban đêm, Lúc người ta ngủ mê, Nằm ngủ trên giường mình;&amp;lt;br/&amp;gt;16.  Bấy giờ Ngài mở lỗ tai loài người, Niêm phong lời giáo huấn mà Ngài dạy cho họ,&amp;lt;br/&amp;gt;17.  Hầu cho loài nguời khỏi điều họ toan làm, Và giấu họ tánh kiêu ngạo,&amp;lt;br/&amp;gt;18.  Cứu linh hồn họ khỏi cái huyệt, Và mạng sống khỏi bị gươm giết,&amp;lt;br/&amp;gt;19.  Loài người nằm trên giường mình bị đau đớn sửa phạt, Và xương cốt người hàng tranh chạm nhau mãi mãi,&amp;lt;br/&amp;gt;20.  Miệng người bèn lấy làm gớm ghiếc vật thực, Và linh hồn người ghét những đồ ăn mĩ vị.&amp;lt;br/&amp;gt;21.  Thịt người bị tiêu hao không còn thấy nữa, Và xương người, mà trước chẳng thấy được, bèn bị lộ ra.&amp;lt;br/&amp;gt;22.  Linh hồn người đến gần cái hầm, Và sự sống người xích lại kẻ giết.&amp;lt;br/&amp;gt;23.  Nếu trong một ngàn thiên sứ, có một thiên sứ làm kẻ truyền-giải cho người, Để chỉ dạy người biết điều ngay thẳng cho người,&amp;lt;br/&amp;gt;24.  Ắt Đức Chúa Trời làm ơn cho người và phán rằng: &amp;quot;Hãy giải cứu nó khỏi bị sa xuống cái hầm; Ta đã tìm đặng giá cứu chuộc rồi&amp;quot;&amp;lt;br/&amp;gt;25.  Người sẽ được thẳng da mát thịt như buổi thơ ấu; Người trở lại ngày đang thì.&amp;lt;br/&amp;gt;26.  Người cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời bèn đoái thương người, Khiến người vui mừng xem thấy mặt Ngài, Và Ngài trả lại sự công bình cho người.&amp;lt;br/&amp;gt;27.  Đoạn, người đó sẽ hát trước mặt loài người, mà rằng: &amp;quot;Tôi đã phạm tội, làm hư hoại sự ngay thẳng, Song chẳng có ích gì cho tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;28.  Đức Chúa Trời có giải cứu linh hồn tôi khỏi sa xuống hầm, Và sự sống tôi sẽ thấy ánh sáng.&amp;quot;&amp;lt;br/&amp;gt;29.  Kìa, các việc ấy Đức Chúa Trời làm cho loài người; Đến hai lần, hoặc ba lần,&amp;lt;br/&amp;gt;30.  Đặng khiến linh hồn người trở lại khỏi cái hầm, Hầu cho người được ánh sáng kẻ sống chiếu vào cho.&amp;lt;br/&amp;gt;31.  Hỡi Gióp, hãy chăm chỉ nghe tôi; Khá làm thinh, thì tôi sẽ nói.&amp;lt;br/&amp;gt;32.  Nếu ông có điều gì muốn nói, hãy đáp lại tôi; Khá nói, vì tôi muốn xưng ông là công bình.&amp;lt;br/&amp;gt;33.  Bằng chẳng, hãy nghe tôi; Hãy làm thinh, thì tôi sẽ dạy cho ông sự khôn ngoan.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B18\V02B18C033.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Ê-li-hu Trách Gióp'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Nhưng bây giờ, thưa ông Gióp, xin ông nghe tôi nói;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin ông lắng nghe mọi lời nói của tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Này, tôi mở miệng ra;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lưỡi trong miệng tôi đang thốt thành lời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Lời nói của tôi sẽ phản ánh lòng ngay thẳng của tôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Môi tôi sẽ nói ra sự hiểu biết của tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Thần của Ðức Chúa Trời đã tạo nên tôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hơi thở của Ðấng Toàn Năng đã ban cho tôi sự sống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Nếu có thể được, xin ông trả lời để tôi được hiểu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin ông sắp đặt các lý lẽ của ông để chỉ bảo cho tôi hay;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin ông cứ giữ lập trường của ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Này, trước mặt Ðức Chúa Trời, tôi với ông đều như nhau;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi cũng từ đất sét mà được thành hình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Này, xin ông đừng lo ngại, vì tôi chẳng là gì cả;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vấn đề tôi trình bày sẽ không quá phiền phức đối với ông đâu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Quả thật những gì ông nói tôi đã nghe đầy đủ cả;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi vẫn còn nghe rõ mọi lời nói của ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Ông nói, “Tôi trong sạch, tôi chẳng làm gì nên tội;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi trong trắng, ở trong tôi không có tội lỗi nào.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Nhưng Ngài tìm những cơ hội để chống lại tôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài xem tôi như kẻ thù của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Ngài tra chân tôi vào xiềng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và Ngài theo dõi mọi bước đường của tôi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Thưa, trong điểm này, tôi xin trả lời rằng ông không đúng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðức Chúa Trời vĩ đại hơn mọi phàm nhân.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Tại sao ông cứ tranh luận với Ngài?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài không cần trả lời những thắc mắc của ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ðức Chúa Trời đã phán một lần, rồi hai lần;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng người ta không để ý để nhận ra sứ điệp của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Ngài phán qua giấc mơ, qua khải tượng trong ban đêm;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi giấc ngủ ập đến trên nhân thế, khi họ ngủ say trên giường;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Bấy giờ Ngài sẽ mở tai người ta để họ nghe rõ tận tường;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể họ hoảng kinh vì những dấu hiệu cảnh cáo của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Hầu con người sẽ lìa bỏ những hành vi tội lỗi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và để Ngài cứu nó ra khỏi thói kiêu căng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Ngài giữ linh hồn nó khỏi sa vào huyệt mả;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài giữ sinh mạng nó khỏi bị chết vì gươm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Ngài sửa trị nó bằng những đớn đau trên giường bịnh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bằng những cơn đau nhức thấu xương;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Ðến nỗi sinh mạng nó gớm ghê cơm bánh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Linh hồn nó không thiết ăn các món cao lương mỹ vị.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Thịt nó đã tiêu hao, không còn thấy trên thân thể nữa;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xương nó vốn chìm sâu trong thịt, giờ lộ hẳn ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Linh hồn nó bị kéo dần đến huyệt mả;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sinh mạng nó bị lôi đến những kẻ hành hình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Nếu bấy giờ bên cạnh nó có một sứ giả,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một người trung gian được chọn ở giữa ngàn người,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể chỉ cho nó biết trở về đường ngay nẻo chánh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Bấy giờ Ngài sẽ dủ lòng khoan nhân ân hậu với nó và bảo rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Thôi tha cho nó để nó khỏi xuống huyệt mả;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta đã tìm được những gì chuộc mạng nó rồi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25 Hãy để cho da thịt nó trở lại như tuổi thanh xuân;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy cho nó được phục hồi như thời còn tràn đầy nhựa sống.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Bấy giờ nó sẽ cầu nguyện với Ðức Chúa Trời,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và Ngài sẽ nhậm lời nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nó sẽ ra mắt Ngài với lòng hớn hở vui mừng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ngài tái lập nó vào địa vị nó đáng hưởng nhận.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Nó sẽ nhìn người ta và nói,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Tôi đã phạm tội và đã làm sai lệch những gì chân chính,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng tôi không bị báo trả xứng đáng với tội của tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Ngài cứu chuộc linh hồn tôi khỏi sa vào huyệt mả;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mạng sống tôi được nhìn thấy ánh sáng lại rồi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29 Này, mọi sự ấy đều do Ðức Chúa Trời làm cả;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài cứ làm đôi ba lần như thế với phàm nhân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30 Ðể đem linh hồn nó lìa khỏi cửa mộ mà trở lại;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hầu nó được chiếu sáng bằng ánh sáng của cõi nhân sinh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 Thưa ông Gióp, xin ông chú ý và lắng nghe tôi nói;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin ông nhẫn nại nghe và cho tôi tiếp tục nói hết ý mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32 Nhưng nếu ông có điều chi chỉ bảo, xin ông cứ đáp lời tôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin ông nói ra, vì tôi muốn thấy ông được xác chứng rằng ông là người ngay lành trong sạch.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Còn nếu ông không muốn nói điều gì, xin ông vui lòng tiếp tục nghe tôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin ông cứ yên lặng nghe, tôi sẽ thưa với ông những gì tôi hiểu về sự khôn ngoan.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Gióp ]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Thi Thiên ]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Châm Ngôn ]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Truyền Đạo ]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Nhã Ca ]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Gióp : Chương 32]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Gióp : Chương 34]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Kh%E1%BA%A3i_Huy%E1%BB%81n:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_19&amp;diff=35783</id>
		<title>Khải Huyền: Chương 19</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Kh%E1%BA%A3i_Huy%E1%BB%81n:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_19&amp;diff=35783"/>
		<updated>2026-07-25T06:42:58Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;== Bản Dịch Việt Ngữ ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau những điều này, tôi nghe như có một giọng nói thật lớn của một đoàn người rất đông từ trời hô rằng: &amp;quot;Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh quang và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời của chúng ta. 2. Bởi vì những sự phán xét của Ngài là chân thật và công minh. Ngài đã phán xét đại kỹ nữ, là kẻ đã dùng sự dâm loạn của mình làm hư hỏng đất; và Ngài đã báo thù về máu của các đầy tớ của Ngài do kỹ nữ làm đổ ra.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Họ nói lần thứ hai: &amp;quot;Ha-lê-lu-gia! Khói của nó bay lên đời đời!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật phủ phục và thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng ngồi trên ngai, rồi nói: &amp;quot;A-men! Ha-lê-lu-gia!&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Có giọng từ ngai vang ra nói rằng: &amp;quot;Tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta, là những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn, hãy ca ngợi Ngài!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Và rồi tôi nghe có tiếng như tiếng của một đoàn người rất đông, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn, nói rằng: &amp;quot;Ha-lê-lu-gia! Bởi vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta đang trị vì. 7. Chúng ta hãy vui mừng hân hoan, hãy dâng vinh quang cho Ngài, bởi vì lễ cưới của Chiên Con đã đến và Vợ của Ngài đã chuẩn bị chính nàng sẵn sàng. 8. Nàng đã được ban cho vải mịn, tươi sáng, và tinh khiết để mặc&amp;quot; - Vải mịn là những việc công chính của các thánh đồ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Rồi người nói cùng tôi: &amp;quot;Hãy viết! Phước cho những người được mời dự tiệc cưới của Chiên Con!&amp;quot; Và người nói với tôi: &amp;quot;Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời.&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Tôi phủ phục dưới chân của người để thờ lạy người, nhưng người bảo: &amp;quot;Đừng làm như vậy! Ta là người cùng phục vụ như ngươi và các anh em của ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời, bởi vì tinh thần của lời tiên tri là làm chứng về Đức Chúa Jesus.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Và rồi tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng, và Đấng được gọi là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT ngồi trên nó; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính. 12. Mắt của Ngài như ngọn lửa; trên đầu của Ngài có nhiều vương miện, trên đó có viết một danh mà ngoài Ngài không ai biết được. 13. Ngài mặc trang phục đã được nhúng trong máu. Danh của Ngài được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. 14. Những đạo quân trên trời đều mặc vải mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi những con ngựa trắng và theo Ngài. 15. Từ miệng Ngài phát ra một lưỡi gươm bén, Ngài đã dùng nó để đánh các nước; Ngài sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt. Ngài đạp bàn ép nho với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. 16. Trên áo choàng và trên đùi của Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Rồi tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời, người hô lớn gọi các loài chim bay giữa trời: &amp;quot;Hãy đến! Hãy tụ họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, 18. để ăn thịt của các vua, thịt của các tướng lĩnh, thịt của những dũng sĩ, thịt ngựa và những người cưỡi chúng, thịt của tất cả, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Và rồi tôi thấy con thú và các vua trên đất cùng với quân đội của họ đã tập trung lại để tranh chiến với Đấng cưỡi ngựa và quân đội của Ngài. 20. Nhưng con thú đã bị bắt, cùng với hắn là tiên tri giả - là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt con thú, để lừa dối những người đã nhận dấu của con thú và những người thờ lạy hình tượng của nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. 21. Những người còn lại đều bị giết bằng thanh gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa. Tất cả chim chóc đều ăn thịt của họ no nê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Bản Dịch Đại Chúng ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau những điều này, tôi nghe như có một giọng nói thật lớn của một đoàn người rất đông từ trời hô rằng: Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh quang và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời của chúng ta. Bởi vì những sự phán xét của Ngài là chân thật và công minh. Ngài đã phán xét đại kỹ nữ, là kẻ đã dùng sự dâm loạn của mình làm hư hỏng đất; và Ngài đã báo thù về máu của các đầy tớ của Ngài do kỹ nữ làm đổ ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Họ nói lần thứ hai: Ha-lê-lu-gia! Khói của nó bay lên đời đời!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật phủ phục và thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng ngồi trên ngai, rồi nói: A-men! Ha-lê-lu-gia! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có giọng từ ngai vang ra nói rằng: Tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta, là những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn, hãy ca ngợi Ngài!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi tôi nghe có tiếng như tiếng của một đoàn người rất đông, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn, nói rằng: Ha-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta trị vì. Chúng ta hãy vui mừng hân hoan, hãy dâng vinh quang cho Ngài, bởi vì lễ cưới của Chiên Con đã đến và Vợ của Ngài đã chuẩn bị chính nàng sẵn sàng. Nàng đã được ban cho vải mịn, tươi sáng, và tinh khiết để mặc - (vải mịn là những việc công chính của các thánh đồ).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi người nói cùng tôi: Hãy viết! Phước cho những người được mời dự tiệc cưới của Chiên Con! Và người nói với tôi: Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi phủ phục dưới chân của người để thờ lạy người, nhưng người bảo: Đừng làm như vậy! Ta là người cùng phục vụ như ngươi và các anh em của ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời, bởi vì tinh thần của lời tiên tri là để làm chứng về Đức Chúa Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng, và Đấng được gọi là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT ngồi trên nó; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính.  Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu Ngài có nhiều vương miện, trên đó có viết một danh mà ngoài Ngài không ai biết được. Ngài mặc trang phục đã được nhúng trong máu. Danh của Ngài được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. Những đạo quân trên trời đều mặc vải mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi những ngựa trắng và theo Ngài. Từ miệng Ngài phát ra một lưỡi gươm bén, Ngài dùng nó để đánh các nước; Ngài sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt. Ngài đạp bàn ép nho với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Trên áo choàng và trên đùi của Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời, người hô lớn gọi các loài chim bay giữa trời: Hãy đến! Hãy tụ họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, để ăn thịt của các vua, thịt của các tướng lĩnh, thịt của những dũng sĩ, thịt ngựa và những người cưỡi chúng, thịt của tất cả, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi tôi thấy con thú và các vua trên đất cùng với quân đội của họ tập trung lại để tranh chiến với Đấng cưỡi ngựa và quân đội của Ngài. Nhưng con thú bị bắt, cùng với hắn là tiên tri giả - là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt con thú, để lừa dối những người đã nhận dấu của con thú và những người thờ lạy hình tượng của nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. Những người còn lại đều bị giết bằng thanh gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa; tất cả chim chóc đều ăn thịt của họ no nê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Bản Dịch Ngữ Căn ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau những điều này, tôi nghe như có một giọng nói thật lớn của một đoàn người rất đông từ trời hô rằng: Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh quang và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời của chúng ta. 2. Bởi vì những sự phán xét của Ngài là chân thật và công minh. Ngài đã phán xét đại kỹ nữ, là kẻ đã dùng sự dâm loạn của mình làm hư hỏng đất; và Ngài đã báo thù về máu của các đầy tớ của Ngài do kỹ nữ làm đổ ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Họ nói lần thứ hai: Ha-lê-lu-gia! Khói của nó bay lên đời đời!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật phủ phục và thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng ngồi trên ngai, rồi nói: A-men! Ha-lê-lu-gia! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Có giọng từ ngai vang ra nói rằng: Tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta, là những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn, hãy ca ngợi Ngài!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Và rồi tôi nghe có tiếng như tiếng của một đoàn người rất đông, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn, nói rằng: Ha-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta trị vì. 7. Chúng ta hãy vui mừng hân hoan, hãy dâng vinh quang cho Ngài, bởi vì lễ cưới của Chiên Con đã đến và Vợ của Ngài đã chuẩn bị chính nàng sẵn sàng. 8. Nàng đã được ban cho vải mịn, tươi sáng, và tinh khiết để mặc - (vải mịn là những việc công chính của các thánh đồ).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Rồi người nói cùng tôi: Hãy viết! Phước cho những người được mời dự tiệc cưới của Chiên Con! Và người nói với tôi: Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Tôi phủ phục dưới chân người để thờ lạy người, nhưng người bảo: Đừng làm như vậy, ta là người cùng phục vụ như ngươi và các anh em của ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời, bởi vì tinh thần của lời tiên tri là để làm chứng về Đức Chúa Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Và rồi tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng, và Đấng được gọi là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT ngồi trên nó; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính. 12. Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu Ngài có nhiều vương miện, trên đó có viết một danh mà ngoài Ngài không ai biết được. 13. Ngài mặc trang phục đã được nhúng trong máu. Danh của Ngài được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. 14. Những đạo quân trên trời đều mặc vải mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi những ngựa trắng và theo Ngài. 15. Từ miệng Ngài phát ra một lưỡi gươm bén, Ngài dùng nó để đánh các nước; Ngài sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt. Ngài đạp bàn ép nho với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. 16. Trên áo choàng và trên đùi của Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Rồi tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời, người hô lớn gọi các loài chim bay giữa trời: Hãy đến! Hãy tụ họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, 18. để ăn thịt của các vua, thịt của các tướng lĩnh, thịt của những dũng sĩ, thịt ngựa và những người cưỡi chúng, thịt của tất cả, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Và rồi tôi thấy con thú và các vua trên đất cùng với quân đội của họ tập trung lại để tranh chiến với Đấng cưỡi ngựa và quân đội của Ngài. 20. Nhưng con thú bị bắt, cùng với hắn là tiên tri giả - là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt con thú, để lừa dối những người đã nhận dấu của con thú và những người thờ lạy hình tượng của nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. 21. Những người còn lại đều bị giết bằng thanh gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa; tất cả chim chóc đều ăn thịt của họ no nê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Sự đó đoạn, tôi nghe ở trên trời như có tiếng lớn của lũ đông lắm rằng: A-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh hiển, quyền phép đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta. 2.  Vì những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình: Ngài đã đoán phạt đại dâm phụ nó lấy đều dâm loạn làm hư hỏng thế gian, và Ngài đã báo thù huyết của các tôi tớ Ngài đã bị tay con dâm phụ đó làm đổ ra. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Chúng lại nói một lần thứ hai rằng: A-lê-lu-gia! Luồng khói nó bay lên đời đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Hai mươi bốn trưởng lão cùng bốn con sanh vật bèn mọp xuống thờ lạy Đức Chúa Trời, là Đấng ngồi trên ngôi, mà rằng: A-men, A-lê-lu-gia! 5.  Lại có tiếng từ ngôi đến rằng: Hết thảy các ngươi là tôi tớ Đức Chúa Trời chúng ta, vẫn kính sợ Ngài, nhỏ hay lớn, đều hãy ngợi khen Ngài! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Đoạn, tôi lại nghe có tiếng như một đám đông vô số người, khác nào tiếng nước lớn hoặc như tiếng sấm dữ, mà rằng: A-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng Toàn năng, đã cầm quyền cai trị. 7.  Chúng ta hãy hớn hở vui mừng, tôn vinh Ngài; vì lễ cưới Chiên Con đã tới, và vợ Ngài đã sửa soạn, 8.  đã cho người được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn (vải gai mịn tức là công việc công bình của các thánh đồ). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Thiên sứ phán cùng tôi rằng: Hãy chép: Phước thay cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con! Người lại tiếp rằng: Đó là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. 10.  Tôi bèn gieo mình xuống dưới chân người đặng thờ lạy; song người phán rằng: Hãy giữ lấy, đừng làm vậy; ta là bạn tôi tớ với ngươi và với anh em ngươi là người cùng giữ lời chứng của Đức Chúa Jêsus. Ngươi hãy thờ lạy Đức Chúa Trời. Vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus là đại ý của lời tiên tri. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Bấy giờ tôi thấy trời mở ra, và có một con ngựa bạch hiện ra: Đấng cỡi ngựa ấy gọi là Đấng Trung Tín Và Chân Thật; Ngài lấy lẽ công bình mà xét đoán và chiến đấu. 12.  Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu có nhiều mão triều thiên, lại có đề một danh, ngoài Ngài ra không ai biết được. 13.  Ngài mặc áo nhúng trong huyết, danh Ngài xưng là Lời Đức Chúa Trời. 14.  Các đạo binh trên trời đều mặc vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch theo Ngài. 15.  Có một lưỡi gươm bén ở miệng Ngài ra, Ngài sẽ lấy nó mà đánh các dân, và cai trị họ bằng một cây gậy sắt. Ngài giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng. 16.  Trên áo tơi và trên đùi Ngài, có đề một danh là Vua Của Các Vua Và Chúa Của Các Chúa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời. Người cất tiếng lớn kêu các chim chóc bay giữa không của trời, mà rằng: Hãy đến, bay hãy nhóm hiệp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, 18.  hãy đến ăn thịt các vua, thịt các tướng, thịt các dũng sĩ, thịt ngựa cùng kẻ cỡi ngựa, và thịt của mọi người, tự chủ và tôi mọi, nhỏ và lớn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19.  Tôi lại thấy con thú và các vua thế gian cùng những quân đội mình nhóm lại đặng tranh chiến với Đấng cỡi ngựa, và với đạo binh của Ngài. 20.  Nhưng con thú bị bắt và tiên tri giả là kẻ đã làm phép lạ trước mặt con thú, nhờ đó lừa dối những người đã nhận dấu hiệu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó, cùng bị bắt với nó nữa; cả hai đều đang sống bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng. 21.  Những kẻ khác đều bị giết bởi lưỡi gươm ra từ miệng Đấng cỡi ngựa, và hết thảy chim chóc đều được ăn thịt chúng nó no nê. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B66\V02B66C019.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ca Mừng trên Thiên Ðàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Sau những điều ấy, tôi nghe có tiếng như tiếng của một đám đông rất lớn trên trời hô to rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ha-lê-lu-gia!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ơn cứu rỗi, vinh hiển, và quyền lực đều thuộc về Ðức Chúa Trời chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Vì những phán quyết của Ngài đều là chân chính và công bình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã đoán phạt con điếm trứ danh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kẻ đã làm băng hoại thế gian bằng sự gian dâm của nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã báo thù cho máu của các đầy tớ Ngài bị nó làm đổ ra.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Họ lại nói lần nữa rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ha-lê-lu-gia!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khói từ nó bay lên đời đời vô cùng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Hai mươi bốn vị trưởng lão và bốn Sinh Vật sấp mình xuống và thờ lạy Ðức Chúa Trời, Ðấng đang ngự trên ngai, và nói,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“A-men!  Ha-lê-lu-gia!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Kế đó một tiếng nói từ ngai vang ra, bảo rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Hãy ca ngợi Ðức Chúa Trời chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hỡi các đầy tớ của Ngài và hỡi những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tiệc Cưới của Chiên Con'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Bấy giờ tôi nghe có tiếng gì như tiếng của một đám đông rất lớn, như tiếng của nhiều dòng nước chảy, và như tiếng của nhiều tiếng sấm nổ vang rền rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ha-lê-lu-gia!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Chúa là Ðức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta trị vì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Chúng ta hãy vui mừng, hớn hở, và dâng vinh hiển lên Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì hôn lễ của Chiên Con đã đến,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và cô dâu của Ngài đã chuẩn bị cho nàng sẵn sàng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Cô dâu ấy đã được ban cho bộ y phục bằng vải gai mịn, tinh bạch, và rạng ngời để mặc; vì vải gai mịn tượng trưng cho những việc công chính của các thánh đồ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Bấy giờ vị thiên sứ bảo tôi, “Hãy chép điều này, ‘Phước cho những người được mời đến dự tiệc cưới của Chiên Con.’”  Vị thiên sứ ấy lại bảo tôi, “Ðây là những lời chân thật của Ðức Chúa Trời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Tôi liền sấp mình xuống trước mặt vị thiên sứ ấy để thờ lạy, nhưng vị thiên sứ ấy bảo tôi, “Chớ làm vậy, vì ta cũng chỉ là một đồng bạn làm đầy tớ với ngươi và với anh chị em ngươi, những người giữ vững lời chứng của Ðức Chúa Jesus; hãy thờ phượng Ðức Chúa Trời; vì lời chứng của Ðức Chúa Jesus là linh khí của lời tiên tri.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ðấng Cỡi Ngựa Trắng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Bấy giờ tôi thấy trời mở ra; và kìa, một con ngựa trắng với người cỡi nó được xưng là Ðấng Thành Tín và Chân Thật, và Ngài cứ theo lẽ công chính mà đoán xét và tuyên chiến.  12 Mắt Ngài như ngọn lửa hừng, trên đầu Ngài có nhiều vương miện, và Ngài có một danh được ghi rõ, nhưng không ai biết, ngoại trừ  Ngài.  13 Ngài mặc một áo choàng đã nhúng trong máu, và danh Ngài được xưng là Lời Ðức Chúa Trời.  14 Các đạo binh trên trời mặc quân phục bằng vải gai mịn, trắng ngần, và tinh sạch, cỡi ngựa trắng, đi theo Ngài.  15 Từ miệng Ngài ra một thanh gươm sắc bén, để Ngài dùng nó đánh hạ các nước; Ngài chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt; và Ngài đạp nát nho trong bồn ép nho cho thành rượu sủi bọt thịnh nộ phừng phừng của Ðức Chúa Trời Toàn Năng.  16 Trên áo Ngài và nơi đùi Ngài có ghi một danh, “Vua của các vua và Chúa của các chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Sau đó tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời; vị thiên sứ ấy lớn tiếng bảo mọi loài chim bay giữa trời rằng, “Hãy đến! Hãy tụ họp để dự đại tiệc của Ðức Chúa Trời, 18 để các ngươi có thể ăn thịt các vua, thịt các quan tướng, thịt các dũng sĩ, thịt các chiến mã, thịt các kỵ binh, và thịt của mọi người, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Bấy giờ tôi thấy Con Thú, các vua trên đất, và các đạo quân của họ tập họp lại để chiến đấu với Ðấng cỡi ngựa trắng và với đạo quân của Ngài.  20 Con Thú và tiên tri giả của nó đều bị bắt sống; tiên tri giả ấy là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt Con Thú; nó đã dùng những dấu lạ để gạt những kẻ đã nhận dấu của Con Thú và những kẻ thờ phượng hình tượng của Con Thú.  Hai kẻ đó bị quăng sống vào lò lửa cháy phừng phừng với lưu huỳnh.  21 Còn những kẻ khác bị giết bằng thanh gươm của Ðấng cỡi trên lưng ngựa, đó là thanh gươm đã ra từ miệng Ngài; và tất cả chim trời được no nê vì thịt của chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B66\V01B66C019.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1926 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền: Chương 18]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền: Chương 20]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* Thánh Kinh Lược Khảo - Nhà Xuất Bản Tin Lành Sài Gòn (1970)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Kh%E1%BA%A3i_Huy%E1%BB%81n:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_19&amp;diff=35782</id>
		<title>Khải Huyền: Chương 19</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Kh%E1%BA%A3i_Huy%E1%BB%81n:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_19&amp;diff=35782"/>
		<updated>2026-07-25T06:40:55Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;== Bản Dịch Việt Ngữ ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau những điều này, tôi nghe như có một giọng nói thật lớn của một đoàn người rất đông từ trời hô rằng: &amp;quot;Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh quang và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời của chúng ta. 2. Bởi vì những sự phán xét của Ngài là chân thật và công minh. Ngài đã phán xét đại kỹ nữ, là kẻ đã dùng sự dâm loạn của mình làm hư hỏng đất; và Ngài đã báo thù về máu của các đầy tớ của Ngài do kỹ nữ làm đổ ra.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Họ nói lần thứ hai: &amp;quot;Ha-lê-lu-gia! Khói của nó bay lên đời đời!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật phủ phục và thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng ngồi trên ngai, rồi nói: &amp;quot;A-men! Ha-lê-lu-gia!&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Có giọng từ ngai vang ra nói rằng: &amp;quot;Tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta, là những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn, hãy ca ngợi Ngài!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Và rồi tôi nghe có tiếng như tiếng của một đoàn người rất đông, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn, nói rằng: &amp;quot;Ha-lê-lu-gia! Bởi vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta đang trị vì. 7. Chúng ta hãy vui mừng hân hoan, hãy dâng vinh quang cho Ngài, bởi vì lễ cưới của Chiên Con đã đến và Vợ của Ngài đã chuẩn bị chính nàng sẵn sàng. 8. Nàng đã được ban cho vải mịn, tươi sáng, và tinh khiết để mặc&amp;quot; - Vải mịn là những việc công chính của các thánh đồ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Rồi người nói cùng tôi: &amp;quot;Hãy viết! Phước cho những người được mời dự tiệc cưới của Chiên Con!&amp;quot; Và người nói với tôi: &amp;quot;Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời.&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Tôi phủ phục dưới chân của người để thờ lạy người, nhưng người bảo: &amp;quot;Đừng làm như vậy! Ta là người cùng phục vụ như ngươi và các anh em của ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời, bởi vì tinh thần của lời tiên tri là để làm chứng về Đức Chúa Jesus.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Và rồi tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng, và Đấng được gọi là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT ngồi trên nó; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính. 12. Mắt của Ngài như ngọn lửa; trên đầu của Ngài có nhiều vương miện, trên đó có viết một danh mà ngoài Ngài không ai biết được. 13. Ngài mặc trang phục đã được nhúng trong máu. Danh của Ngài được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. 14. Những đạo quân trên trời đều mặc vải mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi những con ngựa trắng và theo Ngài. 15. Từ miệng Ngài phát ra một lưỡi gươm bén, Ngài đã dùng nó để đánh các nước; Ngài sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt. Ngài đạp bàn ép nho với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. 16. Trên áo choàng và trên đùi của Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Rồi tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời, người hô lớn gọi các loài chim bay giữa trời: &amp;quot;Hãy đến! Hãy tụ họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, 18. để ăn thịt của các vua, thịt của các tướng lĩnh, thịt của những dũng sĩ, thịt ngựa và những người cưỡi chúng, thịt của tất cả, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Và rồi tôi thấy con thú và các vua trên đất cùng với quân đội của họ đã tập trung lại để tranh chiến với Đấng cưỡi ngựa và quân đội của Ngài. 20. Nhưng con thú đã bị bắt, cùng với hắn là tiên tri giả - là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt con thú, để lừa dối những người đã nhận dấu của con thú và những người thờ lạy hình tượng của nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. 21. Những người còn lại đều bị giết bằng thanh gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa. Tất cả chim chóc đều ăn thịt của họ no nê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Bản Dịch Đại Chúng ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau những điều này, tôi nghe như có một giọng nói thật lớn của một đoàn người rất đông từ trời hô rằng: Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh quang và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời của chúng ta. Bởi vì những sự phán xét của Ngài là chân thật và công minh. Ngài đã phán xét đại kỹ nữ, là kẻ đã dùng sự dâm loạn của mình làm hư hỏng đất; và Ngài đã báo thù về máu của các đầy tớ của Ngài do kỹ nữ làm đổ ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Họ nói lần thứ hai: Ha-lê-lu-gia! Khói của nó bay lên đời đời!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật phủ phục và thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng ngồi trên ngai, rồi nói: A-men! Ha-lê-lu-gia! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có giọng từ ngai vang ra nói rằng: Tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta, là những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn, hãy ca ngợi Ngài!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi tôi nghe có tiếng như tiếng của một đoàn người rất đông, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn, nói rằng: Ha-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta trị vì. Chúng ta hãy vui mừng hân hoan, hãy dâng vinh quang cho Ngài, bởi vì lễ cưới của Chiên Con đã đến và Vợ của Ngài đã chuẩn bị chính nàng sẵn sàng. Nàng đã được ban cho vải mịn, tươi sáng, và tinh khiết để mặc - (vải mịn là những việc công chính của các thánh đồ).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi người nói cùng tôi: Hãy viết! Phước cho những người được mời dự tiệc cưới của Chiên Con! Và người nói với tôi: Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi phủ phục dưới chân của người để thờ lạy người, nhưng người bảo: Đừng làm như vậy! Ta là người cùng phục vụ như ngươi và các anh em của ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời, bởi vì tinh thần của lời tiên tri là để làm chứng về Đức Chúa Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng, và Đấng được gọi là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT ngồi trên nó; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính.  Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu Ngài có nhiều vương miện, trên đó có viết một danh mà ngoài Ngài không ai biết được. Ngài mặc trang phục đã được nhúng trong máu. Danh của Ngài được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. Những đạo quân trên trời đều mặc vải mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi những ngựa trắng và theo Ngài. Từ miệng Ngài phát ra một lưỡi gươm bén, Ngài dùng nó để đánh các nước; Ngài sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt. Ngài đạp bàn ép nho với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Trên áo choàng và trên đùi của Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời, người hô lớn gọi các loài chim bay giữa trời: Hãy đến! Hãy tụ họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, để ăn thịt của các vua, thịt của các tướng lĩnh, thịt của những dũng sĩ, thịt ngựa và những người cưỡi chúng, thịt của tất cả, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi tôi thấy con thú và các vua trên đất cùng với quân đội của họ tập trung lại để tranh chiến với Đấng cưỡi ngựa và quân đội của Ngài. Nhưng con thú bị bắt, cùng với hắn là tiên tri giả - là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt con thú, để lừa dối những người đã nhận dấu của con thú và những người thờ lạy hình tượng của nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. Những người còn lại đều bị giết bằng thanh gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa; tất cả chim chóc đều ăn thịt của họ no nê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Bản Dịch Ngữ Căn ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau những điều này, tôi nghe như có một giọng nói thật lớn của một đoàn người rất đông từ trời hô rằng: Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh quang và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời của chúng ta. 2. Bởi vì những sự phán xét của Ngài là chân thật và công minh. Ngài đã phán xét đại kỹ nữ, là kẻ đã dùng sự dâm loạn của mình làm hư hỏng đất; và Ngài đã báo thù về máu của các đầy tớ của Ngài do kỹ nữ làm đổ ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Họ nói lần thứ hai: Ha-lê-lu-gia! Khói của nó bay lên đời đời!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật phủ phục và thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng ngồi trên ngai, rồi nói: A-men! Ha-lê-lu-gia! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Có giọng từ ngai vang ra nói rằng: Tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta, là những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn, hãy ca ngợi Ngài!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Và rồi tôi nghe có tiếng như tiếng của một đoàn người rất đông, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn, nói rằng: Ha-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta trị vì. 7. Chúng ta hãy vui mừng hân hoan, hãy dâng vinh quang cho Ngài, bởi vì lễ cưới của Chiên Con đã đến và Vợ của Ngài đã chuẩn bị chính nàng sẵn sàng. 8. Nàng đã được ban cho vải mịn, tươi sáng, và tinh khiết để mặc - (vải mịn là những việc công chính của các thánh đồ).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Rồi người nói cùng tôi: Hãy viết! Phước cho những người được mời dự tiệc cưới của Chiên Con! Và người nói với tôi: Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Tôi phủ phục dưới chân người để thờ lạy người, nhưng người bảo: Đừng làm như vậy, ta là người cùng phục vụ như ngươi và các anh em của ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời, bởi vì tinh thần của lời tiên tri là để làm chứng về Đức Chúa Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Và rồi tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng, và Đấng được gọi là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT ngồi trên nó; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính. 12. Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu Ngài có nhiều vương miện, trên đó có viết một danh mà ngoài Ngài không ai biết được. 13. Ngài mặc trang phục đã được nhúng trong máu. Danh của Ngài được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. 14. Những đạo quân trên trời đều mặc vải mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi những ngựa trắng và theo Ngài. 15. Từ miệng Ngài phát ra một lưỡi gươm bén, Ngài dùng nó để đánh các nước; Ngài sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt. Ngài đạp bàn ép nho với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. 16. Trên áo choàng và trên đùi của Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Rồi tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời, người hô lớn gọi các loài chim bay giữa trời: Hãy đến! Hãy tụ họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, 18. để ăn thịt của các vua, thịt của các tướng lĩnh, thịt của những dũng sĩ, thịt ngựa và những người cưỡi chúng, thịt của tất cả, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Và rồi tôi thấy con thú và các vua trên đất cùng với quân đội của họ tập trung lại để tranh chiến với Đấng cưỡi ngựa và quân đội của Ngài. 20. Nhưng con thú bị bắt, cùng với hắn là tiên tri giả - là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt con thú, để lừa dối những người đã nhận dấu của con thú và những người thờ lạy hình tượng của nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. 21. Những người còn lại đều bị giết bằng thanh gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa; tất cả chim chóc đều ăn thịt của họ no nê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Sự đó đoạn, tôi nghe ở trên trời như có tiếng lớn của lũ đông lắm rằng: A-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh hiển, quyền phép đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta. 2.  Vì những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình: Ngài đã đoán phạt đại dâm phụ nó lấy đều dâm loạn làm hư hỏng thế gian, và Ngài đã báo thù huyết của các tôi tớ Ngài đã bị tay con dâm phụ đó làm đổ ra. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Chúng lại nói một lần thứ hai rằng: A-lê-lu-gia! Luồng khói nó bay lên đời đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Hai mươi bốn trưởng lão cùng bốn con sanh vật bèn mọp xuống thờ lạy Đức Chúa Trời, là Đấng ngồi trên ngôi, mà rằng: A-men, A-lê-lu-gia! 5.  Lại có tiếng từ ngôi đến rằng: Hết thảy các ngươi là tôi tớ Đức Chúa Trời chúng ta, vẫn kính sợ Ngài, nhỏ hay lớn, đều hãy ngợi khen Ngài! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Đoạn, tôi lại nghe có tiếng như một đám đông vô số người, khác nào tiếng nước lớn hoặc như tiếng sấm dữ, mà rằng: A-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng Toàn năng, đã cầm quyền cai trị. 7.  Chúng ta hãy hớn hở vui mừng, tôn vinh Ngài; vì lễ cưới Chiên Con đã tới, và vợ Ngài đã sửa soạn, 8.  đã cho người được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn (vải gai mịn tức là công việc công bình của các thánh đồ). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Thiên sứ phán cùng tôi rằng: Hãy chép: Phước thay cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con! Người lại tiếp rằng: Đó là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. 10.  Tôi bèn gieo mình xuống dưới chân người đặng thờ lạy; song người phán rằng: Hãy giữ lấy, đừng làm vậy; ta là bạn tôi tớ với ngươi và với anh em ngươi là người cùng giữ lời chứng của Đức Chúa Jêsus. Ngươi hãy thờ lạy Đức Chúa Trời. Vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus là đại ý của lời tiên tri. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Bấy giờ tôi thấy trời mở ra, và có một con ngựa bạch hiện ra: Đấng cỡi ngựa ấy gọi là Đấng Trung Tín Và Chân Thật; Ngài lấy lẽ công bình mà xét đoán và chiến đấu. 12.  Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu có nhiều mão triều thiên, lại có đề một danh, ngoài Ngài ra không ai biết được. 13.  Ngài mặc áo nhúng trong huyết, danh Ngài xưng là Lời Đức Chúa Trời. 14.  Các đạo binh trên trời đều mặc vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch theo Ngài. 15.  Có một lưỡi gươm bén ở miệng Ngài ra, Ngài sẽ lấy nó mà đánh các dân, và cai trị họ bằng một cây gậy sắt. Ngài giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng. 16.  Trên áo tơi và trên đùi Ngài, có đề một danh là Vua Của Các Vua Và Chúa Của Các Chúa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời. Người cất tiếng lớn kêu các chim chóc bay giữa không của trời, mà rằng: Hãy đến, bay hãy nhóm hiệp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, 18.  hãy đến ăn thịt các vua, thịt các tướng, thịt các dũng sĩ, thịt ngựa cùng kẻ cỡi ngựa, và thịt của mọi người, tự chủ và tôi mọi, nhỏ và lớn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19.  Tôi lại thấy con thú và các vua thế gian cùng những quân đội mình nhóm lại đặng tranh chiến với Đấng cỡi ngựa, và với đạo binh của Ngài. 20.  Nhưng con thú bị bắt và tiên tri giả là kẻ đã làm phép lạ trước mặt con thú, nhờ đó lừa dối những người đã nhận dấu hiệu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó, cùng bị bắt với nó nữa; cả hai đều đang sống bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng. 21.  Những kẻ khác đều bị giết bởi lưỡi gươm ra từ miệng Đấng cỡi ngựa, và hết thảy chim chóc đều được ăn thịt chúng nó no nê. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B66\V02B66C019.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ca Mừng trên Thiên Ðàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Sau những điều ấy, tôi nghe có tiếng như tiếng của một đám đông rất lớn trên trời hô to rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ha-lê-lu-gia!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ơn cứu rỗi, vinh hiển, và quyền lực đều thuộc về Ðức Chúa Trời chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Vì những phán quyết của Ngài đều là chân chính và công bình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã đoán phạt con điếm trứ danh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kẻ đã làm băng hoại thế gian bằng sự gian dâm của nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã báo thù cho máu của các đầy tớ Ngài bị nó làm đổ ra.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Họ lại nói lần nữa rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ha-lê-lu-gia!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khói từ nó bay lên đời đời vô cùng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Hai mươi bốn vị trưởng lão và bốn Sinh Vật sấp mình xuống và thờ lạy Ðức Chúa Trời, Ðấng đang ngự trên ngai, và nói,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“A-men!  Ha-lê-lu-gia!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Kế đó một tiếng nói từ ngai vang ra, bảo rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Hãy ca ngợi Ðức Chúa Trời chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hỡi các đầy tớ của Ngài và hỡi những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tiệc Cưới của Chiên Con'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Bấy giờ tôi nghe có tiếng gì như tiếng của một đám đông rất lớn, như tiếng của nhiều dòng nước chảy, và như tiếng của nhiều tiếng sấm nổ vang rền rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ha-lê-lu-gia!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Chúa là Ðức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta trị vì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Chúng ta hãy vui mừng, hớn hở, và dâng vinh hiển lên Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì hôn lễ của Chiên Con đã đến,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và cô dâu của Ngài đã chuẩn bị cho nàng sẵn sàng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Cô dâu ấy đã được ban cho bộ y phục bằng vải gai mịn, tinh bạch, và rạng ngời để mặc; vì vải gai mịn tượng trưng cho những việc công chính của các thánh đồ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Bấy giờ vị thiên sứ bảo tôi, “Hãy chép điều này, ‘Phước cho những người được mời đến dự tiệc cưới của Chiên Con.’”  Vị thiên sứ ấy lại bảo tôi, “Ðây là những lời chân thật của Ðức Chúa Trời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Tôi liền sấp mình xuống trước mặt vị thiên sứ ấy để thờ lạy, nhưng vị thiên sứ ấy bảo tôi, “Chớ làm vậy, vì ta cũng chỉ là một đồng bạn làm đầy tớ với ngươi và với anh chị em ngươi, những người giữ vững lời chứng của Ðức Chúa Jesus; hãy thờ phượng Ðức Chúa Trời; vì lời chứng của Ðức Chúa Jesus là linh khí của lời tiên tri.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ðấng Cỡi Ngựa Trắng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Bấy giờ tôi thấy trời mở ra; và kìa, một con ngựa trắng với người cỡi nó được xưng là Ðấng Thành Tín và Chân Thật, và Ngài cứ theo lẽ công chính mà đoán xét và tuyên chiến.  12 Mắt Ngài như ngọn lửa hừng, trên đầu Ngài có nhiều vương miện, và Ngài có một danh được ghi rõ, nhưng không ai biết, ngoại trừ  Ngài.  13 Ngài mặc một áo choàng đã nhúng trong máu, và danh Ngài được xưng là Lời Ðức Chúa Trời.  14 Các đạo binh trên trời mặc quân phục bằng vải gai mịn, trắng ngần, và tinh sạch, cỡi ngựa trắng, đi theo Ngài.  15 Từ miệng Ngài ra một thanh gươm sắc bén, để Ngài dùng nó đánh hạ các nước; Ngài chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt; và Ngài đạp nát nho trong bồn ép nho cho thành rượu sủi bọt thịnh nộ phừng phừng của Ðức Chúa Trời Toàn Năng.  16 Trên áo Ngài và nơi đùi Ngài có ghi một danh, “Vua của các vua và Chúa của các chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Sau đó tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời; vị thiên sứ ấy lớn tiếng bảo mọi loài chim bay giữa trời rằng, “Hãy đến! Hãy tụ họp để dự đại tiệc của Ðức Chúa Trời, 18 để các ngươi có thể ăn thịt các vua, thịt các quan tướng, thịt các dũng sĩ, thịt các chiến mã, thịt các kỵ binh, và thịt của mọi người, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Bấy giờ tôi thấy Con Thú, các vua trên đất, và các đạo quân của họ tập họp lại để chiến đấu với Ðấng cỡi ngựa trắng và với đạo quân của Ngài.  20 Con Thú và tiên tri giả của nó đều bị bắt sống; tiên tri giả ấy là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt Con Thú; nó đã dùng những dấu lạ để gạt những kẻ đã nhận dấu của Con Thú và những kẻ thờ phượng hình tượng của Con Thú.  Hai kẻ đó bị quăng sống vào lò lửa cháy phừng phừng với lưu huỳnh.  21 Còn những kẻ khác bị giết bằng thanh gươm của Ðấng cỡi trên lưng ngựa, đó là thanh gươm đã ra từ miệng Ngài; và tất cả chim trời được no nê vì thịt của chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B66\V01B66C019.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1926 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền: Chương 18]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền: Chương 20]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* Thánh Kinh Lược Khảo - Nhà Xuất Bản Tin Lành Sài Gòn (1970)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_8&amp;diff=35781</id>
		<title>Các Quan Xét: Chương 8</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_8&amp;diff=35781"/>
		<updated>2026-07-16T04:15:25Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đó, người Ép-ra-im đã nói với ông: “Tại sao ông đối xử với chúng tôi như vậy? Tại sao ông không gọi chúng tôi khi ông đi đánh dân Ma-đi-an?” Họ cãi với ông kịch liệt. 2. Nhưng ông đã trả lời cho họ rằng: “Việc tôi làm đâu có so sánh được với anh em? Không phải nho mót của Ép-ra-im còn hơn cả mùa nho của A-bi-ê-xe hay sao? 3. Đức Chúa Trời đã trao Ô-rép và Xê-ép, là hai lãnh tụ của dân Ma-đi-an, vào tay của anh em. So sánh với anh em, tôi có làm được điều gì?” Khi nghe ông nói những lời đó, họ nguôi cơn giận cùng ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Ghi-đê-ôn đến sông Giô-đanh, rồi vượt qua sông. Ông và ba trăm người theo ông đều mệt nhưng họ vẫn cố sức truy đuổi. 5. Ông nói với người Su-cốt rằng: “Xin cho những người theo tôi một ít bánh, bởi vì họ kiệt sức. Tôi đang đuổi theo Xê-bách và Xanh-mu-na, là hai vua Ma-đi-an.” 6. Các lãnh đạo của Su-cốt trả lời: “Tay của ông đã nắm được tay của Xê-bách và Xanh-mu-na chưa mà ông bảo chúng tôi phải cấp bánh cho quân lính của ông?” 7. Ghi-đê-ôn đáp: “Nếu như vậy, khi Đức Giê-hô-va trao Xê-bách và Xanh-mu-na vào tay của tôi, tôi sẽ lấy gai gốc và chông gai trong hoang mạc mà đánh nát thịt các ông.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Từ đó, ông đi lên Phê-nu-ên và cũng nói với dân Phê-nu-ên giống như vậy. Dân Phê-nu-ên cũng trả lời ông giống y như dân Su-cốt đã trả lời. 9. Vì vậy, ông nói với dân Phê-nu-ên rằng: “Khi tôi trở về trong chiến thắng, tôi sẽ phá tan cái tháp nầy.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Lúc đó, Xê-bách và Xanh-mu-na đang ở tại Cạt-cô với quân lính của họ, khoảng mười lăm ngàn người, là số quân còn sót lại của dân phương Đông, bởi vì một trăm hai mươi nghìn người biết  dùng gươm đã bị giết. 11. Ghi-đê-ôn đã đi lên theo con đường của dân du mục về phía đông của Nô-bách và Giô-bê-ha, rồi tấn công vào trại quân trong khi họ tưởng rằng đã được an toàn. 12. Xê-bách và Xanh-mu-na chạy trốn, nhưng ông đuổi theo bắt được hai vua của Ma-đi-an là Xê-bách và Xanh-mu-na. Cả đạo binh rối loạn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Ghi-đê-ôn con của Giô-ách từ chiến trường trở về, theo ngã đèo Hê-re. 14. Ông bắt một thanh niên của dân Su-cốt, tra hỏi nó. Nó đã viết ra tên các lãnh đạo và trưởng lão của Su-cốt là bảy mươi bảy người. 15. Ông đến với dân Su-cốt, rồi nói: “Đây là Xê-bách và Xanh-mu-na mà các ngươi đã mắng ta rằng: ‘Tay của ông đã nắm được tay của Xê-bách và Xanh-mu-na chưa mà bảo chúng tôi phải cấp bánh cho những kẻ kiệt sức của ông?’” 16. Sau đó, ông đã bắt các trưởng lão của thành, rồi lấy gai gốc và chông gai nơi hoang mạc mà dạy họ và người Su-cốt. 17. Sau đó, ông đã phá hủy tháp Phê-nu-ên và giết những người trong thành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Sau đó, Ghi-đê-ôn hỏi Xê-bách và Xanh-mu-na: “Những người mà các ngươi đã giết tại Tha-bô  như thế nào?” Họ đáp: “Họ cũng giống như ông. Người nào cũng trông như một vương tử.” 19. Ông đáp: “Họ là anh em của ta, là các con trai của mẹ ta. Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, nếu các ngươi để cho họ còn sống thì ta cũng không giết các ngươi.” 20. Rồi ông bảo Giê-the con đầu lòng của ông: “Con hãy lại giết họ đi.” Nhưng cậu thiếu niên không dám rút gươm ra, vì cậu sợ bởi vì cậu còn trẻ. 21. Xê-bách và Xanh-mu-na nói: “Chính ông hãy giết chúng tôi đi, vì người sao thì sức vậy.” Do đó, Ghi-đê-ôn đã đứng lên giết Xê-bách và Xanh-mu-na, rồi lấy những vật hình lưỡi liềm đeo nơi cổ các lạc đà của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Sau đó, người Y-sơ-ra-ên nói với Ghi-đê-ôn: “Xin ông, con trai, và cháu của ông hãy cai trị chúng tôi, bởi vì ông đã giải cứu chúng tôi khỏi tay dân Ma-đi-an.” 23. Ghi-đê-ôn trả lời: “Ta không cai trị các ngươi, con trai của ta cũng không cai trị các ngươi, nhưng Đức Giê-hô-va sẽ cai trị các ngươi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Nhưng Ghi-đê-ôn đã nói với họ: “Ta thỉnh cầu các ngươi một điều. Mỗi người trong các ngươi hãy cho ta một vòng đeo tai mà các ngươi đã cướp được.” (bởi vì người Ích-ma-ên có tục đeo vòng vàng nơi tai.) 25. Họ đáp: “Chúng tôi sẵn sàng tặng.” Họ trải một áo choàng ra, rồi mỗi người ném vào đó một vòng đeo tai mà họ đã lấy làm chiến lợi phẩm. 26. Những vòng đeo tai vàng mà Ghi-đê-ôn đã xin, cân được một ngàn bảy trăm siếc-lơ vàng, không kể những đồ trang sức hình trăng lưỡi liềm, dây chuyền, và những áo màu điều của vua Ma-đi-an thường mặc, cùng những vòng đeo cổ của lạc đà. 27. Ghi-đê-ôn đã lấy vàng đó làm một cái tượng ê-phót đặt trong thành của mình tại Óp-ra. Cả Y-sơ-ra-ên phạm tội tà dâm với nó tại đó. Nó đã trở thành một cạm bẫy cho Ghi-đê-ôn và cả gia đình của ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Dân Ma-đi-an bị khuất phục trước dân Y-sơ-ra-ên, họ không cất đầu lên được nữa. Trong đời của Ghi-đê-ôn, đất nước được yên bình trong bốn mươi năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29. Giê-ru-ba-anh, con trai của Giô-ách, trở về cư ngụ trong nhà của mình. 30. Ghi-đê-ôn có bảy mươi con trai. Đó là những con ruột của ông, bởi vì ông có nhiều vợ. 31. Một tỳ thiếp của ông tại Si-chem sinh cho ông một con trai. Ông đặt tên cho nó là A-bi-mê-léc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32. Ghi-đê-ôn, con trai của Giô-ách, qua đời trong tuổi già nua. Người ta chôn ông tại phần mộ của Giô-ách là cha của ông, ở Óp-ra, thuộc địa phận của dòng họ A-bi-ê-xe.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. Ngay sau khi Ghi-đê-ôn qua đời, dân Y-sơ-ra-ên trở lại phạm tội tà dâm với các thần Ba-anh và tôn Ba-anh Bê-rít làm thần của họ. 34. Dân Y-sơ-ra-ên không còn nhớ đến Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình, là Đấng đã giải cứu họ ra khỏi tay những kẻ thù của họ ở chung quanh. 35. Họ cũng không bày tỏ lòng biết ơn đối với nhà Giê-ru-ba-anh, là Ghi-đê-ôn, về tất cả những việc tốt đẹp mà ông đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Người Ép-ra-im bèn nói cùng Ghê-đê-ôn rằng: Vì sao ông đã đãi chúng tôi như vậy? Khi ông đi giao chiến cùng dân Ma-đi-an, sao không gọi chúng tôi đi với? Chúng cãi cùng người cách dữ dội. 2.  Nhưng người đáp cùng chúng rằng: Sánh với anh em, tôi há có làm được điều chi? Sự mót nho của Ép-ra-im há chẳng hơn mùa gặt nho của A-bi-ê-xe sao? 3.  Đức Chúa Trời đã phó Ô-rép và Xê-ép là hai quan trưởng dân Ma-đi-an, vào tay anh em. Đem sánh với anh em, tôi nào có làm được điều gì? Khi người nói lời ấy rồi, cơn giận của chúng bèn nguôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Ghê-đê-ôn đi tới sông Giô-đanh, sang qua cùng ba trăm người đồng theo mình; dẫu mệt nhọc, họ cũng cứ rượt theo quân nghịch. 5.  Người bèn nói cùng dân Su-cốt rằng: Ta xin các ngươi hãy cấp một vài ổ bánh cho dân theo ta, vì chúng mệt nhọc; ta đang đuổi theo Xê-bách và Xanh-mu-na, hai vua Ma-đi-an. 6.  Nhưng các quan trưởng Su-cốt đáp rằng: Chớ thì ông đã cầm nơi tay mình cườm tay của Xê-bách và Xanh-mu-na chưa, nên chúng tôi phải cấp bánh cho đạo binh ông? 7.  Ghê-đê-ôn la lên rằng: Thế thì, khi Đức Giê-hô-va đã phó Xê-bách và Xanh-mu-na vào tay ta, ta sẽ lấy chông đồng vắng và nhánh gai mà đánh thịt các ngươi! 8.  Từ đó, người đi lên đến Phê-nu-ên và cũng nói một cách ấy với dân Phê-nu-ên. Dân Phê-nu-ên đáp cùng người y như dân Su-cốt đã đáp. 9.  Vậy, người cũng nói với dân Phê-nu-ên rằng: Khi ta trở về bình an, ắt sẽ phá hủy cái tháp nầy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Xê-bách và Xanh-mu-na ở tại Cạt-cô với quân binh mình, số chừng mười lăm ngàn người, là kẻ còn sót lại trong đạo binh của các người phương Đông; vì một trăm hai mươi ngàn người có tài cầm gươm đã bị giết. 11.  Ghê-đê-ôn đi lên theo đường của những dân ở dưới trại, tại hướng đông Nô-bách và Giô-bê-ha, đánh bại đạo binh vẫn tưởng rằng mình bình an vô-sự. 12.  Khi Xê-bách và Xanh-mu-na chạy trốn, người đuổi theo bắt được hai vua Ma-đi-an, là Xê-bách và Xanh-mu-na, và đánh cả đạo binh vỡ chạy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13.  Đoạn, Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, ở trận trở về qua dốc Hê-re, 14.  bắt một đứa con trai trẻ ở Su-cốt, tra hỏi nó, rồi nó viết khai tên những quan trưởng và trưởng lão của Su-cốt, số được bảy mươi bảy người. 15.  Kế đó, người đến cùng dân Su-cốt, mà nói rằng: Nầy Xê-bách và Xanh-mu-na mà các ngươi đã mắng ta rằng: Chớ thì ông đã cầm cườm tay Xê-bách và Xanh-mu-na nơi tay mình chưa, nên chúng tôi phải cấp bánh cho dân mệt nhọc của ông? 16.  Vậy, người bắt các trưởng lão của thành, lấy chông gai nơi đồng vắng mà đánh phạt những người Su-cốt; 17.  cũng phá hủy tháp Phê-nu-ên và giết những người của thành ấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Đoạn, người nói cùng Xê-bách và Xanh-mu-na rằng: Các người kia mà hai ngươi đã giết tại Tha-bô là làm sao? Hai vua đáp: Chúng nó cũng như ngươi; mỗi người đều có hình vóc như một hoàng tử. 19.  Người tiếp: Ấy là anh em ta, con của mẹ ta. Quả thật, ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, nếu hai ngươi đã để anh em ta sống, thì nay ta không giết hai ngươi! 20.  Đoạn, Ghê-đê-ôn nói cùng Giê-the, con đầu lòng mình, mà rằng: Hãy chổi dậy, giết họ đi. Nhưng người trẻ chẳng rút gươm ra vì sợ: người vẫn còn thiếu niên. 21.  Xê-bách và Xanh-mu-na nói: Chính ngươi hãy chổi dậy và đánh chúng ta đi; vì hễ người thể nào thì sức thể ấy. Ghê-đê-ôn bèn chổi dậy, giết Xê-bách và Xanh-mu-na; đoạn lấy đồ trang sức hình như trăng lưỡi liềm ở nơi cổ lạc đà của hai vua. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  Bấy giờ, những người Y-sơ-ra-ên nói cùng Ghê-đê-ôn rằng: Xin ông, con trai, và cháu ông hãy quản trị chúng tôi, vì ông đã giải cứu chúng tôi khỏi tay dân Ma-đi-an. 23.  Nhưng Ghê-đê-ôn đáp cùng chúng rằng: Ta chẳng quản trị các ngươi, con trai ta cũng không quản trị các ngươi đâu; Đức Giê-hô-va sẽ quản trị các ngươi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24.  Đoạn, Ghê-đê-ôn nói cùng chúng rằng: Ta chỉ xin các ngươi một điều nầy, là mỗi người trong các ngươi phải giao cho ta những vòng mình đã đoạt lấy. (Vả, quân nghịch có những vòng vàng, vì chúng nó vốn là dân Ích-ma-ên). 25.  Chúng đáp: Chúng tôi sẵn lòng giao cho ông. Họ trải một áo tơi ra, rồi hết thảy đều ném vào đó những vòng của mình đã đoạt lấy. 26.  Những vòng vàng mà Ghê-đê-ôn đã xin, cân được một ngàn bảy trăm siếc-lơ vàng, không kể những đồ trang sức hình như trăng lưỡi liềm, hoa tai, và áo sắc điều của vua Ma-đi-an thường mặc, cùng những kiềng nơi cổ lạc đà. 27.  Ghê-đê-ôn lấy vật đó làm một cái ê-phót, để trong thành mình tại Óp-ra. Cả Y-sơ-ra-ên đều cúng thờ cái ê-phót đó; nó trở thành một cái bẫy cho Ghê-đê-ôn và cả nhà người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28.  Dân Ma-đi-an bị phục trước mặt dân Y-sơ-ra-ên, chẳng cất đầu lên được nữa; nên trong đời Ghê-đê-ôn, xứ được hòa bình trọn bốn mươi năm. 29.  Giê-ru-ba-anh, con trai Giô-ách, trở về và ở trong nhà mình. 30.  Vả, Ghê-đê-ôn sanh được bảy mươi con trai, vì người có nhiều vợ. 31.  Vợ lẽ người ở tại Si-chem, cũng sanh cho người một con trai đặt tên là A-bi-mê-léc. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32.  Đoạn, Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, qua đời, tuổi tác đã cao, được chôn trong mả của Giô-ách, cha người, tại Óp-ra, là thành dân A-bi-ê-xê-rít. 33.  Sau khi Ghê-đê-ôn qua đời, dân Y-sơ-ra-ên trở lại hành dâm cùng các Ba-anh, và chọn Ba-anh-Bê-rít làm thần. 34.  Như vậy, dân Y-sơ-ra-ên không nhớ đến Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, là Đấng đã giải cứu họ khỏi tay các kẻ thù nghịch ở chung quanh; 35.  và cũng không có lòng thảo chút nào với nhà Giê-ru-ba-anh, là Ghê-đê-ôn, về các ơn mà người đã làm cho Y-sơ-ra-ên. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B07\V02B07C008.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Ghi-đê-ôn Chiến Thắng và Báo Thù'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Bấy giờ người Ép-ra-im bắt bẻ Ghi-đê-ôn rằng, “Tại sao ông đối xử với chúng tôi như vậy?  Tại sao khi đi đánh dân Mi-đi-an ông không cho gọi chúng tôi đi chung?”  Họ đả kích Ghi-đê-ôn nặng lời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Nhưng Ghi-đê-ôn đáp lời họ, “Những gì tôi làm có thể sánh được với anh em sao?  Há chẳng phải nho mót của Ép-ra-im còn hơn cả một mùa nho của A-bi-ê-xe sao?  3 Ðức Chúa Trời đã phó vào tay anh em hai thủ lãnh của dân Mi-đi-an là Ô-rép và Xê-ép, thì những gì tôi đã làm có thể sánh được với anh em sao?”  Khi nghe ông nói thế, cơn giận của họ bèn dịu xuống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Ghi-đê-ôn đến Sông Giô-đanh và qua sông.  Ông và ba trăm người đi với ông đều mệt đuối, nhưng họ vẫn cố sức truy đuổi quân thù.  5 Ghi-đê-ôn đến nói với dân Su-cốt rằng, “Xin quý vị cho những người theo tôi ít bánh, vì họ kiệt sức quá rồi, và tôi đang truy kích Xê-ba và Xanh-mun-na, các vua dân Mi-đi-an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Nhưng các lãnh tụ ở Su-cốt đáp, “Chắc gì ông sẽ cầm được tay của Xê-ba và Xanh-mun-na trong tay ông, mà chúng tôi phải lấy bánh cho binh lính của ông ăn?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Ghi-đê-ôn đáp, “Nếu vậy thì khi CHÚA đã phó Xê-ba và Xanh-mun-na vào tay tôi, tôi sẽ lấy gai trong đồng hoang và gai thạch nam mà đánh nát thịt các người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Từ đó ông tiến lên Pê-nu-ên, và cũng hỏi dân Pê-nu-ên như vậy, nhưng họ cũng đáp lại với ông giống như dân Su-cốt đã đáp.  9 Vì thế ông nói với dân Pê-nu-ên, “Khi tôi chiến thắng trở về, tôi sẽ phá tan cái tháp này.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Bấy giờ Xê-ba và Xanh-mun-na đang ở tại Cạc-cơ với khoảng mười lăm ngàn binh lính.  Ðó là quân số còn lại của đại quân các dân phương đông, vì một trăm hai mươi ngàn người cầm gươm đã ngã chết.  11 Ghi-đê-ôn đi lên theo ngả của dân du mục, về phía đông của Nô-ba và Gióp-bê-ha, và tấn công vào trại quân trong khi họ tưởng rằng đã bình an vô sự.  12 Xê-ba và Xanh-mun-na liền chạy trốn.  Ông đuổi theo họ và bắt được hai vua dân Mi-đi-an là Xê-ba và Xanh-mun-na, vì thế tàn quân rối loạn, mạnh ai nấy chạy cứu mạng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Ghi-đê-ôn con của Giô-ách từ chiến trường trở về, theo ngả Dốc Hê-rê.  14 Ông bắt được một cậu thiếu niên ở Su-cốt, và tra hỏi cậu ấy.  Cậu ấy liền kê khai cho Ghi-đê-ôn tên tất cả những người lãnh đạo và các trưởng lão của Thành Su-cốt, gồm bảy mươi bảy người.  15 Sau đó Ghi-đê-ôn đến với dân Su-cốt và nói, “Ðây là Xê-ba và Xanh-mun-na, những người mà các ông đã mỉa mai tôi rằng, ‘Chắc gì ông sẽ cầm được tay của Xê-ba và Xanh-mun-na trong tay, mà chúng tôi phải lấy bánh cho binh lính của ông ăn?’”  16 Nói xong ông ra lịnh bắt các trưởng lão trong thành lại, rồi lấy gai trong đồng hoang và gai thạch nam đánh phạt họ và dạy các lãnh tụ ở Su-cốt một bài học.  17 Ông cũng phá hủy tháp Pê-nu-ên và giết các lãnh tụ của thành ấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Kế đó Ghi-đê-ôn hỏi Xê-ba và Xanh-mun-na, “Những người các ngươi giết ở Ta-bô như thế nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Họ đáp, “Họ cũng giống như ông; người nào cũng trông như một vương tử.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Ông đáp, “Họ là anh em ta, các con trai của mẹ ta.  Có CHÚA Hằng Sống chứng giám, nếu các ngươi đã để cho họ sống, thì ta sẽ không giết các ngươi.”  20 Rồi ông bảo Giê-the con đầu lòng của ông, “Con hãy lại giết họ đi.”  Nhưng cậu ấy không dám rút gươm ra, vì cậu ấy nhát, bởi cậu còn trẻ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Xê-ba và Xanh-mun-na bèn nói, “Chính ông hãy đứng dậy và giết chúng tôi, vì người sao thì sức vậy.”  Vậy Ghi-đê-ôn đứng dậy và giết Xê-ba và Xanh-mun-na; rồi ông lấy những vật hình lưỡi liềm đeo nơi cổ các lạc đà của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ghi-đê-ôn Ðúc Ê-phót'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Bấy giờ dân I-sơ-ra-ên nói với Ghi-đê-ôn, “Xin ông lãnh đạo chúng tôi –ông, con trai ông, và cháu ông– vì ông đã giải thoát chúng tôi khỏi tay dân Mi-đi-an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Ghi-đê-ôn đáp với họ, “Tôi sẽ không lãnh đạo anh em, con trai tôi cũng sẽ không lãnh đạo anh em.  CHÚA sẽ lãnh đạo anh em.”  24 Rồi Ghi-đê-ôn nói tiếp, “Tôi có một lời yêu cầu anh em.  Xin mỗi người cho tôi một vòng đeo tai mà anh em đã lấy làm chiến lợi phẩm.”  Số là quân giặc đều đeo khoen tai bằng vàng, bởi họ là dòng dõi của Ích-ma-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25 Họ đáp, “Chúng tôi rất sẵn sàng trao cho ông.”  Vậy họ trải một áo choàng ra, rồi mỗi người ném vào một vòng đeo tai mà họ đã lấy làm chiến lợi phẩm.  26 Số vàng của các vòng đeo tai mà Ghi-đê-ôn xin cân được mười chín ký-lô rưỡi, không kể những đồ trang sức hình lưỡi liềm, những trân châu, những bộ vương phục màu tím của các vua Mi-đi-an, và những kiềng trang sức trên cổ lạc đà của họ.  27 Ghi-đê-ôn lấy những vàng đó đúc thành một ê-phót, rồi đặt nó trong thành của ông tại Óp-ra.  Toàn dân I-sơ-ra-ên phạm tội tà dâm với nó bằng cách thờ nó, và nó đã trở thành một cái bẫy cho Ghi-đê-ôn và gia đình ông.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Vậy dân Mi-đi-an bị khuất phục trước dân I-sơ-ra-ên, và chúng chẳng ngất đầu lên được nữa.  Trọn đời của Ghi-đê-ôn, xứ được bình yên trong bốn mươi năm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ghi-đê-ôn Qua Ðời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29 Giê-ru-ba-anh con trai Giô-ách trở về sống trong nhà ông.  30 Ghi-đê-ôn có bảy mươi con trai; ấy là những con ruột của ông, vì ông có nhiều vợ.  31 Một tỳ thiếp của ông, quê ở Sê-chem, cũng sinh cho ông một con trai; ông đặt tên cho đứa con ấy là A-bi-mê-léc.  32 Rồi Ghi-đê-ôn con trai Giô-ách qua đời trong tuổi già nua.  Người ta chôn ông trong mộ của Giô-ách cha ông, tại Óp-ra, thuộc địa phận của dòng họ A-bi-ê-xe.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Vừa khi Ghi-đê-ôn qua đời, dân I-sơ-ra-ên liền sa ngã và phạm tội tà dâm với các Thần Ba-anh.  Họ tôn Ba-anh Bê-rít làm thần của họ.  34 Dân I-sơ-ra-ên chẳng nhớ rằng CHÚA là Thần của họ, Ðấng đã giải cứu họ khỏi tay quân thù tứ phía.  35 Họ cũng chẳng bày tỏ lòng trung thành với gia đình của Giê-ru-ba-anh, tức Ghi-đê-ôn, để đền đáp những điều tốt đẹp mà ông ấy đã làm cho I-sơ-ra-ên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Giô-suê]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 7]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 9]]&lt;br /&gt;
:* [[Ru-tơ]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_6&amp;diff=35780</id>
		<title>Các Quan Xét: Chương 6</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_6&amp;diff=35780"/>
		<updated>2026-07-16T04:14:05Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va phó họ vào tay của dân Ma-đi-an trong bảy năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Tay của dân Ma-đi-an đã thắng hơn dân Y-sơ-ra-ên. Vì cớ dân Ma-đi-an cho nên người Y-sơ-ra-ên phải làm cho mình những cái hang ở trong núi, trong các hang động, hay trong những nơi kiên cố. 3. Mỗi khi dân Y-sơ-ra-ên gieo giống thì dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và dân phương Đông kéo đến. Chúng kéo đến để tấn công họ. 4. Chúng đóng quân để chống lại họ và hủy hoại mùa màng trong xứ cho đến tận Ga-xa, không chừa lại một thứ gì trong Y-sơ-ra-ên, kể cả chiên, bò, và lừa. 5. Bởi vì chúng và những đàn súc vật của chúng đã kéo đến rồi đóng trại. Chúng kéo đến nhiều như cào cào. Bọn chúng và lạc đà nhiều vô số, không thể đếm hết được. Chúng chiếm lấy xứ rồi phá hoại. 6. Vì cớ dân Ma-đi-an mà dân Y-sơ-ra-ên bị nghèo đói, cho nên họ đã kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Và rồi, khi dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va về việc dân Ma-đi-an, 8. Đức Giê-hô-va đã sai một tiên tri đến nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Ta đã đem các ngươi ra khỏi Ai Cập, đã rút các ngươi ra khỏi nhà nô lệ. 9. Ta đã giải thoát các ngươi khỏi tay của người Ai Cập, và khỏi tay của những kẻ áp bức các ngươi. Ta đã đuổi cư dân khỏi trước mặt các ngươi và ban cho các ngươi xứ của chúng.  10. Ta đã phán cùng các ngươi: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. Các ngươi đừng thờ phượng những thần của dân A-mô-rít tại trong xứ mà các ngươi đang cư ngụ. Nhưng các ngươi đã không vâng theo tiếng của Ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đến ngồi dưới cây sồi tại Óp-ra, thuộc về Giô-ách, dòng họ A-bi-ê-xe. Con trai của ông là Ghi-đê-ôn đang đập lúa mì nơi bàn ép rượu, để giấu dân Mi-đi-an. 12. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra với ông, rồi nói với: “Hỡi người chiến sĩ dũng cảm! Đức Giê-hô-va ở với ngươi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Ghi-đê-ôn nói với người: “Ôi Chúa của tôi! Nếu Đức Giê-hô-va ở cùng chúng tôi, tại sao tất cả những việc nầy xảy đến cho chúng tôi? Tất cả những phép lạ đâu rồi?  Tổ phụ của chúng tôi thuật lại rằng Đức Giê-hô-va đã đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập, nhưng bây giờ Đức Giê-hô-va đã từ bỏ chúng tôi và phó chúng tôi vào tay của dân Ma-đi-an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Đức Giê-hô-va quay lại rồi phán với ông: “Hãy đi! Hãy dùng sức mà ngươi đang có để giải thoát Y-sơ-ra-ên ra khỏi tay của dân Ma-đi-an. Không phải Ta đang sai ngươi đó hay sao?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Nhưng ông nói với Ngài: “Ôi Chúa của tôi! Làm sao tôi có thể giải cứu Y-sơ-ra-ên được? Nầy, gia tộc của tôi là nhỏ nhất trong chi tộc Ma-na-se, và tôi là người nhỏ nhất trong gia đình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Đức Giê-hô-va phán với ông: “Thật vậy, Ta sẽ ở với ngươi, và ngươi sẽ đánh bại dân Mi-đi-an như đánh một người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Ghi-đê-ôn nói với Ngài: “Nếu tôi được ơn trước mặt Ngài, xin Ngài hãy tỏ cho tôi một dấu hiệu để chứng tỏ rằng chính Ngài đã phán cùng tôi. 18. Xin Ngài đừng rời khỏi đây cho đến khi tôi trở lại, mang theo tế lễ, để dâng cho Ngài.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài phán: “Ta sẽ chờ ở đây cho đến khi ngươi trở lại.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Ghi-đê-ôn đã đi vào, bắt một con dê con làm thịt, rồi lấy một ê-pha bột làm bánh không men. Ông để thịt trong rổ và đổ nước thịt vào nồi, rồi đem những vật đó đến dâng cho Ngài ở dưới cây sồi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Thiên sứ của Đức Chúa Trời truyền cho ông: “Hãy lấy thịt và bánh không men đặt trên tảng đá nầy, rồi đổ nước thịt ra.” Ông đã làm như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đưa đầu gậy đang cầm trong tay của Ngài chạm vào thịt và bánh không men. Lửa bốc lên từ tảng đá thiêu đốt thịt và bánh không men. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va biến mất trước mắt ông. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Ghi-đê-ôn nhận biết đó là Thiên sứ của Đức Giê-hô-va, ông thưa với Ngài: “Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời! Khốn nạn cho con, bởi vì con đã thấy Thiên sứ của Đức Giê-hô-va mặt đối mặt!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Nhưng Đức Giê-hô-va phán với ông: “Hãy an tâm. Ðừng sợ! Ngươi sẽ không chết.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Ghi-đê-ôn đã lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va tại đó, rồi đặt tên là Giê-hô-va Sa-lôm. Bàn thờ đó vẫn còn ở Óp-ra, thuộc về gia tộc A-bi-ê-xe, cho đến ngày nay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25. Và rồi, đêm hôm đó Đức Giê-hô-va phán cùng ông: “Hãy bắt con bò đực của cha ngươi, và một con bò đực thứ nhì bảy tuổi, hãy kéo sập bàn thờ Ba-anh của cha ngươi xuống, và cũng chặt bỏ cây trụ A-sê-ra ở bên cạnh nó. 26. Sau đó, hãy xây một bàn thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi trên đỉnh của vầng đá nầy, rồi sắp đặt cho phù hợp. Hãy bắt con bò đực thứ nhì để làm tế lễ thiêu, rồi lấy gỗ của cây trụ A-sê-ra để làm củi đốt.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Ghi-đê-ôn đã chọn mười người trong các đầy tớ của mình để thực hiện theo điều Đức Giê-hô-va đã truyền cho ông. Bởi vì ông sợ những người trong gia đình và những người trong thành, cho nên ông không làm vào ban ngày nhưng làm vào ban đêm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Sáng hôm sau, khi dân thành thức dậy, họ thấy bàn thờ của Ba-anh đã bị phá sập, hình tượng A-sê-ra bên cạnh bị triệt hạ, và con bò đực thứ nhì đã được dâng làm tế lễ thiêu trên bàn thờ đã được xây dựng. 29. Họ hỏi lẫn nhau: “Ai đã làm việc nầy?” Sau khi dò hỏi và tìm hiểu, họ biết rằng chính Ghi-đê-ôn, con trai của Giô-ách, đã làm điều đó. 30. Dân trong thành nói với Giô-ách: “Hãy đem con trai của ông ra đây. Nó phải chết vì nó đã phá đổ bàn thờ của Ba-anh và triệt hạ hình tượng A-sê-ra bên cạnh đó.” 31. Nhưng Giô-ách trả lời những người đương đầu với ông: “Các ngươi muốn đấu tranh cho Ba-anh hay sao? Nếu các ngươi muốn tiếp cứu nó, thì ai đấu tranh cho Ba-anh sẽ bị xử tử trước sáng mai. Nếu thật hắn là thần thì chính hắn phải đấu tranh, bởi vì người ta đã phá đổ bàn thờ của hắn!” 32. Vì vậy, trong ngày đó người ta gọi Ghi-đê-ôn là Giê-ru-ba-anh, họ nói rằng: “Hãy để Ba-anh đấu tranh với ông ấy, vì ông ấy đã phá sập bàn thờ của hắn.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. Tất cả dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và các dân tộc ở phương đông hiệp lại với nhau. Chúng vượt qua sông Giô-đanh và đóng trại tại thung lũng Gít-rê-ên. 34. Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên Ghi-đê-ôn. Ông thổi kèn triệu tập những người A-bi-ê-xê-rít đi theo ông. 35. Ông đã sai các sứ giả đi khắp Ma-na-se để triệu tập họ. Ông cũng sai các sứ giả theo mình đến với người A-se, Sa-bu-lôn, Nép-ta-li, và họ cũng đi lên hiệp với ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36. Ghi-đê-ôn thưa với Đức Chúa Trời: “Nếu Ngài giải cứu Y-sơ-ra-ên bằng tay của con như lời Ngài đã phán, 37. nầy, con sẽ để một mớ lông chiên trong sân đập lúa. Nếu sương chỉ đọng trên lông chiên, nhưng tất cả đất lại khô ráo, thì con sẽ nhận biết rằng Ngài sẽ giải cứu Y-sơ-ra-ên bằng tay của con như Ngài đã phán.” 38. Việc xảy ra đúng như vậy. Sáng hôm sau, ông dậy sớm, vắt lông chiên. Sương từ lông chiên chảy ra, hứng đầy một chén.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39. Ghi-đê-ôn thưa với Đức Chúa Trời rằng: “Xin Ngài đừng nổi giận với con. Con chỉ xin thưa một lần nữa. Xin Ngài hãy cho con thử bằng lông chiên một lần nữa. Lần nầy, xin cho lông chiên được khô, còn cả đất thì đẫm sương.” 40. Ðêm đó, Ðức Chúa Trời đã làm y như vậy. Chỉ có lông chiên là khô, còn cả đất đều đẫm sương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay dân Ma-đi-an trong bảy năm. 2.  Tay của người Ma-đi-an thắng hơn Y-sơ-ra-ên. Vì sợ người Ma-đi-an, nên dân Y-sơ-ra-ên làm cho mình những nơi ẩn náu trong núi, trong các hầm và đồn. 3.  Khi Y-sơ-ra-ên đã gieo giống, dân Ma-đi-an với dân A-mê-léc, và người phương Đông đi lên đánh Y-sơ-ra-ên, 4.  đóng trại đối ngang người, phá hại mùa màng của xứ cho đến Ga-xa, và không để lại trong Y-sơ-ra-ên lương thực gì, hoặc chiên, bò hay là lừa. 5.  Vì chúng nó đi lên đem theo bầy súc vật và trại mình, loán đến khác nào một đám cào cào. Người và lạc đà vô số đến trong xứ đặng phá hại. 6.  Vậy, vì cớ dân Ma-đi-an, Y-sơ-ra-ên bị nghèo khổ bẩn chật, nên họ kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Bấy giờ, vì dân Y-sơ-ra-ên đã kêu cầu Đức Giê-hô-va về việc dân Ma-đi-an, 8.  nên Đức Giê-hô-va sai một đấng tiên tri đến cùng dân Y-sơ-ra-ên. Người nói cùng chúng rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Ta đã đem các ngươi lên khỏi xứ Ê-díp-tô, rút các ngươi khỏi nhà nô lệ, 9.  giải cứu các ngươi khỏi tay người Ê-díp-tô, và khỏi tay hết thảy kẻ hà hiếp các ngươi, và đuổi chúng nó khỏi trước mặt các ngươi; ta đã ban cho các ngươi xứ của chúng nó, 10.  và có phán rằng: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, chớ sợ các thần của dân A-mô-rít tại trong xứ mà các ngươi ở. Nhưng các ngươi nào có nghe tiếng ta! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Đoạn, thiên sứ của Đức Giê-hô-va đến ngồi dưới cây thông Óp-ra thuộc về Giô-ách, người A-bi-ê-xê-rít. Ghê-đê-ôn, con trai người, đang đập lúa mạch trong bàn ép, đặng giấu khỏi dân Ma-đi-an. 12.  Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện đến cùng người mà rằng: Hỡi người dõng sĩ! Đức Giê-hô-va ở cùng ngươi. 13.  Ghê-đê-ôn thưa rằng: Ôi! Chúa, nếu Đức Giê-hô-va ở cùng chúng tôi, sao các điều nầy xảy đến cho chúng tôi? Các phép lạ kia ở đâu mà tổ phụ chúng tôi đã thuật lại rằng: Đức Giê-hô-va há chẳng có đem chúng ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô sao? Vì bây giờ Đức Giê-hô-va từ bỏ chúng tôi, và phó chúng tôi vào tay dân Ma-đi-an. 14.  Đức Giê-hô-va xây lại cùng người mà phán rằng: Hãy dùng sức của ngươi vẫn có mà đi giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay dân Ma-đi-an. Ta há chẳng sai ngươi đi sao? 15.  Người thưa rằng: Than ôi! hỡi Chúa, tôi sẽ lấy chi giải cứu Y-sơ-ra-ên? Kìa, trong chi phái Ma-na-se, họ tôi vốn nghèo hơn hết; còn tôi là nhỏ hơn hết trong nhà cha tôi. 16.  Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta sẽ ở cùng ngươi, và ngươi sẽ đánh bại dân Ma-đi-an như đánh một người vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Ghê-đê-ôn thưa lại rằng: Nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin ban cho tôi một dấu rằng chính Chúa phán cùng tôi. 18.  Xin chớ dan khỏi đây cho đến khi tôi trở lại cùng Ngài, đem của lễ tôi, để trước mặt Ngài. Ngài đáp: Ta sẽ ở đây cho đến khi ngươi trở lại. 19.  Ghê-đê-ôn bèn đi vô, dọn sẵn một con dê con, lấy một ê-pha bột làm những bánh nhỏ không men. Người để thịt trong rổ, đổ nước thịt vào nồi, rồi đem ra dâng các món ấy cho Ngài ở dưới cây thông. 20.  Thiên sứ của Đức Chúa Trời phán rằng: Hãy lấy thịt và bánh nhỏ không men, để trên hòn đá nầy, rồi đổ nước thịt ra. Ghê-đê-ôn bèn làm như vậy. 21.  Bấy giờ, thiên sứ của Đức Giê-hô-va giơ đầu gậy Ngài đang cầm nơi tay mình ra, đụng đến thịt và bánh nhỏ không men. Lửa từ hòn đá bốc lên, thiêu hóa thịt và bánh nhỏ không men; đoạn, thiên sứ của Đức Giê-hô-va biến đi khỏi mắt người. 22.  Ghê-đê-ôn thấy rằng ấy là thiên sứ của Đức Giê-hô-va, bèn la rằng: Ôi, Chúa Giê-hô-va! khốn nạn cho tôi, vì tôi thấy đối diện thiên sứ của Đức Giê-hô-va! 23.  Nhưng Đức Giê-hô-va phán cùng người rằng: Khá yên lòng, chớ sợ chi, ngươi sẽ không chết đâu. 24.  Ghê-đê-ôn bèn lập tại đó một cái bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, và đặt tên là Giê-hô-va-Sa-lam. Tại Óp-ra, thành của người A-bi-ê-xê-rít, cái bàn thờ ấy vẫn còn đến ngày nay. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25.  Trong cũng một đêm ấy, Đức Giê-hô-va phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Hãy bắt con bò đực tơ của cha ngươi, và một con bò đực thứ nhì bảy tuổi, rồi phá dỡ bàn thờ thần Ba-anh tại nhà cha ngươi, và đánh hạ hình tượng A-sê-ra ở trên đó. 26.  Đoạn, tại nơi chót hòn đá nầy, ngươi sẽ lập một bàn thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và sắp đặt mọi việc; rồi hãy bắt con bò đực thứ nhì, dâng làm của lễ thiêu với gỗ hình tượng A-sê-ra mà ngươi đã đánh hạ. 27.  Ghê-đê-ôn chọn lấy mười người trong bọn đầy tớ mình, và làm theo điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn; và vì người sợ nhà cha mình cùng kẻ trong thành, nên không dám làm theo lịnh ấy ban ngày, bèn làm ban đêm. 28.  Sớm mai, khi dân trong thành thức dậy, thấy bàn thờ của thần Ba-anh đã bị phá dỡ, hình tượng A-sê-ra ở trên bị đánh hạ, và con bò đực thứ nhì đã dâng làm của lễ thiêu trên bàn thờ mới lập đó. 29.  Chúng hỏi nhau rằng: Ai làm điều đó? Đoạn, hỏi thăm và tra xét. Có người nói cùng chúng nó rằng: Ấy là Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, đã làm điều đó. 30.  Dân trong thành bèn nói cùng Giô-ách rằng: Hãy biểu con ngươi ra, nó phải chết, vì nó đã phá dỡ bàn thờ thần Ba-anh, và đánh hạ hình tượng A-sê-ra ở trên. 31.  Giô-ách đáp với những kẻ dấy nghịch cùng mình rằng: Các ngươi há có ý binh vực Ba-anh sao? Há có phải các ngươi muốn tiếp cứu nó ư? Ai theo phe của Ba-anh sẽ bị xử tử kể từ sáng ngày nay. Nếu hắn là chúa, thì chính hắn hãy tranh luận lấy chớ, bởi vì người ta đã phá dỡ bàn thờ của hắn. 32.  Vậy, trong ngày đó người ta gọi Ghê-đê-ôn là Giê-ru-ba-anh mà rằng: Ba-anh phải tranh luận cùng người, vì Ghê-đê-ôn có phá dỡ bàn thờ của hắn! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33.  Hết thảy dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và người phương Đông đều hiệp lại, đi ngang qua sông Giô-đanh, và đóng trại tại trũng Gít-rê-ên. 34.  Thần của Đức Giê-hô-va cảm hóa Ghê-đê-ôn; người thổi kèn, các người A-bi-ê-xê-rít bèn hiệp lại đặng theo người. 35.  Người cũng sai sứ giả đi khắp Ma-na-se; người Ma-na-se bèn nhóm hiệp đặng theo người. Đoạn, người sai sứ giả đến chi phái A-se, Sa-bu-lôn và Nép-ta-li; họ cũng đi lên mà hiệp với người nữa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36.  Ghê-đê-ôn thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Nếu Chúa muốn dùng tay tôi giải cứu Y-sơ-ra-ên, y như lời Chúa đã phán, 37.  thì tôi sẽ để một lốt chiên trong sân đạp lúa; nếu sương chỉ đóng trên lốt chiên, còn đất lại khô ráo, thì tôi sẽ nhận biết Chúa dùng tay tôi giải cứu Y-sơ-ra-ên, y như Chúa đã hứa vậy. 38.  Việc bèn xảy ra như vậy: ngày mai Ghê-đê-ôn dậy sớm, ép vắt lốt chiên, thì sương chảy ra đầy một chén nước. 39.  Ghê-đê-ôn lại thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Xin cơn thạnh nộ Chúa chớ nổi phừng cùng tôi, tôi chỉ sẽ nói lần nầy thôi. Xin Chúa để tôi làm thử với lốt chiên chỉ một lần nầy mà thôi: Xin cho một mình lốt chiên phải khô, còn sương lại đóng khắp trên đất. 40.  Trong đêm đó, Đức Chúa Trời bèn làm như vậy; chỉ một mình lốt chiên thì khô, còn khắp trên đất lại bị sương phủ. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B07\V02B07C006.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Dân I-sơ-ra-ên Bị Dân Mi-đi-an Ðàn Áp'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Dân I-sơ-ra-ên làm điều tội lỗi trước mặt CHÚA, nên Ngài phó họ vào tay dân Mi-đi-an bảy năm.  2 Tay của dân Mi-đi-an thắng hơn dân I-sơ-ra-ên.  Vì sự đàn áp của dân Mi-đi-an, dân I-sơ-ra-ên phải sống trốn tránh trong các rừng núi, hang hóc, hoặc trong các thành trì kiên cố.  3 Mỗi khi dân I-sơ-ra-ên đi ra gieo giống, dân Mi-đi-an, dân A-ma-léc, và các dân phương đông kéo đến đánh họ.  4 Chúng hạ trại dàn quân đánh họ.  Chúng phá hủy các hoa màu trong xứ cho đến tận vùng Ga-xa, không chừa lại một thứ gì trong đất I-sơ-ra-ên, kể cả chiên, bò, và lừa.  5 Chúng và những đàn súc vật của chúng kéo đến và dựng trại đông như cào cào.  Người ta và lạc đà nhiều vô số, không thể đếm hết.  Chúng chiếm lấy xứ và phá hủy tất cả.  6 Vì cớ dân Mi-đi-an, dân I-sơ-ra-ên đã bị đói khổ rất thê thảm, do đó người I-sơ-ra-ên đã kêu cầu CHÚA xin cứu giúp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Sau khi dân I-sơ-ra-ên đã kêu cầu CHÚA vì cớ dân Mi-đi-an, 8 CHÚA sai một vị tiên tri đến với dân I-sơ-ra-ên và nói với họ, “CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này: Ta đã đem các ngươi lên khỏi xứ Ai-cập, tức đem các ngươi ra khỏi nhà nô lệ.  9 Ta đã giải thoát các ngươi ra khỏi tay người Ai-cập, và khỏi tay mọi kẻ áp bức các ngươi.  Ta đã đuổi chúng đi khỏi mặt các ngươi và ban cho các ngươi xứ của chúng.  10 Ta đã phán với các ngươi, ‘Ta là CHÚA, Ðức Chúa Trời của các ngươi; các ngươi chớ thờ các thần của dân A-mô-ri trong xứ các ngươi đang sống.’  Nhưng các ngươi không vâng lời Ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''CHÚA Kêu Gọi Ghi-đê-ôn'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Bấy giờ Thiên Sứ của CHÚA đến ngồi dưới cây sồi của Óp-ra, trong đất của Giô-ách, thuộc dòng họ A-bi-ê-xe.  Ghi-đê-ôn con trai Giô-ách đang đập lúa nơi bàn ép rượu, để tránh khỏi dân Mi-đi-an.  12 Thiên Sứ của CHÚA hiện ra với ông và phán, “Này, CHÚA ở với ngươi, hỡi người chiến sĩ anh dũng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Ghi-đê-ôn đáp, “Thưa Ngài, nếu CHÚA ở với chúng con, tại sao chúng con phải ra nông nỗi này?  Nào những việc lạ lùng mà các tổ tiên chúng con thường kể lại cho chúng con nghe đâu rồi?  Họ bảo rằng, ‘CHÚA chẳng đã đem các người lên khỏi đất Ai-cập hay sao?’  Nhưng bây giờ CHÚA đã bỏ chúng con và phó chúng con vào tay dân Mi-đi-an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 CHÚA quay qua ông và phán với ông, “Hãy đi, dùng sức ngươi sẵn có mà giải thoát dân I-sơ-ra-ên khỏi tay dân Mi-đi-an.  Há chẳng phải Ta sai ngươi đó sao?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Ông đáp, “Nhưng thưa Ngài, làm sao con có thể giải thoát dân I-sơ-ra-ên được?  Gia tộc con là gia tộc yếu kém nhất trong chi tộc Ma-na-se; còn con là kẻ nhỏ nhất trong gia đình của cha con.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 CHÚA phán với ông, “Ta sẽ ở với ngươi, và ngươi sẽ đánh bại dân Mi-đi-an như đánh một người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Ghi-đê-ôn nói, “Nếu con được ơn trước mặt Ngài, xin Ngài cho con một dấu lạ, để chứng tỏ rằng chính Ngài đã phán với con.  18 Xin Ngài đừng rời khỏi đây cho đến khi con trở lại, mang theo của tế lễ, và dâng lên trước mặt Ngài.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài phán, “Ta sẽ chờ ở đây cho đến khi ngươi trở lại.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Ghi-đê-ôn vội vàng trở về nhà, bắt một con dê con làm thịt, lấy mười ký bột làm bánh không men.  Ông lấy thịt để vào một cái giỏ và để cháo trong nồi, rồi đem tất cả các món ấy đến dưới cây sồi mà dâng lên Ngài.  20 Thiên Sứ của Đức Chúa Trời phán, “Hãy lấy thịt và bánh không men để trên tảng đá này, rồi đổ cháo lên.”  Ghi-đê-ôn làm y như vậy.  21 Thiên Sứ của CHÚA đưa tay ra, dùng đầu gậy cầm nơi tay đụng vào thịt và bánh không men; lửa từ tảng đá bùng lên thiêu đốt thịt và bánh không men, đồng thời Thiên Sứ của CHÚA cũng biến mất. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Ghi-đê-ôn liền nhận biết ấy là Thiên Sứ của CHÚA, ông nói, “Ôi lạy CHÚA Hằng Hữu!  Con chắc phải chết rồi, vì con đã gặp Thiên Sứ của CHÚA mặt đối mặt.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Nhưng CHÚA phán với ông, “Hãy an tâm.  Ðừng sợ.  Ngươi sẽ không chết đâu.”  24 Ghi-đê-ôn liền xây một bàn thờ cho CHÚA tại đó và đặt tên là CHÚA Bình An.  Bàn thờ ấy vẫn còn ở Óp-ra, trong đất của dòng họ A-bi-ê-xe, cho đến ngày nay. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ghi-đê-ôn Phá Ðổ Bàn Thờ Ba-anh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25 Ðêm đó CHÚA phán với ông, “Hãy bắt con bò đực của cha ngươi, và một con bò đực thứ nhì bảy tuổi, rồi cho kéo đổ bàn thờ Thần Ba-anh của cha ngươi xuống.  Ngươi cũng hãy đốn cây trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra ở bên cạnh nó ngã xuống.  26 Sau đó hãy xây một bàn thờ cho CHÚA, Ðức Chúa Trời của ngươi, trên vầng đá này, theo như cách thức đã ấn định xưa nay; rồi hãy bắt con bò đực thứ nhì làm của lễ thiêu, và lấy gỗ của cây trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra làm củi để thiêu.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Vậy Ghi-đê-ôn chọn mười đầy tớ để giúp ông làm y như lời CHÚA đã phán bảo.  Vì ông sợ những người khác trong gia đình và dân thành trông thấy, nên thay vì làm ban ngày, ông đã thực hiện việc đó ban đêm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Sáng hôm sau khi dân thành thức dậy, họ thấy bàn thờ của Thần Ba-anh đã đổ xuống, trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra đã bị đốn mất, con bò thứ nhì đã được dâng trên bàn thờ vừa mới được xây.  29 Họ bèn hỏi nhau, “Ai đã làm việc này?”  Sau khi điều tra và dọ hỏi, họ được báo, “Ấy là Ghi-đê-ôn con trai của Giô-ách; ông ấy đã làm điều đó.”  30 Dân thành kéo đến nói với Giô-ách, “Hãy đem con ông ra đây, để nó phải chết, vì nó đã dám phá dỡ bàn thờ của Thần Ba-anh và đốn ngã trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra ở bên cạnh.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 Nhưng Giô-ách trả lời những người đương đầu với ông, “Có phải các người đến để binh vực cho Ba-anh không?  Các người muốn binh vực nó phải không?  Ai muốn binh vực nó sẽ bị toi mạng sáng nay.  Vì nếu nó quả thật là thần, hãy để nó tự bảo vệ cho mình, vì bàn thờ của nó đã bị phá đổ kia mà.”  32 Vì thế ngày hôm đó người ta gọi Ghi-đê-ôn là Giê-ru-ba-anh, vì họ nói rằng, “Thôi để cho Ba-anh đối phó với ông ấy,” vì ông ấy đã phá đổ bàn thờ của hắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ghi-đê-ôn Mộ Binh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Bấy giờ toàn dân Mi-đi-an, dân A-ma-léc, và các dân ở phương đông hiệp lại với nhau.  Chúng vượt qua Sông Giô-đanh và hạ trại ở Thung Lũng Giê-rê-ên.  34 Thần của CHÚA ngự trên Ghi-đê-ôn.  Ông thổi kèn triệu tập, và dòng họ A-bi-ê-xe đều nhóm lại theo ông.  35 Ông sai sứ giả đến khắp địa phận của Ma-na-se, và họ cùng nhau hiệp lại theo ông.  Ông sai các sứ giả đến địa phận của A-se, Xê-bu-lun, và Náp-ta-li.  Họ thảy đều đi lên và hiệp với ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Dấu Chỉ Trên Mớ Lông Chiên'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36 Bấy giờ Ghi-đê-ôn thưa với Ðức Chúa Trời, “Ðể con có thể biết chắc chắn rằng Ngài muốn dùng tay con giải thoát dân I-sơ-ra-ên như lời Ngài đã phán, 37 con xin để một mớ lông chiên trong sân đập lúa; nếu sương chỉ đọng trên mớ lông chiên, còn đất chung quanh đều khô ráo, thì con biết rằng Ngài sẽ dùng tay con để giải thoát dân I-sơ-ra-ên như lời Ngài đã phán.”  38 Việc ấy xảy ra y như vậy.  Sáng hôm sau ông dậy sớm, ra lấy mớ lông chiên mà vắt, nước sương từ trong mớ lông chiên chảy ra, hứng đầy một chén.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39 Ghi-đê-ôn lại thưa với Ðức Chúa Trời, “Xin Ngài đừng nổi giận với con.  Xin cho con thưa thêm một lần nữa.  Xin cho con thử lại với mớ lông chiên một lần nữa.  Lần này xin cho chỉ mớ lông chiên được khô, còn đất chung quanh sẽ bị phủ đầy sương.”  40 Ðêm đó Ðức Chúa Trời làm y như vậy.  Chỉ mớ lông chiên là khô, còn đất chung quanh đều đọng sương ướt đẫm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Giô-suê]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 5]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 7]]&lt;br /&gt;
:* [[Ru-tơ]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35779</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35779"/>
		<updated>2026-06-30T18:22:06Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. 12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải thừa nhận rằng huyền nhiệm về sự tôn kính Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, là rất lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thừa nhận rằng huyền nhiệm về sự tôn kính Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, là rất lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. 12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải thừa nhận rằng huyền nhiệm về sự tôn kính Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, là rất lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35778</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35778"/>
		<updated>2026-06-30T18:10:46Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. 12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải thừa nhận rằng huyền nhiệm về sự tôn kính Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, là rất lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thú nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. 12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=R%C3%B4-ma:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_8&amp;diff=35777</id>
		<title>Rô-ma: Chương 8</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=R%C3%B4-ma:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_8&amp;diff=35777"/>
		<updated>2026-06-26T07:01:11Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Như vậy, hiện nay không còn sự kết án cho những ai ở trong Ðức Chúa Jesus Christ, là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh. 2. Bởi vì luật của Thánh Linh là Ðấng ban sự sống trong Ðức Chúa Jesus Christ đã giải thoát anh em khỏi luật của tội lỗi và sự chết. 3. Bởi vì điều gì luật pháp bất lực, do xác thịt làm cho suy yếu, thì Ðức Chúa Trời đã làm rồi. Ngài đã sai chính Con Ngài đến trong thân xác giống như xác thịt tội lỗi, và vì cớ tội lỗi, đã đoán phạt tội lỗi trong thân xác đó, 4. để hoàn tất đòi hỏi của luật pháp trên chúng ta, là những người không đi theo xác thịt, nhưng đi theo Đức Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Thật vậy, những ai theo xác thịt, tâm trí hướng vào những việc thuộc về xác thịt, những ai theo Thánh Linh, thì hướng vào những việc thuộc về Thánh Linh. 6. Như vậy, hướng tâm trí vào xác thịt đưa đến sự chết, nhưng hướng tâm trí vào Thánh Linh dẫn đến sự sống và bình an, 7. bởi vì tâm trí hướng về xác thịt là thù nghịch với Đức Chúa Trời - do không chịu, và cũng không thể, thuận phục luật pháp của Đức Chúa Trời. 8. Những người sống theo xác thịt không thể làm đẹp lòng Ðức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Tuy nhiên, nếu thật sự Thánh Linh của Ðức Chúa Trời đang ở trong anh em, anh em không sống theo xác thịt nhưng theo Thánh Linh. Nếu ai không có Thánh Linh của Ðấng Christ, người ấy không thuộc về Ngài. 10. Tuy nhiên, nếu Ðấng Christ đang ở trong anh em, dù thân thể của anh em chết theo tội lỗi, tâm linh của anh em sống theo sự công chính. 11. Nếu Thánh Linh của Ðấng đã làm cho Ðức Chúa Jesus sống lại từ cõi chết ở trong anh em, thì Ðấng đã làm cho Ðấng Christ sống lại từ cõi chết, cũng sẽ ban sự sống cho thân thể khả tử của anh em qua Thánh Linh của Ngài, là Ðấng đang ngự trong anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Anh em ơi! Như vậy chúng ta không còn mắc nợ xác thịt để sống theo xác thịt nữa. 13. Do đó nếu anh em cứ sống theo xác thịt, anh em chắc chắn sẽ chết; nhưng nếu anh em nhờ Thánh Linh làm chết những hành vi của thân xác, anh em sẽ sống. 14. Bởi vì những ai được Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dẫn dắt đều là con của Ðức Chúa Trời. 15. Do đó anh em không còn nhận tâm linh của một kẻ nô lệ để phải sợ hãi nữa, nhưng anh em đã nhận lấy tâm linh của những người được nhận làm con nuôi của Đấng mà chúng ta gọi là “A-ba, Cha!” 16. Chính Thánh Linh làm chứng cho tâm linh của chúng ta rằng chúng ta là con của Ðức Chúa Trời. 17. Hơn thế nữa, con là những người thừa kế - những người thừa kế của Ðức Chúa Trời và những người đồng thừa kế với Ðấng Christ; nếu thật sự chúng ta chịu khổ với Ngài, chúng ta cũng sẽ cùng được vinh quang. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thật vậy, tôi cho rằng những đau khổ hiện tại không thể so sánh với vinh quang mà tương lai sẽ bày tỏ cho chúng ta. 19. Tạo vật đang chờ đợi và nôn nả trông chờ sự hiển lộ của các con Đức Chúa Trời. 20. Bởi vì tạo vật - không phải tự ý, nhưng bởi Ðấng bắt nó phục tùng - đã khuất phục sự hư không với niềm hy vọng 21. rằng chính tạo vật cũng sẽ được thoát khỏi ách nô lệ của sự hư hoại để được vào trong sự tự do vinh quang của các con của Ðức Chúa Trời. 22. Thật vậy, chúng ta biết tạo vật đang rên siết và đau đớn quằn quại cho đến bây giờ. 23. Không chỉ như thế, nhưng chính chúng ta, là những trái đầu mùa của Ðức Thánh Linh, chúng ta cũng có những quặn thắt của chính mình và trông chờ ngày được trọn quyền làm con, để nhận được sự cứu chuộc thân thể của mình. 24. Vì niềm hy vọng này mà chúng ta được cứu. Hy vọng đã được nhìn thấy thì không còn là hy vọng, bởi vì ai lại trông mong điều mình đang thấy bao giờ? 25. Nhưng nếu chúng ta hy vọng vào điều chúng ta chưa thấy, chúng ta sẽ kiên nhẫn chờ đợi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Cũng vậy, Thánh Linh cũng giúp trong sự yếu đuối của chúng ta, bởi vì chúng ta không biết phải cầu xin điều gì, nhưng chính Thánh Linh dùng những thở than, không thể diễn đạt bằng lời, mà cầu xin cho chúng ta. 27. Đấng dò xét lòng người biết ý tưởng của Thánh Linh, bởi vì Thánh Linh theo ý muốn Đức Chúa Trời mà cầu xin cho các thánh đồ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại đem ích lợi cho những người yêu mến Ðức Chúa Trời, tức là những người được kêu gọi theo mục đích của Ngài. 29. Bởi vì những người Ngài biết trước, Ngài cũng đã định trước để trở nên giống như hình ảnh của Con Ngài - là con đầu lòng ở giữa các em. 30. Những người Ngài đã định trước, Ngài cũng đã kêu gọi; những người Ngài đã kêu gọi, Ngài cũng đã xưng công chính; những người Ngài đã xưng công chính, Ngài cũng làm cho vinh hiển. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31. Như vậy chúng ta sẽ nói gì về những điều nầy? Nếu Ðức Chúa Trời ủng hộ chúng ta, ai có thể chống lại chúng ta?  32. Ngài đã không tiếc chính Con Ngài, nhưng vì tất cả chúng ta, Ngài đã ban Con ấy, lẽ nào Ngài sẽ không ban mọi sự cùng với Con ấy cho chúng ta sao? 33. Ai sẽ tố cáo những người được chọn của Ðức Chúa Trời trong khi Ðức Chúa Trời chính là Ðấng phân xử?  34. Ai sẽ kết án họ khi Ðức Chúa Jesus Christ, là Ðấng đã chết - đúng ra là Ðấng đã sống lại - là Ðấng đang ở bên phải Ðức Chúa Trời, và đang cầu xin cho chúng ta?  35. Ai có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hoặc gươm giáo chăng? 36. Như đã được chép rằng: “Vì cớ Ngài, chúng con đối diện với sự chết cả ngày; chúng con bị xem như chiên để làm thịt.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
37. Trái lại, trong mọi sự đó chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà đắc thắng. 38. Bởi vì tôi tin chắc rằng dù sự chết, sự sống, các thiên sứ, các bậc cầm quyền, việc hiện tại, việc tương lai, những quyền lực, 39. chiều cao, chiều sâu, hoặc một tạo vật nào cũng không thể phân rẽ chúng ta ra khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jesus, là Chúa của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sống Trong Ðức Thánh Linh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, hiện nay không còn sự kết án nào dành cho những người ở trong Ðức Chúa Jesus Christ, tức là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh; bởi vì luật của Thánh Linh – Ðấng ban sự sống trong Ðức Chúa Jesus Christ - đã giải thoát anh em khỏi luật của tội lỗi và sự chết. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì điều gì luật pháp bất lực - do xác thịt làm cho suy yếu - thì Ðức Chúa Trời đã làm rồi. Ngài đã sai chính Con Ngài đến trong thân xác giống như xác thịt tội lỗi, và để giải quyết tội lỗi, Ngài đã đoán phạt tội lỗi trong thân xác đó, nhằm hoàn tất đòi hỏi của luật pháp trên chúng ta, là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những người sống theo xác thịt không thể làm đẹp lòng Ðức Chúa Trời. Thật vậy! Những ai theo xác thịt, hướng tâm trí vào những việc thuộc về xác thịt; những ai theo Thánh Linh, thì hướng tâm trí vào những việc thuộc về Thánh Linh. Do đó, việc hướng tâm trí vào xác thịt đưa đến sự chết, nhưng hướng tâm trí vào Thánh Linh dẫn đến sự sống và bình an; bởi vì tâm trí hướng về xác thịt là thù nghịch với Đức Chúa Trời - do không chịu, và cũng không thể thuận phục luật pháp của Đức Chúa Trời.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên, nếu thật sự Thánh Linh của Ðức Chúa Trời đang ở trong anh em, anh em không sống theo xác thịt nhưng theo Thánh Linh. Nếu ai không có Thánh Linh của Ðấng Christ, người ấy không thuộc về Ngài. Tuy nhiên, nếu Ðấng Christ đang ở trong anh em, dù thân thể của anh em chết theo tội lỗi, tâm linh của anh em vẫn sống theo sự công chính. Nếu Thánh Linh của Ðấng đã làm cho Ðức Chúa Jesus sống lại từ cõi chết ở trong anh em, thì Ðấng đã làm cho Ðấng Christ sống lại từ cõi chết, cũng sẽ ban sự sống cho thân thể phải chết của anh em, qua Thánh Linh của Ngài, là Ðấng đang ngự trong anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Kế Tự Với Đấng Christ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh em ơi! Như vậy chúng ta không còn mắc nợ xác thịt để sống theo xác thịt nữa. Do đó nếu anh em cứ sống theo xác thịt, anh em chắc chắn sẽ chết; nhưng nếu anh em nhờ Thánh Linh làm chết những hành vi của xác thịt, anh em sẽ sống. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì những ai được Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dẫn dắt đều là con của Ðức Chúa Trời; do đó anh em không còn nhận tinh thần của một kẻ nô lệ để phải sợ hãi nữa, nhưng anh em đã nhận lấy tinh thần của những người được nhận làm con nuôi của Đấng mà chúng ta gọi là “A-ba, Cha!” Chính Thánh Linh chứng nhận cho tâm linh của chúng ta rằng chúng ta là con của Ðức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hơn nữa, con cái là những người thừa kế: những người thừa kế của Ðức Chúa Trời và những người đồng thừa kế với Ðấng Christ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tương Lai Vinh Quang'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu thật sự chúng ta chịu khổ với Ngài, chúng ta cũng sẽ cùng được vinh quang. Thật vậy, tôi biết rằng những đau khổ hiện tại không thể so sánh với vinh quang tương lai sẽ được bày tỏ cho chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tạo vật đang chờ đợi, và nôn nả trông chờ, sự hiển lộ của các con Đức Chúa Trời. Bởi vì tạo vật - không phải tự ý, nhưng bởi Ðấng bắt nó phục tùng - đã khuất phục sự hư không  với niềm hy vọng rằng chính tạo vật cũng sẽ được thoát khỏi ách nô lệ của sự hư hoại để được vào trong sự tự do vinh quang của các con của Ðức Chúa Trời.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, chúng ta biết tạo vật đang rên siết và đau đớn quằn quại cho đến bây giờ. Không chỉ như thế, nhưng chính chúng ta, những trái đầu mùa của Ðức Thánh Linh; chúng ta cũng có những quặn thắt của chính mình, và trông chờ ngày được trọn quyền làm con, để nhận được sự cứu chuộc thân thể của mình. Vì niềm hy vọng này mà chúng ta được cứu.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hy vọng đã được nhìn thấy thì không còn là hy vọng - vì ai lại trông mong điều mình đang thấy bao giờ? Nhưng nếu chúng ta hy vọng vào điều chúng ta chưa thấy, chúng ta sẽ kiên nhẫn chờ đợi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cũng vậy, Thánh Linh cũng giúp trong sự yếu đuối của chúng ta, bởi vì chúng ta không biết phải cầu xin điều gì, nhưng chính Thánh Linh dùng những thở than, không thể diễn đạt bằng lời, mà cầu xin cho chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đấng dò xét lòng người biết ý tưởng của Thánh Linh, bởi vì Thánh Linh theo ý muốn Đức Chúa Trời mà cầu thay cho các thánh đồ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tình Yêu Thương Của Ðức Chúa Trời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại đem ích lợi cho những người yêu mến Ðức Chúa Trời, tức là những người được kêu gọi theo mục đích của Ngài. Bởi vì những người Ngài biết trước, Ngài cũng đã định trước để trở nên giống như hình ảnh của Con Ngài - là con đầu lòng ở giữa các em. Những người Ngài đã định trước, Ngài cũng đã kêu gọi; những người Ngài đã kêu gọi, Ngài cũng đã xưng công chính; những người Ngài đã xưng công chính, Ngài cũng làm cho vinh hiển. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy chúng ta sẽ nói gì về những điều nầy? Nếu Ðức Chúa Trời ủng hộ chúng ta, ai có thể chống lại chúng ta?  Ngài đã không tiếc chính Con Ngài, nhưng vì tất cả chúng ta, Ngài ban người Con đó, lẽ nào Ngài sẽ không ban mọi sự cùng với người Con đó cho chúng ta sao? Ai sẽ tố cáo những người được chọn của Ðức Chúa Trời trong khi Ðức Chúa Trời chính là Ðấng phân xử?  Ai sẽ kết án họ trong khi Ðức Chúa Jesus Christ, Ðấng đã chết - đúng ra là Ðấng đã sống lại - là Ðấng đang ở bên phải Ðức Chúa Trời, và đang cầu xin cho chúng ta?  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ai có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hoặc gươm giáo chăng? Như điều đã chép: “Vì cớ Ngài, chúng con đối diện với sự chết cả ngày; chúng con bị xem như chiên để làm thịt.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trái lại, trong mọi điều đó chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà đắc thắng; bởi vì tôi tin chắc rằng dù sự chết, sự sống, các thiên sứ, các bậc cầm quyền, việc hiện tại, việc tương lai, những quyền lực, chiều cao, chiều sâu, hoặc một tạo vật nào cũng không thể phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ Jesus, là Chúa của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Như vậy, hiện nay không còn sự kết án cho những ai ở trong Ðức Chúa Jesus Christ - là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh. 2. Bởi vì luật của Thánh Linh – Ðấng ban sự sống trong Ðức Chúa Jesus Christ - đã giải thoát anh em khỏi luật của tội lỗi và sự chết. 3. Bởi vì điều gì luật pháp bất lực, do xác thịt làm cho suy yếu, Ðức Chúa Trời đã làm rồi. Ngài đã sai chính Con Ngài đến trong thân xác giống như xác thịt tội lỗi, và vì tội lỗi, đã đoán phạt tội lỗi trong thân xác đó, 4. để hoàn tất đòi hỏi của luật pháp trên chúng ta, là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Thật vậy, những ai theo xác thịt, tâm trí hướng vào những việc thuộc về xác thịt, những ai theo Thánh Linh, hướng vào những việc thuộc về Thánh Linh. 6. Như vậy, hướng tâm trí vào xác thịt đưa đến sự chết, nhưng hướng tâm trí vào Thánh Linh dẫn đến sự sống và bình an, 7. vì tâm trí hướng về xác thịt là thù nghịch với Đức Chúa Trời - do không chịu, và cũng không thể, thuận phục luật pháp của Đức Chúa Trời. 8. Những người sống theo xác thịt không thể làm đẹp lòng Ðức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Tuy nhiên, nếu thật sự Thánh Linh của Ðức Chúa Trời đang ở trong anh em, anh em không sống theo xác thịt nhưng theo Thánh Linh. Nếu ai không có Thánh Linh của Ðấng Christ, người ấy không thuộc về Ngài. 10. Tuy nhiên, nếu Ðấng Christ đang ở trong anh em, dù thân thể của anh em chết theo tội lỗi, tâm linh của anh em sống theo sự công chính. 11. Nếu Thánh Linh của Ðấng đã làm cho Ðức Chúa Jesus sống lại từ cõi chết ở trong anh em, thì Ðấng đã làm cho Ðấng Christ sống lại từ cõi chết, cũng sẽ ban sự sống cho thân thể phải chết của anh em, qua Thánh Linh của Ngài, là Ðấng đang ngự trong anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Anh em, như vậy chúng ta không còn mắc nợ xác thịt để sống theo xác thịt nữa. 13. Do đó nếu anh em cứ sống theo xác thịt, anh em chắc chắn sẽ chết; nhưng nếu anh em nhờ Thánh Linh làm chết những hành vi của thân xác, anh em sẽ sống. 14. Bởi vì những ai được Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dẫn dắt đều là con của Ðức Chúa Trời. 15. Do đó anh em không còn nhận tâm linh của kẻ nô lệ để phải sợ hãi nữa, nhưng anh em đã nhận lấy tâm linh của những người được nhận làm con nuôi của Đấng mà chúng ta gọi là “A-ba, Cha!” 16. Chính Thánh Linh làm chứng cho tâm linh của chúng ta rằng chúng ta là con của Ðức Chúa Trời. 17. Hơn thế nữa, con là những người thừa kế - những người thừa kế của Ðức Chúa Trời và những người đồng thừa kế với Ðấng Christ; nếu thật sự chúng ta chịu khổ với Ngài, chúng ta cũng sẽ cùng được vinh quang. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thật vậy, tôi cho rằng những đau khổ hiện tại không thể so sánh với vinh quang tương lai sẽ được bày tỏ cho chúng ta. 19. Tạo vật đang chờ đợi, và nôn nả trông chờ, sự hiển lộ của các con Đức Chúa Trời. 20. Bởi vì tạo vật - không phải tự ý, nhưng bởi Ðấng bắt nó phục tùng - đã khuất phục sự hư không với niềm hy vọng 21. rằng chính tạo vật cũng sẽ được thoát khỏi ách nô lệ của sự hư hoại để được vào trong sự tự do vinh quang của các con của Ðức Chúa Trời. 22. Thật vậy, chúng ta biết tạo vật đang rên siết và đau đớn quằn quại cho đến bây giờ. 23. Không chỉ như thế, nhưng chính chúng ta, những trái đầu mùa của Ðức Thánh Linh; chúng ta cũng có những quặn thắt của chính mình, và trông chờ ngày được trọn quyền làm con, để nhận được sự cứu chuộc thân thể của mình. 24. Vì niềm hy vọng này mà chúng ta được cứu - hy vọng đã được nhìn thấy thì không còn là hy vọng, vì ai lại trông mong điều mình đang thấy bao giờ? 25. Nhưng nếu chúng ta hy vọng vào điều chúng ta chưa thấy, chúng ta sẽ kiên nhẫn chờ đợi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Cũng vậy, Thánh Linh cũng giúp trong sự yếu đuối của chúng ta, bởi vì chúng ta không biết phải cầu xin điều gì, nhưng chính Thánh Linh dùng những thở than, không thể diễn đạt bằng lời, mà cầu xin cho chúng ta. 27. Đấng dò xét lòng người biết ý tưởng của Thánh Linh, bởi vì Thánh Linh theo ý muốn Đức Chúa Trời mà cầu xin cho các thánh đồ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại đem ích lợi cho những người yêu mến Ðức Chúa Trời, tức là những người được kêu gọi theo mục đích của Ngài. 29. Bởi vì những người Ngài biết trước, Ngài cũng đã định trước để trở nên giống như hình ảnh của Con Ngài - là con đầu lòng ở giữa các em. 30. Những người Ngài đã định trước, Ngài cũng đã kêu gọi; những người Ngài đã kêu gọi, Ngài cũng đã xưng công chính; những người Ngài đã xưng công chính, Ngài cũng làm cho vinh hiển. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31. Như vậy chúng ta sẽ nói gì về những điều nầy? Nếu Ðức Chúa Trời ủng hộ chúng ta, ai có thể chống lại chúng ta?  32. Ngài đã không tiếc chính Con Ngài, nhưng vì tất cả chúng ta đã ban Con ấy, lẽ nào Ngài sẽ không ban mọi sự cùng với Con ấy cho chúng ta sao? 33. Ai sẽ tố cáo những người được chọn của Ðức Chúa Trời? Ðức Chúa Trời chính là Ðấng phân xử.  34. Ai sẽ kết án họ? Ðức Chúa Jesus Christ, Ðấng đã chết - đúng ra là Ðấng đã sống lại - Ðấng đang ở bên phải Ðức Chúa Trời, và cầu xin cho chúng ta.  35. Ai có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hoặc gươm giáo chăng? 36. Như đã được chép rằng: “Vì cớ Ngài, chúng con đối diện với sự chết cả ngày; chúng con bị xem như chiên để làm thịt.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
37. Trái lại, trong mọi sự đó chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà đắc thắng. 38. Bởi vì tôi tin chắc rằng dù sự chết, sự sống, các thiên sứ, các bậc cầm quyền, việc hiện tại, việc tương lai, các quyền lực, 39. chiều cao, chiều sâu, hoặc một tạo vật nào cũng không thể phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ Jesus, là Chúa của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ; 2.  vì luật pháp của Thánh Linh sự sống đã nhờ Đức Chúa Jêsus Christ buông tha tôi khỏi luật pháp của sự tội và sự chết. 3.  Vì điều chi luật pháp không làm nổi, tại xác thịt làm cho luật pháp ra yếu đuối, thì Đức Chúa Trời đã làm rồi: Ngài đã vì cớ tội lỗi sai chính Con mình lấy xác thịt giống như xác thịt tội lỗi chúng ta, và đã đoán phạt tội lỗi trong xác thịt, 4.  hầu cho sự công bình mà luật pháp buộc phải làm được trọn trong chúng ta, là kẻ chẳng noi theo xác thịt, nhưng noi theo Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Thật thế, kẻ sống theo xác thịt thì chăm những sự thuộc về xác thịt; còn kẻ sống theo Thánh Linh thì chăm những sự thuộc về Thánh Linh. 6.  Vả, chăm về xác thịt sanh ra sự chết, còn chăm về Thánh Linh sanh ra sự sống và bình an; 7.  vì sự chăm về xác thịt nghịch với Đức Chúa Trời, bởi nó không phục dưới luật pháp Đức Chúa Trời, lại cũng không thể phục được. 8.  Vả, những kẻ sống theo xác thịt, thì không thể đẹp lòng Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Về phần anh em, nếu thật quả Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong mình, thì không sống theo xác thịt đâu, nhưng theo Thánh Linh; song nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài. 10.  Vậy nếu Đấng Christ ở trong anh em, thì thân thể chết nhân cớ tội lỗi, mà thần linh sống nhân cớ sự công bình. 11.  Lại nếu Thánh Linh của Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết ở trong anh em, thì Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài ở trong anh em mà khiến thân thể hay chết của anh em lại sống. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Vậy, hỡi anh em, chúng ta chẳng mắc nợ xác thịt đâu, đặng sống theo xác thịt. 13.  Thật thế, nếu anh em sống theo xác thịt thì phải chết; song nếu nhờ Thánh Linh, làm cho chết các việc của thân thể, thì anh em sẽ sống. 14.  Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời. 15.  Thật anh em đã chẳng nhận lấy thần trí của tôi mọi đặng còn ở trong sự sợ hãi; nhưng đã nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi, và nhờ đó chúng ta kêu rằng: A-ba! Cha! 16.  Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. 17.  Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: kẻ kế tự Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ, miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Vả, tôi tưởng rằng những sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta. 19.  Thật thế, muôn vật ước ao, nóng nảy mà trông đợi con cái Đức Chúa Trời được tỏ ra. 20.  Vì muôn vật đã bị bắt phục sự hư không, chẳng phải tự ý mình, bèn là bởi cớ Đấng bắt phục. 21.  Muôn vật mong rằng mình cũng sẽ được giải cứu khỏi làm tôi sự hư nát, đặng dự phần trong sự tự do vinh hiển của con cái Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  Vì chúng ta biết rằng muôn vật đều than thở và chịu khó nhọc cho đến ngày nay; 23.  không những muôn vật thôi, lại chúng ta, là kẻ có trái đầu mùa của Đức Thánh Linh, cũng than thở trong lòng đang khi trông đợi sự làm con nuôi, tức là sự cứu chuộc thân thể chúng ta vậy. 24.  Vì chúng ta được cứu trong sự trông cậy, nhưng khi người ta đã thấy điều mình trông rồi, ấy không phải là trông nữa: mình thấy rồi, sao còn trông làm chi? 25.  Song nếu chúng ta trông điều mình không thấy, ấy là chúng ta chờ đợi điều đó cách nhịn nhục. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Cũng một lẽ ấy, Đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta. 27.  Đấng dò xét lòng người hiểu biết ý tưởng của Thánh Linh là thể nào, vì ấy là theo ý Đức Chúa Trời mà Ngài cầu thế cho các thánh đồ vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28.  Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. 29.  Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em; 30.  còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31.  Đã vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao? Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta? 32.  Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao? 33.  Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy. 34.  Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa. Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta. 35.  Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hay là gươm giáo chăng? 36.  Như có chép rằng: Vì cớ Ngài, chúng tôi bị giết cả ngày; Họ coi chúng tôi như chiên định đem đến hàng làm thịt. 37.  Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần. 38.  Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, 39.  bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sống trong Ðức Thánh Linh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Cho nên hiện nay không còn có sự kết tội cho những ai ở trong Ðức Chúa Jesus Christ.  2 Vì luật của Ðức Thánh Linh, Ðấng ban sự sống trong Ðức Chúa Jesus Christ, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội lỗi và sự chết.  3 Vì điều chi Luật Pháp không thực hiện được, do xác thịt làm cho suy yếu, thì Ðức Chúa Trời đã làm rồi.  Ngài đã sai chính Con Ngài lấy xác thịt giống như xác thịt tội lỗi của chúng ta để giải quyết vấn đề tội lỗi; Ngài đã đoán phạt tội lỗi trên thân thể của Con Ngài.  4 Ngài làm như vậy để sự công chính mà Luật Pháp đòi hỏi có thể được thực hiện đầy đủ trong chúng ta, những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Ðức Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Vì những ai sống theo xác thịt thì để tâm trí họ vào những gì thuộc về xác thịt, nhưng những ai sống theo Ðức Thánh Linh thì để tâm trí họ vào những gì thuộc về Ðức Thánh Linh.  6 Ðể tâm trí vào những gì thuộc về xác thịt dẫn đến sự chết, nhưng để tâm trí vào những gì thuộc về Ðức Thánh Linh dẫn đến sự sống và bình an.  7 Vì tâm trí để vào những gì thuộc về xác thịt là chống nghịch với Ðức Chúa Trời, vì nó không chịu thuận phục dưới luật của Ðức Chúa Trời, đúng ra là nó không thể thuận phục được.  8 Thật vậy, những người sống theo xác thịt không thể nào làm vui lòng Ðức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Tuy nhiên anh chị em không sống theo xác thịt nhưng theo Ðức Thánh Linh, nếu thật sự Ðức Thánh Linh của Ðức Chúa Trời đang ở trong anh chị em.  Ai không có Ðức Thánh Linh của Ðấng Christ, người ấy không thuộc về Ngài.  10 Nhưng nếu Ðấng Christ ở trong anh chị em thì dù thân thể anh chị em sẽ chết vì tội lỗi, nhưng tâm linh vẫn sống vì được xưng công chính.  11 Nếu Ðức Thánh Linh của Ðấng đã làm cho Ðức Chúa Jesus sống lại từ cõi chết ở trong anh chị em, thì Ðấng đã làm cho Ðấng Christ sống lại từ cõi chết cũng sẽ ban sự sống cho thân thể sẽ chết của anh chị em qua Ðức Thánh Linh của Ngài, Ðấng đang ngự trị trong anh chị em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Thế thì thưa anh chị em, chúng ta không còn mắc nợ xác thịt để sống theo xác thịt nữa.  13 Vì nếu anh chị em cứ sống theo xác thịt, anh chị em chắc chắn sẽ chết, nhưng nếu anh chị em nhờ Ðức Thánh Linh làm chết những hành vi của bản ngã xác thịt, anh chị em sẽ sống.  14 Vì tất cả những ai được Ðức Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dẫn dắt đều là con của Ðức Chúa Trời.  15 Bởi anh chị em đã không nhận lấy tâm linh của kẻ làm nô lệ để phải sợ hãi nữa, nhưng anh chị em đã nhận lấy tâm linh của người làm con nuôi, để nhờ đó chúng ta có thể thưa một cách dạn dĩ, “A-ba, Cha!”  16 Chính Ðức Thánh Linh làm chứng với tâm linh chúng ta rằng chúng ta là con cái Ðức Chúa Trời.  17 Nếu chúng ta là con cái, chúng ta cũng là những người thừa kế, những người thừa kế của Ðức Chúa Trời và những người đồng thừa kế với Ðấng Christ, nếu chúng ta thật sự chịu khổ với Ngài để chúng ta cũng được vinh hiển với Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Vinh Hiển Tương Lai'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Thật vậy tôi cho rằng những đau khổ hiện tại không đáng sánh với vinh hiển tương lai là vinh hiển sẽ được bày tỏ cho chúng ta.  19 Vì muôn loài thọ tạo đang nôn nóng ngóng trông ngày Ðức Chúa Trời cho các con cái Ngài hiển lộ.  20 Vì muôn vật đã bị khuất phục dưới sự hư ảo, không phải tự ý, nhưng bởi Ðấng bắt chúng phải chịu như vậy, với hy vọng 21 rằng chính muôn vật cũng sẽ được giải thoát khỏi ách nô lệ của sự hư nát để vào hưởng tự do trong vinh hiển với các con cái Ðức Chúa Trời.  22 Vì chúng ta biết rằng muôn vật đang rên rỉ và quằn quại đau đớn như người sắp sinh cho đến bây giờ.  23 Không những muôn vật mà thôi, nhưng cũng có chúng ta nữa, những người có những trái đầu mùa của Ðức Thánh Linh; chính chúng ta rên rỉ trong lòng, nôn nóng trông chờ ngày được hưởng trọn quyền làm con nuôi, tức sự cứu chuộc thân thể mình.  24 Vì trong niềm hy vọng đó chúng ta được cứu; nhưng khi hy vọng đã được thấy thì không còn là hy vọng, vì ai lại trông mong điều mình đang thấy bao giờ?  25 Nhưng nếu chúng ta đặt hy vọng vào điều chúng ta chưa thấy, thì đó mới là điều chúng ta bền chí trông chờ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ðức Thánh Linh Cầu Thay'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Cũng vậy Ðức Thánh Linh giúp chúng ta trong khi chúng ta yếu đuối, vì chúng ta không biết phải cầu nguyện như thế nào cho đúng, nhưng chính Ðức Thánh Linh cầu thay cho chúng ta bằng những tiếng rên rỉ không thể diễn tả bằng lời.  27 Ðấng thấu rõ mọi lòng biết rõ tâm trí của Ðức Thánh Linh, vì Ðức Thánh Linh theo ý muốn Ðức Chúa Trời cầu thay cho các thánh đồ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phước của Người Yêu Kính Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho những người yêu kính Ðức Chúa Trời, tức những người được gọi theo mục đích của Ngài.  29 Vì những người Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định trước để trở nên giống như hình ảnh của Con Ngài, hầu Con ấy có thể làm Con Trưởng giữa một đàn em đông đúc.  30 Những người Ngài đã định trước thì Ngài cũng đã kêu gọi; những người Ngài đã kêu gọi thì Ngài cũng đã xưng công chính; và những người Ngài đã xưng công chính thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tình Yêu của Ðức Chúa Trời Ðối Với Chúng Ta Trong Ðấng Christ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 Như vậy chúng ta sẽ nói gì về những điều ấy?  Nếu Ðức Chúa Trời binh vực chúng ta, ai có thể chống lại chúng ta?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32 Ngài đã không tiếc chính Con Ngài, nhưng vì tất cả chúng ta, mà ban Con ấy, lẽ nào Ngài sẽ không ban cho chúng ta mọi sự cùng với Con ấy sao?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Ai sẽ kiện cáo những người Ðức Chúa Trời chọn?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðã có Ðức Chúa Trời, Ðấng xác nhận họ là công chính.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34 Ai sẽ kết án họ chăng?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðã có Ðức Chúa Jesus Christ, Ðấng đã chết, đúng hơn là Ðấng đã sống lại, Ðấng đang ở bên phải Ðức Chúa Trời, và Ngài đang cầu thay cho chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 Ai có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðấng Christ?  Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hoặc gươm giáo chăng?  36 Như có chép rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Vì cớ Ngài, chúng con bị giết suốt ngày;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng con bị xem như chiên để đem giết thịt.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
37 Tuy nhiên trong mọi sự ấy, chúng ta đều chiến thắng tất cả nhờ Ðấng yêu thương chúng ta.  38 Vì tôi tin chắc rằng không điều gì, dù sự chết hay sự sống, các thiên sứ hay các quỷ sứ, việc hiện tại hay việc tương lai, hay bất cứ quyền lực nào, 39 điều gì đến từ trời cao hay ra từ vực thẳm, hay bất cứ vật thọ tạo nào, có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðức Chúa Trời trong Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''NGƯỜI DO-THÁI TRONG CHƯƠNG TRÌNH CỨU RỖI CỦA ÐỨC CHÚA TRỜI'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(9:1 - 11:36)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B45\V01B45C008.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Thư Rô-ma | Giới Thiệu Thư Rô-ma]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Rô-ma]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[KTB45C007 | Chương 7]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[KTB45C009 | Chương 9]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Lu-ca:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35776</id>
		<title>Lu-ca: Chương 1</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Lu-ca:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35776"/>
		<updated>2026-06-26T06:45:00Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Do có nhiều người đã cố gắng biên soạn một bản ký thuật về những việc đã xảy ra ở giữa chúng ta, 2. đúng theo như những điều đã được truyền đạt cho chúng ta từ những nhân chứng đầu tiên và những người phục vụ Lời Chúa; 3. vì vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu mọi việc từ đầu – Thưa ngài Thê-ô-phi-lơ kính mến - tôi thiết tưởng cũng nên theo thứ tự mà viết cho ngài, 4. để ngài có thể biết những điều mình đã được hướng dẫn là chắc chắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Vào thời Hê-rốt làm vua xứ Giu-đê, có một tư tế thuộc phân ban A-bi-gia, tên là Xa-cha-ri; vợ là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi của A-rôn. 6. Cả hai đều là người công chính trước mặt Đức Chúa Trời, đi theo tất cả những điều răn và luật lệ của Chúa không hề khiếm khuyết. 7. Tuy nhiên họ không có con, bởi vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn và cả hai đều đã cao tuổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Và rồi, để làm trọn trách nhiệm phục vụ tế lễ theo thứ tự của ban mình trước mặt Đức Chúa Trời. 9. theo thông lệ của các tư tế, ông đã bắt thăm, và trúng phần dâng hương trong đền thờ của Chúa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Trong giờ dâng hương, tất cả đoàn dân cầu nguyện ở bên ngoài. 11. Một thiên sứ của Chúa hiện đến với ông, đứng ngay bên phải của bàn thờ dâng hương. 12. Nhìn thấy thiên sứ, Xa-cha-ri bối rối, sự kinh hãi bao phủ ông. 13. Sau đó, thiên sứ nói với ông:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Xa-cha-ri, đừng sợ! Bởi vì lời cầu nguyện của ngươi đã được lắng nghe. Ê-li-sa-bét, vợ của ngươi, sẽ sinh cho ngươi một con trai; và ngươi hãy đặt tên cho nó là Giăng. 14. Nó sẽ là niềm vui và sự hân hoan cho ngươi, và nhiều người sẽ vui mừng khi đứa trẻ được sinh ra. 15. Bởi vì nó sẽ được tôn trọng ở trước mặt Chúa; nó sẽ không uống rượu nho hay rượu mạnh, và nó sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ. 16. Nó sẽ đem nhiều người Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ; 17. và nó sẽ đi trước Chúa với tinh thần và quyền năng của Ê-li, hướng lòng của những người cha trở về với các con, và kẻ bội nghịch sẽ trở về với sự khôn ngoan của người công chính, để chuẩn bị một dân tộc sẵn sàng cho Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Nhưng Xa-cha-ri nói với thiên sứ: “Nhờ điều gì mà tôi biết có việc nầy? Bởi vì tôi đã già, và vợ tôi đã cao tuổi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Thiên sứ trả lời và nói cùng ông: “Ta là Gáp-ri-ên, là đấng đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Ta được sai đến để nói với ngươi và mang những tin vui nầy cho ngươi. 20. Nầy, ngươi sẽ bị câm, không thể nói được cho đến ngày những điều đó xảy ra, bởi vì ngươi đã không tin những lời của ta, là những lời sẽ được ứng nghiệm theo kỳ định của chúng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Dân chúng đang chờ đợi Xa-cha-ri; và họ ngạc nhiên bởi vì ông ở lâu trong đền thờ. 22. Sau đó, ông đã đi ra nhưng không nói được với họ, và họ nhận biết rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thờ. Ông đã ra dấu cho họ, bởi vì vẫn còn bị câm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Và rồi, khi những ngày phục vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Sau những ngày đó, vợ của ông là Ê-li-sa-bét mang thai, và bà đã ẩn mình trong năm tháng, và nói: 25. “Thật vậy, đây là việc Chúa đã làm cho tôi. Trong những ngày nầy, Ngài đã đoái đến tôi, và cất đi sự hổ nhục của tôi ở giữa mọi người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Và rồi đến tháng thứ sáu, thiên sứ Gáp-ri-ên được Đức Chúa Trời sai đến một thị trấn tại Ga-li-lê, gọi là Na-xa-rét, 27. đến cùng một trinh nữ đã đính hôn với một người nam, tên là Giô-sép, thuộc dòng Đa-vít; và tên của trinh nữ là Ma-ri.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Đến gặp cô, thiên sứ đã nói: “Chào người được ơn! Chúa ở cùng cô!” 29. Ma-ri  bối rối về lời nầy, và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30. Thiên sứ nói cùng cô: “Ma-ri! Đừng sợ, bởi vì cô đã được ơn của Đức Chúa Trời. 31. Nầy, cô sẽ thụ thai, và sẽ sinh một con trai, rồi cô sẽ đặt tên Ngài là Jesus. 32. Ngài sẽ rất cao trọng, và sẽ được gọi là Con của Đấng Chí Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi của Đa-vít, của tổ phụ Ngài. 33. Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời; vương quốc của Ngài sẽ trường tồn mãi mãi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34. Sau đó Ma-ri nói với thiên sứ: “Làm sao việc này có thể xảy ra, bởi vì tôi chưa hề biết một người nam nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35. Thiên sứ trả lời và nói với nàng: “Đức Thánh Linh sẽ ngự trên cô, và quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ che phủ cô; cho nên Đấng Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con của Đức Chúa Trời. 36. Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con của cô, cũng đã mang thai một con trai trong lúc tuổi già. Bà được gọi là người hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi. 37. Bởi vì không có việc gì Đức Chúa Trời không làm được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38. Sau đó Ma-ri nói: “Tôi đây là tớ gái của Chúa. Nguyện xin điều đó xảy ra cho tôi theo như lời của ngài.” Và rồi thiên sứ rời khỏi nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39. Sau những ngày đó, Ma-ri chỗi dậy, vội vàng đi về miền núi, đến một thị trấn của Giu-đa, 40. vào trong nhà của Xa-cha-ri, và chào Ê-li-sa-bét.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
41. Khi Ê-li-sa-bét nghe tiếng Ma-ri chào, thai nhi trong bụng của bà liền nhảy lên. Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Đức Thánh Linh; 42. bà nói lớn tiếng rằng: “Cô là người được phước ở giữa những phụ nữ; bông trái trong dạ của cô cũng được phước! 43. Nhờ đâu mà tôi được vinh hạnh này, đó là mẹ của Chúa của tôi đã đến thăm tôi? 44. Bởi vì kìa, khi tai của tôi vừa nghe tiếng cô chào, thì thai nhi trong bụng của tôi liền nhảy mừng. 45. Phước cho người đã tin rằng những điều từ Chúa đã phán cho mình sẽ được ứng nghiệm”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46. Ma-ri nói: “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa, 47. tâm linh tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
48. Vì Ngài đã đoái đến thân phận hèn hạ của tớ gái của Ngài. Vì từ nay về sau, mọi thế hệ sẽ gọi tôi là người có phước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
49. Bởi vì Đấng Toàn Năng đã làm những việc diệu kỳ cho tôi. Danh Ngài là thánh! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50. Từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, sự thương xót của Ngài dành cho những người kính sợ Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
51. Ngài đã thể hiện quyền năng với tay của Ngài; và Ngài đã làm tan tác những kẻ có tư tưởng kiêu ngạo trong lòng của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
52. Ngài đã truất phế những kẻ thống trị khỏi ngôi, và cất nhắc những người khiêm nhường lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
53. Ngài đã làm cho người đói được đầy thức ngon, và đuổi kẻ giàu đi không có gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
54. Ngài đã giúp Y-sơ-ra-ên, là đầy tớ của Ngài, và nhớ lại sự thương xót của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
55. Như Ngài đã phán với tổ phụ chúng ta, với Áp-ra-ham và dòng dõi của người đến muôn đời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
56. Ma-ri ở lại với bà khoảng ba tháng, rồi trở về nhà của nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
57. Bây giờ Ê-li-sa-bét đã đủ thời hạn để sinh, bà đã sinh một con trai. 58. Láng giềng và bà con, nghe tin Chúa đã tỏ lòng thương xót lớn lao với bà, đã chung vui với bà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
59. Đến ngày thứ tám, họ đến để cắt bì cho đứa trẻ và đặt tên nó là Xa-cha-ri, theo tên cha của nó. 60. Nhưng mẹ của nó nói rằng: “Không! Nó phải được gọi là Giăng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
61. Họ nói với bà: “Trong thân tộc của bà, không ai có tên này.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
62. Sau đó, họ ra dấu cho người cha của nó, hỏi ông muốn đặt tên nó là gì. 63. Ông bảo lấy một tấm bảng nhỏ, rồi viết rằng: “Tên của nó là Giăng.” Tất cả đều kinh ngạc. 64. Ngay lập tức, miệng của ông mở ra, rồi đến lưỡi của ông, và ông nói lời chúc tụng Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
65. Sự kinh hãi đổ xuống trên tất cả những người ở chung quanh đó, và mọi người đã bàn tán về những điều nầy khắp vùng đồi núi của Giu-đê. 66. Mọi người đã nghe những điều đó, đều ghi nhớ trong lòng của họ, và nói: “Đứa trẻ nầy về sau sẽ thế nào? Bởi vì tay của Chúa đã ở cùng nó.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
67. Xa-cha-ri, cha của đứa trẻ, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nói tiên tri rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
68. “Tôn ngợi Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, bởi vì Ngài đã thăm viếng và cứu chuộc dân của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
69. Ngài đã dấy lên một sừng cứu rỗi cho chúng ta, trong nhà Đa-vít, là đầy tớ của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
70. Như Ngài đã phán qua miệng các tiên tri thánh của Ngài từ thuở xưa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
71. Ngài giải cứu chúng ta khỏi những kẻ thù của chúng ta, và khỏi tay mọi người ghen ghét chúng ta;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
72. Ngài tỏ lòng thương xót với tổ tiên của chúng ta, và nhớ lại giao ước thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
73. Là lời hứa mà Ngài đã thề với Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, để ban cho chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
74. Chúng ta được giải cứu khỏi tay những kẻ thù, để phục vụ Ngài không chút sợ hãi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
75. Trong sự thánh khiết và sự công chính tại trước mặt Ngài trọn đời của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
76. Và bây giờ, con - một đứa trẻ - sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Chí Cao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì con sẽ đi trước Chúa, để chuẩn bị những con đường cho Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
77. Để ban sự hiểu biết về sự cứu rỗi cho dân của Ngài, qua sự tha thứ tội lỗi của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
78. Nhờ sự nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời của chúng ta, mà ánh dương từ trên cao sẽ thăm viếng chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
79. Để soi sáng cho những người đang ngồi trong nơi tối tăm và trong bóng của sự chết, để hướng dẫn những bước chân của chúng ta vào đường lối an bình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
80. Đứa trẻ lớn lên, tâm linh mạnh mẽ, và sống trong những nơi hoang vắng cho đến ngày xuất hiện với dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời mở đầu'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do có nhiều người đã cố gắng biên soạn một bản ký thuật về những việc đã xảy ra ở giữa chúng ta, đúng theo như những điều đã được truyền đạt cho chúng ta từ những nhân chứng đầu tiên và những người phục vụ Lời Chúa; vì vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu mọi việc từ đầu – Thưa ngài Thê-ô-phi-lơ kính mến - tôi thiết tưởng cũng nên theo thứ tự mà viết cho ngài, để ngài có thể biết những điều mình đã được hướng dẫn là chắc chắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời tiên tri về sự ra đời của Giăng Báp-tít'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào thời Hê-rốt làm vua xứ Giu-đê, có một tư tế thuộc phân ban A-bi-gia, tên là Xa-cha-ri; vợ là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi của A-rôn. Cả hai đều là người công chính trước mặt Đức Chúa Trời, sống theo mọi điều răn và lễ nghi của Chúa không một chút khiếm khuyết. Tuy nhiên họ không có con, bởi vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn và cả hai đều đã cao tuổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi, để làm trọn trách nhiệm phục vụ tế lễ theo thứ tự của ban mình trước mặt Đức Chúa Trời. theo thông lệ của các tư tế, ông đã bắt thăm, và trúng phần dâng hương trong đền thờ của Chúa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong giờ dâng hương, tất cả đoàn dân cầu nguyện ở bên ngoài. Một thiên sứ của Chúa hiện đến với ông, đứng ngay bên phải của bàn thờ dâng hương. Nhìn thấy thiên sứ, Xa-cha-ri bối rối, sự kinh hãi bao phủ ông. Sau đó, thiên sứ nói với ông:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Xa-cha-ri, đừng sợ! Bởi vì lời cầu nguyện của ngươi đã được lắng nghe. Ê-li-sa-bét, vợ của ngươi, sẽ sinh cho ngươi một con trai; và ngươi hãy đặt tên cho nó là Giăng. Nó sẽ là niềm vui và sự hân hoan cho ngươi, và nhiều người sẽ vui mừng khi đứa trẻ được sinh ra. Bởi vì nó sẽ được tôn trọng ở trước mặt Chúa; nó sẽ không uống rượu nho hay rượu mạnh, và nó sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ. Nó sẽ đem nhiều người Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ; và nó sẽ đi trước Chúa với tinh thần và quyền năng của Ê-li, hướng lòng của những người cha trở về với các con, và kẻ bội nghịch sẽ trở về với sự khôn ngoan của người công chính, để chuẩn bị một dân tộc sẵn sàng cho Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng Xa-cha-ri nói với thiên sứ: “Nhờ điều gì mà tôi biết có việc nầy? Bởi vì tôi đã già, và vợ tôi đã cao tuổi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thiên sứ trả lời và nói cùng ông: “Ta là Gáp-ri-ên, là đấng đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Ta được sai đến để nói với ngươi và mang những tin vui nầy cho ngươi. Nầy, ngươi sẽ bị câm, không thể nói được cho đến ngày những điều đó xảy ra, bởi vì ngươi đã không tin những lời của ta, là những lời sẽ được ứng nghiệm theo kỳ định của chúng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dân chúng đang chờ đợi Xa-cha-ri; và họ ngạc nhiên bởi vì ông ở lâu trong đền thờ. Sau đó, ông đã đi ra nhưng không nói được với họ, và họ nhận biết rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thờ. Ông đã ra dấu cho họ, bởi vì vẫn còn bị câm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi, khi những ngày phục vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau những ngày đó, vợ của ông là Ê-li-sa-bét mang thai, và bà đã ẩn mình trong năm tháng, và nói: “Thật vậy, đây là việc Chúa đã làm cho tôi. Trong những ngày nầy, Ngài đã đoái đến tôi, và cất đi sự hổ nhục của tôi ở giữa mọi người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thiên sứ báo tin cho Ma-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi đến tháng thứ sáu, thiên sứ Gáp-ri-ên được Đức Chúa Trời sai đến một thị trấn tại Ga-li-lê, gọi là Na-xa-rét, đến cùng một trinh nữ đã đính hôn với một người nam, tên là Giô-sép, thuộc dòng Đa-vít; và tên của trinh nữ là Ma-ri.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến gặp cô, thiên sứ đã nói: “Chào người được ơn! Chúa ở cùng cô!” Ma-ri  bối rối về lời nầy, và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thiên sứ nói cùng cô: “Ma-ri! Đừng sợ, bởi vì cô đã được ơn của Đức Chúa Trời. Nầy, cô sẽ thụ thai, và sẽ sinh một con trai, rồi cô sẽ đặt tên Ngài là Jesus. Ngài sẽ rất cao trọng, và sẽ được gọi là Con của Đấng Chí Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi của Đa-vít, của tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời; vương quốc của Ngài sẽ trường tồn mãi mãi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó Ma-ri nói với thiên sứ: “Làm sao việc này có thể xảy ra, bởi vì tôi chưa hề biết một người nam nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thiên sứ trả lời và nói với nàng: “Đức Thánh Linh sẽ ngự trên cô, và quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ che phủ cô; cho nên Đấng Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con của Đức Chúa Trời. Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con của cô, cũng đã mang thai một con trai trong lúc tuổi già. Bà được gọi là người hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi. Bởi vì không có việc gì Đức Chúa Trời không làm được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó Ma-ri nói: “Tôi đây là tớ gái của Chúa. Nguyện xin điều đó xảy ra cho tôi theo như lời của ngài.” Và rồi thiên sứ rời khỏi nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ma-ri viếng thăm Ê-li-sa-bét'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau những ngày đó, Ma-ri chỗi dậy, vội vàng đi về miền núi, đến một thị trấn của Giu-đa, vào trong nhà của Xa-cha-ri, và chào Ê-li-sa-bét.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi Ê-li-sa-bét nghe tiếng Ma-ri chào, thai nhi trong bụng của bà liền nhảy lên. Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Đức Thánh Linh; bà nói lớn tiếng rằng: “Cô là người được phước ở giữa những phụ nữ; bông trái trong dạ của cô cũng được phước! Nhờ đâu mà tôi được vinh hạnh này, đó là mẹ của Chúa của tôi đã đến thăm tôi? Bởi vì kìa, khi tai của tôi vừa nghe tiếng cô chào, thì thai nhi trong bụng của tôi liền nhảy mừng. Phước cho người đã tin rằng những điều từ Chúa đã phán cho mình sẽ được ứng nghiệm”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bài ca của Ma-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ma-ri nói: “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa, tâm linh tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ngài đã đoái đến thân phận hèn hạ của tớ gái của Ngài. Vì từ nay về sau, mọi thế hệ sẽ gọi tôi là người có phước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì Đấng Toàn Năng đã làm những việc diệu kỳ cho tôi. Danh Ngài là thánh! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, sự thương xót của Ngài dành cho những người kính sợ Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã thể hiện quyền năng với tay của Ngài; và Ngài đã làm tan tác những kẻ có tư tưởng kiêu ngạo trong lòng của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã truất phế những kẻ thống trị khỏi ngôi, và cất nhắc những người khiêm nhường lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã làm cho người đói được đầy thức ngon, và đuổi kẻ giàu đi không có gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã giúp Y-sơ-ra-ên, là đầy tớ của Ngài, và nhớ lại sự thương xót của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như Ngài đã phán với tổ phụ chúng ta, với Áp-ra-ham và dòng dõi của người đến muôn đời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ma-ri ở lại với bà khoảng ba tháng, rồi trở về nhà của nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giăng Báp-tít ra đời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bây giờ Ê-li-sa-bét đã đủ thời hạn để sinh, bà đã sinh một con trai. Láng giềng và bà con, nghe tin Chúa đã tỏ lòng thương xót lớn lao với bà, đã chung vui với bà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến ngày thứ tám, họ đến để cắt bì cho đứa trẻ và đặt tên nó là Xa-cha-ri, theo tên cha của nó. Nhưng mẹ của nó nói rằng: “Không! Nó phải được gọi là Giăng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Họ nói với bà: “Trong thân tộc của bà, không ai có tên này.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó, họ ra dấu cho người cha của nó, hỏi ông muốn đặt tên nó là gì. Ông bảo lấy một tấm bảng nhỏ, rồi viết rằng: “Tên của nó là Giăng.” Tất cả đều kinh ngạc. Ngay lập tức, miệng của ông mở ra, rồi đến lưỡi của ông, và ông nói lời chúc tụng Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sự kinh hãi đổ xuống trên tất cả những người ở chung quanh đó, và mọi người đã bàn tán về những điều nầy khắp vùng đồi núi của Giu-đê. Mọi người đã nghe những điều đó, đều ghi nhớ trong lòng của họ, và nói: “Đứa trẻ nầy về sau sẽ thế nào? Bởi vì tay của Chúa đã ở cùng nó.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bài ca của Xa-cha-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xa-cha-ri, cha của đứa trẻ, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nói tiên tri rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Tôn ngợi Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, bởi vì Ngài đã thăm viếng và cứu chuộc dân của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã dấy lên một sừng cứu rỗi cho chúng ta, trong nhà Đa-vít, là đầy tớ của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như Ngài đã phán qua miệng các tiên tri thánh của Ngài từ thuở xưa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài giải cứu chúng ta khỏi những kẻ thù của chúng ta, và khỏi tay mọi người ghen ghét chúng ta;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài tỏ lòng thương xót với tổ tiên của chúng ta, và nhớ lại giao ước thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Là lời hứa mà Ngài đã thề với Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, để ban cho chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng ta được giải cứu khỏi tay những kẻ thù, để phục vụ Ngài không chút sợ hãi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong sự thánh khiết và sự công chính tại trước mặt Ngài trọn đời của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và bây giờ, con - một đứa trẻ - sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Chí Cao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì con sẽ đi trước Chúa, để chuẩn bị những con đường cho Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Để ban sự hiểu biết về sự cứu rỗi cho dân của Ngài, qua sự tha thứ tội lỗi của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhờ sự nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời của chúng ta, mà ánh dương từ trên cao sẽ thăm viếng chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Để soi sáng cho những người đang ngồi trong nơi tối tăm và trong bóng của sự chết, để hướng dẫn những bước chân của chúng ta vào đường lối an bình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đứa trẻ lớn lên, tâm linh mạnh mẽ, và sống trong những nơi hoang vắng cho đến ngày xuất hiện với dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời mở đầu'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Do có nhiều người đã cố gắng biên soạn một bản ký thuật về những việc đã xảy ra ở giữa chúng ta, 2. đúng theo như những điều đã được truyền đạt cho chúng ta từ những nhân chứng đầu tiên và những người phục vụ Ngôi Lời; 3. vì vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu mọi việc từ đầu – Thưa ngài Thê-ô-phi-lơ kính mến - tôi thiết tưởng cũng nên theo thứ tự mà viết cho ngài, 4. để ngài có thể biết những điều mình đã được hướng dẫn là chắc chắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời tiên tri về sự ra đời của Giăng Báp-tít'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Vào thời Hê-rốt làm vua xứ Giu-đê, có một tư tế thuộc phân ban A-bi-gia, tên là Xa-cha-ri; vợ là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi của A-rôn. 6. Cả hai đều là người công chính trước mặt Đức Chúa Trời, bước đi trong mọi điều răn và lễ nghi của Chúa không hề khiếm khuyết. 7. Tuy nhiên họ không có con, bởi vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn và cả hai đều đã cao tuổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Và rồi, để làm trọn trách nhiệm phục vụ tế lễ theo thứ tự của ban mình trước mặt Đức Chúa Trời. 9. theo thông lệ của các tư tế, ông đã bắt thăm, và trúng phần dâng hương trong đền thờ của Chúa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Trong giờ dâng hương, tất cả đoàn dân cầu nguyện ở bên ngoài. 11. Một thiên sứ của Chúa hiện đến với ông, đứng ngay bên phải của bàn thờ dâng hương. 12. Nhìn thấy thiên sứ, Xa-cha-ri bối rối, sự kinh hãi bao phủ ông. 13. Sau đó, thiên sứ nói với ông:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Xa-cha-ri, đừng sợ! Bởi vì lời cầu nguyện của ngươi đã được lắng nghe. Ê-li-sa-bét, vợ của ngươi, sẽ sinh cho ngươi một con trai; và ngươi hãy đặt tên cho nó là Giăng. 14. Nó sẽ là niềm vui và sự hân hoan cho ngươi, và nhiều người sẽ vui mừng khi đứa trẻ được sinh ra. 15. Bởi vì nó sẽ được tôn trọng ở trước mặt Chúa; nó sẽ không uống rượu nho hay rượu mạnh, và nó sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ của nó. 16. Nó sẽ đem nhiều người Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ; 17. và nó sẽ đi trước Chúa với tinh thần và quyền năng của Ê-li, hướng lòng của những người cha trở về với các con, và kẻ bội nghịch sẽ trở về với sự khôn ngoan của người công chính, để chuẩn bị một dân tộc sẵn sàng cho Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Nhưng Xa-cha-ri nói với thiên sứ: “Nhờ điều gì mà tôi biết có việc nầy? Bởi vì tôi đã già, và vợ tôi đã cao tuổi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Thiên sứ trả lời và nói cùng ông: “Ta là Gáp-ri-ên, là đấng đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Ta được sai đến để nói với ngươi và mang những tin vui nầy cho ngươi. 20. Nầy, ngươi sẽ bị câm, không thể nói được cho đến ngày những điều đó xảy ra, bởi vì ngươi đã không tin những lời của ta, là những lời sẽ được ứng nghiệm theo kỳ định của chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Dân chúng đang chờ đợi Xa-cha-ri; và họ ngạc nhiên bởi vì ông ở lâu trong đền thờ. 22. Sau đó, ông đã đi ra nhưng không nói được với họ, và họ nhận biết rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thờ. Ông đã ra dấu cho họ, bởi vì vẫn còn bị câm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Và rồi, khi những ngày phục vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Sau những ngày đó, vợ của ông là Ê-li-sa-bét mang thai, và bà đã ẩn mình trong năm tháng, và nói: 25. “Thật vậy, đây là việc Chúa đã làm cho tôi. Trong những ngày nầy, Ngài đã đoái đến tôi, và cất đi sự hổ nhục của tôi ở giữa mọi người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thiên sứ báo tin cho Ma-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Và rồi đến tháng thứ sáu, thiên sứ Gáp-ri-ên được Đức Chúa Trời sai đến một thị trấn tại Ga-li-lê, gọi là Na-xa-rét, 27. đến cùng một trinh nữ đã đính hôn với một người nam, tên là Giô-sép, thuộc dòng Đa-vít; và tên của trinh nữ là Ma-ri.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Đến gặp cô, người đã nói: “Chào người được ơn! Chúa ở cùng cô!” 29. Ma-ri  bối rối về lời công bố nầy, và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30. Thiên sứ nói cùng cô: “Ma-ri! Đừng sợ, bởi vì cô đã được ơn của Đức Chúa Trời. 31. Nầy, cô sẽ thụ thai, và sẽ sinh một con trai, rồi cô sẽ đặt tên Ngài là Jesus. 32. Ngài sẽ rất cao trọng, và sẽ được gọi là Con của Đấng Chí Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít của tổ phụ Ngài. 33. Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời; vương quốc của Ngài sẽ bất tận.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34. Sau đó Ma-ri nói với thiên sứ: “Làm sao việc này có thể xảy ra, bởi vì tôi chưa hề biết một người nam nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35. Thiên sứ trả lời và nói với nàng: “Đức Thánh Linh sẽ ngự trên cô, và quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ che phủ cô; cho nên Đấng Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con của Đức Chúa Trời. 36. Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con của cô, cũng đã mang thai một con trai trong lúc tuổi già. Bà được gọi là người hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi. 37. Bởi vì không có việc gì Đức Chúa Trời không làm được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38. Sau đó Ma-ri nói: “Tôi đây là tớ gái của Chúa. Nguyện xin điều đó xảy ra cho tôi theo như lời của ngài.” Và rồi thiên sứ rời khỏi nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ma-ri viếng thăm Ê-li-sa-bét'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39. Sau những ngày đó, Ma-ri chỗi dậy, vội vàng đi về miền núi, đến một thị trấn của Giu-đa, 40. vào trong nhà của Xa-cha-ri, và chào Ê-li-sa-bét.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
41. Khi Ê-li-sa-bét nghe tiếng Ma-ri chào, thai nhi trong bụng của bà liền nhảy lên. Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Đức Thánh Linh; 42. bà nói lớn tiếng rằng: “Cô là người được phước ở giữa những phụ nữ; bông trái trong dạ của cô cũng được phước! 43. Nhờ đâu mà tôi được vinh hạnh này, đó là mẹ của Chúa của tôi đã đến thăm tôi? 44. Bởi vì kìa, khi tai của tôi vừa nghe tiếng cô chào, thì thai nhi trong bụng của tôi liền nhảy mừng. 45. Phước cho người đã tin rằng những điều từ Chúa đã phán cho mình sẽ được ứng nghiệm”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bài ca của Ma-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46. Ma-ri nói: “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa, 47. tâm linh tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
48. Vì Ngài đã đoái đến thân phận hèn hạ của tớ gái của Ngài. Vì từ nay về sau, mọi thế hệ sẽ gọi tôi là người có phước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
49. Bởi vì Đấng Toàn Năng đã làm những việc diệu kỳ cho tôi. Danh Ngài là thánh! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50. Từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, sự thương xót của Ngài dành cho những người kính sợ Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
51. Ngài đã thể hiện quyền năng với tay của Ngài; và Ngài đã làm tan tác những kẻ có tư tưởng kiêu ngạo trong lòng của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
52. Ngài đã truất phế những kẻ thống trị khỏi ngôi, và cất nhắc những người khiêm nhường lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
53. Ngài đã làm cho người đói được đầy thức ngon, và đuổi kẻ giàu đi không còn gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
54. Ngài đã giúp Y-sơ-ra-ên, là đầy tớ của Ngài, và nhớ lại sự thương xót của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
55. Như Ngài đã phán với tổ phụ chúng ta, với Áp-ra-ham và dòng dõi của người đến muôn đời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
56. Ma-ri ở lại với bà khoảng ba tháng, rồi trở về nhà của nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giăng Báp-tít ra đời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
57. Bây giờ Ê-li-sa-bét đã đủ thời hạn để sinh, bà đã sinh một con trai. 58. Láng giềng và bà con, nghe tin Chúa đã tỏ lòng thương xót lớn lao với bà, đã chung vui với bà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
59. Đến ngày thứ tám, họ đến để cắt bì cho đứa trẻ và đặt tên nó là Xa-cha-ri, theo tên cha của nó. 60. Nhưng mẹ của nó nói rằng: “Không! Nó phải được gọi là Giăng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
61. Họ nói với bà: “Trong thân tộc của bà, không ai có tên này.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
62. Sau đó, họ ra dấu cho người cha của nó, hỏi ông muốn đặt tên nó là gì. 63. Ông bảo lấy một tấm bảng nhỏ, rồi viết rằng: “Tên của nó là Giăng.” Tất cả đều kinh ngạc. 64. Ngay lập tức, miệng của ông mở ra, rồi đến lưỡi của ông, và ông nói lời chúc tụng Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
65. Sự kinh hãi đổ xuống trên tất cả những người ở chung quanh đó, và mọi người đã bàn tán về những điều nầy khắp vùng đồi núi của Giu-đê. 66. Mọi người đã nghe những điều đó, đều đặt để chúng trong lòng của họ, và nói: “Đứa trẻ nầy về sau sẽ thế nào? Bởi vì tay của Chúa đã ở cùng nó.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bài ca của Xa-cha-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
67. Xa-cha-ri, cha của đứa trẻ, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nói tiên tri rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
68. “Tôn ngợi Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, bởi vì Ngài đã thăm viếng và cứu chuộc dân của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
69. Ngài đã dấy lên một sừng cứu rỗi cho chúng ta, trong nhà Đa-vít, là đầy tớ của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
70. Như Ngài đã phán qua miệng các tiên tri thánh của Ngài từ thuở xưa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
71. Ngài giải cứu chúng ta khỏi những kẻ thù của chúng ta, và khỏi tay mọi người ghen ghét chúng ta;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
72. Ngài tỏ lòng thương xót với tổ tiên của chúng ta, và nhớ lại giao ước thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
73. Là lời hứa mà Ngài đã thề với Áp-ra-ham, tổ phụ của chúng ta, để ban cho chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
74. Chúng ta được giải cứu khỏi tay những kẻ thù, để phục vụ Ngài không chút sợ hãi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
75. Trong sự thánh khiết và sự công chính tại trước mặt Ngài trọn đời của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
76. Và bây giờ, con - một đứa trẻ - sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Chí Cao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì con sẽ đi trước Chúa, để chuẩn bị những con đường cho Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
77. Để ban sự hiểu biết về sự cứu rỗi cho dân của Ngài, qua sự tha thứ tội lỗi của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
78. Nhờ sự nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời chúng ta, mà ánh dương từ trên cao sẽ thăm viếng chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
79. Để soi sáng cho những người đang ngồi trong nơi tối tăm và trong bóng của sự chết, để hướng dẫn những bước chân của chúng ta vào đường lối an bình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
80. Đứa trẻ lớn lên, tâm linh mạnh mẽ, và sống trong những nơi hoang vắng cho đến ngày xuất hiện của mình cho dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Hỡi Thê-ô-phi-lơ quí nhân, vì có nhiều kẻ dốc lòng chép sử về những sự đã làm nên trong chúng ta, 2.  theo như các người chứng kiến từ lúc ban đầu và trở nên người giảng đạo đã truyền lại cho chúng ta, 3.  vậy, sau khi đã xét kỹ càng từ đầu mọi sự ấy, tôi cũng tưởng nên theo thứ tự viết mà tỏ ra cho ông, 4.  để ông biết những điều mình đã học là chắc chắn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Trong đời Hê-rốt, vua nước Giu-đê, có một thầy tế lễ, về ban A-bi-a, tên là Xa-cha-ri; vợ người là Ê-li-sa-bét, thuộc về chi phái A-rôn. 6.  Cả hai đều là công bình trước mặt Đức Chúa Trời, vâng giữ mọi điều răn và lễ nghi của Chúa một cách không chỗ trách được. 7.  Hai người không có con, vì Ê-li-sa-bét son sẻ, và cả hai đều cao tuổi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vả, Xa-cha-ri cứ theo thứ tự trong ban mình mà làm chức tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời. 9.  Khi đã bắt thăm theo lệ các thầy cả lập ra rồi, thì người được gọi vào nơi thánh của Chúa để dâng hương. 10.  Đang giờ dâng hương, cả đoàn dân đông đều ở ngoài cầu nguyện. 11.  Bấy giờ có một thiên sứ của Chúa hiện ra cùng Xa-cha-ri, đứng bên hữu bàn thờ xông hương. 12.  Xa-cha-ri thấy thì bối rối sợ hãi. 13.  Nhưng thiên sứ nói cùng người rằng: Hỡi Xa-cha-ri, đừng sợ, vì lời cầu nguyện ngươi đã được nhậm rồi. Ê-li-sa-bét vợ ngươi, sẽ sanh một con trai, ngươi khá đặt tên là Giăng. 14.  Con trai đó sẽ làm cho ngươi vui mừng hớn hở, và nhiều kẻ sẽ mừng rỡ về sự sanh người ra. 15.  Vì người sẽ nên tôn trọng trước mặt Chúa; không uống rượu hay là giống gì làm cho say, và sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ. 16.  Người sẽ làm cho nhiều con trai Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ; 17.  chính người lại sẽ lấy tâm thần quyền phép Ê-li mà đi trước mặt Chúa, để đem lòng cha trở về con cái, kẻ loạn nghịch đến sự khôn ngoan của người công bình, đặng sửa soạn cho Chúa một dân sẵn lòng. 18.  Xa-cha-ri thưa rằng: Bởi sao tôi biết được điều đó? Vì tôi đã già, vợ tôi đã cao tuổi rồi. 19.  Thiên sứ trả lời rằng: Ta là Gáp-ri-ên, đứng trước mặt Đức Chúa Trời; Ngài đã sai ta đến truyền cho ngươi và báo tin mừng nầy. 20.  Nầy, ngươi sẽ câm, không nói được cho đến ngày nào các điều ấy xảy ra, vì ngươi không tin lời ta, là lời đến kỳ sẽ ứng nghiệm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Bấy giờ, dân chúng đợi Xa-cha-ri, và lấy làm lạ, vì người ở lâu trong nơi thánh. 22.  Khi Xa-cha-ri ra, không nói với chúng được, thì họ mới hiểu rằng người đã thấy sự hiện thấy gì trong đền thánh; người ra dấu cho họ, mà vẫn còn câm. 23.  Khi những ngày về phần việc mình đã trọn, người trở về nhà. 24.  Khỏi ít lâu, vợ người là Ê-li-sa-bét chịu thai, ẩn mình đi trong năm tháng, mà nói rằng: 25.  Ấy là ơn Chúa đã làm cho tôi, khi Ngài đã đoái đến tôi, để cất sự xấu hổ tôi giữa mọi người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Đến tháng thứ sáu, Đức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến thành Na-xa- rét, xứ Ga-li-lê, 27.  tới cùng một người nữ đồng trinh tên là Ma-ri, đã hứa gả cho một người nam tên là Giô-sép, về dòng vua Đa-vít. 28.  Thiên sứ vào chỗ người nữ ở, nói rằng: Hỡi người được ơn, mừng cho ngươi; Chúa ở cùng ngươi. 29.  Ma-ri nghe nói thì bối rối, tự hỏi rằng lời chào ấy có nghĩa gì. 30.  Thiên-sứ bèn nói rằng: Hỡi Ma-ri, đừng sợ, vì ngươi đã được ơn trước mặt Đức Chúa Trời. 31.  Nầy, ngươi sẽ chịu thai và sanh một con trai mà đặt tên là Jêsus. 32.  Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài. 33.  Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng. 34.  Ma-ri bèn thưa rằng: Tôi chẳng hề nhận biết người nam nào, thì làm sao có được sự đó? 35.  Thiên sứ truyền rằng: Đức Thánh Linh sẽ đến trên ngươi, và quyền phép Đấng Rất Cao sẽ che phủ ngươi dưới bóng mình, cho nên con thánh sanh ra, phải xưng là Con Đức Chúa Trời. 36.  Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con ngươi, cũng đã chịu thai một trai trong lúc già nua; người ấy vốn có tiếng là son, mà nay cưu mang được sáu tháng rồi. 37.  Bởi vì không việc chi Đức Chúa Trời chẳng làm được. 38.  Ma-ri thưa rằng: Tôi đây là tôi tớ Chúa; xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền! Đoạn thiên sứ lìa khỏi Ma-ri. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39.  Trong những ngày đó, Ma-ri chờ dậy, lật đật đi trong miền núi, đến một thành về xứ Giu-đa, 40.  vào nhà Xa-cha-ri mà chào Ê-li-sa-bét. 41.  Vả, Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng Ma-ri chào, con nhỏ ở trong lòng liền nhảy nhót; và Ê-li-sa-bét được đầy Đức Thánh Linh, 42.  bèn cất tiếng kêu rằng: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngươi có phước trong đám đàn bà, thai trong lòng ngươi cũng được phước. 43.  Nhân đâu ta được sự vẻ vang nầy, là mẹ Chúa ta đến thăm ta? 44.  Bởi vì tai ta mới nghe tiếng ngươi chào, thì con nhỏ ở trong lòng ta liền nhảy mừng. 45.  Phước cho người đã tin, vì lời Chúa truyền cho sẽ được ứng nghiệm! 46.  Ma-ri bèn nói rằng: Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, 47.  Tâm thần tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa tôi. 48.  Vì Ngài đã đoái đến sự hèn hạ của tôi tớ Ngài. Nầy, từ rày về sau, muôn đời sẽ khen tôi là kẻ có phước; 49.  Bởi Đấng Toàn Năng đã làm các việc lớn cho tôi. Danh Ngài là thánh, 50.  Và Ngài thương xót kẻ kính sợ Ngài từ đời nầy sang đời kia. 51.  Ngài đã dùng cánh tay mình để tỏ ra quyền phép; Và phá tan mưu của kẻ kiêu ngạo toan trong lòng. 52.  Ngài đã cách người có quyền khỏi ngôi họ, Và nhắc kẻ khiêm nhượng lên. 53.  Ngài đã làm cho kẻ đói được đầy thức ngon, Và đuổi kẻ giàu về tay không. 54.  Ngài đã vùa giúp Y-sơ-ra-ên, tôi tớ Ngài, Và nhớ lại sự thương xót mình. Đối với Áp-ra-ham cùng con cháu người luôn luôn, 55.  Như Ngài đã phán cùng tổ phụ chúng ta vậy. 56.  Ma-ri ở với Ê-li-sa-bét chừng ba tháng, rồi trở về nhà mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
57.  Bấy giờ, đến ngày mãn nguyệt, Ê-li-sa-bét sanh được một trai. 58.  Xóm riềng bà con nghe Chúa tỏ ra sự thương xót cả thể cho Ê-li-sa-bét, thì chia vui cùng người. 59.  Qua ngày thứ tám, họ đều đến để làm lễ cắt bì cho con trẻ; và đặt tên là Xa-cha-ri theo tên của cha. 60.  Nhưng mẹ nói rằng: Không! phải đặt tên con là Giăng. 61.  Họ nói: Trong bà con ngươi không ai có tên đó. 62.  Họ bèn ra dấu hỏi cha muốn đặt tên gì cho con. 63.  Xa-cha-ri biểu lấy bảng nhỏ, và viết rằng: Giăng là tên nó. Ai nấy đều lấy làm lạ. 64.  Tức thì miệng người mở ra, lưỡi được thong thả, nói và ngợi khen Đức Chúa Trời. 65.  Hết thảy xóm giềng đều kinh sợ, và người ta nói chuyện với nhau về mọi sự ấy khắp miền núi xứ Giu-đê. 66.  Ai nghe cũng ghi vào lòng mà nói rằng: Ấy vậy, con trẻ đó sẽ ra thể nào? Vì tay Chúa ở cùng con trẻ ấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
67.  Bấy giờ, Xa-cha-ri, cha con trẻ ấy, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, thì nói tiên tri rằng: 68.  Ngợi khen Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Vì đã thăm viếng và chuộc dân Ngài, 69.  Cùng sanh ra cho chúng tôi trong nhà Đa-vít, tôi tớ Ngài, Một Đấng Cứu thế có quyền phép! 70.  Như lời Ngài đã dùng miệng các thánh tiên tri phán từ thuở trước, 71.  Ngài cứu chúng tôi khỏi kẻ thù và tay mọi người ghen ghét chúng tôi; 72.  Ngài tỏ lòng thương xót đến tổ tông chúng tôi, Và nhớ lại lời giao ước thánh của Ngài, 73.  Theo như Ngài đã thề với Áp-ra-ham là tổ phụ chúng tôi, 74.  Mà hứa rằng khi chúng tôi đã được cứu khỏi tay kẻ nghịch thù, Ngài sẽ ban ơn lành cho chúng tôi, trước mặt Ngài, 75.  Lấy sự thánh khiết và công bình mà hầu việc Ngài, trọn đời mình không sợ hãi gì hết. 76.  Hỡi con trẻ, người ta sẽ kêu con là tiên tri của Đấng Rất Cao; Con sẽ đi trước mặt Chúa, dọn đường Ngài, 77.  Để cho dân Ngài bởi sự tha tội họ mà biết sự rỗi. 78.  Vì Đức Chúa Trời chúng tôi động lòng thương xót, Và mặt trời mọc lên từ nơi cao thăm viếng chúng tôi, 79.  Để soi những kẻ ngồi chỗ tối tăm và trong bóng sự chết, Cùng đưa chân chúng tôi đi đường bình an. 80.  Vả, con trẻ ấy lớn lên, tâm thần mạnh mẽ, ở nơi đồng vắng cho đến ngày tỏ mình ra cùng dân Y-sơ-ra-ên. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B42\V02B42C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Ngỏ đến Thê-ô-phi-lơ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vì có nhiều người đã cố gắng ghi lại những việc được thực hiện giữa chúng ta, 2 như lời những người đã chứng kiến từ ban đầu và những người đã trở thành tôi tớ của đạo Chúa truyền lại cho chúng ta, 3 nên sau khi tra cứu cẩn thận mọi việc từ đầu, tôi thiết tưởng cũng nên ghi lại một cách thứ tự cho ngài, thưa ngài Thê-ô-phi-lơ rất kính mến, 4 để ngài có thể biết cách xác thật về đạo mà ngài đã được dạy.    &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''THỜI THƠ ẤU VÀ ẨN DẬT CỦA GIĂNG BÁP-TÍT VÀ ÐỨC CHÚA JESUS'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(1:5-2:52)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Báo Tin Giăng Báp-tít Sinh Ra'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Trong thời Vua Hê-rốt xứ Giu-đê, có một tư tế tên là Xa-cha-ri, thuộc dòng tư tế A-bi-gia.  Vợ ông tên là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi A-rôn.  6 Cả hai vợ chồng là người công chính trước mặt Ðức Chúa Trời, vâng giữ các điều răn và mạng lịnh của Chúa không chỗ nào chê trách được.  7 Nhưng hai người không có con, vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn, và hai người đã cao tuổi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Một ngày kia Xa-cha-ri thi hành chức vụ tư tế trước mặt Ðức Chúa Trời theo phiên thứ của ông; 9 ông được trúng thăm theo thông lệ của các tư tế lúc bấy giờ để vào dâng hương trong đền thánh của Chúa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Ðúng vào giờ dâng hương, trong khi hội chúng đang cầu nguyện bên ngoài, 11 một thiên sứ của Chúa hiện ra với ông và đứng bên phải của bàn thờ dâng hương.  12 Khi Xa-cha-ri thấy vị thiên sứ, ông hoảng sợ và nỗi kinh hoàng phủ lấy ông.  13 Nhưng vị thiên sứ nói với ông, “Hỡi Xa-cha-ri, đừng sợ, vì lời cầu nguyện của ngươi đã được nhậm.  Ê-li-sa-bét vợ ngươi sẽ sinh cho ngươi một con trai, và ngươi sẽ đặt tên con trai đó là Giăng.  14 Ðứa con ấy sẽ là niềm vui hớn hở cho ngươi.  Nhiều người sẽ hoan hỉ khi nó chào đời, 15 vì nó sẽ thành một vĩ nhân trước mặt Chúa.  Nó sẽ không được uống rượu hay thức uống gì làm cho say.  Nó sẽ được đầy dẫy Ðức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ.  16 Nó sẽ làm cho nhiều người I-sơ-ra-ên quay về với Chúa, Ðức Chúa Trời của họ.  17 Nó sẽ đi trước mặt Chúa với tinh thần và quyền năng của Ê-li.  Nó sẽ làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, và những kẻ bội nghịch sẽ vâng theo sự khôn ngoan của người công chính, để chuẩn bị một dân sẵn sàng cho Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Xa-cha-ri thưa với thiên sứ, “Làm sao tôi biết việc này sẽ xảy ra, vì tôi đã già, còn vợ tôi lại cao tuổi?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Vị thiên sứ trả lời và nói với ông, “Ta là Gáp-ri-ên, đứng hầu trước mặt Ðức Chúa Trời, và ta được sai đến để nói với ngươi và báo cho ngươi tin mừng này.  20 Này, ngươi sẽ bị câm và không nói được cho đến ngày những điều ấy xảy ra, bởi vì ngươi không tin những lời ta, những lời sẽ xảy ra đúng kỳ đã định cho chúng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Trong khi đó dân chúng bên ngoài trông đợi Xa-cha-ri; họ hoang mang lo lắng vì ông ở trong đền thánh quá lâu.  22 Khi thấy ông trở ra và không thể nói được với họ, họ nhận biết rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thánh.  Ông cứ ra dấu với họ và không thể nói được.  23 Khi thời kỳ phục vụ của ông mãn, ông trở về nhà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Sau những ngày đó, bà Ê-li-sa-bét vợ ông thụ thai; bà sống ẩn dật trong năm tháng.  Bà nói, 25 “Ðây là điều Chúa đã làm cho tôi khi Ngài làm ơn cho tôi, Ngài đã cất khỏi tôi nỗi tủi hổ giữa người đời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thiên Sứ Báo Tin Chúa Giáng Sinh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Vào tháng thứ sáu, Ðức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến Thành Na-xa-rét, miền Ga-li-lê, 27 gặp một trinh nữ đã đính hôn với một thanh niên tên là Giô-sép, thuộc dòng Vua Ða-vít.  Trinh nữ ấy tên là Ma-ry.  28 Thiên sứ đến gặp nàng và nói, “Hỡi người được ơn, chúc mừng cô, Chúa ở cùng cô.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29 Nghe như thế Ma-ry bối rối và tự hỏi lời chào ấy có nghĩa gì.  30 Thiên sứ nói với nàng, “Hỡi Ma-ry, đừng sợ, vì cô đã được ơn trước mặt Ðức Chúa Trời.  31 Này, cô sẽ có thai, sinh một con trai, và cô sẽ đặt tên con trai ấy là Jesus.  32 Con trai ấy sẽ thành một vĩ nhân và sẽ được gọi là Con của Ðấng Tối Cao.  Chúa, Ðức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngai của Ða-vít tổ phụ Ngài.  33 Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời.  Vương quốc Ngài sẽ trường tồn bất tận.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34 Ma-ry thưa với thiên sứ, “Làm sao việc ấy có thể xảy ra được, vì tôi chưa hề biết một người nam nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 Thiên sứ trả lời và nói với nàng, “Ðức Thánh Linh sẽ ngự xuống trên cô, và quyền năng của Ðấng Tối Cao sẽ bao phủ cô.  Vì thế Con Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con Ðức Chúa Trời.  36 Kìa Ê-li-sa-bét, bà con của cô, đang mang thai một trai trong tuổi già nua.  Bà ấy vốn có tiếng là hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi, 37 bởi vì không việc chi Ðức Chúa Trời chẳng làm được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38 Ma-ry thưa, “Tôi đây là tớ gái của Chúa, xin việc ấy xảy ra cho tôi như lời ngài truyền.”  Sau đó thiên sứ lìa khỏi Ma-ry.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ma-ry Thăm Ê-li-sa-bét'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39 Trong những ngày ấy Ma-ry đứng dậy và vội vàng đến một thành trong vùng đồi núi xứ Giu-đê, 40 vào nhà của Xa-cha-ri, và chào Ê-li-sa-bét.  41 Vừa khi nghe tiếng chào của Ma-ry, thai nhi trong bụng Ê-li-sa-bét nhảy lên, và Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Ðức Thánh Linh.  42 Bà cất tiếng nói lớn, “Cô thật có phước giữa vòng phụ nữ!  Thai nhi trong dạ cô cũng có phước thay!  43 Do đâu mà tôi được vinh dự này, đó là được thân mẫu của Chúa đến thăm tôi?  44 Vì này, vừa khi tai tôi nghe tiếng cô chào, thai nhi trong bụng tôi đã nhảy lên mừng rỡ.  45 Phước thay cho người tin rằng Chúa sẽ làm ứng nghiệm những gì Ngài đã phán với mình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Ca Ngợi của Ma-ry'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46 Bấy giờ Ma-ry nói,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
47 “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tâm linh tôi vui mừng trong Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của tôi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
48 Vì Ngài đã đoái đến thân phận hèn hạ của tớ gái Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì từ nay trở đi, muôn đời sẽ khen tôi là người có phước,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
49 Vì Ðấng Toàn Năng đã làm những việc lớn cho tôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Danh Ngài thật thánh thay!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50 Ngài thương xót kẻ kính sợ Ngài từ đời nọ sang đời kia.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
51 Ngài dùng cánh tay Ngài bày tỏ những việc quyền năng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài dẹp tan những kẻ kiêu ngạo tận tư tưởng trong lòng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
52 Ngài hạ bệ những kẻ quyền thế khỏi ngai của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng Ngài nhấc những người khiêm nhường lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
53 Ngài ban cho người đói được no nê các thức ăn ngon,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đuổi kẻ giàu đi về tay không.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
54 Ngài giúp đỡ I-sơ-ra-ên tôi tớ Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ngài nhớ lại ơn thương xót của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
55 Như Ngài đã phán với các tổ tiên chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với Áp-ra-ham và dòng dõi người mãi mãi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
56 Ma-ry ở lại với Ê-li-sa-bét khoảng ba tháng, rồi trở về nhà nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giăng Báp-tít Sinh Ra'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
57 Ðến kỳ sinh nở, Ê-li-sa-bét sinh một con trai.  58 Những láng giềng và bà con dòng họ của bà nghe Chúa bày tỏ lòng thương xót lớn lao của Ngài đối với bà, họ vui mừng với bà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
59 Ngày thứ tám, họ đến để cắt bì cho đứa bé.  Họ định đặt tên nó là Xa-cha-ri, theo tên của cha nó.  60 Nhưng mẹ nó trả lời và nói, “Không, nó sẽ được gọi là Giăng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
61 Họ nói với bà, “Không người bà con nào của bà có tên ấy cả.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
62 Kế đó họ ra dấu cho cha đứa bé để xem ông muốn đặt tên nó là gì.  63 Ông ra dấu bảo đem cho ông một bảng nhỏ, rồi ông viết trên đó, “Tên nó là Giăng.”  Mọi người đều lấy làm lạ.  64 Thình lình miệng ông mở ra, lưỡi ông được tự do, và ông cất tiếng ca ngợi Ðức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
65 Cả xóm giềng đều phát sợ, và người ta nói về chuyện ấy khắp miền đồi núi xứ Giu-đê.  66 Tất cả những ai nghe chuyện ấy đều nói, “Rồi đây không biết đứa trẻ ấy sẽ ra sao?”  Vì tay Chúa ở cùng nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Tiên Tri của Xa-cha-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
67 Bấy giờ Xa-cha-ri cha đứa bé được đầy dẫy Ðức Thánh Linh và nói tiên tri rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
68 “Chúc tụng Chúa, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ngài đã đoái thăm và cứu chuộc dân Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
69 Ngài đã dấy lên một sừng cứu rỗi cho chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong nhà Ða-vít tôi tớ Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
70 Như Ngài đã phán trước qua miệng các tiên tri thánh của Ngài từ xưa rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
71 Chúng ta sẽ được giải cứu khỏi những kẻ thù của mình,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và khỏi tay những kẻ ghét chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
72 Ngài bày tỏ lòng thương xót đối với tổ tiên chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài nhớ lại giao ước thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
73 Tức lời thề Ngài đã lập với Áp-ra-ham tổ phụ chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể ban cho chúng ta&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
74 Ðược giải thoát khỏi tay những kẻ thù nghịch,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể có thể phụng sự Ngài không chút sợ hãi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
75 Trong sự thánh khiết và công chính,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước mặt Ngài trọn đời chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
76 Còn con, hỡi con thơ, con sẽ được gọi là tiên tri của Ðấng Tối Cao,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì con sẽ đi trước Chúa để dọn đường cho Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
77 Ðể ban tri thức về ơn cứu rỗi cho dân Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Qua sự tha thứ tội lỗi họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
78 Nhờ đức nhân từ thương xót của Ðức Chúa Trời chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mà vầng thái dương mọc lên từ trời sẽ thăm viếng chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
79 Ðể mang ánh sáng đến những kẻ đang ngồi trong tối tăm và bóng tử thần;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể dẫn dắt bàn chân chúng ta vào con đường bình an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
80 Ðứa trẻ càng lớn lên tinh thần càng mạnh mẽ.  Nó cứ sống trong đồng hoang cho đến ngày tỏ mình ra với dân I-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B42\V01B42C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Lu-ca]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Lu-ca: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Lu-ca:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35775</id>
		<title>Lu-ca: Chương 1</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Lu-ca:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35775"/>
		<updated>2026-06-26T06:43:31Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Do có nhiều người đã cố gắng biên soạn một bản ký thuật về những việc đã xảy ra ở giữa chúng ta, 2. đúng theo như những điều đã được truyền đạt cho chúng ta từ những nhân chứng đầu tiên và những người phục vụ Lời Chúa; 3. vì vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu mọi việc từ đầu – Thưa ngài Thê-ô-phi-lơ kính mến - tôi thiết tưởng cũng nên theo thứ tự mà viết cho ngài, 4. để ngài có thể biết những điều mình đã được hướng dẫn là chắc chắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Vào thời Hê-rốt làm vua xứ Giu-đê, có một tư tế thuộc phân ban A-bi-gia, tên là Xa-cha-ri; vợ là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi của A-rôn. 6. Cả hai đều là người công chính trước mặt Đức Chúa Trời, đi theo tất cả những điều răn và luật lệ của Chúa không chút khiếm khuyết. 7. Tuy nhiên họ không có con, bởi vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn và cả hai đều đã cao tuổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Và rồi, để làm trọn trách nhiệm phục vụ tế lễ theo thứ tự của ban mình trước mặt Đức Chúa Trời. 9. theo thông lệ của các tư tế, ông đã bắt thăm, và trúng phần dâng hương trong đền thờ của Chúa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Trong giờ dâng hương, tất cả đoàn dân cầu nguyện ở bên ngoài. 11. Một thiên sứ của Chúa hiện đến với ông, đứng ngay bên phải của bàn thờ dâng hương. 12. Nhìn thấy thiên sứ, Xa-cha-ri bối rối, sự kinh hãi bao phủ ông. 13. Sau đó, thiên sứ nói với ông:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Xa-cha-ri, đừng sợ! Bởi vì lời cầu nguyện của ngươi đã được lắng nghe. Ê-li-sa-bét, vợ của ngươi, sẽ sinh cho ngươi một con trai; và ngươi hãy đặt tên cho nó là Giăng. 14. Nó sẽ là niềm vui và sự hân hoan cho ngươi, và nhiều người sẽ vui mừng khi đứa trẻ được sinh ra. 15. Bởi vì nó sẽ được tôn trọng ở trước mặt Chúa; nó sẽ không uống rượu nho hay rượu mạnh, và nó sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ. 16. Nó sẽ đem nhiều người Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ; 17. và nó sẽ đi trước Chúa với tinh thần và quyền năng của Ê-li, hướng lòng của những người cha trở về với các con, và kẻ bội nghịch sẽ trở về với sự khôn ngoan của người công chính, để chuẩn bị một dân tộc sẵn sàng cho Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Nhưng Xa-cha-ri nói với thiên sứ: “Nhờ điều gì mà tôi biết có việc nầy? Bởi vì tôi đã già, và vợ tôi đã cao tuổi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Thiên sứ trả lời và nói cùng ông: “Ta là Gáp-ri-ên, là đấng đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Ta được sai đến để nói với ngươi và mang những tin vui nầy cho ngươi. 20. Nầy, ngươi sẽ bị câm, không thể nói được cho đến ngày những điều đó xảy ra, bởi vì ngươi đã không tin những lời của ta, là những lời sẽ được ứng nghiệm theo kỳ định của chúng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Dân chúng đang chờ đợi Xa-cha-ri; và họ ngạc nhiên bởi vì ông ở lâu trong đền thờ. 22. Sau đó, ông đã đi ra nhưng không nói được với họ, và họ nhận biết rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thờ. Ông đã ra dấu cho họ, bởi vì vẫn còn bị câm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Và rồi, khi những ngày phục vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Sau những ngày đó, vợ của ông là Ê-li-sa-bét mang thai, và bà đã ẩn mình trong năm tháng, và nói: 25. “Thật vậy, đây là việc Chúa đã làm cho tôi. Trong những ngày nầy, Ngài đã đoái đến tôi, và cất đi sự hổ nhục của tôi ở giữa mọi người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Và rồi đến tháng thứ sáu, thiên sứ Gáp-ri-ên được Đức Chúa Trời sai đến một thị trấn tại Ga-li-lê, gọi là Na-xa-rét, 27. đến cùng một trinh nữ đã đính hôn với một người nam, tên là Giô-sép, thuộc dòng Đa-vít; và tên của trinh nữ là Ma-ri.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Đến gặp cô, thiên sứ đã nói: “Chào người được ơn! Chúa ở cùng cô!” 29. Ma-ri  bối rối về lời nầy, và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30. Thiên sứ nói cùng cô: “Ma-ri! Đừng sợ, bởi vì cô đã được ơn của Đức Chúa Trời. 31. Nầy, cô sẽ thụ thai, và sẽ sinh một con trai, rồi cô sẽ đặt tên Ngài là Jesus. 32. Ngài sẽ rất cao trọng, và sẽ được gọi là Con của Đấng Chí Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi của Đa-vít, của tổ phụ Ngài. 33. Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời; vương quốc của Ngài sẽ trường tồn mãi mãi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34. Sau đó Ma-ri nói với thiên sứ: “Làm sao việc này có thể xảy ra, bởi vì tôi chưa hề biết một người nam nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35. Thiên sứ trả lời và nói với nàng: “Đức Thánh Linh sẽ ngự trên cô, và quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ che phủ cô; cho nên Đấng Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con của Đức Chúa Trời. 36. Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con của cô, cũng đã mang thai một con trai trong lúc tuổi già. Bà được gọi là người hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi. 37. Bởi vì không có việc gì Đức Chúa Trời không làm được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38. Sau đó Ma-ri nói: “Tôi đây là tớ gái của Chúa. Nguyện xin điều đó xảy ra cho tôi theo như lời của ngài.” Và rồi thiên sứ rời khỏi nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39. Sau những ngày đó, Ma-ri chỗi dậy, vội vàng đi về miền núi, đến một thị trấn của Giu-đa, 40. vào trong nhà của Xa-cha-ri, và chào Ê-li-sa-bét.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
41. Khi Ê-li-sa-bét nghe tiếng Ma-ri chào, thai nhi trong bụng của bà liền nhảy lên. Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Đức Thánh Linh; 42. bà nói lớn tiếng rằng: “Cô là người được phước ở giữa những phụ nữ; bông trái trong dạ của cô cũng được phước! 43. Nhờ đâu mà tôi được vinh hạnh này, đó là mẹ của Chúa của tôi đã đến thăm tôi? 44. Bởi vì kìa, khi tai của tôi vừa nghe tiếng cô chào, thì thai nhi trong bụng của tôi liền nhảy mừng. 45. Phước cho người đã tin rằng những điều từ Chúa đã phán cho mình sẽ được ứng nghiệm”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46. Ma-ri nói: “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa, 47. tâm linh tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
48. Vì Ngài đã đoái đến thân phận hèn hạ của tớ gái của Ngài. Vì từ nay về sau, mọi thế hệ sẽ gọi tôi là người có phước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
49. Bởi vì Đấng Toàn Năng đã làm những việc diệu kỳ cho tôi. Danh Ngài là thánh! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50. Từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, sự thương xót của Ngài dành cho những người kính sợ Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
51. Ngài đã thể hiện quyền năng với tay của Ngài; và Ngài đã làm tan tác những kẻ có tư tưởng kiêu ngạo trong lòng của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
52. Ngài đã truất phế những kẻ thống trị khỏi ngôi, và cất nhắc những người khiêm nhường lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
53. Ngài đã làm cho người đói được đầy thức ngon, và đuổi kẻ giàu đi không có gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
54. Ngài đã giúp Y-sơ-ra-ên, là đầy tớ của Ngài, và nhớ lại sự thương xót của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
55. Như Ngài đã phán với tổ phụ chúng ta, với Áp-ra-ham và dòng dõi của người đến muôn đời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
56. Ma-ri ở lại với bà khoảng ba tháng, rồi trở về nhà của nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
57. Bây giờ Ê-li-sa-bét đã đủ thời hạn để sinh, bà đã sinh một con trai. 58. Láng giềng và bà con, nghe tin Chúa đã tỏ lòng thương xót lớn lao với bà, đã chung vui với bà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
59. Đến ngày thứ tám, họ đến để cắt bì cho đứa trẻ và đặt tên nó là Xa-cha-ri, theo tên cha của nó. 60. Nhưng mẹ của nó nói rằng: “Không! Nó phải được gọi là Giăng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
61. Họ nói với bà: “Trong thân tộc của bà, không ai có tên này.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
62. Sau đó, họ ra dấu cho người cha của nó, hỏi ông muốn đặt tên nó là gì. 63. Ông bảo lấy một tấm bảng nhỏ, rồi viết rằng: “Tên của nó là Giăng.” Tất cả đều kinh ngạc. 64. Ngay lập tức, miệng của ông mở ra, rồi đến lưỡi của ông, và ông nói lời chúc tụng Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
65. Sự kinh hãi đổ xuống trên tất cả những người ở chung quanh đó, và mọi người đã bàn tán về những điều nầy khắp vùng đồi núi của Giu-đê. 66. Mọi người đã nghe những điều đó, đều ghi nhớ trong lòng của họ, và nói: “Đứa trẻ nầy về sau sẽ thế nào? Bởi vì tay của Chúa đã ở cùng nó.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
67. Xa-cha-ri, cha của đứa trẻ, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nói tiên tri rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
68. “Tôn ngợi Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, bởi vì Ngài đã thăm viếng và cứu chuộc dân của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
69. Ngài đã dấy lên một sừng cứu rỗi cho chúng ta, trong nhà Đa-vít, là đầy tớ của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
70. Như Ngài đã phán qua miệng các tiên tri thánh của Ngài từ thuở xưa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
71. Ngài giải cứu chúng ta khỏi những kẻ thù của chúng ta, và khỏi tay mọi người ghen ghét chúng ta;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
72. Ngài tỏ lòng thương xót với tổ tiên của chúng ta, và nhớ lại giao ước thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
73. Là lời hứa mà Ngài đã thề với Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, để ban cho chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
74. Chúng ta được giải cứu khỏi tay những kẻ thù, để phục vụ Ngài không chút sợ hãi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
75. Trong sự thánh khiết và sự công chính tại trước mặt Ngài trọn đời của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
76. Và bây giờ, con - một đứa trẻ - sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Chí Cao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì con sẽ đi trước Chúa, để chuẩn bị những con đường cho Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
77. Để ban sự hiểu biết về sự cứu rỗi cho dân của Ngài, qua sự tha thứ tội lỗi của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
78. Nhờ sự nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời của chúng ta, mà ánh dương từ trên cao sẽ thăm viếng chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
79. Để soi sáng cho những người đang ngồi trong nơi tối tăm và trong bóng của sự chết, để hướng dẫn những bước chân của chúng ta vào đường lối an bình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
80. Đứa trẻ lớn lên, tâm linh mạnh mẽ, và sống trong những nơi hoang vắng cho đến ngày xuất hiện với dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời mở đầu'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do có nhiều người đã cố gắng biên soạn một bản ký thuật về những việc đã xảy ra ở giữa chúng ta, đúng theo như những điều đã được truyền đạt cho chúng ta từ những nhân chứng đầu tiên và những người phục vụ Lời Chúa; vì vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu mọi việc từ đầu – Thưa ngài Thê-ô-phi-lơ kính mến - tôi thiết tưởng cũng nên theo thứ tự mà viết cho ngài, để ngài có thể biết những điều mình đã được hướng dẫn là chắc chắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời tiên tri về sự ra đời của Giăng Báp-tít'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vào thời Hê-rốt làm vua xứ Giu-đê, có một tư tế thuộc phân ban A-bi-gia, tên là Xa-cha-ri; vợ là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi của A-rôn. Cả hai đều là người công chính trước mặt Đức Chúa Trời, sống theo mọi điều răn và lễ nghi của Chúa không một chút khiếm khuyết. Tuy nhiên họ không có con, bởi vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn và cả hai đều đã cao tuổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi, để làm trọn trách nhiệm phục vụ tế lễ theo thứ tự của ban mình trước mặt Đức Chúa Trời. theo thông lệ của các tư tế, ông đã bắt thăm, và trúng phần dâng hương trong đền thờ của Chúa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong giờ dâng hương, tất cả đoàn dân cầu nguyện ở bên ngoài. Một thiên sứ của Chúa hiện đến với ông, đứng ngay bên phải của bàn thờ dâng hương. Nhìn thấy thiên sứ, Xa-cha-ri bối rối, sự kinh hãi bao phủ ông. Sau đó, thiên sứ nói với ông:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Xa-cha-ri, đừng sợ! Bởi vì lời cầu nguyện của ngươi đã được lắng nghe. Ê-li-sa-bét, vợ của ngươi, sẽ sinh cho ngươi một con trai; và ngươi hãy đặt tên cho nó là Giăng. Nó sẽ là niềm vui và sự hân hoan cho ngươi, và nhiều người sẽ vui mừng khi đứa trẻ được sinh ra. Bởi vì nó sẽ được tôn trọng ở trước mặt Chúa; nó sẽ không uống rượu nho hay rượu mạnh, và nó sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ. Nó sẽ đem nhiều người Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ; và nó sẽ đi trước Chúa với tinh thần và quyền năng của Ê-li, hướng lòng của những người cha trở về với các con, và kẻ bội nghịch sẽ trở về với sự khôn ngoan của người công chính, để chuẩn bị một dân tộc sẵn sàng cho Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng Xa-cha-ri nói với thiên sứ: “Nhờ điều gì mà tôi biết có việc nầy? Bởi vì tôi đã già, và vợ tôi đã cao tuổi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thiên sứ trả lời và nói cùng ông: “Ta là Gáp-ri-ên, là đấng đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Ta được sai đến để nói với ngươi và mang những tin vui nầy cho ngươi. Nầy, ngươi sẽ bị câm, không thể nói được cho đến ngày những điều đó xảy ra, bởi vì ngươi đã không tin những lời của ta, là những lời sẽ được ứng nghiệm theo kỳ định của chúng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dân chúng đang chờ đợi Xa-cha-ri; và họ ngạc nhiên bởi vì ông ở lâu trong đền thờ. Sau đó, ông đã đi ra nhưng không nói được với họ, và họ nhận biết rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thờ. Ông đã ra dấu cho họ, bởi vì vẫn còn bị câm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi, khi những ngày phục vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau những ngày đó, vợ của ông là Ê-li-sa-bét mang thai, và bà đã ẩn mình trong năm tháng, và nói: “Thật vậy, đây là việc Chúa đã làm cho tôi. Trong những ngày nầy, Ngài đã đoái đến tôi, và cất đi sự hổ nhục của tôi ở giữa mọi người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thiên sứ báo tin cho Ma-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi đến tháng thứ sáu, thiên sứ Gáp-ri-ên được Đức Chúa Trời sai đến một thị trấn tại Ga-li-lê, gọi là Na-xa-rét, đến cùng một trinh nữ đã đính hôn với một người nam, tên là Giô-sép, thuộc dòng Đa-vít; và tên của trinh nữ là Ma-ri.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến gặp cô, thiên sứ đã nói: “Chào người được ơn! Chúa ở cùng cô!” Ma-ri  bối rối về lời nầy, và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thiên sứ nói cùng cô: “Ma-ri! Đừng sợ, bởi vì cô đã được ơn của Đức Chúa Trời. Nầy, cô sẽ thụ thai, và sẽ sinh một con trai, rồi cô sẽ đặt tên Ngài là Jesus. Ngài sẽ rất cao trọng, và sẽ được gọi là Con của Đấng Chí Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi của Đa-vít, của tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời; vương quốc của Ngài sẽ trường tồn mãi mãi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó Ma-ri nói với thiên sứ: “Làm sao việc này có thể xảy ra, bởi vì tôi chưa hề biết một người nam nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thiên sứ trả lời và nói với nàng: “Đức Thánh Linh sẽ ngự trên cô, và quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ che phủ cô; cho nên Đấng Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con của Đức Chúa Trời. Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con của cô, cũng đã mang thai một con trai trong lúc tuổi già. Bà được gọi là người hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi. Bởi vì không có việc gì Đức Chúa Trời không làm được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó Ma-ri nói: “Tôi đây là tớ gái của Chúa. Nguyện xin điều đó xảy ra cho tôi theo như lời của ngài.” Và rồi thiên sứ rời khỏi nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ma-ri viếng thăm Ê-li-sa-bét'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau những ngày đó, Ma-ri chỗi dậy, vội vàng đi về miền núi, đến một thị trấn của Giu-đa, vào trong nhà của Xa-cha-ri, và chào Ê-li-sa-bét.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi Ê-li-sa-bét nghe tiếng Ma-ri chào, thai nhi trong bụng của bà liền nhảy lên. Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Đức Thánh Linh; bà nói lớn tiếng rằng: “Cô là người được phước ở giữa những phụ nữ; bông trái trong dạ của cô cũng được phước! Nhờ đâu mà tôi được vinh hạnh này, đó là mẹ của Chúa của tôi đã đến thăm tôi? Bởi vì kìa, khi tai của tôi vừa nghe tiếng cô chào, thì thai nhi trong bụng của tôi liền nhảy mừng. Phước cho người đã tin rằng những điều từ Chúa đã phán cho mình sẽ được ứng nghiệm”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bài ca của Ma-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ma-ri nói: “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa, tâm linh tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ngài đã đoái đến thân phận hèn hạ của tớ gái của Ngài. Vì từ nay về sau, mọi thế hệ sẽ gọi tôi là người có phước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì Đấng Toàn Năng đã làm những việc diệu kỳ cho tôi. Danh Ngài là thánh! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, sự thương xót của Ngài dành cho những người kính sợ Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã thể hiện quyền năng với tay của Ngài; và Ngài đã làm tan tác những kẻ có tư tưởng kiêu ngạo trong lòng của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã truất phế những kẻ thống trị khỏi ngôi, và cất nhắc những người khiêm nhường lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã làm cho người đói được đầy thức ngon, và đuổi kẻ giàu đi không có gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã giúp Y-sơ-ra-ên, là đầy tớ của Ngài, và nhớ lại sự thương xót của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như Ngài đã phán với tổ phụ chúng ta, với Áp-ra-ham và dòng dõi của người đến muôn đời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ma-ri ở lại với bà khoảng ba tháng, rồi trở về nhà của nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giăng Báp-tít ra đời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bây giờ Ê-li-sa-bét đã đủ thời hạn để sinh, bà đã sinh một con trai. Láng giềng và bà con, nghe tin Chúa đã tỏ lòng thương xót lớn lao với bà, đã chung vui với bà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đến ngày thứ tám, họ đến để cắt bì cho đứa trẻ và đặt tên nó là Xa-cha-ri, theo tên cha của nó. Nhưng mẹ của nó nói rằng: “Không! Nó phải được gọi là Giăng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Họ nói với bà: “Trong thân tộc của bà, không ai có tên này.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó, họ ra dấu cho người cha của nó, hỏi ông muốn đặt tên nó là gì. Ông bảo lấy một tấm bảng nhỏ, rồi viết rằng: “Tên của nó là Giăng.” Tất cả đều kinh ngạc. Ngay lập tức, miệng của ông mở ra, rồi đến lưỡi của ông, và ông nói lời chúc tụng Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sự kinh hãi đổ xuống trên tất cả những người ở chung quanh đó, và mọi người đã bàn tán về những điều nầy khắp vùng đồi núi của Giu-đê. Mọi người đã nghe những điều đó, đều ghi nhớ trong lòng của họ, và nói: “Đứa trẻ nầy về sau sẽ thế nào? Bởi vì tay của Chúa đã ở cùng nó.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bài ca của Xa-cha-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xa-cha-ri, cha của đứa trẻ, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nói tiên tri rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Tôn ngợi Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, bởi vì Ngài đã thăm viếng và cứu chuộc dân của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã dấy lên một sừng cứu rỗi cho chúng ta, trong nhà Đa-vít, là đầy tớ của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như Ngài đã phán qua miệng các tiên tri thánh của Ngài từ thuở xưa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài giải cứu chúng ta khỏi những kẻ thù của chúng ta, và khỏi tay mọi người ghen ghét chúng ta;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài tỏ lòng thương xót với tổ tiên của chúng ta, và nhớ lại giao ước thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Là lời hứa mà Ngài đã thề với Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, để ban cho chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng ta được giải cứu khỏi tay những kẻ thù, để phục vụ Ngài không chút sợ hãi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong sự thánh khiết và sự công chính tại trước mặt Ngài trọn đời của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và bây giờ, con - một đứa trẻ - sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Chí Cao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì con sẽ đi trước Chúa, để chuẩn bị những con đường cho Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Để ban sự hiểu biết về sự cứu rỗi cho dân của Ngài, qua sự tha thứ tội lỗi của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhờ sự nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời của chúng ta, mà ánh dương từ trên cao sẽ thăm viếng chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Để soi sáng cho những người đang ngồi trong nơi tối tăm và trong bóng của sự chết, để hướng dẫn những bước chân của chúng ta vào đường lối an bình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đứa trẻ lớn lên, tâm linh mạnh mẽ, và sống trong những nơi hoang vắng cho đến ngày xuất hiện với dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời mở đầu'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Do có nhiều người đã cố gắng biên soạn một bản ký thuật về những việc đã xảy ra ở giữa chúng ta, 2. đúng theo như những điều đã được truyền đạt cho chúng ta từ những nhân chứng đầu tiên và những người phục vụ Ngôi Lời; 3. vì vậy, sau khi đã cẩn thận tra cứu mọi việc từ đầu – Thưa ngài Thê-ô-phi-lơ kính mến - tôi thiết tưởng cũng nên theo thứ tự mà viết cho ngài, 4. để ngài có thể biết những điều mình đã được hướng dẫn là chắc chắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời tiên tri về sự ra đời của Giăng Báp-tít'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Vào thời Hê-rốt làm vua xứ Giu-đê, có một tư tế thuộc phân ban A-bi-gia, tên là Xa-cha-ri; vợ là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi của A-rôn. 6. Cả hai đều là người công chính trước mặt Đức Chúa Trời, bước đi trong mọi điều răn và lễ nghi của Chúa không hề khiếm khuyết. 7. Tuy nhiên họ không có con, bởi vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn và cả hai đều đã cao tuổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Và rồi, để làm trọn trách nhiệm phục vụ tế lễ theo thứ tự của ban mình trước mặt Đức Chúa Trời. 9. theo thông lệ của các tư tế, ông đã bắt thăm, và trúng phần dâng hương trong đền thờ của Chúa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Trong giờ dâng hương, tất cả đoàn dân cầu nguyện ở bên ngoài. 11. Một thiên sứ của Chúa hiện đến với ông, đứng ngay bên phải của bàn thờ dâng hương. 12. Nhìn thấy thiên sứ, Xa-cha-ri bối rối, sự kinh hãi bao phủ ông. 13. Sau đó, thiên sứ nói với ông:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Xa-cha-ri, đừng sợ! Bởi vì lời cầu nguyện của ngươi đã được lắng nghe. Ê-li-sa-bét, vợ của ngươi, sẽ sinh cho ngươi một con trai; và ngươi hãy đặt tên cho nó là Giăng. 14. Nó sẽ là niềm vui và sự hân hoan cho ngươi, và nhiều người sẽ vui mừng khi đứa trẻ được sinh ra. 15. Bởi vì nó sẽ được tôn trọng ở trước mặt Chúa; nó sẽ không uống rượu nho hay rượu mạnh, và nó sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ của nó. 16. Nó sẽ đem nhiều người Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ; 17. và nó sẽ đi trước Chúa với tinh thần và quyền năng của Ê-li, hướng lòng của những người cha trở về với các con, và kẻ bội nghịch sẽ trở về với sự khôn ngoan của người công chính, để chuẩn bị một dân tộc sẵn sàng cho Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Nhưng Xa-cha-ri nói với thiên sứ: “Nhờ điều gì mà tôi biết có việc nầy? Bởi vì tôi đã già, và vợ tôi đã cao tuổi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Thiên sứ trả lời và nói cùng ông: “Ta là Gáp-ri-ên, là đấng đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Ta được sai đến để nói với ngươi và mang những tin vui nầy cho ngươi. 20. Nầy, ngươi sẽ bị câm, không thể nói được cho đến ngày những điều đó xảy ra, bởi vì ngươi đã không tin những lời của ta, là những lời sẽ được ứng nghiệm theo kỳ định của chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Dân chúng đang chờ đợi Xa-cha-ri; và họ ngạc nhiên bởi vì ông ở lâu trong đền thờ. 22. Sau đó, ông đã đi ra nhưng không nói được với họ, và họ nhận biết rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thờ. Ông đã ra dấu cho họ, bởi vì vẫn còn bị câm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Và rồi, khi những ngày phục vụ của ông đã mãn, ông trở về nhà của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Sau những ngày đó, vợ của ông là Ê-li-sa-bét mang thai, và bà đã ẩn mình trong năm tháng, và nói: 25. “Thật vậy, đây là việc Chúa đã làm cho tôi. Trong những ngày nầy, Ngài đã đoái đến tôi, và cất đi sự hổ nhục của tôi ở giữa mọi người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thiên sứ báo tin cho Ma-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Và rồi đến tháng thứ sáu, thiên sứ Gáp-ri-ên được Đức Chúa Trời sai đến một thị trấn tại Ga-li-lê, gọi là Na-xa-rét, 27. đến cùng một trinh nữ đã đính hôn với một người nam, tên là Giô-sép, thuộc dòng Đa-vít; và tên của trinh nữ là Ma-ri.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Đến gặp cô, người đã nói: “Chào người được ơn! Chúa ở cùng cô!” 29. Ma-ri  bối rối về lời công bố nầy, và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30. Thiên sứ nói cùng cô: “Ma-ri! Đừng sợ, bởi vì cô đã được ơn của Đức Chúa Trời. 31. Nầy, cô sẽ thụ thai, và sẽ sinh một con trai, rồi cô sẽ đặt tên Ngài là Jesus. 32. Ngài sẽ rất cao trọng, và sẽ được gọi là Con của Đấng Chí Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít của tổ phụ Ngài. 33. Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời; vương quốc của Ngài sẽ bất tận.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34. Sau đó Ma-ri nói với thiên sứ: “Làm sao việc này có thể xảy ra, bởi vì tôi chưa hề biết một người nam nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35. Thiên sứ trả lời và nói với nàng: “Đức Thánh Linh sẽ ngự trên cô, và quyền năng của Đấng Chí Cao sẽ che phủ cô; cho nên Đấng Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con của Đức Chúa Trời. 36. Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con của cô, cũng đã mang thai một con trai trong lúc tuổi già. Bà được gọi là người hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi. 37. Bởi vì không có việc gì Đức Chúa Trời không làm được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38. Sau đó Ma-ri nói: “Tôi đây là tớ gái của Chúa. Nguyện xin điều đó xảy ra cho tôi theo như lời của ngài.” Và rồi thiên sứ rời khỏi nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ma-ri viếng thăm Ê-li-sa-bét'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39. Sau những ngày đó, Ma-ri chỗi dậy, vội vàng đi về miền núi, đến một thị trấn của Giu-đa, 40. vào trong nhà của Xa-cha-ri, và chào Ê-li-sa-bét.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
41. Khi Ê-li-sa-bét nghe tiếng Ma-ri chào, thai nhi trong bụng của bà liền nhảy lên. Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Đức Thánh Linh; 42. bà nói lớn tiếng rằng: “Cô là người được phước ở giữa những phụ nữ; bông trái trong dạ của cô cũng được phước! 43. Nhờ đâu mà tôi được vinh hạnh này, đó là mẹ của Chúa của tôi đã đến thăm tôi? 44. Bởi vì kìa, khi tai của tôi vừa nghe tiếng cô chào, thì thai nhi trong bụng của tôi liền nhảy mừng. 45. Phước cho người đã tin rằng những điều từ Chúa đã phán cho mình sẽ được ứng nghiệm”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bài ca của Ma-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46. Ma-ri nói: “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa, 47. tâm linh tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
48. Vì Ngài đã đoái đến thân phận hèn hạ của tớ gái của Ngài. Vì từ nay về sau, mọi thế hệ sẽ gọi tôi là người có phước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
49. Bởi vì Đấng Toàn Năng đã làm những việc diệu kỳ cho tôi. Danh Ngài là thánh! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50. Từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, sự thương xót của Ngài dành cho những người kính sợ Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
51. Ngài đã thể hiện quyền năng với tay của Ngài; và Ngài đã làm tan tác những kẻ có tư tưởng kiêu ngạo trong lòng của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
52. Ngài đã truất phế những kẻ thống trị khỏi ngôi, và cất nhắc những người khiêm nhường lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
53. Ngài đã làm cho người đói được đầy thức ngon, và đuổi kẻ giàu đi không còn gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
54. Ngài đã giúp Y-sơ-ra-ên, là đầy tớ của Ngài, và nhớ lại sự thương xót của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
55. Như Ngài đã phán với tổ phụ chúng ta, với Áp-ra-ham và dòng dõi của người đến muôn đời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
56. Ma-ri ở lại với bà khoảng ba tháng, rồi trở về nhà của nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giăng Báp-tít ra đời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
57. Bây giờ Ê-li-sa-bét đã đủ thời hạn để sinh, bà đã sinh một con trai. 58. Láng giềng và bà con, nghe tin Chúa đã tỏ lòng thương xót lớn lao với bà, đã chung vui với bà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
59. Đến ngày thứ tám, họ đến để cắt bì cho đứa trẻ và đặt tên nó là Xa-cha-ri, theo tên cha của nó. 60. Nhưng mẹ của nó nói rằng: “Không! Nó phải được gọi là Giăng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
61. Họ nói với bà: “Trong thân tộc của bà, không ai có tên này.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
62. Sau đó, họ ra dấu cho người cha của nó, hỏi ông muốn đặt tên nó là gì. 63. Ông bảo lấy một tấm bảng nhỏ, rồi viết rằng: “Tên của nó là Giăng.” Tất cả đều kinh ngạc. 64. Ngay lập tức, miệng của ông mở ra, rồi đến lưỡi của ông, và ông nói lời chúc tụng Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
65. Sự kinh hãi đổ xuống trên tất cả những người ở chung quanh đó, và mọi người đã bàn tán về những điều nầy khắp vùng đồi núi của Giu-đê. 66. Mọi người đã nghe những điều đó, đều đặt để chúng trong lòng của họ, và nói: “Đứa trẻ nầy về sau sẽ thế nào? Bởi vì tay của Chúa đã ở cùng nó.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bài ca của Xa-cha-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
67. Xa-cha-ri, cha của đứa trẻ, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, nói tiên tri rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
68. “Tôn ngợi Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, bởi vì Ngài đã thăm viếng và cứu chuộc dân của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
69. Ngài đã dấy lên một sừng cứu rỗi cho chúng ta, trong nhà Đa-vít, là đầy tớ của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
70. Như Ngài đã phán qua miệng các tiên tri thánh của Ngài từ thuở xưa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
71. Ngài giải cứu chúng ta khỏi những kẻ thù của chúng ta, và khỏi tay mọi người ghen ghét chúng ta;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
72. Ngài tỏ lòng thương xót với tổ tiên của chúng ta, và nhớ lại giao ước thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
73. Là lời hứa mà Ngài đã thề với Áp-ra-ham, tổ phụ của chúng ta, để ban cho chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
74. Chúng ta được giải cứu khỏi tay những kẻ thù, để phục vụ Ngài không chút sợ hãi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
75. Trong sự thánh khiết và sự công chính tại trước mặt Ngài trọn đời của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
76. Và bây giờ, con - một đứa trẻ - sẽ được gọi là tiên tri của Đấng Chí Cao;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì con sẽ đi trước Chúa, để chuẩn bị những con đường cho Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
77. Để ban sự hiểu biết về sự cứu rỗi cho dân của Ngài, qua sự tha thứ tội lỗi của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
78. Nhờ sự nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời chúng ta, mà ánh dương từ trên cao sẽ thăm viếng chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
79. Để soi sáng cho những người đang ngồi trong nơi tối tăm và trong bóng của sự chết, để hướng dẫn những bước chân của chúng ta vào đường lối an bình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
80. Đứa trẻ lớn lên, tâm linh mạnh mẽ, và sống trong những nơi hoang vắng cho đến ngày xuất hiện của mình cho dân Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Hỡi Thê-ô-phi-lơ quí nhân, vì có nhiều kẻ dốc lòng chép sử về những sự đã làm nên trong chúng ta, 2.  theo như các người chứng kiến từ lúc ban đầu và trở nên người giảng đạo đã truyền lại cho chúng ta, 3.  vậy, sau khi đã xét kỹ càng từ đầu mọi sự ấy, tôi cũng tưởng nên theo thứ tự viết mà tỏ ra cho ông, 4.  để ông biết những điều mình đã học là chắc chắn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Trong đời Hê-rốt, vua nước Giu-đê, có một thầy tế lễ, về ban A-bi-a, tên là Xa-cha-ri; vợ người là Ê-li-sa-bét, thuộc về chi phái A-rôn. 6.  Cả hai đều là công bình trước mặt Đức Chúa Trời, vâng giữ mọi điều răn và lễ nghi của Chúa một cách không chỗ trách được. 7.  Hai người không có con, vì Ê-li-sa-bét son sẻ, và cả hai đều cao tuổi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vả, Xa-cha-ri cứ theo thứ tự trong ban mình mà làm chức tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời. 9.  Khi đã bắt thăm theo lệ các thầy cả lập ra rồi, thì người được gọi vào nơi thánh của Chúa để dâng hương. 10.  Đang giờ dâng hương, cả đoàn dân đông đều ở ngoài cầu nguyện. 11.  Bấy giờ có một thiên sứ của Chúa hiện ra cùng Xa-cha-ri, đứng bên hữu bàn thờ xông hương. 12.  Xa-cha-ri thấy thì bối rối sợ hãi. 13.  Nhưng thiên sứ nói cùng người rằng: Hỡi Xa-cha-ri, đừng sợ, vì lời cầu nguyện ngươi đã được nhậm rồi. Ê-li-sa-bét vợ ngươi, sẽ sanh một con trai, ngươi khá đặt tên là Giăng. 14.  Con trai đó sẽ làm cho ngươi vui mừng hớn hở, và nhiều kẻ sẽ mừng rỡ về sự sanh người ra. 15.  Vì người sẽ nên tôn trọng trước mặt Chúa; không uống rượu hay là giống gì làm cho say, và sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ. 16.  Người sẽ làm cho nhiều con trai Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ; 17.  chính người lại sẽ lấy tâm thần quyền phép Ê-li mà đi trước mặt Chúa, để đem lòng cha trở về con cái, kẻ loạn nghịch đến sự khôn ngoan của người công bình, đặng sửa soạn cho Chúa một dân sẵn lòng. 18.  Xa-cha-ri thưa rằng: Bởi sao tôi biết được điều đó? Vì tôi đã già, vợ tôi đã cao tuổi rồi. 19.  Thiên sứ trả lời rằng: Ta là Gáp-ri-ên, đứng trước mặt Đức Chúa Trời; Ngài đã sai ta đến truyền cho ngươi và báo tin mừng nầy. 20.  Nầy, ngươi sẽ câm, không nói được cho đến ngày nào các điều ấy xảy ra, vì ngươi không tin lời ta, là lời đến kỳ sẽ ứng nghiệm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Bấy giờ, dân chúng đợi Xa-cha-ri, và lấy làm lạ, vì người ở lâu trong nơi thánh. 22.  Khi Xa-cha-ri ra, không nói với chúng được, thì họ mới hiểu rằng người đã thấy sự hiện thấy gì trong đền thánh; người ra dấu cho họ, mà vẫn còn câm. 23.  Khi những ngày về phần việc mình đã trọn, người trở về nhà. 24.  Khỏi ít lâu, vợ người là Ê-li-sa-bét chịu thai, ẩn mình đi trong năm tháng, mà nói rằng: 25.  Ấy là ơn Chúa đã làm cho tôi, khi Ngài đã đoái đến tôi, để cất sự xấu hổ tôi giữa mọi người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Đến tháng thứ sáu, Đức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến thành Na-xa- rét, xứ Ga-li-lê, 27.  tới cùng một người nữ đồng trinh tên là Ma-ri, đã hứa gả cho một người nam tên là Giô-sép, về dòng vua Đa-vít. 28.  Thiên sứ vào chỗ người nữ ở, nói rằng: Hỡi người được ơn, mừng cho ngươi; Chúa ở cùng ngươi. 29.  Ma-ri nghe nói thì bối rối, tự hỏi rằng lời chào ấy có nghĩa gì. 30.  Thiên-sứ bèn nói rằng: Hỡi Ma-ri, đừng sợ, vì ngươi đã được ơn trước mặt Đức Chúa Trời. 31.  Nầy, ngươi sẽ chịu thai và sanh một con trai mà đặt tên là Jêsus. 32.  Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài. 33.  Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng. 34.  Ma-ri bèn thưa rằng: Tôi chẳng hề nhận biết người nam nào, thì làm sao có được sự đó? 35.  Thiên sứ truyền rằng: Đức Thánh Linh sẽ đến trên ngươi, và quyền phép Đấng Rất Cao sẽ che phủ ngươi dưới bóng mình, cho nên con thánh sanh ra, phải xưng là Con Đức Chúa Trời. 36.  Kìa, Ê-li-sa-bét, bà con ngươi, cũng đã chịu thai một trai trong lúc già nua; người ấy vốn có tiếng là son, mà nay cưu mang được sáu tháng rồi. 37.  Bởi vì không việc chi Đức Chúa Trời chẳng làm được. 38.  Ma-ri thưa rằng: Tôi đây là tôi tớ Chúa; xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền! Đoạn thiên sứ lìa khỏi Ma-ri. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39.  Trong những ngày đó, Ma-ri chờ dậy, lật đật đi trong miền núi, đến một thành về xứ Giu-đa, 40.  vào nhà Xa-cha-ri mà chào Ê-li-sa-bét. 41.  Vả, Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng Ma-ri chào, con nhỏ ở trong lòng liền nhảy nhót; và Ê-li-sa-bét được đầy Đức Thánh Linh, 42.  bèn cất tiếng kêu rằng: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngươi có phước trong đám đàn bà, thai trong lòng ngươi cũng được phước. 43.  Nhân đâu ta được sự vẻ vang nầy, là mẹ Chúa ta đến thăm ta? 44.  Bởi vì tai ta mới nghe tiếng ngươi chào, thì con nhỏ ở trong lòng ta liền nhảy mừng. 45.  Phước cho người đã tin, vì lời Chúa truyền cho sẽ được ứng nghiệm! 46.  Ma-ri bèn nói rằng: Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, 47.  Tâm thần tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa tôi. 48.  Vì Ngài đã đoái đến sự hèn hạ của tôi tớ Ngài. Nầy, từ rày về sau, muôn đời sẽ khen tôi là kẻ có phước; 49.  Bởi Đấng Toàn Năng đã làm các việc lớn cho tôi. Danh Ngài là thánh, 50.  Và Ngài thương xót kẻ kính sợ Ngài từ đời nầy sang đời kia. 51.  Ngài đã dùng cánh tay mình để tỏ ra quyền phép; Và phá tan mưu của kẻ kiêu ngạo toan trong lòng. 52.  Ngài đã cách người có quyền khỏi ngôi họ, Và nhắc kẻ khiêm nhượng lên. 53.  Ngài đã làm cho kẻ đói được đầy thức ngon, Và đuổi kẻ giàu về tay không. 54.  Ngài đã vùa giúp Y-sơ-ra-ên, tôi tớ Ngài, Và nhớ lại sự thương xót mình. Đối với Áp-ra-ham cùng con cháu người luôn luôn, 55.  Như Ngài đã phán cùng tổ phụ chúng ta vậy. 56.  Ma-ri ở với Ê-li-sa-bét chừng ba tháng, rồi trở về nhà mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
57.  Bấy giờ, đến ngày mãn nguyệt, Ê-li-sa-bét sanh được một trai. 58.  Xóm riềng bà con nghe Chúa tỏ ra sự thương xót cả thể cho Ê-li-sa-bét, thì chia vui cùng người. 59.  Qua ngày thứ tám, họ đều đến để làm lễ cắt bì cho con trẻ; và đặt tên là Xa-cha-ri theo tên của cha. 60.  Nhưng mẹ nói rằng: Không! phải đặt tên con là Giăng. 61.  Họ nói: Trong bà con ngươi không ai có tên đó. 62.  Họ bèn ra dấu hỏi cha muốn đặt tên gì cho con. 63.  Xa-cha-ri biểu lấy bảng nhỏ, và viết rằng: Giăng là tên nó. Ai nấy đều lấy làm lạ. 64.  Tức thì miệng người mở ra, lưỡi được thong thả, nói và ngợi khen Đức Chúa Trời. 65.  Hết thảy xóm giềng đều kinh sợ, và người ta nói chuyện với nhau về mọi sự ấy khắp miền núi xứ Giu-đê. 66.  Ai nghe cũng ghi vào lòng mà nói rằng: Ấy vậy, con trẻ đó sẽ ra thể nào? Vì tay Chúa ở cùng con trẻ ấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
67.  Bấy giờ, Xa-cha-ri, cha con trẻ ấy, được đầy dẫy Đức Thánh Linh, thì nói tiên tri rằng: 68.  Ngợi khen Chúa, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Vì đã thăm viếng và chuộc dân Ngài, 69.  Cùng sanh ra cho chúng tôi trong nhà Đa-vít, tôi tớ Ngài, Một Đấng Cứu thế có quyền phép! 70.  Như lời Ngài đã dùng miệng các thánh tiên tri phán từ thuở trước, 71.  Ngài cứu chúng tôi khỏi kẻ thù và tay mọi người ghen ghét chúng tôi; 72.  Ngài tỏ lòng thương xót đến tổ tông chúng tôi, Và nhớ lại lời giao ước thánh của Ngài, 73.  Theo như Ngài đã thề với Áp-ra-ham là tổ phụ chúng tôi, 74.  Mà hứa rằng khi chúng tôi đã được cứu khỏi tay kẻ nghịch thù, Ngài sẽ ban ơn lành cho chúng tôi, trước mặt Ngài, 75.  Lấy sự thánh khiết và công bình mà hầu việc Ngài, trọn đời mình không sợ hãi gì hết. 76.  Hỡi con trẻ, người ta sẽ kêu con là tiên tri của Đấng Rất Cao; Con sẽ đi trước mặt Chúa, dọn đường Ngài, 77.  Để cho dân Ngài bởi sự tha tội họ mà biết sự rỗi. 78.  Vì Đức Chúa Trời chúng tôi động lòng thương xót, Và mặt trời mọc lên từ nơi cao thăm viếng chúng tôi, 79.  Để soi những kẻ ngồi chỗ tối tăm và trong bóng sự chết, Cùng đưa chân chúng tôi đi đường bình an. 80.  Vả, con trẻ ấy lớn lên, tâm thần mạnh mẽ, ở nơi đồng vắng cho đến ngày tỏ mình ra cùng dân Y-sơ-ra-ên. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B42\V02B42C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Ngỏ đến Thê-ô-phi-lơ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vì có nhiều người đã cố gắng ghi lại những việc được thực hiện giữa chúng ta, 2 như lời những người đã chứng kiến từ ban đầu và những người đã trở thành tôi tớ của đạo Chúa truyền lại cho chúng ta, 3 nên sau khi tra cứu cẩn thận mọi việc từ đầu, tôi thiết tưởng cũng nên ghi lại một cách thứ tự cho ngài, thưa ngài Thê-ô-phi-lơ rất kính mến, 4 để ngài có thể biết cách xác thật về đạo mà ngài đã được dạy.    &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''THỜI THƠ ẤU VÀ ẨN DẬT CỦA GIĂNG BÁP-TÍT VÀ ÐỨC CHÚA JESUS'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(1:5-2:52)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Báo Tin Giăng Báp-tít Sinh Ra'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Trong thời Vua Hê-rốt xứ Giu-đê, có một tư tế tên là Xa-cha-ri, thuộc dòng tư tế A-bi-gia.  Vợ ông tên là Ê-li-sa-bét, thuộc dòng dõi A-rôn.  6 Cả hai vợ chồng là người công chính trước mặt Ðức Chúa Trời, vâng giữ các điều răn và mạng lịnh của Chúa không chỗ nào chê trách được.  7 Nhưng hai người không có con, vì Ê-li-sa-bét hiếm muộn, và hai người đã cao tuổi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Một ngày kia Xa-cha-ri thi hành chức vụ tư tế trước mặt Ðức Chúa Trời theo phiên thứ của ông; 9 ông được trúng thăm theo thông lệ của các tư tế lúc bấy giờ để vào dâng hương trong đền thánh của Chúa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Ðúng vào giờ dâng hương, trong khi hội chúng đang cầu nguyện bên ngoài, 11 một thiên sứ của Chúa hiện ra với ông và đứng bên phải của bàn thờ dâng hương.  12 Khi Xa-cha-ri thấy vị thiên sứ, ông hoảng sợ và nỗi kinh hoàng phủ lấy ông.  13 Nhưng vị thiên sứ nói với ông, “Hỡi Xa-cha-ri, đừng sợ, vì lời cầu nguyện của ngươi đã được nhậm.  Ê-li-sa-bét vợ ngươi sẽ sinh cho ngươi một con trai, và ngươi sẽ đặt tên con trai đó là Giăng.  14 Ðứa con ấy sẽ là niềm vui hớn hở cho ngươi.  Nhiều người sẽ hoan hỉ khi nó chào đời, 15 vì nó sẽ thành một vĩ nhân trước mặt Chúa.  Nó sẽ không được uống rượu hay thức uống gì làm cho say.  Nó sẽ được đầy dẫy Ðức Thánh Linh từ khi còn trong lòng mẹ.  16 Nó sẽ làm cho nhiều người I-sơ-ra-ên quay về với Chúa, Ðức Chúa Trời của họ.  17 Nó sẽ đi trước mặt Chúa với tinh thần và quyền năng của Ê-li.  Nó sẽ làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, và những kẻ bội nghịch sẽ vâng theo sự khôn ngoan của người công chính, để chuẩn bị một dân sẵn sàng cho Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Xa-cha-ri thưa với thiên sứ, “Làm sao tôi biết việc này sẽ xảy ra, vì tôi đã già, còn vợ tôi lại cao tuổi?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Vị thiên sứ trả lời và nói với ông, “Ta là Gáp-ri-ên, đứng hầu trước mặt Ðức Chúa Trời, và ta được sai đến để nói với ngươi và báo cho ngươi tin mừng này.  20 Này, ngươi sẽ bị câm và không nói được cho đến ngày những điều ấy xảy ra, bởi vì ngươi không tin những lời ta, những lời sẽ xảy ra đúng kỳ đã định cho chúng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Trong khi đó dân chúng bên ngoài trông đợi Xa-cha-ri; họ hoang mang lo lắng vì ông ở trong đền thánh quá lâu.  22 Khi thấy ông trở ra và không thể nói được với họ, họ nhận biết rằng ông đã thấy một khải tượng trong đền thánh.  Ông cứ ra dấu với họ và không thể nói được.  23 Khi thời kỳ phục vụ của ông mãn, ông trở về nhà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Sau những ngày đó, bà Ê-li-sa-bét vợ ông thụ thai; bà sống ẩn dật trong năm tháng.  Bà nói, 25 “Ðây là điều Chúa đã làm cho tôi khi Ngài làm ơn cho tôi, Ngài đã cất khỏi tôi nỗi tủi hổ giữa người đời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thiên Sứ Báo Tin Chúa Giáng Sinh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Vào tháng thứ sáu, Ðức Chúa Trời sai thiên sứ Gáp-ri-ên đến Thành Na-xa-rét, miền Ga-li-lê, 27 gặp một trinh nữ đã đính hôn với một thanh niên tên là Giô-sép, thuộc dòng Vua Ða-vít.  Trinh nữ ấy tên là Ma-ry.  28 Thiên sứ đến gặp nàng và nói, “Hỡi người được ơn, chúc mừng cô, Chúa ở cùng cô.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29 Nghe như thế Ma-ry bối rối và tự hỏi lời chào ấy có nghĩa gì.  30 Thiên sứ nói với nàng, “Hỡi Ma-ry, đừng sợ, vì cô đã được ơn trước mặt Ðức Chúa Trời.  31 Này, cô sẽ có thai, sinh một con trai, và cô sẽ đặt tên con trai ấy là Jesus.  32 Con trai ấy sẽ thành một vĩ nhân và sẽ được gọi là Con của Ðấng Tối Cao.  Chúa, Ðức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngai của Ða-vít tổ phụ Ngài.  33 Ngài sẽ trị vì nhà Gia-cốp đời đời.  Vương quốc Ngài sẽ trường tồn bất tận.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34 Ma-ry thưa với thiên sứ, “Làm sao việc ấy có thể xảy ra được, vì tôi chưa hề biết một người nam nào?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 Thiên sứ trả lời và nói với nàng, “Ðức Thánh Linh sẽ ngự xuống trên cô, và quyền năng của Ðấng Tối Cao sẽ bao phủ cô.  Vì thế Con Thánh sinh ra sẽ được gọi là Con Ðức Chúa Trời.  36 Kìa Ê-li-sa-bét, bà con của cô, đang mang thai một trai trong tuổi già nua.  Bà ấy vốn có tiếng là hiếm muộn mà nay đã mang thai được sáu tháng rồi, 37 bởi vì không việc chi Ðức Chúa Trời chẳng làm được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38 Ma-ry thưa, “Tôi đây là tớ gái của Chúa, xin việc ấy xảy ra cho tôi như lời ngài truyền.”  Sau đó thiên sứ lìa khỏi Ma-ry.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ma-ry Thăm Ê-li-sa-bét'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39 Trong những ngày ấy Ma-ry đứng dậy và vội vàng đến một thành trong vùng đồi núi xứ Giu-đê, 40 vào nhà của Xa-cha-ri, và chào Ê-li-sa-bét.  41 Vừa khi nghe tiếng chào của Ma-ry, thai nhi trong bụng Ê-li-sa-bét nhảy lên, và Ê-li-sa-bét được đầy dẫy Ðức Thánh Linh.  42 Bà cất tiếng nói lớn, “Cô thật có phước giữa vòng phụ nữ!  Thai nhi trong dạ cô cũng có phước thay!  43 Do đâu mà tôi được vinh dự này, đó là được thân mẫu của Chúa đến thăm tôi?  44 Vì này, vừa khi tai tôi nghe tiếng cô chào, thai nhi trong bụng tôi đã nhảy lên mừng rỡ.  45 Phước thay cho người tin rằng Chúa sẽ làm ứng nghiệm những gì Ngài đã phán với mình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Ca Ngợi của Ma-ry'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46 Bấy giờ Ma-ry nói,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
47 “Linh hồn tôi tôn ngợi Chúa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tâm linh tôi vui mừng trong Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của tôi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
48 Vì Ngài đã đoái đến thân phận hèn hạ của tớ gái Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì từ nay trở đi, muôn đời sẽ khen tôi là người có phước,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
49 Vì Ðấng Toàn Năng đã làm những việc lớn cho tôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Danh Ngài thật thánh thay!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50 Ngài thương xót kẻ kính sợ Ngài từ đời nọ sang đời kia.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
51 Ngài dùng cánh tay Ngài bày tỏ những việc quyền năng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài dẹp tan những kẻ kiêu ngạo tận tư tưởng trong lòng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
52 Ngài hạ bệ những kẻ quyền thế khỏi ngai của họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng Ngài nhấc những người khiêm nhường lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
53 Ngài ban cho người đói được no nê các thức ăn ngon,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đuổi kẻ giàu đi về tay không.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
54 Ngài giúp đỡ I-sơ-ra-ên tôi tớ Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ngài nhớ lại ơn thương xót của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
55 Như Ngài đã phán với các tổ tiên chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với Áp-ra-ham và dòng dõi người mãi mãi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
56 Ma-ry ở lại với Ê-li-sa-bét khoảng ba tháng, rồi trở về nhà nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giăng Báp-tít Sinh Ra'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
57 Ðến kỳ sinh nở, Ê-li-sa-bét sinh một con trai.  58 Những láng giềng và bà con dòng họ của bà nghe Chúa bày tỏ lòng thương xót lớn lao của Ngài đối với bà, họ vui mừng với bà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
59 Ngày thứ tám, họ đến để cắt bì cho đứa bé.  Họ định đặt tên nó là Xa-cha-ri, theo tên của cha nó.  60 Nhưng mẹ nó trả lời và nói, “Không, nó sẽ được gọi là Giăng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
61 Họ nói với bà, “Không người bà con nào của bà có tên ấy cả.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
62 Kế đó họ ra dấu cho cha đứa bé để xem ông muốn đặt tên nó là gì.  63 Ông ra dấu bảo đem cho ông một bảng nhỏ, rồi ông viết trên đó, “Tên nó là Giăng.”  Mọi người đều lấy làm lạ.  64 Thình lình miệng ông mở ra, lưỡi ông được tự do, và ông cất tiếng ca ngợi Ðức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
65 Cả xóm giềng đều phát sợ, và người ta nói về chuyện ấy khắp miền đồi núi xứ Giu-đê.  66 Tất cả những ai nghe chuyện ấy đều nói, “Rồi đây không biết đứa trẻ ấy sẽ ra sao?”  Vì tay Chúa ở cùng nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Tiên Tri của Xa-cha-ri'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
67 Bấy giờ Xa-cha-ri cha đứa bé được đầy dẫy Ðức Thánh Linh và nói tiên tri rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
68 “Chúc tụng Chúa, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ngài đã đoái thăm và cứu chuộc dân Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
69 Ngài đã dấy lên một sừng cứu rỗi cho chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong nhà Ða-vít tôi tớ Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
70 Như Ngài đã phán trước qua miệng các tiên tri thánh của Ngài từ xưa rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
71 Chúng ta sẽ được giải cứu khỏi những kẻ thù của mình,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và khỏi tay những kẻ ghét chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
72 Ngài bày tỏ lòng thương xót đối với tổ tiên chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài nhớ lại giao ước thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
73 Tức lời thề Ngài đã lập với Áp-ra-ham tổ phụ chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể ban cho chúng ta&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
74 Ðược giải thoát khỏi tay những kẻ thù nghịch,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể có thể phụng sự Ngài không chút sợ hãi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
75 Trong sự thánh khiết và công chính,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước mặt Ngài trọn đời chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
76 Còn con, hỡi con thơ, con sẽ được gọi là tiên tri của Ðấng Tối Cao,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì con sẽ đi trước Chúa để dọn đường cho Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
77 Ðể ban tri thức về ơn cứu rỗi cho dân Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Qua sự tha thứ tội lỗi họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
78 Nhờ đức nhân từ thương xót của Ðức Chúa Trời chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mà vầng thái dương mọc lên từ trời sẽ thăm viếng chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
79 Ðể mang ánh sáng đến những kẻ đang ngồi trong tối tăm và bóng tử thần;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể dẫn dắt bàn chân chúng ta vào con đường bình an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
80 Ðứa trẻ càng lớn lên tinh thần càng mạnh mẽ.  Nó cứ sống trong đồng hoang cho đến ngày tỏ mình ra với dân I-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B42\V01B42C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Lu-ca]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Lu-ca: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Sa-mu-%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35774</id>
		<title>I Sa-mu-ên: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Sa-mu-%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35774"/>
		<updated>2026-06-26T06:35:01Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đó, An-ne đã cầu nguyện và thưa rằng: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Lòng con vui mừng trong Đức Giê-hô-va, tiếng kèn của con được trỗi lên nhờ Đức Giê-hô-va, miệng của con tươi cười trước những kẻ thù của con, bởi vì con được vui mừng nhờ sự giải cứu của Ngài. 2. Không ai thánh như Đức Giê-hô-va, không ai giống như Ngài, không ai là vầng đá như Đức Chúa Trời của chúng con. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Đừng nói những lời cao ngạo nữa, đừng để những lời kiêu căng ra từ miệng của các ngươi, bởi vì Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của sự thông biết, Ngài đánh giá mọi hành động. 4. Cây cung của những kẻ hùng mạnh đã bị gãy, còn những người yếu đuối lại được trang bị bằng sức mạnh; 5. những kẻ no đủ nay phải làm mướn mới có ăn, còn những người đói bây giờ không còn đói nữa; và thậm chí những người hiếm muộn thì sinh sản được bảy lần, nhưng kẻ đông con thì lại suy tàn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Đức Giê-hô-va giết, rồi làm cho sống lại; Ngài đưa xuống mồ, rồi lại đem lên. 7. Đức Giê-hô-va làm cho nghèo, làm cho giàu; Ngài hạ xuống thấp và Ngài nâng lên. 8. Ngài nhấc người nghèo lên khỏi bụi đất, nâng người thiếu thốn lên khỏi đống tro, đặt họ giữa những người quyền quý, làm cho họ thừa hưởng ngôi vinh quang; bởi vì những trụ cột của trái đất thuộc về Đức Giê-hô-va, Ngài đặt thế giới ở trên chúng. 9. Ngài gìn giữ chân những người thánh của Ngài, còn những kẻ ác sẽ bị hủy diệt nơi tối tăm; bởi vì không phải nhờ sức mạnh mà người ta được đắc thắng. 10. Những kẻ chống lại Đức Giê-hô-va sẽ bị đập nát tan tành; từ trên trời Ngài sẽ giáng sấm sét trên chúng.  Đức Giê-hô-va sẽ xét xử cho đến tận cùng trái đất, Ngài ban quyền năng cho người Ngài chọn làm vua, và ban uy quyền cho người được Ngài xức dầu.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Ên-ca-na trở về nhà của mình tại Ra-ma, còn đứa trẻ ở lại phục vụ Đức Giê-hô-va dưới sự hướng dẫn của Tư tế Hê-li.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các con trai của Hê-li là những kẻ đồi bại không biết kính sợ Đức Giê-hô-va, 13. cũng không giữ quy định của người làm tư tế đối với dân chúng. Khi có ai dâng sinh tế, lúc thịt còn đang nấu, đầy tớ của tư tế đến, dùng tay cầm chĩa ba, 14. châm vào chảo, nồi, vạc, hoặc niêu, hễ miếng thịt nào dính vào chĩa ba thì người đó lấy cho tư tế. Họ đã làm như vậy tại Si-lô cho tất cả những người Y-sơ-ra-ên đến đó. 15. Hơn nữa, trước khi người ta thiêu mỡ, đầy tớ của  tư tế đến nói với người dâng sinh tế rằng: “Hãy đưa thịt cho tư tế để nướng, vì ông không nhận thịt luộc nhưng chỉ nhận thịt sống mà thôi.” 16. Nếu có ai nói: “Hãy để cho họ dâng  mỡ trước, sau đó ông sẽ lấy bất cứ thứ gì mà lòng ông muốn”, thì hắn trả lời: “Không được! Phải đưa ngay bây giờ, nếu không, ta sẽ dùng vũ lực để lấy!” 17. Tội lỗi của những người đó rất lớn trước mặt Đức Giê-hô-va, bởi vì họ đã khinh thường những lễ vật được dâng cho Đức Giê-hô-va.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Nhưng Sa-mu-ên phục vụ trước mặt Đức Giê-hô-va. Cậu bé mặc một ê-phót bằng vải gai. 19. Năm này qua năm khác, mẹ của cậu may cho cậu một áo choàng nhỏ, rồi đem lên cho cậu khi bà cùng chồng của mình đi lên để dâng sinh tế hằng năm. 20. Hê-li chúc phước cho Ên-ca-na và An-ne rằng: “Cầu xin Đức Giê-hô-va ban cho ngươi có nhiều hậu tự từ phụ nữ nầy để thay thế cho đứa con mà nàng đã cầu xin rồi đem dâng cho Đức Giê-hô-va!”. Sau đó, họ đã trở về nhà của mình. 21. Đức Giê-hô-va đoái xem An-ne. Nàng thụ thai, sinh thêm ba con trai và hai con gái. Còn cậu bé Sa-mu-ên lớn lên trước mặt Đức Giê-hô-va.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Lúc đó Hê-li đã già, ông nghe hết những chuyện các con của ông đã làm cho toàn dân Y-sơ-ra-ên, và chuyện chúng đã ăn nằm với những phụ nữ phục vụ tại cửa Lều Hội Kiến. 23. Ông nói với họ: “Tại sao các con làm những chuyện nầy? Bởi vì cha đã nghe mọi người nói về những chuyện xấu xa của các con. 24. Các con ơi! Không được làm như vậy. Bởi vì không có điều gì tốt lành trong những chuyện mà cha đã nghe. Các con đã làm cho dân của Đức Giê-hô-va vấp phạm. 25. Nếu một người phạm tội với người khác, thì Đức Chúa Trời sẽ phán xét người đó; nhưng nếu một người phạm tội cùng  Đức Giê-hô-va, thì ai sẽ cầu thay cho người đó?” Tuy nhiên, họ không chịu nghe theo lời cha của họ, bởi vì Đức Giê-hô-va muốn giết họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Trong khi đó cậu bé Sa-mu-ên lớn lên, đẹp lòng cả Đức Giê-hô-va và nhiều người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Có một người của Đức Chúa Trời đến gặp Hê-li, nói với ông: “Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Không phải Ta đã hiện ra một cách rõ ràng với nhà của tổ phụ ngươi khi họ còn ở tại Ai Cập dưới triều của Pha-ra-ôn hay sao? 28. Trong tất cả các chi tộc của Y-sơ-ra-ên, không phải Ta đã chọn người để làm tư tế cho Ta, để dâng sinh tế trên bàn thờ của Ta, để đốt hương, để đeo ê-phót và cầu hỏi ý của Ta hay sao? Không phải Ta đã ban cho nhà của tổ phụ ngươi tất cả những tế lễ thiêu của dân Y-sơ-ra-ên hay sao? 29. Như vậy, tại sao các ngươi lại chà đạp trên những sinh tế và lễ vật mà Ta truyền dâng tại nơi ngự của Ta? Ngươi coi trọng các con trai của ngươi hơn Ta. Các ngươi đã nuôi mình cho mập bằng những lễ vật tốt nhất của Y-sơ-ra-ên, là dân của Ta. 30. Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Ta đã từng phán rằng nhà của ngươi và nhà cha của ngươi sẽ bước đi trước mặt Ta đời đời. Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va phán: Điều đó không còn nữa. Bởi vì ai coi trọng Ta sẽ được Ta coi trọng, nhưng ai xem thường Ta sẽ bị xem thường. 31. Kìa, trong những ngày đến, Ta sẽ hủy diệt sức lực của ngươi và sức lực của nhà cha ngươi, để rồi không còn người già trong nhà của ngươi nữa. 32. Ngươi sẽ nhìn thấy chuyện khốn khổ trong nhà của mình. Sẽ có nhiều chuyện tốt đẹp cho Y-sơ-ra-ên, nhưng sẽ không còn một người già nào trong gia đình của ngươi. 33. Còn người nào thuộc về ngươi, mà Ta không truất khỏi bàn thờ của Ta, thì sẽ làm cho lòng của ngươi đau khổ và mắt của ngươi mỏi mòn. Tất cả những người thuộc dòng dõi trong nhà của ngươi sẽ chết vào lúc thanh xuân. 34. Đây là một dấu hiệu cho ngươi: Sẽ có một ngày hai con của ngươi là Hóp-ni và Phi-nê-a, cả hai sẽ chết trong cùng một ngày. 35. Ta sẽ lập lên cho Ta một tư tế trung thành, là người sẽ làm theo lòng của Ta và theo ý của Ta. Ta sẽ xây dựng cho người một gia tộc vững vàng. Người sẽ đi trước mặt đấng được xức dầu của Ta mãi mãi. 36. Và rồi, người nào còn sống sót trong nhà của ngươi sẽ đến quì trước người đó để xin một đồng tiền hoặc một miếng bánh, rồi thưa: Xin hãy cho tôi một chức tế lễ để tôi có một miếng bánh ăn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Bấy giờ An-ne cầu nguyện mà rằng: Đức Giê-hô-va khiến lòng tôi khấp khởi vui mừng, Và đỡ cho mặt tôi ngước lên. Miệng tôi thách đố kẻ thù nghịch tôi; Vì sự chửng cứu Ngài làm cho tôi đầy khoái lạc. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2.  Chẳng ai thánh như Đức Giê-hô-va; Chẳng có Chúa nào khác hơn Ngài! Không có hòn đá nào như Đức Chúa Trời của chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Thôi, chớ nói những lời kiêu ngạo, Chớ để những lời xấc xược ra từ miệng các ngươi nữa; Vì Giê-hô-va là Đức Chúa Trời thông biết mọi điều, Ngài cân nhắc mọi việc làm của người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Cây cung của kẻ dõng sĩ đã gãy, Còn người yếu mòn thắt lưng bằng sức lực. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Kẻ vốn no nê phải làm mướn đặng kiếm ăn, Và người xưa đói đã được no nê, Người đàn bà vốn son sẻ, sanh sản bảy lần, Còn người có nhiều con, ra yếu mỏn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Đức Giê-hô-va khiến cho chết, cho sống; Ngài đem người xuống mồ mả, Rồi khiến lại lên khỏi đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Đức Giê-hô-va làm cho nghèo nàn, và làm cho giàu có; Ngài hạ người xuống, lại nhắc người lên, Đem kẻ khốn cùng ra khỏi bụi đất, Và rút người nghèo khổ ra ngoài đống phân, Đặng để họ ngồi bên các quan trưởng, Cùng ban cho một ngôi vinh hiển làm cơ nghiệp; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vì các trụ của trái đất thuộc về Đức Giê-hô-va: Ngài đã đặt thế gian ở trên đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Đức Giê-hô-va sẽ giữ chân của các thánh Ngài; Còn những kẻ ác sẽ bị hư mất nơi tăm tối; Vì chẳng do sức riêng mình mà người nào được thắng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Kẻ nào chống cãi Đức Giê-hô-va sẽ bị phá tan! Từ trên trời cao, Đức Giê-hô-va sẽ sấm sét cùng chúng nó. Ngài sẽ đoán xét bốn phương của đất, Ban thế lực cho vua Ngài, Và làm cho quyền năng Đấng chịu xức dầu của Ngài ra lớn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Ên-ca-na trở về nhà mình tại Ra-ma, còn đứa trẻ ở lại phục sự Đức Giê-hô-va trước mặt Hê-li, thầy tế lễ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Hai con trai của Hê-li là người gian tà, chẳng nhận biết Đức Giê-hô-va. 13.  Các thầy tế lễ thường đãi dân sự như vầy: Phàm khi có ai dâng của lễ, thì tôi tớ thầy tế lễ đến lúc người ta nấu thịt, tay cầm chĩa ba, 14.  chích vào hoặc trong cái vạc, cái chảo, cái nồi, hay là trong chảo nhỏ. Hễ món nào dính chĩa ba, thì thầy tế lễ bèn lấy. Đó là cách họ đối với hết thảy dân Y-sơ-ra-ên đến Si-lô. 15.  Lại trước khi xông mỡ, kẻ tôi tớ thầy tế lễ cũng đến nói cùng người dâng của lễ rằng: Hãy đưa thịt để nướng cho thầy tế lễ; người không nhậm thịt luộc của ngươi, nhưng chỉ nhậm thịt sống mà thôi. 16.  Ví bằng người đó đáp rằng; Người ta sẽ xông mỡ, kế sau sẽ lấy phần chi đẹp ý ngươi, thì kẻ tôi tớ đó nói: Không; ngươi phải cho tức thì, bằng không, ta sẽ giựt lấy. 17.  Tội lỗi của hai người trai trẻ nầy lấy làm rất lớn trước mặt Đức Giê-hô-va; vì họ gây cho người ta khinh bỉ các của tế lễ dâng cho Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Còn Sa-mu-ên phục sự trước mặt Đức Giê-hô-va. Người hãy còn thơ ấu, thắt lưng một cái ê-phót bằng vải gai. 19.  Mỗi năm, mẹ người may cho một cái áo dài nhỏ, đem ban cho người trong khi lên với chồng đặng dâng của lễ hằng năm. 20.  Hê-li chúc phước cho Ên-ca-na và vợ người, rằng: Cầu xin Đức Giê-hô-va ban cho ngươi những con cái bởi người nữ nầy, để đổi lấy đứa mà nàng đã cầu nơi Đức Giê-hô-va! Vợ chồng bèn trở về nhà mình. 21.  Đức Giê-hô-va đoái xem An-ne: nàng thọ thai và sanh ba con trai và hai con gái, còn gã trai trẻ Sa-mu-ên khôn lớn trước mặt Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  Vả, Hê-li tuổi đã rất cao, được hay mọi điều hai con trai mình làm cho cả Y-sơ-ra-ên và thế nào họ nằm cùng các người nữ hầu việc tại cửa hội mạc. 23.  Người nói cùng chúng nó rằng: Sao chúng bay làm như vậy? Vì ta đã nghe cả dân sự nói về các việc xấu của chúng bay. 24.  Chẳng khá làm như vậy, hỡi con; điều ta nghe về việc bay vốn không tốt lành; bay khiến dân sự của Đức Giê-hô-va phạm tội. 25.  Nếu người này phạm tội cùng người khác, Đức Chúa Trời sẽ đoán xét nó; nhược bằng người phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, ai sẽ cầu thay cho? Song chúng nó không nghe theo lời của cha mình, vì Đức Giê-hô-va toan giết chúng nó. 26.  Còn gã trai trẻ Sa-mu-ên cứ lớn lên, Đức Giê-hô-va và người ta đều lấy làm đẹp lòng người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27.  Có một người của Đức Chúa Trời đến kiếm Hê-li, mà nói rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta há chẳng hiện ra cùng nhà tổ phụ ngươi, khi họ còn ở tại Ê-díp-tô, hầu việc nhà Pha-ra-ôn sao? 28.  Ta đã chọn nhà ấy trong các chi phái Y-sơ-ra-ên, đặng làm thầy tế lễ của ta, dâng của lễ trên bàn thờ ta, xông hương, và mang ê-phót trước mặt ta; ta cũng đã ban cho nhà tổ phụ ngươi các của lễ mà dân Y-sơ-ra-ên dùng lửa dâng lên. 29.  Vì sao các ngươi giày đạp dưới chân những hi sinh và của lễ chay mà ta đã truyền lịnh dâng lên trong đền ta? Ngươi kính trọng các con trai ngươi hơn ta, và các ngươi ăn mập những của lễ tốt nhất của Y-sơ-ra-ên, dân sự ta! 30.  Bởi cớ đó, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Ta có phán rằng nhà ngươi và nhà cha ngươi sẽ đời đời hầu việc trước mặt ta. Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va phán, điều đó chẳng hề được như vậy! Vì phàm ai tôn kính ta, ta sẽ làm cho được tôn trọng, còn ai khinh bỉ ta, tất sẽ bị khinh bỉ lại. 31.  Kìa, thì giờ đến, ta sẽ hủy hại sự mạnh mẽ của người và sự mạnh mẽ của nhà cha ngươi, đến đỗi chẳng còn một người già trong họ hàng ngươi nữa. 32.  Giữa các phước lành mà Đức Giê-hô-va giáng cho Y-sơ-ra-ên, ngươi sẽ thấy nhà ngươi bị bần khổ, và trong họ hàng ngươi sẽ chẳng hề có người già nữa. 33.  Nếu trong nội nhà ngươi có một người mà ta không truất khỏi bàn thờ ta, ấy để làm cho ngươi mỏi mắt rầu lòng; các kẻ nhà ngươi sanh sản sẽ chết lúc xuân xanh. 34.  Điều sẽ xảy đến cho hai con ngươi, là Hóp-ni và Phi-nê-a, sẽ dùng làm dấu hiệu cho ngươi: cả hai đều sẽ chết trong một ngày. 35.  Đoạn, ta sẽ lập cho ta một thầy tế lễ trung tín; người sẽ làm theo lòng ta và ý ta. Ta sẽ cất cho người một nhà vững bền, và người sẽ đi trước mặt Đấng chịu xức dầu của ta luôn luôn. 36.  Ai trong họ hàng ngươi còn sống, sẽ đi đến lạy trước mặt người, hầu cho được một miếng bạc cùng một ổ bánh, và sẽ nói rằng: Xin ông hãy phong cho tôi một chức tế lễ, để tôi được một miếng bánh ăn. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B09\V02B09C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Bài Ca Tụng CHÚA của An-ne'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Bấy giờ bà An-ne dâng lời cầu nguyện và nói:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Lòng con rất vui mừng trong CHÚA;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
CHÚA đã làm cho đầu con ngước lên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Miệng con có thể cười lại đối thủ của con được rồi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi con rất đỗi vui mừng trong ơn cứu rỗi của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Chẳng có Ðấng Thánh nào giống như CHÚA;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật chẳng có ai ngoài ra Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không có Vầng Ðá che chở nào như Ðức Chúa Trời chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Các người đừng hống hách huênh hoang nữa;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Miệng các người đừng thốt ra những lời ngạo mạn nữa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì CHÚA là Ðức Chúa Trời biết hết mọi sự;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài sẽ cân nhắc mọi hành vi cử chỉ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Cây cung của kẻ mạnh đã bị gãy;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Còn người yếu đuối đã được mặc lấy sức mạnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Kẻ no đủ nay phải làm mướn mới có ăn;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người đói khổ bây giờ không còn đói khát;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người hiếm muộn nay sinh năm đẻ bảy; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kẻ đông con lại cằn cỗi héo mòn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 CHÚA làm cho chết và cũng làm cho sống lại;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài cho xuống âm phủ rồi lại đem lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 CHÚA làm cho nghèo và cũng làm cho giàu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài hạ xuống thấp rồi lại nâng lên cao.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Ngài nhấc người nghèo khó lên khỏi nơi bụi đất;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài nâng kẻ bần hàn lên khỏi đống phân tro,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi Ngài đặt họ ngồi chung với những người quyền quý,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Làm cho họ được hưởng ngôi vinh hiển cao sang;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì các trụ cột của địa cầu đều thuộc về CHÚA;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đặt thế giới trên các trụ cột ấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Ngài gìn giữ chân những người thánh của Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phường gian ác phải im miệng nơi tối tăm mù mịt,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì chẳng phải cậy vào sức mạnh mà người ta thắng được.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Những kẻ chống lại CHÚA sẽ bị đập nát tan tành;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ trời cao Ngài giáng sấm sét xuống đầu chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
CHÚA phán xét khắp nơi trên thế giới,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ban quyền năng cho người Ngài chọn làm vua,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và làm tăng uy quyền người được xức dầu của Ngài.”  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Sau đó Ên-ca-na trở về Ra-ma, trong khi đứa trẻ ở lại phụng sự CHÚA dưới sự chăm sóc và dạy dỗ của Tư Tế Hê-li. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tội Lỗi của Các Con Hê-li'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Thuở ấy hai con trai của Hê-li thật là hư đốn.  Chúng không biết kính sợ CHÚA gì cả, 13 và cũng không biết giữ phép tắc của người làm tư tế đối với dân.  Khi ai dâng một con vật hiến tế và lúc thịt còn đang nấu, đầy tớ của tư tế đến, tay cầm chĩa ba, 14 châm vào trong vạc, hoặc chảo, hoặc nồi, hoặc niêu, và hễ miếng thịt nào dính vào chĩa ba thì nó lấy cho tư tế.  Ðó là điều hai người ấy đã làm đối với tất cả những người I-sơ-ra-ên đến tại Si-lô.  15 Ngoài ra trước khi thịt mỡ được đem thiêu dâng, đầy tớ của tư tế đến và nói với người dâng con vật hiến tế, “Ðưa thịt đây để tư tế nướng.  Ông ấy không lấy thịt luộc đâu, mà chỉ lấy thịt sống thôi.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Nếu người kia đáp lại, “Xin hãy để chúng tôi đem thiêu dâng trước đã, rồi sau đó anh muốn lấy gì thì lấy,” thì nó bảo, “Không, phải đưa ngay bây giờ; nếu không, tôi sẽ dùng vũ lực giựt lấy.”  17 Tội của hai thanh niên ấy rất lớn trước mặt CHÚA, vì chúng đã khinh thường các của lễ người ta đem dâng lên CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cậu Bé Sa-mu-ên tại Si-lô'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Sa-mu-ên phục vụ trước mặt CHÚA.  Cậu bé mặc một ê-phót  bằng vải gai.  19 Mỗi năm mẹ cậu may cho cậu một áo choàng nhỏ, rồi đem lên cho cậu khi bà đi với chồng bà đến dâng con vật hiến tế hằng năm.  20 Hê-li chúc phước cho Ên-ca-na và vợ ông rằng, “Cầu xin CHÚA đền bù cho ông bằng những đứa con khác do bà này sinh cho ông, để bù lại đứa con bà đã cho CHÚA mượn.”  Sau đó họ trở về nhà của họ.  21 CHÚA thăm viếng An-ne.  Bà tiếp tục mang thai và sinh được ba con trai và hai con gái nữa.  Còn cậu bé Sa-mu-ên cứ tiếp tục lớn khôn trước mặt CHÚA. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sứ Ðiệp Nghịch Lại Gia Ðình Hê-li'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Bấy giờ Hê-li đã già lắm rồi.  Ông nghe biết tất cả những việc các con ông đã làm đối với mọi người I-sơ-ra-ên, và thể nào chúng đã ăn nằm với các phụ nữ phục vụ tại lối vào của Lều Hội Kiến.  23 Ông nói với chúng, “Tại sao các con làm như vậy?  Vì toàn dân này đã nói cho cha hay những việc đồi bại các con làm.  24 Không, các con ơi, những lời cha nghe dân của CHÚA đồn đãi không phải là những gì tốt đẹp đâu.  25 Nếu một người có tội với một người khác thì có tư tế cầu thay để Đức Chúa Trời phán xét người ấy, nhưng nếu một tư tế phạm tội với CHÚA thì ai sẽ cầu thay cho tư tế ấy đây?”  Nhưng chúng không màng gì đến những lời khuyên răn của cha chúng, vì CHÚA đã định sẽ tiêu diệt chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Trong khi đó cậu bé Sa-mu-ên càng ngày càng lớn, được đẹp lòng CHÚA và người ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Một người của Ðức Chúa Trời đến gặp Hê-li và nói với ông, “CHÚA phán thế này: Chính Ta há đã chẳng hiện ra một cách rõ ràng cho nhà cha ngươi, khi chúng còn làm nô lệ cho Pha-ra-ôn ở Ai-cập hay sao?  28 Ta há đã chẳng chọn tổ tiên ngươi trong tất cả các chi tộc I-sơ-ra-ên để làm tư tế cho Ta, dâng con vật hiến tế trên bàn thờ Ta, dâng hương, và mặc ê-phót ở trước mặt Ta hay sao?  Ta há đã chẳng ban cho nhà cha ngươi tất cả các của lễ mà dân I-sơ-ra-ên dùng lửa dâng lên hay sao?  29 Tại sao ngươi coi thường các con vật hiến tế và các của lễ chay mà Ta đã truyền đem dâng tại nơi Ta ngự, và coi trọng các con trai ngươi hơn Ta, mà làm cho cha con ngươi mập béo bằng những phần tốt nhất trong tất cả các lễ vật của I-sơ-ra-ên dân Ta?  30 Vì thế CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này: Trước kia Ta đã nói nhà ngươi và nhà cha ngươi sẽ vào ra trước mặt Ta đời đời, nhưng bây giờ CHÚA phán: Ðiều đó sẽ không còn nữa, vì hễ ai tôn kính Ta, Ta sẽ tôn trọng người ấy, nhưng ai khinh bỉ Ta, kẻ ấy ắt sẽ bị khinh khi.  31 Này, trong những ngày tới, Ta sẽ dứt bỏ sức lực của ngươi và sức lực của nhà cha ngươi, đến nỗi không ai trong gia đình ngươi sẽ sống đến tuổi già.  32 Rồi đây trong nỗi đau buồn, với cặp mắt thèm thuồng, ngươi sẽ nhìn thấy mọi phước hạnh Ta ban xuống trên I-sơ-ra-ên, mà gia đình ngươi sẽ không bao giờ có người sống đến tuổi già để hưởng.  33 Kẻ nào trong gia đình ngươi nếu không bị Ta loại khỏi bàn thờ của Ta thì sống cũng chỉ để lau những giọt lệ sầu và gánh chịu nỗi đau lòng xót dạ, vì mọi người sinh ra trong gia đình ngươi đều sẽ chết ở tuổi thanh xuân.  34 Ðiều sẽ xảy ra cho hai con trai ngươi, Hóp-ni và Phi-nê-a, sẽ là một dấu hiệu cho ngươi.  Hai đứa ấy sẽ chết cùng một ngày.  35 Rồi Ta sẽ dấy lên cho Ta một tư tế trung thành, một người sẽ làm theo điều lòng Ta và ý Ta muốn.   Ta sẽ xây dựng cho nó một nhà bền vững.  Nó sẽ vào ra trước mặt người được xức dầu của Ta mãi mãi.  36 Kẻ nào còn sót lại trong nhà ngươi sẽ đến sụp lạy trước mặt nó để xin một miếng bạc hay một ổ bánh, và sẽ nói rằng, ‘Xin ngài làm ơn cho tôi một chức tư tế để tôi có bánh ăn.’”   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[II Sa-mu-ên]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên: Chương 1]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên: Chương 3]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Sa-mu-%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35773</id>
		<title>I Sa-mu-ên: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Sa-mu-%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35773"/>
		<updated>2026-06-26T06:23:59Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đó, An-ne đã cầu nguyện và thưa rằng: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Lòng con vui mừng trong Đức Giê-hô-va, tiếng kèn của con được trỗi lên nhờ Đức Giê-hô-va, miệng của con tươi cười trước những kẻ thù của con, bởi vì con được vui mừng nhờ sự giải cứu của Ngài. 2. Không ai thánh như Đức Giê-hô-va, không ai giống như Ngài, không ai là vầng đá như Đức Chúa Trời của chúng con. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Đừng nói những lời cao ngạo nữa, đừng để những lời kiêu căng ra từ miệng của các ngươi, bởi vì Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của sự thông biết, Ngài đánh giá mọi hành động. 4. Cây cung của những kẻ hùng mạnh đã bị gãy, còn những người yếu đuối lại được trang bị bằng sức mạnh; 5. những kẻ no đủ nay phải làm mướn mới có ăn, còn những người đói bây giờ không còn đói nữa; và thậm chí những người hiếm muộn thì sinh sản được bảy lần, nhưng kẻ đông con thì lại suy tàn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Đức Giê-hô-va giết, rồi làm cho sống lại; Ngài đưa xuống mồ, rồi lại đem lên. 7. Đức Giê-hô-va làm cho nghèo, làm cho giàu; Ngài hạ xuống thấp và Ngài nâng lên. 8. Ngài nhấc người nghèo lên khỏi bụi đất, nâng người thiếu thốn lên khỏi đống tro, đặt họ giữa những người quyền quý, làm cho họ thừa hưởng ngôi vinh quang; bởi vì những trụ cột của trái đất thuộc về Đức Giê-hô-va, Ngài đặt thế giới ở trên chúng. 9. Ngài gìn giữ chân những người thánh của Ngài, còn những kẻ ác sẽ bị hủy diệt nơi tối tăm; bởi vì không phải nhờ sức mạnh mà người ta được đắc thắng. 10. Những kẻ chống lại Đức Giê-hô-va sẽ bị đập nát tan tành; từ trên trời Ngài sẽ giáng sấm sét trên chúng.  Đức Giê-hô-va sẽ xét xử cho đến tận cùng trái đất, Ngài ban quyền năng cho người Ngài chọn làm vua, và ban uy quyền cho người được Ngài xức dầu.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Ên-ca-na trở về nhà của mình tại Ra-ma, còn đứa trẻ ở lại phục vụ Đức Giê-hô-va dưới sự hướng dẫn của Tư tế Hê-li.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các con trai của Hê-li là những kẻ đồi bại không biết kính sợ Đức Giê-hô-va, 13. cũng không giữ quy định của người làm tư tế đối với dân chúng. Khi có ai dâng sinh tế, lúc thịt còn đang nấu, đầy tớ của tư tế đến, dùng tay cầm chĩa ba, 14. châm vào chảo, nồi, vạc, hoặc niêu, hễ miếng thịt nào dính vào chĩa ba thì người đó lấy cho tư tế. Họ đã làm như vậy tại Si-lô cho tất cả những người Y-sơ-ra-ên đến đó. 15. Hơn nữa, trước khi người ta thiêu mỡ, đầy tớ của  tư tế đến nói với người dâng sinh tế rằng: “Hãy đưa thịt cho tư tế để nướng, vì ông không nhận thịt luộc nhưng chỉ nhận thịt sống mà thôi.” 16. Nếu có ai nói: “Hãy để cho họ dâng  mỡ trước, sau đó ông sẽ lấy bất cứ thứ gì mà lòng ông muốn”, thì hắn trả lời: “Không được! Phải đưa ngay bây giờ, nếu không, ta sẽ dùng vũ lực để lấy!” 17. Tội lỗi của những người đó rất lớn trước mặt Đức Giê-hô-va, bởi vì họ đã khinh thường những lễ vật được dâng cho Đức Giê-hô-va.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Nhưng Sa-mu-ên phục vụ trước mặt Đức Giê-hô-va. Cậu bé mặc một ê-phót bằng vải gai. 19. Năm này qua năm khác, mẹ của cậu may cho cậu một áo choàng nhỏ, rồi đem lên cho cậu khi bà cùng chồng của mình đi lên để dâng sinh tế hằng năm. 20. Hê-li chúc phước cho Ên-ca-na và An-ne rằng: “Cầu xin Đức Giê-hô-va ban cho ngươi có nhiều hậu tự từ phụ nữ nầy để thay thế cho đứa con mà nàng đã cầu xin rồi đem dâng cho Đức Giê-hô-va!”. Sau đó, họ đã trở về nhà của mình. 21. Đức Giê-hô-va đoái xem An-ne. Nàng thụ thai, sinh thêm ba con trai và hai con gái. Còn cậu bé Sa-mu-ên lớn lên trước mặt Đức Giê-hô-va.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Lúc đó Hê-li đã già, ông nghe hết những chuyện các con của ông đã làm cho toàn dân Y-sơ-ra-ên, và chuyện chúng đã ăn nằm với những phụ nữ phục vụ tại cửa Lều Hội Kiến. 23. Ông nói với họ: “Tại sao các con làm những chuyện nầy? Bởi vì cha đã nghe mọi người nói về những chuyện xấu xa của các con. 24. Các con ơi! Không được làm như vậy. Bởi vì không có điều gì tốt lành trong những chuyện mà cha đã nghe. Các con đã làm cho dân của Đức Giê-hô-va vấp phạm. 25. Nếu một người phạm tội với người khác, thì Đức Chúa Trời sẽ phán xét người đó; nhưng nếu một người phạm tội cùng  Đức Giê-hô-va, thì ai sẽ cầu thay cho người đó?” Tuy nhiên, họ không chịu nghe theo lời cha của họ, bởi vì Đức Giê-hô-va muốn giết họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Trong khi đó cậu bé Sa-mu-ên lớn lên, đẹp lòng cả Đức Giê-hô-va và nhiều người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Có một người của Đức Chúa Trời đến gặp Hê-li, nói với ông: “Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Không phải Ta đã hiện ra một cách rõ ràng với nhà của tổ phụ ngươi khi họ còn ở tại Ai Cập dưới triều của Pha-ra-ôn hay sao? 28. Trong tất cả các chi tộc của Y-sơ-ra-ên, không phải Ta đã chọn người để làm tư tế cho Ta, để dâng sinh tế trên bàn thờ của Ta, để đốt hương, để đeo ê-phót và cầu hỏi ý của Ta hay sao? Không phải Ta đã ban cho nhà của tổ phụ ngươi tất cả những tế lễ thiêu của dân Y-sơ-ra-ên hay sao? 29. Như vậy, tại sao các ngươi lại chà đạp trên những sinh tế và lễ vật mà Ta truyền dâng tại nơi ngự của Ta? Ngươi coi trọng các con trai của ngươi hơn Ta. Các ngươi đã nuôi mình cho mập bằng những lễ vật tốt nhất của Y-sơ-ra-ên, là dân của Ta. 30. Vì vậy, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Ta đã từng phán rằng nhà của ngươi và nhà cha của ngươi sẽ bước đi trước mặt Ta đời đời. Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va phán: Điều đó không còn nữa. Bởi vì ai coi trọng Ta sẽ được Ta coi trọng, nhưng ai xem thường Ta sẽ bị xem thường. 31. Kìa, trong những ngày đến, Ta sẽ hủy diệt sức lực của ngươi và sức lực của nhà cha ngươi, để rồi không còn người già trong nhà của ngươi nữa. 32. Ngươi sẽ nhìn thấy chuyện khốn khổ trong nhà của mình. Sẽ có nhiều chuyện tốt đẹp cho Y-sơ-ra-ên, nhưng sẽ không còn một người già nào trong gia đình của ngươi. 33. Còn người nào thuộc về ngươi, mà Ta không truất khỏi bàn thờ của Ta, thì sẽ làm cho lòng của ngươi đau khổ và mắt của ngươi mỏi mòn. Tất cả những người thuộc dòng dõi trong nhà của ngươi sẽ chết vào lúc thanh xuân. 34. Đây là một dấu hiệu cho ngươi: Sẽ có một ngày hai con của ngươi là Hóp-ni và Phi-nê-a, cả hai sẽ chết trong cùng một ngày. 35. Ta sẽ lập lên cho Ta một tư tế trung thành, là người sẽ làm theo lòng của Ta và theo ý của Ta. Ta sẽ xây dựng cho người một gia tộc vững vàng. Người được xức dầu của Ta sẽ phục vụ trước mặt Ta mãi mãi. 36. Và rồi, người nào còn sống sót trong nhà của ngươi sẽ đến quì trước người đó để xin một đồng tiền hoặc một miếng bánh, rồi thưa: Xin hãy cho tôi một chức tế lễ để tôi có một miếng bánh ăn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Bấy giờ An-ne cầu nguyện mà rằng: Đức Giê-hô-va khiến lòng tôi khấp khởi vui mừng, Và đỡ cho mặt tôi ngước lên. Miệng tôi thách đố kẻ thù nghịch tôi; Vì sự chửng cứu Ngài làm cho tôi đầy khoái lạc. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2.  Chẳng ai thánh như Đức Giê-hô-va; Chẳng có Chúa nào khác hơn Ngài! Không có hòn đá nào như Đức Chúa Trời của chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Thôi, chớ nói những lời kiêu ngạo, Chớ để những lời xấc xược ra từ miệng các ngươi nữa; Vì Giê-hô-va là Đức Chúa Trời thông biết mọi điều, Ngài cân nhắc mọi việc làm của người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Cây cung của kẻ dõng sĩ đã gãy, Còn người yếu mòn thắt lưng bằng sức lực. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Kẻ vốn no nê phải làm mướn đặng kiếm ăn, Và người xưa đói đã được no nê, Người đàn bà vốn son sẻ, sanh sản bảy lần, Còn người có nhiều con, ra yếu mỏn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Đức Giê-hô-va khiến cho chết, cho sống; Ngài đem người xuống mồ mả, Rồi khiến lại lên khỏi đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Đức Giê-hô-va làm cho nghèo nàn, và làm cho giàu có; Ngài hạ người xuống, lại nhắc người lên, Đem kẻ khốn cùng ra khỏi bụi đất, Và rút người nghèo khổ ra ngoài đống phân, Đặng để họ ngồi bên các quan trưởng, Cùng ban cho một ngôi vinh hiển làm cơ nghiệp; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vì các trụ của trái đất thuộc về Đức Giê-hô-va: Ngài đã đặt thế gian ở trên đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Đức Giê-hô-va sẽ giữ chân của các thánh Ngài; Còn những kẻ ác sẽ bị hư mất nơi tăm tối; Vì chẳng do sức riêng mình mà người nào được thắng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Kẻ nào chống cãi Đức Giê-hô-va sẽ bị phá tan! Từ trên trời cao, Đức Giê-hô-va sẽ sấm sét cùng chúng nó. Ngài sẽ đoán xét bốn phương của đất, Ban thế lực cho vua Ngài, Và làm cho quyền năng Đấng chịu xức dầu của Ngài ra lớn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Ên-ca-na trở về nhà mình tại Ra-ma, còn đứa trẻ ở lại phục sự Đức Giê-hô-va trước mặt Hê-li, thầy tế lễ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Hai con trai của Hê-li là người gian tà, chẳng nhận biết Đức Giê-hô-va. 13.  Các thầy tế lễ thường đãi dân sự như vầy: Phàm khi có ai dâng của lễ, thì tôi tớ thầy tế lễ đến lúc người ta nấu thịt, tay cầm chĩa ba, 14.  chích vào hoặc trong cái vạc, cái chảo, cái nồi, hay là trong chảo nhỏ. Hễ món nào dính chĩa ba, thì thầy tế lễ bèn lấy. Đó là cách họ đối với hết thảy dân Y-sơ-ra-ên đến Si-lô. 15.  Lại trước khi xông mỡ, kẻ tôi tớ thầy tế lễ cũng đến nói cùng người dâng của lễ rằng: Hãy đưa thịt để nướng cho thầy tế lễ; người không nhậm thịt luộc của ngươi, nhưng chỉ nhậm thịt sống mà thôi. 16.  Ví bằng người đó đáp rằng; Người ta sẽ xông mỡ, kế sau sẽ lấy phần chi đẹp ý ngươi, thì kẻ tôi tớ đó nói: Không; ngươi phải cho tức thì, bằng không, ta sẽ giựt lấy. 17.  Tội lỗi của hai người trai trẻ nầy lấy làm rất lớn trước mặt Đức Giê-hô-va; vì họ gây cho người ta khinh bỉ các của tế lễ dâng cho Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Còn Sa-mu-ên phục sự trước mặt Đức Giê-hô-va. Người hãy còn thơ ấu, thắt lưng một cái ê-phót bằng vải gai. 19.  Mỗi năm, mẹ người may cho một cái áo dài nhỏ, đem ban cho người trong khi lên với chồng đặng dâng của lễ hằng năm. 20.  Hê-li chúc phước cho Ên-ca-na và vợ người, rằng: Cầu xin Đức Giê-hô-va ban cho ngươi những con cái bởi người nữ nầy, để đổi lấy đứa mà nàng đã cầu nơi Đức Giê-hô-va! Vợ chồng bèn trở về nhà mình. 21.  Đức Giê-hô-va đoái xem An-ne: nàng thọ thai và sanh ba con trai và hai con gái, còn gã trai trẻ Sa-mu-ên khôn lớn trước mặt Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  Vả, Hê-li tuổi đã rất cao, được hay mọi điều hai con trai mình làm cho cả Y-sơ-ra-ên và thế nào họ nằm cùng các người nữ hầu việc tại cửa hội mạc. 23.  Người nói cùng chúng nó rằng: Sao chúng bay làm như vậy? Vì ta đã nghe cả dân sự nói về các việc xấu của chúng bay. 24.  Chẳng khá làm như vậy, hỡi con; điều ta nghe về việc bay vốn không tốt lành; bay khiến dân sự của Đức Giê-hô-va phạm tội. 25.  Nếu người này phạm tội cùng người khác, Đức Chúa Trời sẽ đoán xét nó; nhược bằng người phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, ai sẽ cầu thay cho? Song chúng nó không nghe theo lời của cha mình, vì Đức Giê-hô-va toan giết chúng nó. 26.  Còn gã trai trẻ Sa-mu-ên cứ lớn lên, Đức Giê-hô-va và người ta đều lấy làm đẹp lòng người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27.  Có một người của Đức Chúa Trời đến kiếm Hê-li, mà nói rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta há chẳng hiện ra cùng nhà tổ phụ ngươi, khi họ còn ở tại Ê-díp-tô, hầu việc nhà Pha-ra-ôn sao? 28.  Ta đã chọn nhà ấy trong các chi phái Y-sơ-ra-ên, đặng làm thầy tế lễ của ta, dâng của lễ trên bàn thờ ta, xông hương, và mang ê-phót trước mặt ta; ta cũng đã ban cho nhà tổ phụ ngươi các của lễ mà dân Y-sơ-ra-ên dùng lửa dâng lên. 29.  Vì sao các ngươi giày đạp dưới chân những hi sinh và của lễ chay mà ta đã truyền lịnh dâng lên trong đền ta? Ngươi kính trọng các con trai ngươi hơn ta, và các ngươi ăn mập những của lễ tốt nhất của Y-sơ-ra-ên, dân sự ta! 30.  Bởi cớ đó, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Ta có phán rằng nhà ngươi và nhà cha ngươi sẽ đời đời hầu việc trước mặt ta. Nhưng bây giờ, Đức Giê-hô-va phán, điều đó chẳng hề được như vậy! Vì phàm ai tôn kính ta, ta sẽ làm cho được tôn trọng, còn ai khinh bỉ ta, tất sẽ bị khinh bỉ lại. 31.  Kìa, thì giờ đến, ta sẽ hủy hại sự mạnh mẽ của người và sự mạnh mẽ của nhà cha ngươi, đến đỗi chẳng còn một người già trong họ hàng ngươi nữa. 32.  Giữa các phước lành mà Đức Giê-hô-va giáng cho Y-sơ-ra-ên, ngươi sẽ thấy nhà ngươi bị bần khổ, và trong họ hàng ngươi sẽ chẳng hề có người già nữa. 33.  Nếu trong nội nhà ngươi có một người mà ta không truất khỏi bàn thờ ta, ấy để làm cho ngươi mỏi mắt rầu lòng; các kẻ nhà ngươi sanh sản sẽ chết lúc xuân xanh. 34.  Điều sẽ xảy đến cho hai con ngươi, là Hóp-ni và Phi-nê-a, sẽ dùng làm dấu hiệu cho ngươi: cả hai đều sẽ chết trong một ngày. 35.  Đoạn, ta sẽ lập cho ta một thầy tế lễ trung tín; người sẽ làm theo lòng ta và ý ta. Ta sẽ cất cho người một nhà vững bền, và người sẽ đi trước mặt Đấng chịu xức dầu của ta luôn luôn. 36.  Ai trong họ hàng ngươi còn sống, sẽ đi đến lạy trước mặt người, hầu cho được một miếng bạc cùng một ổ bánh, và sẽ nói rằng: Xin ông hãy phong cho tôi một chức tế lễ, để tôi được một miếng bánh ăn. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B09\V02B09C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Bài Ca Tụng CHÚA của An-ne'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Bấy giờ bà An-ne dâng lời cầu nguyện và nói:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Lòng con rất vui mừng trong CHÚA;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
CHÚA đã làm cho đầu con ngước lên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Miệng con có thể cười lại đối thủ của con được rồi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi con rất đỗi vui mừng trong ơn cứu rỗi của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Chẳng có Ðấng Thánh nào giống như CHÚA;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật chẳng có ai ngoài ra Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không có Vầng Ðá che chở nào như Ðức Chúa Trời chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Các người đừng hống hách huênh hoang nữa;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Miệng các người đừng thốt ra những lời ngạo mạn nữa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì CHÚA là Ðức Chúa Trời biết hết mọi sự;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài sẽ cân nhắc mọi hành vi cử chỉ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Cây cung của kẻ mạnh đã bị gãy;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Còn người yếu đuối đã được mặc lấy sức mạnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Kẻ no đủ nay phải làm mướn mới có ăn;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người đói khổ bây giờ không còn đói khát;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người hiếm muộn nay sinh năm đẻ bảy; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kẻ đông con lại cằn cỗi héo mòn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 CHÚA làm cho chết và cũng làm cho sống lại;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài cho xuống âm phủ rồi lại đem lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 CHÚA làm cho nghèo và cũng làm cho giàu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài hạ xuống thấp rồi lại nâng lên cao.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Ngài nhấc người nghèo khó lên khỏi nơi bụi đất;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài nâng kẻ bần hàn lên khỏi đống phân tro,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi Ngài đặt họ ngồi chung với những người quyền quý,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Làm cho họ được hưởng ngôi vinh hiển cao sang;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì các trụ cột của địa cầu đều thuộc về CHÚA;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đặt thế giới trên các trụ cột ấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Ngài gìn giữ chân những người thánh của Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phường gian ác phải im miệng nơi tối tăm mù mịt,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì chẳng phải cậy vào sức mạnh mà người ta thắng được.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Những kẻ chống lại CHÚA sẽ bị đập nát tan tành;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ trời cao Ngài giáng sấm sét xuống đầu chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
CHÚA phán xét khắp nơi trên thế giới,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ban quyền năng cho người Ngài chọn làm vua,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và làm tăng uy quyền người được xức dầu của Ngài.”  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Sau đó Ên-ca-na trở về Ra-ma, trong khi đứa trẻ ở lại phụng sự CHÚA dưới sự chăm sóc và dạy dỗ của Tư Tế Hê-li. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tội Lỗi của Các Con Hê-li'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Thuở ấy hai con trai của Hê-li thật là hư đốn.  Chúng không biết kính sợ CHÚA gì cả, 13 và cũng không biết giữ phép tắc của người làm tư tế đối với dân.  Khi ai dâng một con vật hiến tế và lúc thịt còn đang nấu, đầy tớ của tư tế đến, tay cầm chĩa ba, 14 châm vào trong vạc, hoặc chảo, hoặc nồi, hoặc niêu, và hễ miếng thịt nào dính vào chĩa ba thì nó lấy cho tư tế.  Ðó là điều hai người ấy đã làm đối với tất cả những người I-sơ-ra-ên đến tại Si-lô.  15 Ngoài ra trước khi thịt mỡ được đem thiêu dâng, đầy tớ của tư tế đến và nói với người dâng con vật hiến tế, “Ðưa thịt đây để tư tế nướng.  Ông ấy không lấy thịt luộc đâu, mà chỉ lấy thịt sống thôi.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Nếu người kia đáp lại, “Xin hãy để chúng tôi đem thiêu dâng trước đã, rồi sau đó anh muốn lấy gì thì lấy,” thì nó bảo, “Không, phải đưa ngay bây giờ; nếu không, tôi sẽ dùng vũ lực giựt lấy.”  17 Tội của hai thanh niên ấy rất lớn trước mặt CHÚA, vì chúng đã khinh thường các của lễ người ta đem dâng lên CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cậu Bé Sa-mu-ên tại Si-lô'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Sa-mu-ên phục vụ trước mặt CHÚA.  Cậu bé mặc một ê-phót  bằng vải gai.  19 Mỗi năm mẹ cậu may cho cậu một áo choàng nhỏ, rồi đem lên cho cậu khi bà đi với chồng bà đến dâng con vật hiến tế hằng năm.  20 Hê-li chúc phước cho Ên-ca-na và vợ ông rằng, “Cầu xin CHÚA đền bù cho ông bằng những đứa con khác do bà này sinh cho ông, để bù lại đứa con bà đã cho CHÚA mượn.”  Sau đó họ trở về nhà của họ.  21 CHÚA thăm viếng An-ne.  Bà tiếp tục mang thai và sinh được ba con trai và hai con gái nữa.  Còn cậu bé Sa-mu-ên cứ tiếp tục lớn khôn trước mặt CHÚA. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sứ Ðiệp Nghịch Lại Gia Ðình Hê-li'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Bấy giờ Hê-li đã già lắm rồi.  Ông nghe biết tất cả những việc các con ông đã làm đối với mọi người I-sơ-ra-ên, và thể nào chúng đã ăn nằm với các phụ nữ phục vụ tại lối vào của Lều Hội Kiến.  23 Ông nói với chúng, “Tại sao các con làm như vậy?  Vì toàn dân này đã nói cho cha hay những việc đồi bại các con làm.  24 Không, các con ơi, những lời cha nghe dân của CHÚA đồn đãi không phải là những gì tốt đẹp đâu.  25 Nếu một người có tội với một người khác thì có tư tế cầu thay để Đức Chúa Trời phán xét người ấy, nhưng nếu một tư tế phạm tội với CHÚA thì ai sẽ cầu thay cho tư tế ấy đây?”  Nhưng chúng không màng gì đến những lời khuyên răn của cha chúng, vì CHÚA đã định sẽ tiêu diệt chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Trong khi đó cậu bé Sa-mu-ên càng ngày càng lớn, được đẹp lòng CHÚA và người ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Một người của Ðức Chúa Trời đến gặp Hê-li và nói với ông, “CHÚA phán thế này: Chính Ta há đã chẳng hiện ra một cách rõ ràng cho nhà cha ngươi, khi chúng còn làm nô lệ cho Pha-ra-ôn ở Ai-cập hay sao?  28 Ta há đã chẳng chọn tổ tiên ngươi trong tất cả các chi tộc I-sơ-ra-ên để làm tư tế cho Ta, dâng con vật hiến tế trên bàn thờ Ta, dâng hương, và mặc ê-phót ở trước mặt Ta hay sao?  Ta há đã chẳng ban cho nhà cha ngươi tất cả các của lễ mà dân I-sơ-ra-ên dùng lửa dâng lên hay sao?  29 Tại sao ngươi coi thường các con vật hiến tế và các của lễ chay mà Ta đã truyền đem dâng tại nơi Ta ngự, và coi trọng các con trai ngươi hơn Ta, mà làm cho cha con ngươi mập béo bằng những phần tốt nhất trong tất cả các lễ vật của I-sơ-ra-ên dân Ta?  30 Vì thế CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này: Trước kia Ta đã nói nhà ngươi và nhà cha ngươi sẽ vào ra trước mặt Ta đời đời, nhưng bây giờ CHÚA phán: Ðiều đó sẽ không còn nữa, vì hễ ai tôn kính Ta, Ta sẽ tôn trọng người ấy, nhưng ai khinh bỉ Ta, kẻ ấy ắt sẽ bị khinh khi.  31 Này, trong những ngày tới, Ta sẽ dứt bỏ sức lực của ngươi và sức lực của nhà cha ngươi, đến nỗi không ai trong gia đình ngươi sẽ sống đến tuổi già.  32 Rồi đây trong nỗi đau buồn, với cặp mắt thèm thuồng, ngươi sẽ nhìn thấy mọi phước hạnh Ta ban xuống trên I-sơ-ra-ên, mà gia đình ngươi sẽ không bao giờ có người sống đến tuổi già để hưởng.  33 Kẻ nào trong gia đình ngươi nếu không bị Ta loại khỏi bàn thờ của Ta thì sống cũng chỉ để lau những giọt lệ sầu và gánh chịu nỗi đau lòng xót dạ, vì mọi người sinh ra trong gia đình ngươi đều sẽ chết ở tuổi thanh xuân.  34 Ðiều sẽ xảy ra cho hai con trai ngươi, Hóp-ni và Phi-nê-a, sẽ là một dấu hiệu cho ngươi.  Hai đứa ấy sẽ chết cùng một ngày.  35 Rồi Ta sẽ dấy lên cho Ta một tư tế trung thành, một người sẽ làm theo điều lòng Ta và ý Ta muốn.   Ta sẽ xây dựng cho nó một nhà bền vững.  Nó sẽ vào ra trước mặt người được xức dầu của Ta mãi mãi.  36 Kẻ nào còn sót lại trong nhà ngươi sẽ đến sụp lạy trước mặt nó để xin một miếng bạc hay một ổ bánh, và sẽ nói rằng, ‘Xin ngài làm ơn cho tôi một chức tư tế để tôi có bánh ăn.’”   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[II Sa-mu-ên]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên: Chương 1]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên: Chương 3]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=L%C3%AA-vi_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_26&amp;diff=35772</id>
		<title>Lê-vi Ký: Chương 26</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=L%C3%AA-vi_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_26&amp;diff=35772"/>
		<updated>2026-06-26T05:56:44Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. &amp;quot;Các ngươi không được làm cho mình những thần tượng; các ngươi cũng không được làm cho mình một hình được chạm trỗ hay một trụ thờ, và cũng không được dựng lên trong xứ một tượng đá để thờ lạy; bởi vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. 2. Các ngươi hãy giữ ngày Sa-bát của Ta và tôn kính Nơi Thánh của Ta. Ta là Đức Giê-hô-va. 3. Nếu các ngươi đi theo những luật lệ của Ta, gìn giữ những điều răn của Ta và làm theo, 4. Ta sẽ ban mưa xuống đúng mùa, đất đai sẽ sinh sản hoa màu, cây cối ngoài đồng sẽ kết quả. 5. Mùa đập lúa chấm dứt thì đến mùa hái nho, mùa hái nho chấm dứt thì đến mùa gieo mạ. Các ngươi sẽ ăn bánh no nê và sống an bình trong xứ của mình. 6. Ta sẽ ban hòa bình trong xứ.  Các ngươi sẽ nằm xuống nghỉ ngơi mà không phải lo sợ điều gì. Ta sẽ loại trừ những thú dữ khỏi xứ của các ngươi, và gươm đao sẽ không đi qua xứ của các ngươi. 7. Các ngươi sẽ rượt đuổi quân thù của mình, chúng sẽ ngã gục trước gươm của các ngươi. 8. Năm người trong các ngươi sẽ rượt đuổi một trăm người, một trăm người trong các ngươi sẽ rượt đuổi mười ngàn người. Quân thù của các ngươi sẽ ngã gục trước gươm của các ngươi. 9. Ta sẽ đoái xem các ngươi, làm cho các ngươi được kết quả và gia tăng, và xác lập giao ước của Ta với các ngươi. 10. Khi các ngươi còn ăn hoa lợi cũ đã được lưu trữ, thì phải dọn chỗ cho hoa lợi mới. 11. Ta sẽ thiết lập Đền Tạm của Ta ở giữa các ngươi, và Ta không ghê tởm các ngươi. 12. Ta sẽ đi giữa các ngươi, làm Đức Chúa Trời của các ngươi, và các ngươi sẽ làm dân của Ta. 13. Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, là Ðấng đã đem các ngươi ra khỏi đất Ai Cập, để các ngươi không còn làm nô lệ cho chúng. Ta đã bẻ cái ách trên cổ của các ngươi để các ngươi có thể đứng thẳng bước đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Tuy nhiên nếu các ngươi không vâng lời Ta, không làm theo tất cả những điều răn nầy, 15. nếu các ngươi khước từ những luật lệ của Ta, linh hồn các ngươi chán ghét những mạng lệnh của Ta, không làm theo tất cả những điều răn của Ta, hủy bỏ giao ước của Ta, 16. thì Ta sẽ sai những điều nầy đến cho các ngươi: Ta sẽ giáng sự kinh hoàng trên các ngươi, dịch bệnh và bệnh sốt sẽ làm cho mắt của các ngươi mỏi mòn, lòng của các ngươi sẽ thảm sầu, các ngươi sẽ gieo giống uổng công vì kẻ thù của các ngươi sẽ ăn chúng. 17. Ta sẽ để mặt Ta chống lại các ngươi. Các ngươi sẽ bị quân thù đánh bại; những kẻ ghét các ngươi sẽ cai trị các ngươi; các ngươi sẽ chạy trốn dù không có ai rượt đuổi các ngươi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Nếu sau những điều nầy, các ngươi vẫn không vâng lời Ta thì Ta sẽ phạt các ngươi gấp bảy lần vì tội lỗi của các ngươi. 19. Ta sẽ bẻ gãy niềm kiêu hãnh của các ngươi, Ta sẽ khiến trời trở thành như sắt, đất trở nên như đồng. 20. Năng lực của các ngươi sẽ tiêu hao vô ích, đất không sinh sản hoa màu, cây cối trong xứ sẽ không ra trái.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Nếu các ngươi vẫn chống lại Ta và không vâng lời Ta, thì theo tội của các ngươi, Ta sẽ giáng tai họa gấp bảy lần trên các ngươi. 22. Ta sẽ sai thú dữ đến bắt con cái của các ngươi, tiêu diệt gia súc của các ngươi, các ngươi sẽ bị giảm thiểu, đường sá của các ngươi trở nên hoang vắng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Nếu sau những việc nầy, các ngươi vẫn không trở lại cùng Ta, vẫn tiếp tục chống lại Ta, 24. thì Ta sẽ chống lại các ngươi. Ta sẽ giáng tai họa gấp bảy lần trên các ngươi theo tội của các ngươi. 25. Ta sẽ đem gươm chống lại các ngươi để báo trả việc các ngươi bội ước. Khi các ngươi rút vào trong các thành, Ta sẽ sai bệnh dịch đến với các ngươi, rồi sẽ giao các ngươi vào tay của quân thù. 26. Lúc Ta cắt nguồn lương thực của các ngươi, mười phụ nữ sẽ nướng bánh chung trong một cái lò, rồi họ sẽ dùng cân để chia bánh - các ngươi sẽ ăn mà không no.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Nếu sau những việc nầy, các ngươi vẫn không vâng lời Ta, vẫn tiếp tục chống lại Ta, 28. Ta sẽ nổi thịnh nộ chống lại các ngươi, và vì tội của các ngươi, chính Ta sẽ phạt các ngươi gấp bảy lần. 29. Các ngươi sẽ ăn thịt những con trai của mình.  Các ngươi sẽ ăn thịt những con gái của mình. 30. Ta sẽ phá hủy những chỗ tế tự tại những nơi cao của các ngươi, và triệt hạ những bàn thờ dâng hương của các ngươi. Ta sẽ chất thây của các ngươi trên thây những thần tượng của các ngươi. Tâm hồn của Ta sẽ ghê tởm các ngươi. 31. Ta sẽ làm cho các thành phố của các ngươi trở nên hoang vu, những nơi thánh của các ngươi ra điêu tàn, và Ta sẽ không nhận những hương thơm từ các tế lễ của các ngươi nữa. 32. Ta sẽ làm cho xứ sở của các ngươi trở nên hoang vu, đến nỗi những kẻ thù của các ngươi đến cư ngụ tại đó cũng phải ngạc nhiên. 33. Ta sẽ phân tán các ngươi trong các nước, và rút gươm ra để truy đuổi các ngươi. Đất đai của các ngươi sẽ hoang vu, các thành phố của các ngươi sẽ điêu tàn. 34. Tất cả sẽ được nghỉ ngơi nếu chúng còn hoang tàn, để bù lại những năm Sa-bát mà chúng đã không được nghỉ ngơi vào lúc các ngươi vẫn còn cư ngụ tại đó. 36. Ðối với những kẻ còn sót lại ở giữa các ngươi, Ta sẽ làm cho lòng của họ khiếp đảm trong xứ của kẻ thù. Tiếng lá rơi cũng làm cho họ chạy trốn. Họ chạy trốn như chạy trốn khỏi gươm, và sẽ ngã nhào, mặc dù không có ai rượt đuổi. 37. Người nầy vấp ngã trên người kia như chạy trốn khỏi gươm dù chẳng ai đuổi theo họ. Không một ai trong các ngươi có thể đứng lên đối phó với quân thù. 38. Các ngươi sẽ bị diệt mất giữa các dân tộc; và đất của những kẻ thù của các ngươi sẽ ăn nuốt các ngươi. 39. Những người còn sót lại ở giữa các ngươi sẽ chết dần chết mòn vì tội lỗi của mình trong xứ của những kẻ thù của các ngươi. Họ sẽ chết dần chết mòn vì tội lỗi của tổ tiên đang ở với họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
40. Nhưng nếu họ xưng nhận tội lỗi của mình và tội lỗi của tổ phụ mình là họ đã phản nghịch Ta và họ đã chống lại Ta, 41. để Ta phải chống lại họ rồi đưa họ vào xứ sở của những kẻ thù. Nếu tấm lòng không chịu cắt bì của họ biết khiêm cung, chấp nhận sự sửa phạt về tội ác của mình, 42. thì Ta sẽ nhớ lại giao ước của Ta với Gia-cốp, và giao ước của Ta với Y-sác; Ta sẽ nhớ lại giao ước của Ta với Áp-ra-ham, và Ta sẽ nhớ lại xứ nầy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
43. Đất đai vì họ đã bị bỏ hoang và được nghỉ Sa-bát trong thời gian hoang vu không có họ. Họ phải chấp nhận hình phạt bởi vì họ đã khinh bỉ mệnh lệnh của Ta và tâm hồn của họ đã chán ghét những luật lệ của Ta. 44. Dầu vậy, trong khi họ ở trong xứ của kẻ thù, Ta đã không từ bỏ họ và cũng không ghê tởm họ đến nỗi phải tận diệt họ rồi hủy bỏ giao ước giữa Ta với họ, bởi vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. 45. Vì lợi ích của họ, Ta sẽ nhớ lại giao ước mà Ta đã lập với tổ phụ của họ, tức là những người mà Ta đã đem ra khỏi Ai Cập trước mắt các dân để làm Đức Chúa Trời của họ. Ta là Đức Giê-hô-va.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46. Ðó là những điều răn, mạng lệnh, và luật pháp mà Đức Giê-hô-va đã thiết lập giữa chính mình Ngài với dân Y-sơ-ra-ên trên núi Si-nai bởi tay của Môi-se.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Các ngươi chớ làm những hình tượng; hoặc hình chạm, hoặc hình đúc; chớ dựng trong xứ mình một hòn đá nào có dạng-hình, đặng sấp mình trước mặt hình đó, vì ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi. 2.  Hãy giữ lễ sa-bát ta, và tôn kính nơi thánh ta. Ta là Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Nếu các ngươi tuân theo luật pháp ta, gìn giữ các điều răn ta và làm theo, 4.  thì ta sẽ giáng mưa thuận-thì, đất sẽ sanh hoa lợi, và cây ngoài đồng sẽ kết bông trái. 5.  Mùa đập lúa sẽ lần đến mùa hái nho, mùa hái nho sẽ lần đến mùa gieo mạ; các ngươi sẽ ăn no, ở bình yên trong xứ mình. 6.  Ta sẽ giáng sự bình tịnh trong nước, các ngươi ngủ không sợ ai dọa; ta sẽ diệt những loài thú dữ khỏi xứ, gươm giáo chẳng đưa qua xứ các ngươi. 7.  Các ngươi đuổi theo quân nghịch, họ sẽ bị gươm sa ngã trước mặt các ngươi. 8.  Năm người trong các ngươi sẽ đuổi theo một trăm; một trăm trong các ngươi sẽ đuổi theo một muôn, và quân nghịch sẽ bị gươm sa ngã trước mặt các ngươi. 9.  Ta sẽ đoái lại cùng các ngươi, làm cho sanh sản và thêm nhiều, cùng kết lập giao ước với các ngươi. 10.  Các ngươi sẽ ăn hoa lợi cũ mình, và đem cái cũ ra đặng chừa chỗ cho cái mới. 11.  Ta sẽ lập chỗ ở ta giữa các ngươi, tâm hồn ta không hề ghê gớm các ngươi đâu. 12.  Ta sẽ đi giữa các ngươi, làm Đức Chúa Trời các ngươi, và các ngươi sẽ làm dân ta. 13.  Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi, Đấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, hầu cho khỏi làm tôi mọi. Ta đã bẻ gãy cái ách của các ngươi, làm cho các ngươi đi ngước đầu lên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Song nếu các ngươi không nghe ta, không làm theo các điều răn nầy, 15.  nếu khinh bỉ mạng lịnh ta, và tâm hồn các ngươi nghịch cùng luật pháp ta, đến nỗi không làm theo những điều răn ta, mà bội sự giao ước ta, 16.  thì nầy là những điều ta sẽ giáng cho các ngươi: Ta sẽ giáng cho các ngươi sự kinh khủng, bịnh tổn và rét làm hư mòn con mắt và nhọc mệt tâm hồn. Các ngươi gieo mạ luống công, quân thù nghịch sẽ ăn hết. 17.  Ta sẽ nổi giận cùng các ngươi; các ngươi sẽ bị quân thù nghịch đánh đập; kẻ nào ghét các ngươi sẽ lấn lướt các ngươi, và các ngươi sẽ chạy trốn không ai đuổi theo. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Nếu đến đỗi vậy mà các ngươi không khứng nghe ta, ta sẽ vì cớ tội phạm, thêm gấp bảy lần đặng sửa phạt các ngươi, 19.  và ta sẽ dẹp sự kiêu ngạo về năng lực các ngươi. Ta sẽ khiến trời các ngươi cứng như sắt và đất trơ như đồng; 20.  năng lực mình hao mòn vô ích, đất không sanh sản huê lợi, cây cối không kết bông trái. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Nếu các ngươi phản đối cùng ta, và không muốn nghe ta, thì ta sẽ tùy theo tội phạm giáng tai vạ trên các ngươi gấp bảy lần nữa. 22.  Ta sẽ sai những thú đồng đến tha con cái các ngươi đi, ăn hại súc vật, diệt số người ra ít; và đường nẻo các ngươi sẽ vắng tanh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23.  Dẫu đến những việc ấy mà các ngươi cứ không phục sự sửa phạt ta, cứ phản đối cùng ta, 24.  thì ta đây cũng sẽ nghịch lại cùng các ngươi, và vì cớ tội lỗi, sẽ giáng tai vạ cho các ngươi gấp bảy lần nữa. 25.  Ta sẽ khiến gươm giáo đến trên các ngươi đặng báo thù sự giao ước ta; khi các ngươi hội hiệp trong những thành mình, ta sẽ giáng dịch hạch đến giữa các ngươi, và nộp các ngươi vào tay thù nghịch. 26.  Khi ta dẫn sự đói kém đến, mười người nữ sẽ nướng bánh của các ngươi trong một lò, cân bánh trao lại cho các ngươi; các ngươi sẽ ăn mà không no. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27.  Dẫu đến nỗi vậy, mà các ngươi cứ không khứng nghe ta, còn phản đối cùng ta, 28.  thì ta cũng sẽ nghịch lại cùng các ngươi cách giận dữ, và vì cớ tội lỗi các ngươi, sẽ sửa phạt gấp bảy lần nữa. 29.  Các ngươi sẽ ăn thịt con trai con gái mình; 30.  ta sẽ hủy diệt những nơi cao các ngươi, phá đổ những hình mặt trời, và để thây các ngươi chồng trên thây của hình tượng mình, tâm hồn ta sẽ ghê gớm các ngươi. 31.  Ta sẽ làm cho thành các ngươi ra vắng vẻ, các nơi thánh quạnh hiu, và ta chẳng còn hưởng mùi thơm về của lễ các ngươi nữa. 32.  Ta sẽ làm xứ ra đồi bại, đến đỗi kẻ thù nghịch ở tại đó cũng lấy làm lạ. 33.  Ta sẽ tản lạc các ngươi trong các dân và rút gươm ra đuổi theo sau các ngươi: xứ các ngươi sẽ hoang vu, thành sẽ vắng vẻ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34.  Trọn trong lúc đất bỏ hoang vu, và các ngươi ở trong đất của kẻ thù nghịch, khi đó đất sẽ được an nghỉ hưởng những năm sa-bát. 35.  Trọn lúc đất bỏ hoang vu sẽ được an nghỉ; vì lúc các ngươi còn ở đất đó, nó không được an nghỉ trong những năm sa-bát của các ngươi. 36.  Còn ai trong các ngươi sống sót lại, ta sẽ làm cho họ nhát gan trong xứ của thù nghịch mình; tiếng lá khua sẽ làm cho họ chạy trốn, khác nào chạy trốn trước lưỡi gươm, té ngã mà không ai đuổi theo. 37.  Người nầy vấp ngã trên người kia như trước ngọn gươm, vốn chẳng ai rượt đuổi theo họ; các ngươi không thể chịu nổi trước mặt quân thù nghịch mình. 38.  Các ngươi sẽ bị chết mất giữa các dân, đất kẻ thù nghịch sẽ nuốt các ngươi. 39.  Ai trong các ngươi còn sống, sẽ vì cớ gian ác mình và gian ác của tổ phụ mà hao mòn trong xứ kẻ thù nghịch mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
40.  Khi ấy, họ sẽ nhận gian ác mình, và gian ác của tổ phụ mình, những tội lỗi họ đã phạm, và sự chống trả họ đã cự cùng ta, 41.  đến đỗi ta cũng chống trả lại, dẫn họ vào xứ kẻ thù nghịch. Bấy giờ nếu lòng không chịu cắt bì của họ sẽ tự hạ mình xuống, và sẽ phục điều sửa phạt về gian ác mình, 42.  thì ta sẽ nhớ lại sự giao ước ta đã lập cùng Gia-cốp, cùng Y-sác, cùng Áp-ra-ham, và ta sẽ nhớ lại xứ nầy. 43.  Vì xứ bị họ bỏ hoang sẽ được nghỉ bấy nhiêu năm sa-bát tùy theo họ bỏ hoang vu bao nhiêu: họ sẽ chịu hình phạt của gian ác mình, bởi vì đã khinh bỉ mạng lịnh ta, và tâm hồn họ đã lấy làm ghê gớm các luật pháp ta. 44.  Dẫu vậy, đang khi họ bị ở trong xứ kẻ thù nghịch mình, ta cũng chẳng bỏ họ đâu, chẳng ghê gớm họ đến phải hao mòn hết, và chẳng bội sự giao ước ta lập cùng họ đâu, vì ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của họ. 45.  Ta vì họ sẽ nhớ lại sự giao ước đã lập cùng tổ phụ họ mà ta đã đem ra khỏi xứ Ê-díp-tô trước mặt các dân, đặng làm Đức Chúa Trời của họ. Ta là Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46.  Đó là các điều lệ, mạng lịnh, và luật pháp mà Đức Giê-hô-va nhờ Môi-se, lập ra giữa ngài cùng dân Y-sơ-ra-ên, tại trên núi Si-nai-i. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B03\V02B03C026.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Phần Thưởng cho Người Vâng Giữ Mạng Lịnh của CHÚA'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Các ngươi chớ làm cho mình những thần tượng để thờ; các ngươi chớ dựng những hình tượng được chạm khắc hoặc những trụ tượng bằng đá; các ngươi chớ dựng lên những tượng đá trong xứ mình, rồi sấp mình xuống mà thờ lạy chúng, vì Ta là CHÚA, Ðức Chúa Trời của các ngươi.  2 Các ngươi sẽ giữ ngày Sa-bát Ta và tôn kính nơi thánh Ta.  Ta là CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Nếu các ngươi vâng theo những luật lệ Ta, vâng giữ những điều răn Ta, và làm theo cách trung tín, 4 Ta sẽ ban mưa xuống đúng mùa, đất đai sẽ sinh sản hoa màu, cây cối ngoài đồng sẽ đơm hoa kết quả.   5 Mùa đập lúa sẽ nối tiếp bằng mùa hái nho; mùa hái nho sẽ nối tiếp bằng mùa gieo giống.  Các ngươi sẽ ăn bánh của mình no nê và sống an ninh trong xứ mình.  6 Ta sẽ ban hòa bình cho xứ các ngươi.  Các ngươi sẽ nằm xuống an tâm ngủ nghỉ và không phải lo sợ điều gì.  Ta sẽ loại trừ các thú dữ khỏi xứ các ngươi, và gươm đao sẽ không đi qua xứ các ngươi.  7 Các ngươi sẽ rượt đuổi quân thù mình; chúng sẽ ngã gục trước lưỡi gươm các ngươi.  8 Năm người các ngươi sẽ rượt đuổi một trăm người, một trăm người các ngươi sẽ rượt đuổi mười ngàn người.  Quân thù các ngươi sẽ ngã gục trước gươm các ngươi.  9 Ta sẽ ưu đãi các ngươi và làm cho các ngươi sinh sôi nảy nở thật nhiều, và Ta sẽ duy trì giao ước Ta với các ngươi.  10 Các ngươi sẽ ăn lúa thóc của mùa trước cho đến khi phải lấy lúa thóc cũ ra khỏi kho hầu có chỗ chứa lúa thóc mới.  11 Ta sẽ ở giữa các ngươi và linh hồn Ta sẽ không ghê tởm các ngươi.  12 Ta sẽ bước đi giữa các ngươi, làm Ðức Chúa Trời của các ngươi, và các ngươi sẽ làm dân Ta.  13 Ta là CHÚA, Ðức Chúa Trời của các ngươi, Ðấng đã đem các ngươi ra khỏi đất Ai-cập, để các ngươi không còn làm nô lệ cho chúng.  Ta đã bẻ ách trên cổ các ngươi và làm cho các ngươi bước đi cách hiên ngang. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Hình Phạt Dành cho Những Kẻ Bội Nghịch'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Nếu các ngươi không vâng lời Ta, không làm theo những điều răn Ta, 15 nếu các ngươi khước từ những luật lệ Ta, và linh hồn các ngươi chán ghét những mạng lịnh Ta, rồi không làm theo các điều răn Ta, mà còn hủy bỏ giao ước Ta, 16 thì đây là những điều Ta sẽ làm cho các ngươi: Ta sẽ giáng kinh hãi trên các ngươi, sức lực các ngươi sẽ tiêu hao, mắt các ngươi sẽ mờ đi vì bị sốt, và lòng các ngươi sẽ chứa chan sầu não.  Các ngươi sẽ gieo lúa luống công, vì quân thù các ngươi sẽ ăn hoa màu đó.  17 Ta sẽ để mặt Ta nghịch lại các ngươi.  Các ngươi sẽ bị quân thù đánh bại; những kẻ ghét các ngươi sẽ cai trị các ngươi; các ngươi sẽ chạy trốn dù không ai rượt đuổi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Nếu đã vậy mà các ngươi vẫn không vâng lời Ta, thì vì tội các ngươi, Ta sẽ phạt các ngươi gấp bảy lần.  19 Ta sẽ bẻ gãy vẻ kiêu hùng của các ngươi.  Ta sẽ làm cho trời trên các ngươi cứng như sắt và đất dưới các ngươi cứng như đồng.  20 Sức lực các ngươi sẽ bị tiêu hao vô ích; đất đai các ngươi sẽ không sinh sản hoa màu; cây cối trong xứ các ngươi sẽ không đơm hoa kết quả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Nếu đã thế mà các ngươi vẫn còn tiếp tục chống lại Ta và không vâng lời Ta, thì vì tội các ngươi, Ta sẽ giáng tai họa trên các ngươi gấp bảy lần nữa.  22 Ta sẽ để thú dữ đến tung hoành sát hại các ngươi; chúng sẽ cắn xé con cái các ngươi, giết hại súc vật các ngươi, và làm cho dân số các ngươi giảm thiểu, đến nỗi đường sá các ngươi sẽ trở nên vắng vẻ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Dù bị phạt như vậy mà các người vẫn không chịu quay lại với Ta, mà cứ tiếp tục chống lại Ta, 24 thì Ta cũng sẽ chống lại các ngươi, và vì tội của các ngươi, Ta sẽ giáng họa xuống các ngươi gấp bảy lần nữa.  25 Ta sẽ mang gươm đao đến giết hại các ngươi, để báo trả cho sự bội nghịch của các ngươi đối với giao ước.  Nếu các ngươi rút vào trong các thành mình, Ta sẽ sai ôn dịch đến giữa các ngươi, và các ngươi sẽ bị phó vào tay quân thù.  26 Khi Ta cắt đứt nguồn lương thực của các ngươi, thì một lò cũng đủ cho mười người nữ nướng bánh; họ sẽ chia bánh cho các ngươi bằng cân lượng, và các ngươi sẽ ăn mà không no.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Dù đã như vậy mà các ngươi vẫn không vâng lời Ta, mà cứ chống lại Ta, 28 bấy giờ Ta sẽ nổi cơn thịnh nộ chống lại các ngươi, và vì tội các ngươi, Ta sẽ phạt các ngươi gấp bảy lần nữa.  29 Các ngươi sẽ ăn thịt các con trai mình, và các ngươi sẽ ăn thịt các con gái mình.  30 Ta sẽ phá hủy các tế đàn trên những nơi cao; Ta sẽ đạp đổ những bàn thờ dâng hương của các ngươi; Ta sẽ chất thây các ngươi trên thây các thần tượng của các ngươi.  Ta sẽ ghê tởm các ngươi.  31 Ta sẽ làm cho các thành của các ngươi ra hoang vắng; Ta sẽ khiến những nơi thánh của các ngươi ra điêu tàn; Ta sẽ không hưởng nhận những mùi thơm do các ngươi dâng hiến.  32 Ta sẽ làm cho xứ sở các ngươi trở nên hoang vu, đến nỗi những kẻ thù của các ngươi đến chiếm ở cũng phải ngạc nhiên.  33 Ta sẽ phân tán các ngươi ra trong các nước.  Ta sẽ tuốt gươm ra truy đuổi các ngươi.  Xứ sở các ngươi sẽ trở nên hoang vu; thành quách các ngươi sẽ ra điêu tàn vắng vẻ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34 Bấy giờ nhờ nó bị bỏ hoang đất sẽ được hưởng những năm Sa-bát; trong khi các ngươi sống trong xứ của kẻ thù, đất sẽ được nghỉ bù và được hưởng những năm Sa-bát.  35 Hễ khi nào đất còn bị bỏ hoang, nó sẽ được nghỉ bù những năm Sa-bát mà nó không có khi các ngươi còn sống ở đó.  36 Ðối với những kẻ còn sống sót, Ta sẽ làm cho lòng chúng ra hèn nhát khi sống trong xứ bị kẻ thù cai trị.  Chỉ một tiếng lá rung cũng đủ làm cho chúng sợ hãi bỏ chạy; chúng sẽ chạy trốn như thể bị gươm truy kích, và chúng sẽ ngã nhào dù chẳng ai đuổi theo.  37 Chúng sẽ ngã nhào lên nhau, như thể bị ngã rạp trước lưỡi gươm, mặc dù chẳng có ai rượt đuổi.  Các ngươi sẽ chẳng có sức lực đối phó với quân thù.  38 Các ngươi sẽ bị diệt vong giữa các dân, và đất của kẻ thù các ngươi sẽ ăn nuốt các ngươi.  39 Ai trong các ngươi còn sống sót sẽ chết dần chết mòn trong xứ của kẻ thù vì tội lỗi mình.   Chúng sẽ chết dần chết mòn vì tội lỗi của tổ tiên mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
40 Nhưng nếu chúng xưng nhận tội lỗi mình và tội lỗi của tổ tiên mình rằng chúng đã phản nghịch Ta, thậm chí còn nhất quyết chống lại Ta, 41 đến nỗi Ta buộc lòng phải chống lại chúng và khiến chúng phải bị dẫn đến xứ của kẻ thù của chúng, nếu tấm lòng không chịu cắt bì của chúng biết khiêm nhường và chúng biết ăn năn lìa bỏ tội lỗi của chúng, 42 Ta sẽ nhớ lại giao ước Ta với Gia-cốp, Ta cũng sẽ nhớ lại giao ước Ta với I-sác, Ta cũng sẽ nhớ lại giao ước Ta với Áp-ra-ham, và Ta sẽ nhớ đến xứ sở chúng, 43 vì xứ sở chúng đã bị chúng bỏ hoang, và đất ấy đã được hưởng những năm Sa-bát do bị bỏ hoang vì không có chúng, trong lúc chúng bị sửa phạt về tội lỗi chúng, bởi chúng đã dám khước từ mạng lịnh Ta và gớm ghét luật lệ Ta.  44 Dầu vậy trong khi chúng ở trong xứ của kẻ thù của chúng, Ta sẽ không khước từ chúng, hoặc gớm ghét chúng, mà tuyệt diệt chúng, hoặc hủy bỏ giao ước Ta với chúng, vì Ta là CHÚA, Ðức Chúa Trời của chúng.  45 Ðể tỏ lòng nhân từ với chúng, Ta sẽ nhớ lại giao ước với tổ tiên chúng, những kẻ Ta đã đem ra khỏi đất Ai-cập trước mặt các dân, để làm Ðức Chúa Trời của chúng.  Ta là CHÚA.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46 Ðó là những điều răn, mạng lịnh, và luật pháp mà CHÚA đã cậy Môi-se lập giữa Ngài với dân I-sơ-ra-ên trên núi Si-nai.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Lê-vi Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Lê-vi Ký: Chương 25]]&lt;br /&gt;
:* [[Lê-vi Ký: Chương 27]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Xu%E1%BA%A5t_%C3%8A-d%C3%ADp-t%C3%B4_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_16&amp;diff=35771</id>
		<title>Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 16</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Xu%E1%BA%A5t_%C3%8A-d%C3%ADp-t%C3%B4_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_16&amp;diff=35771"/>
		<updated>2026-06-26T05:49:51Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đó toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên đã rời khỏi Ê-lim đến sa mạc Sin, nằm ở giữa Ê-lim và Si-nai, vào ngày mười lăm của tháng thứ hai kể từ khi họ rời khỏi Ai Cập. 2. Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đã oán trách Môi-se và A-rôn trong hoang mạc. 3. Dân Y-sơ-ra-ên đã nói với họ rằng: &amp;quot;Ước gì chúng tôi chết bởi tay của Đức Giê-hô-va trong xứ Ai Cập, vào lúc chúng tôi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh no nê. Các ông đã đem chúng tôi vào trong hoang mạc nầy, để cả đoàn dân phải chết đói như thế nầy.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: &amp;quot;Hãy xem! Ta sẽ ban mưa bánh từ trời xuống cho các ngươi. Mỗi ngày dân chúng hãy đi ra nhặt đủ khẩu phần cho mỗi ngày. Ta sẽ thử xem họ có đi theo luật lệ của Ta hay không. 5. Vào ngày thứ sáu, họ sẽ chuẩn bị và sẽ đem về sẽ gấp đôi những gì họ nhặt hằng ngày.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Môi-se và A-rôn đã nói với tất cả dân Y-sơ-ra-ên: &amp;quot;Chiều nay, anh em sẽ nhận biết rằng chính Đức Giê-hô-va đã đem anh em ra khỏi Ai Cập; 7. và sáng mai, anh em sẽ thấy sự vinh quang của Đức Giê-hô-va, bởi vì Ngài đã nghe lời của anh em đã oán trách Đức Giê-hô-va. Còn chúng tôi chẳng là gì để anh em phải oán trách.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Môi-se nói: &amp;quot;Buổi chiều Đức Giê-hô-va sẽ ban thịt cho anh em ăn, và buổi sáng sẽ ban bánh sẽ dư dật, bởi vì Đức Giê-hô-va đã nghe lời anh em oán trách Ngài. Còn chúng tôi là cái gì? Không phải anh em đã oán trách chúng tôi, nhưng  đã oán trách Đức Giê-hô-va.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Môi-se đã nói với A-rôn: &amp;quot;Hãy nói với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: 'Hãy đến trước mặt Đức Giê-hô-va, bởi vì Ngài đã nghe lời oán trách của anh em.’” 10. Trong lúc A-rôn đang nói với cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, họ nhìn về phía hoang mạc, thấy hào quang của Đức Giê-hô-va xuất hiện trong đám mây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Đức Giê-hô-va nói với Môi-se rằng: 12. &amp;quot;Ta đã nghe lời oán trách của dân Y-sơ-ra-ên. Hãy nói với họ rằng: Các ngươi sẽ được ăn thịt vào lúc hoàng hôn; đến sáng mai các ngươi sẽ có bánh ăn no nê.  Các ngươi sẽ biết rằng Ta là Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của các ngươi.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Chiều xuống, chim cút kéo đến bao phủ doanh trại. Sáng hôm sau, có một lớp sương bào phủ rồi đọng lại trên cả doanh trại. 14. Khi lớp sương đó tan đi, trên bề mặt của hoang mạc xuất hiện một vật nho nhỏ, tròn mịn như hạt sương đọng lại trên mặt đất. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Khi dân Y-sơ-ra-ên thấy vậy, họ hỏi nhau: &amp;quot;Vật gì vậy?&amp;quot; Bởi vì họ không biết vật đó là gì. Môi-se đã nói với họ: &amp;quot;Đó là bánh mà Đức Giê-hô-va ban cho anh em để làm thức ăn.&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Đây là điều Đức Giê-hô-va đã truyền: &amp;quot;Mỗi người, hãy nhặt một ô-me cho nhu cầu của mình. Hãy nhặt cho từng người tùy theo số người trong trại của mình.&amp;quot; 17. Dân Y-sơ-ra-ên đã làm như vậy. Kẻ nhặt nhiều hơn, người nhặt ít hơn. 18. Khi họ đong bằng ô-me, ai nhặt nhiều cũng không dư, ai nhặt ít cũng không thiếu - Mỗi người tùy theo nhu cầu của từng người mà họ lấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Môi-se nói: &amp;quot;Đừng có ai để dành đến sáng mai.&amp;quot; 20. Tuy nhiên họ không nghe lời của Môi-se. Một vài người đã để lại đến sáng mai thì nó sinh ra sâu và hôi thối. Môi-se nổi giận với họ. 21. Sáng nào cũng vậy, mỗi người đã nhặt theo khẩu phần của mình. Khi mặt trời nắng nóng, thì vật đó tan chảy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Vào ngày thứ sáu, họ nhặt gấp đôi số bánh, mỗi người hai ô-me. Tất cả những người lãnh đạo của hội chúng đã đến và trình với Môi-se. 23. Ông nói với họ: &amp;quot;Đây là lời Đức Giê-hô-va đã phán: Ngày mai là ngày Sa-bát, là ngày thánh dành cho Đức Giê-hô-va, đó là ngày nghỉ. Hãy nướng món gì anh em muốn nướng, hãy nấu món gì anh em muốn nấu, và rồi tất cả những gì còn lại hãy để dành cho đến sáng mai.&amp;quot; 24. Vì vậy họ để dành cho đến sáng mai như lời Môi-se đã truyền. Vật đó không có mùi hôi thối và cũng chẳng sinh sâu bọ ở trong đó. 25. Môi-se nói: &amp;quot;Hãy ăn thức ăn đó ngày hôm nay, bởi vì hôm nay là ngày Sa-bát dành cho Đức Giê-hô-va. Anh em sẽ chẳng tìm thấy vật đó ngoài đồng ngày hôm nay. 26. Anh em hãy nhặt trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, sẽ không có gì cả.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Tuy nhiên, vào ngày thứ bảy cũng có một vài người trong dân chúng đi ra để nhặt, nhưng họ chẳng tìm được gì. 28. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: &amp;quot;Các ngươi còn từ chối, không vâng theo điều răn và mệnh lệnh của Ta cho đến bao giờ? 29. Hãy suy nghĩ đi. Đức Giê-hô-va đã ban cho các ngươi ngày Sa-bát, vì vậy trong ngày thứ sáu Ngài đã ban cho các ngươi lương thực đủ cho cả hai ngày. Mỗi người hãy ở tại nơi của mình. Không ai rời khỏi nơi của mình trong ngày thứ bảy.&amp;quot; 30. Vì vậy dân chúng đã nghỉ ngơi trong ngày thứ bảy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31. Nhà của Y-sơ-ra-ên đã đặt tên cho vật đó là ma-na. Nó giống như một hạt ngò, màu trắng, vị như bánh tráng có mật ong.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32. Môi-se nói: &amp;quot;Đây là điều Đức Giê-hô-va đã truyền: Hãy đổ đầy một ô-me, rồi giữ lại cho các thế hệ, để chúng thấy bánh mà Ta đã nuôi các ngươi trong hoang mạc lúc Ta đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ai Cập.&amp;quot; 33. Môi-se nói với A-rôn: &amp;quot;Hãy lấy một cái bình, đổ đầy trong đó một ô-me ma-na, rồi đặt trước mặt Đức Giê-hô-va để lưu giữ cho các thế hệ.&amp;quot; 34. A-rôn đã đặt vật đó trước Bảng Chứng Ước để được lưu giữ như lời Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35. Dân Y-sơ-ra-ên đã ăn ma-na trong bốn mươi năm cho đến khi họ vào vùng đất định cư. Họ đã ăn ma-na cho đến khi họ đến biên giới của xứ Ca-na-an.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36. Một ô-me là một phần mười của một ê-pha.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Nhằm ngày mười lăm tháng hai, sau khi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên ở nơi Ê-lim đi đến đồng vắng Sin, nằm về giữa khoảng Ê-lim và Si-na-i. 2.  Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên oán trách Môi-se và A-rôn tại nơi đồng vắng, 3.  nói cùng hai người rằng: Ôi! thà rằng chúng tôi chịu chết về tay Đức Giê-hô-va tại xứ Ê-díp-tô, khi còn ngồi kề nồi thịt và ăn bánh chán hê! Vì hai người dẫn dắt chúng tôi vào nơi đồng vắng nầy đều bị chết đói. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Nầy, ta sẽ từ trên trời cao làm mưa bánh xuống cho các ngươi. Dân sự sẽ đi ra, mỗi ngày nào thâu bánh đủ cho ngày nấy, đặng ta thử dân coi có đi theo luật lệ của ta hay chăng. 5.  Qua ngày thứ sáu, dân sự sẽ dự bị phần đã góp, và sẽ được phần gấp bằng hai của mình thường thâu hằng ngày. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Môi-se và A-rôn bèn nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Chiều nay các ngươi sẽ nhận biết rằng ấy là Đức Giê-hô-va đã rút các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, 7.  và sáng mai sẽ thấy sự vinh quang của Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã nghe lời các ngươi oán trách Ngài rồi. Vả lại, chúng ta là ai mà các ngươi oán trách chúng ta? 8.  Môi-se nói: Chiều nầy Đức Giê-hô-va sẽ phát thịt cho các ngươi ăn, rồi sáng mai bánh nhiều dư dật, vì Ngài đã nghe lời các ngươi oán trách Ngài rồi. Thế thì, chúng ta là ai? Những lời oán trách chẳng phải đổ về chúng ta đâu, nhưng về Đức Giê-hô-va vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Môi-se nói cùng A-rôn rằng: Hãy nói cho cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi hãy đến trước mặt Đức Giê-hô-va, vì Ngài đã nghe lời oán trách của các ngươi rồi. 10.  Vả, khi A-rôn nói cùng cả hội chúng Y-sơ-ra-ên, thì họ xây mặt về phía đồng vắng, thấy sự vinh quang của Ngài hiện ra trong đám mây. 11.  Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 12.  Ta đã nghe lời oán trách của dân Y-sơ-ra-ên. Vậy, ngươi hãy nói cùng chúng nó rằng: Lối chiều các ngươi sẽ ăn thịt; sáng mai sẽ ăn bánh no nê, và sẽ biết ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13.  Vậy, chiều lại, có chim cút bay lên phủ trên trại quân; đến sáng mai lại có một lớp sương ở chung quanh trại quân. 14.  Lớp sương đó tan đi, trên mặt đồng vắng thấy có vật chi nhỏ, tròn, như hột sương đóng trên mặt đất. 15.  Khi dân Y-sơ-ra-ên thấy, bèn hỏi nhau rằng: Cái chi vậy? Vì chẳng biết vật đó là gì. Môi-se bèn nói cùng dân sự rằng: Ấy là bánh mà Đức Giê-hô-va ban cho các ngươi làm lương thực đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16.  Nầy là lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn: Hãy tùy sức ăn của mỗi người, và tùy số người trong trại mà góp cho mỗi tên một ô-me. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Dân Y-sơ-ra-ên bèn làm như vậy, kẻ thì lượm nhiều, người thì lượm ít, 18.  cứ lường từ ô-me; ai lượm nhiều chẳng được trội, ai lượm ít cũng chẳng thiếu; mỗi người lượm vừa đủ sức mình ăn. 19.  Môi-se nói cùng dân sự rằng: Đừng ai để dư lại cho đến sáng mai. 20.  Nhưng dân sự chẳng nghe theo lời Môi-se, một vài người để dư lại đến sáng mai; thì sâu hóa ở trong, vật sanh mùi hôi hám. Môi-se bèn nổi giận cùng họ. 21.  Vậy, hằng buổi sớm mai mỗi người lượm vừa đủ sức mình ăn; khi mặt trời nắng nóng thì vật đó tan ra. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  Đến ngày thứ sáu, dân sự lượm lương thực gấp hai; mỗi người hai ô-me. Các hội trưởng đến thuật lại cho Môi-se rõ. 23.  Người đáp rằng: Ấy là lời Đức Giê-hô-va đã phán rằng: Mai là ngày nghỉ, tức ngày Sa-bát thánh cho Đức Giê-hô-va, hãy nướng món chi các ngươi muốn nướng, hãy nấu món chi các ngươi muốn nấu; hễ còn dư, hãy để dành đến sáng mai. 24.  Dân sự bèn để dành cho đến sáng mai, y như lời Môi-se đã truyền; vật đó chẳng sanh mùi hôi hám và cũng chẳng hóa sâu chút nào. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25.  Môi-se bèn nói rằng: Bữa nay hãy ăn đồ đó đi, vì là ngày Sa-bát của Đức Giê-hô-va; hôm nay các ngươi chẳng tìm thấy vật đó ở trong đồng đâu. 26.  Các ngươi lượm trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, sẽ chẳng có đâu. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27.  Ngày thứ bảy, một vài người trong vòng dân sự ra đặng lượm lấy, nhưng tìm chẳng thấy chi hết. 28.  Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Các ngươi chẳng chịu vâng giữ điều răn và luật pháp ta cho đến chừng nào? 29.  Hãy suy nghĩ rằng Đức Giê-hô-va đã cho các ngươi ngày Sa-bát; vậy nên, đến ngày thứ sáu Ngài lại cho các ngươi lương thực đủ hai ngày. Trong ngày thứ bảy, mỗi người phải ở yên chỗ mình, chớ ai ra khỏi nhà. 30.  Thế thì, ngày thứ bảy dân sự đều nghỉ ngơi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31.  Nhà Y-sơ-ra-ên đặt tên lương thực nầy là ma-na; nó giống như hột ngò, sắc trắng, mùi như bánh ngọt pha mật ong. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32.  Môi-se nói rằng: Lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn như vầy: Hãy đổ đầy một ô-me ma-na, đặng lưu truyền trải các đời, hầu cho thiên hạ thấy thứ bánh ta đã cho các ngươi ăn nơi đồng vắng, khi ta rút các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô. 33.  Môi-se lại nói cùng A-rôn rằng: Hãy lấy một cái bình đựng đầy một ô-me ma-na, để trước mặt Đức Giê-hô-va, đặng lưu truyền các đời. 34.  A-rôn bèn để bình đó trước sự chứng cớ, hầu cho được lưu truyền y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se. 35.  Dân Y-sơ-ra-ên ăn ma-na trải bốn mươi năm, cho đến khi vào bờ cõi xứ Ca-na-an, là xứ có người ta ở. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36.  Vả, ô-me là một phần mười của ê-pha. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B02\V02B02C016.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Lương Thực Từ Trời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Toàn thể hội chúng I-sơ-ra-ên nhổ trại rời khỏi Ê-lim đi vào Ðồng Hoang Sin, vùng đất nằm giữa Ê-lim và Si-nai; đó là ngày mười lăm, tháng thứ hai, sau khi họ rời khỏi xứ Ai-cập.  2 Cả hội chúng I-sơ-ra-ên oán trách Môi-se và A-rôn trong đồng hoang.  3 Dân I-sơ-ra-ên nói với họ, “Ước gì chúng tôi bị chết bởi tay CHÚA trong xứ Ai-cập khi được ngồi bên nồi thịt và ăn bánh no nê còn hơn là để hai ông đem chúng tôi vào đồng hoang này để cả hội chúng phải chết đói.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 CHÚA phán với Môi-se, “Này, Ta sẽ ban mưa bánh từ trời xuống cho các ngươi; mỗi ngày dân chúng sẽ đi ra và lấy đủ bánh cho ngày ấy.  Ta sẽ dùng cách đó để thử chúng, xem chúng có vâng lời Ta chăng.  5 Ngày thứ sáu, chúng sẽ lấy về gấp đôi số lượng chúng lấy trong những ngày khác.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Vậy Môi-se và A-rôn nói với toàn dân I-sơ-ra-ên, “Ðến chiều tối anh chị em sẽ biết rằng chính CHÚA đã đem anh chị em ra khỏi xứ Ai-cập.  7 Rồi đến sáng mai, anh chị em sẽ thấy vinh hiển của CHÚA, bởi Ngài đã nghe tiếng anh chị em oán trách CHÚA.  Vì chúng tôi đâu là gì mà anh chị em oán trách chúng tôi?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Môi-se lại nói, “Chiều nay CHÚA sẽ ban cho anh chị em thịt để ăn, rồi sáng mai anh chị em sẽ được no nê vì ăn bánh, bởi CHÚA đã nghe tiếng oán trách mà anh chị em đã oán trách Ngài; chứ chúng tôi là ai?  Những lời anh chị em oán trách không phải là oán trách chúng tôi, nhưng là oán trách CHÚA.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Ðoạn Môi-se nói với A-rôn, “Xin anh nói với toàn thể hội chúng I-sơ-ra-ên, ‘Hãy lại gần CHÚA, vì Ngài đã nghe tiếng oán trách của anh chị em.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Khi A-rôn nói với cả hội chúng I-sơ-ra-ên, họ hướng mắt nhìn về đồng hoang, và này, vinh quang CHÚA hiện ra trên mây.  11 CHÚA phán với Môi-se, 12 “Ta đã nghe tiếng oán trách của dân I-sơ-ra-ên.  Hãy nói với chúng, ‘Vào chạng vạng tối nay các ngươi sẽ được ăn thịt; đến sáng mai các ngươi sẽ có bánh ăn no nê; bấy giờ các ngươi sẽ biết rằng Ta là CHÚA, Ðức Chúa Trời của các ngươi.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Khi trời sắp tối các chim cút bay đến phủ khắp doanh trại; sáng hôm sau, lại có một lớp sương phủ xung quanh doanh trại.  14 Khi lớp sương đó tan đi, kìa, trên mặt đồng hoang có một chất gì như một lớp mỏng mịn màng, mịn như bột phủ trên mặt đất.  15 Khi dân I-sơ-ra-ên thấy vậy, họ hỏi nhau, “Thứ gì vậy?”  Vì họ không biết đó là thứ gì. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Môi-se nói với họ, “Ðây là bánh CHÚA ban cho anh chị em để ăn.  16 Ðây là điều CHÚA đã truyền, ‘Mỗi người cần bao nhiêu, cứ lấy đủ dùng cho mình, khoảng hai lít cho mỗi người, cứ theo số người ở trong lều mà lấy đủ dùng cho mọi người.’” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Dân I-sơ-ra-ên làm như vậy.  Một số lấy nhiều, một số lấy ít.  18 Rồi họ lấy ô-me ra đong, ai lấy nhiều cũng không dư, ai lấy ít cũng không thiếu; cứ tùy sức mỗi người ăn được bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu.  19 Môi-se nói với họ, “Ðừng ai để vật ấy còn thừa lại đến ngày mai.”  20 Tuy nhiên vẫn có một số người không nghe lời Môi-se; họ để dành một phần đến sáng hôm sau; vật ấy bèn sinh giòi và bốc mùi hôi thối; do đó Môi-se giận họ.  21 Vậy sáng nào cũng thế, họ đi ra hốt lớp bột ấy làm lương thực cho mình, ai cần bao nhiêu thì hốt bấy nhiêu; nhưng khi ánh nắng mặt trời bắt đầu nóng, lớp bột ấy liền tan chảy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Ðến ngày thứ sáu họ lấy số lượng gấp đôi, mỗi người bốn lít.  Khi những người lãnh đạo hội chúng đến hỏi Môi-se, 23 ông trả lời họ, “Ðây là điều CHÚA đã truyền: ‘Ngày mai là ngày yên nghỉ, ngày Sa-bát thánh để tôn kính CHÚA, hãy nướng món gì anh chị em muốn nướng, nấu món gì anh chị em muốn nấu, những gì còn dư hãy để dành cho sáng mai.’”  24 Vậy họ để dành bột ấy đến sáng mai, y như Môi-se đã truyền cho họ, và bột ấy không bị hôi thối hay bị sinh giòi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25 Môi-se nói, “Hãy lấy bột ấy mà ăn hôm nay, vì hôm nay là ngày Sa-bát để tôn kính CHÚA.  Hôm nay anh chị em sẽ không thấy bột ấy ngoài đồng.  26 Trong sáu ngày anh chị em sẽ ra lấy về dùng, nhưng đến ngày thứ bảy, là ngày Sa-bát, sẽ không có bột ấy.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Nhưng trong ngày thứ bảy vẫn có một số người đi ra lấy, và họ chẳng tìm được gì.  28 CHÚA phán với Môi-se, “Các ngươi cứ từ chối, không vâng theo điều răn và mệnh lệnh Ta cho đến bao giờ?  29 Kìa, CHÚA đã ban cho các ngươi ngày Sa-bát, vì thế ngày thứ sáu Ngài đã ban cho các ngươi lương thực đủ ăn cho hai ngày.  Ai nấy trong các ngươi hãy ở tại chỗ mình; đừng rời khỏi nơi mình trong ngày thứ bảy.”  30 Vậy dân chúng nghỉ ngơi trong ngày thứ bảy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 Nhà I-sơ-ra-ên gọi vật ấy là ma-na.  Nó giống như hột ngò, màu trắng, có mùi vị tựa bánh tráng tẩm mật ong.  32 Môi-se nói, “Ðây là mệnh lệnh CHÚA đã truyền, ‘Hãy lấy hai lít ma-na giữ lại cho những thế hệ về sau, để chúng thấy thứ lương thực Ta đã nuôi các ngươi trong đồng hoang, khi Ta đem các ngươi ra khỏi xứ Ai-cập.’” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Vậy Môi-se nói với A-rôn, “Xin anh lấy một cái bình, đổ hai lít ma-na vào trong đó, rồi đặt bình ấy trước mặt CHÚA, và giữ như vậy từ thế hệ này qua thế hệ khác.”  34 Theo như lệnh CHÚA đã truyền cho Môi-se, A-rôn đặt bình ấy trước Chứng Cớ, để lưu giữ.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 Dân I-sơ-ra-ên ăn ma-na bốn mươi năm, cho đến khi họ vào trong xứ có thể canh tác được.  Họ cứ ăn ma-na cho đến khi họ tiến vào bờ cõi xứ Ca-na-an.  36 Một ô-me là một phần mười của một ê-pha. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Lê-vi Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 15]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 17]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_6&amp;diff=35770</id>
		<title>Các Quan Xét: Chương 6</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%A1c_Quan_X%C3%A9t:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_6&amp;diff=35770"/>
		<updated>2026-06-18T03:40:25Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va phó họ vào tay của dân Ma-đi-an trong bảy năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Tay của dân Ma-đi-an đã thắng hơn dân Y-sơ-ra-ên. Vì cớ dân Ma-đi-an cho nên người Y-sơ-ra-ên phải làm cho mình những cái hang ở trong núi, trong các hang động, hay trong những nơi kiên cố. 3. Mỗi khi dân Y-sơ-ra-ên gieo giống thì dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và dân phương Đông kéo đến. Chúng kéo đến để tấn công họ. 4. Chúng đóng quân để chống lại họ và hủy hoại mùa màng trong xứ cho đến tận Ga-xa, không chừa lại một thứ gì trong Y-sơ-ra-ên, kể cả chiên, bò, và lừa. 5. Bởi vì chúng và những đàn súc vật của chúng đã kéo đến rồi đóng trại. Chúng kéo đến nhiều như cào cào. Bọn chúng và lạc đà nhiều vô số, không thể đếm hết được. Chúng chiếm lấy xứ rồi phá hoại. 6. Vì cớ dân Ma-đi-an mà dân Y-sơ-ra-ên bị nghèo đói, cho nên họ đã kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Và rồi, khi dân Y-sơ-ra-ên kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va về việc dân Ma-đi-an, 8. Đức Giê-hô-va đã sai một tiên tri đến nói với dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Ta đã đem các ngươi ra khỏi Ai Cập, đã rút các ngươi ra khỏi nhà nô lệ. 9. Ta đã giải thoát các ngươi khỏi tay của người Ai Cập, và khỏi tay của những kẻ áp bức các ngươi. Ta đã đuổi cư dân khỏi trước mặt các ngươi và ban cho các ngươi xứ của chúng.  10. Ta đã phán cùng các ngươi: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. Các ngươi đừng thờ phượng những thần của dân A-mô-rít tại trong xứ mà các ngươi đang cư ngụ. Nhưng các ngươi đã không vâng theo tiếng của Ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đến ngồi dưới cây sồi tại Óp-ra, thuộc về Giô-ách, dòng họ A-bi-ê-xê-rít. Con trai của ông là Ghi-đê-ôn đang đập lúa mì nơi bàn ép rượu, để giấu dân Mi-đi-an. 12. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra với ông, rồi nói với: “Hỡi người chiến sĩ dũng cảm! Đức Giê-hô-va ở với ngươi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Ghi-đê-ôn nói với người: “Ôi Chúa của tôi! Nếu Đức Giê-hô-va ở cùng chúng tôi, tại sao tất cả những việc nầy xảy đến cho chúng tôi? Tất cả những phép lạ đâu rồi?  Tổ phụ của chúng tôi thuật lại rằng Đức Giê-hô-va đã đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập, nhưng bây giờ Đức Giê-hô-va đã từ bỏ chúng tôi và phó chúng tôi vào tay của dân Ma-đi-an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Đức Giê-hô-va quay lại rồi phán với ông: “Hãy đi! Hãy dùng sức mà ngươi đang có để giải thoát Y-sơ-ra-ên ra khỏi tay của dân Ma-đi-an. Không phải Ta đang sai ngươi đó hay sao?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Nhưng ông nói với Ngài: “Ôi Chúa của tôi! Làm sao tôi có thể giải cứu Y-sơ-ra-ên được? Nầy, gia tộc của tôi là nhỏ nhất trong chi tộc Ma-na-se, và tôi là người nhỏ nhất trong gia đình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Đức Giê-hô-va phán với ông: “Thật vậy, Ta sẽ ở với ngươi, và ngươi sẽ đánh bại dân Mi-đi-an như đánh một người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Ghi-đê-ôn nói với Ngài: “Nếu tôi được ơn trước mặt Ngài, xin Ngài hãy tỏ cho tôi một dấu hiệu để chứng tỏ rằng chính Ngài đã phán cùng tôi. 18. Xin Ngài đừng rời khỏi đây cho đến khi tôi trở lại, mang theo tế lễ, để dâng cho Ngài.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài phán: “Ta sẽ chờ ở đây cho đến khi ngươi trở lại.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Ghi-đê-ôn đã đi vào, bắt một con dê con làm thịt, rồi lấy một ê-pha bột làm bánh không men. Ông để thịt trong rổ và đổ nước thịt vào nồi, rồi đem những vật đó đến dâng cho Ngài ở dưới cây sồi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Thiên sứ của Đức Chúa Trời truyền cho ông: “Hãy lấy thịt và bánh không men đặt trên tảng đá nầy, rồi đổ nước thịt ra.” Ông đã làm như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đưa đầu gậy đang cầm trong tay của Ngài chạm vào thịt và bánh không men. Lửa bốc lên từ tảng đá thiêu đốt thịt và bánh không men. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va biến mất trước mắt ông. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Ghi-đê-ôn nhận biết đó là Thiên sứ của Đức Giê-hô-va, ông thưa với Ngài: “Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời! Khốn nạn cho con, bởi vì con đã thấy Thiên sứ của Đức Giê-hô-va mặt đối mặt!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Nhưng Đức Giê-hô-va phán với ông: “Hãy an tâm. Ðừng sợ! Ngươi sẽ không chết.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Ghi-đê-ôn đã lập một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va tại đó, rồi đặt tên là Giê-hô-va Sa-lôm. Bàn thờ đó vẫn còn ở Óp-ra, thuộc về gia tộc A-bi-ê-xê-rít, cho đến ngày nay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25. Và rồi, đêm hôm đó Đức Giê-hô-va phán cùng ông: “Hãy bắt con bò đực của cha ngươi, và một con bò đực thứ nhì bảy tuổi, hãy kéo sập bàn thờ Ba-anh của cha ngươi xuống, và cũng chặt bỏ cây trụ A-sê-ra ở bên cạnh nó. 26. Sau đó, hãy xây một bàn thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi trên đỉnh của vầng đá nầy, rồi sắp đặt cho phù hợp. Hãy bắt con bò đực thứ nhì để làm tế lễ thiêu, rồi lấy gỗ của cây trụ A-sê-ra để làm củi đốt.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Ghi-đê-ôn đã chọn mười người trong các đầy tớ của mình để thực hiện theo điều Đức Giê-hô-va đã truyền cho ông. Bởi vì ông sợ những người trong gia đình và những người trong thành, cho nên ông không làm vào ban ngày nhưng làm vào ban đêm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Sáng hôm sau, khi dân thành thức dậy, họ thấy bàn thờ của Ba-anh đã bị phá sập, hình tượng A-sê-ra bên cạnh bị triệt hạ, và con bò đực thứ nhì đã được dâng làm tế lễ thiêu trên bàn thờ đã được xây dựng. 29. Họ hỏi lẫn nhau: “Ai đã làm việc nầy?” Sau khi dò hỏi và tìm hiểu, họ biết rằng chính Ghi-đê-ôn, con trai của Giô-ách, đã làm điều đó. 30. Dân trong thành nói với Giô-ách: “Hãy đem con trai của ông ra đây. Nó phải chết vì nó đã phá đổ bàn thờ của Ba-anh và triệt hạ hình tượng A-sê-ra bên cạnh đó.” 31. Nhưng Giô-ách trả lời những người đương đầu với ông: “Các ngươi muốn đấu tranh cho Ba-anh hay sao? Nếu các ngươi muốn tiếp cứu nó, thì ai đấu tranh cho Ba-anh sẽ bị xử tử trước sáng mai. Nếu thật hắn là thần thì chính hắn phải đấu tranh, bởi vì người ta đã phá đổ bàn thờ của hắn!” 32. Vì vậy, trong ngày đó người ta gọi Ghi-đê-ôn là Giê-ru-ba-anh, họ nói rằng: “Hãy để Ba-anh đấu tranh với ông ấy, vì ông ấy đã phá sập bàn thờ của hắn.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. Tất cả dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và các dân tộc ở phương đông hiệp lại với nhau. Chúng vượt qua sông Giô-đanh và đóng trại tại thung lũng Gít-rê-ên. 34. Thần của Đức Giê-hô-va ngự trên Ghi-đê-ôn. Ông thổi kèn triệu tập những người A-bi-ê-xê-rít đi theo ông. 35. Ông đã sai các sứ giả đi khắp Ma-na-se để triệu tập họ. Ông cũng sai các sứ giả theo mình đến với người A-se, Sa-bu-lôn, Nép-ta-li, và họ cũng đi lên hiệp với ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36. Ghi-đê-ôn thưa với Đức Chúa Trời: “Nếu Ngài giải cứu Y-sơ-ra-ên bằng tay của con như lời Ngài đã phán, 37. nầy, con sẽ để một mớ lông chiên trong sân đập lúa. Nếu sương chỉ đọng trên lông chiên, nhưng tất cả đất lại khô ráo, thì con sẽ nhận biết rằng Ngài sẽ giải cứu Y-sơ-ra-ên bằng tay của con như Ngài đã phán.” 38. Việc xảy ra đúng như vậy. Sáng hôm sau, ông dậy sớm, vắt lông chiên. Sương từ lông chiên chảy ra, hứng đầy một chén.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39. Ghi-đê-ôn thưa với Đức Chúa Trời rằng: “Xin Ngài đừng nổi giận với con. Con chỉ xin thưa một lần nữa. Xin Ngài hãy cho con thử bằng lông chiên một lần nữa. Lần nầy, xin cho lông chiên được khô, còn cả đất thì đẫm sương.” 40. Ðêm đó, Ðức Chúa Trời đã làm y như vậy. Chỉ có lông chiên là khô, còn cả đất đều đẫm sương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Dân Y-sơ-ra-ên làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va phó chúng vào tay dân Ma-đi-an trong bảy năm. 2.  Tay của người Ma-đi-an thắng hơn Y-sơ-ra-ên. Vì sợ người Ma-đi-an, nên dân Y-sơ-ra-ên làm cho mình những nơi ẩn náu trong núi, trong các hầm và đồn. 3.  Khi Y-sơ-ra-ên đã gieo giống, dân Ma-đi-an với dân A-mê-léc, và người phương Đông đi lên đánh Y-sơ-ra-ên, 4.  đóng trại đối ngang người, phá hại mùa màng của xứ cho đến Ga-xa, và không để lại trong Y-sơ-ra-ên lương thực gì, hoặc chiên, bò hay là lừa. 5.  Vì chúng nó đi lên đem theo bầy súc vật và trại mình, loán đến khác nào một đám cào cào. Người và lạc đà vô số đến trong xứ đặng phá hại. 6.  Vậy, vì cớ dân Ma-đi-an, Y-sơ-ra-ên bị nghèo khổ bẩn chật, nên họ kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Bấy giờ, vì dân Y-sơ-ra-ên đã kêu cầu Đức Giê-hô-va về việc dân Ma-đi-an, 8.  nên Đức Giê-hô-va sai một đấng tiên tri đến cùng dân Y-sơ-ra-ên. Người nói cùng chúng rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Ta đã đem các ngươi lên khỏi xứ Ê-díp-tô, rút các ngươi khỏi nhà nô lệ, 9.  giải cứu các ngươi khỏi tay người Ê-díp-tô, và khỏi tay hết thảy kẻ hà hiếp các ngươi, và đuổi chúng nó khỏi trước mặt các ngươi; ta đã ban cho các ngươi xứ của chúng nó, 10.  và có phán rằng: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, chớ sợ các thần của dân A-mô-rít tại trong xứ mà các ngươi ở. Nhưng các ngươi nào có nghe tiếng ta! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Đoạn, thiên sứ của Đức Giê-hô-va đến ngồi dưới cây thông Óp-ra thuộc về Giô-ách, người A-bi-ê-xê-rít. Ghê-đê-ôn, con trai người, đang đập lúa mạch trong bàn ép, đặng giấu khỏi dân Ma-đi-an. 12.  Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện đến cùng người mà rằng: Hỡi người dõng sĩ! Đức Giê-hô-va ở cùng ngươi. 13.  Ghê-đê-ôn thưa rằng: Ôi! Chúa, nếu Đức Giê-hô-va ở cùng chúng tôi, sao các điều nầy xảy đến cho chúng tôi? Các phép lạ kia ở đâu mà tổ phụ chúng tôi đã thuật lại rằng: Đức Giê-hô-va há chẳng có đem chúng ta ra khỏi xứ Ê-díp-tô sao? Vì bây giờ Đức Giê-hô-va từ bỏ chúng tôi, và phó chúng tôi vào tay dân Ma-đi-an. 14.  Đức Giê-hô-va xây lại cùng người mà phán rằng: Hãy dùng sức của ngươi vẫn có mà đi giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay dân Ma-đi-an. Ta há chẳng sai ngươi đi sao? 15.  Người thưa rằng: Than ôi! hỡi Chúa, tôi sẽ lấy chi giải cứu Y-sơ-ra-ên? Kìa, trong chi phái Ma-na-se, họ tôi vốn nghèo hơn hết; còn tôi là nhỏ hơn hết trong nhà cha tôi. 16.  Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta sẽ ở cùng ngươi, và ngươi sẽ đánh bại dân Ma-đi-an như đánh một người vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Ghê-đê-ôn thưa lại rằng: Nếu tôi được ơn trước mặt Chúa, xin ban cho tôi một dấu rằng chính Chúa phán cùng tôi. 18.  Xin chớ dan khỏi đây cho đến khi tôi trở lại cùng Ngài, đem của lễ tôi, để trước mặt Ngài. Ngài đáp: Ta sẽ ở đây cho đến khi ngươi trở lại. 19.  Ghê-đê-ôn bèn đi vô, dọn sẵn một con dê con, lấy một ê-pha bột làm những bánh nhỏ không men. Người để thịt trong rổ, đổ nước thịt vào nồi, rồi đem ra dâng các món ấy cho Ngài ở dưới cây thông. 20.  Thiên sứ của Đức Chúa Trời phán rằng: Hãy lấy thịt và bánh nhỏ không men, để trên hòn đá nầy, rồi đổ nước thịt ra. Ghê-đê-ôn bèn làm như vậy. 21.  Bấy giờ, thiên sứ của Đức Giê-hô-va giơ đầu gậy Ngài đang cầm nơi tay mình ra, đụng đến thịt và bánh nhỏ không men. Lửa từ hòn đá bốc lên, thiêu hóa thịt và bánh nhỏ không men; đoạn, thiên sứ của Đức Giê-hô-va biến đi khỏi mắt người. 22.  Ghê-đê-ôn thấy rằng ấy là thiên sứ của Đức Giê-hô-va, bèn la rằng: Ôi, Chúa Giê-hô-va! khốn nạn cho tôi, vì tôi thấy đối diện thiên sứ của Đức Giê-hô-va! 23.  Nhưng Đức Giê-hô-va phán cùng người rằng: Khá yên lòng, chớ sợ chi, ngươi sẽ không chết đâu. 24.  Ghê-đê-ôn bèn lập tại đó một cái bàn thờ cho Đức Giê-hô-va, và đặt tên là Giê-hô-va-Sa-lam. Tại Óp-ra, thành của người A-bi-ê-xê-rít, cái bàn thờ ấy vẫn còn đến ngày nay. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25.  Trong cũng một đêm ấy, Đức Giê-hô-va phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Hãy bắt con bò đực tơ của cha ngươi, và một con bò đực thứ nhì bảy tuổi, rồi phá dỡ bàn thờ thần Ba-anh tại nhà cha ngươi, và đánh hạ hình tượng A-sê-ra ở trên đó. 26.  Đoạn, tại nơi chót hòn đá nầy, ngươi sẽ lập một bàn thờ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và sắp đặt mọi việc; rồi hãy bắt con bò đực thứ nhì, dâng làm của lễ thiêu với gỗ hình tượng A-sê-ra mà ngươi đã đánh hạ. 27.  Ghê-đê-ôn chọn lấy mười người trong bọn đầy tớ mình, và làm theo điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn; và vì người sợ nhà cha mình cùng kẻ trong thành, nên không dám làm theo lịnh ấy ban ngày, bèn làm ban đêm. 28.  Sớm mai, khi dân trong thành thức dậy, thấy bàn thờ của thần Ba-anh đã bị phá dỡ, hình tượng A-sê-ra ở trên bị đánh hạ, và con bò đực thứ nhì đã dâng làm của lễ thiêu trên bàn thờ mới lập đó. 29.  Chúng hỏi nhau rằng: Ai làm điều đó? Đoạn, hỏi thăm và tra xét. Có người nói cùng chúng nó rằng: Ấy là Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, đã làm điều đó. 30.  Dân trong thành bèn nói cùng Giô-ách rằng: Hãy biểu con ngươi ra, nó phải chết, vì nó đã phá dỡ bàn thờ thần Ba-anh, và đánh hạ hình tượng A-sê-ra ở trên. 31.  Giô-ách đáp với những kẻ dấy nghịch cùng mình rằng: Các ngươi há có ý binh vực Ba-anh sao? Há có phải các ngươi muốn tiếp cứu nó ư? Ai theo phe của Ba-anh sẽ bị xử tử kể từ sáng ngày nay. Nếu hắn là chúa, thì chính hắn hãy tranh luận lấy chớ, bởi vì người ta đã phá dỡ bàn thờ của hắn. 32.  Vậy, trong ngày đó người ta gọi Ghê-đê-ôn là Giê-ru-ba-anh mà rằng: Ba-anh phải tranh luận cùng người, vì Ghê-đê-ôn có phá dỡ bàn thờ của hắn! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33.  Hết thảy dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và người phương Đông đều hiệp lại, đi ngang qua sông Giô-đanh, và đóng trại tại trũng Gít-rê-ên. 34.  Thần của Đức Giê-hô-va cảm hóa Ghê-đê-ôn; người thổi kèn, các người A-bi-ê-xê-rít bèn hiệp lại đặng theo người. 35.  Người cũng sai sứ giả đi khắp Ma-na-se; người Ma-na-se bèn nhóm hiệp đặng theo người. Đoạn, người sai sứ giả đến chi phái A-se, Sa-bu-lôn và Nép-ta-li; họ cũng đi lên mà hiệp với người nữa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36.  Ghê-đê-ôn thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Nếu Chúa muốn dùng tay tôi giải cứu Y-sơ-ra-ên, y như lời Chúa đã phán, 37.  thì tôi sẽ để một lốt chiên trong sân đạp lúa; nếu sương chỉ đóng trên lốt chiên, còn đất lại khô ráo, thì tôi sẽ nhận biết Chúa dùng tay tôi giải cứu Y-sơ-ra-ên, y như Chúa đã hứa vậy. 38.  Việc bèn xảy ra như vậy: ngày mai Ghê-đê-ôn dậy sớm, ép vắt lốt chiên, thì sương chảy ra đầy một chén nước. 39.  Ghê-đê-ôn lại thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Xin cơn thạnh nộ Chúa chớ nổi phừng cùng tôi, tôi chỉ sẽ nói lần nầy thôi. Xin Chúa để tôi làm thử với lốt chiên chỉ một lần nầy mà thôi: Xin cho một mình lốt chiên phải khô, còn sương lại đóng khắp trên đất. 40.  Trong đêm đó, Đức Chúa Trời bèn làm như vậy; chỉ một mình lốt chiên thì khô, còn khắp trên đất lại bị sương phủ. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B07\V02B07C006.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Dân I-sơ-ra-ên Bị Dân Mi-đi-an Ðàn Áp'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Dân I-sơ-ra-ên làm điều tội lỗi trước mặt CHÚA, nên Ngài phó họ vào tay dân Mi-đi-an bảy năm.  2 Tay của dân Mi-đi-an thắng hơn dân I-sơ-ra-ên.  Vì sự đàn áp của dân Mi-đi-an, dân I-sơ-ra-ên phải sống trốn tránh trong các rừng núi, hang hóc, hoặc trong các thành trì kiên cố.  3 Mỗi khi dân I-sơ-ra-ên đi ra gieo giống, dân Mi-đi-an, dân A-ma-léc, và các dân phương đông kéo đến đánh họ.  4 Chúng hạ trại dàn quân đánh họ.  Chúng phá hủy các hoa màu trong xứ cho đến tận vùng Ga-xa, không chừa lại một thứ gì trong đất I-sơ-ra-ên, kể cả chiên, bò, và lừa.  5 Chúng và những đàn súc vật của chúng kéo đến và dựng trại đông như cào cào.  Người ta và lạc đà nhiều vô số, không thể đếm hết.  Chúng chiếm lấy xứ và phá hủy tất cả.  6 Vì cớ dân Mi-đi-an, dân I-sơ-ra-ên đã bị đói khổ rất thê thảm, do đó người I-sơ-ra-ên đã kêu cầu CHÚA xin cứu giúp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Sau khi dân I-sơ-ra-ên đã kêu cầu CHÚA vì cớ dân Mi-đi-an, 8 CHÚA sai một vị tiên tri đến với dân I-sơ-ra-ên và nói với họ, “CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này: Ta đã đem các ngươi lên khỏi xứ Ai-cập, tức đem các ngươi ra khỏi nhà nô lệ.  9 Ta đã giải thoát các ngươi ra khỏi tay người Ai-cập, và khỏi tay mọi kẻ áp bức các ngươi.  Ta đã đuổi chúng đi khỏi mặt các ngươi và ban cho các ngươi xứ của chúng.  10 Ta đã phán với các ngươi, ‘Ta là CHÚA, Ðức Chúa Trời của các ngươi; các ngươi chớ thờ các thần của dân A-mô-ri trong xứ các ngươi đang sống.’  Nhưng các ngươi không vâng lời Ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''CHÚA Kêu Gọi Ghi-đê-ôn'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Bấy giờ Thiên Sứ của CHÚA đến ngồi dưới cây sồi của Óp-ra, trong đất của Giô-ách, thuộc dòng họ A-bi-ê-xe.  Ghi-đê-ôn con trai Giô-ách đang đập lúa nơi bàn ép rượu, để tránh khỏi dân Mi-đi-an.  12 Thiên Sứ của CHÚA hiện ra với ông và phán, “Này, CHÚA ở với ngươi, hỡi người chiến sĩ anh dũng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Ghi-đê-ôn đáp, “Thưa Ngài, nếu CHÚA ở với chúng con, tại sao chúng con phải ra nông nỗi này?  Nào những việc lạ lùng mà các tổ tiên chúng con thường kể lại cho chúng con nghe đâu rồi?  Họ bảo rằng, ‘CHÚA chẳng đã đem các người lên khỏi đất Ai-cập hay sao?’  Nhưng bây giờ CHÚA đã bỏ chúng con và phó chúng con vào tay dân Mi-đi-an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 CHÚA quay qua ông và phán với ông, “Hãy đi, dùng sức ngươi sẵn có mà giải thoát dân I-sơ-ra-ên khỏi tay dân Mi-đi-an.  Há chẳng phải Ta sai ngươi đó sao?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Ông đáp, “Nhưng thưa Ngài, làm sao con có thể giải thoát dân I-sơ-ra-ên được?  Gia tộc con là gia tộc yếu kém nhất trong chi tộc Ma-na-se; còn con là kẻ nhỏ nhất trong gia đình của cha con.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 CHÚA phán với ông, “Ta sẽ ở với ngươi, và ngươi sẽ đánh bại dân Mi-đi-an như đánh một người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Ghi-đê-ôn nói, “Nếu con được ơn trước mặt Ngài, xin Ngài cho con một dấu lạ, để chứng tỏ rằng chính Ngài đã phán với con.  18 Xin Ngài đừng rời khỏi đây cho đến khi con trở lại, mang theo của tế lễ, và dâng lên trước mặt Ngài.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài phán, “Ta sẽ chờ ở đây cho đến khi ngươi trở lại.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Ghi-đê-ôn vội vàng trở về nhà, bắt một con dê con làm thịt, lấy mười ký bột làm bánh không men.  Ông lấy thịt để vào một cái giỏ và để cháo trong nồi, rồi đem tất cả các món ấy đến dưới cây sồi mà dâng lên Ngài.  20 Thiên Sứ của Đức Chúa Trời phán, “Hãy lấy thịt và bánh không men để trên tảng đá này, rồi đổ cháo lên.”  Ghi-đê-ôn làm y như vậy.  21 Thiên Sứ của CHÚA đưa tay ra, dùng đầu gậy cầm nơi tay đụng vào thịt và bánh không men; lửa từ tảng đá bùng lên thiêu đốt thịt và bánh không men, đồng thời Thiên Sứ của CHÚA cũng biến mất. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Ghi-đê-ôn liền nhận biết ấy là Thiên Sứ của CHÚA, ông nói, “Ôi lạy CHÚA Hằng Hữu!  Con chắc phải chết rồi, vì con đã gặp Thiên Sứ của CHÚA mặt đối mặt.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Nhưng CHÚA phán với ông, “Hãy an tâm.  Ðừng sợ.  Ngươi sẽ không chết đâu.”  24 Ghi-đê-ôn liền xây một bàn thờ cho CHÚA tại đó và đặt tên là CHÚA Bình An.  Bàn thờ ấy vẫn còn ở Óp-ra, trong đất của dòng họ A-bi-ê-xe, cho đến ngày nay. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ghi-đê-ôn Phá Ðổ Bàn Thờ Ba-anh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25 Ðêm đó CHÚA phán với ông, “Hãy bắt con bò đực của cha ngươi, và một con bò đực thứ nhì bảy tuổi, rồi cho kéo đổ bàn thờ Thần Ba-anh của cha ngươi xuống.  Ngươi cũng hãy đốn cây trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra ở bên cạnh nó ngã xuống.  26 Sau đó hãy xây một bàn thờ cho CHÚA, Ðức Chúa Trời của ngươi, trên vầng đá này, theo như cách thức đã ấn định xưa nay; rồi hãy bắt con bò đực thứ nhì làm của lễ thiêu, và lấy gỗ của cây trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra làm củi để thiêu.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Vậy Ghi-đê-ôn chọn mười đầy tớ để giúp ông làm y như lời CHÚA đã phán bảo.  Vì ông sợ những người khác trong gia đình và dân thành trông thấy, nên thay vì làm ban ngày, ông đã thực hiện việc đó ban đêm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Sáng hôm sau khi dân thành thức dậy, họ thấy bàn thờ của Thần Ba-anh đã đổ xuống, trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra đã bị đốn mất, con bò thứ nhì đã được dâng trên bàn thờ vừa mới được xây.  29 Họ bèn hỏi nhau, “Ai đã làm việc này?”  Sau khi điều tra và dọ hỏi, họ được báo, “Ấy là Ghi-đê-ôn con trai của Giô-ách; ông ấy đã làm điều đó.”  30 Dân thành kéo đến nói với Giô-ách, “Hãy đem con ông ra đây, để nó phải chết, vì nó đã dám phá dỡ bàn thờ của Thần Ba-anh và đốn ngã trụ thờ Nữ Thần A-sê-ra ở bên cạnh.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 Nhưng Giô-ách trả lời những người đương đầu với ông, “Có phải các người đến để binh vực cho Ba-anh không?  Các người muốn binh vực nó phải không?  Ai muốn binh vực nó sẽ bị toi mạng sáng nay.  Vì nếu nó quả thật là thần, hãy để nó tự bảo vệ cho mình, vì bàn thờ của nó đã bị phá đổ kia mà.”  32 Vì thế ngày hôm đó người ta gọi Ghi-đê-ôn là Giê-ru-ba-anh, vì họ nói rằng, “Thôi để cho Ba-anh đối phó với ông ấy,” vì ông ấy đã phá đổ bàn thờ của hắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ghi-đê-ôn Mộ Binh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Bấy giờ toàn dân Mi-đi-an, dân A-ma-léc, và các dân ở phương đông hiệp lại với nhau.  Chúng vượt qua Sông Giô-đanh và hạ trại ở Thung Lũng Giê-rê-ên.  34 Thần của CHÚA ngự trên Ghi-đê-ôn.  Ông thổi kèn triệu tập, và dòng họ A-bi-ê-xe đều nhóm lại theo ông.  35 Ông sai sứ giả đến khắp địa phận của Ma-na-se, và họ cùng nhau hiệp lại theo ông.  Ông sai các sứ giả đến địa phận của A-se, Xê-bu-lun, và Náp-ta-li.  Họ thảy đều đi lên và hiệp với ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Dấu Chỉ Trên Mớ Lông Chiên'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36 Bấy giờ Ghi-đê-ôn thưa với Ðức Chúa Trời, “Ðể con có thể biết chắc chắn rằng Ngài muốn dùng tay con giải thoát dân I-sơ-ra-ên như lời Ngài đã phán, 37 con xin để một mớ lông chiên trong sân đập lúa; nếu sương chỉ đọng trên mớ lông chiên, còn đất chung quanh đều khô ráo, thì con biết rằng Ngài sẽ dùng tay con để giải thoát dân I-sơ-ra-ên như lời Ngài đã phán.”  38 Việc ấy xảy ra y như vậy.  Sáng hôm sau ông dậy sớm, ra lấy mớ lông chiên mà vắt, nước sương từ trong mớ lông chiên chảy ra, hứng đầy một chén.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39 Ghi-đê-ôn lại thưa với Ðức Chúa Trời, “Xin Ngài đừng nổi giận với con.  Xin cho con thưa thêm một lần nữa.  Xin cho con thử lại với mớ lông chiên một lần nữa.  Lần này xin cho chỉ mớ lông chiên được khô, còn đất chung quanh sẽ bị phủ đầy sương.”  40 Ðêm đó Ðức Chúa Trời làm y như vậy.  Chỉ mớ lông chiên là khô, còn đất chung quanh đều đọng sương ướt đẫm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Giô-suê]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 5]]&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét: Chương 7]]&lt;br /&gt;
:* [[Ru-tơ]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=%C3%8A-ph%C3%AA-s%C3%B4:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35769</id>
		<title>Ê-phê-sô: Chương 1</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=%C3%8A-ph%C3%AA-s%C3%B4:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35769"/>
		<updated>2026-06-15T07:18:23Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Phao-lô, theo ý muốn của Ðức Chúa Trời, làm sứ đồ của Ðức Chúa Jesus Christ, gởi đến các thánh đồ tại Ê-phê-sô, và những người trung tín trong Ðức Chúa Jesus Christ. 2. Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta, đến với anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Chúc tụng Ðức Chúa Trời - Cha của Chúa chúng ta là Ðức Chúa Jesus Christ - là Ðấng đã ban cho chúng ta mọi phước hạnh thuộc linh ở các nơi trên trời trong Ðấng Christ; 4. vì tình yêu, Ngài đã chọn chúng ta trong Ðấng Christ trước khi sáng thế, để chúng ta được thánh hóa và toàn vẹn trước mặt Ngài; 5. và đã định trước để chúng ta làm con nuôi của chính Ngài, qua Ðức Chúa Jesus Christ, theo ý muốn tốt lành của Ngài, 6. để tôn ngợi ân điển vinh quang của Ngài, mà Ngài đã ban tặng cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài; 7. trong Đấng mà chúng ta được cứu chuộc nhờ vào huyết của Đấng đó, được tha thứ những lỗi lầm, theo sự phong phú của ân điển Ngài, 8. là ân điển mà Ngài đã ban thật rời rộng cho chúng ta trong sự khôn ngoan và thấu hiểu toàn vẹn của Ngài, 9. đã bày tỏ cho chúng ta biết huyền nhiệm của ý muốn Ngài theo ý tốt của Ngài, đã định trước trong Ðấng 10. quản trị thời viên mãn; để đem mọi vật quy tụ trong Ðấng Christ, tức là những vật ở trên trời và những vật ở dưới đất; 11. trong Ngài, chúng tôi được thừa hưởng cơ nghiệp đã định sẵn, y theo mục đích của Ngài, bởi vì mọi vật hoạt động theo ý định của Ngài, 12. để chúng tôi, là những người đầu tiên đặt hy vọng nơi Ðấng Christ, ca ngợi vinh quang của Ngài. 13. Anh em cũng vậy: Trong Ðấng đó, anh em đã nghe sứ điệp của chân lý, là Phúc Âm cứu rỗi của anh em; cũng trong Đấng đó, anh em đã tin và đã được đóng ấn bằng Ðức Thánh Linh của lời hứa, 14. là Đấng bảo đảm cho cơ nghiệp của chúng ta, để sở hữu sự cứu chuộc, để ca ngợi vinh quang của Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Vì điều này, khi tôi nghe về đức tin của anh em trong Chúa, là Ðức Chúa Jesus, cùng lòng yêu thương của anh em đối với tất cả các thánh đồ, 16. tôi không ngừng dâng lời cảm tạ về anh em, và nhắc đến anh em trong lời cầu nguyện của tôi, 17. để Ðức Chúa Trời, là Cha vinh hiển của Chúa chúng ta là Ðức Chúa Jesus Christ, ban cho anh em linh của sự khôn ngoan cùng sự mặc khải để nhận biết Ngài, 18. để khai minh con mắt của tấm lòng anh em để anh em biết hy vọng về sự kêu gọi của Ngài là gì, sự phong phú của cơ nghiệp vinh quang của Ngài dành cho các thánh đồ là thể nào, 19. và quyền năng vĩ đại vượt trội của Ngài dành cho chúng ta - là những người đang tin theo tác động của quyền năng siêu việt của Ngài - là dường nào, 20. là điều Ngài đã thực hiện trong Ðấng Christ khi Ngài vực Ðấng đó từ cõi chết, và lập Ðấng đó ngồi bên phải của Ngài trong các nơi trên trời, 21. vượt trên mọi quyền thống trị, thẩm quyền, thế lực, chủ quyền, và mọi danh hiệu được đặt ra, không những trong đời nầy mà trong đời sắp đến nữa; 22. Ngài đã đặt mọi vật ở dưới chân của Ðấng đó và Ðấng đó làm đầu mọi vật cho lợi ích của hội thánh - 23. là thân thể của Đấng đó, để được đầy dẫy Ðấng làm viên mãn tất cả và ở trong tất cả. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phao-lô, theo ý muốn của Ðức Chúa Trời, làm sứ đồ của Ðức Chúa Jesus Christ, gởi đến các thánh đồ ở Ê-phê-sô, và những người trung tín trong Ðức Chúa Jesus Christ. Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta, đến với anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúc tụng Ðức Chúa Trời - Cha của Chúa chúng ta là Ðức Chúa Jesus Christ - Ðấng đã ban cho chúng ta mọi phước hạnh thuộc linh ở các nơi trên trời trong Ðấng Christ; vì tình yêu, Ngài đã chọn chúng ta trong Ðấng Christ trước khi sáng thế, để chúng ta được thánh hóa và toàn hảo trước mặt Ngài; và đã định trước để chúng ta làm con nuôi của chính Ngài, qua Ðức Chúa Jesus Christ, theo ý muốn tốt lành của Ngài, để tôn ngợi ân điển vinh diệu của Ngài, mà Ngài đã ban tặng cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài; trong Đấng mà chúng ta được cứu chuộc nhờ vào huyết của Đấng đó, được tha thứ những lỗi lầm, theo sự phong phú của ân điển Ngài, là ân điển mà Ngài đã ban thật rời rộng cho chúng ta trong sự khôn ngoan và thấu hiểu toàn vẹn của Ngài, đã bày tỏ cho chúng ta biết huyền nhiệm của ý muốn Ngài theo ý tốt của Ngài, đã định trước trong Ðấng quản trị thời viên mãn; để đem mọi vật quy tụ trong Ðấng Christ: những vật trên trời và những vật dưới đất; trong Ngài, chúng ta được thừa hưởng cơ nghiệp đã định sẵn, y theo mục đích của Ngài, vì mọi vật hoạt động theo ý định của Ngài, để chúng ta, những người đầu tiên đặt hy vọng nơi Ðấng Christ, ca ngợi vinh hiển Ngài; anh em cũng vậy:  Trong Ðấng đó, anh em nghe sứ điệp của chân lý, là Phúc Âm cứu rỗi của anh em; cũng trong Đấng đó, anh em đã tin và đã được đóng ấn bằng Ðức Thánh Linh của lời hứa, là Đấng bảo đảm cho cơ nghiệp của chúng ta, để sở hữu sự cứu chuộc, để ca ngợi vinh quang của Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì điều này, khi tôi nghe về đức tin của anh em trong Chúa, là Ðức Chúa Jesus, và lòng yêu thương của anh em đối với tất cả các thánh đồ, tôi không ngừng dâng lời cảm tạ vì anh em, và nhắc đến trong lời cầu nguyện của tôi, để Ðức Chúa Trời, Cha vinh hiển của Chúa chúng ta là Ðức Chúa Jesus Christ, ban cho anh em linh của sự khôn ngoan cùng sự mặc khải để nhận biết Ngài, để khai minh con mắt của tấm lòng anh em để anh em biết hy vọng về sự kêu gọi của Ngài là gì, sự phong phú của cơ nghiệp vinh quang  của Ngài dành cho các thánh đồ là thể nào, và quyền năng vĩ đại vượt trội của Ngài dành cho chúng ta, là những người đang tin theo tác động của quyền năng siêu việt của Ngài, là dường nào, là điều Ngài đã thực hiện trong Ðấng Christ khi Ngài vực Ðấng đó từ cõi chết, và lập Ðấng đó ngồi bên phải Ngài trong các nơi trên trời, vượt trên mọi quyền thống trị, thẩm quyền, thế lực, chủ quyền, và mọi danh hiệu được đặt ra, không những trong đời nầy mà trong đời sắp đến nữa; Ngài đã đặt mọi vật ở dưới chân của Ðấng đó và Ðấng đó làm đầu mọi vật cho lợi ích của hội thánh - là thân thể của Đấng đó, là sự toàn vẹn của Ðấng làm viên mãn tất cả mọi vật. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Phao-lô, sứ đồ của Ðức Chúa Jesus Christ theo ý muốn của Ðức Chúa Trời, gởi cho các thánh đồ ở Ê-phê-sô, và những người trung tín trong Ðức Chúa Jesus Christ. 2. Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta, đến với anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Chúc tụng Ðức Chúa Trời - Cha của Chúa chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ - Ðấng đã ban cho chúng ta mọi phước hạnh thuộc linh ở các nơi trên trời trong Ðấng Christ; 4. vì như tình yêu, Ngài đã chọn chúng ta ở trong Ðấng Christ trước khi lập nền của thế giới, để chúng ta được thánh hóa và toàn hảo trước mặt Ngài; 5. theo ý muốn tốt lành của Ngài, đã định trước để chúng ta làm con nuôi của chính Ngài, qua Ðức Chúa Jesus Christ, 6. để tôn ngợi ân điển vinh quang của Ngài, mà Ngài đã ban tặng cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài; 7. trong Đấng mà chúng ta được cứu chuộc nhờ vào huyết của Đấng đó, được tha thứ những lỗi lầm, theo sự phong phú của ân điển Ngài, 8. là ân điển mà Ngài đã ban thật rời rộng cho chúng ta trong sự khôn ngoan và thấu hiểu toàn vẹn của Ngài, 9. đã bày tỏ cho chúng ta biết huyền nhiệm của ý muốn Ngài theo ý tốt của Ngài, đã định trước trong Ðấng 10. quản trị thời viên mãn; để đem mọi vật quy tụ trong Ðấng Christ: những vật trên trời và những vật dưới đất; 11. trong Ngài, chúng ta được thừa hưởng cơ nghiệp đã định sẵn, y theo mục đích của Ngài, vì mọi vật hoạt động theo ý định của Ngài, 12. để chúng ta, những người đầu tiên đặt hy vọng nơi Ðấng Christ, ca ngợi vinh quang của Ngài; 13. cũng trong Ðấng đó, anh em nghe sứ điệp của chân lý, là Phúc Âm cứu rỗi của anh em; anh em cũng vậy: Trong Đấng đó, anh em đã tin và đã được đóng ấn bằng Ðức Thánh Linh của lời hứa, 14. là Đấng bảo đảm cho cơ nghiệp của chúng ta, để sở hữu sự cứu chuộc, để ca ngợi vinh quang của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Vì điều này, khi tôi nghe về đức tin của anh em trong Chúa, là Ðức Chúa Jesus, và lòng yêu thương của anh em đối với tất cả các thánh đồ, 16. tôi không ngừng dâng lời cảm tạ vì anh em, và nhắc đến trong lời cầu nguyện của tôi, 17. để Ðức Chúa Trời, Cha vinh hiển của Chúa chúng ta là Ðức Chúa Jesus Christ, ban cho anh em linh của sự khôn ngoan cùng sự mặc khải để nhận biết Ngài, 18. để khai minh con mắt của tấm lòng anh em để anh em biết hy vọng về sự kêu gọi của Ngài là gì, sự phong phú của cơ nghiệp vinh quang  của Ngài dành cho các thánh đồ là thể nào, 19. và quyền năng vĩ đại vượt trội của Ngài dành cho chúng ta - những người tin theo tác động của quyền năng siêu việt của Ngài - là dường nào, 20. là điều Ngài đã thực hiện trong Ðấng Christ khi Ngài vực Ðấng đó từ cõi chết, và lập Ðấng đó ngồi bên phải Ngài trong các nơi trên trời, 21. vượt trên mọi quyền thống trị, thẩm quyền, thế lực, chủ quyền, và mọi danh hiệu được đặt ra, không những trong đời nầy mà trong đời sắp đến nữa; 22. Ngài đã đặt mọi vật ở dưới chân của Ðấng đó và Ðấng đó làm đầu mọi vật cho lợi ích của hội thánh - 23. là thân thể của Đấng đó, là sự toàn vẹn của Ðấng làm viên mãn tất cả mọi vật. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Phao-lô, theo ý muốn Đức Chúa Trời, làm sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, gởi cho các thánh đồ ở thành Ê-phê-sô, cho những kẻ trung tín trong Đức Chúa Jêsus Christ: 2.  nguyền xin ân điển và sự bình an được ban cho anh em từ nơi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời, 4.  trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời, 5.  bởi sự thương yêu của Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ, theo ý tốt của Ngài, 6.  để khen ngợi sự vinh hiển của ân điển Ngài đã ban cho chúng ta cách nhưng không trong Con yêu dấu của Ngài! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Ấy là trong Đấng Christ, chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài, được tha tội, theo sự dư dật của ân điển Ngài, 8.  mà Ngài đã rải ra đầy dẫy trên chúng ta cùng với mọi thứ khôn ngoan thông sáng, 9.  khiến chúng ta biết sự mầu nhiệm của ý muốn Ngài, theo ý định mà Ngài đã tự lập thành trước trong lòng nhân từ Ngài 10.  để làm sự định trước đó trong khi kỳ mãn, hội hiệp muôn vật lại trong Đấng Christ, cả vật ở trên trời và vật ở dưới đất. 11.  Ấy cũng là trong Ngài mà chúng ta đã nên kẻ dự phần kế nghiệp, như đã định trước cho chúng ta được điều đó, theo mạng của Đấng làm mọi sự hiệp với ý quyết đoán, 12.  hầu cho sự vinh hiển của Ngài nhờ chúng ta là kẻ đã trông cậy trong Đấng Christ trước nhất mà được ngợi khen. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13.  Ấy lại cũng trong Ngài mà anh em sau khi đã nghe đạo chân thật, là đạo Tin Lành về sự cứu rỗi anh em, ấy là trong Ngài mà anh em đã tin và được ấn chứng bằng Đức Thánh Linh là Đấng Chúa đã hứa, 14.  Đấng ấy làm của cầm về cơ nghiệp chúng ta, cho đến kỳ chuộc lấy những kẻ mà Ngài đã được để khen ngợi sự vinh hiển Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15.  Vậy nên, sau khi tôi có nghe đức tin anh em hướng về Đức Chúa Jêsus và tình yêu thương đối với các thánh đồ, 16.  thì tôi vì anh em cảm tạ không thôi, thường nhắc đến anh em trong khi cầu nguyện. 17.  Tôi cầu Đức Chúa Trời của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, là Cha vinh hiển, ban thần trí của sự khôn sáng và của sự tỏ ra cho anh em, để nhận biết Ngài, 18.  lại soi sáng con mắt của lòng anh em, hầu cho biết điều trông cậy về sự kêu gọi của Ngài là thể nào, sự giàu có của cơ nghiệp vinh hiển Ngài cho các thánh đồ là làm sao, 19.  và biết quyền vô hạn của Ngài, đối với chúng ta có lòng tin, là lớn dường nào, y theo phép tối thượng của năng lực mình, 20.  mà Ngài đã tỏ ra trong Đấng Christ, khi khiến Đấng Christ từ kẻ chết sống lại và làm cho ngồi bên hữu mình tại các nơi trên trời, 21.  cao hơn hết mọi quyền, mọi phép, mọi thế lực, mọi quân chủ cùng mọi danh vang ra, không những trong đời nầy, mà cũng trong đời hầu đến nữa. 22.  Ngài đã bắt muôn vật phục dưới chân Đấng Christ, và ban cho Đấng Christ làm đầu Hội thánh, 23.  Hội thánh là thân thể của Đấng Christ, tức là sự đầy đủ của Đấng gồm tóm mọi sự trong mọi loài. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B49\V02B49C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Mở Ðầu'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Phao-lô, bởi ý muốn của Ðức Chúa Trời làm sứ đồ của Ðức Chúa Jesus Christ, kính gởi các thánh đồ ở Ê-phê-sô, những người trung tín trong Ðức Chúa Jesus Christ.  2 Nguyện xin ân sủng và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta, đến với anh chị em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phước Hạnh Thuộc Linh trong Ðấng Christ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Chúc tụng Ðức Chúa Trời, Cha của Ðức Chúa Jesus Christ chúng ta, Ðấng đã ban cho chúng ta mọi phước hạnh thuộc linh ở các nơi trên trời trong Ðấng Christ.  4 Do lòng yêu thương của Ngài, Ngài đã chọn chúng ta trong Ðấng Christ trước khi dựng nên vũ trụ, để chúng ta được thánh hóa và trọn vẹn trước mặt Ngài.  5 Theo ý muốn tốt đẹp của Ngài, Ngài đã định trước để qua Ðức Chúa Jesus Christ, chúng ta được nhận làm con nuôi mà thành con cái Ngài, 6 hầu chúng ta ca ngợi ân sủng vinh diệu của Ngài, tức ân sủng Ngài ban cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài.  7 Trong Con ấy và nhờ huyết Con ấy, chúng ta được cứu chuộc, được tha thứ những lỗi lầm, theo sự phong phú của ân sủng Ngài, 8 tức ân sủng Ngài ban dồi dào cho chúng ta.  Trong sự khôn ngoan và hiểu thấu toàn vẹn của Ngài, 9 Ngài đã bày tỏ cho chúng ta biết huyền nhiệm của thánh ý Ngài, theo ý muốn tốt đẹp của Ngài, mà Ngài đã định trước trong Ðấng Christ; 10 ấy là một chương trình cho kỳ viên mãn, khi mọi vật phải quy tụ trong Ðấng Christ, gồm những vật trên trời lẫn những vật dưới đất.  11 Trong Ðấng Christ, chúng ta được thừa hưởng cơ nghiệp đã định sẵn cho chúng ta, y theo mục đích của Ngài, Ðấng thực hiện mọi sự theo chương trình của Ngài, 12 để chúng ta, những người đầu tiên đặt hy vọng nơi Ðấng Christ, thành những người ca ngợi vinh hiển Ngài.  13 Cũng trong Ngài, khi anh chị em nghe sứ điệp của chân lý, là Tin Mừng cứu rỗi, anh chị em tin thờ Ngài, và đã được đóng ấn bằng Ðức Thánh Linh, Ðấng Ngài đã hứa.  14 Ðức Thánh Linh là bảo chứng cho cơ nghiệp chúng ta, trong khi chờ đợi những người thuộc về Ngài được cứu chuộc, để ca ngợi vinh hiển Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Cầu Nguyện của Phao-lô'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Vì lẽ đó khi tôi nghe nói về đức tin của anh chị em trong Ðức Chúa Jesus và lòng yêu thương của anh chị em đối với tất cả thánh đồ, 16 tôi không ngừng dâng lời cảm tạ vì anh chị em mỗi khi tôi nhớ đến anh chị em trong khi cầu nguyện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Tôi cầu xin Ðức Chúa Trời, Cha vinh hiển của Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta, ban cho anh chị em linh của sự khôn ngoan và sự mặc khải để nhận biết Ngài, 18 và cho con mắt lòng anh chị em được khai minh, để anh chị em có thể nhận biết hy vọng Ngài đã kêu gọi anh chị em là gì, sự giàu có của cơ nghiệp vinh hiển đang dành cho các thánh đồ ra sao, 19 và sự lớn lao vô lượng của quyền năng Ngài dành cho chúng ta là những người tin, trong sự vận hành của quyền năng vĩ đại Ngài như thế nào.  20 Ngài đã thực hiện quyền năng đó trong Ðấng Christ khi Ngài làm cho Ðấng Christ sống lại từ cõi chết và lập Ðấng Christ ngồi bên phải Ngài trong các nơi trên trời, 21 cao hơn mọi quyền lực, quyền hành, quyền thế, quyền bính, và mọi chức tước được lập ra, không những trong đời này mà trong đời sắp đến nữa.  22 Ngài đã đặt mọi sự dưới chân Ðấng Christ và lập Ðấng Christ làm đầu mọi sự cho hội thánh; 23 hội thánh là thân thể Ngài, sự đầy trọn của Ðấng làm đầy dẫy mọi sự trong mọi sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B49\V01B49C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Ê-phê-sô: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Ê-phê-sô: Chương 6]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Ê-phê-sô]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Phi-líp]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=T%C3%ADt:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35768</id>
		<title>Tít: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=T%C3%ADt:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35768"/>
		<updated>2026-06-10T00:04:04Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng con hãy giảng dạy những gì phù hợp với tín lý lành mạnh: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Những người nam lớn tuổi phải trầm tĩnh, trang nghiêm, biết tự kiềm chế; vững vàng trong đức tin, trong tình yêu, và trong sự kiên trì. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Những người nữ lớn tuổi cũng vậy, phải cư xử cách lễ độ, đừng nói xấu, đừng nghiện rượu; biết dạy những điều tốt 4. để họ có thể huấn luyện những phụ nữ trẻ biết yêu chồng, thương con, 5. biết tự kiềm chế, thanh sạch, đảm đang việc nhà, nhân hậu, thuận phục chồng mình, để đạo của Đức Chúa Trời không bị xúc phạm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Cũng vậy, con hãy khuyên những người trẻ biết tự kiềm chế. 7. Trong mọi việc, hãy thể hiện chính con là một gương mẫu về những việc tốt; trong sự giảng dạy: hãy trung thực và điềm tỉnh; 8. lời nói phải đúng đắn, không thể bị bắt bẻ, để những người chống đối phải hổ thẹn, không thể nói xấu chúng ta điều gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Những người phục vụ hãy thuận phục chủ của mình, trong mọi việc hãy vui vẻ, đừng cãi trả, 10. đừng ăn cắp, nhưng tất cả hãy thể hiện điều tốt và đáng tin cậy, để đạo của Đấng Giải Cứu chúng ta, là Đức Chúa Trời, được tôn quý trong mọi phương diện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời đã được thể hiện, mang đến sự cứu rỗi cho tất cả mọi người, 12. hướng dẫn chúng ta từ bỏ sự không tin kính và những đam mê thế tục, để sống cách đứng đắn, công chính, và tin kính trong đời nầy, 13. đang khi chờ đợi niềm hy vọng phước hạnh và sự xuất hiện vinh quang của Đức Chúa Trời vĩ đại, và Đấng Giải Cứu của chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, 14. là Đấng đã phó chính Ngài vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội lỗi ô nhơ, và thanh tẩy chúng ta thành một dân thuộc riêng về Ngài, để nhiệt thành làm những việc tốt đẹp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Hãy dạy những điều này, hãy khích lệ, và khiển trách với tất cả thẩm quyền. Đừng để ai khinh thường con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng con hãy giảng dạy những gì phù hợp với tín lý lành mạnh: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những người nam lớn tuổi phải trầm tĩnh, trang nghiêm, biết tự kiềm chế; vững vàng trong đức tin, trong tình yêu, và trong sự kiên trì. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những người nữ lớn tuổi cũng vậy, phải cư xử cách lễ độ, đừng nói xấu, đừng nghiện rượu; biết dạy những điều tốt để họ có thể huấn luyện những phụ nữ trẻ biết yêu chồng, thương con, biết tự kiềm chế, thanh sạch, đảm đang việc nhà, nhân hậu, thuận phục chồng mình, để đạo của Đức Chúa Trời không bị xúc phạm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cũng vậy, con hãy khuyên những người trẻ biết tự kiềm chế. Trong mọi việc, hãy thể hiện chính con là một gương mẫu về những việc tốt; trong sự giảng dạy: hãy trung thực và điềm tỉnh; lời nói phải đúng đắn, không thể bị bắt bẻ, để những người chống đối phải hổ thẹn, không thể nói xấu chúng ta điều gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những người phục vụ hãy thuận phục chủ của mình, trong mọi việc hãy vui vẻ, đừng cãi trả, đừng ăn cắp, nhưng tất cả hãy thể hiện điều tốt và đáng tin cậy, để đạo của Đấng Giải Cứu chúng ta, là Đức Chúa Trời, được tôn quý trong mọi phương diện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời đã được thể hiện, mang đến sự cứu rỗi cho tất cả mọi người, hướng dẫn chúng ta từ bỏ sự không tin kính và những đam mê thế tục, để sống cách đứng đắn, công chính, và tin kính trong đời nầy, đang khi chờ đợi niềm hy vọng phước hạnh và sự xuất hiện vinh quang của Đức Chúa Trời vĩ đại, và Đấng Giải Cứu của chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, là Đấng đã phó chính Ngài vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội lỗi ô nhơ, và thanh tẩy chúng ta thành một dân thuộc riêng về Ngài, để nhiệt thành làm những việc tốt đẹp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy dạy những điều này, hãy khích lệ, và khiển trách với tất cả thẩm quyền. Đừng để ai khinh thường con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nhưng con hãy nói những gì trở thành tín lý lành mạnh: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Những người nam lớn tuổi phải trầm tĩnh, trang nghiêm, biết tự kiềm chế; vững vàng trong đức tin, trong tình yêu, và trong sự kiên trì. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Những người nữ lớn tuổi cũng vậy, phải cư xử cách lễ độ, đừng nói xấu, đừng làm nô lệ của rượu; biết dạy những điều tốt 4. để họ có thể huấn luyện những phụ nữ trẻ biết yêu chồng, thương con, 5. biết tự kiềm chế, thanh sạch, đảm đang việc nhà, nhân hậu, thuận phục chồng mình, để đạo của Đức Chúa Trời không bị xúc phạm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Cũng vậy, hãy khuyên những người trẻ biết tự kiềm chế. 7. Trong mọi việc, hãy thể hiện chính con là một gương mẫu về những việc tốt; trong sự giảng dạy: hãy trung thực và điềm tỉnh; 8. lời nói phải đúng đắn, không thể bị bắt bẻ, để những người chống đối phải hổ thẹn, không thể nói xấu chúng ta điều gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Những người phục vụ hãy thuận phục chủ của mình, trong mọi việc hãy vui vẻ, đừng cãi trả, 10. đừng ăn cắp, nhưng tất cả hãy thể hiện điều tốt và đáng tin cậy, để đạo của Đấng Giải Cứu chúng ta, là Đức Chúa Trời, được tôn quý trong mọi phương diện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Ân điển cứu chuộc của Đức Chúa Trời - mang sự cứu rỗi cho tất cả mọi người - đã được thể hiện, 12. hướng dẫn chúng ta từ bỏ sự không tin kính và những đam mê thế tục, để sống đứng đắn, công chính, và tin kính trong đời nầy, 13. đang khi chờ đợi niềm hy vọng phước hạnh và sự xuất hiện vinh quang của Đức Chúa Trời vĩ đại, và Đấng Giải Cứu của chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ, 14. là Đấng đã phó chính Ngài vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội lỗi ô nhơ, và thanh tẩy chúng ta thành một dân thuộc riêng về Ngài, nhiệt thành làm những việc tốt đẹp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Hãy nói những điều này, hãy khích lệ, và khiển trách với tất cả thẩm quyền. Đừng để ai khinh thường con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Nhưng con hãy dạy điều hiệp với đạo lành. 2.  Khuyên những người già cả phải tiết độ, nghiêm trang, khôn ngoan, có đức tin, lòng yêu thương và tánh nhịn nhục vẹn lành. 3.  Các bà già cũng vậy, phải có thái độ hiệp với sự thánh; đừng nói xấu, đừng uống rượu quá độ; phải lấy điều khôn ngoan dạy bảo; 4.  phải dạy đàn bà trẻ tuổi biết yêu chồng con mình, 5.  có nết na, trinh chánh, trông nom việc nhà; lại biết ở lành, vâng phục chồng mình, hầu cho đạo Đức Chúa Trời khỏi bị một lời chê bai nào. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Cũng phải khuyên những người tuổi trẻ ở cho có tiết độ. 7.  Hãy lấy mình con làm gương về việc lành cho họ, trong sự dạy dỗ phải cho thanh sạch, nghiêm trang, 8.  nói năng phải lời, không chỗ trách được, đặng kẻ nghịch hổ thẹn, không được nói xấu chúng ta điều chi. 9.  Hãy khuyên những tôi tớ phải vâng phục chủ mình, phải làm đẹp lòng chủ trong mọi việc, chớ cãi trả, 10.  chớ ăn cắp vật chi, nhưng phải hằng tỏ lòng trung thành trọn vẹn, để làm cho tôn quí đạo Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, trong mọi đường. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Vả, ân điển Đức Chúa Trời hay cứu mọi người, đã được bày tỏ ra rồi. 12.  Ân ấy dạy chúng ta chừa bỏ sự không tin kính và tình dục thế gian, phải sống ở đời nầy theo tiết độ, công bình, nhân đức, 13.  đang chờ đợi sự trông cậy hạnh phước của chúng ta, và sự hiện ra của sự vinh hiển Đức Chúa Trời lớn và Cứu Chúa chúng ta, là Đức Chúa Jêsus Christ, 14.  là Đấng liều mình vì chúng ta, để chuộc chúng ta khỏi mọi tội và làm cho sạch, đặng lấy chúng ta làm một dân thuộc riêng về Ngài, là dân có lòng sốt sắng về các việc lành. 15.  Hãy dạy các điều đó, lấy quyền đầy đủ mà khuyên bảo quở trách. Chớ để ai khinh dể con. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nếp Sống Ðạo Lành Mạnh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Về phần con, hãy giảng dạy những gì phù hợp với tín lý lành mạnh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Con hãy khuyên các cụ ông nên tiết độ, nghiêm trang, đứng đắn, vững vàng trong đức tin, trong tình yêu, và trong sự kiên trì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Tương tự, con hãy khuyên các cụ bà nên có thái độ phản ánh đức thánh khiết, không nói xấu, không ghiền rượu, biết dạy dỗ điều tốt, 4 để các cụ có thể khuyên các phụ nữ trẻ biết yêu chồng, yêu con, 5 đứng đắn, trong sạch, đảm đang việc nhà, tốt, thuận phục chồng, để Ðạo của Ðức Chúa Trời không bị nói xấu. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Tương tự, con hãy khuyên các thanh niên phải đứng đắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Trong mọi sự, con phải tỏ ra là một người gương mẫu trong những việc tốt.  Trong sự giảng dạy, con hãy trung thực và nghiêm chỉnh, 8 lời lẽ phải lành mạnh, để không ai có thể bắt bẻ, hầu những kẻ chống đối phải hổ thẹn, không nói xấu chúng ta được điều gì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Con hãy khuyên các công nhân phải thuận phục chủ của họ trong mọi sự, hãy làm vui lòng chủ, đừng cãi lại, 10 đừng trộm cắp, nhưng hãy tỏ ra là người tốt và đáng tin cậy hoàn toàn, để giáo lý của Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của chúng ta, được tôn quý trong mọi phương diện. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Vì ân sủng của Ðức Chúa Trời đã được bày tỏ để đem ơn cứu rỗi đến mọi người.  12 Ân sủng ấy dạy chúng ta phải từ bỏ nếp sống tội lỗi và những đam mê trần tục, để sống đứng đắn, chính trực, và tin kính đạo đức trong đời này, 13 trong khi chờ đợi hy vọng phước hạnh và sự xuất hiện vinh hiển của Ðức Chúa Trời vĩ đại và Ðấng Giải Cứu của chúng ta là Ðức Chúa Jesus Christ, 14 Ðấng đã phó chính Ngài vì chúng ta, để cứu chuộc chúng ta khỏi mọi tội lỗi ô nhơ và thanh tẩy chúng ta thành một dân thuộc riêng về Ngài, một dân nhiệt thành làm những điều tốt.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Ðó là những điều con phải nói, phải khuyên, và phải sửa dạy với tất cả uy quyền.  Ðừng để ai coi thường con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B56\V01B56C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Tít]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Phi-lê-môn]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[ KTB56C001 | Tít: Chương 1]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[ KTB56C003 | Tít: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35767</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35767"/>
		<updated>2026-06-09T23:36:53Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. 12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thú nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín trong mọi sự. 12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35766</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35766"/>
		<updated>2026-06-09T22:59:12Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín. 12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thú nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín. 12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=R%C3%B4-ma:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35765</id>
		<title>Rô-ma: Chương 1</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=R%C3%B4-ma:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35765"/>
		<updated>2026-06-09T22:35:53Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Phao-lô, một nô lệ của Ðức Chúa Jesus Christ, đã được gọi làm sứ đồ, đang được biệt riêng để rao truyền Phúc Âm của Ðức Chúa Trời 2. mà Ngài đã hứa từ trước qua các tiên tri của Ngài trong Kinh Thánh, 3. về Con của Ngài, theo phương diện thể xác thì xuất phát từ dòng Ða-vít, 4. nhưng đã được xưng nhận là Con của Ðức Chúa Trời, có quyền năng bởi Thánh Linh, đã sống lại từ cõi chết, là Jesus Christ, Chúa của chúng ta; 5. nhờ Ngài mà tôi đã nhận được ân điển và thẩm quyền sứ đồ, để nhân danh Ngài, đem mọi dân tộc đến sự vâng phục của đức tin, 6. trong đó có anh em, là những người được kêu gọi để thuộc về Ðức Chúa Jesus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Xin gởi đến tất cả những người yêu dấu của Ðức Chúa Trời, được gọi là thánh đồ tại Rô-ma: Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Chúa, là Ðức Chúa Jesus Christ, đến cùng anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Thật vậy, trước hết, qua Ðức Chúa Jesus Christ, tôi cảm tạ Ðức Chúa Trời của tôi về tất cả anh em, bởi vì đức tin của anh em đã được loan truyền khắp thế giới. 9. Thật vậy, Ðức Chúa Trời, là Ðấng tôi phục vụ với tâm hồn trong việc rao truyền Phúc Âm về Con Ngài, là Đấng làm chứng cho tôi rằng tôi không ngừng nhắc đến anh em, 10. tôi luôn cầu nguyện rằng, nếu bây giờ, cuối cùng, theo ý của Ðức Chúa Trời, tôi sẽ thực hiện một chuyến hành trình để đến với anh em. 11. Thật vậy, tôi mong được gặp anh em để có thể chia sẻ với anh em một số ơn phước thuộc linh, để làm vững mạnh anh em, 12. hơn nữa, để khích lệ lẫn nhau, qua đức tin của nhau, của anh em và của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Anh em! Tôi muốn anh em không thể không biết rằng, nhiều lần tôi đã định đến với anh em, để tôi có thể đạt những kết quả giữa vòng  anh em như đã có giữa các dân ngoại khác, nhưng đã bị cản trở, cho đến bây giờ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Tôi mắc nợ cả người Hy Lạp lẫn người man rợ, cả người thông thái lẫn người ngu dốt. 15. Vì vậy, tôi sẵn sàng để giảng Phúc Âm cho anh em, là những người ở tại Rô-ma.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Phúc Âm, đó thật sự là quyền năng của Ðức Chúa Trời để cứu mọi người tin, trước là người Do Thái, sau là người Hy Lạp. 17. Sự công chính của Ðức Chúa Trời thật sự đã được bày tỏ trong đó, từ đức tin đến đức tin, như có chép rằng: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thật vậy, cơn thịnh nộ của Ðức Chúa Trời từ trời được bày tỏ ra để chống lại tất cả những kẻ vô luân và bất chính, đã dùng sự bất chính để đàn áp chân lý, 19. bởi vì sự hiểu biết về Ðức Chúa Trời đã được giải bày cho họ, và Ðức Chúa Trời bày tỏ điều đó cho họ . 20. Thật vậy, từ khi dựng nên trời đất, những phẩm chất vô hình của Ngài, cả quyền năng vĩnh cửu và bản tính thiên thượng của Ngài đã được thấy rõ và nhận biết qua các tạo vật, cho nên họ không thể bào chữa. 21. Mặc dù họ đã biết Ðức Chúa Trời, họ không chịu tôn vinh Ngài là Ðức Chúa Trời và biết ơn Ngài, nhưng họ đã suy nghĩ viển vông, lòng dạ ngu muội của họ đã trở nên u tối: 22. cho mình là khôn ngoan nhưng đã trở nên dại dột, 23. họ đã đổi vinh quang của Ðức Chúa Trời bất diệt, bắt chước theo hình ảnh bị hủy diệt của con người, của chim, của thú vật, hoặc những loài bò sát. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Vì vậy, Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng của lòng họ. Họ đã làm điều ô nhơ, và làm nhục thân thể của nhau. 25. Họ đã đánh đổi chân lý của Ðức Chúa Trời để lấy sự giả dối, rồi tôn sùng và phục vụ loài thọ tạo thay vì Ðấng Tạo Hóa, là Ðấng được chúc tôn đời đời. A-men. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Vì vậy, Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng đồi bại của họ. Thật vậy, phụ nữ của họ đã đổi cách tự nhiên theo cách phản tự nhiên. 27. Tương tự như vậy, đàn ông cũng đã bỏ cách tự nhiên với phụ nữ, mà un đốt sự thèm khát với nhau: đàn ông làm chuyện đồi bại với đàn ông, do đó họ phải nhận lãnh hình phạt tương xứng với hành động sai lầm của họ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Và bởi vì họ không xem sự nhận biết Ðức Chúa Trời là phù hợp, cho nên Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho một tâm trí đồi bại, để làm những điều không phù hợp; 29. đầy dẫy mọi bất chính, gian ác, tham lam, hiểm độc; đầy sự ghen ghét, giết người, gây gổ, lừa đảo, nham hiểm; nói xấu, 30. vu khống, ghét Ðức Chúa Trời, xấc xược, kiêu căng, khoác lác, sáng tạo ra những điều ác, không vâng lời cha mẹ, 31. dại dột, bội tín, vô tâm, vô cảm; 32. họ đã biết rõ sự phán xét công chính của Ðức Chúa Trời rằng hễ ai làm những việc như thế thì đáng chết - không phải chỉ họ đã thực hành những điều đó, nhưng cũng tán đồng những người khác thực hành những điều đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phao-lô, một đầy tớ của Ðức Chúa Jesus Christ, đã được gọi làm sứ đồ, đang được chọn để rao truyền Phúc Âm của Ðức Chúa Trời mà Ngài đã hứa từ trước qua các tiên tri của Ngài trong Kinh Thánh, về Con của Ngài, theo phương diện thể xác, xuất phát từ dòng Ða-vít, nhưng đã được xưng nhận là Con của Ðức Chúa Trời, có quyền năng bởi Thánh Linh, đã sống lại từ cõi chết, là Jesus Christ, Chúa của chúng ta. Nhờ Ngài mà tôi đã nhận được vinh dự của chức vụ sứ đồ để nhân danh Ngài đem mọi dân tộc đến sự thuận phục của đức tin, trong đó có anh em, là những người được kêu gọi để thuộc về Ðức Chúa Jesus Christ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin gởi đến tất cả những người yêu dấu của Ðức Chúa Trời - được gọi là thánh đồ tại Rô-ma: Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Chúa, là Ðức Chúa Jesus Christ, đến cùng anh em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Cầu Nguyện Cảm Tạ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước hết, qua Ðức Chúa Jesus Christ, tôi cảm tạ Ðức Chúa Trời của tôi về tất cả anh em bởi vì đức tin của anh em đã được loan truyền khắp thế giới. Thật vậy, Ðức Chúa Trời, là Ðấng tôi phục vụ với cả tâm hồn trong việc rao truyền Phúc Âm về Con Ngài, là Đấng làm chứng cho tôi rằng tôi không ngừng nhắc đến anh em; tôi luôn cầu nguyện nếu đẹp ý của Ðức Chúa Trời, cuối cùng đây có thể là lúc tôi sẽ thực hiện một chuyến hành trình đến với anh em. Thật vậy, tôi mong được gặp anh em để có thể chia sẻ với anh em một số ơn phước thuộc linh, làm vững mạnh anh em; hơn nữa, để chúng ta khích lệ lẫn nhau, qua đức tin của nhau - của anh em và của tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh em! Tôi muốn anh em biết rằng nhiều lần tôi đã định đến với anh em để tôi có thể đạt những kết quả ở giữa anh em như đã có giữa các dân ngoại khác, nhưng đã bị cản trở cho đến bây giờ. Tôi mắc nợ cả người Hy Lạp lẫn người man rợ, cả người thông thái lẫn người ngu dốt. Vì thế, tôi sẵn sàng để giảng Phúc Âm cho anh em, là những người ở tại Rô-ma.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Quyền Năng của Phúc Âm'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Phúc Âm, đó thật sự là quyền năng của Ðức Chúa Trời để cứu mọi người tin - trước là người Do Thái, sau là người Hy Lạp. Sự công chính của Ðức Chúa Trời thật sự đã được bày tỏ trong đó - từ đức tin đến đức tin - như có chép rằng: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tội Lỗi của Nhân Loại'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, cơn thịnh nộ của Ðức Chúa Trời từ trời được bày tỏ ra để chống lại tất cả những kẻ vô luân và bất chính, đã dùng sự bất chính để đàn áp chân lý, bởi vì sự hiểu biết về Ðức Chúa Trời đã được giải bày cho họ, và Ðức Chúa Trời bày tỏ điều đó cho họ. Thật vậy, từ khi dựng nên trời đất, những phẩm chất vô hình của Ngài, cả quyền năng vĩnh cửu và bản tính thiên thượng của Ngài, đã được thấy rõ và nhận biết qua những tạo vật; cho nên họ không thể nào bào chữa. Dù họ đã biết Ðức Chúa Trời, họ không chịu tôn vinh Ngài là Ðức Chúa Trời và biết ơn Ngài; nhưng họ suy nghĩ viển vông, lòng dạ ngu muội của họ trở nên u tối: cho mình là khôn ngoan, nhưng đã trở nên dại dột; họ đã đổi vinh quang của Ðức Chúa Trời bất diệt, bắt chước theo hình ảnh bị hủy diệt của con người, của chim, của súc vật, hoặc những loài bò sát.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng của lòng họ, họ làm điều nhơ bẩn, làm nhục thân thể của nhau; họ đã đánh đổi chân lý của Ðức Chúa Trời để lấy sự giả dối, rồi tôn sùng và phục vụ loài thọ tạo thay vì Ðấng Tạo Hóa, là Ðấng được chúc tụng đời đời. A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng đồi bại của họ. Thật vậy, phụ nữ của họ đã đổi cách tự nhiên để theo cách phản tự nhiên. Tương tự như vậy, đàn ông cũng đã bỏ cách tự nhiên với phụ nữ mà un đốt sự thèm khát với nhau: đàn ông làm chuyện đồi bại với đàn ông, do đó họ phải nhận lãnh hình phạt tương xứng với hành động sai lầm của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và bởi vì họ không xem sự nhận biết Ðức Chúa Trời là phù hợp, cho nên Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho một tâm trí đồi bại, để làm những điều không phù hợp; đầy dẫy mọi bất chính, gian ác, tham lam, hiểm độc; đầy sự ghen ghét, giết người, gây gổ, lừa đảo, nham hiểm; nói xấu, vu khống, ghét Ðức Chúa Trời, xấc xược, kiêu căng, khoác lác, tạo nên những điều ác, không vâng lời cha mẹ, dại dột, bội tín, vô tâm, vô cảm; họ đã biết rõ sự phán xét công chính của Ðức Chúa Trời rằng hễ ai làm những việc như thế thì đáng chết - không phải chỉ họ đã thực hành những điều đó, nhưng cũng tán đồng những người khác thực hành những điều đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Phao-lô - một đầy tớ của Ðức Chúa Jesus Christ, đã được gọi làm sứ đồ, đang được biệt riêng cho Phúc Âm của Ðức Chúa Trời, 2. mà Ngài đã hứa từ trước qua các tiên tri của Ngài trong Kinh Thánh, 3.về Con của Ngài, theo phương diện thể xác phát thì sinh từ dòng Ða-vít, 4. đã được xưng nhận là Con của Ðức Chúa Trời, có quyền năng bởi Thánh Linh, đã sống lại từ cõi chết, là Jesus Christ, Chúa của chúng ta; 5. nhờ Ngài tôi nhận được ân điển và thẩm quyền sứ đồ, để nhân danh Ngài, đem mọi dân tộc đến sự vâng phục của đức tin, 6. trong đó có anh em, những người được gọi để thuộc về Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Gởi đến tất cả những người yêu dấu của Ðức Chúa Trời, được gọi là thánh đồ, tại Rô-ma: Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Chúa, là Ðức Chúa Jesus Christ, đến cùng anh em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Thật vậy, trước hết, qua Ðức Chúa Jesus Christ, tôi cảm tạ Ðức Chúa Trời của tôi về tất cả anh em, bởi vì đức tin của anh em đã được loan truyền khắp thế giới. 9. Thật vậy, Ðức Chúa Trời, là Ðấng tôi phục vụ với tâm hồn, trong việc rao truyền Phúc Âm về Con Ngài, làm chứng cho tôi rằng tôi không ngừng nhắc đến anh em, 10. tôi luôn cầu nguyện rằng, nếu bây giờ, rốt cuộc, theo ý của Ðức Chúa Trời, tôi sẽ thực hiện một hành trình để đến với anh em. 11. Thật ra, tôi mong được gặp anh em để có thể chia sẻ với anh em một số ơn phước thuộc linh, để làm vững mạnh anh em, 12. hơn nữa, để khích lệ giữa anh em với nhau, qua đức tin của nhau, của anh em và của tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Anh em! Tôi muốn anh em không thể không biết rằng, nhiều lần tôi đã định đến với anh em - nhưng đã bị cản trở, cho đến bây giờ - để tôi có thể đạt những kết quả giữa anh em như đã có giữa các dân ngoại khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Tôi mắc nợ cả người Hy Lạp lẫn người man rợ, cả người thông thái lẫn người ngu dốt. 15. Vì thế, tôi sẵn sàng để giảng Phúc Âm cho anh em, những người tại Rô-ma.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Phúc Âm, đó thật sự là quyền năng của Ðức Chúa Trời để cứu mọi người tin, trước là người Do Thái, sau là người Hy Lạp. 17. Sự công chính của Ðức Chúa Trời thật sự đã được biểu lộ trong đó, từ đức tin đến đức tin, như có chép rằng: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thật vậy, cơn thịnh nộ của Ðức Chúa Trời từ trời được bày tỏ ra để chống lại tất cả những kẻ vô luân và bất chính, đã dùng sự bất chính để đàn áp chân lý, 19. bởi vì sự hiểu biết về Ðức Chúa Trời đã được giải bày cho họ, và Ðức Chúa Trời bày tỏ điều đó cho họ. 20. Thật vậy, từ khi dựng nên trời đất, những phẩm chất vô hình của Ngài, cả quyền năng vĩnh cửu và bản tính thiên thượng của Ngài, đã được thấy rõ và nhận biết, qua những tạo vật; cho nên họ không thể bào chữa. 21. Dù họ đã biết Ðức Chúa Trời, họ không tôn vinh Ngài là Ðức Chúa Trời và biết ơn Ngài; nhưng họ suy nghĩ viển vông, và lòng dạ ngu muội của họ trở nên u tối: 22. cho mình là khôn ngoan nhưng đã trở nên dại dột, 23. họ đã đổi vinh quang của Ðức Chúa Trời bất diệt, bắt chước theo hình ảnh hủy diệt của người, hoặc chim, hoặc thú vật, hoặc những loài bò sát.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Vì vậy, Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng của tấm lòng họ, làm điều ô nhơ, làm nhục thân thể của nhau; 25. họ đã đánh đổi chân lý của Ðức Chúa Trời để lấy sự giả dối, rồi tôn sùng và phục vụ loài thọ tạo thay vì Ðấng Tạo Hóa, Ðấng được chúc tôn đời đời. A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Vì vậy, Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng đồi bại của họ. Thật vậy, phụ nữ của họ đã đổi cách tự nhiên theo cách phản tự nhiên. 27. Tương tự như vậy, đàn ông cũng đã bỏ cách tự nhiên với phụ nữ, mà un đốt sự thèm khát với nhau: đàn ông làm chuyện đồi bại với đàn ông, do đó họ phải nhận lãnh hình phạt tương xứng với hành động sai lầm của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Và bởi vì họ không xem sự nhận biết Ðức Chúa Trời là phù hợp, cho nên Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho một tâm trí đồi bại, để làm những điều không phù hợp; 29. đầy dẫy mọi bất chính, gian ác, tham lam, hiểm độc; đầy sự ghen ghét, giết người, gây gổ, lừa đảo, nham hiểm; nói xấu, 30. vu khống, ghét Ðức Chúa Trời, xấc xược, kiêu căng, khoác lác, sáng tạo ra những điều ác, không vâng lời cha mẹ, 31. dại dột, bội tín, vô tâm, vô cảm; 32. họ đã biết rõ sự phán xét công chính của Ðức Chúa Trời rằng hễ ai làm những việc như thế thì đáng chết - không phải chỉ họ đã thực hành những điều đó, nhưng cũng tán đồng những người khác thực hành những điều đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Phao-lô, tôi tớ Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi làm sứ đồ, để riêng ra đặng giảng Tin Lành Đức Chúa Trời, 2.  là Tin Lành xưa kia Đức Chúa Trời đã dùng các đấng tiên tri Ngài mà hứa trong Kinh Thánh, 3.  về Con Ngài, theo xác thịt thì bởi dòng dõi vua Đa-vít sanh ra, 4.  theo thần linh của thánh đức, thì bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta, 5.  nhờ Ngài chúng ta đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, để đem mọi dân ngoại đến sự vâng phục của đức tin, vì danh Ngài, 6.  trong các dân ấy anh em cũng đã được gọi bởi Đức Chúa Jêsus Christ; 7.  gởi cho hết thảy những người yêu dấu của Đức Chúa Trời tại thành Rô-ma, được gọi làm thánh đồ. Nguyền cho anh em được ân điển và sự bình an từ nơi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Trước hết, tôi nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, vì hết thảy anh em mà tạ ơn Đức Chúa Trời tôi về đức tin anh em đã đồn khắp cả thế gian. 9.  Vì Đức Chúa Trời mà tôi lấy tâm thần hầu việc, bởi sự giảng Tin Lành của Con Ngài, làm chứng cho tôi rằng tôi nhắc đến anh em không thôi 10.  trong mọi khi tôi cầu nguyện thường xin Đức Chúa Trời, bởi ý muốn Ngài, sau lại có thể gặp dịp tiện đi đến nơi anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Thật vậy, tôi rất mong mỏi đến thăm anh em, đặng thông đồng sự ban cho thiêng liêng cùng anh em, hầu cho anh em được vững vàng, 12.  tức là tôi ở giữa anh em, để chúng ta cùng nhau giục lòng mạnh mẽ bởi đức tin chung của chúng ta, nghĩa là của anh em và của tôi. 13.  Vả, hỡi anh em, tôi chẳng muốn anh em không biết rằng đã bao phen tôi toan đi thăm anh em, đặng hái trái trong anh em cũng như trong dân ngoại khác; song về sự đó tôi bị ngăn trở cho đến bây giờ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Tôi mắc nợ cả người Gờ-réc lẫn người giã man, cả người thông thái lẫn người ngu dốt. 15.  Ấy vậy, hễ thuộc về tôi, thì tôi cũng sẵn lòng rao Tin Lành cho anh em, là người ở thành Rô-ma. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16.  Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc; 17.  vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Vả, cơn giận của Đức Chúa Trời từ trên trời tỏ ra nghịch cùng mọi sự không tin kính và mọi sự không công bình của những người dùng sự không công bình mà bắt hiếp lẽ thật. 19.  Vì điều chi có thể biết được về Đức Chúa Trời thì đã trình bày ra cho họ, Đức Chúa Trời đã tỏ điều đó cho họ rồi, 20.  bởi những sự trọn lành của Ngài mắt không thấy được, tức là quyền phép đời đời và bản tánh Ngài, thì từ buổi sáng thế vẫn sờ sờ như mắt xem thấy, khi người ta xem xét công việc của Ngài. Cho nên họ không thể chữa mình được, 21.  vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa; song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm. 22.  Họ tự xưng mình là khôn ngoan, mà trở nên điên dại; 23.  họ đã đổi vinh hiển của Đức Chúa Trời không hề hư nát lấy hình tượng của loài người hay hư nát, hoặc của điểu, thú, côn trùng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24.  Cho nên Đức Chúa Trời đã phó họ sa vào sự ô uế theo lòng ham muốn mình, đến nỗi tự làm nhục thân thể mình nữa, 25.  vì họ đã đổi lẽ thật Đức Chúa Trời lấy sự dối trá, kính thờ và hầu việc loài chịu dựng nên thế cho Đấng dựng nên, là Đấng đáng khen ngợi đời đời! A-men. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Ấy vì cớ đó mà Đức Chúa Trời đã phó họ cho sự tình dục xấu hổ; vì trong vòng họ, những người đàn bà đã đổi cách dùng tự nhiên ra cách khác nghịch với tánh tự nhiên. 27.  Những người đàn ông cũng vậy, bỏ cách dùng tự nhiên của người đàn bà mà un đốt tình dục người nầy với kẻ kia, đàn ông cùng đàn ông phạm sự xấu hổ, và chính mình họ phải chịu báo ứng xứng với điều lầm lỗi của mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28.  Tại họ không lo nhìn biết Đức Chúa Trời, nên Đức Chúa Trời đã phó họ theo lòng hư xấu, đặng phạm những sự chẳng xứng đáng. 29.  Họ đầy dẫy mọi sự không công bình, độc ác, tham lam, hung dữ; chan chứa những điều ghen ghét, giết người, cãi lẫy, dối trá, giận dữ; 30.  hay mách, gièm chê, chẳng tin kính, xấc xược, kiêu ngạo, khoe khoang, khôn khéo về sự làm dữ, không vâng lời cha mẹ; 31.  dại dột, trái lời giao ước, không có tình nghĩa tự nhiên, không có lòng thương xót. 32.  Dầu họ biết mạng lịnh Đức Chúa Trời tỏ ra những người phạm các tội dường ấy là đáng chết, thế mà chẳng những họ tự làm thôi đâu, lại còn ưng thuận cho kẻ khác phạm các điều ấy nữa. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Mở Ðầu'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Phao-lô, một đầy tớ của Ðức Chúa Jesus Christ, được kêu gọi làm sứ đồ, được biệt riêng để rao truyền Tin Mừng của Ðức Chúa Trời, 2 là Tin Mừng đã được hứa từ trước qua các vị tiên tri của Ngài trong Kinh Thánh, 3 liên quan đến Con Ngài, mà về phương diện phàm nhân thì được sinh ra từ dòng dõi Vua Ða-vít, 4 còn về phương diện Linh của sự thánh khiết thì được xác chứng là Con Ðức Chúa Trời đầy quyền năng qua sự sống lại từ cõi chết, đó là Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta, 5 qua Ngài chúng tôi nhận được ân sủng và chức vụ sứ đồ để vì danh Ngài dẫn dắt mọi dân tin thờ Chúa và vâng phục Ngài, 6 trong đó có anh chị em, những người được gọi để thuộc về Ðức Chúa Jesus Christ, 7 kính gởi tất cả những người được Ðức Chúa Trời yêu thương, được gọi làm thánh đồ ở Rô-ma.  Nguyện ân sủng và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, là Chúa, đến cùng anh chị em.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Cầu Nguyện Cảm Tạ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Trước hết, nhờ Ðức Chúa Jesus Christ, tôi cảm tạ Ðức Chúa Trời của tôi về tất cả anh chị em, vì đức tin của anh chị em đã được truyền tụng khắp thế giới.  9 Vì Ðức Chúa Trời, Ðấng tôi phục vụ với tất cả tâm hồn trong việc rao truyền Tin Mừng về Con Ngài, có thể làm chứng cho tôi rằng tôi hằng nhắc đến anh chị em trong khi cầu nguyện.  10 Tôi luôn cầu xin rằng, nếu đẹp ý Ðức Chúa Trời, xin Ngài mở đường cho tôi đến thăm anh chị em.  11 Vì tôi rất mong được gặp anh chị em để có thể chia sẻ với anh chị em một số ơn phước thuộc linh, hầu làm vững mạnh đức tin anh chị em, 12 tức là khi tôi được ở giữa anh chị em, chúng ta có thể khích lệ đức tin lẫn nhau, tức đức tin của anh chị em và đức tin của tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Thưa anh chị em, tôi muốn anh chị em biết rằng, tôi đã định đến thăm anh chị em nhiều lần, để có thể gặt hái những kết quả giữa anh chị em như tôi đã gặt hái giữa các dân ngoại khác, nhưng lần nào tôi cũng gặp trở ngại. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Tôi mắc nợ cả người Hy-lạp lẫn người man rợ, cả người thông thái lẫn người khờ dại.  15 Vì thế tôi nóng lòng muốn giảng Tin Mừng cho anh chị em, những người ở Rô-ma. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Quyền Năng Ðức Chúa Trời Tỏ Ra Qua Tin Mừng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Mừng đâu, vì đó là quyền năng Ðức Chúa Trời để cứu mọi người có lòng tin, trước là người Do-thái, sau là người Hy-lạp. 17 Vì trong Tin Mừng ấy sự công chính của Ðức Chúa Trời được biểu lộ, từ đức tin đến đức tin, như có chép rằng,   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Người công chính sẽ sống bởi đức tin.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''CẢ NHÂN LOẠI PHẢI CHỊU ÐỨC CHÚA TRỜI PHÁN XÉT'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(1:18 - 3:20)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tội Lỗi của Nhân Loại'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Cơn thịnh nộ của Ðức Chúa Trời từ trời đã biểu lộ để trừng phạt mọi hình thức vô luân và gian ác của những kẻ dùng những biện pháp gian ác đàn áp sự thật.  19 Vì những gì con người có thể biết về Ðức Chúa Trời đã được bày tỏ cho họ rồi, bởi Ðức Chúa Trời đã bày tỏ cho họ.  20 Thật vậy từ khi dựng nên trời đất, qua những gì đã được dựng nên, con người đã thấy rõ và nhận biết những gì không thấy được về Ngài, như quyền năng đời đời và thần tính của Ngài, vì thế họ không còn lý do để bào chữa.  21 Vì dù họ đã biết Ðức Chúa Trời, họ vẫn không chịu tôn vinh Ngài là Ðức Chúa Trời và biết ơn Ngài; ngược lại, đầu óc họ cứ suy luận viển vông, tâm trí điên rồ của họ đã trở nên u tối.  22 Họ cho mình là khôn ngoan nhưng đã trở nên điên dại.  23 Họ đã đánh đổi vinh hiển của Ðức Chúa Trời không hề hư nát cho những hình tượng của con người hay hư nát, hoặc của chim chóc, súc vật, và rắn rết.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Vì thế Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng của lòng họ, để họ sa vào những ô uế, làm nhục thân thể của nhau.  25 Họ đã đánh đổi chân lý của Ðức Chúa Trời để lấy sự giả dối; họ thờ phượng và phục vụ loài thọ tạo thay vì Ðấng Tạo Hóa, Ðấng đáng được ca ngợi đời đời.  A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Chính vì thế Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho những dục vọng đồi bại của họ.  Ngay cả phụ nữ của họ cũng đã đổi cách chung đụng xác thịt tự nhiên để theo cách phản tự nhiên.  27 Tương tự, đàn ông cũng đã bỏ cách chung đụng xác thịt tự nhiên với đàn bà mà un đốt sự thèm khát nhục dục với nhau; đàn ông làm những chuyện đồi bại với đàn ông, do đó họ phải chuốc lấy hình phạt tương xứng với hành động sai lầm của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Vì họ không coi sự nhận biết Ðức Chúa Trời là trọng, nên Ðức Chúa Trời đã phó mặc họ cho một tâm trí bại hoại, để làm những điều không nên làm.  29 Lòng họ đầy mọi thứ bất chính, gian ác, tham lam, và hiểm độc.  Họ đầy sự ganh tị, sát nhân, gây gổ, lừa đảo, và xảo quyệt.  Họ nói hành, 30 vu khống, ghét Ðức Chúa Trời, xấc xược, kiêu căng, khoác lác, giỏi tạo ra điều ác, không vâng lời cha mẹ, 31 không chút lương tri, không giữ lời hứa, không chút tình cảm, không chút xót thương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32 Dù họ đã biết rõ luật của Ðức Chúa Trời rằng hễ ai làm những việc như thế thì đáng chết, thế mà không những chính họ đã làm những điều ấy, mà còn tán thành những người khác làm những điều ấy nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B45\V01B45C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Thư Rô-ma | Giới Thiệu Thư Rô-ma]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Rô-ma]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[KTB45C002 | Chương 2]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35764</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35764"/>
		<updated>2026-06-09T21:27:59Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín. 12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thú nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. 11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không nói xấu, điềm tỉnh, và trung tín. 12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35763</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35763"/>
		<updated>2026-06-09T21:13:12Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thú nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không hung bạo, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Nếu là phụ nữ thì cũng vậy phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=S%C3%A1ng_Th%E1%BA%BF_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_44&amp;diff=35712</id>
		<title>Sáng Thế Ký: Chương 44</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=S%C3%A1ng_Th%E1%BA%BF_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_44&amp;diff=35712"/>
		<updated>2026-05-25T00:41:49Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đó ông đã truyền cho người quản gia rằng: “Những người nầy chở được bao nhiêu thì hãy đổ đầy lương thực trong bao của họ bấy nhiêu, và rồi hãy để bạc của mỗi người vào trong bao của người đó. 2. Hãy để cái chén của ta - là cái chén bằng bạc - vào miệng bao của người em út, cùng với số bạc mua lúa của người đó.” Ông ta đã làm theo lời Giô-sép căn dặn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Vừa rạng sáng, những người đó được phép ra đi - họ cùng với lừa của họ. 4. Khi họ đã đi khỏi thành chưa được bao xa, Giô-sép truyền cho người quản gia của mình: “Hãy đứng lên đuổi theo những người đó. Khi bắt kịp họ, hãy nói với họ: ‘Tại sao các ngươi lấy oán trả ân? 5. Đây không phải là chỉ là vật mà chủ của ta dùng để uống, nhưng chính là vật mà ông dùng để bói toán? Các ngươi đã làm một việc gian ác!’” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Do đó, ông ta đã đuổi theo họ, rồi nói với họ những lời đó. 7. Họ đã trả lời với ông: “Tại sao chúa của chúng tôi lại nói những lời như vậy? Các tôi tớ của ngài không thể nào làm một việc như vậy. 8. Xin Ngài hãy xem: Bạc mà chúng tôi tìm thấy trong miệng bao, chúng tôi còn mang từ Ca-na-an xuống để trả lại cho ngài, thì làm thế nào mà chúng tôi có thể ăn cắp bạc hay vàng trong nhà của chủ ngài được? 9. Nếu vật đó được tìm thấy nơi người nào thì người đó phải chết, còn chúng tôi sẽ làm nô lệ cho chúa của chúng tôi.” 10. Ông đáp: “Được rồi, bây giờ hãy làm như lời các ngươi nói. Nếu vật đó được tìm thấy nơi người nào thì người đó sẽ làm nô lệ cho ta, còn các ngươi sẽ vô tội.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Mỗi người đã vội vàng hạ bao của mình xuống đất, họ đã mở bao của từng người. 12. Ông bắt đầu lục soát từ người anh cả cho đến người em út, rồi tìm thấy cái chén trong bao của Bên-gia-min. 13. Họ đã xé trang phục của mình - mỗi người chất đồ lên lừa, rồi trở lại thành phố.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Giu-đa và các anh em của mình đến nhà của Giô-sép, và ông vẫn còn tại đó. Họ đã sấp mình xuống đất trước mặt ông. 15. Giô-sép nói với họ: “Các ngươi đã làm gì vậy? Các ngươi không biết rằng một người như ta có khả năng bói toán hay sao?” 16. Giu-đa đáp: “Thưa chúa của tôi! Chúng tôi sẽ nói gì đây? Chúng tôi sẽ trình bày điều gì bây giờ? Làm thế nào chúng tôi có thể biện minh cho mình được? Ðức Chúa Trời đã tìm ra tội lỗi của các tôi tớ của ngài. Này, chúng tôi là nô lệ cho chúa của tôi. Chúng tôi cùng với người bị tìm thấy cái chén.” 17. Ông đáp: “Ta sẽ không làm như vậy. Người nào bị tìm thấy cái chén trong tay của mình sẽ làm nô lệ cho ta, còn tất cả các ngươi hãy đi bình an trở về với cha của các ngươi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Giu-đa đến gần ông và nói: “Thưa chúa của tôi!  Xin cho tôi tớ của ngài được thưa một lời đến tai của ngài. Xin ngài đừng nổi giận với tôi tớ của ngài, bởi vì ngài như là Pha-ra-ôn. 19. Chúa của tôi đã hỏi các tôi tớ của ngài rằng: ‘Các ngươi còn có cha, hay một anh em nào nữa không?’ 20. Chúng tôi đã thưa với chúa của chúng tôi rằng: ‘Chúng tôi có một người cha, đã già, và một đứa em đã sinh cho người trong tuổi già. Anh ruột của nó đã chết. Nó là đứa con duy nhất còn lại của mẹ nó, và cha thương nó lắm.’ 21. Ngài đã truyền cho các đầy tớ của ngài: ‘Hãy đem nó xuống cho ta để cho ta nhìn thấy nó tận mắt.’ 22. Chúng tôi đã thưa với chúa của tôi rằng: ‘Thằng bé không thể nào lìa khỏi cha được; nếu nó lìa khỏi cha thì người sẽ chết.’ 23. Nhưng ngài đã nói với các tôi tớ của ngài: ‘Nếu em út của các ngươi không theo xuống với các ngươi, thì các ngươi sẽ không bao giờ thấy mặt của ta.’ 24. Cho nên khi chúng tôi quay về với kẻ tôi tớ của ngài, là cha của tôi, chúng tôi có thuật lại cho người nghe những lời của chúa. 25. Khi cha của chúng tôi bảo: ‘Các con hãy trở xuống để mua một ít lương thực cho chúng ta.’ 26. Chúng tôi đã thưa rằng: ‘Chúng con không thể nào xuống đó. Nhưng nếu em út cùng đi với chúng con thì chúng con sẽ đi. Bởi vì chúng con không thể nào gặp mặt người đó nếu em út không đi với chúng con.’ 27. Kẻ tôi tớ của ngài, là cha của tôi, đã nói với chúng tôi: ‘Các con biết rằng vợ của ta đã sinh cho ta hai đứa con trai. 28. Một đứa đã lìa khỏi cha - và cha nghĩ rằng chắc nó đã bị xé xác từng mảnh, bởi vì cho đến bây giờ cha vẫn chưa gặp lại nó. 29. Nhưng nếu các con dẫn đứa nầy rời khỏi cha, lỡ có nguy hiểm nào xảy ra cho nó, các con sẽ làm cho cha phải mang mái đầu bạc đau khổ nầy đi vào âm phủ.’ 30. Vì vậy, khi tôi về với cha của tôi, là tôi tớ của ngài, mà đứa trẻ không về cùng chúng tôi, và vì linh hồn của cha chúng tôi gắn bó với linh hồn của nó, 31. và rồi khi ông cụ không thấy thằng bé, ông cụ sẽ chết. Và như vậy các tôi tớ ngài đã làm cho đầu bạc của cha chúng tôi, là tôi tớ của ngài, phải đau buồn xuống âm phủ. 32. Bởi vì kẻ tôi tớ này của ngài đã cam đoan về thằng bé với cha của tôi rằng: ‘Nếu con không đem em về cho cha, thì con sẽ mang tội với cha mãi mãi.’ 33. Vì vậy bây giờ xin cho đầy tớ của ngài được làm nô lệ của ngài thay cho thằng bé, và xin cho thằng bé trở về cùng các anh của nó. 34. Bởi vì làm thế nào tôi có thể về gặp cha tôi nếu thằng bé không về với tôi? Tôi không thể nào nhìn thấy thảm họa xảy đến cho cha của tôi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Giô-sép bèn truyền lịnh cho quản gia rằng: Hễ các người đó chở nổi bao nhiêu, thì hãy đổ lương thực cho họ đầy bao bấy nhiêu, rồi để bạc của mỗi người lại nơi miệng bao họ. 2.  Lại hãy để cái chén bằng bạc ta tại miệng bao chung với bạc mua lúa của người út nữa. Quản gia bèn làm y như lời Giô-sép dặn mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Ngày mai, trời vừa sáng, người ta cho các người đó và lừa về. 4.  Khi đi ra khỏi thành chưa xa, Giô-sép nói cùng quản gia rằng: Ngươi hãy đứng dậy, đuổi theo mấy người đó; khi theo kịp rồi, hãy nói rằng: Sao các ngươi lấy oán trả ơn như vậy? 5.  Có phải cái chén nầy là của chúa ta thường dùng uống rượu và bói chăng? Các ngươi đã làm một việc chẳng thiện đó. 6.  Quản gia theo kịp, lặp lại mấy lời ấy; 7.  các anh em bèn đáp rằng: Sao chúa nói như vậy? Chẳng bao giờ kẻ tôi tớ chúa có tưởng làm đến việc thế nầy! 8.  Đây, từ xứ Ca-na-an chúng tôi có đem bạc đã được nơi miệng bao xuống giao lại cho người thay; dễ nào lại có ý mong ăn cắp bạc hay vàng của dinh chủ người sao? 9.  Xin cho kẻ tôi tớ nào mà người tìm được cái chén đó phải chết đi, và chính chúng tôi sẽ làm tôi mọi cho chúa. 10.  Quản gia đáp: Ừ thôi! hãy làm như lời các ngươi đã nói: ta tìm được chén nơi ai thì người đó sẽ làm tôi mọi cho ta đó; còn các người thì vô tội. 11.  Tức thì, mỗi người lật đật hạ bao mình xuống đất và mở ra. 12.  Quản gia lục soát, bắt từ bao anh cả lần đến bao em út. Cái chén bèn tìm đặng trong bao Bên-gia-min. 13.  Mỗi người xé áo mình ra, chất bao lúa lên lưng lừa, rồi cùng trở lại thành. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Giu-đa cùng anh em đồng vào đến nhà Giô-sép, người hãy còn ở nơi đó; họ bèn sấp mình xuống đất trước mặt người. 15.  Giô-sép hỏi: Các ngươi gây nên nông nỗi chi vậy? Há chẳng biết một kẻ như ta đây có tài bói sao? 16.  Giu-đa đáp: Chúng tôi sẽ nói cùng chúa làm sao? sẽ phân lại làm sao? sẽ chữa mình chúng tôi làm sao? Đức Chúa Trời đã thấu rõ điều gian ác của tôi tớ chúa rồi. Nầy, chúng tôi cùng kẻ đã bị bắt được chén nơi tay đều làm kẻ tôi tớ cho chúa. 17.  Nhưng Giô-sép đáp rằng: Ta chẳng hề có ý làm như vậy đâu! Người mà đã bị bắt được chén nơi tay sẽ làm tôi mọi ta; còn các ngươi hãy trở về nhà cha mình bình yên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Giu-đa bèn lại gần Giô-sép mà thưa rằng: Vì chúa ngang vai Pha-ra-ôn, xin lỗi chúa, chớ nổi giận cùng kẻ tôi tớ, để tôi nói một lời cho chúa nghe. 19.  Chúa có hỏi kẻ tôi tớ rằng: Các ngươi còn cha hay là anh em nào chăng? 20.  Có thưa lại cùng chúa rằng: Chúng tôi còn một cha già, cùng một con trai đã sanh muộn cho người. Anh ruột đứa nầy đã chết rồi, nên trong vòng các con của mẹ nó, nó còn một mình, và cha thương nó lắm. 21.  Vả, chúa có dặn rằng: Hãy dẫn nó xuống đến ta, hầu cho ta thấy nó được tận mắt. 22.  Và chúng tôi có thưa lại cùng chúa rằng: Đứa trẻ chẳng lìa cha được; nếu lìa ra thì cha sẽ chết. 23.  Nhưng chúa lại dạy: Nếu em út không theo các ngươi xuống đây, thì các ngươi chẳng còn thấy mặt ta nữa. 24.  Nên khi chúng tôi trở về nhà kẻ tôi tớ chúa, là cha tôi, thì chúng tôi có thuật lại cho người nghe những lời của chúa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25.  Kế ấy, cha lại biểu chúng tôi rằng: Hãy trở xuống đặng mua một ít lương thực. 26.  Chúng tôi thưa lại rằng: Không được; nhưng nếu em út đi theo cùng, thì mới trở xuống được; bằng không, thì chúng tôi không thế ra mắt người đó. 27.  Kẻ tôi tớ chúa, là cha tôi, đáp rằng: Bây biết rằng vợ ta sanh cho ta hai đứa con trai; 28.  một đứa đã từ ta đi mất-biệt; ta cũng đã nói: Chắc đã bị thú dữ xé rồi, vì đến bây giờ chưa thấy lại. 29.  Nếu bây còn dắt đứa nầy đi khỏi mặt ta nữa, rủi có điều tai hại chi xảy đến cho nó, tức nhiên bây sẽ làm cho kẻ tóc bạc nầy đau lòng xót dạ mà xuống âm phủ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30.  Cha thương em út tôi lắm đến đỗi hai linh hồn khắng khít nhau; nếu bây giờ, khi tôi trở về nơi kẻ tôi tớ chúa, là cha tôi, mà không có em út đó, 31.  thì khi vừa thấy con út không còn nữa, chắc người sẽ chết. Nếu vậy, các tôi tớ chúa sẽ làm cho cha già tóc bạc của chúng tôi, cũng là kẻ tôi tớ chúa, đau lòng xót dạ xuống âm phủ. 32.  Vì kẻ tôi tớ nầy có chịu bảo lãnh đứa con út đó mà thưa rằng: Nếu con không đem em về cho cha, thì sẽ cam tội cùng cha mãi mãi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33.  Vậy bây giờ, xin cho kẻ tôi tớ chúa ở tôi mọi thế cho đứa trẻ, đặng nó theo trở lên cùng các anh mình. 34.  Vì, nếu đứa trẻ không theo về, làm sao tôi dám về cùng cha tôi? Ôi, tôi nỡ nào thấy điều tai họa của cha tôi ư! &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B01\V02B01C044.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Chén Bạc của Giô-sép'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Sau đó ông truyền cho người quản gia của ông, “Hãy đổ lúa đầy bao những người này.  Họ chở được bao nhiêu, đổ đầy bấy nhiêu, rồi để bạc của người nào vào bao người nấy.  2 Riêng cái chén của tôi, cái chén bạc đó, ông hãy để vào bao của đứa út, cùng với số bạc mua lúa của nó.”  Ông ấy làm mọi sự y như lời Giô-sép đã truyền.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Ðến sáng ngày, người ta để họ ra đi; họ dắt đoàn lừa của họ lên đường.  4 Khi họ đã ra khỏi thành, chưa được bao xa, Giô-sép bảo người quản gia của ông, “Hãy đứng dậy, đuổi theo những người đó.  Khi ông bắt kịp họ, hãy nói với họ, ‘Tại sao các ông lấy oán trả ân?  5 Ðó chẳng phải là vật chủ tôi thường dùng để uống và để bói toán sao?  Việc các ông làm thật là bậy lắm!’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Vậy ông ta đuổi kịp họ và nói với họ những lời ấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Họ trả lời ông ấy, “Tại sao chúa chúng tôi lại nói những lời như thế?  Chúng tôi, các tôi tớ ông, không đời nào làm vậy.  8 Ông thấy đó, chúng tôi đã mang tiền từ xứ Ca-na-an mà chúng tôi đã thấy nơi miệng bao để trả lại ông thì lẽ nào chúng tôi lại ăn cắp vàng hay bạc từ nhà chủ của ông sao?  9 Giữa các tôi tớ ông đây, hễ ông tìm thấy món đồ đó trong bao của ai, kẻ ấy phải chết, còn chúng tôi sẽ làm nô lệ cho ông.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Ông ấy đáp, “Thôi cứ làm y như lời các ông nói.  Người nào tôi tìm thấy vật đó trong bao mình, người ấy sẽ làm nô lệ cho tôi, còn những người khác thì vô can.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Thế là mỗi người vội vàng hạ bao mình xuống, và ai nấy mở bao mình ra.  12 Rồi ông ấy khám xét.  Ông bắt đầu với người anh cả, rồi lần lần đến người em út, và cái chén được tìm thấy trong bao của Bên-gia-min.  13 Bấy giờ họ xé áo mình, chất các bao lúa lại lên lưng lừa, và cùng nhau đi ngược trở lại thành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Vậy Giu-đa và các anh em ông đến nhà Giô-sép, lúc ấy Giô-sép vẫn còn ở đó.  Họ đến sấp mình xuống đất trước mặt ông và lạy.  15 Giô-sép hỏi họ, “Các ngươi đã làm gì đối với ta thế?  Các ngươi không biết rằng một người như ta có khả năng bói toán sao?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Giu-đa đáp, “Thưa ngài, chúng tôi còn biết nói gì đây?  Chúng tôi nào biết nói gì bây giờ?  Hay làm thế nào chúng tôi có thể minh oan cho chúng tôi được?  Ðức Chúa Trời đã phơi bày tội lỗi của các tôi tớ ngài.  Này, chúng tôi đành làm nô lệ cho ngài vậy; anh em chúng tôi và luôn người có cái chén bị tìm thấy trong bao của mình nữa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Giô-sép đáp, “Ta không bao giờ làm như vậy.  Chỉ người nào bị tìm thấy cái chén trong bao của mình sẽ làm nô lệ cho ta mà thôi; còn tất cả các ngươi, hãy ra về bình an với cha các ngươi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giu-đa Xin Cho Bên-gia-min'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Bấy giờ Giu-đa đến gần ông và nói, “Thưa chúa, xin cho tôi tớ ngài được thưa với ngài một lời.  Mong ngài đừng nổi giận đối với tôi tớ ngài, vì ngài có quyền chẳng khác gì Pha-ra-ôn.  19 Ngài có hỏi các tôi tớ ngài rằng, ‘Các ngươi còn có cha hay anh em nào nữa chăng?’  20 Và chúng tôi đã thưa với ngài, ‘Chúng tôi còn có cha già và một người em nhỏ, được sinh ra trong lúc ông cụ đã cao tuổi.  Anh nó đã qua đời, chỉ còn một mình nó, đứa con duy nhất còn lại trong các con của mẹ nó, và cha chúng tôi thương nó lắm.’  21 Lúc đó ngài đã bảo các tôi tớ ngài, ‘Các ngươi hãy mang nó xuống gặp ta, để ta thấy nó tận mắt.’  22 Và chúng tôi đã thưa với ngài rằng, ‘Ðứa trẻ không thể rời cha nó được, vì nếu nó xa cha nó, cha nó sẽ chết mất.’  23 Nhưng ngài đã bảo các tôi tớ ngài, ‘Nếu em út các ngươi không theo xuống với các ngươi, các ngươi đừng mong thấy mặt ta nữa.’  24 Khi chúng tôi trở về với cha chúng tôi, tôi tớ ngài, và thưa với cụ những lời ngài nói, 25 thì cha chúng tôi bảo, ‘Hãy trở lại và mua ít lương thực cho chúng ta.’  26 Nhưng chúng tôi đã thưa với cụ rằng, ‘Chúng con không thể đi xuống dưới đó.  Nếu cha cho em út đi với chúng con thì chúng con sẽ đi xuống đó, vì chúng con không thể nào gặp mặt người ấy, nếu em út không đi với chúng con.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Bấy giờ tôi tớ ngài, cha chúng tôi, bảo chúng tôi, ‘Các con biết, vợ của cha đã sinh cho cha hai đứa con; 28 một đứa đã ra đi mất biệt và cha nghĩ, “Chắc nó đã bị thú dữ xé xác rồi,” vì cho đến nay cha vẫn chưa gặp lại nó.  29 Nhưng nếu các con dẫn đứa này rời khỏi cha, và lỡ có chuyện gì rủi ro xảy ra cho nó dọc đường, các con sẽ làm cho cha phải mang đầu bạc đau buồn này đi vào âm phủ.’  30 Vậy bây giờ nếu tôi trở về gặp lại cha tôi, tôi tớ ngài, mà đứa trẻ không về với chúng tôi, và vì linh hồn của cha chúng tôi gắn bó với linh hồn nó, 31 thì khi ông cụ không thấy đứa trẻ cùng về, chắc ông cụ sẽ chết.  Và như vậy các tôi tớ ngài đã làm cho đầu bạc của cha chúng tôi, tôi tớ ngài, phải đau buồn xuống âm phủ.  32 Ngoài ra, tôi tớ ngài đã lấy chính mạng mình để bảo đảm với cha tôi cho đứa trẻ.  Tôi đã thưa với ông cụ rằng, ‘Nếu con không đem em con về cho cha, con sẽ chịu lỗi này với cha mãi mãi.’  33 Vậy bây giờ xin cho tôi tớ ngài ở lại đây làm nô lệ thay cho đứa trẻ, và xin ngài cho đứa trẻ được đi về với các anh nó.  34 Vì làm sao tôi có thể về thấy lại mặt cha tôi, nếu đứa trẻ không cùng đi với tôi?  Tôi không nỡ nào nhìn thấy thảm họa xảy đến với cha tôi được.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký: Chương 43]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký: Chương 45]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
</feed>