<?xml version="1.0"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xml:lang="vi">
	<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/api.php?action=feedcontributions&amp;feedformat=atom&amp;user=Admin</id>
	<title>Thư Viện Tin Lành - Đóng góp của người dùng [vi]</title>
	<link rel="self" type="application/atom+xml" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/api.php?action=feedcontributions&amp;feedformat=atom&amp;user=Admin"/>
	<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=%C4%90%E1%BA%B7c_bi%E1%BB%87t:%C4%90%C3%B3ng_g%C3%B3p/Admin"/>
	<updated>2026-05-05T00:15:37Z</updated>
	<subtitle>Đóng góp của người dùng</subtitle>
	<generator>MediaWiki 1.34.0</generator>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35673</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35673"/>
		<updated>2026-04-28T20:09:18Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không dùng vũ lực, không tham tiền, nhưng dịu dàng, hòa nhã, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Các phụ nữ, cũng vậy, phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không dùng vũ lực, không tham tiền, nhưng dịu dàng, hòa nhã, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phụ nữ, cũng vậy, phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thú nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, cẩn trọng, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không dùng vũ lực, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Các phụ nữ, cũng vậy, phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35672</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35672"/>
		<updated>2026-04-28T18:18:18Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tĩnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không dùng vũ lực, không tham tiền, nhưng dịu dàng, hòa nhã, 4. khéo léo quản trị gia đình của mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  6. Giám mục không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Các phụ nữ, cũng vậy, phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng cao trọng, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sẽ sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời đáng tin cậy đó là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tĩnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, không nghiện rượu, không dùng vũ lực, không tham tiền, nhưng dịu dàng, hòa nhã, khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục với tất cả sự tôn kính; bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  Giám mục không thể là một người mới tin Chúa, để không kiêu căng - khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách thì mới được phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phụ nữ, cũng vậy, phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các chấp sự phải là chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một vị trí cao trọng, và được vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta viết những điều nầy với hy vọng sẽ sớm đến với con; tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình ở trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, phải thú nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời đáng tin cậy là: Nếu có ai ước mong được làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý. 2. Vì vậy, giám mục phải là người không có gì đáng trách, là chồng của một vợ, điềm tỉnh, tiết chế, khả kính, hiếu khách, có khả năng giảng dạy, 3. không nghiện rượu, không dùng vũ lực, nhưng dịu dàng, hòa nhã, không tham tiền, 4. khéo léo quản trị gia đình mình, con cái thuận phục, với tất cả sự tôn kính - 5. bởi vì nếu một người không biết quản trị gia đình mình thì làm sao người đó chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời được?  - 6. không thể là người mới, để không bị kiêu căng, khiến người đó có thể rơi vào sự đoán phạt như ma quỷ. 7. Hơn nữa, cách cư xử của người đó phải nhận được sự minh chứng tốt từ những người bên ngoài, để người đó không rơi vào sự sỉ nhục và cạm bẫy của ma quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tương tự, các chấp sự phải có phẩm hạnh, không nói hai lời, không nghiện rượu, không tham lợi bất chính, 9. nhưng phải giữ sự mầu nhiệm của đức tin với một lương tâm trong sạch. 10. Cũng vậy, họ phải được thử thách trước, nếu không có gì đáng trách, thì mới phục vụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Các phụ nữ, cũng vậy, phải có phẩm hạnh, không vu khống, điềm tỉnh, và trung tín.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Các chấp sự phải là những người chồng của một vợ, phải khéo quản trị con cái và gia đình mình. 13. Bởi vì những người phục vụ tốt, sẽ đạt được một chỗ đứng giá trị, và vững vàng trong đức tin nơi Đấng Christ Jesus.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Ta viết những điều nầy, hy vọng sớm đến với con; 15. tuy nhiên nếu ta có chậm trễ, thì con có thể biết cách cư xử cho chính mình trong nhà của Đức Chúa Trời - tức là Hội Thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Thật vậy, phải công nhận rằng sự mầu nhiệm của sự tin kính là Đấng đã được mặc khải trong thân xác, được xác chứng bởi Thánh Linh, được chiêm ngưỡng bởi các thiên sứ, được công bố giữa các quốc gia, được tin nhận trên thế giới, được cất lên trong vinh quang, thật vĩ đại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ví bằng có kẻ mong được làm giám mục, ấy là ưa muốn một việc tốt lành; lời đó là phải lắm. 2.  Vậy, người giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ. 3.  Đừng mê rượu, cũng đừng hung bạo, nhưng phải mềm mại hòa nhã; lại đừng ham tiền bạc; 4.  phải khéo cai trị nhà riêng mình, giữ con cái mình cho vâng phục và ngay thật trọn vẹn; 5.  vì nếu có ai không biết cai trị nhà riêng mình, thì làm sao cai trị được Hội thánh của Đức Chúa Trời? 6.  Người mới tin đạo không được làm giám mục, e người tự kiêu mà sa vào án phạt của ma quỉ chăng. 7.  Người giám mục lại phải được người ngoại làm chứng tốt cho, kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Các chấp sự cũng phải cho nghiêm trọng, không được nói hai lời, không được ghiền rượu, không được tham lợi phi nghĩa, 9.  nhưng phải lấy lương tâm thanh sạch giữ lẽ mầu nhiệm của đức tin. 10.  Những người đó cũng phải chịu thử thách trước đã, nếu không chỗ trách được thì mới được làm chức chấp sự. 11.  Vợ các chấp sự cũng phải nghiêm trọng, chớ nói xấu, phải có tiết độ và trung tín trong mọi việc. 12.  Các chấp sự chỉ nên làm chồng của một vợ mà thôi, phải khéo cai trị con cái và nhà riêng mình. 13.  Vì ai khéo làm chức vụ mình thì được bực cao trọng và lòng rất dạn dĩ trong đức tin đến Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Ta mong mau mau đến thăm con, nhưng viết thơ nầy, 15.  phòng ta có chậm đến, thì con biết làm thể nào trong nhà Đức Chúa Trời, tức là Hội thánh của Đức Chúa Trời hằng sống, trụ và nền của lẽ thật vậy. 16.  Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phẩm Hạnh của Người Lãnh Ðạo Hội Thánh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Ðây là lời đáng tin cậy: nếu ai khao khát làm giám mục, người ấy ước muốn một điều cao quý.  2 Vậy người giám mục cần phải không chỗ trách được, chồng của một vợ, tiết độ, sáng suốt, khả kính, hiếu khách, có ơn giảng dạy, 3 không ghiền rượu, không hung dữ, nhưng độ lượng, không gây gổ, không tham tiền, 4 khéo quản trị gia đình mình, có các con cái biết vâng phục với tất cả lòng tôn kính.  5 (Vì nếu người nào không biết quản trị gia đình mình, làm sao người ấy có thể chăm sóc hội thánh của Ðức Chúa Trời?)  6 Giám mục không thể là một người mới tin, kẻo người ấy tự phụ mà rơi vào án phạt dành cho Ác Quỷ.  7 Ngoài ra người ấy phải có danh tiếng tốt đối với những người ngoài, để khỏi bị rơi vào sỉ nhục và cạm bẫy của Ác Quỷ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Tương tự, các chấp sự cũng phải là những người đáng kính, không nói hai lời, không ghiền rượu, không tham lợi phi nghĩa, 9 nắm giữ huyền nhiệm của đức tin với một lương tâm thanh sạch.  10 Họ cũng phải được thử thách trước; nếu không có gì đáng trách, họ mới được làm chấp sự.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các nữ chấp sự cũng vậy, phải là người đáng kính, không nói xấu, nhưng tiết độ, và trung tín trong mọi sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Mỗi nam chấp sự chỉ được làm chồng của một vợ, khéo quản trị con cái và gia đình riêng mình.  13 Vì ai thi hành chức vụ chấp sự cách tốt đẹp sẽ được kính trọng và được mạnh dạn nhiều trong đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Huyền Nhiệm của Sự Tin Kính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta viết cho con những điều này với hy vọng sẽ sớm đến với con.  15 Nhưng nếu ta phải đến trễ thì nhờ thư này con sẽ biết cách xử sự thế nào trong nhà Ðức Chúa Trời, tức Hội Thánh của Ðức Chúa Trời hằng sống, là cột trụ và nền tảng của chân lý.  16 Mọi người đều công nhận rằng huyền nhiệm của sự tin kính thật là uyên thâm, đó là Ðấng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược bày tỏ trong xác thịt đã&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược Ðức Thánh Linh xác chứng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược các thiên sứ chiêm ngưỡng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược rao giảng giữa các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược tin thờ khắp thế gian,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðược cất lên trong vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 4]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=B%C3%AAn_Kia_B%C3%B3ng_M%E1%BB%9D&amp;diff=35671</id>
		<title>Bên Kia Bóng Mờ</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=B%C3%AAn_Kia_B%C3%B3ng_M%E1%BB%9D&amp;diff=35671"/>
		<updated>2026-04-21T17:01:20Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: Beyond the Shadows (1948)&lt;br /&gt;
*Tựa đề:  Bên Kia Bóng Mờ&lt;br /&gt;
*Lời: Dale Schulz&lt;br /&gt;
*Nhạc: Dale Schulz&lt;br /&gt;
*Tài Liệu: Tuyển Tập Thánh Ca Chép Tay của Nhạc sĩ [[Vĩnh Phúc]].&lt;br /&gt;
==Lời Anh==&lt;br /&gt;
:'''Beyond the Shadows'''&lt;br /&gt;
:1. Of all our troubles, God makes a rainbow,&lt;br /&gt;
:Thro' all our tears, hope will shine again;&lt;br /&gt;
:If God be for us, there's naught can harm us,&lt;br /&gt;
:He turns our sorrow to joy again.&lt;br /&gt;
:'''Refrain'''&lt;br /&gt;
:Beyond the shadows, the sun still shines,&lt;br /&gt;
:And God will answer that prayer of thine;&lt;br /&gt;
:Look up in faith then, not in despair,&lt;br /&gt;
:Beyond the shadows, God still is there.&lt;br /&gt;
:2. The night of sorrow, the time of weeping&lt;br /&gt;
:Will soon be over and morn will come;&lt;br /&gt;
:Oh glorious dawning of day unending,&lt;br /&gt;
:When with our Savior we'll dwell at Home. &lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Bên Kia Bóng Mờ - Lời Việt: Lưu Văn Tường - [[Lưu Văn Tường | Tường Lưu]]''' - (7/6/1977)&lt;br /&gt;
:1. Trong những phiền ưu ta, hào quang Chúa soi lòa&lt;br /&gt;
:Dù lệ tràn trên má đức tin không nhòa &lt;br /&gt;
:Dù phong ba tối trời khi sóng xô tơi bời&lt;br /&gt;
:Trong Chúa muôn điều ấy sẽ như hoa cười. &lt;br /&gt;
:'''Điệp Khúc:''' &lt;br /&gt;
:Mặt trời hằng sáng soi trên tầng mây tối&lt;br /&gt;
:Lời nghẹn ngào vướng môi Chúa đã nghe rồi &lt;br /&gt;
:Người ơi, nâng đức tin nhìn lên Thiên Chúa&lt;br /&gt;
:Vì bên kia bóng mờ, tay Ngài dẫn đưa. &lt;br /&gt;
:2. Trong bóng mờ gian nan, đầy giông tố phũ phàng&lt;br /&gt;
:Lòng thường nghe êm ấm tiếng Vua thiên đàng &lt;br /&gt;
:Ngài xua tan tố giông, ban đức tin can trường&lt;br /&gt;
:Trong khó nguy thử thách Chúa luôn luôn gần. &lt;br /&gt;
:3. Đêm tối đầy thương đau, lệ hoen mắt u sầu&lt;br /&gt;
:Đều cùng nhau qua hết lúc ban mai về&lt;br /&gt;
:Ngày vinh quang bất tận sẽ đến trong huy hoàng&lt;br /&gt;
:Sung sướng ta cùng Chúa sống nơi thiên đàng.&lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/beat/735.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/sheet/735.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Hoa Kỳ]] (1998) - Bài số 287&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Miền Nam]] (2011) - Bài số 735&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] - Thư Viện Tin Lành&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=B%C3%AAn_Kia_B%C3%B3ng_M%E1%BB%9D&amp;diff=35670</id>
		<title>Bên Kia Bóng Mờ</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=B%C3%AAn_Kia_B%C3%B3ng_M%E1%BB%9D&amp;diff=35670"/>
		<updated>2026-04-21T17:00:24Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: Beyond the Shadows (1948)&lt;br /&gt;
*Tựa đề:  Bên Kia Bóng Mờ&lt;br /&gt;
*Lời: Dale Schulz&lt;br /&gt;
*Nhạc: Dale Schulz&lt;br /&gt;
*Tài Liệu: Tuyển Tập Thánh Ca Chép Tay của Nhạc sĩ [[Vĩnh Phúc]].&lt;br /&gt;
==Lời Anh==&lt;br /&gt;
:'''Beyond the Shadows'''&lt;br /&gt;
:1. Of all our troubles, God makes a rainbow,&lt;br /&gt;
:Thro' all our tears, hope will shine again;&lt;br /&gt;
:If God be for us, there's naught can harm us,&lt;br /&gt;
:He turns our sorrow to joy again.&lt;br /&gt;
:'''Refrain'''&lt;br /&gt;
:Beyond the shadows, the sun still shines,&lt;br /&gt;
:And God will answer that prayer of thine;&lt;br /&gt;
:Look up in faith then, not in despair,&lt;br /&gt;
:Beyond the shadows, God still is there.&lt;br /&gt;
:2. The night of sorrow, the time of weeping&lt;br /&gt;
:Will soon be over and morn will come;&lt;br /&gt;
:Oh glorious dawning of day unending,&lt;br /&gt;
:When with our Savior we'll dwell at Home. &lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Bên Kia Bóng Mờ - Lời Việt: Lưu Văn Tường - [[Tường Lưu]]''' - (7/6/1977)&lt;br /&gt;
:1. Trong những phiền ưu ta, hào quang Chúa soi lòa&lt;br /&gt;
:Dù lệ tràn trên má đức tin không nhòa &lt;br /&gt;
:Dù phong ba tối trời khi sóng xô tơi bời&lt;br /&gt;
:Trong Chúa muôn điều ấy sẽ như hoa cười. &lt;br /&gt;
:'''Điệp Khúc:''' &lt;br /&gt;
:Mặt trời hằng sáng soi trên tầng mây tối&lt;br /&gt;
:Lời nghẹn ngào vướng môi Chúa đã nghe rồi &lt;br /&gt;
:Người ơi, nâng đức tin nhìn lên Thiên Chúa&lt;br /&gt;
:Vì bên kia bóng mờ, tay Ngài dẫn đưa. &lt;br /&gt;
:2. Trong bóng mờ gian nan, đầy giông tố phũ phàng&lt;br /&gt;
:Lòng thường nghe êm ấm tiếng Vua thiên đàng &lt;br /&gt;
:Ngài xua tan tố giông, ban đức tin can trường&lt;br /&gt;
:Trong khó nguy thử thách Chúa luôn luôn gần. &lt;br /&gt;
:3. Đêm tối đầy thương đau, lệ hoen mắt u sầu&lt;br /&gt;
:Đều cùng nhau qua hết lúc ban mai về&lt;br /&gt;
:Ngày vinh quang bất tận sẽ đến trong huy hoàng&lt;br /&gt;
:Sung sướng ta cùng Chúa sống nơi thiên đàng.&lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/beat/735.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/sheet/735.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Hoa Kỳ]] (1998) - Bài số 287&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Miền Nam]] (2011) - Bài số 735&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] - Thư Viện Tin Lành&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35669</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35669"/>
		<updated>2026-04-14T23:59:32Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, ta kêu gọi trước hết hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, là một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này mà ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng, làm sứ đồ, và giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, 10. nhưng hãy thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hay tự mình cầm quyền trên một người đàn ông, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt rồi đi đến sự phạm tội. 15. Dầu vậy, người nữ sẽ được cứu giúp trong lúc cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Kêu gọi cầu nguyện'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, trước hết, ta khuyên con nên nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta, là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. Ngài đã hiến chính mình Ngài để làm giá chuộc cho tất cả nhân loại - một sự xác nhận đúng thời điểm. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này ta đã được bổ nhiệm làm nhà truyền giảng, làm sứ đồ, làm giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp mọi nơi hãy đưa những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện - đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Hướng dẫn cho phụ nữ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. Tuy nhiên, ta không cho phép phụ nữ dạy, hoặc tự mình cầm quyền trên một người đàn ông, nhưng hãy yên lặng. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt và đi đến sự phạm tội. Dầu vậy, người nữ sẽ được cứu giúp trong lúc cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, trước hết, ta kêu gọi hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người đang có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Vì điều này, ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng và sứ đồ  - Ta nói thật, không nói dối -  làm giáo sư cho các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người đàn ông ở khắp mọi nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng cách kết tóc, hay vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, 10. nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời, qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hay tự mình cầm quyền trên một người đàn ông, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt đi đến sự phạm tội. 15. Dầu vậy, người nữ sẽ được cứu giúp trong lúc cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, 2.  cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhân đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. 3.  Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, 4.  Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật. 5.  Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người; 6.  Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ 7.  (ta nói thật, không nói dối), vì lời chứng ấy, ta đã được cử làm thầy giảng, là sứ đồ và giáo sư cho dân ngoại, để dạy họ về đức tin và về lẽ thật. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vậy, ta muốn những người đàn ông đều giơ tay thánh sạch lên trời, mà cầu nguyện khắp mọi nơi, chớ có giận dữ và cãi cọ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Ta cũng muốn rằng những người đàn bà ăn mặc một cách gọn ghẽ, lấy nết na và đức hạnh giồi mình, không dùng những tóc gióc, vàng, châu ngọc và áo quần quí giá, 10.  nhưng dùng việc lành, theo lẽ đang nhiên của người đàn bà tin kính Chúa. 11.  Đàn bà phải yên lặng mà nghe dạy, lại phải vâng phục mọi đàng. 12.  Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ, cũng không được cầm quyền trên đàn ông; nhưng phải ở yên lặng. 13.  Vì A-đam được dựng nên trước nhất, rồi mới tới Ê-va. 14.  Lại không phải A-đam bị dỗ dành, bèn là người đàn bà bị dỗ dành mà sa vào tội lỗi. 15.  Dầu vậy, nếu đàn bà lấy đức hạnh mà bền đỗ trong đức tin, trong sự yêu thương, và trong sự nên thánh, thì sẽ nhân đẻ con mà được cứu rỗi. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cầu Nguyện cho Mọi Người'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vậy trước hết, ta khuyên con hãy cầu xin, khẩn nguyện, cầu thay, và cảm tạ cho mọi người, 2 cho các vua và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta có thể sống một đời bình tịnh và êm ả, trong nếp sống đạo vẹn toàn và đầy phẩm giá.  3 Ðây là điều tốt đẹp và vui lòng trước mặt Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của chúng ta; 4 Ngài muốn mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Vì chỉ có một Ðức Chúa Trời và một Ðấng Trung Gian giữa Ðức Chúa Trời và loài người, đó là Ðức Chúa Jesus Christ, một người, 6 Ðấng đã hiến chính Ngài làm giá chuộc mọi người, một sự kiện được xác chứng là đã xảy ra đúng thời điểm.  7 Vì sự kiện đó mà ta đã được bổ nhiệm làm giảng sư và sứ đồ –ta nói thật, chứ không nói dối– tức làm giáo sư để dạy các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nam Nữ Trong Hội Thánh Khi Nhóm Lại Thờ Phượng Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Vậy ta muốn quý ông hãy cầu nguyện ở mọi nơi, đưa đôi tay thánh sạch lên, đừng giận dữ và cãi nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Quý bà cũng vậy, hãy ăn mặc lịch sự, trang sức thanh nhã và giản dị, không bới những kiểu tóc cầu kỳ, không đeo vàng ngọc đắt giá, hoặc mặc những y phục đắt tiền, 10 nhưng làm những việc từ thiện, đó là những điều thích hợp với các phụ nữ xưng mình là người tin kính Ðức Chúa Trời.  11 Phụ nữ hãy học trong yên lặng và thuận phục hoàn toàn.  12 Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ hay cầm quyền trên đàn ông, nhưng phải yên lặng, 13 vì A-đam được dựng nên trước rồi mới đến Ê-va; 14 và không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người đàn bà bị lừa gạt và phạm tội.  15 Tuy vậy đàn bà sẽ được cứu qua việc sinh con, nếu họ cứ tiếp tục ở trong đức tin, tình yêu, và thánh khiết, với sự điềm đạm.       &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 1]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=S%C3%A1ng_Th%E1%BA%BF_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_14&amp;diff=35668</id>
		<title>Sáng Thế Ký: Chương 14</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=S%C3%A1ng_Th%E1%BA%BF_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_14&amp;diff=35668"/>
		<updated>2026-04-14T01:43:17Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Thời gian trôi qua, vào thời Am-ra-phên làm vua của Si-nê-a, A-ri-óc làm vua của Ê-la-sa, Kết-rô-lao-me làm vua của Ê-lam, và Ti-đanh làm vua của Gô-im, 2. họ đã gây chiến với Bê-ra vua của Sô-đôm, Bi-rê-sa - vua của Gô-mô-rơ, Si-nê-áp - vua của Át-ma, Sê-mê-bê - vua của Xê-bô-im, và vua của Bê-la, tức là Xoa. 3. Tất cả những vị nầy đã tập hợp với nhau tại thung lũng Si-điêm, tức là Biển Muối. 4. Họ đã thần phục Vua Kết-rô-lao-me mười hai năm, nhưng đến năm thứ mười ba thì họ nổi loạn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Vào năm thứ mười bốn, Kết-rô-lao-me và các vua theo ông đã tấn công dân Rê-pha-im tại Ách-tê-rót Ca-na-im, dân Xu-xin tại Ham, dân Ê-mim tại đồng bằng Ki-ri-a-ta-im, 6. và dân Hô-rít trong vùng núi Sê-i-rơ, cho đến tận Ên Pa-ran, giáp ranh với hoang mạc. 7. Sau đó họ quay về Ên Mích-pát, tức Ca-đe, triệt hạ cả xứ của dân A-ma-léc, và của dân A-mô-rít đang ở tại Hát-sát-sôn Tha-ma. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Các vua của Sô-đôm, vua của Gô-mô-rơ, vua của Át-ma, vua của Xê-bô-im, và vua của Bê-la, tức là Xoa, đã cùng nhau dàn trận tại thung lũng Si-điêm 9. để chống lại Vua Kết-rô-lao-me của Ê-lam, Vua Ti-đanh của Gô-im, Vua Am-ra-phên của Si-nê-a, và Vua A-ri-óc của Ê-la-sa: Năm vua chống lại bốn vua. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Lúc đó, thung lũng Si-điêm có những hố đầy nhựa chai, vua của Sô-đôm và vua của Gô-mô-rơ chạy trốn, đã rơi xuống đó - số còn lại chạy trốn vào trong núi. 11. Họ đã chiếm hết tài sản và lương thực của Sô-đôm và Gô-mô-rơ rồi bỏ đi. 12. Họ cũng bắt Lót - là con trai của em trai của Áp-ram - cùng với những tài sản của ông đem đi, bởi vì ông đã ở tại Sô-đôm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Có một người thoát được đã đến báo cho Áp-ram, người Hê-bơ-rơ, đang sống gần những cây sồi của Mam-rê, người A-mô-rít, là anh em của Ếch-côn và anh em của A-ne. Những người nầy đã lập giao ước với Áp-ram. 14. Khi Áp-ram nghe tin cháu của mình bị bắt, ông đã trang bị cho những gia nhân đã được huấn luyện, là những người đã sinh ra trong nhà của ông, rồi rượt theo họ cho đến tận Đan. 15. Ông phân chia lực lượng để đánh họ.  Ông và những gia nhân của ông đã tấn công họ vào ban đêm, rồi truy đuổi họ cho đến Hô-ba, nằm ở phía bắc của Đa-mách. 16. Áp-ram đã đoạt lại tất cả tài sản, cũng đem Lót, cháu của mình, trở về cùng với tài sản của ông, cũng như những phụ nữ và dân chúng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Sau khi đã đánh bại Kết-rô-lao-me cùng với những vị vua theo ông, lúc Áp-ram trở về, vua của Sô-đôm đã ra tiếp đón ông tại thung lũng Sa-ve, tức là thung lũng của các vua. 18. Mên-chi-xê-đéc, vua của Sa-lem, cũng đã đem bánh và rượu đến, bởi vì ông là tư tế của Đức Chúa Trời Chí Cao. 19. Vua đã chúc phước và nói: &amp;quot;Nguyện Đức Chúa Trời Chí Cao, là Đấng dựng nên trời và đất, ban phước cho Áp-ram. 20. Tôn ngợi Đức Chúa Trời Chí Cao đã trao kẻ thù vào tay của ngươi.&amp;quot; Áp-ram đã dâng cho vua một phần mười của mọi thứ.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Vua của Sô-đôm đã nói với Áp-ram: &amp;quot;Xin cho tôi lại những con người, còn tài sản thì xin ông giữ lấy.&amp;quot; 22. Tuy nhiên Áp-ram đã nói với vua của Sô-đôm: &amp;quot;Tôi đã giơ tay lên hứa với Giê-hô-va Đức Chúa Trời Chí Cao, là Đấng sáng tạo trời và đất, 23. rằng tôi sẽ không lấy bất cứ vật gì thuộc về vua, dù chỉ là một sợi chỉ hay là một dây giày, kẻo vua sẽ nói rằng: Ta đã làm cho Áp-ram giàu có. 24. Ngoại trừ những gì các thanh niên đã ăn. Tuy nhiên, những người đã cùng đi với tôi là A-ne, Ếch-côn, và Mam-rê, họ có thể nhận phần của họ.&amp;quot;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Trong đời Am-ra-phên, vua Si-nê-a; A-ri-óc, vua Ê-la-sa; Kết-rô-Lao me, vua Ê-lam, và Ti-đanh, vua Gô-im, 2.  bốn vua hiệp lại tranh chiến cùng Bê-ra, vua Sô-đôm; Bi-rê-sa, vua Gô-mô-rơ; Si-nê-áp, vua Át-ma; Sê-mê-bê, vua Xê-bô-im, và vua Bê-la, tức là Xoa. 3.  Các vua nầy hiệp lại tại trũng Si-điêm, bây giờ là biển muối. 4.  Trong mười hai năm các vua nầy đều là chư-hầu của vua Kết-rô-Lao me; nhưng qua năm thứ mười ba, thì họ dấy loạn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Nhằm năm thứ mười bốn, Kết-rô-Lao-me cùng các vua đồng minh kéo quân đến dẹp dân Rê-pha-im ở đất Ách-tê-rót-Ca-na-im, dân Xu-xin tại đất Ham, dân Ê-mim ở trong đồng bằng Ki-ri-a-ta-im, 6.  và dân Hô-rít tại núi Sê-i-rơ, cho đến nơi Ên-Ba-ran, ở gần đồng vắng. 7.  Đoạn, các vua thâu binh trở về, đến Suối Xử đoán, tức Ca-đe, hãm đánh khắp miền dân A-ma-léc, và dân A-mô-rít ở tại Hát-sát sôn-Tha-ma. 8.  Các vua của Sô-đôm, Gô-mô-rơ, Át-ma, Xê-bô-im và vua Bê-la, tức là Xoa, bèn xuất trận và dàn binh đóng tại trũng Si-điêm, 9.  đặng chống cự cùng Kết-rô-Lao-me, vua Ê-lam; Ti-đanh, vua Gô-im; Am-ra-phên, vua Si-nê-a, và A-ri-óc, vua Ê-la-sa; bốn vị đang địch cùng năm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Vả, trong trũng Si-điêm có nhiều hố nhựa chai; vua Sô-đôm và vua Gô-mô-rơ thua chạy, sa xuống hố, còn kẻ nào thoát được chạy trốn trên núi. 11.  Bên thắng trận bèn cướp lấy hết của cải và lương thực của Sô-đôm và Gô-mô-rơ, rồi đi. 12.  Giặc cũng bắt Lót, là cháu của Áp-ram, ở tại Sô-đôm, và hết thảy gia tài người, rồi đem đi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13.  Có một người thoát được chạy đến báo điều đó cùng Áp-ram, là người Hê-bơ-rơ. Áp-ram ở tại lùm cây dẻ bộp của Mam-rê, là người A-mô-rít, anh của Ếch-côn và A-ne; ba người nầy đã có kết-ước cùng Áp-ram. 14.  Khi Áp-ram hay được cháu mình bị quân giặc bắt, bèn chiêu tập ba trăm mười tám gia nhân đã tập luyện, sanh đẻ nơi nhà mình, mà đuổi theo các vua đó đến đất Đan. 15.  Đoạn Áp-ram chia bọn đầy tớ mình ra, thừa ban đêm xông hãm quân nghịch, đánh đuổi theo đến đất Hô-ba ở về phía tả Đa-mách. 16.  Người thâu về đủ hết các tài vật mà quân giặc đã cướp lấy; lại cũng dẫn cháu mình, là Lót cùng gia tài người, đàn bà và dân chúng trở về. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Sau khi Áp-ram đánh bại Kết-rô-Lao-me và các vua đồng minh, thắng trận trở về, thì vua Sô-đôm ra đón rước người tại trũng Sa-ve, tức là trũng Vua. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Mên-chi-xê-đéc, vua Sa-lem, sai đem bánh và rượu ra. Vả, vua nầy là thầy tế lễ của Đức Chúa Trời Chí cao, 19.  chúc phước cho Áp-ram và nói rằng: Nguyện Đức Chúa Trời Chí cao, là Đấng dựng nên trời và đất, ban phước cho Áp-ram! 20.  Đáng ngợi khen thay Đức Chúa Trời Chí cao đã phó kẻ thù nghịch vào tay ngươi! Đoạn, Áp-ram lấy một phần mười về cả của giặc mà dâng cho vua đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Vua Sô-đôm bèn nói cùng Áp-ram rằng: Hãy giao người cho ta, còn của cải, thì ngươi thâu lấy. 22.  Áp-ram đáp lại rằng: Tôi giơ tay lên trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời Chí cao, Chúa Tể của trời và đất, mà thề rằng: 23.  Hễ của chi thuộc về vua, dầu đến một sợi chỉ, hay là một sợi dây giày đi nữa, tôi cũng chẳng hề lấy; e vua nói được rằng: Nhờ ta làm cho Áp-ram giàu có, 24.  chỉ món chi của những người trẻ đã ăn, và phần của các người cùng đi với tôi, là A-ne, Ếch-côn và Mam-rê; về phần họ, họ hãy lấy phần của họ đi. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B01\V02B01C014.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Lót Bị Giặc Bắt và Ðược Cứu'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Trong thời của Am-ra-phên vua Si-na, A-ri-ốt vua Ên-la-sa, Kê-đô-lao-me vua Ê-lam, và Ti-đanh vua Gô-im, 2 các vua ấy liên kết với nhau để giao tranh với Bê-ra vua Sô-đôm, Bích-sa vua Gô-mô-ra, Si-náp vua Át-ma, Sê-mê-be vua Xê-boi-im, và Bê-la vua Xô-a. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Tất cả các vua ấy tập trung quân đội trong Thung Lũng Sít-đim, thuộc vùng Biển Muối.  4 Số là trong mười hai năm họ thần phục Vua Kê-đô-lao-me, nhưng đến năm thứ mười ba họ làm phản.  5 Qua năm thứ mười bốn, Kê-đô-lao-me cùng các vua trong liên minh của ông kéo đến đánh bại dân Rê-pha ở Ách-tê-rốt Ca-na-im, dân Xu-xim ở Ham, dân Ê-mim ở Sa-vê Ki-ri-a-tha-im, 6 dân Hô-ri ở miền đồi núi Sê-i-rơ cho đến tận Ên Pa-ran, nơi giáp ranh với đồng hoang.  7 Sau đó họ trở về và đến tại Ên Mích-pát, tức Ca-đe, và triệt hạ cả xứ của dân A-ma-léc và dân A-mô-ri đang sống trong vùng Ha-xa-xôn Ta-ma.  8 Bấy giờ vua Sô-đôm, vua Gô-mô-ra, vua Át-ma, vua Xê-boi-im, và Vua Bê-la của Xô-a liên minh với nhau rồi kéo quân ra dàn trận tại Thung Lũng Sít-đim 9 để giao tranh với Kê-đô-lao-me vua Ê-lam, Ti-đanh vua Gô-im, Am-ra-phên vua Si-na, và A-ri-ốt vua Ên-la-sa; bốn vua đấu với năm vua.  10 Thuở ấy Thung Lũng Sít-đim có đầy những hố nhựa đen.  Hai vua Sô-đôm và Gô-mô-ra bại trận, chạy trốn, và bị rơi vào hố, còn những người khác chạy thoát được đều trốn trên núi.  11 Quân thắng trận tiến vào Sô-đôm và Gô-mô-ra cướp tất cả của cải và lấy hết thảy lương thực ở hai nơi đó, rồi rút đi.  12 Họ cũng bắt Lót cháu của Áp-ram, đang sống tại Sô-đôm, và lấy tất cả của cải của ông, rồi rút đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Có một người thoát được đến báo cho Áp-ram người Hê-bơ-rơ lúc ấy đang ngụ tại đám sồi của Mam-rê người A-mô-ri, anh của hai ông Ếch-côn và A-ne; những người ấy là đồng minh của Áp-ram.  14 Khi Áp-ram nghe tin cháu mình đã bị bắt làm tù binh, ông trang bị vũ khí cho ba trăm mười tám gia nhân đã được tập luyện, tức những tôi tớ đã sinh ra trong nhà ông, và đuổi theo quân giặc đến tận Ðan.  15 Ông chia những người đi với ông ra và thừa lúc đêm tối tấn công vào trại giặc.  Ông và các tôi tớ ông đánh chúng và rượt đuổi chúng đến tận Khô-ba, về phía bắc của Ða-mách.  16 Ðoạn ông đem về tất cả những của cải đã bị giặc cướp; ông cũng đem Lót cháu ông, cùng tất cả của cải của ông ấy, các phụ nữ, và dân đã bị giặc bắt trở về.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Áp-ram và Mên-chi-xê-đéc'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Sau khi Áp-ram chiến thắng Kê-đô-lao-me và các vua đồng minh của vua ấy trở về, vua Sô-đôm đi ra nghênh đón ông ở Thung Lũng Sa-vê, tức Thung Lũng Nhà Vua.  18 Mên-chi-xê-đéc vua Sa-lem mang bánh và rượu đến đón ông.  Vua ấy là tư tế của Ðức Chúa Trời Tối Cao.  19 Vua ấy chúc phước cho ông và nói, &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Cầu xin Ðức Chúa Trời Tối Cao,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðấng dựng nên trời và đất, ban phước cho Áp-ram.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Chúc tụng Ðức Chúa Trời Tối Cao,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðấng đã trao vào tay ông những kẻ thù của ông.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Áp-ram bèn lấy một phần mười trong tất cả chiến lợi phẩm tặng vua ấy.  21 Bấy giờ vua Sô-đôm nói với Áp-ram, “Cho tôi xin lại những người ông đã cứu; còn các chiến lợi phẩm, xin ông giữ lấy.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Nhưng Áp-ram đáp lại với vua Sô-đôm, “Tôi đã đưa tay lên thề trước mặt CHÚA, Ðức Chúa Trời Tối Cao, Ðấng dựng nên trời và đất, 23 rằng tôi sẽ không lấy bất cứ vật chi, dù là một sợi chỉ hay một quai dép.  Tôi sẽ không lấy một vật chi thuộc về ngài, để ngài sẽ không thể nói, ‘Nhờ ta mà Áp-ram được giàu có,’ 24 ngoại trừ những gì các trai tráng theo tôi đã ăn rồi.  Tuy nhiên đối với những người đã đi với tôi là A-ne, Ếch-côn, và Mam-rê, xin ngài để họ được lấy phần của họ.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký: Chương 13]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký: Chương 15]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=D%C3%A2n_S%E1%BB%91_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_30&amp;diff=35667</id>
		<title>Dân Số Ký: Chương 30</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=D%C3%A2n_S%E1%BB%91_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_30&amp;diff=35667"/>
		<updated>2026-04-07T18:18:23Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Môi-se nói với các lãnh đạo của những chi tộc Y-sơ-ra-ên: &amp;quot;Đây là điều mà Đức Giê-hô-va đã truyền: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Nếu một người khấn hứa với Đức Giê-hô-va điều gì, hoặc thề nguyện buộc chính mình vào điều gì, người đó không được phá bỏ lời của mình, nhưng phải thực hiện tất cả những gì miệng của mình đã nói.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Nếu một thiếu nữ lúc còn trong tuổi thanh xuân, khi còn ở trong nhà cha của nàng, khấn hứa điều gì với Đức Giê-hô-va, hoặc cam kết buộc mình vào điều gì, 4. nếu cha nàng nghe được sự khấn hứa hoặc cam kết mà nàng đã buộc mình vào, nhưng cha nàng vẫn yên lặng với nàng, thì tất cả những gì nàng đã khấn hứa đều có hiệu lực. Bất cứ sự ràng buộc nào nàng đã cam kết đều có hiệu lực. 5.  Nhưng nếu vào ngày cha nàng nghe được, ông không cho phép nàng, thì tất cả những gì nàng đã khấn hứa hoặc cam kết buộc nàng vào đó, đều trở thành vô hiệu lực. Đức Giê-hô-va sẽ tha thứ cho nàng bởi vì cha nàng không cho phép nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nhưng nếu nàng đã lấy chồng, nàng khấn hứa, hay môi của nàng vội vàng thốt ra điều gì để tự ràng buộc chính nàng vào đó, 7. nếu vào ngày chồng nàng nghe được, ông nghe mà không nói gì với nàng, thì những gì nàng đã khấn hứa sẽ có hiệu lực và những cam kết mà nàng đã buộc mình vào đều có hiệu lực. 8. Nhưng nếu vào ngày chồng của nàng nghe được, ông không cho phép nàng, thì ông đã vô hiệu hóa lời khấn hứa mà nàng đã hứa cùng với những lời mà môi của nàng đã thốt ra cách vội vàng khiến nàng bị ràng buộc vào đó. Đức Giê-hô-va sẽ tha thứ cho nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Về phần phụ nữ góa phụ hoặc đã ly dị, bất cứ điều gì nàng cam kết để ràng buộc chính mình vào đó, lời hứa đó sẽ hiệu lực. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Nếu một phụ nữ trong khi đang sống trong nhà của chồng, khấn hứa hoặc cam kết ràng buộc chính mình vào một lời thệ nguyện, 11. nếu chồng của nàng nghe mà không nói gì với nàng, cũng không phản đối nàng, thì tất cả những gì nàng đã khấn hứa sẽ có hiệu lực và tất cả những cam kết mà nàng đã buộc mình vào đó, đều có hiệu lực. 12. Nhưng nếu vào ngày chồng của nàng nghe được, ông vô hiệu hóa chúng, thì bất cứ điều gì mà môi của nàng đã thốt ra trước đó, dù đó là lời khấn hứa hoặc cam kết của nàng, thì sẽ vô hiệu lực. Chồng của nàng đã vô hiệu hóa nên Đức Giê-hô-va sẽ tha thứ cho nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Chồng của nàng có quyền xác nhận, và chồng của nàng cũng có quyền hủy bỏ, mọi khấn hứa và mọi cam kết mà nàng ràng buộc chính nàng vào đó. 14. Nếu chồng của nàng không nói gì với nàng từ ngày nầy cho đến ngày khác, nghĩa là chồng của nàng đã xác nhận mọi lời khấn hứa hay tất cả những cam kết, đang ràng buộc nàng. Chồng của nàng đã xác nhận chúng, bởi vì anh ta đã không nói gì với nàng vào ngày anh nghe về điều đó. 15. Nếu người chồng đã nghe, nhưng về sau mới hủy bỏ chúng, thì người chồng phải gánh chịu trách nhiệm về tội lỗi của nàng.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Đó là những quy định mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se liên hệ đến người chồng và vợ của mình, người cha và con gái của mình lúc nàng còn thanh xuân đang ở trong nhà cha của mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Môi-se nói cùng dân Y-sơ-ra-ên mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2.  Môi-se cũng nói cùng những quan trưởng của các chi phái Y-sơ-ra-ên rằng: Này là điều mà Đức Giê-hô-va đã phán: 3.  Khi một người nào có hứa nguyện cùng Đức Giê-hô-va, hoặc phát thề buộc lấy lòng mình phải giữ một sự gì, thì chớ nên thất tín. Mọi lời ra khỏi miệng người, người phải làm theo. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Khi một người nữ, trong buổi còn thơ ấu, ở nhà cha mình, có hứa nguyện cùng Đức Giê-hô-va, và buộc lấy lòng mình phải giữ một điều chi, 5.  nếu người cha đã biết lời hứa nguyện nàng, và sự buộc lòng nàng tự chịu lấy, mà đối với nàng vẫn làm thinh, thì nàng phải làm y lời hứa nguyện, và giữ mọi sự buộc lòng mình mà nàng tự chịu lấy. 6.  Còn nhược bằng ngày nào cha nàng biết mà cấm đi, thì nàng sẽ không mắc lời hứa nguyện mình hay là các sự buộc lòng giữ mà nàng đã tự chịu lấy; Đức Giê-hô-va sẽ tha tội cho nàng, vì cha nàng cấm nàng vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Nếu người nữ ấy đã kết hôn, hoặc vì hứa nguyện, hoặc vì lời chi lỡ ra khỏi môi mà nàng đã chịu lấy một sự buộc mình, 8.  nhược bằng ngày nào chồng nàng hay mà đối cùng nàng vẫn làm thinh, thì nàng phải làm y lời hứa nguyện, và giữ những sự buộc lòng mình mà nàng tự chịu lấy. 9.  Còn nếu ngày nào chồng đã biết, cấm nàng đi, hủy lời hứa nguyện mà nàng mắc đó và lời gì lỡ ra khỏi môi, mà vì cớ đó nàng đã buộc lấy mình, thì Đức Giê-hô-va sẽ tha tội cho nàng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Lời hứa nguyện của một người đàn bà góa hoặc một người đàn bà bị để, mọi điều chi người đã buộc mình, thì phải giữ lấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Nếu một người đàn bà đã hứa nguyện trong nhà chồng mình, hoặc phát thề buộc lấy lòng mình phải giữ một sự gì, 12.  và nếu chồng đã hay, vẫn làm thinh cùng nàng, không cấm, thì nàng phải làm y lời hứa nguyện và giữ mọi sự buộc lòng mà nàng đã tự chịu lấy. 13.  Nhưng nhược bằng ngày nào chồng nàng hay biết, hủy đi, thì mọi lời đã ra khỏi môi về những sự hứa nguyện, và về sự buộc lòng mình sẽ bị hủy đi; chồng nàng đã hủy các lời đó, thì Đức Giê-hô-va sẽ tha tội cho nàng. 14.  Chồng nàng có thế ưng hay hủy mọi sự hứa nguyện, và mọi lời thề mà nàng sẽ buộc mình đặng ép linh hồn mình. 15.  Nhược bằng chồng vẫn làm thinh cùng nàng ngày nay qua ngày mai, như vậy chồng ưng các sự hứa nguyện của nàng; chồng ưng, vì không nói chi ngày mà người đã hay biết. 16.  Còn nếu chồng hủy các sự hứa nguyện một ít lâu sau khi đã hay biết thì chồng sẽ mang sự hình phạt về tội lỗi của vợ mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Đó là các lệ định mà Đức Giê-hô-va truyền cho Môi-se về một người chồng và vợ mình, một người cha và con gái mình, buổi thơ ấu khi còn ở nhà cha. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B04\V02B04C030.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Luật về Sự Thệ Nguyện'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Bấy giờ Môi-se nói với các thủ lãnh các chi tộc của dân I-sơ-ra-ên, “Ðây là những điều CHÚA đã truyền: 2 Khi một người khấn hứa với CHÚA điều gì hoặc lấy lời thề buộc mình vào một điều gì, người ấy không được nuốt lời; người ấy phải thực hiện những gì miệng mình đã nói ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Khi một thiếu nữ khấn hứa điều gì với CHÚA hoặc lấy lời thề buộc mình vào điều gì, mà khi còn ở trong nhà cha nàng, lúc tuổi còn thanh xuân, 4 nếu cha nàng nghe được lời khấn hứa đó hoặc lời thệ nguyện mà nàng đã buộc mình vào đó, nhưng cha nàng không nói gì, thì tất cả những gì nàng đã khấn hứa đều có hiệu lực, bất cứ lời thệ nguyện nào nàng đã thề đều có hiệu lực.  5 Nhưng nếu cha nàng nghe được và cho hay rằng ông không tán thành những gì nàng đã khấn hứa hoặc thệ nguyện, thì tất cả những gì nàng đã khấn hứa hoặc thệ nguyện đều trở thành vô hiệu lực, và CHÚA cũng sẽ bỏ qua cho nàng, bởi vì cha nàng không đồng ý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Nếu nàng lập gia đình và đang bị ràng buộc do những lời khấn hứa hoặc thệ nguyện lúc thiếu suy nghĩ đã vụt miệng thốt ra, 7 nếu chồng nàng nghe được và không nói gì, thì những gì nàng đã khấn hứa hoặc thệ nguyện đều có hiệu lực.  8 Nhưng nếu chồng nàng nghe được điều đó và tỏ ý không tán thành, thì ông đã vô hiệu hóa lời khấn hứa nàng đang bị ràng buộc, hoặc những lời thề nguyện thiếu suy nghĩ mà nàng đã buộc mình vào, và CHÚA cũng sẽ bỏ qua cho nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Nhưng một phụ nữ đã góa chồng hoặc đã ly dị mà thệ hứa điều gì, những gì nàng thệ hứa đều có hiệu lực.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Nếu một người phụ nữ đã có chồng, và đang khi sống trong nhà chồng, nàng khấn hứa hoặc thệ nguyện điều gì, 11 và nếu chồng nàng nghe được điều đó mà không nói gì với nàng và cũng không tỏ ý bất tán thành về những gì nàng đã thệ hứa, thì tất cả những gì nàng đã khấn hứa hoặc thệ nguyện đều có hiệu lực.  12 Nhưng nếu chồng nàng không tán thành và nhất định vô hiệu hóa những điều đó, thì những gì môi nàng đã khấn hứa hoặc những gì nàng đã thệ nguyện đều trở nên vô hiệu lực.  Chồng nàng đã vô hiệu hóa những lời thệ hứa đó, và CHÚA cũng sẽ bỏ qua cho nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Bất cứ lời khấn hứa nào của nàng nhằm hãm mình, chồng nàng đều có quyền để cho nó có hiệu lực hay có thể làm cho nó trở nên vô hiệu.  14 Nếu từ khi chồng nàng nghe nàng đã khấn hứa hoặc thệ nguyện điều gì mà một hai ngày trôi qua chồng nàng vẫn không nói gì về việc đó, thì như thế chồng nàng đã mặc nhiên nhìn nhận những lời khấn hứa hoặc thệ nguyện của nàng có hiệu lực.  Sự im lặng của chồng nàng khi nghe việc đó được xem như ông đã tán thành lời thệ hứa của nàng.  15 Nhưng nếu chồng nàng dù đã nghe nhưng để mãi về sau mới lên tiếng phản đối, hầu vô hiệu hóa những gì nàng đã thệ hứa, thì chồng nàng phải mang lấy tội bội hứa của nàng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Ðó là những luật lệ mà CHÚA đã truyền cho Môi-se liên quan đến người chồng và vợ người ấy, người cha và con gái người ấy khi nàng còn trẻ và còn sống trong nhà cha nàng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Lê-vi Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Dân Số Ký: Chương 29]]&lt;br /&gt;
:* [[Dân Số Ký: Chương 31]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35666</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35666"/>
		<updated>2026-04-07T17:44:03Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, ta kêu gọi trước hết hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, là một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này mà ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng, làm sứ đồ, và giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, 10. nhưng hãy thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hay tự mình cầm quyền trên một người đàn ông, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt rồi đi đến sự phạm tội. 15. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Kêu gọi cầu nguyện'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, trước hết, ta khuyên con nên nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta, là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. Ngài đã hiến chính mình Ngài để làm giá chuộc cho tất cả nhân loại - một sự xác nhận đúng thời điểm. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này ta đã được bổ nhiệm làm nhà truyền giảng, làm sứ đồ, làm giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp mọi nơi hãy đưa những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện - đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Hướng dẫn cho phụ nữ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. Tuy nhiên, ta không cho phép phụ nữ dạy, hoặc tự mình cầm quyền trên một người đàn ông, nhưng hãy yên lặng. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt và đi đến sự phạm tội. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, trước hết, ta kêu gọi hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người đang có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Vì điều này, ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng và sứ đồ  - Ta nói thật, không nói dối -  làm giáo sư cho các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người đàn ông ở khắp mọi nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng cách kết tóc, hay vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, 10. nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời, qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hay tự mình cầm quyền trên một người đàn ông, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt đi đến sự phạm tội. 15. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống trong đức tin, trong tình yêu thương, trong sự thánh khiết, và với sự tiết chế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, 2.  cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhân đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. 3.  Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, 4.  Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật. 5.  Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người; 6.  Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ 7.  (ta nói thật, không nói dối), vì lời chứng ấy, ta đã được cử làm thầy giảng, là sứ đồ và giáo sư cho dân ngoại, để dạy họ về đức tin và về lẽ thật. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vậy, ta muốn những người đàn ông đều giơ tay thánh sạch lên trời, mà cầu nguyện khắp mọi nơi, chớ có giận dữ và cãi cọ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Ta cũng muốn rằng những người đàn bà ăn mặc một cách gọn ghẽ, lấy nết na và đức hạnh giồi mình, không dùng những tóc gióc, vàng, châu ngọc và áo quần quí giá, 10.  nhưng dùng việc lành, theo lẽ đang nhiên của người đàn bà tin kính Chúa. 11.  Đàn bà phải yên lặng mà nghe dạy, lại phải vâng phục mọi đàng. 12.  Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ, cũng không được cầm quyền trên đàn ông; nhưng phải ở yên lặng. 13.  Vì A-đam được dựng nên trước nhất, rồi mới tới Ê-va. 14.  Lại không phải A-đam bị dỗ dành, bèn là người đàn bà bị dỗ dành mà sa vào tội lỗi. 15.  Dầu vậy, nếu đàn bà lấy đức hạnh mà bền đỗ trong đức tin, trong sự yêu thương, và trong sự nên thánh, thì sẽ nhân đẻ con mà được cứu rỗi. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cầu Nguyện cho Mọi Người'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vậy trước hết, ta khuyên con hãy cầu xin, khẩn nguyện, cầu thay, và cảm tạ cho mọi người, 2 cho các vua và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta có thể sống một đời bình tịnh và êm ả, trong nếp sống đạo vẹn toàn và đầy phẩm giá.  3 Ðây là điều tốt đẹp và vui lòng trước mặt Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của chúng ta; 4 Ngài muốn mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Vì chỉ có một Ðức Chúa Trời và một Ðấng Trung Gian giữa Ðức Chúa Trời và loài người, đó là Ðức Chúa Jesus Christ, một người, 6 Ðấng đã hiến chính Ngài làm giá chuộc mọi người, một sự kiện được xác chứng là đã xảy ra đúng thời điểm.  7 Vì sự kiện đó mà ta đã được bổ nhiệm làm giảng sư và sứ đồ –ta nói thật, chứ không nói dối– tức làm giáo sư để dạy các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nam Nữ Trong Hội Thánh Khi Nhóm Lại Thờ Phượng Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Vậy ta muốn quý ông hãy cầu nguyện ở mọi nơi, đưa đôi tay thánh sạch lên, đừng giận dữ và cãi nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Quý bà cũng vậy, hãy ăn mặc lịch sự, trang sức thanh nhã và giản dị, không bới những kiểu tóc cầu kỳ, không đeo vàng ngọc đắt giá, hoặc mặc những y phục đắt tiền, 10 nhưng làm những việc từ thiện, đó là những điều thích hợp với các phụ nữ xưng mình là người tin kính Ðức Chúa Trời.  11 Phụ nữ hãy học trong yên lặng và thuận phục hoàn toàn.  12 Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ hay cầm quyền trên đàn ông, nhưng phải yên lặng, 13 vì A-đam được dựng nên trước rồi mới đến Ê-va; 14 và không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người đàn bà bị lừa gạt và phạm tội.  15 Tuy vậy đàn bà sẽ được cứu qua việc sinh con, nếu họ cứ tiếp tục ở trong đức tin, tình yêu, và thánh khiết, với sự điềm đạm.       &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 1]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=B%C6%B0%E1%BB%9Bc_V%E1%BB%9Bi_Ch%C3%BAa_Y%C3%AAu_Th%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=35665</id>
		<title>Bước Với Chúa Yêu Thương</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=B%C6%B0%E1%BB%9Bc_V%E1%BB%9Bi_Ch%C3%BAa_Y%C3%AAu_Th%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=35665"/>
		<updated>2026-03-23T21:36:26Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: I'll Go with God&lt;br /&gt;
*Lời: John W. Peterson&lt;br /&gt;
*Nhạc: John W. Peterson&lt;br /&gt;
==Lời Anh==&lt;br /&gt;
:'''I'll Go with God'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:'''Verse 1'''&lt;br /&gt;
:Deep within my heart I hear a tender, loving call - &lt;br /&gt;
:'Tis a voice divine that speaks to me,  &lt;br /&gt;
:Bidding me to turn from sin and yield my very all, &lt;br /&gt;
:Walk the road of joy and victory.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:'''Chorus 1''' &lt;br /&gt;
:I'll go with God and leave the world behind,  &lt;br /&gt;
:I'll go with God -in Him all things I find,  &lt;br /&gt;
:I've made my choice, His will I must obey,  &lt;br /&gt;
:I'll go with God and walk the narrow way.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:'''Verse 2'''                &lt;br /&gt;
:All the foolish fading pleasures of the world seem vain &lt;br /&gt;
:Gone the charm that once they seemed to hold; &lt;br /&gt;
:Now I want to live for God and walk that higher plain, &lt;br /&gt;
:By the Holy Spirit be controlled.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:'''Verse 3''' &lt;br /&gt;
:Some day in a better land where burdens are laid down, &lt;br /&gt;
:I'll be thankful that He called my name,  &lt;br /&gt;
:Bade me follow on to win a mansion and a crown - &lt;br /&gt;
:Joyfully His name I will proclaim.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Bước Với Chúa Yêu Thương'''&lt;br /&gt;
:'''Lời Việt: [[Vĩnh Phúc]] (05/10/1982)'''&lt;br /&gt;
:1.	 Bước với Chúa yêu thương tôi đi muôn phương, không vương lo buồn&lt;br /&gt;
:Đường gập ghềnh nhưng chan hòa ánh chiêu dương&lt;br /&gt;
:Bước với Chúa yêu thương, tôi không cô đơn vui tươi trên đường&lt;br /&gt;
:Lòng nhẹ nhàng quăng xa mọi gánh sầu vương.&lt;br /&gt;
:'''Điệp Khúc:'''&lt;br /&gt;
:Được đi với Cha, khi mộng trần gian khuất xa&lt;br /&gt;
:Bước cùng với Cha, trong tình thắm thiết bao la&lt;br /&gt;
:Được đi với Cha, cho dù thời gian lướt qua&lt;br /&gt;
:Tôi luôn vui thỏa, sống trong yêu mến chan hòa.&lt;br /&gt;
:2.	Bước với Chúa yêu thương, khi sương đêm buông mênh mông trên đường&lt;br /&gt;
:Đời nhạt nhòa bên kia màn khói mây vương&lt;br /&gt;
:Núp bóng Chúa yêu thương, trong khi muôn phương phong ba điên cuồng&lt;br /&gt;
:Đời mờ dần sau muôn đợt sóng trùng dương.&lt;br /&gt;
:3.	Bước với Chúa yêu thương, tay trong tay luôn gian lao không sờn&lt;br /&gt;
:Vượt dặm trường men theo đường tới thiên cung&lt;br /&gt;
:Bước với Chúa yêu thương, tôi nghe lâng lâng vui trong tâm hồn&lt;br /&gt;
:Ngày lại ngày thêm sâu nhiệm Chúa nhiều hơn.&lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/mp3/798.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/beat/798.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/sheet/798.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Giám Lý]] - Bài số 153&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Hoa Kỳ]] - Bài số 156&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Baptist]] - Bài số 328&lt;br /&gt;
* Tuyển Tập Thánh Ca Chép Tay của Nhạc sĩ Vĩnh Phúc.&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] - Thư Viện Tin Lành&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=B%C6%B0%E1%BB%9Bc_V%E1%BB%9Bi_Ch%C3%BAa_Y%C3%AAu_Th%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=35664</id>
		<title>Bước Với Chúa Yêu Thương</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=B%C6%B0%E1%BB%9Bc_V%E1%BB%9Bi_Ch%C3%BAa_Y%C3%AAu_Th%C6%B0%C6%A1ng&amp;diff=35664"/>
		<updated>2026-03-23T21:29:07Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: I'll Go with God&lt;br /&gt;
*Lời: John W. Peterson&lt;br /&gt;
*Nhạc: John W. Peterson&lt;br /&gt;
==Lời Anh==&lt;br /&gt;
:'''I'll Go with God'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:'''Verse 1'''&lt;br /&gt;
:Deep within my heart I hear a tender, loving call - &lt;br /&gt;
:'Tis a voice divine that speaks to me,  &lt;br /&gt;
:Bidding me to turn from sin and yield my very all, &lt;br /&gt;
:Walk the road of joy and victory.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:'''Chorus 1''' &lt;br /&gt;
:I'll go with God and leave the world behind,  &lt;br /&gt;
:I'll go with God -in Him all things I find,  &lt;br /&gt;
:I've made my choice, His will I must obey,  &lt;br /&gt;
:I'll go with God and walk the narrow way.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:'''Verse 2'''                &lt;br /&gt;
:All the foolish fading pleasures of the world seem vain &lt;br /&gt;
:Gone the charm that once they seemed to hold; &lt;br /&gt;
:Now I want to live for God and walk that higher plain, &lt;br /&gt;
:By the Holy Spirit be controlled.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:'''Verse 3''' &lt;br /&gt;
:Some day in a better land where burdens are laid down, &lt;br /&gt;
:I'll be thankful that He called my name,  &lt;br /&gt;
:Bade me follow on to win a mansion and a crown - &lt;br /&gt;
:Joyfully his name I will proclaim.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Bước Với Chúa Yêu Thương'''&lt;br /&gt;
:'''Lời Việt: [[Vĩnh Phúc]] (05/10/1982)'''&lt;br /&gt;
:1.	 Bước với Chúa yêu thương tôi đi muôn phương, không vương lo buồn&lt;br /&gt;
:Đường gập ghềnh nhưng chan hòa ánh chiêu dương&lt;br /&gt;
:Bước với Chúa yêu thương, tôi không cô đơn vui tươi trên đường&lt;br /&gt;
:Lòng nhẹ nhàng quăng xa mọi gánh sầu vương.&lt;br /&gt;
:'''Điệp Khúc:'''&lt;br /&gt;
:Được đi với Cha, khi mộng trần gian khuất xa&lt;br /&gt;
:Bước cùng với Cha, trong tình thắm thiết bao la&lt;br /&gt;
:Được đi với Cha, cho dù thời gian lướt qua&lt;br /&gt;
:Tôi luôn vui thỏa, sống trong yêu mến chan hòa.&lt;br /&gt;
:2.	Bước với Chúa yêu thương, khi sương đêm buông mênh mông trên đường&lt;br /&gt;
:Đời nhạt nhòa bên kia màn khói mây vương&lt;br /&gt;
:Núp bóng Chúa yêu thương, trong khi muôn phương phong ba điên cuồng&lt;br /&gt;
:Đời mờ dần sau muôn đợt sóng trùng dương.&lt;br /&gt;
:3.	Bước với Chúa yêu thương, tay trong tay luôn gian lao không sờn&lt;br /&gt;
:Vượt dặm trường men theo đường tới thiên cung&lt;br /&gt;
:Bước với Chúa yêu thương, tôi nghe lâng lâng vui trong tâm hồn&lt;br /&gt;
:Ngày lại ngày thêm sâu nhiệm Chúa nhiều hơn.&lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/mp3/798.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/beat/798.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/sheet/798.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Giám Lý]] - Bài số 153&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Hoa Kỳ]] - Bài số 156&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Baptist]] - Bài số 328&lt;br /&gt;
* Tuyển Tập Thánh Ca Chép Tay của Nhạc sĩ Vĩnh Phúc.&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] - Thư Viện Tin Lành&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ga-la-ti:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35663</id>
		<title>Ga-la-ti: Chương 3</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ga-la-ti:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_3&amp;diff=35663"/>
		<updated>2026-03-04T02:05:58Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Hỡi những người Ga-la-ti khờ dại kia! Ai đã mê hoặc anh em là những người mà việc Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá đã được giải bày tỏ tường trước mắt? 2. Đây là điều duy nhất tôi muốn tìm hiểu từ anh em: Anh em đã nhận Đức Thánh Linh là nhờ vào công việc của luật pháp hay là bởi nghe và tin? 3. Tại sao anh em khờ dại như vậy? Anh em đã bắt đầu với Đức Thánh Linh, bây giờ lại hoàn tất bằng xác thịt? 4. Anh em đã chịu khổ nhọc quá nhiều để rồi chẳng được gì, nếu vậy có phải chỉ là vô ích hay không? 5. Có phải Đấng đã ban Đức Thánh Linh và làm nhiều việc phi thường ở giữa anh em, là do anh em làm theo luật pháp, hay là bởi nghe và tin?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Bởi vì chính Áp-ra-ham “tin Đức Chúa Trời, và ông được kể là công chính.” 7. Như vậy hãy biết rằng những ai có đức tin, thì những người đó là con cháu của Áp-ra-ham.  8. Hơn nữa Kinh Thánh đã báo trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng công chính cho dân ngoại bởi đức tin, cho nên Ngài đã báo trước tin mừng cho Áp-ra-ham: “Mọi dân tộc sẽ nhờ ngươi mà được phước.” 9. Vì vậy, những người nào tin thì được hưởng phước cùng với Áp-ra-ham - là người có lòng tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Còn những ai lệ thuộc vào công việc của luật pháp thì bị nguyền rủa; bởi vì có lời chép: “Người nào không tiếp tục tuân giữ tất cả những điều phải làm đã được chép trong sách luật pháp sẽ bị nguyền rủa.” 11. Bây giờ, không một ai nhờ luật pháp mà được xưng công chính trước mặt Đức Chúa Trời; bởi vì “người công chính sẽ sống bởi đức tin.” 12. Hơn nữa, luật pháp không phải là đức tin; nhưng mà: “ai thực hiện những điều này thì sẽ nhờ đó mà sống.” 13. Đấng Christ đã cứu chuộc chúng ta khỏi sự nguyền rủa của luật pháp, và trở thành sự nguyền rủa vì chúng ta — bởi vì có lời chép rằng: “Đáng rủa thay cho kẻ bị treo trên cây gỗ” — 14. để các dân ngoại có thể nhận phước hạnh của Áp-ra-ham qua Đức Chúa Jesus Christ, và để bởi đức tin chúng ta nhận lãnh Ðức Thánh Linh của lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Thưa anh em! Tôi nói theo cách của loài người: Khi một giao ước - dù là của con người - đã được phê chuẩn, thì không một ai được quyền bỏ qua hay thêm bớt. 16. Hơn nữa, về những lời hứa đã truyền cho Áp-ra-ham và hậu tự của ông, Ngài không nói: “Và cho những hậu tự” như dành cho nhiều người, nhưng nói: “Và cho hậu tự của con”, như chỉ về một người, đó là Đấng Christ. 17. Ðiều tôi muốn nói là thế nầy: Giao ước đã được Đức Chúa Trời xác lập từ trước, sau đó bốn trăm ba mươi năm luật pháp mới có, cho nên không thể hủy bỏ cũng như vô hiệu hóa lời hứa được. 18. Bởi vì nếu nhờ luật pháp mà được thừa kế thì không phải là bởi lời hứa nữa – tuy nhiên Đức Chúa Trời đã ban điều đó cho Áp-ra-ham qua lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Như vậy tại sao có luật pháp? Nó đã được thêm vào là bởi vì tội lỗi. Luật pháp được các thiên thần công bố, qua một người trung gian cho đến khi nào hậu tự, là Đấng mà lời hứa được thiết lập, đến.  20. Người trung gian thì không phải là Đấng đó, nhưng Đức Chúa Trời chỉ có một.  21. Như vậy, luật pháp mâu thuẫn với những lời hứa của Đức Chúa Trời hay sao? Không hề như vậy! Bởi vì nếu luật pháp được ban ra để có thể đem lại sự sống, thì sự công chính phải hiển lộ từ luật pháp; 22. tuy nhiên theo Kinh Thánh, mọi vật đều bị giam cầm dưới tội lỗi; để lời hứa, qua đức tin trong Đức Chúa Jesus Christ, được ban cho những người tin. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Trước khi đức tin đến, chúng ta bị giam giữ và bị cầm tù ở dưới luật pháp, cho đến khi đức tin được bày tỏ. 24. Như vậy, luật pháp là người hướng dẫn chúng ta đến với Đấng Christ, để bởi đức tin chúng ta được xưng công chính. 25. Tuy nhiên, khi đức tin đã đến, chúng ta không còn ở dưới quyền của người hướng dẫn nữa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Thật vậy, tất cả anh chị em đều là con của Đức Chúa Trời nhờ đức tin trong Đấng Christ Jesus. 27. Anh chị em - những người đã được báp-têm trong Đấng Christ - đang mặc lấy Đấng Christ. 28. Không phân biệt người Do Thái hay người Hy Lạp; không phân biệt nô lệ hay tự do, không phân biệt nam hay nữ, bởi vì tất cả anh chị em đều là một trong Đấng Christ Jesus. 29. Nếu anh chị em thuộc về Đấng Christ, anh chị em là hậu tự của Áp-ra-ham, là những người thừa kế theo lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Luật pháp và đức tin'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hỡi những người Ga-la-ti khờ dại kia! Ai đã mê hoặc anh em - là những người mà việc Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá đã được giải bày tỏ tường trước mắt? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Điều duy nhất tôi mà muốn biết từ anh em đó là anh em đã nhận Đức Thánh Linh là nhờ vào công việc của luật pháp hay là bởi nghe và tin? Tại sao anh em khờ dại như vậy? Anh em đã bắt đầu với Đức Thánh Linh, sao bây giờ lại hoàn tất bằng xác thịt? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh em đã chịu khổ nhọc quá nhiều để rồi chẳng được gì, nếu vậy có phải chỉ là vô ích hay không? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có phải Đấng đã ban Đức Thánh Linh và làm nhiều việc phi thường ở giữa anh em, là do anh em làm theo luật pháp, hay là bởi nghe và tin? Bởi vì chính Áp-ra-ham “tin Đức Chúa Trời, và ông được kể là công chính.” Như vậy hãy biết rằng những ai có đức tin, thì những người đó là con cháu của Áp-ra-ham.  Hơn nữa Kinh Thánh đã nói trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng công chính cho dân ngoại bởi đức tin, cho nên Ngài đã báo trước tin mừng cho Áp-ra-ham rằng: “Mọi dân tộc sẽ nhờ ngươi mà được phước.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, những người nào tin thì được hưởng phước cùng với Áp-ra-ham - là người có lòng tin. Còn những ai lệ thuộc vào công việc của luật pháp thì bị nguyền rủa, bởi vì có lời chép: “Người nào không tiếp tục tuân giữ tất cả những điều phải làm đã được chép trong sách luật pháp, sẽ bị nguyền rủa.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ðấng Christ cứu chuộc chúng ta'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bây giờ, không một ai nhờ luật pháp mà được xưng công chính trước mặt Đức Chúa Trời, bởi vì “người công chính sẽ sống bởi đức tin.” Hơn nữa, luật pháp không phải là đức tin, nhưng mà: “ai thực hiện những điều này thì sẽ nhờ đó mà sống.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đấng Christ đã trở thành sự nguyền rủa vì chúng ta — bởi vì có lời chép rằng: “Đáng rủa thay cho kẻ bị treo trên cây gỗ”.  Ngài cứu chuộc chúng ta khỏi sự nguyền rủa của luật pháp, để các dân ngoại có thể nhận phước hạnh của Áp-ra-ham qua Đức Chúa Jesus Christ, và để chúng ta bởi đức tin nhận lãnh Ðức Thánh Linh của lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Luật pháp và lời hứa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thưa anh em! Tôi nói theo cách của loài người: Khi một giao ước - dù là của con người - đã được phê chuẩn, thì không một ai được quyền bỏ qua hay thêm bớt. Hơn nữa, trong những lời hứa đã truyền cho Áp-ra-ham và hậu tự của ông, Ngài không nói: “Và cho những hậu tự” như dành cho nhiều người, nhưng nói: “Và cho hậu tự của con”, như chỉ về một người, đó là Đấng Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðiều tôi muốn nói là thế nầy: Luật pháp, là điều đến sau bốn trăm ba mươi năm, không thể nào hủy bỏ giao ước mà Đức Chúa Trời đã kết lập từ trước cũng như vô hiệu hóa lời hứa được. Bởi vì nếu nhờ luật pháp mà được thừa kế thì không phải là bởi lời hứa; tuy nhiên Đức Chúa Trời đã ban điều đó cho Áp-ra-ham qua lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Mục đích của luật pháp'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy tại sao lại có luật pháp? Luật pháp đã được thêm vào là vì tội lỗi. Luật pháp được các thiên thần công bố, qua một người trung gian cho đến khi nào hậu tự, là Đấng mà lời hứa được thiết lập, đến. Người trung gian thì không phải là Đấng đó, nhưng Đức Chúa Trời chỉ có một.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, luật pháp mâu thuẫn với những lời hứa của Đức Chúa Trời hay sao? Không hề như vậy! Bởi vì nếu luật pháp được ban ra để có thể đem lại sự sống, thì sự công chính phải hiển lộ từ luật pháp; tuy nhiên theo Kinh Thánh, mọi vật đều bị giam cầm dưới tội lỗi; để lời hứa, qua đức tin trong Đức Chúa Jesus Christ, được ban cho những người tin. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước khi đức tin đến, chúng ta bị giam giữ và bị cầm tù ở dưới luật pháp, cho đến khi đức tin được bày tỏ. Như vậy, luật pháp là người hướng dẫn chúng ta đến với Đấng Christ, để bởi đức tin chúng ta được xưng công chính. Tuy nhiên, khi đức tin đã đến, chúng ta không còn ở dưới quyền của người hướng dẫn nữa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, tất cả anh chị em đều là con của Đức Chúa Trời nhờ đức tin trong Đấng Christ Jesus. Anh chị em - những người đã được báp-têm trong Đấng Christ - đang mặc lấy Đấng Christ. Không phân biệt là người Do Thái hay người Hy Lạp; không phân biệt là nô lệ hay tự do, không phân biệt là nam hay nữ, bởi vì tất cả anh chị em đều là một trong Đấng Christ Jesus. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu anh chị em thuộc về Đấng Christ, anh chị em là hậu tự của Áp-ra-ham, là những người thừa kế theo lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Hỡi những người Ga-la-ti khờ dại kia! Ai đã mê hoặc anh em - là những người mà việc Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá đã được trình bày tỏ tường trước mắt? 2. Đây là điều duy nhất tôi muốn tìm hiểu từ anh em: Anh em đã nhận Đức Thánh Linh là nhờ vào công việc của luật pháp hay là bởi nghe và tin? 3. Tại sao anh em khờ dại như vậy? Anh em đã bắt đầu với Đức Thánh Linh, bây giờ lại hoàn tất bằng xác thịt? 4. Anh em đã chịu khổ nhọc quá nhiều để rồi chẳng được gì, nếu vậy có phải chỉ là vô ích hay không? 5. Có phải Đấng đã ban Đức Thánh Linh và làm nhiều việc phi thường ở giữa anh em, là do anh em làm theo luật pháp, hay là bởi nghe và tin?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Bởi vì chính Áp-ra-ham “tin Đức Chúa Trời, và ông được kể là công chính.” 7. Như vậy hãy biết rằng những ai có đức tin, thì những người đó là con cháu của Áp-ra-ham.  8. Hơn nữa Kinh Thánh đã báo trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng công chính cho dân ngoại bởi đức tin, cho nên Ngài đã báo trước tin mừng cho Áp-ra-ham: “Mọi dân tộc sẽ nhờ ngươi mà được phước.” 9. Vì vậy, những người nào tin thì được hưởng phước cùng với Áp-ra-ham - là người có lòng tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Còn những ai lệ thuộc vào công việc của luật pháp thì bị nguyền rủa; bởi vì có lời chép: “Người nào không tiếp tục tuân giữ tất cả những điều phải làm đã được chép trong sách luật pháp sẽ bị nguyền rủa.” 11. Bây giờ, không một ai nhờ luật pháp mà được xưng công chính trước mặt Đức Chúa Trời; bởi vì “người công chính sẽ sống bởi đức tin.” 12. Hơn nữa, luật pháp không phải là đức tin; nhưng mà: “ai thực hiện những điều này thì sẽ nhờ đó mà sống.” 13. Đấng Christ đã cứu chuộc chúng ta khỏi sự nguyền rủa của luật pháp, và trở thành sự nguyền rủa vì chúng ta — bởi vì có lời chép rằng: “Đáng rủa thay cho kẻ bị treo trên cây gỗ” — 14. để các dân ngoại có thể nhận phước hạnh của Áp-ra-ham qua Đức Chúa Jesus Christ, để bởi đức tin chúng ta nhận lãnh Ðức Thánh Linh của lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Thưa anh em! Tôi nói theo cách của loài người: Khi một giao ước, dù là của con người, đã được phê chuẩn, thì không một ai được quyền bỏ qua hay thêm bớt. 16. Hơn nữa, về những lời hứa đã truyền cho Áp-ra-ham và hậu tự của ông, Ngài không nói: “Và cho những hậu tự” như dành cho nhiều người, nhưng nói: “Và cho hậu tự của con”, như chỉ về một người, đó là Đấng Christ. 17. Ðiều tôi muốn nói là thế nầy: Giao ước đã được Đức Chúa Trời xác lập từ trước, và sau đó bốn trăm ba mươi năm luật pháp mới có, cho nên không thể hủy bỏ, cũng như vô hiệu hóa lời hứa được. 18. Bởi vì nếu nhờ luật pháp mà được thừa kế thì không phải là bởi lời hứa nữa – tuy nhiên Đức Chúa Trời đã ban điều đó cho Áp-ra-ham qua lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Như vậy tại sao có luật pháp? Nó đã được thêm vào bởi vì tội lỗi. Luật pháp được các thiên thần công bố, qua một người trung gian cho đến khi nào hậu tự, là Đấng mà lời hứa được thiết lập, đến.  20. Người trung gian thì không phải là Đấng đó, nhưng Đức Chúa Trời chỉ có một.  21. Như vậy, luật pháp mâu thuẫn với những lời hứa của Đức Chúa Trời hay sao? Không hề như vậy! Bởi vì nếu luật pháp được ban ra để có thể đem lại sự sống, thì sự công chính phải hiển lộ từ luật pháp; 22. tuy nhiên theo Kinh Thánh, mọi vật đều bị giam cầm dưới tội lỗi; để lời hứa, qua đức tin trong Đức Chúa Jesus Christ, được ban cho những người tin.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Trước khi đức tin đến, chúng ta bị giam giữ và bị cầm tù ở dưới luật pháp, cho đến khi đức tin được bày tỏ. 24. Như vậy, luật pháp là người hướng dẫn chúng ta đến với Đấng Christ, để bởi đức tin chúng ta được xưng công chính. 25. Tuy nhiên, khi đức tin đã đến, chúng ta không còn ở dưới quyền của người hướng dẫn nữa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Thật vậy, tất cả anh chị em đều là con của Đức Chúa Trời nhờ đức tin trong Đấng Christ Jesus. 27. Anh chị em - những người đã được báp-têm trong Đấng Christ - đang mặc lấy Đấng Christ. 28. Không phân biệt người Do Thái hay người Hy Lạp; không phân biệt nô lệ hay tự do, không phân biệt nam hay nữ, bởi vì tất cả anh chị em đều là một trong Đấng Christ Jesus. 29. Nếu anh chị em thuộc về Đấng Christ, anh chị em là hậu tự của Áp-ra-ham, là những người thừa kế theo lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Hỡi người Ga-la-ti ngu muội kia, ai bùa ếm anh em là người mà trước mắt đã được rõ bày ra Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá? 2.  Tôi chỉ hỏi anh em một câu nầy: Ấy là cậy các việc luật pháp hay là bởi nghe và tin mà anh em đã nhận được Đức Thánh Linh? 3.  Sao anh em ngu muội dường ấy? Sau khi đã khởi sự nhờ Đức Thánh Linh, nay sao lại cậy xác thịt mà làm cho trọn? 4.  Anh em há luống công mà chịu sự khốn khó dường ấy sao? nếu quả là luống công! 5.  Đấng ban Đức Thánh Linh cho anh em và làm các phép lạ trong anh em, thì làm bởi các việc luật pháp, hay là bởi đã nghe mà tin? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Như Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, thì đã kể là công bình cho người, 7.  vậy anh em hãy nhận biết rằng những kẻ có đức tin là con cháu thật của Áp-ra-ham. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Kinh Thánh cũng biết trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng dân ngoại là công bình bởi đức tin, nên đã rao truyền trước cho Áp-ra-ham tin lành nầy: Các dân sẽ nhờ ngươi mà được phước. 9.  Ấy vậy, ai tin thì nấy được phước với Áp-ra-ham, là người có lòng tin. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Vì mọi kẻ cậy các việc luật pháp, thì bị rủa sả, bởi có chép rằng: Đáng rủa thay là kẻ không bền đỗ trong mọi sự đã chép ở sách luật, đặng làm theo những sự ấy! 11.  Vả lại chẳng hề có ai cậy luật pháp mà được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời, điều đó là rõ ràng lắm, vì người công bình sẽ sống bởi đức tin. 12.  Vả, luật pháp vốn không phải đồng một thứ với đức tin, nhưng luật pháp có chép rằng: Người nào vâng giữ các điều răn thì sẽ nhờ đó mà sống. 13.  Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta, vì có lời chép: Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ, 14.  hầu cho phước lành ban cho Áp-ra-ham nhờ Đức Chúa Jêsus Christ mà được rải khắp trên dân ngoại, lại hầu cho chúng ta cậy đức tin mà nhận lãnh Đức Thánh Linh đã hứa cho. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15.  Hỡi Anh em, tôi nói theo thói quen người ta rằng: Khi một người đã làm tờ giao ước thành rồi, thì không ai có phép được xóa đi hay thêm vào sự gì. 16.  Vả, các lời hứa đã được phán cho Áp-ra-ham và cho dòng dõi người. không nói: Và cho các dòng dõi người, như chỉ về nhiều người; nhưng nói: Và cho dòng dõi ngươi, như chỉ về một người mà thôi, tức là Đấng Christ. 17.  Vậy thì tôi nói rằng: Lời giao ước mà Đức Chúa Trời trước kia đã kết lập thành rồi, thì không có thể bị hủy đi, và lời hứa cũng không có thể bị bỏ đi bởi luật pháp, là sự cách sau bốn trăm ba mươi năm mới có. 18.  Vì, nếu cơ nghiệp được ban cho bởi luật pháp, thì không bởi lời hứa nữa. Nhưng Đức Chúa Trời đã dùng lời hứa mà ban cơ nghiệp cho Áp-ra-ham. 19.  Vậy thì làm sao có luật pháp? luật pháp đã đặt thêm, vì cớ những sự phạm phép, cho tới chừng nào người dòng dõi đến, là người mà lời hứa đã hứa cho; luật pháp được ban ra bởi mấy thiên sứ và truyền ra bởi một người trung bảo. 20.  Vả, người trung bảo chẳng phải là người trung bảo về một bề mà thôi, nhưng Đức Chúa Trời chỉ có một. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Vậy thì luật pháp nghịch cùng lời hứa của Đức Chúa Trời hay sao? chẳng hề như vậy; vì nếu đã ban cho một luật pháp có thể làm cho sống, thì sự công bình chắc bởi luật pháp mà đến. 22.  Nhưng Kinh Thánh đã nhốt hết thảy mọi sự dưới tội lỗi, hầu cho điều chi đã hứa, bởi đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ mà được ban cho những kẻ tin. 23.  Trước khi đức tin chưa đến, chúng ta bị nhốt dưới sự canh giữ của luật pháp mà chờ đức tin phải bày ra. 24.  Ấy vậy, luật pháp đã như thầy giáo đặng dẫn chúng ta đến Đấng Christ, hầu cho chúng ta bởi đức tin mà được xưng công bình. 25.  Song khi đức tin đã đến, chúng ta không còn phục dưới thầy giáo ấy nữa. 26.  Vì chưng anh em bởi tin Đức Chúa Jêsus Christ, nên hết thảy đều là con trai của Đức Chúa Trời. 27.  Vả, anh em thảy đều chịu phép báp tem trong Đấng Christ, đều mặc lấy Đấng Christ vậy. 28.  Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn đàn ông hoặc đàn bà; vì trong Đức Chúa Jêsus Christ, anh em thảy đều làm một. 29.  Lại nếu anh em thuộc về Đấng Christ, thì anh em là dòng dõi của Áp-ra-ham, tức là kẻ kế tự theo lời hứa. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B48\V02B48C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Luật Pháp và Ðức tin'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Hỡi những người Ga-la-ti khờ khạo kia!  Ai đã mê hoặc anh chị em, những người đã được trình bày rõ ràng trước mắt rằng Ðức Chúa Jesus Christ đã chịu đóng đinh trên thập tự giá?  2 Ðiều duy nhất tôi muốn tìm hiểu từ anh chị em là anh chị em đã nhận lãnh Ðức Thánh Linh nhờ làm theo các việc của Luật Pháp hay nhờ tin vào những điều đã nghe giảng dạy?  3 Sao anh chị em lại khờ khạo đến thế!  Sau khi đã bắt đầu với Ðức Thánh Linh rồi, sao bây giờ lại nhờ cậy xác thịt để mong cho được trọn vẹn?  4 Anh chị em đã trải qua nhiều gian khổ để chẳng được gì sao?  Nếu quả thật là chẳng được gì.  5 Vậy có phải Ðấng đã ban Ðức Thánh Linh cho anh chị em và thực hiện những việc quyền năng giữa anh chị em vì anh chị em đã vâng giữ các việc của Luật Pháp hay vì đã tin vào những điều nghe giảng dạy?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Giống như Áp-ra-ham, ông tin Ðức Chúa Trời, nên ông được kể là công chính.  7 Vậy anh chị em hãy biết rằng, hễ ai có đức tin thì người ấy là con cháu của Áp-ra-ham.  8 Kinh Thánh đã thấy trước rằng Ðức Chúa Trời sẽ cho muôn dân được xưng công chính bởi đức tin, nên đã báo Tin Mừng trước cho Áp-ra-ham,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Mọi dân tộc sẽ nhờ ngươi mà được phước.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Vậy hễ ai có đức tin thì người ấy sẽ được phước với Áp-ra-ham, là người có đức tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Vì tất cả những ai nhờ cậy vào các việc làm theo Luật Pháp đều bị nguyền rủa, bởi có lời chép rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ðáng nguyền rủa thay là những kẻ không vâng giữ  mọi điều đã chép trong sách Luật Pháp để làm theo.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Thật là rõ ràng rằng không ai nhờ Luật Pháp mà được xưng công chính trước mặt Ðức Chúa Trời, vì&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Người công chính sẽ sống bởi đức tin.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Luật Pháp không đặt nền tảng trên đức tin, ngược lại,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ai làm theo những điều này sẽ nhờ đó mà sống.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Ðấng Christ đã cứu chuộc chúng ta ra khỏi sự nguyền rủa của Luật Pháp bằng cách trở thành người gánh chịu sự nguyền rủa đó thay cho chúng ta, như có chép rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ðáng nguyền rủa thay cho kẻ bị treo trên cây gỗ.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Nhờ thế các phước hạnh dành cho Áp-ra-ham có thể đến với muôn dân trong Ðức Chúa Jesus Christ, để bởi đức tin chúng ta có thể nhận được Ðức Thánh Linh như đã hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Luật Pháp và Lời hứa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Thưa anh chị em, tôi nói theo cách của loài người rằng, dù là giao ước giữa người với người, một khi giao ước đã được ký kết xong, không ai được quyền tự ý loại bỏ hay thêm bớt điều gì.  16 Về các lời hứa đã hứa với Áp-ra-ham và với dòng dõi ông thì không nói “cho các con cháu ngươi” như cho nhiều người, nhưng nói “cho con ngươi” như chỉ cho một người, và người đó chính là Ðấng Christ.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Ðiều tôi muốn nói là thế này: Luật Pháp bốn trăm ba mươi năm sau mới đến không có quyền hủy bỏ giao ước đã được Ðức Chúa Trời phê chuẩn từ trước, mà làm cho lời hứa bị vô hiệu hóa.  18 Vì nếu sự thừa hưởng cơ nghiệp căn cứ vào Luật Pháp thì không còn căn cứ vào lời hứa; nhưng Ðức Chúa Trời đã ban cơ nghiệp cho Áp-ra-ham dựa trên lời hứa kia mà.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Mục Ðích của Luật Pháp'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Vậy thì Luật Pháp để làm gì?  Luật Pháp được thêm vào sau này để người ta hiểu thế nào là phạm tội.  Luật Pháp tồn tại cho đến khi Con của lời hứa đến, đó là Người mà lời hứa đã hứa.  Luật Pháp đã được các thiên sứ truyền xuống cho dân qua trung gian của một người.  20 Vả, người trung gian hàm ý không chỉ có một bên, nhưng Ðức Chúa Trời là Ðấng chỉ có một. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Như thế Luật Pháp nghịch lại với lời hứa của Ðức Chúa Trời chăng?  Chẳng hề như vậy!  Vì nếu Luật Pháp được ban cho có thể mang đến sự sống, thì sự công chính phải đến từ Luật Pháp.  22 Nhưng Kinh Thánh đã nhốt mọi người dưới quyền lực của tội lỗi, để những gì đã hứa qua đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ có thể ban cho những người có lòng tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Nhưng trước khi đức tin đến, chúng ta đều bị nhốt và bị canh giữ dưới quyền lực của Luật Pháp, chờ đến khi đức tin xuất hiện.  24 Vì thế Luật Pháp đã trở thành người giám hộ của chúng ta cho đến khi Ðấng Christ đến, để khi ấy nhờ đức tin chúng ta có thể được xưng công chính.  25 Khi đức tin đến rồi, chúng ta không còn ở dưới quyền của người giám hộ nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Vì bởi đức tin trong Ðức Chúa Jesus Christ, tất cả anh chị em là con cái của Ðức Chúa Trời.  27 Vì hễ ai đã được báp-têm vào trong Ðấng Christ đều được mặc lấy Ðấng Christ.  28 Không còn phân biệt chủng tộc Do-thái hay Hy-lạp, không còn phân biệt giai cấp nô lệ hay tự do, không còn phân biệt phái tính nam hay nữ, vì tất cả anh chị em đều là một trong Ðức Chúa Jesus Christ.  29 Và nếu anh chị em thuộc về Ðấng Christ, anh chị em là dòng dõi của Áp-ra-ham, những người thừa kế theo lời hứa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B48\V01B48C003.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[II Cô-rinh-tô]]&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti]]&lt;br /&gt;
:* [[Ê-phê-sô]]&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti: Chương 2]]&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti: Chương 4]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=V%C4%A9nh_Ph%C3%BAc&amp;diff=35662</id>
		<title>Vĩnh Phúc</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=V%C4%A9nh_Ph%C3%BAc&amp;diff=35662"/>
		<updated>2026-03-03T21:42:49Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;&lt;br /&gt;
==Vài Nét Về Tiểu Sử==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Vĩnh Phúc: Thánh Ca Việt Nam==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Tựa đề'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
#[[Bài Ca Marie]]&lt;br /&gt;
#Bài Ca Ma-ry&lt;br /&gt;
#Chèo Ra Khơi&lt;br /&gt;
#Chiều Mưa&lt;br /&gt;
#[[Chúa Hòa Bình]]&lt;br /&gt;
#Đêm Buồn&lt;br /&gt;
#Jêsus&lt;br /&gt;
#Khúc Nhạc Nô-ên&lt;br /&gt;
#[[Lời Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Lời Tạ Ơn Con Dâng Lên Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Nhớ Chúa Hy Sinh Vì Tôi]]&lt;br /&gt;
#Rồi Ngày Sẽ Trôi Qua&lt;br /&gt;
#[[Tâm Sự Người Mù]]&lt;br /&gt;
#Về Đây Hỡi Chiên Xa Bầy&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Lời'''&lt;br /&gt;
*Lu-ca 1:46-55, [[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*Lu-ca 1:46-55, [[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Lưu Văn Tường]] - Vĩnh Phúc&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nhạc'''&lt;br /&gt;
*Anh Thư - Tuấn Nhã (1976)&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng (1976)&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
*Vũ Đức Nghiêm&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
*Vũ Đức Nghiêm&lt;br /&gt;
*Vũ Đức Nghiêm&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
*Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Vĩnh Phúc: Thánh Ca Lời Việt==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Tựa đề'''&lt;br /&gt;
#Ánh Sáng&lt;br /&gt;
#[[Ánh Sáng Giữa Bóng Tối Trần Gian]]&lt;br /&gt;
#[[Ánh Sáng Tuyệt Vời]]&lt;br /&gt;
#[[Ba Vua Hành Khúc]]&lt;br /&gt;
#[[Bài Ca Cảm Tạ]]&lt;br /&gt;
#[[Bài Ca Mới: Hallelujah]]&lt;br /&gt;
#[[Bài Hát Trong Đêm]]&lt;br /&gt;
#[[Bàn Tay Mang Dấu Đinh]]&lt;br /&gt;
#[[Bạn Dành Chỗ Cho Jêsus Chưa?]]&lt;br /&gt;
#[[Bạn Hãy Vui Lên]]&lt;br /&gt;
#[[Bạn Mỉm Cười Đi]]&lt;br /&gt;
#[[Bầu Trời Bày Tỏ Quyền Năng Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Bên Chúa Nhân Hiền]]&lt;br /&gt;
#[[Bên Dòng Nước Êm Đềm]]&lt;br /&gt;
#[[Bên Tôi Là Chúa Jêsus]]&lt;br /&gt;
#[[Bình An Bên Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Bình An Trên Trái Đất]]&lt;br /&gt;
#[[Bình An Trong Đêm]]&lt;br /&gt;
#[[Bình An Trong Thung Lũng]]&lt;br /&gt;
#[[Bình Minh]]&lt;br /&gt;
#[[Bình Minh Đã Đến]]&lt;br /&gt;
#[[Bọn Chăn Chiên Trong Đêm Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Bóng Mờ Sẽ Bay Đi ... Không Còn!]]&lt;br /&gt;
#[[Bóng Tối Sẽ Qua Khi Bình Minh Đến]]&lt;br /&gt;
#[[Bốn Phương Một Nhà]]&lt;br /&gt;
#[[Bước Gần Chúa Hơn]]&lt;br /&gt;
#[[Bước Trong Đường Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Bước Với Chúa Yêu Thương]]&lt;br /&gt;
#[[Ca Chúc Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#Ca Mừng Chúa Giáng Sinh&lt;br /&gt;
#[[Ca Hát, Mỉm Cười Và Cầu Nguyện]]&lt;br /&gt;
#[[Ca Ngợi Đấng Cứu Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Ca Ngợi Chúa Trong Mùa Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Ca Ngợi Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Các Con Đừng Lo Buồn]]&lt;br /&gt;
#[[Cảm Ơn Bạn]]&lt;br /&gt;
#[[Câu Chuyện Đời Tôi]]&lt;br /&gt;
#Câu Chuyện Về Hài Nhi&lt;br /&gt;
#[[Em-ma-nu-ên Xin Hãy Đến | Cầu Xin Emmanuel Viếng Thăm Dân Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Chẳng Ai Cảm Thông Nỗi Buồn Trong Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Chặng Đường Gô-gô-tha]]&lt;br /&gt;
#[[Chỉ Có Jêsus]]&lt;br /&gt;
#Chiêm Ngưỡng Chiên Con&lt;br /&gt;
#[[Chính Jêsus | Chính Jêsus!]] &lt;br /&gt;
#[[Chúa Biết Tôi Yêu Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Đã Tới]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Đang Mong Chờ]]&lt;br /&gt;
#Chúa Đấng Tôi Tôn Thờ&lt;br /&gt;
#[[Chúa Hiểu Thấu Vô Cùng]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Jesus Đang Sống]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Jesus Là Cứu Chúa]]&lt;br /&gt;
#Chúa Jesus, Món Quà Tuyệt Vời&lt;br /&gt;
#Chúa Jesus Sẽ Trị Vì&lt;br /&gt;
#[[Chúa Jesus Sẽ Trở Lại]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Là Đấng Thánh]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Là Mọi Nhu Cầu Của Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Mong Bạn Quay Về]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Ngự Nơi Thiêng Liêng]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Quá Yêu Nhân Thế]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Quá Yêu Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Tác Động Trong Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Vác Tôi Trên Vai Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Vẫn Là Vua Trên Muôn Vua]]&lt;br /&gt;
#[[Chúa Yêu Thương Người]]&lt;br /&gt;
#[[Chúc Mừng Hôn Lễ Phước Hạnh]]&lt;br /&gt;
#[[Chúc Mừng Sinh Nhật]]&lt;br /&gt;
#Chúc Mừng Sinh Nhật Chúa&lt;br /&gt;
#[[Chúng Ta Sẽ Gặp Nhau Bên Sông Vàng]]&lt;br /&gt;
#[[Có Một Dòng Suối]]&lt;br /&gt;
#[[Cớ Sao Còn Lo Lắng?]]&lt;br /&gt;
#[[Con Được Dựng Nên Để Ca Ngợi Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Con Đường Xưa Chúa Đã Đi Qua]]&lt;br /&gt;
#[[Con Làm Buồn Thánh Linh]]&lt;br /&gt;
#[[Con Xin Ghi Nhớ Ơn Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Cùng Hát Halêlugia!]]&lt;br /&gt;
#[[Cứu Chúa Sống Lại Rồi]]&lt;br /&gt;
#[[Danh Cao Quý Tuyệt Vời]]&lt;br /&gt;
#[[Dâng Lời Ca Vang Trong Gió]]&lt;br /&gt;
#[[Dậy Đi! Hỡi Người!]]&lt;br /&gt;
#[[Diệu Kỳ Thay, Chúa Tôi!]]&lt;br /&gt;
#[[Dưới Cờ Thập Tự]]&lt;br /&gt;
#[[Đấng Chăn Giữ Tôi.]]&lt;br /&gt;
#Đây Mùa Giáng Sinh&lt;br /&gt;
#[[Đêm Giáng Sinh Năm Xưa]]&lt;br /&gt;
#[[Đêm Sẽ Tan Mau]]&lt;br /&gt;
#[[Đêm Thánh]]&lt;br /&gt;
#[[Đêm Yên Lặng]]&lt;br /&gt;
#[[Đến Với Chúa Tay Trắng Thôi Sao]]?&lt;br /&gt;
#[[Đi Tìm Hạnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Điệu Ru Đêm Thánh]]&lt;br /&gt;
#[[Đời Sống Mới Bắt Đầu | Đời Sống Tươi Mới Đang Bắt Đầu]]&lt;br /&gt;
#[[Đón Mùa Xuân Ấm]]&lt;br /&gt;
#[[Đón Mừng Niềm Vui]]&lt;br /&gt;
#[[Đón Mừng Vua Trên Muôn Vua]]&lt;br /&gt;
#[[Đưa Người Đến Tin Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Đức Chúa Trời Có Thật]]&lt;br /&gt;
#[[Đức Chúa Trời Của Niềm Vui]]&lt;br /&gt;
#[[Đức Chúa Trời Sáng Tạo Trời Đất]]&lt;br /&gt;
#[[Đức Chúa Trời Trên Cao]]&lt;br /&gt;
#[[Được Làm Dân Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Đừng Hoang Phí Tháng Năm Dài]]&lt;br /&gt;
#[[Em-ma-nu-ên Xin Hãy Đến]]&lt;br /&gt;
#[[Êm Dịu Thay Tiếng Jêsus]]&lt;br /&gt;
#[[Gần Bên Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Ghết-sê-ma-nê.]]&lt;br /&gt;
#[[Giờ Tưởng Niệm Chúa Chịu Chết]]&lt;br /&gt;
#[[Gô-gô-tha]]&lt;br /&gt;
#[[Gương Sống Đẹp]]&lt;br /&gt;
#[[Ha-lê-lu-gia!]]&lt;br /&gt;
#[[Ha-lê-lu-gia! Ha-lê-lu-gia!]]&lt;br /&gt;
#[[Ha-lê-lu-gia! Tôn Vinh Cứu Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Hài Nhi Bé Nhỏ]]&lt;br /&gt;
#Hài Nhi Của Tình Thương&lt;br /&gt;
#[[Hài Nhi Jesus]]&lt;br /&gt;
#Hài Nhi Nơi Máng Chiên&lt;br /&gt;
#[[Hài Nhi Thánh Giáng Sinh Vì Ngươi]]&lt;br /&gt;
#[[Hàng Ngàn Thiên Binh]]&lt;br /&gt;
#[[Hành Trình Theo Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Hát Ru Hài Nhi]]&lt;br /&gt;
#[[Hãy Chúc Tụng Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Hãy Mau Tin Nhận Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Hãy Mở Lối Cho Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Hãy Ngắm Những Đóa Hoa]]&lt;br /&gt;
#[[Hãy Tin Nơi Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Hãy Yêu Thương Nhau]]&lt;br /&gt;
#[[Hoài Niệm Về Gô-gô-tha]]&lt;br /&gt;
#[[Học Nương Dựa Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Hô-sa-na]]&lt;br /&gt;
#[[Hội Thánh Hoàn Dương Tạ Ơn Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Hỡi Bết-lê-hem Nhỏ Bé]]&lt;br /&gt;
#[[Jêsus Cứu Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Jêsus Cứu Chúa Đời Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Jêsus, Con Đức Chúa Trời]]&lt;br /&gt;
#[[Jêsus Danh Cao Tuyệt Vời]]&lt;br /&gt;
#[[Jêsus, Niềm Ước Mơ Của Loài Người]]&lt;br /&gt;
#[[Jêsus Sẽ Tái Lâm]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Bình Minh Đến]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Chúa Vô Lòng]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Chúa Vào Đời]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Chúng Ta Đang Sống]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Con Vua Khóc Chào Đời]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Đôi Mắt Nhìn Ngắm Con Trời]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Đêm Qua Rồi]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Ngài Lau Mắt Lệ Rơi]]&lt;br /&gt;
#[[Khi Xưa, Hôm Nay và Mai Đây]]&lt;br /&gt;
#[[Không Ai Cảm Thông Được Nỗi Buồn Trong Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Không Ai Lo Cho Linh Hồn Con]]&lt;br /&gt;
#[[Không Chỗ Cho Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Không Nói Sao Hết Yêu Thương Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Khúc Ca Bình An]]&lt;br /&gt;
#[[Khúc Ca Chào Mừng Thiên Chúa Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Khúc Ca Mùa Vọng]]&lt;br /&gt;
#[[Khúc Hát Tình Yêu]]&lt;br /&gt;
#[[Khúc Hát Trong Tâm Hồn]]&lt;br /&gt;
#[[Kỷ Niệm Chúa Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#Kỷ Niệm Tình Yêu Trời&lt;br /&gt;
#[[Lạy Chúa Đấng Tuyệt Vời]]&lt;br /&gt;
#[[Liên Khúc Hát Mừng Chúa Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Liên Khúc Niềm Vui Cho Trần Gian]]&lt;br /&gt;
#[[Loan Tin Trên Núi]]&lt;br /&gt;
#[[Lời Cầu Nguyện Buổi Tối]]&lt;br /&gt;
#[[Lời Cầu Xin Chân Thành]]&lt;br /&gt;
#[[Lời Chúa Là Chân Thật]]&lt;br /&gt;
#[[Lời Con Cầu Xin Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Lời Con Dâng Cha]]&lt;br /&gt;
#[[Lời Con Dâng Chúa]]&lt;br /&gt;
#Lời Ru Đêm Vắng&lt;br /&gt;
#[[Lời Tạ Ơn Dâng Lên Thiên Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Lòng Con Chớ Bối Rối]]&lt;br /&gt;
#[[Lòng Mong Chung Bước Cùng Jêsus]]&lt;br /&gt;
#[[Lòng Ngài Tan Vỡ Vì Tôi!]]&lt;br /&gt;
#[[Lòng Nguyện Theo Giê-xu]]&lt;br /&gt;
#[[Lòng Tôi Mơ Đêm Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Mang Thập Tự]]&lt;br /&gt;
#[[Mari Hạ Sinh Em Bé Trai]]&lt;br /&gt;
#[[Marie, Bà Có Biết]]&lt;br /&gt;
#[[Mary! Nàng Có Biết]]&lt;br /&gt;
#[[Món Quà Cho Bạn]]&lt;br /&gt;
#[[Món Quà Yêu Thương]]&lt;br /&gt;
#[[Mong Bạn Quay Về | Mong Bạn Tin Cứu Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Mong Đến Nơi Chúa Ngự]]&lt;br /&gt;
#[[Mỗi Bước Trên Đường]]&lt;br /&gt;
#[[Mùa Nô-ên Tuyết Trắng]]&lt;br /&gt;
#[[Mùa Giáng Sinh Gợi Nhớ]]&lt;br /&gt;
#Mùa Giáng Sinh Vẫn Về Với Tôi&lt;br /&gt;
#Mùa Giáng Sinh Xa Quê&lt;br /&gt;
#[[Mừng Chúa Giáng Sinh.]]&lt;br /&gt;
#Mừng Ngày Thiên Chúa Đến&lt;br /&gt;
#[[Mừng Vua Giáng Trần]]&lt;br /&gt;
#[[Mừng Xuân Hát Lên Người Ơi!]]&lt;br /&gt;
#[[Nếu Dân Ngài Cầu Xin]]&lt;br /&gt;
#[[Nếu Linh Hồn Hư Mất]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Chiếu Sáng Trên Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Cứu Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Đã Đến]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Đầy Lòng Yêu Thương]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Mang Danh Cao Sang]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Nâng Tôi Lên]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Là Duyên Cớ]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Thay Đổi Đời Sống Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Ngài Yêu Tôi Rất Thiết Tha]]&lt;br /&gt;
#[[Ngày Ấy Sẽ Đến]]&lt;br /&gt;
#[[Ngày Chẳng Vương Mây]]&lt;br /&gt;
#[[Ngày Ngài Mau Đến]]&lt;br /&gt;
#[[Ngày Tươi Mới]]&lt;br /&gt;
#[[Ngôi Nhà Trong Bão Tố]]&lt;br /&gt;
#[[Ngôi Sao Mùa Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Ngủ Đi, Con Thánh]]&lt;br /&gt;
#[[Nguyện Cầu.]]&lt;br /&gt;
#[[Nguyện Mãi Nhớ Ghi Ơn Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Nguyện Tay Chúa Nắm Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Nguyện Ước Trong Ngày Cưới]]&lt;br /&gt;
#[[Người Bạn Tôi Yêu Mến]]&lt;br /&gt;
#[[Nhà Thờ Là Nơi Ấm Cúng]]&lt;br /&gt;
#[[Nhà Tôi Đó Bên Kia Bờ Sông]]&lt;br /&gt;
#[[Nhạc Chuông Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Nhận Ơn Chúa Bằng Đức Tin]]&lt;br /&gt;
#[[Nhiều Khi Tôi Nhớ Về]]&lt;br /&gt;
#Nhịp Thở Thiên Cung&lt;br /&gt;
#[[Nhìn Lên Thập Giá]]&lt;br /&gt;
#[[Nhớ Ơn Người Gieo Giống]]&lt;br /&gt;
#[[Như Cánh Chim Bay Lên]]&lt;br /&gt;
#[[Như Chiên Con Đi Lạc]]&lt;br /&gt;
#Niềm Vui&lt;br /&gt;
#[[Niềm Vui Cho Trần Gian]]&lt;br /&gt;
#[[Niềm Vui Chúa Phục Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Niềm Vui Của Người Chăn Chiên]]&lt;br /&gt;
#[[Noel Đầu Tiên]]&lt;br /&gt;
#[[Nỗi Lòng Mary]]&lt;br /&gt;
#[[Nỗi Lòng Mục Tử]]&lt;br /&gt;
#[[Nỗi Lòng Người Chăn Chiên]]&lt;br /&gt;
#[[Nơi Nương Náu Tâm Hồn]]&lt;br /&gt;
#[[Ô! Bết-lê-hem]] &lt;br /&gt;
#[[Ôi! Chẳng Mưa Đó Sao?]] &lt;br /&gt;
#Ông Già Nô-ên Ơi!&lt;br /&gt;
#[[Ơn Chúa Lòng Ghi Sâu]]&lt;br /&gt;
#[[Ơn Chúa Tuyệt Vời]]&lt;br /&gt;
#[[Ơn Chúa Viếng Thăm Việt Nam]]&lt;br /&gt;
#[[Ơn Cứu Rỗi]]&lt;br /&gt;
#[[Phải Để Dân Ta Đi]]&lt;br /&gt;
#[[Phép Lạ Chúa Phục Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Quà Tặng Của Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Quỳ Bên Cứu Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Quyền Năng Từ Ngàn Xưa]]&lt;br /&gt;
#[[Rồi Đây Chúa Đến]]&lt;br /&gt;
#[[Rồi Một Ngày]]&lt;br /&gt;
#[[Sanh Lại]]&lt;br /&gt;
#[[Sao Tôi Lại Lo Lắng]]&lt;br /&gt;
#[[Sẽ Không Còn Bóng Tối]]&lt;br /&gt;
#[[Sự Bình An Chẳng Phai Tàn]]&lt;br /&gt;
#[[Sự Bình An Tuyệt Vời]]&lt;br /&gt;
#[[Ta Chết Thay Cho Con]]&lt;br /&gt;
#[[Ta Sẽ Trở Lại]]&lt;br /&gt;
#[[Tạ Ơn Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Tay Trong Tay]]&lt;br /&gt;
#[[Tại Vầng Đá Ngất Cao]]&lt;br /&gt;
#[[Tạm Biệt]]&lt;br /&gt;
#[[Tâm Hồn Trong Sạch]]&lt;br /&gt;
#[[Tâm Sự Với Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Tấm Lòng Con Là Nhà Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Thánh Nhi Bé Nhỏ]]&lt;br /&gt;
#[[Thập Giá, Nơi Chúa Mong Anh Về]]&lt;br /&gt;
#[[Thi Thiên 150]]&lt;br /&gt;
#[[Thiên Chúa Ban Một Bài Ca]]&lt;br /&gt;
#[[Thiên Chúa Xuống Trần]]&lt;br /&gt;
#[[Thiên Thần Hòa Ca]]&lt;br /&gt;
#Thiếu Chỗ Cho Ngài&lt;br /&gt;
#[[Thoạt Đến Đêm Nọ]]&lt;br /&gt;
#[[Hỡi Bết-lê-hem Nhỏ Bé | Thôn Bết-lê-hem Bé Nhỏ]]&lt;br /&gt;
#[[Thuận Phục Ý Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Thuốc Chữa Linh Hồn Tội Lỗi]]&lt;br /&gt;
#[[Thư Con Viết Dâng Lên Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Tiếng Nhạc Nguyện Cầu]]&lt;br /&gt;
#[[Tìm Được Niểm Vui]]&lt;br /&gt;
#[[Tìm Nghĩa Cho Đời]]&lt;br /&gt;
#[[Tìm Về Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Ta Là Khúc Nhạc]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Thương Cứu Người]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Thương Lớn Lao]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Yêu Chúa Ban]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Yêu Diệu Kỳ]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Yêu Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Yêu Thiên Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Yêu Thương Chúa Ngập Tràn Lòng Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Yêu Tuyệt Vời]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Yêu Từ Thiên Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Yêu Vững Bền | Tình Yêu Vững Bền Của Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Thân Nhất Trên Đời]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Biết Chúa Đáp Lời]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Không Bước Đi Một Mình]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Không Có Bạc Vàng]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Là Ai]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Nghe Chúa Gọi]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Nghe Dòng Suối Tuôn Tràn Trong Lòng]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Sẽ Thưa Chuyện Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Sẽ Về Nhà Đêm Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Tìm Tình Yêu]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Tin Và Chẳng Lo Sợ]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Vừa Gặp Chúa Jesus]]&lt;br /&gt;
#[[Tội Tôi Được Đóng Đinh Rồi]]&lt;br /&gt;
#[[Tôn Cao Danh Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Tôn Vinh Chúa Phục Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Tôn Vinh Danh Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Trên Đường Đời]]&lt;br /&gt;
#[[Trong Cánh Tay Toàn Năng]]&lt;br /&gt;
#[[Trở Về]]&lt;br /&gt;
#[[Trước Ngôi Thiên Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Tung Hô Danh Chúa Quyền Năng]]&lt;br /&gt;
#[[Từ Đại Dương Ngài Gọi Con]]&lt;br /&gt;
#[[Từ Lòng Tôi Một Bài Ca Mới]]&lt;br /&gt;
#[[Tương Lai Sáng Tươi]]&lt;br /&gt;
#[[Ước Vọng Đêm Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Vào Lúc Đêm Xuống]]&lt;br /&gt;
#[[Vâng Theo Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Vầng Đá Thiêng Liêng]]&lt;br /&gt;
#[[Về Nhà Cha]]&lt;br /&gt;
#[[Vì Bạn Và Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Vì Bạn Với Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Vì Ngài Đang Sống]]&lt;br /&gt;
#[[Vì Ngài Tôi Hát]]&lt;br /&gt;
#[[Vì Sao Tôi Yêu Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Vinh Quang Ha-lê-lu-gia]]&lt;br /&gt;
#[[Vinh Quang Thuộc Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Vinh Quang Trên Cao]]&lt;br /&gt;
#[[Vua Trên Muôn Vua]]&lt;br /&gt;
#[[Vừa Lúc Rạng Đông]]&lt;br /&gt;
#[[Vượt Qua Bóng Mây Sầu]]&lt;br /&gt;
#[[Vượt Qua Mọi Hoàn Cảnh]]&lt;br /&gt;
#[[Xây Dựng Hằng Ngày]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Cảm Ơn Ngài]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Chạm Thấu Tâm Hồn Con]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Chúa Chúc Phước Cho Nhà Mới]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Chúa Dẫn Dắt Con Từng Ngày]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Chúa Sai Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Dìu Dắt Tôi!]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Đưa Tôi Về Đồi Xưa]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Đừng Đem Yêu Thương Khỏi Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Làm Sạch Tôi]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Ngài Giúp Quên]]&lt;br /&gt;
#[[Xin Nghe Lời Cầu Nguyện Của Con]]&lt;br /&gt;
#[[Xuân Tạ Ơn]]&lt;br /&gt;
#[[Ý Nghĩa Ngày Chúa Giáng Sinh]]&lt;br /&gt;
#[[Yêu Là Khi]]&lt;br /&gt;
   &lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nguyên Tác'''&lt;br /&gt;
*In a Cave, a Lowly Stable&lt;br /&gt;
*In Dark World There's a Bright Light&lt;br /&gt;
*The Holy and The Ivy&lt;br /&gt;
*La Marche des Rois&lt;br /&gt;
*My Tribute &lt;br /&gt;
*A New Hallelujah&lt;br /&gt;
*Come Thou Almighty King &lt;br /&gt;
*The Nail Scarred Hand&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Be Ye Glad&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*The Heavens Are Telling&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*All the Way Along &lt;br /&gt;
*Take Jesus As Your Friend&lt;br /&gt;
*Let There Be Peace On Earth&lt;br /&gt;
*All Through the Night&lt;br /&gt;
*Peace in the Valley&lt;br /&gt;
*Daybreak&lt;br /&gt;
*Morning Has Broken &lt;br /&gt;
*While Shepherds Watched Their Flocks&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*All Creatures of Our God and King&lt;br /&gt;
*Just A Closer Walk With Thee&lt;br /&gt;
*To Walk in Thy Way&lt;br /&gt;
*I'll Go with God &lt;br /&gt;
*We Wish You a Merry Christmas &lt;br /&gt;
*Liên Khúc Giáng Sinh&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Majesty&lt;br /&gt;
*Let Not Your Heart Be Trouble&lt;br /&gt;
*Thank You&lt;br /&gt;
*Blessed Assurance&lt;br /&gt;
*This Child Is&lt;br /&gt;
*O Antiphon &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Behold the Lamb&lt;br /&gt;
*Jesus Will &lt;br /&gt;
*You Know I Love Thee&lt;br /&gt;
*Love Was When &lt;br /&gt;
*The Savior Is Waiting &lt;br /&gt;
*Here I Am to Worship&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*He Lives&lt;br /&gt;
*Jesus Christ Is Lord&lt;br /&gt;
*What a Gift Is Jesus&lt;br /&gt;
*Jesus Will Reign&lt;br /&gt;
*The Next Time He Comes&lt;br /&gt;
*Holy! Holy! Holy! &lt;br /&gt;
*All That I Need Is Jesus&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Awesome In This Place&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*You Needed Me &lt;br /&gt;
*He Touched Me&lt;br /&gt;
*He Carried Me on His Shoulder&lt;br /&gt;
*He’s Still The King of Kings&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Blessed Quietness&lt;br /&gt;
*Happy Birthday to You&lt;br /&gt;
*Happy Birthday, Jesus&lt;br /&gt;
*Shall We Gather at the River&lt;br /&gt;
*There Is A Fountain&lt;br /&gt;
*Why Should I Care If the Sun Doesn't Shine?&lt;br /&gt;
*I Was Made to Praise You &lt;br /&gt;
*Have I Grieved Thy Holy Spirit?&lt;br /&gt;
*Via Dolorosa&lt;br /&gt;
*We Will Remember&lt;br /&gt;
*Sing Hallelujah&lt;br /&gt;
*Up From The Grave&lt;br /&gt;
*A Name I Highly Treasure&lt;br /&gt;
*Give Your Voice to the Wind&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*The Banner of the Cross &lt;br /&gt;
*A Faithful Shepherd&lt;br /&gt;
*This Is the Season&lt;br /&gt;
*A 50’s Christmas&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Cantique de Noël &lt;br /&gt;
*Stille Nacht &lt;br /&gt;
*Must I Go, And Empty-Handed? &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Des Knaben Wunderhorn&lt;br /&gt;
*That’s For Me &lt;br /&gt;
*Beyond Tomorrow &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Lord of the Dance&lt;br /&gt;
*God Created Heaven And Earth&lt;br /&gt;
*God On the Mountain&lt;br /&gt;
*To Be God’s People &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*O Antiphon &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Close To Thee&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*In Remembrance&lt;br /&gt;
*Calvary &lt;br /&gt;
*When The Poor Ones&lt;br /&gt;
*Hallelujah!&lt;br /&gt;
*Alleluia, Alleluia&lt;br /&gt;
*Hallelujah! What A Savior!&lt;br /&gt;
*One Small Child&lt;br /&gt;
*Child of Love&lt;br /&gt;
*What Is the Name of the Baby Boy?&lt;br /&gt;
*Away in A Manger&lt;br /&gt;
*The Child Was Born For You&lt;br /&gt;
*Ten Thousand Angels &lt;br /&gt;
*I Walked Today Where Jesus Walked &lt;br /&gt;
*Away in A manger&lt;br /&gt;
*Everybody Sing Praise To The Lord&lt;br /&gt;
*Have Faith in God&lt;br /&gt;
*Lift Up Your Heads, Ye Mighty Gates&lt;br /&gt;
*Consider the Lilies &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Love One Another &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Learning To Lean&lt;br /&gt;
*Hosanna &lt;br /&gt;
*Glorious Things Of Thee Are Spoken&lt;br /&gt;
*O Little Town of Bethlehem &lt;br /&gt;
*He Lifted Me Out&lt;br /&gt;
*Jesus Is The Lord Of All&lt;br /&gt;
*Jesus: Son of God&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Je­sus bleib­et meine Freude&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*But the Sunrise We’ll See &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*When a Child Is Born &lt;br /&gt;
*When We Are Living&lt;br /&gt;
*I Was There To Hear Your Borning Cry &lt;br /&gt;
*When Her Eyes Are on The Child&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Yesterday, Today and Tomorrow&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*No Room&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Carol of Christmas&lt;br /&gt;
*Season of Hope&lt;br /&gt;
*Love Never Fails &lt;br /&gt;
*This Is The Time I Must Sing &lt;br /&gt;
*Let Us Put Christ Back in Christmas&lt;br /&gt;
*Celebrate the Gift of Jesus&lt;br /&gt;
*O Lord! How Wonderful&lt;br /&gt;
*Caroling Medley&lt;br /&gt;
*Joy To The World Medley&lt;br /&gt;
*Go, Tell Tt on the Mountain &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Rob tu mo bhoile, a Com­di cri­de &lt;br /&gt;
*La Palabra del Señor&lt;br /&gt;
*Lời Con Cầu Xin Chúa&lt;br /&gt;
*Just As I Am&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Still, Still&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Let Not Your Heart Be Troubled&lt;br /&gt;
*I Have Decided To Follow Jesus&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*That First Christmas&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Mary, Did You Know?&lt;br /&gt;
*Mary, Did You Know?&lt;br /&gt;
*It Was For You &lt;br /&gt;
*The Gift of Love&lt;br /&gt;
*Mong Bạn Quay Về &lt;br /&gt;
*To Where You Are&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*White Christmas&lt;br /&gt;
*Memories of a Merry Christmas&lt;br /&gt;
*I Heard Bells on Christmas Day&lt;br /&gt;
*My Christmas Song for You&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*We Need a Little Christmas&lt;br /&gt;
*Deck the Halls &lt;br /&gt;
*Songs in the Daytime&lt;br /&gt;
*If My People Will Pray&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*You Light Up My Life&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*He Came&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*King Jesus Is His Name&lt;br /&gt;
*You Raise Me Up &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*He Turned My Dessert Into a Garden&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*The Christmas Star&lt;br /&gt;
*Sleep, Holy Child&lt;br /&gt;
*The Prayer &lt;br /&gt;
*To Take a Little Time&lt;br /&gt;
*Take Hold of My Hand&lt;br /&gt;
*Ke Kali Nei Ru&lt;br /&gt;
*This Wonderful Friend&lt;br /&gt;
*Crying in the Chapel&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Jingle Bells&lt;br /&gt;
*I Can Only Imagine&lt;br /&gt;
*When I Remember &lt;br /&gt;
*Breath of Heaven&lt;br /&gt;
*On Yonder Cross&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Flee As A Bird &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Joy!&lt;br /&gt;
*Joy to the World! &lt;br /&gt;
*Gone &lt;br /&gt;
*Shepherd’s Joy&lt;br /&gt;
*The First Noel &lt;br /&gt;
*Breath of Heaven&lt;br /&gt;
*God Rest Ye Merry Gentlemen &lt;br /&gt;
*Auprès de ma Blonde&lt;br /&gt;
*The Hiding Place&lt;br /&gt;
*O, Bethlehem!&lt;br /&gt;
*Santa Claus Is Coming to Town&lt;br /&gt;
*My! Didn’t It Rain?&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Amazing Grace&lt;br /&gt;
*The Battle Hymn of the Republic&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Go Down, Moses&lt;br /&gt;
*It Took A Miracle&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*On My Knees &lt;br /&gt;
*Old-Time Power&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Why Should I Worry?&lt;br /&gt;
*When I've Done My Best &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Wondrous Peace&lt;br /&gt;
*For Those Tears, I Died &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Thank You, Lord&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*A Clean Heart&lt;br /&gt;
*I Must Tell Jesus &lt;br /&gt;
*My Heart, Your Home &lt;br /&gt;
*One Small Child&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Heaven Came Down&lt;br /&gt;
*Hark! The Herald Angels Sing&lt;br /&gt;
*There Was No Room for Christ &lt;br /&gt;
*It Came Upon the Midnight Clear &lt;br /&gt;
*O Little Town of Bethlehem&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*There Is A Balm In Gilead&lt;br /&gt;
*A Note to God&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Discovery&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*There's a Song in My Heart&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*The Savior's Love &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*What Child Is This? &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*What Wondrous Love Is This&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*I Know He Answers&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Silver And Gold Have I None&lt;br /&gt;
*Who Am I&lt;br /&gt;
*I Hear My Savior Call&lt;br /&gt;
*A Well Springs Up in My Soul&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*I'll Be Home for Christmas&lt;br /&gt;
*I Look for Love&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*I’ve Just Seen Jesus &lt;br /&gt;
*Nailed to the Cross&lt;br /&gt;
*Lord, I Lift Your Name On High &lt;br /&gt;
*All Hail to Christ &lt;br /&gt;
*Glorify Thy Name &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*On Eagle’s Wings&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Before the Throne of God Above&lt;br /&gt;
*Crown Him Lord&lt;br /&gt;
*Oceans (Where Feet May Fail)&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*The Future’s Looking Brighter&lt;br /&gt;
*Some Children See Him&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Submission&lt;br /&gt;
*The Cornerstone&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Ten Thousand Angels &lt;br /&gt;
*Because He Lives&lt;br /&gt;
*I Sing of Thee&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Glory To The Lord&lt;br /&gt;
*The Specious Firmament on High&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Overshadowed&lt;br /&gt;
*Through It All&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Touch Me Again, Lord&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Dear Lord, Lead Me Day By Day&lt;br /&gt;
*Lord! Send Me! &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Don't Take That Love from Me&lt;br /&gt;
*Cleanse Me&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*This Christmas Day&lt;br /&gt;
*Love Was When&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Tác Giả'''&lt;br /&gt;
*Harold B. Franklin&lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Andrae Crouch&lt;br /&gt;
*Michael W. Smith&lt;br /&gt;
*Charles Wesley  &lt;br /&gt;
*Baylus B. McKinney&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Michael Kelly Blanchard &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Fransz Joseph Haydn&lt;br /&gt;
*Johnson Oatman, Jr.&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Ada Blenkhorn &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Sy Miller &amp;amp; Jill Jackson &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Thomas A. Dorsey&lt;br /&gt;
*G. Banor, B. Hernandez &lt;br /&gt;
*Eleanor Farjeon &lt;br /&gt;
*Nahum Tate &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*J. R. Baxter Jr. &lt;br /&gt;
*Francis of Assisi&lt;br /&gt;
*John T. Benson&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*Hà Hữu Quang, [[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*Nhiều Tác Giả&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Jack W. Hayford &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Kathy Frizell, Kara Worley&lt;br /&gt;
*Latin, 12th Century &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Lance Latham &lt;br /&gt;
*Rebecca J. Peck, Phil Barfoot&lt;br /&gt;
*Ina Duley Ogdon&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John E. Walvoord &lt;br /&gt;
*[[Ralph Carmichael]] &lt;br /&gt;
*Tim Hughes&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*I. &amp;amp; M. Houghton, C. Ratcliff  &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Tom Fettke&lt;br /&gt;
*Dennis Jernigan&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John B. Dykes &lt;br /&gt;
*Gladys Tomkins&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Randy Goodrum&lt;br /&gt;
*William J. Gaither&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*William J. Gaither&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Lưu Văn Mão &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Carol Cymbals&lt;br /&gt;
*Robert Lowry &lt;br /&gt;
*William Cowper&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Chris Christensen &lt;br /&gt;
*Billy Sprague &amp;amp; Niles Borop&lt;br /&gt;
*Oswald J. Smith &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Orien Johnson&lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*[[Isaac Watts]], Mosie Lister, Ken Bible&lt;br /&gt;
*Charlotte G. Homer &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Daniel W. Whittle&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Phil Barfoot, Rebecca J. Peck &lt;br /&gt;
*Johnny Marks &lt;br /&gt;
*B. D. Ackley &lt;br /&gt;
*[[Placide Cappeau]]&lt;br /&gt;
*Joseph Mohr &lt;br /&gt;
*Charles C. Lu­ther&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Dân Ca Đức&lt;br /&gt;
*[[Ralph Carmichael]] &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Sydney Carter&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Tracy Dartt &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Latin, 12th Century &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Ragan Courtney &lt;br /&gt;
*B.D.Ackley&lt;br /&gt;
*J.A. Olivar &amp;amp; Miguel Manzano &lt;br /&gt;
*Darlene Zschech &lt;br /&gt;
*Donald Fishel&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Tina English&lt;br /&gt;
*Mosie Lister&lt;br /&gt;
*Martin Luther&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Lynn Copper &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Catherine Winkworth&lt;br /&gt;
*Joel Hemphill&lt;br /&gt;
*May Agnew &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John Stallings &lt;br /&gt;
*Carl Tuttle &lt;br /&gt;
*Franz Joseph Haydn&lt;br /&gt;
*Phill­ips Brooks &lt;br /&gt;
*Lawrence E. Brooks &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Ken Bible &amp;amp; G.T. Haywood &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Mar­tin Ja­nus&lt;br /&gt;
*John W. Peterson&lt;br /&gt;
*Jesse Randall Baxter, Jr. &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Ciro Dammicco&lt;br /&gt;
*Elise S. Eslinger&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Ira Stanphill&lt;br /&gt;
*Don Wyrtzen &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Gloria &amp;amp; William Gaither &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Allen Koppelberger, Twilla Paris&lt;br /&gt;
*Mosie Lister &amp;amp; Ken Bible &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John W. Work, Jr.&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Dal­lan For­gaill&lt;br /&gt;
*Juan Luis Garcia&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*David Phelps &amp;amp; Cindy Morgan &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Harry Dixon Loes &lt;br /&gt;
*Sadhu Sundar Singh &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Mark Lowry &lt;br /&gt;
*Mark Lowry &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*W. Elmo Mercer   &lt;br /&gt;
*Irving Berlin&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Johnny Marks&lt;br /&gt;
*Furniss Peterson, Paul Smith Webster&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Jerry Herman&lt;br /&gt;
*Dân ca Welsh &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Joe Brooks &lt;br /&gt;
*John W. Peterson&lt;br /&gt;
*S. E. Parsons Jr., E. E.S. Elliott &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Brendan Graham &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Lulu W. Kock &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
* &lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*David Foster, Tony Renis &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Charles E. King &lt;br /&gt;
*Robert Parsons&lt;br /&gt;
*Artie Glenn &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*James Lord Pierpont&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John W. Peterson&lt;br /&gt;
*Chris Eaton, Amy Grant &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Mary Shindler&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*[[Isaac Watts]]&lt;br /&gt;
*[[Isaac Watts]]&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John Parker &amp;amp; Mark Hayes &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Chris Eaton, Amy Grant &lt;br /&gt;
*Khuyết Danh (Thế Kỷ 15) &lt;br /&gt;
*Dân ca Pháp &lt;br /&gt;
*Bryan Jeffery Leech &lt;br /&gt;
*Mosie Lister &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John Frederick Coots, Haven Gillespie&lt;br /&gt;
*Henry Smith &lt;br /&gt;
*John Newton&lt;br /&gt;
*Julia Ward Howe &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Afro-American Spiritual &lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*David Mullen &lt;br /&gt;
*Charlie D. Tillman&lt;br /&gt;
*Beautric Bush Bixler &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*William O. Custing &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Marsha J. Stevens&lt;br /&gt;
*Eugene Clark &lt;br /&gt;
*Michael Ryan &lt;br /&gt;
*Steve Green&lt;br /&gt;
*Charlie Hall &lt;br /&gt;
*Robert Burns &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Eli­sha A. Hoff­man&lt;br /&gt;
*Denise Calazans &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Ira F. Stanphill &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*John W. Peterson&lt;br /&gt;
*[[Charles Wesley]] &lt;br /&gt;
*John W. Peterson&lt;br /&gt;
*[[Richard Storrs Willis]] &lt;br /&gt;
*Phillips Brooks&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Diane Warren &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Charles H. Gabriel&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Mary Carolin Robbins &lt;br /&gt;
*William Chatterton Dix&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Dân ca Hoa Kỳ &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Alfred H. Ackley &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Alfred H. Ackley &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Harold Lillenas&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Kim Gannon&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Mrs. Frank A. Breck &lt;br /&gt;
*Rick Founds &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Donna Adkins&lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Matt Crocker &lt;br /&gt;
*John W. Peterson &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Austin Miles &lt;br /&gt;
*Lari Goss &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Ray Overholt &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*G. B. Muller &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Leland Green &lt;br /&gt;
*Lynn De Shazo &lt;br /&gt;
*Joseph Addison&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Henry Allan Ironside &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Colbert Croft &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Francisca Asuncion&lt;br /&gt;
*Louis P. Lehman Jr.&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*James Bland &lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*&lt;br /&gt;
*Don Wyrtzen &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nhạc''' &lt;br /&gt;
#Harold B. Franklin&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#Dân Ca Pháp&lt;br /&gt;
#Ca Khúc Giáng Sinh Pháp&lt;br /&gt;
#Andrae Crouch &lt;br /&gt;
#Michael W. Smith&lt;br /&gt;
#Felice de Giardini &lt;br /&gt;
#Baylus B. McKinney&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Michael Kelly Blanchard &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Fransz Joseph Haydn&lt;br /&gt;
#[[William J. Kirkpatrick]] &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Lewis E. Jones &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Sy Miller &amp;amp; Jill Jackson&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Thomas A. Dorsey&lt;br /&gt;
#G. Banor, B. Hernandez&lt;br /&gt;
#Dân ca Gaelic &lt;br /&gt;
#[[George Frideric Handel]]&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Eugene Wright &lt;br /&gt;
#Geist­liche Kirch­en­ge­säng&lt;br /&gt;
#John T. Benson&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#Dân Ca Anh&lt;br /&gt;
#Nhiều Tác Giả&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Jack W. Hayford &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Kathy Frizell, Kara Worley&lt;br /&gt;
#Plainsong, 13th Century &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Lance Latham &lt;br /&gt;
#Rebecca J. Peck, Phil Barfoot&lt;br /&gt;
#Bentley D. Ackley&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John E. Walvoord &lt;br /&gt;
#[[Ralph Carmichael]] &lt;br /&gt;
#Tim Hughes&lt;br /&gt;
#[[William J. Kirkpatrick]]  &lt;br /&gt;
#I. &amp;amp; M. Houghton, C. Ratcliff&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Tom Fettke&lt;br /&gt;
#Dennis Jernigan&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John B. Dykes &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Buddy Lawson  &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Randy Goodrum&lt;br /&gt;
#William J. Gaither&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#William J. Gaither&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#W.S. Marshall,&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Carol Cymbals&lt;br /&gt;
#Robert Lowry&lt;br /&gt;
#William Cowper&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Chris Christensen &lt;br /&gt;
#Billy Sprague &amp;amp; Niles Borop&lt;br /&gt;
#Bentley D. Ackley&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Orien Johnson&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#[[George Frideric Handel]], Mosie Lister, Ken Bible&lt;br /&gt;
#Charles H. Gabriel &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Phil Barfoot, Rebecca J. Peck&lt;br /&gt;
#Johnny Marks &lt;br /&gt;
#Bentley D. Ackley&lt;br /&gt;
#[[Adolphe Charles Adam]]&lt;br /&gt;
#Franz Xaver Gruber &lt;br /&gt;
#George C. Stebbins &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Johannes Brahms &lt;br /&gt;
#[[Ralph Carmichael]] &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Giai điệu Thế-kỷ 19&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Tracy Dartt &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Plainsong, 13th Century &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Buryl Red &lt;br /&gt;
#Bentley D. Ackley&lt;br /&gt;
#J.A. Olivar &amp;amp; Miguel Manzano &lt;br /&gt;
#Darlene Zschech &lt;br /&gt;
#Donald Fishel&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Tina English&lt;br /&gt;
#Mosie Lister&lt;br /&gt;
#[[William J. Kirkpatrick]]&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Lynn Copper &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Psalmodia Evangelica,&lt;br /&gt;
#Joel Hemphill&lt;br /&gt;
#May Agnew &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John Stallings &lt;br /&gt;
#Carl Tuttle &lt;br /&gt;
#Franz Joseph Haydn&lt;br /&gt;
#Lewis H. Red­ner &lt;br /&gt;
#Lawrence E. Brooks &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Ken Bible &amp;amp; G.T. Haywood &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Johann Sebastian Bach&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#Eugene Wright &lt;br /&gt;
#Albert Simpson Reitz &lt;br /&gt;
#Ciro Dammicco&lt;br /&gt;
#Dân ca Tây Ban Nha&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Ira Stanphill &lt;br /&gt;
#Don Wyrtzen &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#William Gaither &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#William Gaither &lt;br /&gt;
#R. J. Hughes &lt;br /&gt;
#Allen Koppelberger, Twilla Paris&lt;br /&gt;
#Mosie Lister &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Juan Luis Garcia &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Brett Ziegier &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Nhạc Giáng Sinh Đức&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Allen Alket&lt;br /&gt;
#Harry Dixon Loes &lt;br /&gt;
#Giai điệu Hindu &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Thos. C. Wallace &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Buddy Greene &lt;br /&gt;
#Buddy Greene &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Khuyết Danh&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#W. Elmo Mercer &lt;br /&gt;
#Irving Berlin&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Johnny Marks&lt;br /&gt;
#Hoagy Carmichael&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Jerry Herman&lt;br /&gt;
#Dân ca Welsh&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Jimmy Owens &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Joe Brooks &lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#S. E. Parsons, Jr. Timothy R. Matthews &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Rolf Lovland &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Wilbur E. Nelson &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#David Foster, Tony Renis &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#W. Elmo Mercer &lt;br /&gt;
#Charles E. King &lt;br /&gt;
#Robert Parsons&lt;br /&gt;
#Artie Glenn &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#James Lord Pierpont&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#Chris Eaton, Amy Grant &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Giai điệu Tây Ban Nha&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#[[George Frideric Handel]] &lt;br /&gt;
#[[George Frideric Handel]] &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Mark Hayes &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Khuyết Danh (Thế Kỷ 15) &lt;br /&gt;
#Dân ca Pháp &lt;br /&gt;
#Bryan Jeffery Leech &lt;br /&gt;
#Mosie Lister &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John Frederick Coots, Haven Gillespie&lt;br /&gt;
#Henry Smith &lt;br /&gt;
#Dân Ca Phi Châu&lt;br /&gt;
#William Steffe&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Afro-American Spiritual &lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#David Mullen &lt;br /&gt;
#Charlie D. Tillman&lt;br /&gt;
#Beautric Bush Bixler &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Ira Sankey &lt;br /&gt;
#Thomas A. Dorsey&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Marsha J. Stevens&lt;br /&gt;
#Eugene Clark &lt;br /&gt;
#Michael Ryan &lt;br /&gt;
#Steve Green&lt;br /&gt;
#Robert Harkness &lt;br /&gt;
#Dân ca Tô-Cách-Lan &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Eli­sha A. Hoff­man&lt;br /&gt;
#Denise Calazans &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Ira F. Stanphill &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#[[Felix Mendelssohn]] &lt;br /&gt;
#John W. Peterson&lt;br /&gt;
#Edmund H. Sears &lt;br /&gt;
#Lewis H. Redner&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Diane Warren &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Don Wyrtzen &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Charles H. Gabriel&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Mary Carolin Robbins &lt;br /&gt;
#Dân ca Anh Greensleeves &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Dân ca Hoa Kỳ &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Edwin O. Exell &lt;br /&gt;
#Alfred H. Ackley &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Alfred H. Ackley &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Mark Hall &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Harold Lillenas &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Walter Kent&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Grant Colfax Tullar &lt;br /&gt;
#Rick Founds &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Donna Adkins &lt;br /&gt;
#John W. Peterson&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Louise Smith &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Matt Crocker&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Alfred Burt &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Mrs. R. R. Forman &lt;br /&gt;
#Lari Goss &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Ray Overholt &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Gladys Blanchard Muller&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Lynn DeShazo &lt;br /&gt;
#Franz Joseph Haydn&lt;br /&gt;
#Cổ điệu Do Thái &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#George S. Schuler &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Joyce Croft &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Philippine Folk Melody &lt;br /&gt;
#Louis P. Lehman Jr.&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#James Bland &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Albert Simpson Reitz &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Don Wyrtzen &lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Liên Khúc==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Tựa đề'''&lt;br /&gt;
#Liên Khúc Hát Mừng Giáng Sinh&lt;br /&gt;
#Liên Khúc Niềm Vui Cho Trần Gian&lt;br /&gt;
#Liên Khúc Thiên Thần Hòa Ca&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nguyên Tác'''&lt;br /&gt;
#The First Noel/O Little Town of Bethlehem/We Wish You &lt;br /&gt;
#Joy to the World/Angels, From the Realms of Glory/Hark! The Angels Sing&lt;br /&gt;
#Angels, From the Realms of Glory/Hark! The Angels Sing&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Lời'''&lt;br /&gt;
*Vĩnh Phúc, Hà Hữu Quang&lt;br /&gt;
*Vĩnh Phúc&lt;br /&gt;
*[[Lưu Văn Hồng | Trần Lưu Hoàng]], Vĩnh Phúc&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nhạc'''&lt;br /&gt;
*Nhiều Tác Giả&lt;br /&gt;
*Nhiều Tác Giả&lt;br /&gt;
*Nhiều Tác Giả&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Vĩnh Phúc: Nhạc Hôn Lễ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Tựa đề'''&lt;br /&gt;
#[[Bài Ca Lứa Đôi]]&lt;br /&gt;
#Đám Cưới Đôi Chim Hồng&lt;br /&gt;
#Đám Cưới Người Chăn Chiên&lt;br /&gt;
#Khúc Nhạc Lứa Đôi&lt;br /&gt;
#Khúc Tình Ca Ngày Cưới&lt;br /&gt;
#Lời Chúc Lứa Đôi&lt;br /&gt;
#[[Lời Thề Trước Chúa]]&lt;br /&gt;
#[[Miền Hoa Thắm Không Phai Tàn]]&lt;br /&gt;
#Mừng Đôi Uyên Ương&lt;br /&gt;
#Mừng Hoàng Anh - Hoài Ngọc&lt;br /&gt;
#Mừng Ngày Cưới&lt;br /&gt;
#Mừng Ngày Hôn Lễ&lt;br /&gt;
#Ngày Vui Đôi Lứa&lt;br /&gt;
#Người Yêu Anh Chăn Bầy&lt;br /&gt;
#Nhánh Nho Chung Gốc&lt;br /&gt;
#Tâm Sự Người Chăn Chiên&lt;br /&gt;
#Thuyền Tình Trên Nước Xanh&lt;br /&gt;
#[[Tình Ta Là Bài Ca Yêu Thương]]&lt;br /&gt;
#Xin Ngài Chứng Giám Tình Yêu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nguyên Tác'''&lt;br /&gt;
#I Love You So&lt;br /&gt;
#Đám Cưới Đôi Chim Hồng&lt;br /&gt;
#In My Heart&lt;br /&gt;
#When Love Shines In&lt;br /&gt;
#Khúc Tình Ca Ngày Cưới&lt;br /&gt;
#Sunlights&lt;br /&gt;
#Oui, Devant Dieu&lt;br /&gt;
#In the Land Where the Flowers Bloom Forever&lt;br /&gt;
#Mừng Đôi Uyên Ương&lt;br /&gt;
#Dân Ca&lt;br /&gt;
#Where You and I Were Young - Maggie&lt;br /&gt;
#Mừng Ngày Hôn Lễ&lt;br /&gt;
#Little Brown Church in the Vale&lt;br /&gt;
#In My Heart There Rings a Melody&lt;br /&gt;
#Silver Threads Among the Golds&lt;br /&gt;
#How Firm a Foundation (1787)&lt;br /&gt;
#Love Found a Way&lt;br /&gt;
#There's a Song in My Heart&lt;br /&gt;
#Each for the Other&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Lời'''&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]] (18/1/1983)&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]] (10/3/1983)&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]] (28/9/1984)&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nhạc''' &lt;br /&gt;
#Paulina Hatchers (1547)&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#John W. Peterson&lt;br /&gt;
#[[William J. Kirkpatrick]] &lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Winfield J. Weeden&lt;br /&gt;
#Gloria Lasso&lt;br /&gt;
#B. D. Ackley&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Dân Ca&lt;br /&gt;
#J.A. Butterfield&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#William J. Pills&lt;br /&gt;
#Elton M. Roth&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Jo­seph Funk (1778-1862)&lt;br /&gt;
#Harry Dixon Loes&lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
#John W. Peterson &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Vĩnh Phúc: Nhạc Thiếu Nhi==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Tựa đề'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
#Bàn Tay Em&lt;br /&gt;
#Bầy Học Sinh Nhỏ&lt;br /&gt;
#Bầu Trời Xanh&lt;br /&gt;
#Cầu Nguyện Buổi Tối&lt;br /&gt;
#Cầm Tay Nhau Hát&lt;br /&gt;
#Chiến Thắng Cho Chúa&lt;br /&gt;
#Chúa Gọi&lt;br /&gt;
#Chúa Phán Hứa&lt;br /&gt;
#Chúa Yêu Em&lt;br /&gt;
#Đón Một Mùa Hè&lt;br /&gt;
#Đi Nhà Thờ&lt;br /&gt;
#Em Mong Là Sao Trời&lt;br /&gt;
#Em Muốn Là Đoá Hoa&lt;br /&gt;
#Em Ngoan Để Chúa Vui&lt;br /&gt;
#Em Ước Sẽ Là Đàn Chim&lt;br /&gt;
#Em Vui Hát Không Ngừng&lt;br /&gt;
#Em Yêu Chúa&lt;br /&gt;
#Gia Đình Em&lt;br /&gt;
#Gió Chiều&lt;br /&gt;
#Lên Đường&lt;br /&gt;
#Lòng Biết Ơn&lt;br /&gt;
#Lòng Em Vui&lt;br /&gt;
#Lời Cầu Nguyện Hằng Ngày&lt;br /&gt;
#Mau Đến Tin Chúa Giê-xu&lt;br /&gt;
#Mong Ước&lt;br /&gt;
#Niềm Vui Sum Họp&lt;br /&gt;
#Niềm Vui Thơ Ấu&lt;br /&gt;
#Nhà Trên Trời&lt;br /&gt;
#Ôi Chẳng Mưa Đó Sao&lt;br /&gt;
#Tìm Về Đất Đứa&lt;br /&gt;
#Tôi Không Có Bạc Vàng&lt;br /&gt;
#Trong Nhà Thờ&lt;br /&gt;
#Vâng Lời Chúa&lt;br /&gt;
#Xuân Về&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Lời'''&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]] &lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]] &lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]] &lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]] &lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nhạc''' &lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Vĩnh Phúc&lt;br /&gt;
#Vĩnh Phúc&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#&lt;br /&gt;
#Vĩnh Phúc&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Vĩnh Phúc: Tình Ca==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
{|&lt;br /&gt;
|-&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Tựa đề'''&lt;br /&gt;
#[[Cánh Hoa Tình Yêu]]&lt;br /&gt;
#Đây Bình Minh&lt;br /&gt;
#[[Đường Về Dĩ Vãng]]&lt;br /&gt;
#Đường Tôi Đi Tới&lt;br /&gt;
#[[Hai Phương Trời Cách Biệt]]&lt;br /&gt;
#[[Hoài Mong]]&lt;br /&gt;
#[[Một Người Lên Xe Hoa]]&lt;br /&gt;
#[[Một Thuở Yêu Đàn]]&lt;br /&gt;
#[[Ngàn Thu Áo Tím]]&lt;br /&gt;
#[[Người Đi Chưa Về]]&lt;br /&gt;
#[[Người Yêu Dấu Mang Tên Một Loài Hoa]]&lt;br /&gt;
#[[Nhặt Lá Vàng]]&lt;br /&gt;
#[[Nhớ Hoài]]&lt;br /&gt;
#[[Thơ Ấu Qua Rồi]]&lt;br /&gt;
#[[Tìm Một Ánh Sao]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Ta Như Giấc Mơ]]&lt;br /&gt;
#[[Tình Thơ Mộng]]&lt;br /&gt;
#[[Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím]]&lt;br /&gt;
#[[Trang Nhật Ký]]&lt;br /&gt;
#[[Vào Mộng]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Lời'''&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
*[[Vĩnh Phúc]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
| valign=&amp;quot;top&amp;quot; | '''Nhạc''' &lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Jaques Revaux &lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Phạm Anh Dũng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Phạm Anh Dũng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Phạm Anh Dũng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
#Hoàng Trọng&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
|}&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
* Tuyển Tập Thánh Ca Chép Tay của Nhạc sĩ [[Vĩnh Phúc]].&lt;br /&gt;
* Tuyển Tập Thánh Ca của Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thanh.&lt;br /&gt;
* Phúc Âm Ca (1988).&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Giám Lý]] (1992) &lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Baptist]] (1993) &lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Hoa Kỳ]] (1998) &lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Miền Nam]] (2011) &lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ch%E1%BB%97_H%C3%B3c_%C4%90%C3%A1_V%E1%BB%AFng_An&amp;diff=35661</id>
		<title>Chỗ Hóc Đá Vững An</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ch%E1%BB%97_H%C3%B3c_%C4%90%C3%A1_V%E1%BB%AFng_An&amp;diff=35661"/>
		<updated>2026-02-20T21:14:08Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: He Hideth My Soul&lt;br /&gt;
*Lời: Fanny J. Crosby&lt;br /&gt;
*Nhạc: [[William J. Kirkpatrick]]&lt;br /&gt;
==Lời Anh==&lt;br /&gt;
:'''He Hideth My Soul'''&lt;br /&gt;
:1.    A wonderful Savior is Jesus my Lord,&lt;br /&gt;
:    A wonderful Savior to me;&lt;br /&gt;
:    He hideth my soul in the cleft of the rock,&lt;br /&gt;
:    Where rivers of pleasure I see.&lt;br /&gt;
:'''        Refrain:'''&lt;br /&gt;
:        He hideth my soul in the cleft of the rock,&lt;br /&gt;
:        That shadows a dry, thirsty land;&lt;br /&gt;
:        He hideth my life in the depths of His love,&lt;br /&gt;
:        And covers me there with His hand,&lt;br /&gt;
:        And covers me there with His hand.&lt;br /&gt;
:2.    A wonderful Savior is Jesus my Lord,&lt;br /&gt;
:    He taketh my burden away,&lt;br /&gt;
:    He holdeth me up and I shall not be moved,&lt;br /&gt;
:    He giveth me strength as my day.&lt;br /&gt;
:3.    With numberless blessings each moment He crowns,&lt;br /&gt;
:    And filled with His fullness divine,&lt;br /&gt;
:    I sing in my rapture, oh, glory to God!&lt;br /&gt;
:    For such a Redeemer as mine.&lt;br /&gt;
:4.    When clothed with His brightness transported I rise&lt;br /&gt;
:    To meet Him in clouds of the sky,&lt;br /&gt;
:    His perfect salvation, His wonderful love,&lt;br /&gt;
:    I’ll shout with the millions on high.&lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Chỗ Hóc Đá Vững An'''&lt;br /&gt;
:1.	 Chỉ có Giê-xu siêu phàm là chính Cứu Chúa tôi&lt;br /&gt;
:Cứu Chúa thật lạ lùng muôn muôn đời&lt;br /&gt;
:Chỗ hóc đá thiêng kia đem hồn linh tôi yên giấu&lt;br /&gt;
:Ở đây tôi vui xem sông linh mầu&lt;br /&gt;
:'''Điệp Khúc:'''&lt;br /&gt;
:Hồn tôi Giê-xu đem đặt chỗ hóc đá vững an&lt;br /&gt;
:Bóng linh thạch che dải đất khô hạn&lt;br /&gt;
:Ngài lấy ái đức phủ tôi trong chốn thâm uyên thay&lt;br /&gt;
:Cánh tay Giê-xu che an ninh thay&lt;br /&gt;
:Cánh thiêng che trùm khiến bình tịnh thay.&lt;br /&gt;
:2.	Chỉ có Giê-xu siêu phàm là chính Cứu Chúa tôi&lt;br /&gt;
:Cất gánh ác khiên ra khỏi tôi rồi&lt;br /&gt;
:Chúa đỡ nâng tâm tôi không dời lay không nao núng&lt;br /&gt;
:Bổ thêm cho tôi linh năng vô cùng.&lt;br /&gt;
:3. Mỗi phút phước thiêng vô tận Ngài đổ xuống biết bao,&lt;br /&gt;
:Mỗi phút ơn lành dường suối tuôn dào,&lt;br /&gt;
:Bởi thế trước ngôi tôn vinh lòng tôi vui ca xướng,&lt;br /&gt;
:Đấng yêu thương mua tôi cách lạ thường.&lt;br /&gt;
:4. Lúc cất lên cao tôi được cùng khoác áo trắng tinh&lt;br /&gt;
:Rước Chúa quang lâm từ trên thiên đình&lt;br /&gt;
:Với cả thiên dân chung hòa giọng hoan ca cung kính&lt;br /&gt;
:Cứu ân cao siêu yêu thương trọn tình. &lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/mp3/267.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/beat/267.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/sheet/267.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam]] (1950) - Bài số 267&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Giám Lý]] - Bài số 103&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Hoa Kỳ]] - Bài số 262&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Baptist]] - Bài số 377&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] - Thư Viện Tin Lành&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ch%E1%BB%97_H%C3%B3c_%C4%90%C3%A1_V%E1%BB%AFng_An&amp;diff=35660</id>
		<title>Chỗ Hóc Đá Vững An</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ch%E1%BB%97_H%C3%B3c_%C4%90%C3%A1_V%E1%BB%AFng_An&amp;diff=35660"/>
		<updated>2026-02-20T20:55:06Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: He Hideth My Soul&lt;br /&gt;
*Lời: Fanny J. Crosby&lt;br /&gt;
*Nhạc: [[William J. Kirkpatrick]]&lt;br /&gt;
==Lời Anh==&lt;br /&gt;
:'''He Hideth My Soul'''&lt;br /&gt;
:1.    A wonderful Savior is Jesus my Lord,&lt;br /&gt;
:    A wonderful Savior to me;&lt;br /&gt;
:    He hideth my soul in the cleft of the rock,&lt;br /&gt;
:    Where rivers of pleasure I see.&lt;br /&gt;
:'''        Refrain:'''&lt;br /&gt;
:        He hideth my soul in the cleft of the rock,&lt;br /&gt;
:        That shadows a dry, thirsty land;&lt;br /&gt;
:        He hideth my life in the depths of His love,&lt;br /&gt;
:        And covers me there with His hand,&lt;br /&gt;
:        And covers me there with His hand.&lt;br /&gt;
:2.    A wonderful Savior is Jesus my Lord,&lt;br /&gt;
:    He taketh my burden away,&lt;br /&gt;
:    He holdeth me up and I shall not be moved,&lt;br /&gt;
:    He giveth me strength as my day.&lt;br /&gt;
:3.    With numberless blessings each moment He crowns,&lt;br /&gt;
:    And filled with His fullness divine,&lt;br /&gt;
:    I sing in my rapture, oh, glory to God!&lt;br /&gt;
:    For such a Redeemer as mine.&lt;br /&gt;
:4.    When clothed with His brightness transported I rise&lt;br /&gt;
:    To meet Him in clouds of the sky,&lt;br /&gt;
:    His perfect salvation, His wonderful love,&lt;br /&gt;
:    I’ll shout with the millions on high.&lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Chỗ Hóc Đá Vững An'''&lt;br /&gt;
:1.	 Chỉ có Giê-xu siêu phàm là chính Cứu Chúa tôi&lt;br /&gt;
:Cứu Chúa thật lạ lùng muôn muôn đời&lt;br /&gt;
:Chỗ hóc đá thiêng kia đem hồn linh tôi yên giấu&lt;br /&gt;
:Ở đây tôi vui xem sông linh mầu&lt;br /&gt;
:'''Điệp Khúc:'''&lt;br /&gt;
:Hồn tôi Giê-xu đem đặt chỗ hóc đá vững an&lt;br /&gt;
:Bóng linh thạch che dải đất khô hạn&lt;br /&gt;
:Ngài lấy ái đức phủ tôi trong chốn thâm uyên thay&lt;br /&gt;
:Cánh tay Giê-xu che an ninh thay&lt;br /&gt;
:Cánh thiêng che trùm khiến bình tịnh thay.&lt;br /&gt;
:2.	Chỉ có Giê-xu siêu phàm là chính Cứu Chúa tôi&lt;br /&gt;
:Cất gánh ác khiên ra khỏi tôi rồi&lt;br /&gt;
:Chúa đỡ nâng tâm tôi không dời lay không nao núng&lt;br /&gt;
:Bổ thêm cho tôi linh năng vô cùng.&lt;br /&gt;
:3. Mỗi phút phước thiêng vô tận Ngài đổ xuống biết bao,&lt;br /&gt;
:Mỗi phút ơn lành dường suối tuôn dào,&lt;br /&gt;
:Bởi thế trước ngôi tôn vinh lòng tôi vui ca xướng,&lt;br /&gt;
:Đấng yêu thương mua tôi cách lạ tình.&lt;br /&gt;
:4. Lúc cất lên cao tôi được cùng khoác áo trắng tinh&lt;br /&gt;
:Rước Chúa quang lâm từ trên thiên đình&lt;br /&gt;
:Với cả thiên dân chung hòa giọng hoan ca cung kính&lt;br /&gt;
:Cứu ân cao siêu yêu thương trọn tình. &lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/mp3/267.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/beat/267.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TCTLVNMN/sheet/267.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam]] (1950) - Bài số 267&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Giám Lý]] - Bài số 103&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Việt Nam Hoa Kỳ]] - Bài số 262&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca Hội Thánh Tin Lành Baptist]] - Bài số 377&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] - Thư Viện Tin Lành&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35659</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35659"/>
		<updated>2026-02-12T06:57:23Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, ta kêu gọi trước hết hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, là một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này mà ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng, làm sứ đồ, và giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, 10. nhưng hãy thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hoặc cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt rồi đi đến sự phạm tội. 15. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Kêu gọi cầu nguyện'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, trước hết, ta khuyên con nên nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta, là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. Ngài đã hiến chính mình Ngài để làm giá chuộc cho tất cả nhân loại - một sự xác nhận đúng thời điểm. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này ta đã được bổ nhiệm làm nhà truyền giảng, làm sứ đồ, làm giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp mọi nơi hãy đưa những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện - đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Hướng dẫn cho phụ nữ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. Tuy nhiên, ta không cho phép phụ nữ dạy, hoặc cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt và đi đến sự phạm tội. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, trước hết, ta kêu gọi hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người đang có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Vì điều này, ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng và sứ đồ  - Ta nói thật, không nói dối -  làm giáo sư cho các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người đàn ông ở khắp mọi nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng cách kết tóc, hay vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, 10. nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời, qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hay cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt đi đến sự phạm tội. 15. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống trong đức tin, trong tình yêu thương, trong sự thánh khiết, và với sự tiết chế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, 2.  cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhân đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. 3.  Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, 4.  Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật. 5.  Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người; 6.  Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ 7.  (ta nói thật, không nói dối), vì lời chứng ấy, ta đã được cử làm thầy giảng, là sứ đồ và giáo sư cho dân ngoại, để dạy họ về đức tin và về lẽ thật. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vậy, ta muốn những người đàn ông đều giơ tay thánh sạch lên trời, mà cầu nguyện khắp mọi nơi, chớ có giận dữ và cãi cọ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Ta cũng muốn rằng những người đàn bà ăn mặc một cách gọn ghẽ, lấy nết na và đức hạnh giồi mình, không dùng những tóc gióc, vàng, châu ngọc và áo quần quí giá, 10.  nhưng dùng việc lành, theo lẽ đang nhiên của người đàn bà tin kính Chúa. 11.  Đàn bà phải yên lặng mà nghe dạy, lại phải vâng phục mọi đàng. 12.  Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ, cũng không được cầm quyền trên đàn ông; nhưng phải ở yên lặng. 13.  Vì A-đam được dựng nên trước nhất, rồi mới tới Ê-va. 14.  Lại không phải A-đam bị dỗ dành, bèn là người đàn bà bị dỗ dành mà sa vào tội lỗi. 15.  Dầu vậy, nếu đàn bà lấy đức hạnh mà bền đỗ trong đức tin, trong sự yêu thương, và trong sự nên thánh, thì sẽ nhân đẻ con mà được cứu rỗi. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cầu Nguyện cho Mọi Người'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vậy trước hết, ta khuyên con hãy cầu xin, khẩn nguyện, cầu thay, và cảm tạ cho mọi người, 2 cho các vua và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta có thể sống một đời bình tịnh và êm ả, trong nếp sống đạo vẹn toàn và đầy phẩm giá.  3 Ðây là điều tốt đẹp và vui lòng trước mặt Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của chúng ta; 4 Ngài muốn mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Vì chỉ có một Ðức Chúa Trời và một Ðấng Trung Gian giữa Ðức Chúa Trời và loài người, đó là Ðức Chúa Jesus Christ, một người, 6 Ðấng đã hiến chính Ngài làm giá chuộc mọi người, một sự kiện được xác chứng là đã xảy ra đúng thời điểm.  7 Vì sự kiện đó mà ta đã được bổ nhiệm làm giảng sư và sứ đồ –ta nói thật, chứ không nói dối– tức làm giáo sư để dạy các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nam Nữ Trong Hội Thánh Khi Nhóm Lại Thờ Phượng Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Vậy ta muốn quý ông hãy cầu nguyện ở mọi nơi, đưa đôi tay thánh sạch lên, đừng giận dữ và cãi nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Quý bà cũng vậy, hãy ăn mặc lịch sự, trang sức thanh nhã và giản dị, không bới những kiểu tóc cầu kỳ, không đeo vàng ngọc đắt giá, hoặc mặc những y phục đắt tiền, 10 nhưng làm những việc từ thiện, đó là những điều thích hợp với các phụ nữ xưng mình là người tin kính Ðức Chúa Trời.  11 Phụ nữ hãy học trong yên lặng và thuận phục hoàn toàn.  12 Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ hay cầm quyền trên đàn ông, nhưng phải yên lặng, 13 vì A-đam được dựng nên trước rồi mới đến Ê-va; 14 và không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người đàn bà bị lừa gạt và phạm tội.  15 Tuy vậy đàn bà sẽ được cứu qua việc sinh con, nếu họ cứ tiếp tục ở trong đức tin, tình yêu, và thánh khiết, với sự điềm đạm.       &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 1]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Nh%C3%A3_Ca:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35658</id>
		<title>Nhã Ca: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Nh%C3%A3_Ca:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35658"/>
		<updated>2026-02-11T21:19:01Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Tôi là đóa hồng của Sa-rôn, là đóa huệ của các thung lũng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Người yêu của tôi giữa các thiếu nữ, như đóa huệ giữa những bụi gai. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Người yêu của tôi giữa những chàng trai, giống như cây táo giữa những cây rừng. Tôi vui thích được ngồi dưới bóng của chàng, và trái của chàng ngọt ngào vị giác của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Chàng đưa tôi vào đại yến sảnh, và kỳ hiệu vẫy trên tôi là ái tình. 5. Chàng bồi bổ tôi bằng những bánh nho, hồi phục tôi bằng những trái táo, bởi vì tôi bệnh tương tư. 6. Tay trái chàng kê dưới đầu tôi, &lt;br /&gt;
còn tay phải chàng ôm lấy tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Các thiếu nữ Giê-ru-sa-lem! Tôi van xin các cô. Vì những hoàng dương và nai đồng nội, xin đừng khuấy động, xin đừng đánh thức ái tình cho đến khi thỏa nguyện.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Kìa! Tiếng của người yêu tôi. Chàng đang đến, chàng nhảy qua các núi, vượt qua những đồi. 9. Người yêu của tôi như con hoàng dương, hay là chú nai tơ. Kìa, chàng đứng sau bức tường của chúng tôi, nhìn ngang qua cửa sổ, ngó qua các chấn song.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Người yêu của tôi lên tiếng và nói với tôi: “Người yêu của anh! Hãy chổi dậy với anh. Người đẹp của anh! Hãy đến, rồi cùng đi. 11. Vì mùa đông đã qua, mưa đã dứt, 12. hoa xuất hiện trên đất. Mùa ca hát đã đến, tiếng chim bồ câu vang dậy khắp quê nhà. 13. Cây vả đang trổ những trái xanh, các cành nho ra nụ tỏa ngát hương.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của anh! Hãy đứng lên! Hãy trỗi dậy! Người đẹp của anh! Hãy đến, rồi cùng đi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Bồ câu của anh! Nép trong khe đá, ẩn bên vách núi. Hãy cho anh được nhìn gương mặt của em, và cho anh nghe giọng của em; vì giọng của em ngọt dịu, và gương mặt của em yêu kiều. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Xin bắt giùm chúng tôi những con chồn, những con chồn nhỏ phá hoại những cành nho; bởi vì những cành nho của chúng tôi đang ra nụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Người yêu của tôi thuộc về tôi, và tôi thuộc về chàng. Chàng đang ăn giữa những hoa huệ, 17.	 cho tới khi hừng đông đến, và bóng tối tan đi. Người yêu của tôi - đối với tôi - như một con hoàng dương, hay là một chú nai tơ trên những ngọn núi tại Bê-thẹt. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cô Gái'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi là đóa hồng của Sa-rôn, là đóa huệ của các thung lũng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chàng Trai'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của tôi ở giữa những thiếu nữ,&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như đóa huệ giữa những bụi gai.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cô Gái'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của tôi ở giữa những chàng trai,&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như cây táo giữa những cây rừng.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi vui thích được ngồi dưới bóng của chàng,&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
và trái của chàng ngọt ngào cho vị giác của tôi.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cô Gái Nói Với Các Bạn'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chàng đưa tôi vào dinh đại yến,&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và niềm kiêu hãnh của chàng cho tôi là tình yêu&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bồi bổ tôi bằng những bánh nho,&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hồi phục tôi bằng những trái táo;&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì tôi bệnh tương tư.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tay trái chàng kê dưới đầu tôi,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Còn tay phải chàng ôm lấy tôi.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các thiếu nữ Giê-ru-sa-lem! Tôi van các cô,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì những hoàng dương và nai đồng nội,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin đừng khuấy động, đừng đánh thức ái tình&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cho đến khi thỏa nguyện.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kìa! Tiếng của người yêu tôi.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chàng đến,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhảy qua các núi,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vượt qua những đồi.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của tôi như hoàng dương,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hoặc chú nai tơ.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kìa, chàng đứng sau bức tường của chúng tôi,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhìn ngang qua cửa sổ,&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngó qua các chấn song.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của tôi lên tiếng và nói với tôi:&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Người yêu của anh,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy chổi dậy với anh &amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người đẹp của anh,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy đến, rồi đi.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì mùa đông đã qua,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mưa đã dứt;&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hoa xuất hiện trên đất;&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mùa ca hát đã đến,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và tiếng chim bồ câu vang dậy khắp quê mình.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cây vả đang trổ những trái xanh,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các cành nho ra nụ tỏa ngát hương.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của anh!&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy đứng lên! Hãy chỗi dậy!&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người đẹp của anh!&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy đến, rồi đi.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chàng Trai'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bồ câu của anh!&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong khe đá,&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ẩn bên vách núi,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy cho anh được nhìn gương mặt của em,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và cho anh nghe giọng của em;&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì giọng của em ngọt dịu,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và gương mặt em yêu kiều.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Các Anh Của Cô Gái'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin bắt giùm chúng tôi những con chồn,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những con chồn nhỏ&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phá hoại những cành nho;&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì những cành nho của chúng tôi đang ra nụ.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cô Gái'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của tôi thuộc về tôi,&amp;lt;br/&amp;gt;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và tôi thuộc về chàng;&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chàng cho ăn giữa những hoa huệ.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cho tới khi hừng đông đến,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và bóng tối tan đi.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của tôi - đối với tôi - như con hoàng dương,&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hay là chú nai tơ trên những ngọn núi tại Bê-thẹt.&amp;lt;br/&amp;gt; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ta là hoa tường vi của Sa-rôn, Bông huệ của trũng.&amp;lt;br/&amp;gt;2.  Bạn tình ta ở giữa đám con gái Như bông huệ ở giữa gai gốc.&amp;lt;br/&amp;gt;3.  Lương nhân tôi ở giữa đám con trai Như cây bình bát ở giữa những cây rừng. Tôi vui lòng ngồi dưới bóng người; Trái người ngọt ngào cho ổ gà tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;4.  Người đưa tôi vào phòng yến tiệc, Ngọn cờ người phất trên tôi ấy là ái tình.&amp;lt;br/&amp;gt;5.  Hãy lấy bánh nho nâng đỡ lòng tôi; Dùng trái bình bát bổ sức tôi lại; Vì tôi có bịnh bởi ái tình.&amp;lt;br/&amp;gt;6.  Tay tả người kê dưới đầu tôi, Còn tay hữu người ôm lấy tôi.&amp;lt;br/&amp;gt;7.  Hỡi các con gái Giê-ru-sa-lem, ta ép nài các ngươi Bởi những con hoàng dương hay là con nai đồng nội, Chớ kinh động, chớ làm tỉnh thức ái tình ta Cho đến khi nó muốn.&amp;lt;br/&amp;gt;8.  Ấy là tiếng của lương nhân tôi! Kìa, người đến, nhảy qua các núi, Vượt qua các gò.&amp;lt;br/&amp;gt;9.  Lương nhân tôi giống như con hoàng dương hay là con nai tơ. Kìa, người đứng sau tường chúng tôi, Xem ngang qua cửa sổ, Ngó ngang qua chấn song.&amp;lt;br/&amp;gt;10.  Lương nhân tôi nói chuyện với tôi rằng: Hỡi bạn tình ta, người đẹp của ta ơi, hãy chổi dậy và đến.&amp;lt;br/&amp;gt;11.  Vì kìa, mùa đông đã qua, Mưa đã dứt hết rồi;&amp;lt;br/&amp;gt;12.  Bóng hoa nở ra trên đất; Mùa hát xướng đã đến nơi, Và tiếng chim cu nghe trong xứ;&amp;lt;br/&amp;gt;13.  Cây vả đang chín trái xanh tươi của nó, Và nho trổ hoa nức mùi hương. Hỡi bạn tình ta, người đẹp của ta ơi, hãy chổi dậy và đến.&amp;lt;br/&amp;gt;14.  Hỡi chim bò câu ta trong hóc đá, Tại chốn đụt của nơi hê hẩm, Hãy tỏ cho ta xem mặt mũi mình, Cho ta nghe tiếng mình; Vì tiếng mình êm dịu. mặt mũi mình có duyên.&amp;lt;br/&amp;gt;15.  Hãy bắt cho chúng tôi những con chồn, Những con chồn nhỏ phá hại vườn nho; Vì vườn nho chúng tôi đang trổ bông.&amp;lt;br/&amp;gt;16.  Lương nhân tôi thuộc về tôi, và tôi thuộc về người; Người chăn bầy mình giữa đám bông huệ,&amp;lt;br/&amp;gt;17.  Cho đến hừng đông lố ra, Và bóng tối tan đi. Hỡi lương nhân tôi, hãy trở về, Khá giống như con hoàng dương hay là con nai tơ Trên hòn núi Bê-thẹt.&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B22\V02B22C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Nàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Tôi là đóa hoa hồng của Sa-rôn,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Là hoa huệ trong các thung lũng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Như đóa hoa huệ ở giữa những gai góc thể nào,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của tôi ở giữa các thiếu nữ cũng như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Như cây táo ở giữa những cây rừng thể nào,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người yêu của tôi ở giữa các chàng trai cũng như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi yêu thích được ngồi dưới bóng mát của chàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trái của chàng làm ngọt lịm miệng tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Chàng đưa tôi vào phòng tiệc;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Băng biểu ngữ của chàng trên tôi là tình yêu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Hãy cho tôi những trái nho khô để bổ sức tôi lại,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy cho tôi những trái táo tươi để tôi được bồi dưỡng lại,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi tôi đang kiệt lực vì yêu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Tay trái chàng để dưới đầu tôi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Còn tay phải chàng ôm tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Hỡi các thiếu nữ ở Giê-ru-sa-lem, tôi nài xin các chị:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy quan sát những linh dương và những nai tơ trong đồng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mà đừng khơi dậy hay đánh thức ái tình cho đến khi nó muốn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Tán Tụng Yêu Ðương Khi Mùa Xuân Ðến'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Hãy lắng nghe!  Tiếng của người yêu tôi đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xem kìa!  Chàng đang đến,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vượt qua các rặng núi, băng qua các ngọn đồi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Người yêu của tôi như một con linh dương, như một chú nai tơ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kìa, chàng đang đứng sau tường của chúng tôi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chàng đang nhìn qua cửa sổ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ sau các chấn song, chàng đang đưa mắt nhìn tôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Người yêu của tôi cất tiếng nói, chàng bảo tôi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Dậy đi em, người yêu của anh, người đẹp của anh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy ra đây với anh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Vì kìa, mùa đông đã qua rồi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mưa đã tạnh và đã dứt hẳn rồi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Hoa tươi đang nở rộ khắp nơi trên đất,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mùa ca hát đã đến,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tiếng chim gáy đã trỗi lên trong khắp xứ chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Cây vả đang ra trái non,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hoa nho đang tỏa mùi thơm ngát.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dậy đi em, người yêu của anh, người đẹp của anh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy ra đây với anh.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Hỡi bồ câu của anh trong hốc đá,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong hốc nhỏ giữa lưng chừng vách núi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy cho anh trông thấy mặt em,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin cho anh nghe tiếng nói của em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì tiếng em ngọt ngào,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và mặt em xinh đẹp đáng yêu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Hãy bắt giùm chúng tôi mấy con chồn,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mấy con chồn nhỏ phá hoại vườn nho.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vườn nho của chúng tôi đang trổ hoa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Người yêu của tôi là của tôi, và tôi là của chàng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chàng cho bầy chiên của chàng ăn cỏ giữa đám hoa huệ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Trước khi bình minh đến và bóng tối biến đi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy quay lại với em, anh yêu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy như con linh dương hay như con nai tơ trên gành núi lởm chởm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Nhã Ca]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_33&amp;diff=35657</id>
		<title>Giê-rê-mi: Chương 33</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_33&amp;diff=35657"/>
		<updated>2026-02-11T02:18:22Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đó, có lời của Đức Giê-hô-va đến với Giê-rê-mi lần thứ hai trong khi ông bị giam trong sân của vệ binh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Đức Giê-hô-va là Đấng đã làm nên việc nầy. Đức Giê-hô-va là Đấng đã hình thành và thiết lập việc nầy, danh Ngài là Đức Giê-hô-va, đã phán: 3. Hãy kêu cầu Ta, Ta sẽ trả lời. Ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và diệu kỳ, là những việc ngươi chưa từng biết. 4. Bởi vì đây là điều mà Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã phán về những ngôi nhà trong thành nầy và những cung điện của vua Giu-đa đã bị triệt hạ vì chống lại việc đắp đồn vây hãm và gươm đao. 5. Khi giao chiến với người Canh-đê, những ngôi nhà nầy sẽ đầy xác của những kẻ mà Ta đã giết trong cơn nóng giận và thịnh nộ của Ta, bởi vì tất cả những sự gian ác của thành nầy đã khiến Ta ngoảnh mặt khỏi nó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Nầy, Ta sẽ đem đến cho nó sự phục hồi và chữa lành. Ta sẽ chữa lành cho chúng và bày tỏ cho chúng sự hòa bình thịnh vượng và ổn định. 7. Ta sẽ đem những kẻ lưu đày của Giu-đa và Y-sơ-ra-ên trở về, rồi tái lập chúng như thuở ban đầu. 8. Ta sẽ thanh tẩy tất cả những việc gian ác mà chúng đã phạm cùng Ta. Ta sẽ tha thứ tất cả những việc gian ác mà chúng đã làm để chống lại Ta. 9. Nó sẽ đem lại cho Ta danh tiếng, sự vui mừng, ca ngợi, và vinh quang trước mặt tất cả các dân tộc trên trái đất.  Những người nào nghe về tất cả những phước hạnh mà Ta đã ban cho chúng, họ sẽ khiếp sợ và kinh ngạc trước tất cả những phước hạnh và tất cả sự hòa bình thịnh vượng mà Ta ban cho nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Đây là nơi mà các ngươi đã nói “Đó là một nơi hoang vu, không còn có người, cũng không có loài thú”, thì các thành của Giu-đa và các đường phố của Giê-ru-sa-lem - tức là những nơi đã bị hoang vu không có người, không có dân cư, cũng không có loài thú - sẽ huyên náo trở lại, 11. sẽ có tiếng reo mừng, tiếng hân hoan, tiếng của chàng rể, tiếng của cô dâu, tiếng hát của những người đem tế lễ tạ ơn vào trong nhà của Đức Giê-hô-va, rằng: &amp;quot;Hãy tôn ngợi Đức Giê-hô-va của các đạo quân, vì Đức Giê-hô-va thật tốt lành và tình thương của Ngài còn đến đời đời.&amp;quot; Bởi vì Ta sẽ đem những kẻ lưu đày trở về xứ sở như lúc ban đầu. Đức Giê-hô-va phán vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Tại nơi hoang vu nầy, là nơi không có người hay thú vật, thì trong mọi thành của nó sẽ có chỗ cho người chăn chiên và bầy súc vật nằm nghỉ. 13. Trong các thành ở miền núi, các thành ở Sơ-phê-la, các thành ở miền Nam, trong đất Bên-gia-min, trong các làng phụ cận của Giê-ru-sa-lem, và trong các thành của Giu-đa, những bầy chiên sẽ lại đi qua dưới bàn tay của người đếm chúng. Đức Giê-hô-va phán vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, trong những ngày đến, Ta sẽ hoàn thành điều tốt lành mà Ta đã hứa với nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa. 15. Trong những ngày đó, vào đúng thời điểm, Ta sẽ khiến một Nhánh công chính đâm chồi từ dòng Đa-vít. Người sẽ thực thi sự công lý và chính trực trên đất. 16. Trong những ngày đó, Giu-đa sẽ được giải cứu và Giê-ru-sa-lem sẽ sống an bình. Thành sẽ mang tên là: &amp;quot;Đức Giê-hô-va, sự công chính của chúng tôi.&amp;quot; 17. Vì đây là điều Đức Giê-hô-va phán: Đa-vít sẽ không thiếu người ngự trên ngôi của nhà Y-sơ-ra-ên. 18. Các tư tế thuộc dòng Lê-vi cũng không bao giờ thiếu người đứng trước mặt Ta để dâng tế lễ thiêu, đốt tế lễ chay, và dâng sinh tế hằng ngày.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi: 20. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nếu các ngươi có thể phá vỡ giao ước của Ta với ban ngày và giao ước của Ta với ban đêm, để chúng không đến đúng chu kỳ của ngày và đêm, 21. thì giao ước của Ta với Ða-vít, là tôi tớ của Ta, sẽ không có con cháu trị vì trên ngôi của nó, và với các tư tế và dòng Lê-vi, là những người phục vụ Ta, có thể bị phá bỏ. 22. Không ai có thể đếm được số lượng các tinh tú ở trên trời hay đo lường cát của biển. Ta cũng sẽ làm cho con cháu của Đa-vít, là tôi tớ của ta, và con cháu của Lê-vi, người phục vụ Ta, gia tăng như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi: 24. Ngươi không thấy những người nầy đã nói: &amp;quot;Hai gia tộc mà Đức Giê-hô-va đã chọn, Ngài đã bỏ họ rồi.&amp;quot; Vì vậy, chúng khinh bỉ dân của Ta, và chúng không xem họ là một dân nữa. 25. Đức Giê-hô-va phán: Nếu Ta không lập giao ước với ngày và đêm, và không chỉ định luật lệ cho trời và đất, 26. thì Ta sẽ từ bỏ dòng dõi của Gia-cốp và Đa-vít, là đầy tớ của Ta, và sẽ không chọn một ai trong dòng dõi của người để cai trị dòng dõi của Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Bởi vì Ta sẽ đem những kẻ lưu đày trở về và sẽ thương xót chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Trong khi Giê-rê-mi còn bị giam trong hành lang lính canh, thì có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng người lần thứ hai rằng: 2.  Đức Giê-hô-va là Đấng làm nên sự nầy, Đức Giê-hô-va là Đấng tạo và lập sự nầy, danh Ngài là Giê-hô-va, phán như vầy: 3.  Hãy kêu cầu ta, ta sẽ trả lời cho; ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Về nhà cửa của thành nầy và cung điện của vua Giu-đa, mà người ta đã phá đi để ngự lại đồn lũy và gươm dao của giặc, thì Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: 5.  Khi đi đánh cùng người Canh-đê, nhà cửa nầy sẽ đầy dẫy xác chết của những người mà ta đã giết trong cơn giận và thạnh nộ của ta; ấy là vì cớ dân nầy hung ác mà ta đã lánh mặt khỏi thành đó. 6.  Nầy, ta sẽ ban sức mạnh cho nó, và chữa lành; ta sẽ chữa lành chúng nó, sẽ tỏ cho chúng nó thấy dư dật sự bình an và lẽ thật. 7.  Ta sẽ khiến những phu tù Giu-đa và phu tù Y-sơ-ra-ên trở về; gây dựng lại chúng nó như hồi trước. 8.  Ta sẽ làm cho sạch mọi sự gian ác chúng nó đã phạm nghịch cùng ta; ta sẽ tha mọi sự gian ác chúng nó đã phạm nghịch cùng ta, và đã phạm pháp nghịch cùng ta. 9.  Thành nầy sẽ có danh vui vẻ, ngợi khen, vinh hiển cho ta ở trước mặt mọi dân thiên hạ; họ sẽ nghe mọi sự lành ta làm cho chúng nó, thì đều sợ hãi và run rẩy về mọi phước lành cùng mọi sự bình an mà ta sẽ ban cho chúng nó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Đức Giê-hô-va phán như vầy: Trong chốn nầy là nơi các ngươi nói: Ấy là một nơi hoang vu; không còn có loài người, cũng không có loài thú; trong các thành của Giu-đa và các đường phố Giê-ru-sa-lem, tức những nơi đã bị hoang vu, không người, không dân ở, cũng không loài thú, 11.  thì người ta sẽ còn nghe tiếng kêu vui và reo mừng, tiếng của rể mới và dâu mới, tiếng của những kẻ nói rằng: Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va vạn quân, vì Đức Giê-hô-va là nhân lành, sự nhân từ của Ngài còn đời đời! và của những kẻ đến dâng của lễ tạ ơn trong nhà Đức Giê-hô-va. Vì ta sẽ khiến những phu tù của đất nầy trở về, làm cho như trước, Đức Giê-hô-va đã phán. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Trong chỗ nầy là chỗ bị hoang vu, không có loài người nữa, cũng không có loài thú, và trong mọi thành nó, lại sẽ có những gia cư của kẻ chăn chiên khiến bầy mình nằm nghỉ. 13.  Trong những thành miền núi và những thành đồng bằng, trong những thành phương nam, trong đất Bên-gia-min, trong các nơi chung quanh Giê-ru-sa-lem và trong các thành Giu-đa, những bầy sẽ lại qua dưới tay kẻ đếm, Đức Giê-hô-va phán vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Đức Giê-hô-va lại phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ làm ứng nghiệm lời tốt lành mà ta đã phán về nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa. 15.  Trong những ngày ấy và kỳ đó ta sẽ khiến nẩy lên một Nhánh của sự công bình cho Đa-vít; Đấng ấy sẽ làm ra sự công bình chánh trực trong đất nầy. 16.  Trong những ngày đó, Giu-đa sẽ được cứu; Giê-ru-sa-lem sẽ ở an ổn; danh nó sẽ được xưng rằng: Đức Giê-hô-va, sự công bình chúng ta. 17.  Vả, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Đa-vít sẽ chẳng thiếu một người nam để ngồi trên ngai nhà Y-sơ-ra-ên; 18.  các thầy tế lễ, tức là người Lê-vi, sẽ cũng không thiếu một người trước mặt ta để dâng của lễ thiêu, đốt của lễ chay, và dâng của lễ hằng ngày. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19.  Có lời Đức Giê-hô-va lại phán cho Giê-rê-mi rằng: 20.  Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu các ngươi có thể phá giao ước ban ngày của ta và giao ước ban đêm của ta, đến nỗi chẳng có ngày và đêm trong kỳ nó nữa, 21.  thì mới có thể phá giao ước của ta với Đa-vít, tôi tớ ta, mà người sẽ không có con cháu trị vì trên ngai mình nữa, và phá giao ước ta với các thầy tế lễ, tức người Lê-vi, kẻ hầu việc ta. 22.  Người ta không thể đếm được cơ binh trên trời, và lường cát dưới biển: ta cũng sẽ ban cho Đa-vít, tôi tớ ta, và cho người Lê-vi hầu việc ta, được dòng dõi đông nhiều như vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23.  Có lời của Đức Giê-hô-va lại phán cho Giê-rê-mi như vầy: 24.  Ngươi há chẳng xét dân nầy nói hay sao? Chúng nó nói: Hai họ mà Đức Giê-hô-va đã kén chọn, thì Ngài bỏ rồi. Như vậy, chúng nó khinh dể dân ta, coi dân nầy chẳng thành một nước nữa! 25.  Nhưng, nầy là lời Đức Giê-hô-va phán: Nếu giao ước của ta về ngày và đêm chẳng đứng, và nếu ta đã chẳng định luật phép cho trời và đất, 26.  thì cũng vậy, ta sẽ bỏ dòng dõi của Gia-cốp và dòng dõi của Đa-vít, tôi tớ ta, đến nỗi ta sẽ chẳng lấy trong vòng dòng dõi người những kẻ cai trị dòng dõi của Áp-ra-ham, của Y-sác, và của Gia-cốp. Vì ta sẽ đem những phu tù trở về, và thương xót chúng nó. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B24\V02B24C033.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Ðược Chữa Lành Sau Khi Bị Sửa Phạt'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Lời của CHÚA đến với Giê-rê-mi lần thứ hai đang khi ông bị giam trong doanh trại các vệ binh.  2 “CHÚA, Ðấng đã dựng nên trái đất, hình thành nó, và lập vững nó, danh Ngài là CHÚA, phán thế này, 3 ‘Hãy kêu cầu Ta, Ta sẽ trả lời ngươi.  Ta sẽ tỏ cho ngươi những việc lớn và khó, là những việc ngươi chưa từng biết.’  4 Vì CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này về các căn nhà trong thành này và các cung điện của các vua Giu-đa đã bị phá ra để làm công sự phòng thủ nhằm đối phó với những ụ đất để tấn công thành và với gươm giáo, 5 ‘Quân Canh-đê sẽ đánh vào và làm cho những nơi ấy đầy những tử thi của những kẻ Ta sẽ đánh hạ trong cơn giận và cơn thịnh nộ của Ta, vì mọi điều gian ác của chúng.  Ta sẽ ngoảnh mặt Ta khỏi thành này.  6 Này, Ta sẽ làm cho nó được phục hồi và chữa lành cho nó.   Ta sẽ chữa lành cho chúng và cho chúng hưởng hòa bình thịnh vượng và yên ổn lâu dài.  7 Ta sẽ tái lập vận mạng của Giu-đa và vận mạng của I-sơ-ra-ên, và xây dựng chúng lại như trước.  8 Ta sẽ tẩy sạch khỏi chúng mọi mặc cảm tội lỗi đối với Ta.  Ta sẽ tha thứ chúng về mọi tội mà chúng đã phạm và đã phản nghịch Ta.  9 Rồi thành này sẽ trở thành một danh tiêu biểu cho sự vui vẻ, khen ngợi, và vinh hiển trước mọi dân trên đất, là những kẻ sẽ nghe về mọi phước hạnh Ta làm cho chúng.  Bấy giờ chúng sẽ kính sợ và run rẩy vì mọi phước hạnh và hòa bình thịnh vượng Ta làm cho thành này.’” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 CHÚA phán thế này, “Tại nơi này, nơi các ngươi đã từng nói, ‘Ðó chỉ là nơi hoang vắng điêu tàn, không một bóng người và thú vật.’  Các thành của Giu-đa và các đường phố ở Giê-ru-sa-lem vốn thật hoang vắng, chẳng có ai ở, dù là người ta hay thú vật, rồi đây người ta sẽ lại được nghe 11 những tiếng ca hát vui mừng và những lời hát ca vui vẻ, tiếng của chàng rể và tiếng của nàng dâu, tiếng của những người trỗi giọng hoan ca khi họ mang các của lễ tạ ơn tiến về nhà CHÚA:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
‘Hãy dâng lòng biết ơn lên CHÚA các đạo quân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì CHÚA thật tốt,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì tình thương của Ngài còn đến đời đời!’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ta sẽ tái lập vận mạng của xứ này như thuở ban đầu,” CHÚA phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 CHÚA các đạo quân phán, “Tại xứ này, nơi hoang vắng điêu tàn, nơi không một bóng người và thú vật, rồi đây quanh các thành của nó sẽ có đồng cỏ, để những kẻ chăn chiên sẽ cho các đàn chiên của chúng nghỉ ngơi.  13 Trong các thành trên cao nguyên, trong các thung lũng, trong miền nam, trong đất của Bên-gia-min, trong những vùng chung quanh Giê-ru-sa-lem, và trong các thành của Giu-đa, các đàn chiên lại sẽ đi qua dưới tay của những kẻ đếm chúng,” CHÚA phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nhánh Công Chính và Giao Ước với Ða-vít'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 CHÚA phán,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Này, những ngày đến Ta sẽ làm ứng nghiệm lời hứa tốt đẹp Ta đã hứa với nhà I-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Trong những ngày ấy và đến lúc đó,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta sẽ làm cho một Nhánh Công Chính mọc ra từ dòng dõi của Ða-vít,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và Người sẽ thi hành công lý và chính trực trong xứ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Trong những ngày ấy Giu-đa sẽ được giải cứu,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và Giê-ru-sa-lem sẽ sống an toàn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðây là tên người ta sẽ gọi thành ấy, ‘CHÚA Là Ðấng Công Chính của Chúng Ta.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Vì CHÚA phán thế này, “Ða-vít sẽ không bao giờ thiếu một người ngồi trên ngai của nhà I-sơ-ra-ên.  18 Các tư tế dòng Lê-vi cũng không bao giờ thiếu người đứng trước mặt Ta để dâng của lễ thiêu, thiêu dâng của lễ chay, và dâng sinh tế hằng ngày.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Lời của CHÚA đến với Giê-rê-mi: 20 CHÚA phán thế này, “Nếu các ngươi có thể phá bỏ được giao ước của Ta với ngày và giao ước của Ta với đêm, đến nỗi ngày và đêm không đến đúng kỳ của chúng nữa, 21 thì giao ước của Ta với Ða-vít tôi tớ Ta, và giao ước của Ta với các tư tế dòng Lê-vi phục vụ trước mặt Ta có thể bị phá bỏ, tức Ða-vít sẽ không có con cháu nối dõi để ngồi trên ngai của nó.  22 Ta sẽ làm cho dòng dõi của Ða-vít tôi tớ Ta và cho con cháu của Lê-vi những kẻ phục vụ trước mặt Ta đông như sao trên trời không sao đếm được, và nhiều như cát bờ biển không thể kể xiết.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Lời của CHÚA đến với Giê-rê-mi: 24 “Ngươi không thấy sao?  Các dân ngoại nói rằng, ‘Hai vương quốc mà CHÚA đã chọn, bây giờ Ngài đã bỏ họ rồi.’  Vì thế chúng khinh bỉ dân Ta, và chúng chẳng coi dân ấy là một dân nữa.”  25 CHÚA phán thế này, “Nếu Ta không lập giao ước của Ta với ngày và đêm, nếu Ta không đặt các định luật cho trời và đất, 26 thì Ta sẽ loại bỏ dòng dõi của Gia-cốp và Ða-vít tôi tớ Ta, mà không chọn một người trong các con cháu của Ða-vít để cai trị dòng dõi của Áp-ra-ham, I-sác, và Gia-cốp; vì Ta sẽ tái lập vận mạng của chúng, và Ta sẽ thương xót chúng.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Ê-sai]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 32]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 34]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35656</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35656"/>
		<updated>2026-02-11T00:04:05Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, trước hết, ta kêu gọi hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, là một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này mà ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng, làm sứ đồ, và giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, 10. nhưng hãy thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hoặc cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt rồi đi đến sự phạm tội. 15. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Kêu gọi cầu nguyện'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, trước hết, ta khuyên con nên nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta, là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. Ngài đã hiến chính mình Ngài để làm giá chuộc cho tất cả nhân loại - một sự xác nhận đúng thời điểm. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này ta đã được bổ nhiệm làm nhà truyền giảng, làm sứ đồ, làm giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp mọi nơi hãy đưa những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện - đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Hướng dẫn cho phụ nữ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. Tuy nhiên, ta không cho phép phụ nữ dạy, hoặc cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt và đi đến sự phạm tội. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, trước hết, ta kêu gọi hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người đang có thẩm quyền, để chúng ta có được một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Vì điều này, ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng và sứ đồ  - Ta nói thật, không nói dối -  làm giáo sư cho các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người đàn ông ở khắp mọi nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng cách kết tóc, hay vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, 10. nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời, qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hay cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt đi đến sự phạm tội. 15. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống trong đức tin, trong tình yêu thương, trong sự thánh khiết, và với sự tiết chế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, 2.  cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhân đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. 3.  Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, 4.  Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật. 5.  Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người; 6.  Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ 7.  (ta nói thật, không nói dối), vì lời chứng ấy, ta đã được cử làm thầy giảng, là sứ đồ và giáo sư cho dân ngoại, để dạy họ về đức tin và về lẽ thật. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vậy, ta muốn những người đàn ông đều giơ tay thánh sạch lên trời, mà cầu nguyện khắp mọi nơi, chớ có giận dữ và cãi cọ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Ta cũng muốn rằng những người đàn bà ăn mặc một cách gọn ghẽ, lấy nết na và đức hạnh giồi mình, không dùng những tóc gióc, vàng, châu ngọc và áo quần quí giá, 10.  nhưng dùng việc lành, theo lẽ đang nhiên của người đàn bà tin kính Chúa. 11.  Đàn bà phải yên lặng mà nghe dạy, lại phải vâng phục mọi đàng. 12.  Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ, cũng không được cầm quyền trên đàn ông; nhưng phải ở yên lặng. 13.  Vì A-đam được dựng nên trước nhất, rồi mới tới Ê-va. 14.  Lại không phải A-đam bị dỗ dành, bèn là người đàn bà bị dỗ dành mà sa vào tội lỗi. 15.  Dầu vậy, nếu đàn bà lấy đức hạnh mà bền đỗ trong đức tin, trong sự yêu thương, và trong sự nên thánh, thì sẽ nhân đẻ con mà được cứu rỗi. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cầu Nguyện cho Mọi Người'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vậy trước hết, ta khuyên con hãy cầu xin, khẩn nguyện, cầu thay, và cảm tạ cho mọi người, 2 cho các vua và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta có thể sống một đời bình tịnh và êm ả, trong nếp sống đạo vẹn toàn và đầy phẩm giá.  3 Ðây là điều tốt đẹp và vui lòng trước mặt Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của chúng ta; 4 Ngài muốn mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Vì chỉ có một Ðức Chúa Trời và một Ðấng Trung Gian giữa Ðức Chúa Trời và loài người, đó là Ðức Chúa Jesus Christ, một người, 6 Ðấng đã hiến chính Ngài làm giá chuộc mọi người, một sự kiện được xác chứng là đã xảy ra đúng thời điểm.  7 Vì sự kiện đó mà ta đã được bổ nhiệm làm giảng sư và sứ đồ –ta nói thật, chứ không nói dối– tức làm giáo sư để dạy các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nam Nữ Trong Hội Thánh Khi Nhóm Lại Thờ Phượng Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Vậy ta muốn quý ông hãy cầu nguyện ở mọi nơi, đưa đôi tay thánh sạch lên, đừng giận dữ và cãi nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Quý bà cũng vậy, hãy ăn mặc lịch sự, trang sức thanh nhã và giản dị, không bới những kiểu tóc cầu kỳ, không đeo vàng ngọc đắt giá, hoặc mặc những y phục đắt tiền, 10 nhưng làm những việc từ thiện, đó là những điều thích hợp với các phụ nữ xưng mình là người tin kính Ðức Chúa Trời.  11 Phụ nữ hãy học trong yên lặng và thuận phục hoàn toàn.  12 Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ hay cầm quyền trên đàn ông, nhưng phải yên lặng, 13 vì A-đam được dựng nên trước rồi mới đến Ê-va; 14 và không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người đàn bà bị lừa gạt và phạm tội.  15 Tuy vậy đàn bà sẽ được cứu qua việc sinh con, nếu họ cứ tiếp tục ở trong đức tin, tình yêu, và thánh khiết, với sự điềm đạm.       &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 1]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35655</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 2</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_2&amp;diff=35655"/>
		<updated>2026-02-10T23:57:36Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, trước hết, ta kêu gọi hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta được dẫn đến một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, là một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này mà ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng, làm sứ đồ, và giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, 10. nhưng hãy thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hoặc cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt rồi đi đến sự phạm tội. 15. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Kêu gọi cầu nguyện'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, trước hết, ta khuyên con nên nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, cho các vua, cho tất cả những người có thẩm quyền, để chúng ta được dẫn đến một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, là Ðấng Giải Cứu chúng ta, là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. Ngài đã hiến chính mình Ngài để làm giá chuộc cho tất cả nhân loại - một sự xác nhận đúng thời điểm. Ta nói thật, không nói dối:  Chính vì điều này ta đã được bổ nhiệm làm nhà truyền giảng, làm sứ đồ, làm giáo sư cho các dân ngoại để công bố đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, ta muốn những người nam ở khắp mọi nơi hãy đưa những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện - đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Hướng dẫn cho phụ nữ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, hay kết tóc, nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. Tuy nhiên, ta không cho phép phụ nữ dạy, hoặc cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt và đi đến sự phạm tội. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống đoan chính trong đức tin, trong tình yêu thương, và trong sự thánh khiết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì vậy, trước hết, ta kêu gọi hãy nài xin, cầu nguyện, khẩn cầu, và cảm tạ cho mọi người, 2. cho các vua, cho tất cả những người đang có thẩm quyền, để chúng ta được dẫn đến một cuộc sống yên bình với tất cả đạo đức và phẩm giá. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Điều này là tốt đẹp và được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu chúng ta,  4. là Đấng muốn tất cả mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý. 5. Bởi vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, là Đấng Christ Jesus, cũng là người. 6. Ngài đã hiến chính mình làm giá chuộc cho tất cả, một minh chứng đúng vào thời điểm thích hợp. 7. Vì điều này, ta đã được bổ nhiệm làm người truyền giảng và sứ đồ  - Ta nói thật, không nói dối -  làm giáo sư cho các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Vì vậy, ta muốn những người đàn ông ở khắp mọi nơi hãy nâng những cánh tay thánh khiết lên mà cầu nguyện, đừng dính líu vào sự giận dữ và cãi cọ.  9. Các phụ nữ cũng vậy, hãy trang phục đứng đắn, thanh nhã và tiết chế, đừng trang sức mình bằng cách kết tóc, hay vàng, ngọc, hoặc quần áo đắt tiền, 10. nhưng thể hiện phẩm chất của người phụ nữ tin kính Đức Chúa Trời, qua những việc tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Phụ nữ hãy yên lặng học hỏi với tất cả sự thuận phục. 12. Dầu vậy, ta không cho phép phụ nữ dạy, hay cai trị người nam, nhưng hãy yên lặng. 13. Bởi vì A-đam được tạo dựng đầu tiên, rồi mới đến Ê-va; 14. và cũng không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người nữ đã bị lừa gạt đi đến sự phạm tội. 15. Dù vậy, người nữ sẽ được giải cứu trong sự cưu mang con cái, nếu họ cứ tiếp tục sống trong đức tin, trong tình yêu thương, trong sự thánh khiết, và với sự tiết chế.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vậy, trước hết mọi sự ta dặn rằng, phải khẩn nguyện, cầu xin, kêu van, tạ ơn cho mọi người, 2.  cho các vua, cho hết thảy các bậc cầm quyền, để chúng ta được lấy điều nhân đức và thành thật mà ở đời cho bình tịnh yên ổn. 3.  Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, 4.  Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật. 5.  Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người; 6.  Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ 7.  (ta nói thật, không nói dối), vì lời chứng ấy, ta đã được cử làm thầy giảng, là sứ đồ và giáo sư cho dân ngoại, để dạy họ về đức tin và về lẽ thật. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vậy, ta muốn những người đàn ông đều giơ tay thánh sạch lên trời, mà cầu nguyện khắp mọi nơi, chớ có giận dữ và cãi cọ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Ta cũng muốn rằng những người đàn bà ăn mặc một cách gọn ghẽ, lấy nết na và đức hạnh giồi mình, không dùng những tóc gióc, vàng, châu ngọc và áo quần quí giá, 10.  nhưng dùng việc lành, theo lẽ đang nhiên của người đàn bà tin kính Chúa. 11.  Đàn bà phải yên lặng mà nghe dạy, lại phải vâng phục mọi đàng. 12.  Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ, cũng không được cầm quyền trên đàn ông; nhưng phải ở yên lặng. 13.  Vì A-đam được dựng nên trước nhất, rồi mới tới Ê-va. 14.  Lại không phải A-đam bị dỗ dành, bèn là người đàn bà bị dỗ dành mà sa vào tội lỗi. 15.  Dầu vậy, nếu đàn bà lấy đức hạnh mà bền đỗ trong đức tin, trong sự yêu thương, và trong sự nên thánh, thì sẽ nhân đẻ con mà được cứu rỗi. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cầu Nguyện cho Mọi Người'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vậy trước hết, ta khuyên con hãy cầu xin, khẩn nguyện, cầu thay, và cảm tạ cho mọi người, 2 cho các vua và tất cả những người cầm quyền, để chúng ta có thể sống một đời bình tịnh và êm ả, trong nếp sống đạo vẹn toàn và đầy phẩm giá.  3 Ðây là điều tốt đẹp và vui lòng trước mặt Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của chúng ta; 4 Ngài muốn mọi người được cứu và tiến đến sự nhận biết chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Vì chỉ có một Ðức Chúa Trời và một Ðấng Trung Gian giữa Ðức Chúa Trời và loài người, đó là Ðức Chúa Jesus Christ, một người, 6 Ðấng đã hiến chính Ngài làm giá chuộc mọi người, một sự kiện được xác chứng là đã xảy ra đúng thời điểm.  7 Vì sự kiện đó mà ta đã được bổ nhiệm làm giảng sư và sứ đồ –ta nói thật, chứ không nói dối– tức làm giáo sư để dạy các dân ngoại về đức tin và chân lý.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nam Nữ Trong Hội Thánh Khi Nhóm Lại Thờ Phượng Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Vậy ta muốn quý ông hãy cầu nguyện ở mọi nơi, đưa đôi tay thánh sạch lên, đừng giận dữ và cãi nhau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Quý bà cũng vậy, hãy ăn mặc lịch sự, trang sức thanh nhã và giản dị, không bới những kiểu tóc cầu kỳ, không đeo vàng ngọc đắt giá, hoặc mặc những y phục đắt tiền, 10 nhưng làm những việc từ thiện, đó là những điều thích hợp với các phụ nữ xưng mình là người tin kính Ðức Chúa Trời.  11 Phụ nữ hãy học trong yên lặng và thuận phục hoàn toàn.  12 Ta không cho phép đàn bà dạy dỗ hay cầm quyền trên đàn ông, nhưng phải yên lặng, 13 vì A-đam được dựng nên trước rồi mới đến Ê-va; 14 và không phải A-đam bị lừa gạt, nhưng người đàn bà bị lừa gạt và phạm tội.  15 Tuy vậy đàn bà sẽ được cứu qua việc sinh con, nếu họ cứ tiếp tục ở trong đức tin, tình yêu, và thánh khiết, với sự điềm đạm.       &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C002.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 1]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 3]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=%C4%90%E1%BB%92I_G%C3%94-G%C3%94-THA_CH%E1%BB%90N_X%C6%AFA&amp;diff=35654</id>
		<title>ĐỒI GÔ-GÔ-THA CHỐN XƯA</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=%C4%90%E1%BB%92I_G%C3%94-G%C3%94-THA_CH%E1%BB%90N_X%C6%AFA&amp;diff=35654"/>
		<updated>2026-02-06T03:02:20Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Tác Giả==&lt;br /&gt;
*Nguyên tác: Đồi Gô-Gô-Tha Chốn Xưa&lt;br /&gt;
*Nhạc và lời: Đinh Hiền Nhân&lt;br /&gt;
*Tài Liệu:&lt;br /&gt;
==Lời Việt==&lt;br /&gt;
:'''Đồi Gô-Gô-Tha Chốn Xưa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Đồi Gô-gô-tha chốn xưa Chúa mang thập giá nặng&lt;br /&gt;
:Nỗi đau âm thầm mà nào ai thấu chăng?&lt;br /&gt;
:Tội lỗi nhân thế chất trên thân Ngài càng thêm nhiều&lt;br /&gt;
:Bởi yêu thế nhân Giê-xu chịu hy sinh&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Ơn Chúa cao sâu vô đối&lt;br /&gt;
:Tình yêu Chúa quá tuyệt vời&lt;br /&gt;
:Có ai yêu như Giê-xu&lt;br /&gt;
:Ai dám chết thế cho người&lt;br /&gt;
:Thứ tha cho bao tội nhân&lt;br /&gt;
:Xóa hết quá khứ lạc lầm&lt;br /&gt;
:Giúp cho ta luôn bình an bước trên nẻo chánh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Ấy chính Chúa Giê-xu &lt;br /&gt;
:Ngài đã đến cõi thế gian với bao ưu tư nặng mang&lt;br /&gt;
:Tội lỗi khắp chốn ngập tràn&lt;br /&gt;
:Chúng sinh đang trong lầm than&lt;br /&gt;
:Bởi tội loài người Chúa gánh nhục hình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Lạy Chúa Giê-xu lắng nghe con đang kêu khẩn Ngài&lt;br /&gt;
:Giúp ban năng lực để vượt qua khó khăn&lt;br /&gt;
:Nguyện Chúa dẫn dắt sửa sai bao điều con bất toàn&lt;br /&gt;
:Đóng đinh xác thịt con trên thập tự ngay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Ơn Chúa cao sâu vô đối&lt;br /&gt;
:Tình yêu Chúa quá tuyệt vời&lt;br /&gt;
:Có ai yêu như Giê-xu&lt;br /&gt;
:Ai dám chết thế cho người&lt;br /&gt;
:Thứ tha cho bao tội nhân&lt;br /&gt;
:Xóa hết quá khứ lạc lầm&lt;br /&gt;
:Giúp cho ta luôn bình an bước trên nẻo chánh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Ấy chính Chúa Giê-xu &lt;br /&gt;
:Ngài đã đến cõi thế gian với bao ưu tư nặng mang&lt;br /&gt;
:Tội lỗi khắp chốn ngập tràn&lt;br /&gt;
:Chúng sinh đang trong lầm than&lt;br /&gt;
:Bởi tội loài người Chúa gánh nhục hình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:Đồi Gô-gô-tha chốn xưa Chúa mang thập giá nặng&lt;br /&gt;
:Nỗi đau âm thầm mà nào ai thấu chăng?&lt;br /&gt;
:Tội lỗi nhân thế chất trên thân Ngài càng thêm nhiều&lt;br /&gt;
:Bởi yêu thế nhân Giê-xu chịu hy sinh&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
[[Category:Thương Khó-Phục Sinh]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Ca Khúc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TVCHH/mp3/339.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc Đệm==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TVCHH/beat/339.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Nhạc==&lt;br /&gt;
:&amp;lt;pdf width=&amp;quot;400px&amp;quot; height=&amp;quot;600px&amp;quot;&amp;gt;https://wiki.thuvientinlanh.org/ThanhCa/TVCHH/sheet/339.pdf&amp;lt;/pdf&amp;gt;&lt;br /&gt;
==Tài Liệu Tham Khảo==&lt;br /&gt;
* [[Thánh Ca]] – Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
* [[Tôn Vinh Chúa Hằng Hữu]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35653</id>
		<title>I Ti-mô-thê: Chương 1</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Ti-m%C3%B4-th%C3%AA:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35653"/>
		<updated>2026-01-27T17:05:22Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ== &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Phao-lô, là sứ đồ của Đấng Christ Jesus, theo lệnh của Đức Chúa Trời là Đấng Giải Cứu chúng ta, và của Đấng Christ Jesus là hy vọng của chúng ta, 2. gởi cho Ti-mô-thê là con thật của ta trong đức tin: ân điển, thương xót, và sự bình an từ Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha, và từ Đấng Christ Jesus là Chúa của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Lúc ta sắp đi Ma-xê-đoan, ta đã khuyên con hãy ở lại Ê-phê-sô để truyền lệnh cho một số người đừng dạy những tín lý khác, 4. đừng chú tâm vào những chuyện huyền hoặc và những gia phổ bất tận, là những việc gây tranh luận, hơn là chú tâm gây dựng đức tin trong Đức Chúa Trời. 5. Kết cuộc của sự khuyên răn là tình yêu thương - được xuất phát từ một tấm lòng thanh khiết, một lương tâm tốt lành, và một đức tin chân thành. 6. Một số người đã lìa khỏi mục đích đó, chuyển sang những tranh luận vô ích. 7. Họ mong ước được làm những giáo sư về luật, nhưng họ không hiểu lời mình nói, và cũng không quả quyết điều họ đã nêu lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Chúng ta biết luật pháp là tốt, nếu người ta thực hành đúng luật. 9. Hãy biết rằng luật pháp đã được ban hành không phải vì người công chính, nhưng vì những kẻ phạm pháp và bất trị, dành cho những kẻ vô đạo và tội lỗi, cho những kẻ bất khiết, xúc phạm thánh thần, cho những kẻ giết cha, giết mẹ, cho những kẻ giết người, 10. những kẻ dâm đãng vô đạo đức, đồng tính luyến ái, những kẻ buôn người, những kẻ nói dối, những kẻ khai man, và bất kỳ ai chống đối sự dạy dỗ lành mạnh, 11. theo Phúc Âm vinh quang của Đức Chúa Trời đáng tôn ngợi, mà ta đã được ủy nhiệm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Ta cảm tạ Đấng Christ Jesus, là Chúa của chúng ta, đã ban năng lực cho ta. Ngài đã xét ta là trung tín và đã chỉ định ta để phục vụ. 13. Trước kia, ta vốn là một kẻ phạm thượng, đã bách hại và xấc xược; do thiếu hiểu biết, ta đã hành động trong sự vô tín; nhưng ta đã nhận được ơn thương xót. 14. Và rồi ân điển của Chúa chúng ta, cùng với đức tin và tình yêu trong Đấng Christ Jesus, đã được tuôn tràn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Đây là lời đáng tin cậy và có giá trị để được đón nhận hoàn toàn: Đó là Đấng Christ Jesus đã đến trong thế giới để cứu những người có tội; trong những người đó, ta là kẻ đứng đầu. 16. Nhưng nhờ điều này, ta - là kẻ đứng đầu - đã nhận được ơn thương xót, để Đấng Christ Jesus có thể thể hiện đầy đủ sự nhẫn nại của Ngài trong ta, như là một khuôn mẫu cho những ai sẽ tin Ngài để được sự sống đời đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Nguyện vị Vua đời đời, bất tử, vô hình, là Đức Chúa Trời duy nhất, được tôn quý và vinh quang đời đời vô cùng! A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Ti-mô-thê! Con của ta! Ta truyền cho con trách nhiệm nầy, căn cứ theo những lời tiên tri đã có trước con, để nhờ những điều đó con chiến đấu thật tốt, 19. giữ vững đức tin và lương tâm tốt. Một số người đã bị trôi dạt khỏi đức tin cho nên đã bị chìm đắm. 20. Trong số những người đó có Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ, là những người mà ta đã phó cho Sa-tan, để họ có thể bị kỷ luật, không còn phạm thượng nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Chúc Đầu Thư'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phao-lô, là sứ đồ của Đấng Christ Jesus, theo lệnh của Đức Chúa Trời là Đấng Giải Cứu chúng ta, và của Đấng Christ Jesus là niềm hy vọng của chúng ta, gởi cho Ti-mô-thê - là con thật của ta trong đức tin - ân điển, thương xót, bình an từ Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha, và từ Đấng Christ Jesus là Chúa của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Khuyên'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lúc ta sắp đi Ma-xê-đoan, ta đã khuyên con hãy ở lại Ê-phê-sô để truyền lệnh cho một số người đừng dạy những tín lý khác, đừng chú tâm vào những chuyện hoang đường và những phổ hệ bất tận, là những việc gây tranh luận, hơn là chú tâm gây dựng đức tin trong Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mục đích của việc khuyên răn là tình yêu thương, được xuất phát từ một tấm lòng trong sạch, một chủ tâm tốt, và một đức tin chân thành. Một số người đã lìa khỏi mục đích đó, chuyển sang những tranh luận vô ích; mong ước làm những giáo sư về luật, nhưng lại không hiểu lời mình nói, và cũng không thể quả quyết điều họ đã nêu lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng ta biết luật pháp là tốt nếu người ta dùng nó đúng luật. Hãy biết rằng luật pháp đã được ban hành không phải là vì người công chính, nhưng là vì những kẻ phạm pháp và bất trị, những kẻ vô đạo và tội lỗi, cho những kẻ bất khiết và xúc phạm thánh thần, cho những kẻ giết cha, giết mẹ, cho những kẻ giết người, những kẻ dâm đãng vô đạo đức, đồng tính luyến ái, những kẻ buôn người, những kẻ nói dối, những kẻ khai man, và bất kỳ ai chống đối sự dạy dỗ lành mạnh theo Phúc Âm vinh quang của Đức Chúa Trời đáng tôn ngợi mà ta đã được ủy nhiệm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cảm Tạ Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta cảm tạ Đấng Christ Jesus, Chúa của chúng ta, đã ban năng lực cho ta. Ngài đã xét ta là trung tín và đã chỉ định ta để phục vụ. Trước kia ta vốn là một kẻ phạm thượng, bách hại, xấc xược, do thiếu hiểu biết, ta đã hành động trong sự vô tín; nhưng ta đã nhận được ơn thương xót. Và rồi ân điển của Chúa chúng ta, cùng với đức tin và tình yêu trong Đấng Christ Jesus, đã được tuôn tràn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đây là lời đáng tin và đầy giá trị để tiếp nhận: Đó là Đấng Christ Jesus đã đến trong thế giới để cứu những người có tội, và ta là kẻ đứng đầu trong những người đó. Nhưng bởi điều này, ta - kẻ tội lỗi hàng đầu - đã nhận được ơn thương xót, để Đấng Christ Jesus có thể thể hiện đầy đủ sự nhẫn nại của Ngài trong ta - như là một khuôn mẫu cho những ai sẽ tin Ngài để được sự sống đời đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nguyện vị Vua đời đời, bất tử, vô hình – là Đức Chúa Trời duy nhất - được tôn quý và vinh quang đời đời vô cùng! A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Khuyên'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ti-mô-thê! Con của ta! Căn cứ theo những lời tiên tri có trước con, ta truyền cho con trách nhiệm nầy, để nhờ những điều đó con chiến đấu thật tốt, giữ vững đức tin và lương tâm tốt. Một số người bị trôi dạt khỏi đức tin, nên đã bị chìm đắm; trong số những người đó có Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ, là những người ta đã phó cho Sa-tan, để họ có thể bị kỷ luật, không còn phạm thượng nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Phao-lô, sứ đồ của Đấng Christ Jesus, theo lệnh của Đức Chúa Trời, Đấng Giải Cứu chúng ta, và của Đấng Christ Jesus, hy vọng của chúng ta, 2. gởi cho Ti-mô-thê - con thật của ta trong đức tin - ân điển, thương xót, bình an từ Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha, và Đấng Christ Jesus, là Chúa của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Như ta đã khuyên con lúc ta sắp đi Ma-xê-đoan, hãy ở lại Ê-phê-sô để truyền lệnh cho một số người đừng dạy những tín lý khác, 4. đừng chú tâm đến những chuyện hoang đường và những phổ hệ bất tận, là những việc gây tranh luận, hơn là chú tâm gây dựng đức tin trong Đức Chúa Trời. 5. Mục đích của việc khuyên răn là tình yêu thương,  được xuất phát từ một tấm lòng trong sạch, một chủ tâm tốt, và một đức tin chân thành; 6. một số người đã lệch khỏi mục đích đó, chuyển sang những tranh luận vô ích; 7. mong ước làm những giáo sư về luật, nhưng không hiểu lời mình nói, và cũng không quả quyết điều họ đã nêu lên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Chúng ta biết luật pháp là tốt nếu người ta dùng nó đúng luật; 9. hãy biết rằng luật pháp đã được ban hành không phải vì người công chính, nhưng vì những kẻ phạm pháp và bất trị, những kẻ vô đạo và tội lỗi, cho những kẻ bất khiết và xúc phạm thánh thần, cho những kẻ giết cha, giết mẹ, cho những kẻ giết người, 10. những kẻ dâm đãng vô đạo đức, đồng tính luyến ái, những kẻ buôn người, những kẻ nói dối, những kẻ khai man, và bất kỳ ai chống đối sự dạy dỗ lành mạnh, 11. theo Phúc Âm vinh quang của Đức Chúa Trời đáng tôn ngợi, mà ta đã được ủy thác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Ta cảm tạ Đấng Christ Jesus, Chúa của chúng ta, đã ban năng lực cho ta; Ngài đã xét ta là trung tín và đã chỉ định ta để phục vụ; 13. trước kia vốn là một kẻ phạm thượng, bách hại, xấc xược, vì thiếu hiểu biết, ta đã hành động trong sự vô tín; nhưng ta đã nhận ơn thương xót. 14. Và ân điển của Chúa chúng ta, cùng với đức tin và tình yêu trong Đấng Christ Jesus, đã tuôn tràn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Đây là lời đáng tin cậy và giá trị để tiếp nhận hoàn toàn: Đó là Đấng Christ Jesus đã đến trong thế giới để cứu những người có tội; trong những người đó, ta là kẻ đứng đầu. 16. Nhưng bởi điều này ta - là kẻ đứng đầu - đã nhận được ơn thương xót, để Đấng Christ Jesus có thể thể hiện đầy đủ sự nhẫn nại của Ngài trong ta, như là một khuông mẫu cho những ai sẽ tin Ngài để được sự sống đời đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Nguyện vị Vua đời đời, bất tử, vô hình, là Đức Chúa Trời duy nhất, được tôn quý và vinh quang đời đời vô cùng! A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Ti-mô-thê! Con của ta! Ta truyền cho con trách nhiệm nầy, căn cứ theo những lời tiên tri đã có trước con, để nhờ những điều đó con chiến đấu thật tốt, 19. giữ vững đức tin và lương tâm tốt. Một số người bị trôi dạt khỏi đức tin, nên bị chìm đắm; 20. trong số những người đó có Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ, là những người ta đã phó cho Sa-tan, để họ có thể bị kỷ luật, không còn phạm thượng nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Phao-lô, vâng mạng Đức Chúa Trời là Cứu Chúa chúng ta, và vâng mạng Đức Chúa Jêsus Christ là sự trông cậy chúng ta, làm sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, 2.  gởi cho Ti-mô-thê, là con thật của ta trong đức tin: nguyền xin con được ân điển, sự thương xót và sự bình an ban cho bởi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và bởi Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Ta nay nhắc lại mạng lịnh mà ta đã truyền cho con, khi ta đi sang xứ Ma-xê-đoan, con phải ở lại Ê-phê-sô, để răn bảo những người kia đừng truyền dạy một đạo giáo khác, 4.  đừng nghe phù ngôn và gia phổ vô cùng, là những điều gây nên sự cãi lẫy, chớ chẳng bổ sự mở mang công việc của Đức Chúa Trời, là công việc được trọn bởi đức tin. 5.  Mục đích của sự răn bảo, ấy là sự yêu thương, bởi lòng tinh sạch, lương tâm tốt và đức tin thật mà sanh ra. 6.  Có vài kẻ xây bỏ mục đích đó, đi tìm những lời vô ích; 7.  họ muốn làm thầy dạy luật, mà không hiểu điều mình nói hoặc điều mình tự quyết. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vả, chúng ta biết luật pháp vẫn tốt lành cho kẻ dùng ra cách chính đáng, 9.  và biết rõ ràng luật pháp không phải lập ra cho người công bình, bèn là vì những kẻ trái luật pháp, bạn nghịch, vì những kẻ không tin kính, phạm tội, những kẻ vô đạo, nói phạm thánh thần, những kẻ giết cha mẹ, giết người, 10.  vì những kẻ tà dâm, kẻ đắm nam sắc, ăn cướp người, nói dối, thề dối, và vì hết thảy sự trái nghịch với đạo lành. 11.  Ấy đó là điều đạo Tin Lành vinh hiển của Đức Chúa Trời hạnh phước dạy dỗ, mà sự truyền đạo đó đã giao phó cho ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Ta cảm tạ Đấng ban thêm sức cho ta, là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta, về sự Ngài đã xét ta là trung thành, lập ta làm kẻ giúp việc; 13.  ta ngày trước vốn là người phạm thượng, hay bắt bớ, hung bạo, nhưng ta đã đội ơn thương xót, vì ta đã làm những sự đó đang lúc ta ngu muội chưa tin. 14.  Ân điển của Chúa chúng ta đã dư dật trong ta, với đức tin cùng sự thương yêu trong Đức Chúa Jêsus Christ. 15.  Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy; trong những kẻ có tội đó ta là đầu. 16.  Nhưng ta đã đội ơn thương xót, hầu cho Đức Chúa Jêsus Christ tỏ mọi sự nhịn nhục của Ngài ra trong ta là kẻ làm đầu, để dùng ta làm gương cho những kẻ sẽ tin Ngài được sự sống đời đời. 17.  Nguyền xin sự tôn quí, vinh hiển đời đời vô cùng về nơi Vua muôn đời, không hề hư nát, không thấy được, tức là Đức Chúa Trời có một mà thôi! A-men. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Hỡi Ti-mô-thê, con ta, sự răn bảo mà ta truyền cho con, theo các lời tiên tri đã chỉ về con, tức là, phải nhờ những lời đó mà đánh trận tốt lành, 19.  cầm giữ đức tin và lương tâm tốt. Mấy kẻ đã chối bỏ lương tâm đó, thì đức tin họ bị chìm đắm: 20.  trong số ấy có Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ, ta đã phó cho quỉ Sa-tan rồi, hầu cho họ học biết đừng phạm thượng nữa. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B54\V02B54C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Chào Thăm'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Phao-lô, một sứ đồ của Ðức Chúa Jesus Christ, theo lịnh của Ðức Chúa Trời, Ðấng Giải Cứu của chúng ta, và của Ðức Chúa Jesus Christ, hy vọng của chúng ta, 2 gởi cho Ti-mô-thê, con thật của ta trong đức tin.  Nguyện xin ân sủng, thương xót, và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta, đến với con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Khuyên Ðề Phòng Tà Thuyết'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Như ta đã căn dặn con khi ta sắp đi qua vùng Ma-xê-đô-ni-a rằng con hãy ở lại Ê-phê-sô để truyền cho những người kia không được dạy các tín lý sai lạc, 4 và bảo họ đừng chăm chú vào những chuyện hoang đường và những gia phả vô tận, là những điều chỉ đưa đến sự tranh cãi về các suy đoán hơn là quản lý công việc của Ðức Chúa Trời, là việc của đức tin.  5 Mục đích của sự truyền bảo ấy là tình thương phát xuất từ một tâm hồn trong sạch, một lương tâm tốt, và một đức tin chân thành.  6 Một số người đã không đi đúng đường lối ấy, quay qua cãi nhau những chuyện vô ích, 7 muốn làm những người dạy luật, nhưng không hiểu những điều mình nói, và cũng không nắm vững những điều mình xác định.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Chúng ta biết rằng luật pháp là tốt, nếu người ta biết vâng giữ nghiêm túc.  9 Phải biết rằng luật pháp được lập ra không phải để cho người ngay lành, nhưng cho những kẻ phạm pháp và gây loạn, những kẻ vô luân và tội lỗi, những kẻ bất khiết và phạm thượng, những kẻ giết cha và giết mẹ, những kẻ sát nhân, 10 những kẻ gian dâm, những kẻ đồng tính luyến ái, những kẻ buôn người, những kẻ nói dối, những kẻ khai man trước tòa, và những kẻ làm những điều nghịch với sự dạy dỗ lành mạnh 11 của Tin Mừng vinh hiển của Ðức Chúa Trời phước hạnh; đó là Tin Mừng mà ta đã được ủy nhiệm để rao truyền.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cảm Tạ Lòng Thương Xót của Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Ta cảm tạ Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta, Ðấng ban năng lực cho ta, vì Ngài đã xét thấy ta trung thành nên đã bổ nhiệm ta phục vụ Ngài; 13 mặc dù trước kia ta là một kẻ phạm thượng, một kẻ bắt bớ, và một kẻ bạo tàn; nhưng ta đã nhận được ơn thương xót, bởi ta đã hành động như thế trong lúc ta chưa biết và chưa tin.  14 Nhưng ân sủng của Chúa chúng ta đã tuôn tràn trên ta, cùng với đức tin và tình yêu trong Ðức Chúa Jesus Christ.  15 Ðây là lời đáng tin cậy và đáng chấp nhận hoàn toàn: Ðức Chúa Jesus Christ đã đến trong thế gian để cứu những người tội lỗi; trong những người ấy ta là kẻ đứng đầu.  16 Nhưng cũng vì lý do đó mà ta đã nhận được ơn thương xót, để qua ta, một kẻ tội lỗi hàng đầu, Ðức Chúa Jesus Christ có thể bày tỏ sự chịu đựng hết mực của Ngài, và dùng trường hợp của ta làm gương, để những người tin thờ Ngài được sự sống đời đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Nguyện sự tôn quý và vinh hiển đời đời vô cùng thuộc về Ðức Chúa Trời có một không hai, là Vua đời đời, bất tử, và vô hình.  A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Khuyên Chiến Ðấu Dũng Cảm'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Hỡi Ti-mô-thê, con ta, ta truyền cho con điều này theo lời tiên tri đã nói trước về con, để nhờ đó con có thể chiến đấu anh dũng, 19 giữ vững đức tin và một lương tâm thanh sạch.  Một số người đã bỏ điều ấy nên đức tin của họ đã bị đắm chìm.  20 Trong số đó có Hy-mê-nê và A-léc-xan-đơ, những người ta đã phó cho Sa-tan để họ có thể được dạy cho bài học chớ phạm thượng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B54\V01B54C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 2]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[I Ti-mô-thê: Chương 6]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=D%C3%A2n_S%E1%BB%91_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35652</id>
		<title>Dân Số Ký: Chương 1</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=D%C3%A2n_S%E1%BB%91_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35652"/>
		<updated>2026-01-27T16:51:17Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Ngày mồng một, tháng hai, năm thứ hai, sau khi họ ra khỏi đất Ai Cập, Đức Giê-hô-va phán với Môi-se trong Lều Hội Kiến trong hoang mạc Si-nai rằng: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. &amp;quot;Hãy thống kê toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên theo từng gia đình và dòng họ, liệt kê danh sách từng đầu người nam 3. từ hai mươi tuổi trở lên, tức là tất cả những người có thể ra trận. Ngươi và A-rôn sẽ đếm họ theo từng đơn vị. 4. Mỗi chi tộc sẽ có một người giúp các ngươi; người ấy phải là trưởng tộc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Đây là danh sách những người sẽ cùng đứng với các con: Chi tộc Ru-bên: Ê-lít-su, con trai của Sê-đêu; 6. chi tộc Si-mê-ôn: Sê-lu-mi-ên, con trai của Xu-ri-ha-đai; 7. chi tộc Giu-đa: Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp; 8. chi tộc Y-sa-ca: Na-tha-na-ên, con trai của Xu-a; 9. chi tộc Sa-bu-lôn: Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn. 10. Con cháu Giô-sép: Chi tộc Ép-ra-im: Ê-li-sa-ma, con trai của A-mi-hút; chi tộc Ma-na-se: Ga-ma-li-ên, con trai của Phê-đát-su. 11. Chi tộc Bên-gia-min A-bi-đan, con trai của Ghi-đeo-ni; 12. chi tộc Đan: A-hi-ê-xe, con trai của A-mi-sa-đai; 13. chi tộc A-se: Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran; 14. chi tộc Gát: Ê-li-a-sáp, con trai của Đê-u-ên; 15. chi tộc Nép-ta-li: A-hi-ra con trai của Ê-nan.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Đó là những người được chọn từ hội chúng, là những lãnh đạo các chi tộc của tổ phụ họ, là những thủ lĩnh của các đơn vị trong Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Môi-se và A-rôn tiếp nhận những người đã được nêu danh, 18. và họ triệu tập toàn thể hội chúng lại vào ngày mồng một tháng hai. Họ khai phổ hệ từng người trong gia đình theo dòng họ của tổ phụ, lập danh sách từng đầu người từ hai mươi tuổi trở lên. 19. như Đức Giê-hô-va đã truyền.  Môi-se đã thống kê họ tại hoang mạc Si-nai như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Con cháu Ru-bên là trưởng nam của Y-sơ-ra-ên. Căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên - tức mọi người có thể ra trận – 21. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Ru-bên là bốn mươi sáu ngàn năm trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Con cháu Si-mê-ôn, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên - tức mọi người có thể ra trận – 23. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Si-mê-ôn là năm mươi chín nghìn ba trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Con cháu Gát, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên - tức mọi người có thể ra trận – 25. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Gát là bốn mươi lăm nghìn sáu trăm năm mươi người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Con cháu Giu-đa, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên - tức mọi người có thể ra trận –  27. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Giu-đa là bảy mươi bốn nghìn sáu trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Con cháu của Y-sa-ca, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên - tức mọi người có thể ra trận – 29. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Y-sa-ca là năm mươi bốn nghìn bốn trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30. Con cháu của Sa-bu-lôn, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên - tức mọi người có thể ra trận – 31. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Sa-bu-lôn là năm mươi bảy nghìn bốn trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32. Các con trai Giô-sép: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Con cháu Ép-ra-im, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên - tức mọi người có thể ra trận –  33. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Ép-ra-im là bốn mươi nghìn năm trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34. Con cháu Ma-na-se, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên - tức mọi người có thể ra trận – 35. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Ma-na-se là ba mươi hai nghìn hai trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36. Con cháu Bên-gia-min, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên - tức mọi người có thể ra trận – 37. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Bên-gia-min là ba mươi lăm nghìn bốn trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38. Con cháu Đan, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên - tức mọi người có thể ra trận – 39. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Đan là sáu mươi hai nghìn bảy trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
40. Con cháu A-se, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên - tức mọi người có thể ra trận –  41. những người đã được thống kê thuộc chi tộc A-se là bốn mươi mốt nghìn năm trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
42. Con cháu Nép-ta-li, căn cứ vào danh sách thống kê đầu người theo phổ hệ, theo gia đình, theo dòng họ, từng người nam từ hai mươi tuổi trở lên - tức mọi người có thể ra trận – 43. những người đã được thống kê thuộc chi tộc Nép-ta-li là năm mươi ba nghìn bốn trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
44. Ðó là những con số thống kê những người được Môi-se, và A-rôn, và mười hai lãnh đạo Y-sơ-ra-ên, mỗi người đại diện cho chi tộc của mình, đã thống kê.  45. Như vậy, toàn dân Y-sơ-ra-ên đã được thống kê tùy theo dòng họ, từ hai mươi tuổi trở lên - tức là mọi người trong Y-sơ-ra-ên có thể ra trận được - 46. Tổng số người được thống kê là sáu trăm lẻ ba nghìn năm trăm năm mươi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
47. Nhưng người Lê-vi theo chi tộc của tổ phụ mình không được thống kê chung với những chi tộc khác, 48. vì Đức Giê-hô-va có phán với Môi-se rằng: 49. Chỉ có chi tộc Lê-vi là không được thống kê hay cộng chung với dân Y-sơ-ra-ên, 50. nhưng ngươi hãy chỉ định người Lê-vi trông coi Đền Chứng Ước, tất cả những vật dụng và mọi vật thuộc về Đền Tạm. Họ sẽ vận chuyển Đền và tất cả vật dụng trong đó; và họ sẽ trông coi và đóng trại chung quanh Đền. 51. Khi Đền di chuyển, người Lê-vi sẽ tháo gỡ, và khi cần dựng, người Lê-vi sẽ dựng Đền lên. Những người lạ đến gần sẽ bị xử tử. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
52. Dân Y-sơ-ra-ên phải đóng trại, mỗi người ở trong trại riêng của mình, và mỗi người theo tiêu chuẩn của đội quân của họ. 53. Nhưng người Lê-vi sẽ đóng trại chung quanh Đền Chứng Ước để cơn thịnh nộ không giáng trên hội chúng Y-sơ-ra-ên. Người Lê-vi sẽ nhận trách nhiệm bảo vệ Đền Chứng Ước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
54. Dân Y-sơ-ra-ên đã thực hiện mọi điều Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se; và họ đã thực hiện như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Ngày mồng một tháng hai, năm thứ hai, sau khi dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se ở trong hội mạc, tại đồng vắng Si-na-i, mà rằng: 2.  Hãy dựng sổ cả hội dân Y-sơ-ra-ên, theo họ hàng và tông tộc của họ, cứ đếm từng tên của hết thảy nam đinh, 3.  từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong Y-sơ-ra-ên đi ra trận được; ngươi và A-rôn sẽ kê sổ chúng nó tùy theo đội ngũ của họ. 4.  Trong mỗi chi phái phải có một người giúp đỡ các ngươi, tức là người làm tộc trưởng của chi phái mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Đây là tên những người sẽ giúp đỡ các ngươi: Về chi phái Ru-bên, Ê-lít-su, con trai của Sê-đêu; 6.  về chi phái Si-mê-ôn, Sê-lu-mi-ên, con trai của Xu-ri-ha-đai; 7.  về chi phái Giu-đa, Na-ha-sôn, con trai của A-mi-na-đáp; 8.  về chi phái Y-sa-ca, Na-tha-na-ên, con trai của Xu-a; 9.  về chi phái Sa-bu-lôn, Ê-li-áp, con trai của Hê-lôn; 10.  về con cháu Giô-sép, nghĩa là về chi phái Ép-ra-im, Ê-li-sa-ma, con trai của A-mi-hút; về chi phái Ma-na-se, Ga-ma-li-ên, con trai của Phê-đát-su; 11.  về chi phái Bên-gia-min, A-bi-đan, con trai của Ghi-đeo-ni; 12.  về chi phái Đan, A-hi-ê-xe, con trai của A-mi-sa-đai; 13.  về chi phái A-se, Pha-ghi-ên, con trai của Óc-ran; 14.  về chi phái Gát, Ê-li-a-sáp, con trai của Đê-u-ên; 15.  về chi phái Nép-ta-li, A-hi-ra, con trai của Ê-nan. 16.  Đó là những người được gọi từ trong hội chúng, vốn là quan trưởng của các chi phái tổ phụ mình, và là quan tướng quân đội Y-sơ-ra-ên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Vậy, Môi-se và A-rôn nhận lấy các người ấy mà đã được xướng tên; 18.  đến ngày mồng một tháng hai, truyền nhóm cả hội chúng, cứ kể tên từng người từ hai mươi tuổi sắp lên mà nhập sổ theo họ hàng và tông tộc của họ. 19.  Vậy, Môi-se kê sổ chúng nó tại đồng vắng Si-na-i, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20.  Con cháu Ru-bên, là trưởng nam của Y-sơ-ra-ên, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên của hết thảy nam đinh từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Ru-bên đi ra trận được, 21.  số là bốn mươi sáu ngàn năm trăm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  Con cháu Si-mê-ôn, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên của hết thảy nam đinh từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Si-mê-ôn đi ra trận được, 23.  số là năm mươi chín ngàn ba trăm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24.  Con cháu Gát, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Gát đi ra trận được, 25.  số là bốn mươi lăm ngàn sáu trăm năm mươi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Con cháu Giu-đa, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Giu-đa đi ra trận được, 27.  số là bảy mươi bốn ngàn sáu trăm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28.  Con cháu của Y-sa-ca, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Y-sa-ca đi ra trận được, 29.  số là năm mươi bốn ngàn bốn trăm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30.  Con cháu của Sa-bu-lôn, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Sa-bu-lôn đi ra trận được, 31.  số là năm mươi bảy ngàn bốn trăm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32.  Về hậu tự Giô-sép, là con cháu Ép-ra-im, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Ép-ra-im đi ra trận được, 33.  số là bốn mươi ngàn năm trăm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34.  Con cháu Ma-na-se, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Ma-na-se đi ra trận được, 35.  số là ba mươi hai ngàn hai trăm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36.  Con cháu Bên-gia-min, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Bên-gia-min đi ra trận được, 37.  số là ba mươi lăm ngàn bốn trăm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38.  Con cháu Đan, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Đan đi ra trận được, 39.  số là sáu mươi hai ngàn bảy trăm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
40.  Con cháu A-se, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái A-se đi ra trận được, 41.  số là bốn mươi mốt ngàn năm trăm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
42.  Con cháu Nép-ta-li, dòng dõi họ tùy theo họ hàng và tông tộc mình, cứ kể từng tên, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong chi phái Nép-ta-li đi ra trận được, 43.  số là năm mươi ba ngàn bốn trăm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
44.  Đó là những người mà Môi-se, A-rôn, và mười hai quan trưởng Y-sơ-ra-ên kê sổ; mỗi quan trưởng kê sổ cho tông tộc mình. 45.  Thế thì, hết thảy những người trong dân Y-sơ-ra-ên đã được nhập sổ tùy theo tông tộc mình, từ hai mươi tuổi sắp lên, tức là mọi người trong Y-sơ-ra-ên đi ra trận được, 46.  số là sáu trăm ba ngàn năm trăm năm mươi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
47.  Nhưng người Lê-vi, theo chi phái tổ phụ mình, không kê sổ chung với những chi phái khác. 48.  Vì Đức Giê-hô-va có phán cùng Môi-se rằng: 49.  Ngươi chớ kê sổ chi phái Lê-vi, và cũng đừng dựng bộ họ chung với dân Y-sơ-ra-ên; 50.  nhưng hãy cắt phần người Lê-vi coi sóc đền tạm chứng cớ, hết thảy đồ đạc và các món thuộc về đền tạm. Ấy là người Lê-vi sẽ chuyên-vận đền tạm và hết thảy đồ đạc nó, cùng sẽ làm công việc về đền tạm và đóng trại ở chung quanh đền tạm. 51.  Khi nào đền tạm dời chỗ, thì người Lê-vi sẽ tháo dỡ nó; khi nào đền tạm dừng lại, thì họ sẽ dựng nó lên; còn người ngoại đến gần sẽ bị xử tử. 52.  Dân Y-sơ-ra-ên mỗi người phải đóng ở trong trại quân mình, và mỗi trại quân, từng đội ngũ, phải đóng gần bên ngọn cờ mình. 53.  Nhưng người Lê-vi sẽ đóng trại chung quanh đền tạm chứng cớ, để đừng có sự giận dữ cùng hội-dân Y-sơ-ra-ên; người Lê-vi sẽ coi sóc đền tạm chứng cớ. 54.  Dân Y-sơ-ra-ên làm y như mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se vậy. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B04\V02B04C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Thống Kê Dân Số I-sơ-ra-ên'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lần Thứ Nhất'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 CHÚA phán với Môi-se trong Ðồng Hoang Si-nai, trong Lều Hội Kiến, vào ngày mồng một tháng hai, năm thứ hai, sau khi dân I-sơ-ra-ên rời khỏi đất Ai-cập rằng, 2 “Các ngươi hãy thực hiện cuộc thống kê dân số toàn thể hội chúng I-sơ-ra-ên.  Hãy theo từng thị tộc và từng gia tộc mà lập danh sách mọi người nam 3 từ hai mươi tuổi trở lên, tức mọi người I-sơ-ra-ên có khả năng ra trận.  Ngươi và A-rôn hãy liệt kê họ theo từng đơn vị.  4 Mỗi chi tộc sẽ có một người cộng tác với các ngươi, người đó là tộc trưởng của mỗi chi tộc.  5 Ðây là danh sách những người sẽ giúp đỡ các ngươi: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chi tộc Ru-bên, Ê-li-xu con trai Sê-đê-ua;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Chi tộc Si-mê-ôn, Sê-lu-mi-ên con trai Xu-ri-sa-đai;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Chi tộc Giu-đa, Nát-sôn con trai Am-mi-na-đáp;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Chi tộc I-sa-ca, Nê-tha-nên con trai Xu-a;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Chi tộc Xê-bu-lun, Ê-li-áp con trai Hê-lôn;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Trong các con cháu của Giô-sép:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chi tộc Ép-ra-im, Ê-li-sa-ma con trai Am-mi-hút;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chi tộc Ma-na-se, Ga-ma-li-ên con trai Pê-đa-xu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Chi tộc Bên-gia-min, A-bi-đan con trai Ghi-đê-ô-ni;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Chi tộc Ðan, A-hi-ê-xe con trai Am-mi-sa-đai;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Chi tộc A-se, Pa-ghi-ên con trai Ốc-ran;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Chi tộc Gát, Ê-li-a-sáp con trai Ðê-u-ên;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Chi tộc Náp-ta-li, A-hi-ra con trai Ê-nan.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Ðó là những người được chọn trong hội chúng, những người lãnh đạo các chi tộc, các đơn vị trưởng của quân đội I-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Môi-se và A-rôn tiếp nhận những người đã được nêu đích danh ấy.  18 Ngày mồng một tháng hai, họ triệu tập toàn thể hội chúng lại và thực hiện cuộc thống kê dân số bằng cách lập danh sách mọi người nam từ hai mươi tuổi trở lên, theo từng thị tộc và từng gia tộc, 19 như CHÚA đã truyền cho Môi-se.  Như vậy ông lập danh sách họ trong Ðồng Hoang Si-nai.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Các con cháu của Ru-bên con đầu lòng của I-sơ-ra-ên được thống kê theo phổ hệ của họ, theo từng thị tộc, từng gia tộc, căn cứ vào danh sách đã kê khai từng người, mọi người nam từ hai mươi tuổi trở lên, tức mọi người có thể ra trận; 21 tổng số những người trong danh sách của chi tộc Ru-bên là bốn mươi sáu ngàn năm trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Các con cháu của Si-mê-ôn được thống kê theo phổ hệ của họ, theo từng thị tộc, từng gia tộc, căn cứ vào danh sách đã kê khai từng người, mọi người nam từ hai mươi tuổi trở lên, tức mọi người có thể ra trận; 23 tổng số những người trong danh sách của chi tộc Si-mê-ôn là năm mươi chín ngàn ba trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Các con cháu của Gát được thống kê theo phổ hệ của họ, theo từng thị tộc, từng gia tộc, căn cứ vào danh sách đã kê khai từng người, mọi người nam từ hai mươi tuổi trở lên, tức mọi người có thể ra trận; 25 tổng số những người trong danh sách của chi tộc Gát là bốn mươi lăm ngàn sáu trăm năm mươi người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Các con cháu của Giu-đa được thống kê theo phổ hệ của họ, theo từng thị tộc, từng gia tộc, căn cứ vào danh sách đã kê khai từng người, mọi người nam từ hai mươi tuổi trở lên, tức mọi người có thể ra trận; 27 tổng số những người trong danh sách của chi tộc Giu-đa là bảy mươi bốn ngàn sáu trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Các con cháu của I-sa-ca được thống kê theo phổ hệ của họ, theo từng thị tộc, từng gia tộc, căn cứ vào danh sách đã kê khai từng người, mọi người nam từ hai mươi tuổi trở lên, tức mọi người có thể ra trận; 29 tổng số những người trong danh sách của chi tộc I-sa-ca là năm mươi bốn ngàn bốn trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30 Các con cháu của Xê-bu-lun được thống kê theo phổ hệ của họ, theo từng thị tộc, từng gia tộc, căn cứ vào danh sách đã kê khai từng người, mọi người nam từ hai mươi tuổi trở lên, tức mọi người có thể ra trận; 31 tổng số những người trong danh sách của chi tộc Xê-bu-lun là năm mươi bảy ngàn bốn trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32 Các con cháu của Giô-sép gồm các con cháu của Ép-ra-im được thống kê theo phổ hệ của họ, theo từng thị tộc, từng gia tộc, căn cứ vào danh sách đã kê khai từng người, mọi người nam từ hai mươi tuổi trở lên, tức mọi người có thể ra trận; 33 tổng số những người trong danh sách của chi tộc Ép-ra-im là bốn mươi ngàn năm trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34 Các con cháu của Ma-na-se được thống kê theo phổ hệ của họ, theo từng thị tộc, từng gia tộc, căn cứ vào danh sách đã kê khai từng người, mọi người nam từ hai mươi tuổi trở lên, tức mọi người có thể ra trận; 35 tổng số những người trong danh sách của chi tộc Ma-na-se là ba mươi hai ngàn hai trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36 Các con cháu của Bên-gia-min được thống kê theo phổ hệ của họ, theo từng thị tộc, từng gia tộc, căn cứ vào danh sách đã kê khai từng người, mọi người nam từ hai mươi tuổi trở lên, tức mọi người có thể ra trận; 37 tổng số những người trong danh sách của chi tộc Bên-gia-min là ba mươi lăm ngàn bốn trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38 Các con cháu của Ðan được thống kê theo phổ hệ của họ, theo từng thị tộc, từng gia tộc, căn cứ vào danh sách đã kê khai từng người, mọi người nam từ hai mươi tuổi trở lên, tức mọi người có thể ra trận; 39 tổng số những người trong danh sách của chi tộc Ðan là sáu mươi hai ngàn bảy trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
40 Các con cháu của A-se được thống kê theo phổ hệ của họ, theo từng thị tộc, từng gia tộc, căn cứ vào danh sách đã kê khai từng người, mọi người nam từ hai mươi tuổi trở lên, tức mọi người có thể ra trận; 41 tổng số những người trong danh sách của chi tộc A-se là bốn mươi mốt ngàn năm trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
42 Các con cháu của Náp-ta-li được thống kê theo phổ hệ của họ, theo từng thị tộc, từng gia tộc, căn cứ vào danh sách đã kê khai từng người, mọi người nam từ hai mươi tuổi trở lên, tức mọi người có thể ra trận; 43 tổng số những người trong danh sách của chi tộc Náp-ta-li là năm mươi ba ngàn bốn trăm người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
44 Ðó là con số những người được thống kê, tức những người Môi-se và A-rôn đã lập danh sách, với sự giúp đỡ của những người lãnh đạo dân I-sơ-ra-ên, tức mười hai người, mỗi người đại diện cho chi tộc của họ.  45 Như vậy tổng số người I-sơ-ra-ên được thống kê theo chi tộc của họ, mọi người nam từ hai mươi tuổi trở lên, tức mọi người trong dân I-sơ-ra-ên có thể ra trận, 46 tổng cộng được sáu trăm lẻ ba ngàn năm trăm năm mươi người.  47 Tuy nhiên người Lê-vi đã không được thống kê theo gia tộc của họ để kể chung với các chi tộc khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thống Kê Chi Tộc Lê-vi'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
48 CHÚA phán với Môi-se rằng, 49 “Duy chỉ chi tộc Lê-vi, ngươi sẽ không đếm và thực hiện cuộc thống kê chung với những người I-sơ-ra-ên khác.  50 Nhưng hãy chỉ định người Lê-vi chịu trách nhiệm lo việc Ðền Tạm của Chứng Ước, mọi dụng cụ của Ðền Tạm, và tất cả những gì thuộc về Ðền Tạm.  Họ sẽ chịu trách nhiệm di chuyển Ðền Tạm và mọi dụng cụ liên hệ đến Ðền Tạm, phục vụ những công việc của Ðền Tạm, và đóng trại ở chung quanh Ðền Tạm.  51 Mỗi khi Ðền Tạm cần di chuyển, người Lê-vi sẽ đảm trách việc tháo gỡ Ðền Tạm xuống; đến nơi nào cần phải đóng trại, người Lê-vi sẽ dựng Ðền Tạm lên.  Bất cứ người nào khác đến gần Ðền Tạm sẽ bị xử tử.  52 Dân I-sơ-ra-ên sẽ đóng trại theo đơn vị mình, dưới ngọn cờ của chi tộc mình, trong thế trận của toàn thể đội quân.  53 Nhưng người Lê-vi sẽ đóng trại chung quanh Ðền Tạm của Chứng Ước, để cơn thịnh nộ sẽ không giáng xuống trên hội chúng I-sơ-ra-ên.  Người Lê-vi sẽ chịu trách nhiệm bảo vệ Ðền Tạm của Chứng Ước.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
54 Dân I-sơ-ra-ên thi hành mọi điều CHÚA đã truyền cho Môi-se.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Lê-vi Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Dân Số Ký: Chương 2]]&lt;br /&gt;
:* [[Dân Số Ký: Chương 36]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Xu%E1%BA%A5t_%C3%8A-d%C3%ADp-t%C3%B4_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_17&amp;diff=35651</id>
		<title>Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 17</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Xu%E1%BA%A5t_%C3%8A-d%C3%ADp-t%C3%B4_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_17&amp;diff=35651"/>
		<updated>2026-01-27T16:49:39Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Theo lệnh của Đức Giê-hô-va, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đã nhổ trại. Từ hoang mạc Sin, họ đã đến đóng trại tại Rê-phi-đim, nhưng không có nước cho dân chúng uống. 2. Vì vậy, dân chúng đã gây chuyện với Môi-se, họ nói: &amp;quot;Hãy cho chúng tôi nước uống.&amp;quot; Môi-se nói với họ: &amp;quot;Tại sao các anh em gây chuyện với tôi? Tại sao các anh em thử Đức Giê-hô-va?&amp;quot; 3. Nhưng tại đó dân chúng bị khát nước, và rồi dân chúng đã oán trách Môi-se: &amp;quot;Tại sao ông đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập, rồi để cho chúng tôi, con cái, và súc vật của chúng tôi phải chết khát như thế nầy?&amp;quot; 4. Môi-se đã kêu cầu cùng Đức Giê-hô-va rằng: &amp;quot;Con phải làm gì với dân nầy? Thiếu điều họ ném đá con!&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se: &amp;quot;Hãy đi trước dân chúng. Hãy dẫn theo một số trưởng lão của Y-sơ-ra-ên, và cầm trong tay cây gậy mà con đã đập sông trên sông Nin, rồi đi. 6. Nầy, Ta sẽ đứng trước mặt con tại đó - trên vầng đá tại Hô-rếp. Con hãy đập vào vầng đá, nước từ vầng đá sẽ chảy ra, để cho dân chúng có thể uống.&amp;quot; Môi-se đã làm như vậy trước mặt các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên. 7. Ông đã đặt tên của nơi nầy là Ma-sa và Mê-ri-ba, bởi vì dân Y-sơ-ra-ên đã gây chuyện và đã thử Đức Giê-hô-va, khi họ nói: &amp;quot;Đức Giê-hô-va có ở giữa chúng ta hay không?&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Dân A-ma-léc đã đến tấn công dân Y-sơ-ra-ên tại Rê-phi-đim. 9. Môi-se nói với Giô-suê: Hãy chọn một số người trong chúng ta, rồi đi ra chiến đấu chống lại dân A-ma-léc. Ngày mai ta sẽ đứng trên đỉnh đồi với cây gậy của Ðức Chúa Trời ở trong tay của ta. 10. Giô-suê đã làm như lời Môi-se đã nói với ông để tranh chiến với người A-ma-léc; còn Môi-se, A-rôn và Hu-rơ thì đi lên đỉnh đồi. 11. Khi Môi-se đưa tay của ông lên thì dân Y-sơ-ra-ên thắng thế, nhưng khi nào ông hạ tay của ông xuống thì dân A-ma-léc lại thắng thế. 12. Khi tay của Môi-se đã mỏi, họ đã lấy một hòn đá đặt bên dưới để cho ông ngồi lên trên; rồi A-rôn và Hu-rơ đỡ tay của ông - một người bên nầy và một người bên kia. Tay của ông được giữ vững như vậy cho đến khi mặt trời lặn. 13. Giô-sua đã đánh bại A-ma-léc và dân của ông bằng gươm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: &amp;quot;Hãy chép điều nầy vào một cuốn sách để ghi nhớ, và hãy nói cho Giô-suê biết rằng Ta sẽ xóa sạch ký ức về A-ma-léc trong thiên hạ.&amp;quot; 15. Môi-se đã lập một bàn thờ và đặt tên: &amp;quot;Đức Giê-hô-va là ngọn cờ của tôi.&amp;quot; 16. Ông nói: &amp;quot;Bởi vì tay của họ đã đưa lên chống lại ngôi của Đức Giê-hô-va, cho nên Đức Giê-hô-va sẽ chinh chiến với A-ma-léc từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Cả hội chúng Y-sơ-ra-ên đi từ đồng vắng Sin, đi từng trạm, tùy theo lịnh Đức Giê-hô-va, đóng trại tại Rê-phi-đim; ở đó chẳng có nước cho dân sự uống. 2.  Dân sự bèn kiếm cớ cãi lộn cùng Môi-se mà rằng: Hãy cho chúng tôi nước uống. Môi-se đáp rằng: Sao các ngươi kiếm cớ cãi lộn cùng ta? Sao ướm thử Đức Giê-hô-va vậy? 3.  Dân sự ở đó không có nước, bị khát, nên oán trách Môi-se mà rằng: Sao người khiến chúng tôi ra xứ Ê-díp-tô, hầu cho chúng tôi, con và các bầy súc vật phải chịu chết khát thế nầy? 4.  Môi-se bèn kêu cầu Đức Giê-hô-va mà rằng: Tôi phải xử thế nào cùng dân nầy? Thiếu điều họ ném đá tôi! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Đức Giê-hô-va đáp cùng Môi-se rằng: Hãy cầm gậy của ngươi đã đập dưới sông, dẫn theo những trưởng lão Y-sơ-ra-ên, rồi đi trước mặt dân sự. 6.  Nầy ta sẽ đứng đằng trước ngươi, ở trên hòn đá tại Hô-rếp kia, ngươi hãy đập hòn đá, thì nước từ đó chảy ra, dân sự sẽ uống lấy. Môi-se bèn làm như vậy trước mặt các trưởng lão Y-sơ-ra-ên. 7.  Người đặt tên nơi nầy là Ma-sa và Mê-ri-ba, vì cớ việc cãi lộn mà dân Y-sơ-ra-ên kiếm cớ gây cùng người, và vì họ đã ướm thử Đức Giê-hô-va mà nói rằng: Có Đức Giê-hô-va ở giữa chúng ta hay chăng? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vả, khi đó, dân A-ma-léc đến khêu chiến cùng Y-sơ-ra-ên tại Rê-phi-đim. 9.  Môi-se bèn nói cùng Giô-suê rằng: Hãy chọn lấy tráng sĩ cho chúng ta, ra chiến đấu cùng dân A-ma-léc; ngày mai ta sẽ đứng nơi đầu nổng, cầm gậy của Đức Chúa Trời trong tay. 10.  Giô-suê bèn làm y như lời Môi-se nói, để cự chiến dân A-ma-léc; còn Môi-se, A-rôn và Hu-rơ lên trên đầu nổng. 11.  Vả, hễ đang khi Môi-se giơ tay lên, thì dân Y-sơ-ra-ên thắng hơn; nhưng khi người xụi tay xuống, dân A-ma-léc lại thắng hơn. 12.  Tay Môi-se mỏi, A-rôn và Hu-rơ bèn lấy đá kê cho người ngồi, rồi ở hai bên đỡ tay người lên; tay người chẳng lay động cho đến khi mặt trời lặn. 13.  Giô-suê lấy lưỡi gươm đánh bại A-ma-léc và dân sự người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Môi-se rằng: Hãy chép điều nầy trong sách làm kỷ niệm, và hãy nói cho Giô-suê biết rằng ta sẽ bôi sạch kỷ niệm về A-ma-léc trong thiên hạ. 15.  Môi-se lập lên một bàn thờ, đặt tên là &amp;quot;Giê-hô-va cờ xí của tôi&amp;quot;; 16.  và nói rằng: Bởi vì A-ma-léc có giơ tay lên nghịch cùng ngôi Đức Giê-hô-va, nên Đức Giê-hô-va chinh chiến với A-ma-léc từ đời nầy qua đời kia. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B02\V02B02C017.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Nước Từ Vầng Ðá Tuôn Ra'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(Dân 20:1-13)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Từ Ðồng Hoang Sin, toàn thể hội chúng I-sơ-ra-ên nhổ trại ra đi từng chặng, như CHÚA đã truyền cho họ.  Họ hạ trại ở Rê-phi-đim, nhưng nơi đó chẳng có nước cho dân uống.  2 Dân gây sự với Môi-se và nói, “Hãy cho chúng tôi nước uống.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Môi-se nói với họ, “Tại sao anh chị em gây sự với tôi?  Tại sao anh chị em muốn thử CHÚA?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Tuy nhiên tại đó dân chúng quá khát nước, nên họ oán trách Môi-se và nói, “Tại sao ông đem chúng tôi ra khỏi Ai-cập, để chúng tôi, các con nhỏ chúng tôi, và các đàn súc vật của chúng tôi chết khát?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Môi-se kêu cầu với CHÚA, “Con phải làm gì với dân này bây giờ?  Thiếu điều họ muốn ném đá con.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 CHÚA phán với Môi-se, “Hãy đi trước dân I-sơ-ra-ên và đem một vài trưởng lão I-sơ-ra-ên đi với ngươi.  Hãy cầm theo cây gậy ngươi đã dùng để đập vào nước Sông Nin và hãy đi.  6 Này, Ta sẽ đứng tại đó, trước mặt ngươi, trên vầng đá ở Hô-rếp.  Hãy đập vào vầng đá ấy, nước từ vầng đá ấy sẽ phun ra, để dân có nước uống.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Môi-se làm y như vậy, trước mặt các trưởng lão của I-sơ-ra-ên.  7 Ông đặt tên nơi đó là Mát-sa và Mê-ri-ba, vì dân I-sơ-ra-ên đã gây sự và thử CHÚA rằng, “Không biết CHÚA có thật sự ở giữa chúng ta chăng?”   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Dân A-ma-léc Tấn Công Dân I-sơ-ra-ên và Bị Bại'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Lúc ấy quân A-ma-léc đến và tấn công I-sơ-ra-ên ở Rê-phi-đim.  9 Môi-se nói với Giô-suê, “Hãy chọn một số người trong chúng ta để ra đối phó với quân A-ma-léc.  Ngày mai ta sẽ đứng trên đỉnh đồi với cây gậy của Ðức Chúa Trời trong tay.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Vậy Giô-suê làm như lời Môi-se đã bảo ông.  Ông xuống đánh quân A-ma-léc trong khi Môi-se, A-rôn, và Hu-rơ đi lên đỉnh đồi.  11 Hễ khi Môi-se đưa tay lên thì quân I-sơ-ra-ên thắng hơn, nhưng khi ông hạ tay xuống thì quân A-ma-léc thắng hơn.  12 Hai tay Môi-se mỏi, nên người ta dựng một hòn đá lên cho ông ngồi, rồi A-rôn và Hu-rơ đỡ hai tay ông lên, một người bên này, và một người bên kia.  Vậy hai tay của ông cứ được đưa lên vững vàng cho đến khi mặt trời lặn.  13 Giô-suê dùng gươm đánh bại A-ma-léc với dân ông ấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Bấy giờ CHÚA phán với Môi-se, “Hãy chép điều này vào một cuốn sách để ghi nhớ, và đọc cho Giô-suê nghe rõ rằng: Ta sẽ xóa sạch kỷ niệm về A-ma-léc dưới trời.”  15 Môi-se cho xây một bàn thờ và đặt tên, “CHÚA Là Biểu Kỳ của Tôi.”  16 Ông nói, “Vì tay của A-ma-léc đã đưa lên chống lại ngai của CHÚA, cho nên giữa CHÚA và A-ma-léc sẽ có chiến tranh từ đời này sang đời khác.”   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Lê-vi Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 16]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 18]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Xu%E1%BA%A5t_%C3%8A-d%C3%ADp-t%C3%B4_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_18&amp;diff=35650</id>
		<title>Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 18</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Xu%E1%BA%A5t_%C3%8A-d%C3%ADp-t%C3%B4_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_18&amp;diff=35650"/>
		<updated>2026-01-27T16:48:57Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Giê-trô, tư tế của người Ma-đi-an, là nhạc phụ của Môi-se, nghe tất cả những gì Đức Chúa Trời đã làm cho Môi-se, cho Y-sơ-ra-ên là dân của Ngài, và Ngài đã dẫn Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập như thế nào. 2. Giê-trô, nhạc phụ của Môi-se, đã dẫn Sê-phô-ra, vợ của Môi-se, mà ông đã gởi trở lại 3. cùng với hai con trai của nàng, một đứa tên là Ghẹt-sôn, vì Môi-se đã nói rằng: &amp;quot;Tôi là một kiều dân trong một xứ sở xa lạ;&amp;quot; 4. và một đứa tên là Ê-li-ê-se, vì ông nói: &amp;quot;Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi là sự cứu giúp của tôi. Ngài đã giải cứu tôi khỏi gươm của Pha-ra-ôn.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Giê-trô, nhạc phụ của Môi-se, cùng với hai con trai và vợ của Môi-se đã đến với ông trong hoang mạc, tại nơi ông đóng trại gần núi của Đức Chúa Trời. 6. Ông cụ đã nhắn với Môi-se rằng: &amp;quot;Ta, Giê-trô, nhạc phụ của con, đang đi đến gặp con, cùng với vợ và hai con trai của con.&amp;quot; 7. Môi-se đã đi ra đón nhạc phụ của mình. Ông sấp mình xuống trước mặt ông cụ, rồi ôm hôn ông cụ. Hai người đã hỏi thăm nhau, rồi họ vào trong lều. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Môi-se đã thuật lại cho nhạc phụ của mình nghe mọi điều Đức Giê-hô-va đã làm cho Pha-ra-ôn và cho dân Ai Cập vì cớ dân Y-sơ-ra-ên, cùng với tất cả những khó khăn đã xảy ra cho họ trong chuyến hành trình, và Đức Giê-hô-va đã giải cứu họ như thế nào. 9. Giê-trô vui mừng về tất cả những ơn lành mà Đức Giê-hô-va đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên khi Ngài giải cứu họ khỏi tay của người Ai Cập. 10. Giê-trô nói: &amp;quot;Chúc tụng Đức Giê-hô-va, là Đấng đã giải cứu các ngươi khỏi tay của người Ai Cập, khỏi tay của Pha-ra-ôn, Ngài là Đấng giải cứu dân chúng dưới tay của người Ai Cập. 11. Bây giờ ta biết rằng Đức Giê-hô-va vĩ đại hơn tất cả các thần, bởi vì khi người Ai Cập cư xử ngạo mạn thì Ngài trổi cao hơn họ.&amp;quot; 12. Giê-trô, nhạc phụ của Môi-se, đã dâng tế lễ thiêu và các sinh tế lên cho Đức Chúa Trời. A-rôn và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đã đến ăn bánh với nhạc phụ của Môi-se, trước mặt Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Ngày hôm sau Môi-se ngồi xét xử dân chúng. Dân chúng đứng quanh Môi-se từ sáng sớm cho đến chiều tối. 14. Khi nhạc phụ của Môi-se thấy tất cả những gì ông đã làm cho dân chúng, ông cụ nói: &amp;quot;Con đang làm gì cho dân chúng vậy? Tại sao con ngồi đó xét xử một mình, trong khi mọi người phải đứng chờ con từ sáng sớm cho đến chiều tối như vậy?&amp;quot; 15. Môi-se nói với nhạc phụ của mình: &amp;quot;Bởi vì dân chúng đến với con để tìm cầu ý kiến của Ðức Chúa Trời. 16. Mỗi khi họ có vấn đề, họ đến với con để phân xử giữa người nầy với người khác, rồi con cho họ biết những mệnh lệnh và luật pháp của Đức Chúa Trời.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Nhạc phụ của Môi-se nói với ông: &amp;quot;Cách mà con đang làm đó không tốt. 18. Chắc chắn cả con và dân chúng đến với con sẽ kiệt sức, bởi vì công việc nầy quá nặng nề cho con, và con không thể giải quyết một mình. 19. Bây giờ, hãy lắng nghe ta, ta sẽ khuyên con. Cầu xin Đức Giê-hô-va ở với con! Con sẽ là người đại diện cho dân chúng trước mặt Đức Chúa Trời, và trình dâng mọi vấn đề của họ cho Đức Chúa Trời. 20. Hãy dạy họ các mệnh lệnh và luật pháp, hãy chỉ cho họ biết con đường họ phải đi ở trong đó, và công việc họ phải làm. 21. Thêm vào đó, con hãy chọn trong dân chúng những người có khả năng, kính sợ Đức Chúa Trời, những người chân thật, ghét lợi bất chính, hãy lập họ đứng đầu để làm những lãnh đạo của ngàn người, lãnh đạo của trăm người, lãnh đạo của năm mươi người, lãnh đạo của mười người. 22. Hãy để họ thường xuyên xét xử dân chúng. Khi nào có việc quan trọng, họ sẽ đem đến cho con; còn những việc nhỏ, hãy để cho họ phân xử. Như vậy công việc của con sẽ nhẹ đi, bởi vì họ sẽ chia sẻ gánh nặng cho con. 23. Nếu con làm việc nầy, như Đức Chúa Trời đã truyền cho con, thì con sẽ chịu đựng nổi, và tất cả dân chúng sẽ an lòng trở về nhà của họ.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Môi-se đã nghe theo lời nhạc phụ của mình và làm theo tất cả những gì ông nói. 25. Môi-se đã chọn những người có khả năng từ trong dân Y-sơ-ra-ên rồi lập họ lên làm đầu trên dân chúng, làm lãnh đạo của ngàn người, lãnh đạo của trăm người, lãnh đạo năm mươi người, lãnh đạo của mười người. 26. Họ thường xuyên xét xử dân chúng. Những vấn đề khó khăn thì họ đem đến cho Môi-se, còn những việc nhỏ thì họ phân xử.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Sau đó Môi-se tiễn nhạc phụ của mình, rồi ông cụ lên đường trở về xứ của ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Giê-trô, thầy tế lễ xứ Ma-đi-an, ông gia của Môi-se, hay được mọi điều Đức Chúa Trời đã làm cho Môi-se cùng Y-sơ-ra-ên, là dân sự Ngài, và nghe Ngài đã dẫn dân ấy ra khỏi xứ Ê-díp-tô. 2.  Người bèn dẫn Sê-phô-ra, vợ Môi-se, đã cho trở về nhà cha, 3.  cùng hai con trai, một tên là Ghẹt-sôn, vì Môi-se đã nói rằng: Tôi kiều ngụ nơi ngoại bang; 4.  và một tên là Ê-li-ê-se, vì người lại có nói: Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi đã vùa giúp và giải cứu tôi khỏi gươm Pha-ra-ôn. 5.  Vậy, Giê-trô, ông gia của Môi-se, đến với hai con trai và vợ Môi-se, thăm người nơi đồng vắng, chỗ đóng trại gần bên núi Đức Chúa Trời. 6.  Người bèn sai báo cùng Môi-se rằng: Ta là Giê-trô, ông gia của ngươi, ta cùng vợ ngươi và hai con trai nàng đến thăm ngươi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Môi-se ra đón rước ông gia mình, mọp xuống và hôn người, hỏi thăm nhau, rồi vào trại. 8.  Môi-se liền thuật cho ông gia mình biết mọi điều Đức Giê-hô-va vì Y-sơ-ra-ên đã làm cho Pha-ra-ôn và người Ê-díp-tô, mọi điều khổ nhọc xảy đến cho mình dọc đường và Đức Giê-hô-va đã giải thoát dân Y-sơ-ra-ên thế nào. 9.  Giê-trô lấy làm vui mừng về các ơn mà Đức Giê-hô-va đã làm cho Y-sơ-ra-ên, giải cứu dân ấy khỏi tay người Ê-díp-tô. 10.  Giê-trô nói rằng: Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va thay! là Đấng đã giải cứu các ngươi ra khỏi tay người Ê-díp-tô và tay Pha-ra-ôn, và giải cứu dân sự ra khỏi quyền của người Ê-díp-tô. 11.  Bây giờ ta biết rằng Đức Giê-hô-va là lớn hơn hết các thần, vì khi người Ê-díp-tô cậy lòng kiêu ngạo dấy lên, thì Ngài thắng được chúng nó. 12.  Giê-trô, ông gia của Môi-se, bèn bày một của lễ thiêu và các lễ vật mà dâng cho Đức Chúa Trời; rồi A-rôn và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đến ăn bánh cùng ông gia của Môi-se, trước mặt Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13.  Qua ngày sau, Môi-se ra ngồi xét đoán dân sự; dân sự đứng chực trước mặt người từ sớm mai đến chiều. 14.  Ông gia thấy mọi điều người làm cho dân sự, bèn hỏi rằng: Con làm chi cùng dân sự đó? Sao con chỉ ngồi một mình, còn cả dân sự đứng chực trước mặt từ sớm mai cho đến chiều như vậy? 15.  Môi-se bèn thưa rằng: Ấy vì dân sự đến cùng tôi đặng hỏi ý Đức Chúa Trời. 16.  Khi nào họ có việc chi, thì đến cùng tôi, tôi xét đoán người nầy cùng người kia, và cho họ biết những mạng lịnh và luật pháp của Đức Chúa Trời. 17.  Nhưng ông gia lại nói rằng: Điều con làm đó chẳng tiện. 18.  Quả thật, con cùng dân sự ở với con sẽ bị đuối chẳng sai, vì việc đó nặng nề quá sức con, một mình gánh chẳng nổi. 19.  Bây giờ, hãy nghe cha khuyên con một lời, cầu xin Đức Giê-hô-va phù hộ cho. Về phần con, hãy làm kẻ thay mặt cho dân sự trước mặt Đức Chúa Trời, và đem trình mọi việc cho Ngài hay. 20.  Hãy lấy mạng lịnh và luật pháp Ngài mà dạy họ, chỉ cho biết con đường nào phải đi, và điều chi phải làm. 21.  Nhưng hãy chọn lấy trong vòng dân sự mấy người tài năng, kính sợ Đức Chúa Trời, chân thật, ghét sự tham lợi, mà lập lên trên dân sự, làm trưởng cai trị hoặc ngàn người, hoặc trăm người, hoặc năm mươi người, hoặc mười người, 22.  đặng xét đoán dân sự hằng ngày. Nếu có việc can hệ lớn, họ hãy giải lên cho con; còn những việc nhỏ mọn, chính họ hãy xét đoán lấy. Hãy san bớt gánh cho nhẹ; đặng họ chia gánh cùng con. 23.  Nếu con làm việc nầy, và Đức Chúa Trời ban lịnh cho con, con chắc sẽ chịu nổi được, và cả dân sự nầy sẽ đến chỗ mình bình yên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24.  Môi-se vâng lời ông gia mình, làm y như mọi điều người đã dạy. 25.  Vậy, Môi-se bèn chọn trong cả Y-sơ-ra-ên những người tài năng, lập lên trên dân sự, làm trưởng cai trị, hoặc ngàn người, hoặc trăm người, hoặc năm mươi người, hoặc mười người; 26.  họ xét đoán dân sự hằng ngày. Các việc khó họ giãi lên cho Môi-se; nhưng chính họ xét lấy các việc nhỏ. 27.  Đoạn, Môi-se để cho ông gia mình trở về xứ người. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B02\V02B02C018.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Giê-trô Ðến Thăm Môi-se'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Giê-trô, tư tế của người Mi-đi-an, nhạc phụ của Môi-se, đã nghe tất cả những gì Ðức Chúa Trời làm cho Môi-se và cho I-sơ-ra-ên dân Ngài, thể nào CHÚA đã đem dân I-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập.  2 Số là trước đó Môi-se đã gởi vợ ông là Xíp-pô-ra về cho Giê-trô nhạc phụ ông.  Ông cụ đã nhận bà lại 3 với hai con trai của bà.  Tên của một cậu là Ghẹt-sôm, (vì ông nói, “Tôi là một kiều dân nơi đất khách quê người”), 4 còn tên của cậu kia là Ê-li-ê-xe (vì ông nói, “Ðức Chúa Trời của tổ tiên tôi là Ðấng giúp đỡ tôi và đã giải cứu tôi thoát khỏi gươm của Pha-ra-ôn”).  5 Giê-trô nhạc phụ của Môi-se đến trong đồng hoang, nơi Môi-se đang hạ trại trên núi của Ðức Chúa Trời, dẫn theo hai con trai và vợ Môi-se đến cho ông.  6 Cụ cho người nhắn tin với Môi-se, “Cha là Giê-trô nhạc phụ của con đang trên đường đến thăm con; có vợ và hai con trai con đi với cha.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Môi-se đi ra đón nhạc phụ ông.  Ông sấp mình xuống trước mặt cụ và ôm hôn cụ.  Hai người hỏi thăm nhau, rồi họ vào trong lều.  8 Môi-se thuật lại cho nhạc phụ ông nghe mọi điều CHÚA đã làm cho Pha-ra-ôn và cho dân Ai-cập vì cớ dân I-sơ-ra-ên.  Ông cũng kể cho cụ nghe những khó khăn họ gặp phải dọc đường, và thể nào CHÚA đã giải cứu họ.  9 Giê-trô vui mừng về các ơn lành CHÚA đã làm cho dân I-sơ-ra-ên trong việc giải thoát họ ra khỏi tay dân Ai-cập.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Giê-trô nói, “Chúc tụng CHÚA, Ðấng đã giải thoát quý vị khỏi tay dân Ai-cập và khỏi tay Pha-ra-ôn.  11 Bây giờ tôi biết rằng CHÚA là Ðấng vĩ đại hơn tất cả các thần, vì Ngài đã giải thoát dân I-sơ-ra-ên ra khỏi tay người Ai-cập, những kẻ đã đối xử với họ cách kiêu căng.”  12 Sau đó Giê-trô nhạc phụ của Môi-se dâng một của lễ thiêu và các con vật hiến tế lên Ðức Chúa Trời.  A-rôn và tất cả các trưởng lão của I-sơ-ra-ên đến dùng bữa với nhạc phụ của Môi-se trước thánh nhan Ðức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Khuyên của Giê-trô'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(Phục 1:9-18)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Hôm sau Môi-se ngồi xét xử dân, trong khi đoàn dân đứng đợi quanh Môi-se từ sáng sớm đến chiều tối.  14 Khi nhạc phụ của Môi-se trông thấy mọi điều ông làm cho dân, cụ nói, “Con làm gì cho dân vậy?  Tại sao con ngồi xét xử một mình trong khi mọi người phải đứng đợi quanh con từ sáng sớm đến chiều tối như thế?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Môi-se trả lời nhạc phụ ông, “Bởi vì dân muốn đến gặp con để thỉnh ý Ðức Chúa Trời.  16 Khi có chuyện tranh tụng, họ đến với con, và con phân xử đôi bên.  Con cũng cho họ biết luật lệ và mệnh lệnh của Ðức Chúa Trời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Nhạc phụ của Môi-se nói với ông, “Những gì con đang làm đó không tốt.  18 Con sẽ làm cho mình sớm kiệt lực, không những con mà luôn cả những người dân đang chờ con, vì công việc này quá nặng nề cho con; con không thể giải quyết hết một mình được.  19 Bây giờ con hãy nghe cha nói.  Cha muốn khuyên con mấy lời, và cầu xin Ðức Chúa Trời ở với con: Con là người đại diện cho dân trước mặt Ðức Chúa Trời, để con có thể trình dâng những nan đề của họ lên Ðức Chúa Trời.  20 Con nên dạy họ các luật lệ và mệnh lệnh của Ngài, để họ biết phải đi theo đường nào và phải làm gì.  21 Ngoài ra con cũng phải tìm trong dân những người có khả năng, những người kính sợ Ðức Chúa Trời, đáng tin cậy, ghét lợi lộc bất chính, rồi lập những người ấy lên làm những người chỉ huy trên ngàn người, trăm người, năm mươi người, và mười người.  22 Hãy để họ xét xử dân thường xuyên.  Khi nào có việc quan trọng, họ sẽ đem đến con; còn những việc thường, con hãy để cho những người ấy xét xử.  Như vậy công việc của con sẽ nhẹ đi, vì họ sẽ chia sẻ bớt gánh nặng cho con.  23 Nếu con làm được như thế, và Ðức Chúa Trời cũng truyền cho con như vậy, con mới có thể gánh vác nổi, và tất cả những người đến chờ để được xét xử này cũng sẽ sớm được về nhà họ bình an.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Môi-se nghe theo lời khuyên của nhạc phụ ông và làm theo mọi điều cụ khuyên bảo.  25 Môi-se chọn những người có khả năng trong toàn dân I-sơ-ra-ên, rồi lập họ lên làm đầu trên dân, để họ chỉ huy ngàn người, trăm người, năm mươi người, và mười người.  26 Hằng ngày những người ấy xét xử dân.  Những trường hợp khó xử họ đem đến Môi-se, còn những trường hợp thường, họ xét xử lấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Sau đó Môi-se tiễn nhạc phụ ông ra về, và cụ đã lên đường trở về xứ mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Sáng Thế Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Lê-vi Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 17]]&lt;br /&gt;
:* [[Xuất Ê-díp-tô Ký: Chương 19]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Thi_Thi%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_105&amp;diff=35649</id>
		<title>Thi Thiên: Chương 105</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Thi_Thi%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_105&amp;diff=35649"/>
		<updated>2026-01-27T15:53:31Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Hãy tôn ngợi Đức Giê-hô-va! Hãy cầu khẩn danh của Ngài! Hãy công bố giữa các dân những công việc của Ngài! 2. Hãy tôn ngợi Ngài! Hãy hát những thánh thi cho Ngài! Hãy thuật lại những công việc diệu kỳ của Ngài! 3. Hãy tôn vinh danh thánh của Ngài. Nguyện lòng của những người tìm kiếm Đức Giê-hô-va được vui mừng. 4. Hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va và quyền năng Ngài, hãy luôn luôn tìm kiếm mặt của Ngài. 5. Hãy ghi nhớ những công việc diệu kỳ của Ngài, tức là những việc kỳ diệu mà Ngài đã làm, cùng những phán quyết từ miệng của Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Hỡi dòng dõi của Áp-ra-ham, là tôi tớ của Ngài! Hỡi con cháu của Gia-cốp, là những người Ngài đã chọn. 7. Ngài là Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chúng ta. Ngài cai trị toàn thế giới. 8. Ngài ghi nhớ giao ước của Ngài mãi mãi, tức là lời Ngài đã truyền cho hằng ngàn thế hệ, 9. là giao ước mà Ngài đã lập với Áp-ra-ham, cùng lời thề của Ngài với Y-sác, 10. đã được xác nhận làm quy luật cho Gia-cốp, và làm giao ước đời đời cho Y-sơ-ra-ên. 11. Ngài phán: &amp;quot;Ta sẽ ban cho các ngươi đất Ca-na-an để làm sản nghiệp của các ngươi,&amp;quot; 12. vào lúc họ có rất ít ngườì, thật vậy rất ít, và họ là những ngoại kiều tại đó.  13. Họ đã lưu lạc từ nước này sang nước khác, từ vương quốc này đến dân tộc kia. 14. Ngài không để ai áp bức họ - Vì cớ họ, Ngài đã quở trách các vua:  15. “Ðừng đụng đến những người được xức dầu của Ta. Không được làm hại những tiên tri của Ta.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Ngài đã công bố về một nạn đói. Ngài đã hủy hoại nguồn cung cấp lương thực trong cả xứ. 17. Nhưng Ngài đã sai một người đi trước họ, tức là Giô-sép -  một người bị bán làm nô lệ. 18. Người ta đã tra chân ông vào cùm, bỏ ông vào ngục sắt, 19. cho đến khi lời của ông được ứng nghiệm, tức là lời của Đức Giê-hô-va đã minh chứng cho ông. 20. Vua truyền tha cho ông - Người cai trị dân đã cho ông được tự do, lập ông làm chủ nhà của mình và cai trị tất cả những gì thuộc về mình. 22. Ông có quyền bỏ tù các triều thần, và dạy sự khôn ngoan cho các trưởng lão. 23. Và rồi, Y-sơ-ra-ên đã đến Ai Cập, và Gia-cốp đã cư ngụ trong xứ Cham. 24. Ngài gia tăng dân của Ngài thật đông, khiến họ mạnh hơn những kẻ thù của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25. Ngài khiến lòng của chúng ghét dân của Ngài, rồi lập mưu hãm hại những tôi tớ của Ngài. 26. Ngài đã sai Môi-se - là đầy tớ của Ngài, và A-rôn - là người Ngài đã chọn, 27. để họ thực hiện những dấu lạ ở giữa chúng, rồi làm những phép lạ tại xứ Cham. 28. Ngài đã giáng bóng tối khiến cả xứ tối mịt, để chúng không chống lại lời của Ngài. 29. Ngài biến nước của chúng thành máu, làm cho cá chết. 30. Đất đai của chúng tràn ngập ếch nhái, ngay cả trong cung thất của vua. 31. Ngài vừa phán, liền có ruồi mòng bay đến, muỗi đầy cả xứ của chúng. 32. Thay vì mưa, Ngài giáng mưa đá và sai lửa đốt cháy trong xứ của chúng. 33. Ngài triệt hạ cây nho, cây vả, và bẻ gãy những cây cối trong xứ của chúng. 34. Ngài phán, châu chấu liền bay đến, còn cào cào thì vô số. 35. Chúng ăn hết thực vật trong xứ, và tiêu hủy hết những bông trái của đất.  36. Ngài cũng giết tất cả con đầu lòng trong xứ của chúng, tức là trái đầu mùa từ sinh lực của chúng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
37. Ngài đã dẫn họ ra đi với bạc và vàng, không một ai trong các chi tộc yếu đuối. 38. Dân Ai Cập vui mừng khi họ ra đi, vì nỗi kinh hoàng của họ đã giáng trên chúng. 39. Ngài đã giăng mây để che chở, và lửa để soi sáng ban đêm. 40. Khi họ cầu xin, Ngài ban cho họ chim cút và bánh từ trời, khiến cho họ được thỏa thuê. 41. Ngài mở vầng đá, nước phun ra, chảy trong sa mạc như dòng sông. 42. Bởi vì Ngài nhớ lại lời hứa thánh của Ngài với Áp-ra-ham, là tôi tớ của Ngài; 43. Ngài đã đem dân của Ngài, tức là những người được chọn của Ngài, ra đi trong vui mừng hớn hở. 44. Ngài đã ban cho họ đất đai của những người ngoại quốc, và họ đã thừa hưởng công sức của các nước, 45. để họ vâng giữ luật lệ của Ngài, và tuân theo luật pháp của Ngài. Ha-lê-lu-gia! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, cầu khẩn danh của Ngài; Khá truyền ra giữa các dân những công việc Ngài!&amp;lt;br/&amp;gt;2.  Hãy hát, hãy hát cho Ngài những bài ca! Khá nói về các việc lạ lùng của Ngài.&amp;lt;br/&amp;gt;3.  Hãy khoe mình về danh thánh Ngài; Nguyện lòng kẻ nào tìm cầu Đức Giê-hô-va được khoái lạc!&amp;lt;br/&amp;gt;4.  Hãy cầu Đức Giê-hô-va và quyền phép Ngài, Hãy tìm kiếm mặt Ngài luôn luôn.&amp;lt;br/&amp;gt;5.  Hỡi dòng dõi Áp-ra-ham, là kẻ tôi tớ Ngài, Hỡi con cháu Gia-cốp, là kẻ Ngài chọn,&amp;lt;br/&amp;gt;6.  Hãy nhớ lại những việc lạ lùng Ngài đã làm, Các dấu kỳ và đoán ngữ mà miệng Ngài đã phán.&amp;lt;br/&amp;gt;7.  Ngài là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời chúng tôi; Sự đoán xét Ngài ở khắp trái đất.&amp;lt;br/&amp;gt;8.  Ngài nhớ đến sự giao ước Ngài luôn luôn, Hồi tưởng lời phán dặn Ngài cho đến ngàn đời,&amp;lt;br/&amp;gt;9.  Tức là giao ước Ngài đã lập với Áp-ra-ham, Đã thề cùng Y-sác,&amp;lt;br/&amp;gt;10.  Định cho Gia-cốp làm luật lệ, Và lập cho Y-sơ-ra-ên làm giao ước đời đời,&amp;lt;br/&amp;gt;11.  Mà rằng: Ta sẽ ban cho ngươi xứ Ca-na-an, Là phần sản nghiệp các ngươi;&amp;lt;br/&amp;gt;12.  Lúc ấy họ chỉ là một số ít người, Không đông đảo và làm khách lạ trong xứ,&amp;lt;br/&amp;gt;13.  Đi từ dân nầy đến dân kia, Từ nước nầy qua nước khác.&amp;lt;br/&amp;gt;14.  Ngài không cho ai hà hiếp họ; Ngài trách các vua vì cớ họ,&amp;lt;br/&amp;gt;15.  Mà rằng: Đừng đụng đến kẻ chịu xức dầu ta, Chớ làm hại các đấng tiên tri ta.&amp;lt;br/&amp;gt;16.  Ngài khiến cơn đói kém giáng trong xứ, Và cất hết cả lương thực.&amp;lt;br/&amp;gt;17.  Ngài sai một người đi trước Y-sơ-ra-ên, Là Giô-sép bị bán làm tôi mọi.&amp;lt;br/&amp;gt;18.  Người ta cột chân người vào cùm, Làm cho người bị còng xiềng,&amp;lt;br/&amp;gt;19.  Cho đến ngày điều người đã nói được ứng nghiệm: Lời của Đức Giê-hô-va rèn thử người.&amp;lt;br/&amp;gt;20.  Vua sai tha Giô-sép; Đấng cai trị các dân giải-tha người.&amp;lt;br/&amp;gt;21.  Vua lập người làm quản gia, Làm quan cai trị hết thảy tài sản mình,&amp;lt;br/&amp;gt;22.  Đặng mặc ý người trói buộc quần thần, Và lấy sự khôn ngoan dạy dỗ các trưởng lão.&amp;lt;br/&amp;gt;23.  Bấy giờ Y-sơ-ra-ên cũng vào Ê-díp-tô; Gia-cốp ngụ tại trong xứ Cham.&amp;lt;br/&amp;gt;24.  Đức Giê-hô-va làm cho dân sự Ngài thêm nhiều, Khiến họ mạnh mẽ hơn kẻ hà hiếp họ.&amp;lt;br/&amp;gt;25.  Đoạn Ngài đổi lòng người Ê-díp-tô đặng chúng nó ghét dân sự Ngài, Lập mưu hại các tôi tớ Ngài.&amp;lt;br/&amp;gt;26.  Ngài sai Môi-se tôi tớ Ngài, Và A-rôn mà Ngài đã chọn.&amp;lt;br/&amp;gt;27.  Trong xứ Cham, tại giữa Ê-díp-tô, Hai người làm các dấu kỳ và phép lạ của Ngài.&amp;lt;br/&amp;gt;28.  Ngài giáng xuống sự tối tăm và làm ra mờ mịt; Còn họ không bội nghịch lời của Ngài.&amp;lt;br/&amp;gt;29.  Ngài đổi nước chúng nó ra máu, Và giết chết cá của chúng nó.&amp;lt;br/&amp;gt;30.  Đất chúng nó sanh ếch nhiều lúc nhúc, Cho đến trong phòng cung thất vua cũng có.&amp;lt;br/&amp;gt;31.  Ngài phán, bèn có ruồi mòng bay đến, Và muỗi trong các bờ cõi chúng nó.&amp;lt;br/&amp;gt;32.  Thay vì mưa, Ngài giáng mưa đá, Và lửa ngọn trong cả xứ.&amp;lt;br/&amp;gt;33.  Ngài cũng hại vườn nho và cây vả, Bẻ gãy cây cối tại bờ cõi chúng nó.&amp;lt;br/&amp;gt;34.  Ngài phán, bèn có châu chấu, Và cào cào bay đến vô số,&amp;lt;br/&amp;gt;35.  Cắn-sả hết thảy cây cỏ trong xứ, Và phá hại bông trái của đất chúng nó.&amp;lt;br/&amp;gt;36.  Ngài cũng đánh giết hết thảy con đầu lòng trong xứ, Tức là cả cường-tráng sanh đầu của chúng nó.&amp;lt;br/&amp;gt;37.  Đoạn Ngài dẫn Y-sơ-ra-ên ra có cầm bạc và vàng; Chẳng một ai yếu mỏn trong các chi phái của Ngài.&amp;lt;br/&amp;gt;38.  Ê-díp-tô vui vẻ khi dân Y-sơ-ra-ên đi ra; Vì cơn kinh khủng bởi Y-sơ-ra-ên đã giáng trên chúng nó.&amp;lt;br/&amp;gt;39.  Ngài bủa mây ra để che chở, Và ban đêm có lửa soi sáng.&amp;lt;br/&amp;gt;40.  Chúng nó cầu xin, Ngài bèn khiến những con cút đến, Và lấy bánh trời mà cho chúng nó ăn no nê.&amp;lt;br/&amp;gt;41.  Ngài khai hòn đá, nước bèn phun ra, Chảy ngang qua nơi khô khác nào cái sông.&amp;lt;br/&amp;gt;42.  Vì Ngài nhớ lại lời thánh Ngài, Và hồi tưởng Áp-ra-ham, là kẻ tôi tớ Ngài.&amp;lt;br/&amp;gt;43.  Ngài dẫn dân Ngài ra cách hớn hở, Dắt kẻ Ngài chọn ra với bài hát thắng trận.&amp;lt;br/&amp;gt;44.  Ngài ban cho họ đất của nhiều nước, Họ nhận được công lao của các dân;&amp;lt;br/&amp;gt;45.  Hầu cho họ gìn giữ các luật lệ Ngài, Và vâng theo những luật pháp Ngài. Ha-lê-lu-gia!&amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B19\V02B19C105.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Những Việc Lạ Lùng CHÚA Ðã Làm cho Dân I-sơ-ra-ên'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Hãy cảm tạ CHÚA, hãy cầu khẩn danh Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy rao truyền cho các dân biết các công việc Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Hãy ca ngợi Ngài, hãy ca hát chúc tụng Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy kể ra tất cả việc lạ lùng của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Vinh hiển thay cho ai được ở trong danh thánh Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nguyện lòng những người tìm kiếm CHÚA được vui mừng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Hãy tìm kiếm CHÚA và quyền năng Ngài;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy tìm kiếm mặt Ngài luôn luôn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Hãy nhớ mãi những việc lạ lùng Ngài làm,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tức những việc diệu kỳ và những phán quyết miệng Ngài đã phán,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Hỡi dòng dõi của Áp-ra-ham, tôi tớ Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hỡi con cháu của Gia-cốp, những người Ngài chọn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Ngài là CHÚA, Ðức Chúa Trời chúng ta;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các phán quyết của Ngài là định luật cho cả địa cầu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Ngài ghi nhớ giao ước Ngài mãi mãi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời Ngài truyền có hiệu lực đến ngàn thế hệ về sau;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Ấy là giao ước Ngài đã lập với Áp-ra-ham,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và lời thề Ngài đã thề cùng I-sác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Sau đó Ngài đã xác nhận với Gia-cốp như một đạo luật,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Với I-sơ-ra-ên như một giao ước đời đời,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Rằng, “Ta sẽ ban xứ Ca-na-an cho các ngươi để làm sản nghiệp,”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Trong khi họ chỉ là một số ít người,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một nhóm thiểu số và kiều dân trong xứ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Họ đã đi lang thang từ nước này sang nước khác,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ vương quốc nọ đến vương quốc kia.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Nhưng Ngài đã không cho phép ai hà hiếp họ;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì cớ họ Ngài đã quở trách các vua,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 “Ðừng đụng đến những người được xức dầu của Ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chớ làm hại các tiên tri của Ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Khi Ngài sai nạn đói đến trong xứ;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và dẹp hết mọi nguồn lương thực của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Thì Ngài đã sai một người ra đi trước họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ấy là Giô-sép, một người bị bán làm nô lệ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Họ tra chân ông vào cùm, khiến ông bị đau đớn;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Họ bắt cổ ông phải mang xích sắt nặng nề,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Cho đến khi những gì ông nói được ứng nghiệm;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Lời CHÚA minh xác rằng lời ông đúng hoàn toàn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Do đó vua phải sai người đến thả ông ra;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kẻ cai trị các dân đã cho ông được tự do.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Rồi vua ấy lập ông làm tể tướng của vương quốc mình,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Làm người cai trị trên tất cả cơ nghiệp mình,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Ðể ông chỉ huy những người quyền thế mình,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và bày diệu kế cho các thượng quan mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Sau đó I-sơ-ra-ên di cư vào Ai-cập;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gia-cốp đến kiều ngụ trong xứ của Cham.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Tại đó CHÚA làm cho dân Ngài gia tăng đông đúc,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khiến họ mạnh hơn những kẻ thù của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25 Ngài để cho chúng thay lòng đổi dạ ghen ghét dân Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và lập mưu hãm hại các tôi tớ Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Ngài sai Môi-se đầy tớ Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và A-rôn người Ngài đã chọn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Họ thực hiện những việc diệu kỳ của Ngài giữa chúng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và tỏ những phép lạ của Ngài trong xứ của Cham.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Ngài giáng tối tăm, khiến cả xứ trở nên đen kịt,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể chúng không nghịch lại lời Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29 Ngài làm cho nước của chúng trở nên như máu,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và khiến cá của chúng đều phải chết toi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30 Ếch nhái nhung nhúc tràn lan khắp xứ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng tràn tận vào cung thất của nhà vua.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 Ngài vừa phán, vô số ruồi mòng từ đâu bay đến;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Muỗi vo ve tràn khắp cõi bờ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32 Ngài cho trận mưa nhưng là mưa đá;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sấm sét nổ vang, gây hỏa hoạn khắp nơi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Ngài quật ngã cây nho và cây vả của chúng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khiến cây cối của chúng ngã rạp khắp xứ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34 Ngài phán nữa, vô số cào cào từ đâu bay đến;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chấu chấu phủ tràn lan, không thể đếm cho cùng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 Chúng cắn phá mọi cỏ cây trong xứ;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng cắn ăn mọi sản vật của đất đai.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36 Ngài cũng đánh hạ các con đầu lòng trong xứ chúng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những đứa con sinh ra khi sức lực chúng dồi dào.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
37 Sau đó Ngài đem dân I-sơ-ra-ên ra đi với biết bao vàng bạc;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chẳng có ai chùn chân trong các chi tộc của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38 Ai-cập vui mừng khi họ lìa khỏi xứ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì nỗi sợ hãi họ giáng trên chúng khắp nơi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39 Ngài giăng đám mây che mát trên đầu họ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và ban lửa hồng soi sáng lúc đêm về.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
40 Họ đòi thịt, Ngài mang đến họ chim cút nhiều vô kể;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và họ được no nê bằng bánh đến từ trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
41 Ngài mở vầng đá, và nước ngọt tuôn ra lai láng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nước phun trào giữa nơi khô hạn tựa dòng sông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
42 Vì Ngài nhớ lại lời hứa thánh của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tức lời hứa với Áp-ra-ham tôi tớ Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
43 Vậy Ngài đã đem dân Ngài ra đi trong vui mừng hớn hở;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðem những người Ngài chọn xuất hành với tiếng vui vẻ reo hò.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
44 Ngài ban xứ sở của các dân cho họ làm sản nghiệp;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và cho họ hưởng công lao làm lụng của các dân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
45 Ðể họ vâng giữ luật lệ Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và tuân theo luật pháp Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy ca ngợi CHÚA!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Thi Thiên]]&lt;br /&gt;
:* [[Thi Thiên: Chương 104]]&lt;br /&gt;
:* [[Thi Thiên: Chương 106]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_C%C3%B4-rinh-t%C3%B4:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35648</id>
		<title>I Cô-rinh-tô: Chương 1</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_C%C3%B4-rinh-t%C3%B4:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_1&amp;diff=35648"/>
		<updated>2026-01-25T05:13:32Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Phao-lô, theo ý muốn của Ðức Chúa Trời, được gọi làm sứ đồ của Ðức Chúa Jesus Christ, và Sốt-then, là một anh em, 2. gởi đến hội thánh của Ðức Chúa Trời tại Cô-rinh-tô - là những người đã được thánh hóa trong Ðức Chúa Jesus Christ, được gọi là thánh đồ - cùng với mọi người ở khắp mọi nơi, đang kêu cầu danh Chúa của chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ, là Chúa của họ và là Chúa của chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta, đến cùng anh em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Tôi luôn luôn cảm tạ Ðức Chúa Trời của tôi về anh em, bởi vì ân điển của Ðức Chúa Trời đã được ban cho anh em trong Ðức Chúa Jesus Christ, 5. để nhờ Ngài, anh em được phong phú trong mọi điều: trong tất cả lời nói và trong tất cả nhận thức, 6. cũng như lời làm chứng về Ðấng Christ đã được xác lập trong anh em, 7. như thế để anh em không thiếu một ân tứ thuộc linh nào, trong lúc nôn nả trông mong sự hiện đến của Chúa chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ, 8. là Ðấng sẽ giữ vững anh em cho đến cuối cùng, được toàn hảo trong ngày của Chúa của chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Ðức Chúa Trời là Ðấng thành tín, Ngài đã gọi anh em vào trong sự tương giao với Con Ngài, là Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta. 10. Anh em ơi!  Nhân danh Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta, giờ đây tôi khuyên tất cả anh em hãy có cùng một tiếng nói, đừng có sự chia rẽ ở giữa anh em; hơn thế nữa, anh em có thể hiệp với nhau trong cùng một tâm trí và cùng một ý tưởng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Anh em của tôi! Những người thuộc về Cơ-lô-ê đã trình bày cho tôi một việc liên quan đến anh em, đó là có nhiều sự tranh cãi ở giữa anh em. 12. Ðiều tôi muốn nói bây giờ là thế nầy: Mỗi một người trong anh em đã nói: “Tôi thuộc về Phao-lô”, “Tôi thuộc về A-bô-lô”,  “Tôi thuộc về Sê-pha”, hoặc “Tôi thuộc về Ðấng Christ.” 13. Ðấng Christ đã bị chia cắt rồi hay sao? Phao-lô có chịu đóng đinh trên thập tự vì anh em hay không? Hay là anh em đã nhận báp-têm nhân danh Phao-lô?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Tôi cảm tạ Ðức Chúa Trời bởi vì tôi đã không làm báp-têm cho ai trong anh em, ngoại trừ Cơ-rít-bu và Gai-út, 15. để không ai có thể nói rằng họ đã nhân danh tôi nhận báp-têm. 16. Nhưng tôi cũng đã làm báp-têm cho những người trong gia đình của Sê-pha-na. Phần còn lại, tôi không nhớ tôi đã làm báp-têm cho ai khác. 17. Bởi vì Ðấng Christ không sai tôi đi để làm báp-têm, nhưng để giảng Phúc Âm - và không dùng những lời khôn ngoan, để không làm thập tự của Ðấng Christ mất hết hiệu năng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thật vậy, sứ điệp về thập tự, đối với những người hư mất, là điên rồ, nhưng đối với chúng ta, những người được cứu, đó là quyền năng của Ðức Chúa Trời. 19. Tuy nhiên, có lời chép rằng: “Ta sẽ hủy bỏ sự khôn ngoan của người khôn ngoan; Ta sẽ làm rối loạn sự thông thái của người thông thái.” 20. Người khôn ngoan ở đâu? Người học thức ở đâu? Nhà hùng biện của đời nầy ở đâu? Không phải Ðức Chúa Trời đã làm cho sự khôn ngoan của thế gian trở thành rồ dại hay sao? 21. Bởi vì thế gian không nhận biết Ðức Chúa Trời bằng sự khôn ngoan của mình, cho nên trong sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời, Ðức Chúa Trời đã vui lòng dùng sự rao giảng về sự rồ dại để cứu những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Trong khi người Do Thái đòi dấu hiệu, người Hy Lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, 23. thì chúng ta rao giảng Ðấng Christ chịu đóng đinh trên thập tự; đó là điều mà người Do Thái cho là chướng ngại, còn các dân ngoại cho là điên rồ, 24. nhưng đối với những người được kêu gọi, bất luận là người Do Thái hay người Hy Lạp, thì Ðấng Christ là quyền năng của Ðức Chúa Trời và là sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời, 25. bởi vì sự rồ dại của Ðức Chúa Trời khôn hơn sự khôn ngoan của loài người, và sự yếu đuối của Ðức Chúa Trời mạnh hơn sức mạnh của loài người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Anh em! Hãy suy gẫm lại sự kêu gọi của mình: mặc dù anh em không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, không có nhiều người quyền thế, và không có nhiều người thuộc dòng dõi quý tộc. 27. Nhưng Ðức Chúa Trời đã chọn những gì thế gian cho là rồ dại để làm hổ thẹn những kẻ khôn; Ðức Chúa Trời đã chọn những gì thế gian cho là yếu đuối để làm hổ thẹn những kẻ mạnh. 28. Ðức Chúa Trời đã chọn những người được sinh ra thấp hèn trong thế giới này, những điều bị khinh miệt, và những điều không hiện hữu, để Ngài vô hiệu hóa những điều hiện hữu, 29. để không ai có thể tự hào trước mặt Ðức Chúa Trời. 30. Hơn thế nữa, nhờ Ngài, anh em được ở trong Ðức Chúa Jesus Christ, là Ðấng từ Ðức Chúa Trời đến, là Ðấng đã thực hiện sự khôn ngoan, công chính, thánh hóa, và cứu chuộc trên chúng ta; 31. để giống như lời đã chép rằng: “Ai tự hào, hãy tự hào trong Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phao-lô, theo ý muốn của Ðức Chúa Trời, được gọi làm sứ đồ của Ðức Chúa Jesus Christ, và Sốt-then, một anh em của chúng ta, gởi đến hội thánh của Ðức Chúa Trời tại Cô-rinh-tô, là những người đã được thánh hóa trong Ðức Chúa Jesus Christ, được gọi là thánh đồ; cùng với mọi người ở khắp mọi nơi, đang kêu cầu danh Chúa của chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ, là Chúa của họ và là Chúa của chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta, đến cùng anh em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi luôn luôn cảm tạ Ðức Chúa Trời của tôi về anh em, bởi vì ân điển của Ðức Chúa Trời đã được ban cho anh em trong Ðức Chúa Jesus Christ, để nhờ Ngài, anh em được phong phú trong mọi điều: trong tất cả lời nói và trong tất cả nhận thức, cũng như lời làm chứng về Ðấng Christ đã được xác lập trong anh em, như thế để anh em không thiếu một ân tứ thuộc linh nào, trong lúc nôn nả trông mong sự hiện đến của Chúa chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ, là Ðấng sẽ giữ vững anh em cho đến cuối cùng, để được toàn hảo trong ngày của Chúa của chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðức Chúa Trời là Ðấng thành tín, Ngài đã gọi anh em vào trong sự tương giao với Con Ngài, là Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta. Anh em ơi!  Nhân danh Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta, giờ đây tôi khuyên tất cả anh em hãy có cùng một tiếng nói, đừng có sự phân rẽ ở giữa anh em; hơn thế nữa, anh em có thể hiệp với nhau trong cùng một tâm trí và cùng một mục đích.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh em của tôi! Những người thuộc về Cơ-lô-ê đã trình bày cho tôi một việc liên quan đến anh em đó là có nhiều sự tranh cãi ở giữa anh em. Ðiều tôi muốn nói lúc này là thế nầy: Mỗi một người trong anh em đã nói: “Tôi thuộc về Phao-lô”, “Tôi thuộc về A-pô-lô”,  “Tôi thuộc về Sê-pha”, hoặc “Tôi thuộc về Ðấng Christ.” Ðấng Christ đã bị chia cắt rồi hay sao? Phao-lô có chịu đóng đinh trên thập tự vì anh em không? Hay là anh em đã nhận báp-têm nhân danh Phao-lô?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi cảm tạ Ðức Chúa Trời bởi vì tôi đã không làm báp-têm cho ai trong anh em, ngoại trừ Cơ-rít-bu và Gai-út, để không ai có thể nói rằng họ đã nhân danh tôi nhận báp-têm. Nhưng tôi cũng đã làm báp-têm cho những người trong gia đình của Sê-pha-na. Phần còn lại, tôi không nhớ tôi đã làm báp-têm cho ai khác. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì Ðấng Christ không sai tôi đi để làm báp-têm, nhưng để giảng Phúc Âm - và không dùng những lời khôn ngoan, để không làm thập tự của Ðấng Christ mất hết hiệu năng. Thật vậy, sứ điệp về thập tự, đối với những người hư mất, là điên rồ, nhưng đối với chúng ta, những người được cứu, đó là quyền năng của Ðức Chúa Trời. Tuy nhiên, có lời chép rằng: “Ta sẽ hủy bỏ sự khôn ngoan của người khôn ngoan; Ta sẽ làm rối loạn sự thông thái của người thông thái.” Người khôn ngoan ở đâu? Người học thức ở đâu? Nhà hùng biện của đời nầy ở đâu? Không phải Ðức Chúa Trời đã làm cho sự khôn ngoan của thế gian trở thành rồ dại hay sao? Bởi vì thế gian không nhận biết Ðức Chúa Trời bằng sự khôn ngoan của mình, cho nên trong sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời, Ðức Chúa Trời đã vui lòng dùng sự rao giảng về sự rồ dại để cứu những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong khi người Do Thái đòi dấu hiệu, người Hy Lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, thì chúng ta rao giảng Ðấng Christ chịu đóng đinh trên thập tự; đó là điều người Do Thái cho là chướng ngại, còn các dân ngoại cho là điên rồ, nhưng đối với những người được kêu gọi, bất luận là người Do Thái hay người Hy Lạp, thì Ðấng Christ là quyền năng của Ðức Chúa Trời và là sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời, bởi vì sự rồ dại của Ðức Chúa Trời khôn hơn sự khôn ngoan của loài người, và sự yếu đuối của Ðức Chúa Trời mạnh hơn sức mạnh của loài người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh em! Hãy suy gẫm lại sự kêu gọi của mình: mặc dù anh em không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, không có nhiều người quyền thế, và không có nhiều người thuộc dòng dõi quý tộc. Tuy nhiên, Ðức Chúa Trời đã chọn những gì thế gian cho là rồ dại để làm hổ thẹn những kẻ khôn; Ðức Chúa Trời đã chọn những gì thế gian cho là yếu đuối để làm hổ thẹn những kẻ mạnh. Ðức Chúa Trời đã chọn những người được sinh ra thấp hèn trong thế giới này, những điều bị khinh miệt, và những điều không hiện hữu, để Ngài vô hiệu hóa những điều hiện hữu, để không ai có thể tự hào trước mặt Ðức Chúa Trời. Hơn thế nữa, nhờ Ngài, anh em được ở trong Ðức Chúa Jesus Christ, là Ðấng từ Ðức Chúa Trời đến, là Ðấng đã thực hiện sự khôn ngoan, công chính, thánh hóa, và cứu chuộc trên chúng ta; để giống như lời đã chép rằng: “Ai tự hào, hãy tự hào trong Chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Phao-lô, theo ý muốn của Ðức Chúa Trời được gọi làm sứ đồ của Ðức Chúa Jesus Christ, và Sốt-then, là một anh em, 2. gởi đến hội thánh của Ðức Chúa Trời tại Cô-rinh-tô, đã được thánh hóa trong Ðức Chúa Jesus Christ, được gọi là thánh đồ, cùng với mọi người tại khắp mọi nơi, đang kêu cầu danh Chúa của chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ của họ và của chúng ta. 3. Nguyện ân điển và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha của chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta, đến cùng anh em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Tôi luôn luôn cảm tạ Ðức Chúa Trời của tôi về anh em, bởi vì ân điển của Ðức Chúa Trời đã được ban cho anh em trong Ðức Chúa Jesus Christ, 5. để nhờ Ngài, anh em được phong phú trong mọi điều: trong tất cả lời nói và trong tất cả nhận thức, 6. cũng như lời làm chứng về Ðấng Christ đã được xác lập trong anh em, 7. như thế để anh em không thiếu một ân tứ thuộc linh nào, trong lúc nôn nả trông mong sự hiện đến của Chúa chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ, 8. là Ðấng sẽ giữ vững anh em cho đến cuối cùng, được toàn hảo trong ngày của Chúa của chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Ðức Chúa Trời là Ðấng thành tín, Ngài đã gọi anh em vào trong sự tương giao với Con Ngài, là Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta. 10. Anh em ơi!  Nhân danh Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của chúng ta, giờ đây tôi khuyên tất cả anh em hãy có cùng một tiếng nói, đừng có sự chia rẽ ở giữa anh em; hơn thế nữa, anh em có thể hiệp với nhau trong cùng một tâm trí và cùng một ý tưởng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Anh em của tôi! Những người thuộc về Cơ-lô-ê đã trình bày cho tôi một việc liên quan đến anh em đó là có nhiều sự tranh cãi ở giữa anh em. 12. Ðiều tôi muốn nói bây giờ là thế nầy: Mỗi một người trong anh em đã nói: “Tôi thuộc về Phao-lô”, “Tôi thuộc về A-pô-lô”,  “Tôi thuộc về Sê-pha”, hoặc “Tôi thuộc về Ðấng Christ.” 13. Ðấng Christ bị chia cắt rồi hay sao? Phao-lô có chịu đóng đinh trên thập tự vì anh em không? Hay là anh em đã nhận báp-têm nhân danh Phao-lô?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Tôi cảm tạ Ðức Chúa Trời bởi vì tôi đã không làm báp-têm cho ai trong anh em, ngoại trừ Cơ-rít-bu và Gai-út, 15. để không ai có thể nói rằng họ đã nhân danh tôi nhận báp-têm. 16. Nhưng tôi cũng đã làm báp-têm cho những người trong gia đình của Sê-pha-na. Phần còn lại, tôi không nhớ tôi đã làm báp-têm cho ai khác. 17. Bởi vì Ðấng Christ không sai tôi đi để làm báp-têm, nhưng để giảng Phúc Âm - và không dùng những lời khôn ngoan, để không làm thập tự của Ðấng Christ mất hết hiệu năng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thật vậy, sứ điệp về thập tự, đối với những người hư mất, là điên rồ, nhưng đối với chúng ta, những người được cứu, đó là quyền năng của Ðức Chúa Trời. 19. Tuy nhiên, có lời chép rằng: “Ta sẽ hủy bỏ sự khôn ngoan của người khôn ngoan; Ta sẽ làm rối loạn sự thông thái của người thông thái.” 20. Người khôn ngoan ở đâu? Người học thức ở đâu? Nhà hùng biện của đời nầy ở đâu? Chẳng phải Ðức Chúa Trời đã làm cho sự khôn ngoan của thế gian trở thành rồ dại hay sao? 21. Bởi vì thế gian không nhận biết Ðức Chúa Trời bằng sự khôn ngoan của mình, cho nên trong sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời, Ðức Chúa Trời đã vui lòng dùng sự rao giảng về sự rồ dại để cứu những người tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Trong khi người Do Thái đòi dấu hiệu, người Hy Lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, 23. thì chúng ta rao giảng Ðấng Christ chịu đóng đinh trên thập tự; đó là điều người Do Thái cho là chướng ngại, còn các dân ngoại cho là điên rồ, 24. nhưng đối với những người được kêu gọi, bất luận là người Do Thái hay người Hy Lạp, thì Ðấng Christ là quyền năng của Ðức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời, 25. bởi vì sự rồ dại của Ðức Chúa Trời khôn hơn loài người, và sự yếu đuối của Ðức Chúa Trời mạnh hơn loài người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Anh em! Hãy suy gẫm lại sự kêu gọi của mình: anh em không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, không có nhiều người quyền thế, và không có nhiều người thuộc dòng dõi quý tộc. 27. Nhưng Ðức Chúa Trời đã chọn những gì thế gian cho là rồ dại để làm hổ thẹn những kẻ khôn; Ðức Chúa Trời đã chọn những gì thế gian cho là yếu đuối để làm hổ thẹn những kẻ mạnh. 28. Ðức Chúa Trời đã chọn những người được sinh ra thấp hèn trong thế giới này, những điều bị khinh miệt, và những điều không hiện hữu, để Ngài vô hiệu hóa những điều hiện hữu, 29. để không ai có thể tự hào trước mặt Ðức Chúa Trời. 30. Hơn thế nữa, nhờ Ngài, anh em được ở trong Ðức Chúa Jesus Christ, Ðấng từ Ðức Chúa Trời đến, Ðấng đã thực hiện sự khôn ngoan, công chính, thánh hóa, và cứu chuộc trên chúng ta; 31. để giống như lời đã chép rằng: “Ai tự hào, hãy tự hào trong Chúa.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Phao-lô, theo ý Đức Chúa Trời, được gọi làm sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, cùng Sốt-then, anh em chúng tôi, 2.  gởi cho Hội thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô, tức là cho những người đã được nên thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi làm thánh đồ, lại cho mọi người bất luận nơi nào, cầu khẩn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, là Chúa của những người ấy và của chúng ta: 3.  nguyền xin anh em được ân điển và sự bình an ban cho bởi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và bởi Đức Chúa Jêsus Christ! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Tôi hằng vì anh em tạ ơn Đức Chúa Trời, bởi cớ anh em đã được Đức Chúa Trời ban ơn trong Đức Chúa Jêsus Christ; 5.  vì chưng anh em đã được dư dật về mọi điều ban cho, cả lời nói và sự hiểu biết, 6.  như lời chứng về Đấng Christ đã được vững bền giữa anh em. 7.  Anh em đang trông đợi kỳ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta hiện đến, cũng chẳng thiếu một ơn nào. 8.  Ngài sẽ khiến anh em được vững bền đến cuối cùng, để khỏi bị quở trách trong ngày của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta. 9.  Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài đã gọi anh em được thông công với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Hỡi Anh em, tôi nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, khuyên anh em thảy đều phải đồng một tiếng nói với nhau, chớ phân rẽ nhau ra, nhưng phải hiệp một ý một lòng cùng nhau. 11.  Vì, hỡi anh em, bởi người nhà Cơ-lô-ê, tôi có được tin rằng trong anh em có sự tranh cạnh. 12.  Tôi có ý nói rằng trong anh em mỗi người nói như vầy: Ta là môn đồ của Phao-lô; ta là của A-bô-lô, ta là của Sê-pha, ta là của Đấng Christ. 13.  Đấng Christ bị phân rẽ ra sao? Có phải Phao-lô đã chịu đóng đinh trên cây thập tự thế cho anh em, hay là anh em đã nhơn danh Phao-lô mà chịu phép báp tem sao? 14.  Tôi tạ ơn Đức Chúa Trời, vì ngoài Cơ-rít-bu và Gai-út, tôi chưa từng làm phép báp tem cho ai trong anh em, 15.  hầu cho chẳng ai nói rằng anh em đã nhơn danh tôi mà chịu phép báp tem. 16.  Tôi cũng đã làm phép báp tem cho người nhà Sê-pha-na; ngoài nhà đó, tôi chẳng biết mình đã làm phép báp tem cho ai nữa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Thật vậy, Đấng Christ đã sai tôi, chẳng phải để làm phép báp-tem đâu, nhưng để rao giảng Tin Lành, và chẳng dùng sự khôn khéo mà giảng, kẻo thập tự giá của Đấng Christ ra vô ích. 18.  Bởi vì lời giảng về thập tự giá, thì những người hư mất cho là điên dại; song về phần chúng ta, là kẻ được cứu chuộc, thì cho là quyền phép của Đức Chúa Trời. 19.  cũng có lời chép rằng: Ta sẽ hủy phá sự khôn ngoan của người khôn ngoan, Tiêu trừ sự thạo biết của người thạo biết. 20.  Người khôn ngoan ở đâu? Thầy thông giáo ở đâu? Người biện luận đời nay ở đâu? Có phải Đức Chúa Trời đã làm cho sự khôn ngoan của thế gian ra dồ dại không? 21.  Vì, tại thế gian cậy sự khôn ngoan mình, chẳng nhờ sự khôn ngoan Đức Chúa Trời mà nhận biết Đức Chúa Trời, nên Ngài đành lòng dùng sự giảng dồ dại của chúng ta mà cứu rỗi những người tin cậy. 22.  Vả, đương khi người Giu-đa đòi phép lạ, người Gờ-réc tìm sự khôn ngoan, 23.  thì chúng ta giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên cây thập tự, là sự người Giu-đa lấy làm gương xấu, dân ngoại cho là dồ dại; 24.  song le, về những người được gọi, bất luận người Giu-đa hay người Gờ-réc, thì Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. 25.  Bởi vì sự dồ dại của Đức Chúa Trời là khôn sáng hơn người ta, và sự yếu đuối của Đức Chúa Trời là mạnh hơn người ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Hỡi anh em, hãy suy xét rằng ở giữa anh em là kẻ đã được gọi, không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền thế, chẳng nhiều kẻ sang trọng. 27.  Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế gian để làm hổ thẹn những sự mạnh; 28.  Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, 29.  để chẳng ai khoe mình trước một Đức Chúa Trời. 30.  Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình, sự nên thánh, và sự cứu chuộc cho chúng ta; 31.  hầu cho, như có lời chép rằng: Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Chào Thăm'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Phao-lô, do ý muốn Ðức Chúa Trời được gọi làm sứ đồ của Ðức Chúa Jesus Christ, và Sốt-then, anh em chúng ta, 2 kính gởi hội thánh của Ðức Chúa Trời tại Cô-rinh-tô, những người được thánh hóa trong Ðức Chúa Jesus Christ, được gọi là thánh đồ, cùng gởi cho mọi người ở mọi nơi đang kêu cầu danh Chúa chúng ta, là Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa của họ và Chúa của chúng ta. 3 Nguyện xin ân sủng và bình an từ Ðức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta, đến với anh chị em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phước Hạnh Trong Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Tôi luôn cảm tạ Ðức Chúa Trời của tôi về anh chị em, vì ân sủng của Ðức Chúa Trời đã được ban cho anh chị em trong Ðức Chúa Jesus Christ.  5 Vì nhờ ở trong Ngài anh chị em đã trở nên giàu có đủ mọi mặt, cả lời nói lẫn tri thức, 6 ngay cả lời chứng về Ðấng Christ cũng đã được vững lập giữa anh chị em, 7 khiến anh chị em không thiếu bất cứ ân tứ thuộc linh nào, trong khi chờ đợi sự hiện đến của Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta, 8 Ðấng sẽ làm cho anh chị em được vững mạnh đến cuối cùng, để anh chị em được toàn vẹn trong ngày của Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta.  9 Ðức Chúa Trời là Ðấng thành tín; Ngài đã gọi anh chị em vào sự hiệp thông với Con Ngài, là Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Khuyên Phải Hiệp Một'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Thưa anh chị em, nhân danh Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta, tôi nài khuyên anh chị em hãy đồng tâm nhất trí với nhau, đừng để có sự chia rẽ giữa anh chị em, nhưng hãy hiệp một, đồng lòng hiệp ý với nhau. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Vì thưa anh chị em của tôi, những người trong gia đình của Cơ-lô-ê đã báo cho tôi hay rằng giữa anh chị em đang có sự tranh cãi với nhau.  12 Ðiều tôi muốn nói là thế này: Người nào trong anh chị em cũng nói, “Tôi là người của Phao-lô,” hoặc “Tôi là người của A-pô-lô,” hoặc “Tôi là người của Sê-pha,” hoặc “Tôi là người của Ðấng Christ.”  13 Có phải Ðấng Christ đã bị chia cắt sao?  Có phải Phao-lô đã chịu đóng đinh trên cây thập tự thay cho anh chị em sao?  Hay là anh chị em đã nhân danh Phao-lô mà chịu phép báp-têm sao?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Tôi cảm tạ Ðức Chúa Trời vì tôi không làm báp-têm cho ai trong anh chị em, ngoại trừ Cơ-rít-pu và Gai-út, 15 để không ai có thể nói rằng họ đã nhân danh tôi mà chịu báp-têm.  16 À, tôi cũng đã làm báp-têm cho những người trong gia đình của Tê-pha-na.  Ngoài ra tôi không nhớ tôi đã làm báp-têm cho ai khác.  17 Vì Ðấng Christ không sai tôi đi làm báp-têm, nhưng để giảng Tin Mừng, và không dùng những lời lẽ khôn khéo để giảng, kẻo quyền năng thể hiện qua sự chết của Ðấng Christ trên thập tự giá trở nên vô hiệu chăng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ðấng Christ Là Quyền Phép và Sự Khôn Ngoan của Ðức Chúa Trời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Vì sứ điệp về thập tự giá bị xem là rồ dại đối với những người hư mất, nhưng đối với chúng ta, những người được cứu, thì đó là quyền phép của Ðức Chúa Trời, 19 như có chép rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ta sẽ hủy bỏ sự khôn ngoan của người khôn ngoan;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta sẽ loại trừ sự thông thái của người thông thái.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Người khôn ngoan ở đâu?  Người học thức ở đâu?  Nhà hùng biện của đời này ở đâu?  Chẳng phải Ðức Chúa Trời đã làm cho sự khôn ngoan của thế gian trở nên rồ dại sao?  21 Vì thế gian không chịu nhận biết Ðức Chúa Trời bằng sự khôn ngoan của mình, nên trong sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời, Ðức Chúa Trời đã vui lòng dùng sự rao giảng rồ dại của chúng ta để cứu những người tin. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Trong khi người Do-thái đòi hỏi dấu lạ, người Hy-lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, 23 thì chúng ta rao giảng Ðấng Christ chịu đóng đinh trên thập tự giá; đó là điều người Do-thái cho là ô nhục, còn các dân ngoại cho là điên rồ, 24 nhưng đối với những người được kêu gọi, bất luận là người Do-thái hay người Hy-lạp, thì Ðấng Christ là quyền phép của Ðức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Ðức Chúa Trời, 25 vì sự rồ dại của Ðức Chúa Trời khôn hơn sự khôn ngoan của loài người, và sự yếu đuối của Ðức Chúa Trời mạnh hơn sự mạnh mẽ của loài người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Xin anh chị em hãy nghĩ lại xem, lúc anh chị em được gọi, trong anh chị em chẳng có nhiều người khôn ngoan theo tiêu chuẩn đời này, chẳng có nhiều người quyền thế, và chẳng có nhiều người quý tộc.  27 Nhưng Ðức Chúa Trời đã chọn những gì thế gian cho là rồ dại để làm hổ thẹn những kẻ khôn ngoan; Ðức Chúa Trời đã chọn những gì thế gian cho là yếu đuối để làm hổ thẹn những kẻ mạnh mẽ.  28 Ðức Chúa Trời đã chọn những gì thế gian cho là thấp kém, đáng khinh, và không ra gì, để vô hiệu hóa những gì thế gian cho là có giá trị, 29 hầu không người nào có thể tự phụ trước mặt Ðức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30 Nhờ Ngài anh chị em được ở trong Ðức Chúa Jesus Christ, Ðấng từ Ðức Chúa Trời đến, Ðấng đã làm cho chúng ta trở nên khôn ngoan, được kể là công chính, được thánh hóa, và được cứu chuộc, 31 thật phù hợp với lời đã chép rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ai muốn tự hào, hãy tự hào trong Chúa.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B46\V01B46C001.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Rô-ma]]&lt;br /&gt;
:* [[I Cô-rinh-tô]]&lt;br /&gt;
:* [[II Cô-rinh-tô]]&lt;br /&gt;
:* [[I Cô-rinh-tô: Chương 2]]&lt;br /&gt;
:* [[I Cô-rinh-tô: Chương 16]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ga-la-ti:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_6&amp;diff=35647</id>
		<title>Ga-la-ti: Chương 6</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ga-la-ti:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_6&amp;diff=35647"/>
		<updated>2026-01-24T06:53:18Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Thưa anh em! Nếu một người vô tình phạm lỗi, anh em là người thuộc linh, hãy dịu dàng sửa đổi người đó; chính anh em phải thận trọng, kẻo chính mình cũng bị cám dỗ. 2. Hãy mang gánh nặng cho nhau; như vậy, anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ. 3. Bởi vì nếu ai tưởng mình là gì, trong khi mình chẳng là gì cả, người đó chỉ tự lừa dối chính mình. 4. Tuy nhiên mỗi người hãy chứng minh bằng công việc của mình, và rồi người đó sẽ hãnh diện về mình, chứ không phải trong việc của người khác. 5. Mỗi người sẽ mang gánh nặng của riêng mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Người nào được dạy đạo hãy chia sẻ mọi điều tốt đẹp với người đã dạy mình. 7. Đừng tự lừa dối, đừng đùa giỡn với Đức Chúa Trời; bởi vì ai gieo gì, sẽ gặt nấy. 8. Người gieo cho xác thịt sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hủy hoại, nhưng người gieo cho Thánh Linh sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời. 9. Đừng chán nản trong việc làm điều đúng, bởi vì đến đúng lúc chúng ta sẽ gặt nếu chúng ta không bỏ cuộc. 10.  Vì vậy, đang lúc có thời cơ, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho các thành viên trong gia đình đức tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy xem, những dòng chữ rất lớn mà chính tay tôi đã viết cho anh em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Rất nhiều người muốn có được sự tốt đẹp theo phương diện xác thịt, những người nầy đã ép buộc anh em chịu cắt bì, để họ khỏi bị bách hại vì thập tự giá của Đấng Christ. 13. Ngay cả những người đã chịu cắt bì đó cũng không tuân giữ luật pháp, nhưng họ muốn anh em chịu cắt bì để họ hãnh diện về xác thịt của anh em. 14. Còn với tôi, tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thập tự giá của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ; qua đó thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy. 15. Bởi vì điều quan trọng không phải là cắt bì hay không cắt bì, nhưng là một tạo vật mới. 16. Cầu xin sự bình an và sự thương xót ban cho những ai bước đi theo nguyên tắc nầy, và trên dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời nữa!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Từ nay về sau, không ai gây phiền hà cho tôi, bởi vì tôi đang mang những dấu ấn của Đức Chúa Jesus trên thân thể của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thưa anh em, nguyện ân điển của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ ở với tâm linh anh em! A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Mang gánh nặng cho nhau'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thưa anh em! Nếu một người vô tình phạm lỗi, anh em là người thuộc linh, hãy dịu dàng sửa đổi người đó; chính anh em phải thận trọng, kẻo chính mình cũng bị cám dỗ. Hãy mang gánh nặng cho nhau; như vậy, anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ. Bởi vì nếu ai tưởng mình là gì, trong khi mình chẳng là gì cả, người đó chỉ tự lừa dối chính mình. Tuy nhiên mỗi người hãy chứng minh bằng công việc của mình, và rồi người đó sẽ hãnh diện về mình, chứ không phải trong việc của người khác. Mỗi người sẽ mang gánh nặng của riêng mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Gieo và gặt'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người nào được dạy đạo hãy chia sẻ mọi điều tốt đẹp với người đã dạy mình. Đừng tự lừa dối; đừng đùa giỡn với Đức Chúa Trời; bởi vì ai gieo gì, sẽ gặt nấy. Người gieo cho xác thịt sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hủy hoại; nhưng người gieo cho Thánh Linh sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời. Đừng chán nản trong việc làm điều đúng, bởi vì đến đúng lúc chúng ta sẽ gặt nếu chúng ta không bỏ cuộc. Vì vậy, đang lúc có thời cơ, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho các thành viên trong gia đình đức tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời nhắc nhở cuối thư'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy xem, những dòng chữ rất lớn mà chính tay tôi đã viết cho anh em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rất nhiều người muốn có được sự tốt đẹp theo phương diện xác thịt, những người nầy đã ép buộc anh em chịu cắt bì, để họ khỏi bị bách hại vì thập tự giá của Đấng Christ. Ngay cả những người đã chịu cắt bì đó không tuân giữ luật pháp, nhưng họ muốn anh em chịu cắt bì để họ hãnh diện về xác thịt của anh em. Còn với tôi, tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thập tự giá của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ; qua đó thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy. Bởi vì điều quan trọng không phải là cắt bì hay không cắt bì, nhưng là một tạo vật mới. Cầu xin sự bình an và sự thương xót ban cho những ai bước đi theo nguyên tắc nầy, và trên dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời nữa!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ nay về sau, không ai gây phiền hà cho tôi, bởi vì tôi đang mang những dấu ấn của Đức Chúa Jesus trên thân thể của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thưa anh em, nguyện ân điển của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ ở với tâm linh anh em! A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Thưa anh em! Nếu một người vô tình phạm lỗi, anh em là người thuộc linh, hãy dịu dàng sửa đổi người đó; chính anh em phải thận trọng, kẻo chính mình cũng bị cám dỗ. 2. Hãy mang gánh nặng cho nhau; như vậy, anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ. 3. Bởi vì nếu ai tưởng mình là gì, trong khi mình chẳng là gì cả, người đó chỉ tự lừa dối chính mình. 4. Tuy nhiên mỗi người hãy chứng minh bằng công việc của mình, và rồi người đó sẽ hãnh diện về mình, chứ không phải trong việc của người khác. 5. Mỗi người sẽ mang gánh nặng của riêng mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Người nào được dạy đạo hãy chia sẻ mọi điều tốt đẹp với người đã dạy mình. 7. Đừng tự lừa dối; đừng đùa giỡn với Đức Chúa Trời; bởi vì ai gieo gì, sẽ gặt nấy. 8. Người gieo cho xác thịt sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hủy hoại; nhưng người gieo cho Thánh Linh sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời. 9. Đừng chán nản trong việc làm điều đúng, bởi vì đến đúng lúc chúng ta sẽ gặt nếu chúng ta không bỏ cuộc. 10.  Vì vậy, đang lúc có thời cơ, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho các thành viên trong gia đình đức tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy xem, những dòng chữ rất lớn mà chính tay tôi đã viết cho anh em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Rất nhiều người muốn có được sự tốt đẹp theo phương diện xác thịt, những người nầy đã ép buộc anh em chịu cắt bì, để họ khỏi bị bách hại vì thập tự giá của Đấng Christ. 13. Ngay cả những người đã chịu cắt bì đó không tuân giữ luật pháp, nhưng họ muốn anh em chịu cắt bì để họ hãnh diện về xác thịt của anh em. 14. Còn với tôi, tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thập tự giá của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ; qua đó thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy. 15. Bởi vì điều quan trọng không phải là cắt bì hay không cắt bì, nhưng là một tạo vật mới. 16. Cầu xin sự bình an và sự thương xót ban cho những ai bước đi theo nguyên tắc nầy, và trên dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời nữa!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Từ nay về sau, không ai gây phiền hà cho tôi, bởi vì tôi đang mang những dấu ấn của Đức Chúa Jesus trên thân thể của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thưa anh em, nguyện ân điển của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ ở với tâm linh anh em! A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Hỡi anh em, ví bằng có người nào tình cờ phạm lỗi gì, anh em là kẻ có Đức Thánh Linh, hãy lấy lòng mềm mại mà sửa họ lại; chính mình anh em lại phải giữ, e cũng bị dỗ dành chăng. 2.  Hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ. 3.  Vì, nếu có ai, dầu mình không ra chi hết, mà cũng tưởng mình ra chi ấy là mình dối lấy mình. 4.  Mỗi người phải thử xét việc làm của mình, thì sự khoe mình chỉ tại mình thôi, chớ chẳng phải tại kẻ khác. 5.  Vì ai sẽ gánh lấy riêng phần nấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Kẻ nào mà người ta dạy đạo cho, phải lấy trong hết thảy của cải mình mà chia cho người dạy đó. 7.  Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. 8.  Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời. 9.  Chớ mệt nhọc về sự làm lành, vì nếu chúng ta không trễ nải, thì đến kỳ chúng ta sẽ gặt. 10.  Vậy, đang lúc có dịp tiện, hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho anh em chúng ta trong đức tin. 11.  Hãy xem chính tay tôi viết thơ nầy cho anh em, chữ lớn là dường nào. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Hết thảy những kẻ muốn cho mình đẹp lòng người theo phần xác, ép anh em chịu cắt bì, hầu cho họ khỏi vì thập tự giá của Đấng Christ mà bị bắt bớ đó thôi. 13.  Vì chính những kẻ đó đã chịu cắt bì, không vâng giữ luật pháp đâu, nhưng họ muốn anh em chịu cắt bì, hầu để khoe mình trong phần xác của anh em. 14.  Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, bởi thập tự giá ấy, thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy! 15.  Vì điều yếu cần, chẳng phải sự chịu cắt bì, hay là sự chẳng chịu cắt bì, bèn là trở nên người mới. 16.  Nguyền xin sự bình an và sự thương xót giáng trên hết thảy những kẻ noi theo mẫu mực nầy, lại giáng trên dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời nữa! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Ước gì từ nay về sau, chẳng ai làm khó cho tôi, vì trong mình tôi có đốt dấu vết của Đức Chúa Jêsus vậy. 18.  Hỡi anh em, nguyền xin ân điển của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta ở với tâm thần anh em! A-men. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B48\V02B48C006.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Mang Gánh Nặng Cho Nhau'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Thưa anh chị em, nếu có người nào vô tình phạm lỗi gì, anh chị em là những người thuộc linh, hãy lấy tinh thần khiêm tốn giúp người ấy sửa đổi lại, và chính anh chị em cũng phải thận trọng, kẻo anh chị em cũng bị cám dỗ chăng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Hãy mang gánh nặng chung cho nhau, vì như vậy anh chị em mới làm trọn luật của Ðấng Christ.  3 Nếu người nào tưởng mình là người quan trọng, nhưng trên thực tế chẳng là gì cả, người ấy đã tự lừa dối mình.  4 Vậy mỗi người phải xem xét công việc của mình, rồi mới có thể tự hào về thành quả của mình, chứ không ai lấy thành quả của người khác để tự hào bao giờ; 5 vì gánh nhỏ riêng của ai, người ấy phải gánh lấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Những ai được người nào dạy Ðạo cho, hãy chia sẻ mọi vật tốt của mình với người dạy đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Chớ lừa dối mình; Ðức Chúa Trời không thể bị nhạo báng, vì ai gieo gì thì gặt nấy.  8 Ai gieo cho xác thịt của mình sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; ai gieo cho Ðức Thánh Linh sẽ bởi Ðức Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Xin chúng ta đừng nản lòng khi làm việc lành, vì đến đúng kỳ chúng ta sẽ gặt nếu chúng ta không bỏ cuộc.  10 Vì thế khi còn cơ hội, xin chúng ta hãy làm việc lành cho mọi người, đặc biệt là cho những người trong đại gia đình đức tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Cảnh Cáo và Lời Chào Cuối Thư'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Xin anh chị em xem đây, chính tay tôi viết cho anh chị em, nên khổ chữ lớn dường nào!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Những người muốn được người ta tôn trọng về phương diện xác thịt cứ ép anh em phải được cắt bì chỉ vì họ muốn tránh bị bắt bớ khi chỉ cậy vào thập tự giá của Ðấng Christ mà thôi.  13 Vì ngay cả những người đã được cắt bì, chính họ cũng không tuân giữ Luật Pháp, nhưng họ vẫn muốn anh em phải được cắt bì, để họ có thể tự hào về phương diện xác thịt của anh em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Về phần tôi, nguyện tôi sẽ không tự hào về điều gì, ngoại trừ thập tự giá của Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta; bởi thập tự giá đó mà đối với tôi thế gian đã bị đóng đinh, và tôi cũng đã bị đóng đinh đối với thế gian.  15 Vì được cắt bì hay không được cắt bì chẳng quan trọng, điều quan trọng là trở thành một tạo vật mới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Nguyện xin sự bình an và ơn thương xót ở trên những ai giữ theo quy luật này, và ở trên dân I-sơ-ra-ên của Ðức Chúa Trời nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Ước gì từ nay trở đi không ai gây phiền phức cho tôi nữa, vì tôi đang mang trên thân thể mình những dấu khổ hình của Ðức Chúa Jesus. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Thưa anh chị em, nguyện xin ân sủng của Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta, ở cùng tâm linh anh chị em.  A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B48\V01B48C006.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[II Cô-rinh-tô]]&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti]]&lt;br /&gt;
:* [[Ê-phê-sô]]&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti: Chương 5]]&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti: Chương 1]]&lt;br /&gt;
:* [[Ê-phê-sô: Chương 1]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ga-la-ti:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_6&amp;diff=35646</id>
		<title>Ga-la-ti: Chương 6</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Ga-la-ti:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_6&amp;diff=35646"/>
		<updated>2026-01-24T06:40:16Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Thưa anh em! Nếu một người vô tình phạm lỗi, anh em là người thuộc linh, hãy dịu dàng sửa đổi người đó; chính anh em phải thận trọng, kẻo chính mình cũng bị cám dỗ. 2. Hãy mang gánh nặng cho nhau; như vậy, anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ. 3. Bởi vì nếu ai tưởng mình là gì, trong khi mình chẳng là gì cả, người đó chỉ tự lừa dối chính mình. 4. Tuy nhiên mỗi người hãy chứng minh bằng công việc của mình, và rồi người đó sẽ hãnh diện về mình, chứ không phải trong việc của người khác. 5. Mỗi người sẽ mang gánh nặng của riêng mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Người nào được dạy đạo hãy chia sẻ mọi điều tốt đẹp với người đã dạy mình. 7. Đừng tự lừa dối, đừng đùa giỡn với Đức Chúa Trời; bởi vì ai gieo gì, sẽ gặt nấy. 8. Người gieo cho xác thịt sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hủy hoại, nhưng người gieo cho Thánh Linh sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời. 9. Đừng nản lòng khi làm điều đúng, bởi vì đến đúng kỳ chúng ta sẽ gặt nếu chúng ta không bỏ cuộc. 10.  Vì vậy, đang lúc có thời cơ, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho các thành viên trong gia đình đức tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy xem, những dòng chữ rất lớn mà chính tay tôi đã viết cho anh em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Rất nhiều người muốn có được sự tốt đẹp theo phương diện xác thịt, những người nầy đã ép buộc anh em chịu cắt bì, để họ khỏi bị bách hại vì thập tự giá của Đấng Christ. 13. Ngay cả những người đã chịu cắt bì đó cũng không tuân giữ luật pháp, nhưng họ muốn anh em chịu cắt bì để họ hãnh diện về xác thịt của anh em. 14. Còn với tôi, tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thập tự giá của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ; qua đó thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy. 15. Bởi vì điều quan trọng không phải là cắt bì hay không cắt bì, nhưng là một tạo vật mới. 16. Cầu xin sự bình an và sự thương xót ban cho những ai bước đi theo nguyên tắc nầy, và trên dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời nữa!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Từ nay về sau, không ai gây phiền hà cho tôi, bởi vì tôi đang mang những dấu ấn của Đức Chúa Jesus trên thân thể của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thưa anh em, nguyện ân điển của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ ở với tâm linh anh em! A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Mang gánh nặng cho nhau'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thưa anh em! Nếu một người vô tình phạm lỗi, anh em là người thuộc linh, hãy dịu dàng sửa đổi người đó; chính anh em phải thận trọng, kẻo chính mình cũng bị cám dỗ. Hãy mang gánh nặng cho nhau; như vậy, anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ. Bởi vì nếu ai tưởng mình là gì, trong khi mình chẳng là gì cả, người đó chỉ tự lừa dối chính mình. Tuy nhiên mỗi người hãy chứng minh bằng công việc của mình, và rồi người đó sẽ hãnh diện về mình, chứ không phải trong việc của người khác. Mỗi người sẽ mang gánh nặng của riêng mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Gieo và gặt'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người nào được dạy đạo hãy chia sẻ mọi điều tốt đẹp với người đã dạy mình. Đừng tự lừa dối; đừng đùa giỡn với Đức Chúa Trời; bởi vì ai gieo gì, sẽ gặt nấy. Người gieo cho xác thịt sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hủy hoại; nhưng người gieo cho Thánh Linh sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời. Đừng nản lòng khi làm điều đúng, bởi vì đến đúng kỳ chúng ta sẽ gặt nếu chúng ta không bỏ cuộc. Vì vậy, đang lúc có thời cơ, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho các thành viên trong gia đình đức tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời nhắc nhở cuối thư'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy xem, những dòng chữ rất lớn mà chính tay tôi đã viết cho anh em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rất nhiều người muốn có được sự tốt đẹp theo phương diện xác thịt, những người nầy đã ép buộc anh em chịu cắt bì, để họ khỏi bị bách hại vì thập tự giá của Đấng Christ. Ngay cả những người đã chịu cắt bì đó không tuân giữ luật pháp, nhưng họ muốn anh em chịu cắt bì để họ hãnh diện về xác thịt của anh em. Còn với tôi, tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thập tự giá của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ; qua đó thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy. Bởi vì điều quan trọng không phải là cắt bì hay không cắt bì, nhưng là một tạo vật mới. Cầu xin sự bình an và sự thương xót ban cho những ai bước đi theo nguyên tắc nầy, và trên dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời nữa!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Từ nay về sau, không ai gây phiền hà cho tôi, bởi vì tôi đang mang những dấu ấn của Đức Chúa Jesus trên thân thể của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thưa anh em, nguyện ân điển của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ ở với tâm linh anh em! A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Thưa anh em! Nếu một người vô tình phạm lỗi, anh em là người thuộc linh, hãy dịu dàng sửa đổi người đó; chính anh em phải thận trọng, kẻo chính mình cũng bị cám dỗ. 2. Hãy mang gánh nặng cho nhau; như vậy, anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ. 3. Bởi vì nếu ai tưởng mình là gì, trong khi mình chẳng là gì cả, người đó chỉ tự lừa dối chính mình. 4. Tuy nhiên mỗi người hãy chứng minh bằng công việc của mình, và rồi người đó sẽ hãnh diện về mình, chứ không phải trong việc của người khác. 5. Mỗi người sẽ mang gánh nặng của riêng mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Người nào được dạy đạo hãy chia sẻ mọi điều tốt đẹp với người đã dạy mình. 7. Đừng tự lừa dối; đừng đùa giỡn với Đức Chúa Trời; bởi vì ai gieo gì, sẽ gặt nấy. 8. Người gieo cho xác thịt sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hủy hoại; nhưng người gieo cho Thánh Linh sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời. 9. Đừng nản lòng khi làm điều đúng, bởi vì đến đúng kỳ chúng ta sẽ gặt nếu chúng ta không bỏ cuộc. 10.  Vì vậy, đang lúc có thời cơ, chúng ta hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho các thành viên trong gia đình đức tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hãy xem, những dòng chữ rất lớn mà chính tay tôi đã viết cho anh em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Rất nhiều người muốn có được sự tốt đẹp theo phương diện xác thịt, những người nầy đã ép buộc anh em chịu cắt bì, để họ khỏi bị bách hại vì thập tự giá của Đấng Christ. 13. Ngay cả những người đã chịu cắt bì đó không tuân giữ luật pháp, nhưng họ muốn anh em chịu cắt bì để họ hãnh diện về xác thịt của anh em. 14. Còn với tôi, tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thập tự giá của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ; qua đó thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy. 15. Bởi vì điều quan trọng không phải là cắt bì hay không cắt bì, nhưng là một tạo vật mới. 16. Cầu xin sự bình an và sự thương xót ban cho những ai bước đi theo nguyên tắc nầy, và trên dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời nữa!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Từ nay về sau, không ai gây phiền hà cho tôi, bởi vì tôi đang mang những dấu ấn của Đức Chúa Jesus trên thân thể của tôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thưa anh em, nguyện ân điển của Chúa chúng ta là Đức Chúa Jesus Christ ở với tâm linh anh em! A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Hỡi anh em, ví bằng có người nào tình cờ phạm lỗi gì, anh em là kẻ có Đức Thánh Linh, hãy lấy lòng mềm mại mà sửa họ lại; chính mình anh em lại phải giữ, e cũng bị dỗ dành chăng. 2.  Hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ. 3.  Vì, nếu có ai, dầu mình không ra chi hết, mà cũng tưởng mình ra chi ấy là mình dối lấy mình. 4.  Mỗi người phải thử xét việc làm của mình, thì sự khoe mình chỉ tại mình thôi, chớ chẳng phải tại kẻ khác. 5.  Vì ai sẽ gánh lấy riêng phần nấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Kẻ nào mà người ta dạy đạo cho, phải lấy trong hết thảy của cải mình mà chia cho người dạy đó. 7.  Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. 8.  Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời. 9.  Chớ mệt nhọc về sự làm lành, vì nếu chúng ta không trễ nải, thì đến kỳ chúng ta sẽ gặt. 10.  Vậy, đang lúc có dịp tiện, hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho anh em chúng ta trong đức tin. 11.  Hãy xem chính tay tôi viết thơ nầy cho anh em, chữ lớn là dường nào. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Hết thảy những kẻ muốn cho mình đẹp lòng người theo phần xác, ép anh em chịu cắt bì, hầu cho họ khỏi vì thập tự giá của Đấng Christ mà bị bắt bớ đó thôi. 13.  Vì chính những kẻ đó đã chịu cắt bì, không vâng giữ luật pháp đâu, nhưng họ muốn anh em chịu cắt bì, hầu để khoe mình trong phần xác của anh em. 14.  Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, bởi thập tự giá ấy, thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy! 15.  Vì điều yếu cần, chẳng phải sự chịu cắt bì, hay là sự chẳng chịu cắt bì, bèn là trở nên người mới. 16.  Nguyền xin sự bình an và sự thương xót giáng trên hết thảy những kẻ noi theo mẫu mực nầy, lại giáng trên dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời nữa! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Ước gì từ nay về sau, chẳng ai làm khó cho tôi, vì trong mình tôi có đốt dấu vết của Đức Chúa Jêsus vậy. 18.  Hỡi anh em, nguyền xin ân điển của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta ở với tâm thần anh em! A-men. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B48\V02B48C006.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Mang Gánh Nặng Cho Nhau'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Thưa anh chị em, nếu có người nào vô tình phạm lỗi gì, anh chị em là những người thuộc linh, hãy lấy tinh thần khiêm tốn giúp người ấy sửa đổi lại, và chính anh chị em cũng phải thận trọng, kẻo anh chị em cũng bị cám dỗ chăng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Hãy mang gánh nặng chung cho nhau, vì như vậy anh chị em mới làm trọn luật của Ðấng Christ.  3 Nếu người nào tưởng mình là người quan trọng, nhưng trên thực tế chẳng là gì cả, người ấy đã tự lừa dối mình.  4 Vậy mỗi người phải xem xét công việc của mình, rồi mới có thể tự hào về thành quả của mình, chứ không ai lấy thành quả của người khác để tự hào bao giờ; 5 vì gánh nhỏ riêng của ai, người ấy phải gánh lấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Những ai được người nào dạy Ðạo cho, hãy chia sẻ mọi vật tốt của mình với người dạy đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Chớ lừa dối mình; Ðức Chúa Trời không thể bị nhạo báng, vì ai gieo gì thì gặt nấy.  8 Ai gieo cho xác thịt của mình sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; ai gieo cho Ðức Thánh Linh sẽ bởi Ðức Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Xin chúng ta đừng nản lòng khi làm việc lành, vì đến đúng kỳ chúng ta sẽ gặt nếu chúng ta không bỏ cuộc.  10 Vì thế khi còn cơ hội, xin chúng ta hãy làm việc lành cho mọi người, đặc biệt là cho những người trong đại gia đình đức tin.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Cảnh Cáo và Lời Chào Cuối Thư'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Xin anh chị em xem đây, chính tay tôi viết cho anh chị em, nên khổ chữ lớn dường nào!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Những người muốn được người ta tôn trọng về phương diện xác thịt cứ ép anh em phải được cắt bì chỉ vì họ muốn tránh bị bắt bớ khi chỉ cậy vào thập tự giá của Ðấng Christ mà thôi.  13 Vì ngay cả những người đã được cắt bì, chính họ cũng không tuân giữ Luật Pháp, nhưng họ vẫn muốn anh em phải được cắt bì, để họ có thể tự hào về phương diện xác thịt của anh em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Về phần tôi, nguyện tôi sẽ không tự hào về điều gì, ngoại trừ thập tự giá của Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta; bởi thập tự giá đó mà đối với tôi thế gian đã bị đóng đinh, và tôi cũng đã bị đóng đinh đối với thế gian.  15 Vì được cắt bì hay không được cắt bì chẳng quan trọng, điều quan trọng là trở thành một tạo vật mới.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Nguyện xin sự bình an và ơn thương xót ở trên những ai giữ theo quy luật này, và ở trên dân I-sơ-ra-ên của Ðức Chúa Trời nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Ước gì từ nay trở đi không ai gây phiền phức cho tôi nữa, vì tôi đang mang trên thân thể mình những dấu khổ hình của Ðức Chúa Jesus. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Thưa anh chị em, nguyện xin ân sủng của Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta, ở cùng tâm linh anh chị em.  A-men.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B48\V01B48C006.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[II Cô-rinh-tô]]&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti]]&lt;br /&gt;
:* [[Ê-phê-sô]]&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti: Chương 5]]&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti: Chương 1]]&lt;br /&gt;
:* [[Ê-phê-sô: Chương 1]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Kh%E1%BA%A3i_Huy%E1%BB%81n:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_18&amp;diff=35645</id>
		<title>Khải Huyền: Chương 18</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Kh%E1%BA%A3i_Huy%E1%BB%81n:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_18&amp;diff=35645"/>
		<updated>2026-01-21T04:39:25Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;== Bản Dịch Việt Ngữ ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đó, tôi thấy một thiên sứ khác có thẩm quyền rất lớn từ trời xuống, cả đất được chiếu sáng bởi vinh quang của người. 2. Người hô lớn với giọng mạnh mẽ rằng: &amp;quot;Ba-by-lôn vĩ đại đã sụp đổ, đã sụp đổ rồi! Nó đã trở thành chỗ ở của các quỷ, nơi nhốt những tà linh, là nơi nhốt những loài chim ô uế và kinh tởm. 3. Bởi vì tất cả các dân tộc đã say sưa với rượu cuồng loạn dâm dục vô luân của nó, các vua trên đất đã gian dâm với nó, và các thương gia trên đất đã làm giàu bởi sức gợi cảm của nó.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Và rồi tôi nghe một tiếng khác từ trời, phán rằng: &amp;quot;Hỡi dân Ta, hãy đến! Hãy ra khỏi nó, để các ngươi không tham dự vào tội lỗi của nó, và để các ngươi không nhận tai họa của nó; 5. bởi vì tội lỗi của nó chồng chất cao đến tận trời, và Đức Chúa Trời nhớ lại tội ác của nó. 6. Hãy trả lại cho nó như nó đã trao. Hãy trả lại cho nó gấp đôi những việc mà nó đã làm. Hãy pha gấp đôi chén mà nó đã pha. 7. Nó đã tự tôn vinh chính mình và sống xa hoa bao nhiêu, thì hãy làm cho nó bị khổ ải sầu muộn bấy nhiêu. Bởi vì nó nói trong lòng của nó rằng: 'Ta ngồi như một nữ hoàng! Ta không phải là góa phụ và ta sẽ không bao giờ than khóc.' 8. Vì vậy, chỉ trong một ngày, nhiều tai họa sẽ đến với nó: Chết chóc, sầu khổ, đói kém, và nó sẽ bị thiêu hủy bằng lửa, bởi vì Chúa - Đấng phán xét nó - là Đức Chúa Trời quyền năng.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. &amp;quot;Các vua trên đất, là những người đã phạm tội tà dâm và sống xa hoa với nó, sẽ khóc lóc, sẽ kêu than khi thấy khói từ lửa đang thiêu cháy nó. 10. Do khiếp sợ sự đau khổ của nó cho nên họ đứng xa, và nói: Khốn thay! Khốn thay! Thành phố vĩ đại Ba-by-lôn là thành phố cường thịnh! Chỉ trong một giờ, sự phán xét của ngươi đã đến.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. &amp;quot;Các thương gia trên đất cũng than khóc nó, bởi vì không còn ai mua hàng hóa của họ nữa. 12. Hàng hóa gồm vàng, bạc, đá quý, ngọc trai; vải mịn, vải tía, lụa và vải điều; các loại gỗ thơm; các sản phẩm bằng ngà, bằng gỗ quý, bằng đồng, bằng sắt, bằng cẩm thạch; 13. quế, gia vị, hương liệu, mộc dược và nhũ hương; rượu và dầu, bột mịn và lúa mì; súc vật và chiên, ngựa và xe ngựa; nô lệ và cả linh hồn của con người. 14. Họ nói: 'Thành quả của ngươi, niềm ao ước của linh hồn ngươi đã lìa xa khỏi ngươi; tất cả những sự xa hoa hào nhoáng đã lìa khỏi ngươi, và chúng sẽ không bao giờ còn tìm được nữa.' 15. Các thương gia đã làm giàu nhờ buôn bán những thứ nầy với nó sẽ đứng xa, bởi vì khiếp sợ sự đau khổ của nó; họ sẽ than khóc, 16. nói rằng: 'Khốn thay! Khốn thay! Thành phố vĩ đại kia đã từng được trang phục bằng vải mịn, màu tía, màu điều, trang điểm với vàng, đá quý và ngọc trai! 17. Vì trong một giờ, sự giàu có cường thịnh của nó đã trở nên hoang tàn.'&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&amp;quot;Các thuyền trưởng, các hành khách, các thủy thủ và tất cả các thương gia hàng hải đã đứng xa; 18. đã khóc lớn khi thấy khói từ lửa đang thiêu cháy nó, và nói rằng: 'Có thành phố nào vĩ đại như thành phố nầy chăng?' 19. Họ lấy bụi rắc trên đầu của mình, khóc lóc, kêu than, sầu muộn, và nói: Khốn thay! Khốn thay! Thành phố vĩ đại nầy, mà sự cường thịnh của nó đã làm giàu cho tất cả những người có tàu biển, nhưng chỉ trong một giờ, nó đã bị điêu tàn!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. &amp;quot;Hỡi thiên đàng, các thánh đồ, các sứ đồ, các tiên tri hãy vui mừng vì nó! Bởi vì Đức Chúa Trời đã phán xét nó theo cách mà nó đã phán xét các ngươi.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Và rồi một thiên sứ đầy uy lực đã lấy một tảng đá, như một cối xay lớn, ném xuống biển và nói: &amp;quot;Ba-by-lôn, thành phố vĩ đại, sẽ bị quăng xuống mạnh như vậy, và sẽ không ai còn tìm thấy nó nữa. 22. Không ai còn nghe từ ngươi tiếng của những người đàn hạc, những nhạc sĩ, những người thổi sáo, và những người thổi kèn nữa. Nơi ngươi sẽ không tìm thấy một người thợ của bất cứ ngành thủ công nào; và tiếng cối xay cũng sẽ không còn nghe nữa. 23. Ánh đèn sẽ không chiếu sáng nơi ngươi; tiếng của cô dâu chú rể cũng sẽ không còn được nghe nơi ngươi, bởi vì các thương gia của ngươi là những người quyền thế trên đất, và vì mọi dân tộc đều bị tà thuật của ngươi lừa dối. 24. Và tại thành nầy, máu của các tiên tri, các thánh đồ và tất cả những người bị giết trên đất đã được tìm thấy.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Bản Dịch Đại Chúng ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau đó, tôi thấy một thiên sứ khác có thẩm quyền rất lớn từ trời xuống, cả đất được chiếu sáng bởi vinh quang của người. Người hô lớn với giọng mạnh mẽ rằng: Ba-by-lôn vĩ đại đã sụp đổ, đã sụp đổ rồi! Nó đã trở thành chỗ ở của các quỷ, nơi nhốt những tà linh, là nơi nhốt những loài chim ô uế và kinh tởm. Bởi vì tất cả các dân tộc đã say sưa với rượu cuồng loạn dâm dục vô luân của nó, các vua trên đất đã gian dâm với nó, và các thương gia trên đất đã làm giàu bởi sức gợi cảm của nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi tôi nghe một tiếng khác từ trời, phán rằng: Hỡi dân Ta, hãy đến! Hãy ra khỏi nó, để các ngươi không tham dự vào tội lỗi của nó, và để các ngươi không nhận tai họa của nó; bởi vì tội lỗi của nó chồng chất cao đến tận trời, và Đức Chúa Trời nhớ lại tội ác của nó. Hãy trả cho nó như nó đã trao, hãy trả cho nó gấp đôi những việc của nó đã làm. Hãy pha gấp đôi chén mà nó đã pha. Nó đã tự tôn vinh chính mình và sống xa hoa bao nhiêu, thì hãy làm cho nó bị khổ ải sầu muộn bấy nhiêu. Bởi vì nó nói trong lòng của nó rằng: Ta ngồi như một nữ hoàng! Ta không phải là góa phụ và ta sẽ không bao giờ than khóc. Vì vậy, chỉ trong một ngày, nhiều tai họa sẽ đến với nó: chết chóc, sầu khổ, đói kém, và nó sẽ bị thiêu hủy bằng lửa, bởi vì Chúa - Đấng phán xét nó - là Đức Chúa Trời quyền năng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các vua trên đất, là những người đã phạm tội tà dâm và sống xa hoa với nó, sẽ khóc lóc, sẽ kêu than khi thấy khói từ lửa đang thiêu cháy nó. Do khiếp sợ sự đau khổ của nó cho nên họ đứng xa, và nói: Khốn thay! Khốn thay! Thành phố vĩ đại Ba-by-lôn là thành phố cường thịnh! Chỉ trong một giờ, sự phán xét của ngươi đã đến.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các thương gia trên đất cũng than khóc nó, bởi vì không còn ai mua hàng hóa của họ nữa. Hàng hóa gồm vàng, bạc, đá quý, ngọc trai; vải mịn, vải tía, lụa và vải điều; các loại gỗ thơm; các sản phẩm bằng ngà, bằng gỗ quý, bằng đồng, bằng sắt, bằng cẩm thạch; quế, gia vị, hương liệu, mộc dược và nhũ hương; rượu và dầu, bột mịn và lúa mì; súc vật và chiên, ngựa và xe ngựa; nô lệ và cả linh hồn của con người. Họ nói: Thành quả của ngươi, niềm ao ước của linh hồn ngươi đã lìa xa khỏi ngươi; tất cả những sự xa hoa hào nhoáng đã lìa khỏi ngươi, và chúng sẽ không bao giờ còn tìm được nữa. Các thương gia đã làm giàu nhờ buôn bán những thứ nầy với nó sẽ đứng xa, bởi vì khiếp sợ sự đau khổ của nó; họ sẽ than khóc, nói rằng: Khốn thay! Khốn thay! Thành phố vĩ đại kia đã từng được trang phục bằng vải mịn, màu tía, màu điều, trang điểm với vàng, đá quý và ngọc trai! Vì trong một giờ, sự giàu có cường thịnh của nó đã trở nên hoang tàn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các thuyền trưởng, các hành khách, các thủy thủ và tất cả các thương gia hàng hải đã đứng xa; đã khóc lớn khi thấy khói từ lửa đang thiêu cháy nó, và nói rằng: Có thành phố nào vĩ đại như thành phố nầy chăng? Họ lấy bụi rắc trên đầu của mình, khóc lóc, kêu than, sầu muộn, và nói: Khốn thay! Khốn thay! Thành phố vĩ đại nầy, mà sự cường thịnh của nó đã làm giàu cho tất cả những người có tàu biển, nhưng chỉ trong một giờ, nó đã bị điêu tàn!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hỡi thiên đàng, các thánh đồ, các sứ đồ, các tiên tri hãy vui mừng vì nó! Bởi vì Đức Chúa Trời đã phán xét nó theo cách nó đã phán xét các ngươi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi một thiên sứ đầy uy lực lấy một tảng đá, như một cối xay lớn, ném xuống biển và nói: Ba-by-lôn, thành phố vĩ đại, sẽ bị quăng xuống mạnh như vậy, và sẽ không ai còn tìm thấy nó nữa. Không ai còn nghe từ ngươi tiếng của những người đàn hạc, những nhạc sĩ, những người thổi sáo, và những người thổi kèn nữa. Nơi ngươi sẽ không tìm thấy một người thợ của bất cứ ngành thủ công nào; và tiếng cối xay cũng sẽ không còn nghe nữa. Ánh đèn sẽ không chiếu sáng nơi ngươi; tiếng của cô dâu chú rể cũng sẽ không còn được nghe nơi ngươi, bởi vì những thương gia của ngươi là những người quyền thế trên đất, và vì mọi dân tộc đều bị tà thuật của ngươi lừa dối. Và tại thành nầy, máu của các tiên tri, các thánh đồ và tất cả những người bị giết trên đất đã được tìm thấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Bản Dịch Ngữ Căn ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đó, tôi thấy một thiên sứ khác có thẩm quyền rất lớn từ trời xuống; cả đất được chiếu sáng bởi vinh quang của người. 2. Người hô lớn với giọng mạnh mẽ rằng: Ba-by-lôn vĩ đại đã sụp đổ, đã sụp đổ rồi! Nó đã trở thành chỗ ở của các quỷ, nơi nhốt những tà linh, là nơi nhốt những loài chim ô uế và kinh tởm. 3. Bởi vì tất cả các dân tộc đã say sưa với rượu cuồng loạn dâm dục vô luân của nó, các vua trên đất đã gian dâm với nó, và các thương gia trên đất đã làm giàu bởi sức gợi cảm của nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Và rồi tôi nghe một tiếng khác từ trời, phán rằng: Hỡi dân Ta, hãy đến! Hãy ra khỏi nó, để các ngươi không tham dự vào tội lỗi của nó, và để các ngươi không nhận tai họa của nó; 5. bởi vì tội lỗi của nó chồng chất cao đến tận trời, và Đức Chúa Trời nhớ lại tội ác của nó. 6. Hãy trả cho nó như nó đã trao, hãy trả cho nó gấp đôi những việc của nó đã làm. Hãy pha gấp đôi chén mà nó đã pha. 7. Nó đã tự tôn vinh chính mình và sống xa hoa bao nhiêu, thì hãy làm cho nó bị khổ ải sầu muộn bấy nhiêu. Bởi vì nó nói trong lòng của nó rằng: Ta ngồi như một nữ hoàng! Ta không phải là góa phụ, và ta sẽ không bao giờ than khóc. 8. Vì vậy, chỉ trong một ngày, nhiều tai họa sẽ đến với nó: chết chóc, sầu khổ, đói kém, và nó sẽ bị thiêu hủy bằng lửa, bởi vì Chúa, Đấng phán xét nó là Đức Chúa Trời quyền năng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Các vua trên đất, là những người đã phạm tội tà dâm và sống xa hoa với nó, sẽ khóc lóc, sẽ kêu than khi thấy khói từ lửa đang thiêu cháy nó. 10. Do khiếp sự đau khổ của nó cho nên họ đứng xa, và nói: Khốn thay! Khốn thay! Thành phố vĩ đại Ba-by-lôn là thành phố cường thịnh! Chỉ trong một giờ, sự phán xét của ngươi đã đến.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Các thương gia trên đất cũng than khóc nó, bởi vì không còn ai mua hàng hóa của họ nữa. 12. Hàng hóa gồm vàng, bạc, đá quý, ngọc trai; vải mịn, vải tía, lụa và vải điều; các loại gỗ thơm; các sản phẩm bằng ngà, bằng gỗ quý, bằng đồng, bằng sắt, bằng cẩm thạch; 13. quế, gia vị, hương liệu, mộc dược và nhũ hương; rượu và dầu, bột mịn và lúa mì; súc vật và chiên, ngựa và xe ngựa; nô lệ và cả linh hồn của con người. 14. Họ nói: Thành quả của ngươi, niềm ao ước của linh hồn ngươi đã lìa xa khỏi ngươi; tất cả những sự xa hoa, hào nhoáng đã lìa khỏi ngươi, và chúng sẽ không bao giờ còn tìm được nữa. 15. Các thương gia đã làm giàu nhờ buôn bán những thứ nầy với nó sẽ đứng xa, bởi vì khiếp sợ sự đau khổ của nó; họ sẽ than khóc, 16. nói rằng: Khốn thay! Khốn thay! Thành phố vĩ đại kia đã từng được trang phục bằng vải mịn, màu tía, màu điều, trang điểm với vàng, đá quý và ngọc trai! 17. Vì trong một giờ, sự giàu có cường thịnh của nó đã trở nên hoang tàn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các thuyền trưởng, các hành khách, các thủy thủ và tất cả các thương gia hàng hải đã đứng xa; 18. đã khóc lớn khi thấy khói từ lửa đang thiêu cháy nó, và nói rằng: Có thành phố nào vĩ đại như thành phố nầy chăng? 19. Họ lấy bụi rắc trên đầu của mình, khóc lóc, kêu than, sầu muộn, và nói: Khốn thay! Khốn thay! Thành phố vĩ đại nầy, sự cường thịnh của nó đã làm giàu cho tất cả những người có tàu biển, nhưng chỉ trong một giờ nó đã bị điêu tàn!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Hỡi thiên đàng, các thánh đồ, các sứ đồ, các tiên tri hãy vui mừng vì nó! Bởi vì Đức Chúa Trời đã phán xét nó theo cách nó đã phán xét các ngươi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Và rồi một thiên sứ đầy uy lực lấy một tảng đá, như một cối xay lớn, ném xuống biển và nói: Ba-by-lôn, thành phố vĩ đại, sẽ bị quăng xuống mạnh như vậy, và sẽ không ai tìm thấy nó nữa. 22. Không ai còn nghe từ ngươi tiếng của những người đàn hạc, những nhạc sĩ, những người thổi sáo, và những người thổi kèn nữa. Nơi ngươi sẽ không tìm thấy một người thợ của bất cứ ngành thủ công nào; và tiếng cối xay cũng sẽ không còn nghe nữa. 23. Ánh đèn sẽ không chiếu sáng nơi ngươi; tiếng của cô dâu chú rể cũng sẽ không còn được nghe nơi ngươi, do những thương gia của ngươi là những người quyền thế trên đất, và vì mọi dân tộc đều bị tà thuật của ngươi lừa dối. 24. Và tại thành nầy, máu của các tiên tri, các thánh đồ và tất cả những người bị giết trên đất đã được tìm thấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Sau điều đó, tôi thấy một vị thiên sứ khác ở trên trời xuống, người có quyền lớn, và sự vinh hiển người chiếu rực rỡ trên đất. 2.  Người kêu lớn tiếng rằng: Ba-by-lôn lớn đã đổ rồi, đã đổ rồi! Thành ấy đã trở nên chỗ ở của các ma quỉ, nơi hang hố của mọi tà thần, hang hố của mọi giống chim dơ dáy mà người ta gớm ghiếc, 3.  vì mọi dân tộc đều uống rượu dâm loạn buông tuồng của nó, vì các vua thế gian đã cùng nó phạm tội tà dâm, và vì các nhà buôn trên đất đã nên giàu có bởi sự quá xa hoa của nó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Tôi lại nghe một tiếng khác từ trên trời đến rằng: Hỡi dân ta; hãy ra khỏi Ba-by-lôn, kẻo các ngươi dự phần tội lỗi với nó, cũng chịu những tai họa nó nữa chăng; 5.  vì tội lỗi nó chất cao tày trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ đến các sự gian ác nó. 6.  Các ngươi hãy làm cho nó điều nó đã làm cho kẻ khác; hãy báo lại gấp hai công việc nó, hãy pha cho nó gấp hai chén mà nó đã pha cho kẻ khác. 7.  Nó càng khoe mình và chìm đắm trong sự xa hoa bao nhiêu, thì hãy làm cho nó đau đớn khốn khó bấy nhiêu. Bởi trong lòng nó tự nghĩ rằng: Ta là một nữ vương ngự trên ngôi mình, không phải là đàn bà góa, và ta sẽ không thấy sự than khóc bao giờ. 8.  Vậy cho nên đồng trong một ngày, những tai nạn nầy sẽ giáng trên nó, nào sự chết, nào sự than khóc, nào đói kém, và nó sẽ bị lửa thiêu mình đi nữa; vì Đức Chúa Trời phán xét nó là Chúa có quyền lực. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Các vua thế gian đã phạm tội dâm dục và say đắm trong cuộc xa xỉ với nó, thấy khói của sự cháy nó thì sẽ vì nó khóc lóc thở than. 10.  Sợ phải cùng chịu hình khổ với nó, nên chúng đứng xa mà rằng: Khốn thay! Khốn thay! Ba-by-lôn là thành lớn, là thành cường thạnh kia! Trong một giờ mà sự phán xét ngươi đã đến rồi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Các nhà buôn trên đất cũng vì nó khóc lóc rầu rĩ, vì không ai mua hàng hóa mình nữa: 12.  hàng hóa là vàng, bạc, ngọc, châu, vải gai mịn màu tía, lụa, màu điều; các hạng gỗ thơm; các thức đồ bằng ngà voi, bằng gỗ quí, bằng đồng, bằng sắt, bằng đá hoa; 13.  nhục quế, sa nhân, hương, dầu thơm, nhũ hương; rượu, dầu, bột mì mịn, lúa mì; bò, trừu, ngựa, xe, tôi mọi và linh hồn người ta nữa. 14.  Các thứ trái mà lòng người mơ ước đó đã mất đi rồi, mọi sự rực rỡ sang trọng đó cũng đã hư mất khỏi ngươi; người ta sẽ không hề tìm thấy nữa. 15.  Các nhà buôn đó đã nhờ Ba-by-lôn làm nên giàu, sẽ đứng cách xa, vì e phải chia khổ cùng nó; họ sẽ than khóc và buồn rầu, mà rằng: 16.  Khốn thay! Khốn thay! thành lớn kia, đã từng mặc vải gai mịn, màu tía và màu điều, rực rỡ những vàng ngọc cùng hột châu! Trong một giờ, sự giàu có sang trọng dường bao đã biến mất hết! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Phàm những lái tàu, những người đi biển, và thủy thủ, những kẻ buôn bán trên mặt biển, đều đứng cách xa; 18.  khi thấy khói của sự cháy thành thì cùng kêu lên rằng: Có thành nào đã được như thành lớn nầy ư? 19.  Chúng lấy bụi rắc lên đầu mình, thương khóc than vãn, mà rằng: Khốn thay! Khốn thay! thành lớn nầy đã lấy sự giàu có mình làm giàu cho mọi kẻ có tàu trên biển, mà trong một giờ, đã hóa thành một chỗ hoang vu! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20.  Hỡi trời, hãy vui mừng về việc nó đi, và các thánh, các sứ đồ, các tiên tri, cũng hãy mừng rỡ đi; vì Đức Chúa Trời đã xử công bình cho các ngươi trong khi Ngài xét đoán nó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Bấy giờ một vị thiên sứ rất mạnh lấy một hòn đá như cối xay lớn quăng xuống biển mà rằng: Ba-by-lôn là thành lớn cũng sẽ bị quăng mạnh xuống như vậy, và không ai tìm thấy nó nữa. 22.  Không ai còn nghe thấy nơi ngươi những tiếng kẻ khảy đàn cầm, kẻ đánh nhạc, kẻ thổi sáo và thổi kèn nữa. Ở đó cũng sẽ không thấy có thợ nào nữa, dầu nghề gì mặc lòng, và tiếng cối xay cũng không nghe nữa. 23.  Ánh sáng đèn sẽ không chiếu nơi đó nữa, và người ta cũng chẳng còn nghe tiếng vợ chồng mới cưới, bởi vì các nhà buôn của ngươi đều là kẻ tôn trọng trên đất, bởi vì mọi nước đều bị tà thuật ngươi lừa dối. 24.  Ấy chính trong thành nầy, mà đã tìm thấy huyết các đấng tiên tri, các thánh đồ, và hết thảy những kẻ đã bị giết trong thế gian. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B66\V02B66C018.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ba-by-lôn Sụp Ðổ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Sau những điều ấy, tôi thấy một vị thiên sứ khác có quyền năng lớn từ trời xuống; trái đất rực sáng vì vinh quang của vị thiên sứ đó.  2 Vị thiên sứ đó cất tiếng dõng dạc nói rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ðã sụp đổ rồi!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ba-by-lôn vĩ đại đã sụp đổ rồi!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nó đã trở nên chỗ ở của các quỷ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nơi giam giữ của mọi tà linh ô uế,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cái chuồng của mọi loài chim không sạch và gớm ghiếc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Vì mọi dân tộc đã uống rượu gian dâm cuồng loạn của nó,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các vua trên đất đã phạm tội gian dâm với nó,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các thương gia trên đất đã trở nên giàu có nhờ của cải xa xỉ của nó.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Sau đó tôi nghe một tiếng khác từ trời nói rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi nó,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể các ngươi khỏi bị dự phần vào những tội lỗi của nó,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và để các ngươi khỏi đón nhận những tai họa chung với nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Vì những tội lỗi nó đã chất cao đến tận trời,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và Ðức Chúa Trời đã nhớ lại những tội ác nó,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Ðể báo trả nó những gì nó đã hại người ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và báo trả gấp đôi những việc nó đã làm,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể pha trộn trong chén nó gấp đôi nồng độ nó đã pha trộn cho người ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Như nó đã tự phô trương và sống trong xa xỉ bao nhiêu,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nó sẽ bị hành hạ và đau buồn bấy nhiêu;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì nó đã tự nhủ trong lòng rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
‘Ta ngồi đây như một nữ hoàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta không phải là một góa phụ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta sẽ không bao giờ biết đau buồn.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Vì vậy các tai họa sẽ đến với nó chỉ trong một ngày:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chết chóc, đau buồn, và đói khát;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nó sẽ bị lửa hừng thiêu đốt,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Chúa, Ðức Chúa Trời, Ðấng đoán xét nó, thật quyền năng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Bấy giờ các vua trên đất, những kẻ đã phạm tội gian dâm và sống trong xa xỉ với nó sẽ khóc lóc và than van về nó khi họ thấy khói thiêu đốt nó bốc lên.  10 Các vua ấy sẽ đứng từ xa vì sợ hãi khi thấy nó bị hành hạ và nói rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Khốn thay! Khốn thay! Thành vĩ đại, Ba-by-lôn, thành cường thịnh!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thế mà chỉ trong một giờ, cơn đoán phạt của ngươi đã đến!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Bấy giờ các thương gia trên đất sẽ than khóc và đau buồn về nó, vì không ai mua hàng hóa của họ nữa: 12 nào là những kiện hàng gồm vàng, bạc, bửu ngọc, trân châu, vải gai mịn, vải tím, tơ lụa, vải điều, mọi thứ gỗ thơm, mọi sản phẩm từ ngà voi, mọi sản phẩm bằng gỗ quý, những đồ đồng, đồ sắt, cẩm thạch, 13 quế thơm, hương liệu, trầm hương, nhũ hương, mộc dược, rượu, dầu, bột mịn, lúa mì, gia súc, chiên, ngựa, xe ngựa, thân xác, và sinh mạng người ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 “Những trái cây mà linh hồn ngươi ao ước đã lìa bỏ ngươi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tất cả những gì xa hoa và lộng lẫy đã bị diệt mất khỏi ngươi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người ta sẽ không bao giờ tìm ra được những thứ đó nữa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Những thương gia của các món hàng ấy, những người được giàu có nhờ nó, sẽ đứng đằng xa vì sợ hãi hình phạt nó phải chịu, mà khóc lóc và than van 16 rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Khốn thay! Khốn thay! Thành vĩ đại,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thành đã mặc bằng vải gai mịn, vải tím, và vải điều,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thành đã trang sức bằng vàng, bửu ngọc, và trân châu,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Thế mà chỉ trong một giờ, tất cả những giàu sang phú quý đó đã trở thành hoang phế!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tất cả các thuyền trưởng, tất cả các hành khách đi tàu, các thủy thủ, và những người sống nhờ ngành hàng hải đều đứng nhìn từ đằng xa, 18 khóc than khi thấy khói thiêu đốt nó bốc lên, và nói,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Có thành nào vĩ đại như thành này chăng?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Họ thảy bụi trên đầu, kêu la, khóc lóc, và than van rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Khốn thay!  Khốn thay! Thành vĩ đại,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thành đã làm cho mọi người có tàu đi biển trở nên giàu có nhờ sự phồn vinh của nó,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thế mà chỉ trong một giờ, nó đã trở thành hoang phế!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Hỡi thiên đàng, hỡi các thánh đồ, các vị sứ đồ, và các vị tiên tri, hãy vui mừng về nó,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ðức Chúa Trời đã đoán phạt nó cho quý vị.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Bấy giờ một vị thiên sứ mạnh mẽ nhấc bổng một tảng đá như một cối xay lớn, ném xuống biển, và nói:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Thành vĩ đại Ba-by-lôn sẽ bị ném xuống dữ dội như thế,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và sẽ không ai tìm thấy nó nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Âm thanh của những hạc cầm, những nhạc sĩ, những người thổi sáo, và những người thổi kèn sẽ không bao giờ được nghe ở trong ngươi nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mọi thợ khéo của mọi nghề thủ công sẽ không bao giờ thấy ở trong ngươi nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Âm thanh của những cối xay sẽ không bao giờ được nghe ở trong ngươi nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Ánh sáng từ những cây đèn sẽ không bao giờ chiếu sáng ở trong ngươi nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tiếng nói của chàng rể và cô dâu sẽ không bao giờ được nghe ở trong ngươi nữa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì những thương gia của ngươi là những tay cự phú trên đất,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì mọi quốc gia đều bị ma thuật của ngươi lừa dối,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Máu của các vị tiên tri và các thánh đồ đã thấy trong ngươi, &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cùng với máu của mọi người đã bị sát hại trên đất.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B66\V01B66C018.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1926 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền: Chương 17]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền: Chương 19]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* Thánh Kinh Lược Khảo - Nhà Xuất Bản Tin Lành Sài Gòn (1970)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Kh%E1%BA%A3i_Huy%E1%BB%81n:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_9&amp;diff=35644</id>
		<title>Khải Huyền: Chương 9</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Kh%E1%BA%A3i_Huy%E1%BB%81n:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_9&amp;diff=35644"/>
		<updated>2026-01-21T04:33:07Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Và rồi thiên sứ thứ năm thổi kèn, tôi thấy có một ngôi sao từ trời rơi xuống đất, và chìa khóa của vực sâu được trao cho người. 2. Khi người mở vực sâu, khói từ vực bay lên như khói của một lò lửa lớn; mặt trời và không gian bị u ám bởi khói của vực. 3. Từ trong luồng khói, châu chấu bay ra khắp đất, và chúng được ban cho khả năng giống như khả năng của bò cạp trên đất. 4. Chúng được dặn rằng không được làm hại cỏ trên đất, những vật xanh, hay cây cối, nhưng chỉ làm hại những người không có ấn của Đức Chúa Trời ở trên trán. 5. Chúng không được phép giết chết họ, nhưng hành hạ họ trong năm tháng. Sự đau đớn do chúng gây ra giống như sự đau đớn của người bị bò cạp chích. 6. Trong những ngày đó, người ta sẽ tìm kiếm sự chết nhưng không gặp; họ mong được chết nhưng sự chết đã tránh xa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Sự xuất hiện của các châu chấu giống như ngựa sẵn sàng cho chiến trận, trên đầu của chúng có những vật giống như những mão miện bằng vàng; mặt của chúng giống như mặt người. 8. Chúng có tóc giống như tóc của phụ nữ, và răng như răng của sư tử. 9. Chúng có giáp che ngực như giáp bằng sắt; tiếng cánh của chúng giống như tiếng của nhiều chiến xa do ngựa kéo đang xông vào chiến trường. 10. Chúng có đuôi và nọc giống như bò cạp; những đuôi nầy có sức mạnh làm tổn thương người ta trong năm tháng. 11. Chúng có một vua, là sứ giả của vực sâu. Tên trong tiếng Hê-bơ-rơ là A-ba-đôn, và trong tiếng Hy Lạp là A-pô-li-ôn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Khổ nạn thứ nhất đã qua. Kìa, sau những điều nầy còn hai khổ nạn nữa đang đến.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Thiên sứ thứ sáu thổi kèn, tôi nghe có tiếng từ bốn sừng của bàn thờ bằng vàng ở trước mặt Đức Chúa Trời, 14. nói với thiên sứ thứ sáu đang cầm kèn rằng: &amp;quot;Hãy để bốn thiên sứ đang bị bị giữ tại sông lớn Ơ-phơ-rát được tự do.&amp;quot; 15. Và rồi bốn thiên sứ được tự do. Họ đã chuẩn vị cho giờ, ngày, tháng, năm để giết một phần ba nhân loại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Số kỵ binh của đội quân là hai trăm triệu. Đó là con số của họ mà tôi đã nghe. 17. Trong khải tượng, tôi thấy ngựa và những người cưỡi chúng có giáp che ngực màu lửa, xanh lục và lưu huỳnh. Đầu của ngựa giống như đầu của sư tử; miệng của chúng phun ra lửa, khói và lưu huỳnh. 18. Một phần ba loài người bị giết vì ba tai nạn nầy, đó là: lửa, khói và lưu huỳnh ra từ miệng ngựa. 19. Vì sức mạnh của ngựa ở trong miệng và đuôi của chúng; đuôi của chúng giống như những đầu của rắn, và chúng được dùng để gây thương tích.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Những người còn lại, là những người không bị giết bởi những tai nạn nầy, vẫn không ăn năn những công việc của tay họ, cũng không từ bỏ việc thờ lạy các quỷ, các hình tượng bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng đá, bằng gỗ là những hình tượng không thể thấy, nghe hoặc đi được. 21. Họ cũng không ăn năn những tội giết người, tà thuật, gian dâm, và trộm cướp của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi thiên sứ thứ năm thổi kèn, tôi thấy một ngôi sao từ trời rơi xuống đất, và chìa khóa của vực sâu được trao cho người. Khi người mở vực sâu, khói từ vực bay lên như khói của một lò lửa lớn; mặt trời và không gian bị u ám bởi khói của vực. Từ trong luồng khói, châu chấu bay ra khắp đất, và chúng được ban cho khả năng giống như khả năng của bò cạp trên đất. Chúng được dặn rằng không được làm hại cỏ trên đất, những vật xanh, hay cây cối, nhưng chỉ làm hại những người không có ấn của Đức Chúa Trời ở trên trán. Chúng không được phép giết chết họ, nhưng hành hạ họ trong năm tháng. Sự đau đớn do chúng gây ra giống như sự đau đớn của người bị bò cạp chích. Trong những ngày đó, người ta sẽ tìm kiếm sự chết nhưng không gặp; họ mong được chết nhưng sự chết tránh xa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sự xuất hiện của các châu chấu giống như ngựa sẵn sàng cho chiến trận. Trên đầu chúng có những vật giống như những mão miện bằng vàng; mặt của chúng giống như mặt người. Chúng có tóc giống như tóc phụ nữ, và răng như răng sư tử. Chúng có giáp che ngực như giáp bằng sắt; tiếng cánh của chúng giống như tiếng của nhiều chiến xa do ngựa kéo đang xông vào chiến trường. Chúng có đuôi và nọc giống như bò cạp; những đuôi nầy có sức mạnh làm tổn thương người ta trong năm tháng. Chúng có một vua, là sứ giả của vực sâu. Tên trong tiếng Hê-bơ-rơ là A-ba-đôn, và trong tiếng Hy Lạp là A-pô-li-ôn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khổ nạn thứ nhất đã qua. Kìa, sau những điều nầy còn hai khổ nạn nữa đang đến.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thiên sứ thứ sáu thổi kèn, tôi nghe có tiếng từ bốn sừng của bàn thờ bằng vàng ở trước mặt Đức Chúa Trời, nói với thiên sứ thứ sáu đang cầm kèn rằng: Hãy thả bốn thiên sứ đang bị trói tại sông lớn Ơ-phơ-rát ra. Và rồi bốn thiên sứ được thả ra; họ đã chuẩn vị cho giờ, ngày, tháng, năm để giết một phần ba nhân loại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Số kỵ binh của đội quân là hai trăm triệu. Đó là con số của họ mà tôi đã nghe.  Trong khải tượng, tôi thấy ngựa và những người cưỡi chúng có giáp che ngực màu lửa, xanh lục và lưu huỳnh. Đầu của ngựa giống như đầu sư tử; miệng chúng phun ra lửa, khói và lưu huỳnh. Một phần ba loài người bị giết vì ba tai nạn nầy, đó là: lửa, khói và lưu huỳnh ra từ miệng ngựa. Vì sức mạnh của ngựa ở trong miệng và đuôi của chúng; đuôi của chúng giống như những đầu của rắn, và chúng được dùng để gây thương tích.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Phần còn lại của loài người, là những người không bị giết bởi những tai nạn nầy, vẫn không ăn năn những công việc của tay họ, cũng không từ bỏ việc thờ lạy các quỷ, các hình tượng bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng đá, bằng gỗ là những hình tượng không thể thấy, nghe hoặc đi được. Họ cũng không ăn năn những tội giết người, tà thuật, gian dâm, trộm cướp của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Và rồi thiên sứ thứ năm thổi kèn, tôi thấy một ngôi sao từ trời rơi xuống đất, và chìa khóa của vực sâu được trao cho người. 2. Khi người mở vực sâu, khói từ vực bay lên như khói của một lò lửa lớn; mặt trời và không gian bị u ám bởi khói của vực. 3. Từ trong luồng khói, châu chấu bay ra khắp đất, và chúng được ban cho khả năng giống như khả năng của bò cạp trên đất. 4. Chúng được dặn rằng không được làm hại cỏ trên đất, những vật xanh, hay cây cối, nhưng chỉ làm hại những người không có ấn của Đức Chúa Trời ở trên trán. 5. Chúng không được phép giết chết họ, nhưng hành hạ họ trong năm tháng. Sự đau đớn do chúng gây ra giống như sự đau đớn của người bị bò cạp chích. 6. Trong những ngày đó, người ta sẽ tìm kiếm sự chết nhưng không gặp; họ mong được chết nhưng sự chết tránh xa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Sự xuất hiện của các châu chấu giống như ngựa sẵn sàng cho chiến trận. Trên đầu chúng có những vật giống như những mão miện bằng vàng; mặt của chúng giống như mặt người. 8. Chúng có tóc giống như tóc phụ nữ, và răng như răng sư tử. 9. Chúng có giáp che ngực như giáp bằng sắt; tiếng cánh của chúng giống như tiếng của nhiều chiến xa do ngựa kéo đang xông vào chiến trường. 10. Chúng có đuôi và nọc giống như bò cạp; những đuôi nầy có sức mạnh làm tổn thương người ta trong năm tháng. 11. Chúng có một vua, là sứ giả của vực sâu. Tên trong tiếng Hê-bơ-rơ là A-ba-đôn, và trong tiếng Hy Lạp là A-pô-li-ôn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Khổ nạn thứ nhất đã qua. Kìa, sau những điều nầy còn hai khổ nạn nữa đang đến.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Thiên sứ thứ sáu thổi kèn, tôi nghe có tiếng từ bốn sừng của bàn thờ bằng vàng ở trước mặt Đức Chúa Trời, 14. nói với thiên sứ thứ sáu đang cầm kèn rằng: Hãy thả bốn thiên sứ đang bị trói tại sông lớn Ơ-phơ-rát ra. 15. Và rồi bốn thiên sứ được thả ra; họ đã chuẩn vị cho giờ, ngày, tháng, năm để giết một phần ba nhân loại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Số kỵ binh của đội quân là hai trăm triệu. Đó là con số của họ mà tôi đã nghe. 17. Trong khải tượng, tôi thấy ngựa và những người cưỡi chúng có giáp che ngực màu lửa, xanh lục và lưu huỳnh. Đầu của ngựa giống như đầu sư tử; miệng chúng phun ra lửa, khói và lưu huỳnh. 18. Một phần ba loài người bị giết vì ba tai nạn nầy, đó là: lửa, khói và lưu huỳnh ra từ miệng ngựa. 19. Vì sức mạnh của ngựa ở trong miệng và đuôi của chúng; đuôi của chúng giống như những đầu của rắn, và chúng được dùng để gây thương tích.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Phần còn lại của loài người, là những người không bị giết bởi những tai nạn nầy, vẫn không ăn năn những công việc của tay họ, cũng không từ bỏ việc thờ lạy các quỷ, các hình tượng bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng đá, bằng gỗ là những hình tượng không thể thấy, nghe hoặc đi được. 21. Họ cũng không ăn năn những tội giết người, tà thuật, gian dâm, trộm cướp của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vị thiên sứ thứ năm thổi loa, thì tôi thấy một ngôi sao từ trời rơi xuống đất, và được ban cho chìa khóa của vực sâu không đáy. 2.  Ngôi sao ấy mở vực sâu không đáy ra, có một luồng khói dưới vực bay lên, như khói của lò lửa lớn; mặt trời và không khí đều bị tối tăm bởi luồng khói của vực. 3.  Từ luồng khói ấy, có những châu chấu bay ra rải trên mặt đất; và có kẻ ban cho chúng nó quyền giống như bọ cạp ở đất vậy. 4.  Có lời truyền cho chúng nó chớ làm hại loài cỏ ở đất, thứ xanh và cây cối nào, nhưng chỉ làm hại những người không có ấn Đức Chúa Trời ở trên trán. 5.  Lại cho chúng nó phép, không phải là giết, nhưng là làm khổ những người đó trong năm tháng, và sự làm khổ ấy giống như sự làm khổ khi bọ cạp cắn người ta. 6.  Trong những ngày đó, người ta sẽ tìm sự chết, mà không tìm được; họ sẽ ước ao chết đi mà sự chết tránh xa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Những châu chấu đó giống như những ngựa sắm sẵn để đem ra chiến trận: trên đầu nó có như mão triều thiên tợ hồ bằng vàng, và mặt nó như mặt người ta; 8.  nó có tóc giống tóc đàn bà, và răng nó như răng sư tử. 9.  Nó có giáp như giáp bằng sắt; và tiếng cánh nó như tiếng của nhiều xe có nhiều ngựa kéo chạy ra nơi chiến trường. 10.  Đuôi nó có nọc, như bọ cạp, ấy bởi trong những đuôi đó mà chúng nó có quyền hại người ta trong năm tháng. 11.  Nó có vua đứng đầu, là sứ giả của vực sâu, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là A-ba-đôn, tiếng Gờ-réc là A-bô-ly-ôn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Nạn thứ nhất đã qua; nay còn hai nạn nữa đến sau nó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13.  Vị thiên sứ thứ sáu thổi loa, thì tôi nghe có tiếng ra từ bốn góc bàn thờ bằng vàng đặt trước mặt Đức Chúa Trời. 14.  Tiếng ấy nói cùng vị thiên sứ thứ sáu đang cầm loa rằng: Hãy cổi cho bốn vị thiên sứ bị trói trên bờ sông cái Ơ-phơ-rát. 15.  Bốn vị thiên sứ bèn được cổi trói, đã chực sẵn đến giờ, ngày, tháng, và năm ấy, hầu cho tiêu diệt một phần ba loài người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16.  Số binh kỵ mã của đạo quân là hai trăm triệu; số đó tôi đã nghe. 17.  Kìa trong sự hiện thấy, tôi thấy những ngựa và kẻ cỡi ra làm sao: những kẻ ấy đều mặc giáp màu lửa, mầu tía, mầu lưu hoàng; đầu ngựa giống như đầu sư tử, và miệng nó có phun lửa, khói và diêm sanh. 18.  Một phần ba loài người bị giết vì ba tai nạn đó, là lửa, khói, và diêm sanh ra từ miệng ngựa. 19.  Vì quyền phép của những ngựa ấy ở nơi miệng và đuôi nó; những đuôi ấy giống như con rắn, và có đầu, nhờ đó nó làm hại người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20.  Còn những người sót lại, chưa bị các tai nạn đó giết đi, vẫn không ăn năn những công việc bởi tay chúng nó làm cứ thờ lạy ma quỉ cùng thần tượng bằng vàng, bạc, đồng, đã và gỗ, là những tượng không thấy, không nghe, không đi được. 21.  Chúng nó cũng không ăn năn những tội giết người, tà thuật, gian dâm, trộm cướp của mình nữa. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B66\V02B66C009.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tiếng Kèn Thứ Năm'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vị thiên sứ thứ năm thổi kèn, tôi thấy một ngôi sao từ trời lao xuống đất, và ngôi sao ấy được ban cho chìa khóa của vực thẳm.  2 Ngôi sao ấy mở vực thẳm, khói từ vực thẳm bốc lên cuồn cuộn như khói của một lò lửa lớn; mặt trời và bầu trời bị khói từ vực thẳm che tối.  3 Từ trong luồng khói đó châu chấu bay ra khắp đất, và chúng được ban cho quyền phá hoại như quyền của những bò cạp trên đất.  4 Chúng được lịnh không được làm hại cỏ xanh, các loài thực vật, hay cây cối trên đất, nhưng chỉ làm hại những người không có ấn của Ðức Chúa Trời trên trán.  5 Chúng không được phép giết họ, nhưng chỉ hành hạ họ trong năm tháng, và họ sẽ bị đau đớn như bị bò cạp chích.  6 Trong những ngày ấy người ta sẽ tìm cái chết nhưng tìm không được; họ mong cho được chết, nhưng tử thần đã trốn khỏi họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Hình dạng những châu chấu ấy giống như những ngựa chiến được chuẩn bị sẵn sàng để ra trận.  Trên đầu chúng có vật gì giống như cái mão bằng vàng, và mặt chúng giống như mặt người. 8 Chúng có tóc như tóc phụ nữ, và răng chúng như răng sư tử.  9 Chúng có giáp che ngực cứng như giáp sắt, và âm thanh của cánh chúng như tiếng của nhiều xe chiến mã đang xông vào trận mạc.  10 Chúng có đuôi như đuôi bò cạp với ngòi chích độc trong đuôi ấy, và trong đuôi chúng có chất độc làm người ta đau đớn trong năm tháng.  11 Chúng có một vua lãnh đạo chúng, đó là quỷ sứ của vực thẳm.  Tên của nó trong tiếng Hê-bơ-rơ là “A-ba-đôn,” còn tên đó trong tiếng Hy-lạp là “A-pô-ly-ôn.”       &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Cơn khốn thứ nhất đã qua, này, còn hai cơn khốn nữa sắp đến.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tiếng Kèn Thứ Sáu'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Vị thiên sứ thứ sáu thổi kèn, tôi nghe có tiếng từ bốn sừng của bàn thờ bằng vàng trước mặt Ðức Chúa Trời 14 bảo vị thiên sứ thứ sáu đang có cây kèn rằng, “Hãy thả bốn thiên sứ đang bị trói ở sông lớn Ơ-phơ-rát ra.”  15 Vậy bốn thiên sứ ấy, vốn được chuẩn bị sẵn cho giờ, ngày, tháng, và năm, được thả ra để tiêu diệt một phần ba nhân loại.  16 Số của các kỵ binh là hai trăm triệu; tôi đã nghe được quân số đó của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Các chiến mã và các kỵ binh tôi thấy trong khải tượng trông giống như thế này: Họ mặc áo giáp đỏ như lửa, xanh như nước biển, và vàng như lưu huỳnh; đầu các chiến mã giống như đầu sư tử, và miệng chúng phun ra lửa, khói, và lưu huỳnh.  18 Một phần ba nhân loại bị tiêu diệt bằng ba tai họa đó, tức bằng lửa, khói, và lưu huỳnh phun ra từ miệng chúng.  19 Sức mạnh của các chiến mã ấy ở trong miệng và đuôi chúng, vì đuôi chúng giống như rắn độc có đầu; và chúng dùng miệng và đuôi chúng để giết hại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Tuy nhiên nhân loại còn lại, tức những người không bị giết bởi các tai họa ấy, vẫn không chịu ăn năn những việc tay họ làm.  Họ vẫn không từ bỏ sự thờ lạy các quỷ và các thần tượng làm bằng vàng, bạc, đồng, đá, và gỗ là những thứ không thể thấy, nghe, và đi.  21 Họ vẫn không ăn năn từ bỏ các tội sát nhân, tà thuật, gian dâm, và trộm cắp của họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B66\V01B66C009.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1926 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền: Chương 8]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền: Chương 10]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* Thánh Kinh Lược Khảo - Nhà Xuất Bản Tin Lành Sài Gòn (1970)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Kh%E1%BA%A3i_Huy%E1%BB%81n:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_19&amp;diff=35643</id>
		<title>Khải Huyền: Chương 19</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Kh%E1%BA%A3i_Huy%E1%BB%81n:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_19&amp;diff=35643"/>
		<updated>2026-01-19T23:48:08Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;== Bản Dịch Việt Ngữ ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau những điều này, tôi nghe như có một giọng nói thật lớn của một đoàn người rất đông từ trời hô rằng: &amp;quot;Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh quang và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời của chúng ta. 2. Bởi vì những sự phán xét của Ngài là chân thật và công minh. Ngài đã phán xét đại kỹ nữ, là kẻ đã dùng sự dâm loạn của mình làm hư hỏng đất; và Ngài đã báo thù về máu của các đầy tớ của Ngài do kỹ nữ làm đổ ra.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Họ nói lần thứ hai: &amp;quot;Ha-lê-lu-gia! Khói của nó bay lên đời đời!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật phủ phục và thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng ngồi trên ngai, rồi nói: &amp;quot;A-men! Ha-lê-lu-gia!&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Có giọng từ ngai vang ra nói rằng: &amp;quot;Tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta, là những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn, hãy ca ngợi Ngài!&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Và rồi tôi nghe có tiếng như tiếng của một đoàn người rất đông, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn, nói rằng: &amp;quot;Ha-lê-lu-gia! Bởi vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta đang trị vì. 7. Chúng ta hãy vui mừng hân hoan, hãy dâng vinh quang cho Ngài, bởi vì lễ cưới của Chiên Con đã đến và Vợ của Ngài đã chuẩn bị chính nàng sẵn sàng. 8. Nàng đã được ban cho vải mịn, tươi sáng, và tinh khiết để mặc&amp;quot; - Vải mịn là những việc công chính của các thánh đồ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Rồi người nói cùng tôi: &amp;quot;Hãy viết! Phước cho những người được mời dự tiệc cưới của Chiên Con!&amp;quot; Và người nói với tôi: &amp;quot;Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời.&amp;quot; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Tôi phủ phục dưới chân của người để thờ lạy người, nhưng người bảo: &amp;quot;Đừng làm như vậy! Ta là người cùng phục vụ như ngươi và các anh em của ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời. Bởi vì lời chứng của Đức Chúa Jesus là linh khí của lời tiên tri.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Và rồi tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng, và Đấng được gọi là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT ngồi trên nó; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính. 12. Mắt của Ngài như ngọn lửa; trên đầu của Ngài có nhiều vương miện, trên đó có viết một danh mà ngoài Ngài không ai biết được. 13. Ngài mặc trang phục đã được nhúng trong máu. Danh của Ngài được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. 14. Những đạo quân trên trời đều mặc vải mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi những con ngựa trắng và theo Ngài. 15. Từ miệng Ngài phát ra một lưỡi gươm bén, Ngài đã dùng nó để đánh các nước; Ngài sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt. Ngài đạp bàn ép nho với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. 16. Trên áo choàng và trên đùi của Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Rồi tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời, người hô lớn gọi các loài chim bay giữa trời: &amp;quot;Hãy đến! Hãy tụ họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, 18. để ăn thịt của các vua, thịt của các tướng lĩnh, thịt của những dũng sĩ, thịt ngựa và những người cưỡi chúng, thịt của tất cả, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Và rồi tôi thấy con thú và các vua trên đất cùng với quân đội của họ đã tập trung lại để tranh chiến với Đấng cưỡi ngựa và quân đội của Ngài. 20. Nhưng con thú đã bị bắt, cùng với hắn là tiên tri giả - là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt con thú, để lừa dối những người đã nhận dấu của con thú và những người thờ lạy hình tượng của nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. 21. Những người còn lại đều bị giết bằng thanh gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa. Tất cả chim chóc đều ăn thịt của họ no nê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Bản Dịch Đại Chúng ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau những điều này, tôi nghe như có một giọng nói thật lớn của một đoàn người rất đông từ trời hô rằng: Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh quang và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời của chúng ta. Bởi vì những sự phán xét của Ngài là chân thật và công minh. Ngài đã phán xét đại kỹ nữ, là kẻ đã dùng sự dâm loạn của mình làm hư hỏng đất; và Ngài đã báo thù về máu của các đầy tớ của Ngài do kỹ nữ làm đổ ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Họ nói lần thứ hai: Ha-lê-lu-gia! Khói của nó bay lên đời đời!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật phủ phục và thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng ngồi trên ngai, rồi nói: A-men! Ha-lê-lu-gia! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có giọng từ ngai vang ra nói rằng: Tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta, là những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn, hãy ca ngợi Ngài!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi tôi nghe có tiếng như tiếng của một đoàn người rất đông, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn, nói rằng: Ha-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta trị vì. Chúng ta hãy vui mừng hân hoan, hãy dâng vinh quang cho Ngài, bởi vì lễ cưới của Chiên Con đã đến và Vợ của Ngài đã chuẩn bị chính nàng sẵn sàng. Nàng đã được ban cho vải mịn, tươi sáng, và tinh khiết để mặc - (vải mịn là những việc công chính của các thánh đồ).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi người nói cùng tôi: Hãy viết! Phước cho những người được mời dự tiệc cưới của Chiên Con! Và người nói với tôi: Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi phủ phục dưới chân của người để thờ lạy người, nhưng người bảo: Đừng làm như vậy! Ta là người cùng phục vụ như ngươi và các anh em của ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời. Vì lời chứng của Đức Chúa Jesus là tinh thần của lời tiên tri.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng, và Đấng được gọi là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT ngồi trên nó; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính.  Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu Ngài có nhiều vương miện, trên đó có viết một danh mà ngoài Ngài không ai biết được. Ngài mặc trang phục đã được nhúng trong máu. Danh của Ngài được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. Những đạo quân trên trời đều mặc vải mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi những ngựa trắng và theo Ngài. Từ miệng Ngài phát ra một lưỡi gươm bén, Ngài dùng nó để đánh các nước; Ngài sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt. Ngài đạp bàn ép nho với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Trên áo choàng và trên đùi của Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời, người hô lớn gọi các loài chim bay giữa trời: Hãy đến! Hãy tụ họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, để ăn thịt của các vua, thịt của các tướng lĩnh, thịt của những dũng sĩ, thịt ngựa và những người cưỡi chúng, thịt của tất cả, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và rồi tôi thấy con thú và các vua trên đất cùng với quân đội của họ tập trung lại để tranh chiến với Đấng cưỡi ngựa và quân đội của Ngài. Nhưng con thú bị bắt, cùng với hắn là tiên tri giả - là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt con thú, để lừa dối những người đã nhận dấu của con thú và những người thờ lạy hình tượng của nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. Những người còn lại đều bị giết bằng thanh gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa; tất cả chim chóc đều ăn thịt của họ no nê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
== Bản Dịch Ngữ Căn ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau những điều này, tôi nghe như có một giọng nói thật lớn của một đoàn người rất đông từ trời hô rằng: Ha-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh quang và quyền năng thuộc về Đức Chúa Trời của chúng ta. 2. Bởi vì những sự phán xét của Ngài là chân thật và công minh. Ngài đã phán xét đại kỹ nữ, là kẻ đã dùng sự dâm loạn của mình làm hư hỏng đất; và Ngài đã báo thù về máu của các đầy tớ của Ngài do kỹ nữ làm đổ ra.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Họ nói lần thứ hai: Ha-lê-lu-gia! Khói của nó bay lên đời đời!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Hai mươi bốn trưởng lão và bốn sinh vật phủ phục và thờ lạy Đức Chúa Trời là Đấng ngồi trên ngai, rồi nói: A-men! Ha-lê-lu-gia! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Có giọng từ ngai vang ra nói rằng: Tất cả các đầy tớ của Đức Chúa Trời chúng ta, là những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn, hãy ca ngợi Ngài!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Và rồi tôi nghe có tiếng như tiếng của một đoàn người rất đông, như tiếng của nhiều dòng nước, như tiếng sấm lớn, nói rằng: Ha-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta trị vì. 7. Chúng ta hãy vui mừng hân hoan, hãy dâng vinh quang cho Ngài, bởi vì lễ cưới của Chiên Con đã đến và Vợ của Ngài đã chuẩn bị chính nàng sẵn sàng. 8. Nàng đã được ban cho vải mịn, tươi sáng, và tinh khiết để mặc - (vải mịn là những việc công chính của các thánh đồ).&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Rồi người nói cùng tôi: Hãy viết! Phước cho những người được mời dự tiệc cưới của Chiên Con! Và người nói với tôi: Đây là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Tôi phủ phục dưới chân người để thờ lạy người, nhưng người bảo: Đừng làm như vậy, ta là người cùng phục vụ như ngươi và các anh em của ngươi, là những người giữ lời chứng của Đức Chúa Jesus. Hãy thờ phượng Đức Chúa Trời. Vì lời chứng của Đức Chúa Jesus là tinh thần của lời tiên tri.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Và rồi tôi thấy trời mở ra, và kìa, có một con ngựa trắng, và Đấng được gọi là THÀNH TÍN VÀ CHÂN THẬT ngồi trên nó; Ngài phán xét và chiến đấu trong sự công chính. 12. Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu Ngài có nhiều vương miện, trên đó có viết một danh mà ngoài Ngài không ai biết được. 13. Ngài mặc trang phục đã được nhúng trong máu. Danh của Ngài được gọi là LỜI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI. 14. Những đạo quân trên trời đều mặc vải mịn, trắng và tinh khiết, cưỡi những ngựa trắng và theo Ngài. 15. Từ miệng Ngài phát ra một lưỡi gươm bén, Ngài dùng nó để đánh các nước; Ngài sẽ chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt. Ngài đạp bàn ép nho với cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời Toàn Năng. 16. Trên áo choàng và trên đùi của Ngài có ghi một danh: VUA CỦA CÁC VUA, CHÚA CỦA CÁC CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Rồi tôi thấy một thiên sứ đứng trong mặt trời, người hô lớn gọi các loài chim bay giữa trời: Hãy đến! Hãy tụ họp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, 18. để ăn thịt của các vua, thịt của các tướng lĩnh, thịt của những dũng sĩ, thịt ngựa và những người cưỡi chúng, thịt của tất cả, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Và rồi tôi thấy con thú và các vua trên đất cùng với quân đội của họ tập trung lại để tranh chiến với Đấng cưỡi ngựa và quân đội của Ngài. 20. Nhưng con thú bị bắt, cùng với hắn là tiên tri giả - là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt con thú, để lừa dối những người đã nhận dấu của con thú và những người thờ lạy hình tượng của nó. Cả hai đều bị quăng sống xuống hồ lửa lưu huỳnh đang bừng cháy. 21. Những người còn lại đều bị giết bằng thanh gươm ra từ miệng của Đấng cưỡi ngựa; tất cả chim chóc đều ăn thịt của họ no nê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Sự đó đoạn, tôi nghe ở trên trời như có tiếng lớn của lũ đông lắm rằng: A-lê-lu-gia! Sự cứu chuộc, vinh hiển, quyền phép đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta. 2.  Vì những sự phán xét của Ngài đều chân thật và công bình: Ngài đã đoán phạt đại dâm phụ nó lấy đều dâm loạn làm hư hỏng thế gian, và Ngài đã báo thù huyết của các tôi tớ Ngài đã bị tay con dâm phụ đó làm đổ ra. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Chúng lại nói một lần thứ hai rằng: A-lê-lu-gia! Luồng khói nó bay lên đời đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Hai mươi bốn trưởng lão cùng bốn con sanh vật bèn mọp xuống thờ lạy Đức Chúa Trời, là Đấng ngồi trên ngôi, mà rằng: A-men, A-lê-lu-gia! 5.  Lại có tiếng từ ngôi đến rằng: Hết thảy các ngươi là tôi tớ Đức Chúa Trời chúng ta, vẫn kính sợ Ngài, nhỏ hay lớn, đều hãy ngợi khen Ngài! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Đoạn, tôi lại nghe có tiếng như một đám đông vô số người, khác nào tiếng nước lớn hoặc như tiếng sấm dữ, mà rằng: A-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng Toàn năng, đã cầm quyền cai trị. 7.  Chúng ta hãy hớn hở vui mừng, tôn vinh Ngài; vì lễ cưới Chiên Con đã tới, và vợ Ngài đã sửa soạn, 8.  đã cho người được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn (vải gai mịn tức là công việc công bình của các thánh đồ). &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Thiên sứ phán cùng tôi rằng: Hãy chép: Phước thay cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con! Người lại tiếp rằng: Đó là những lời chân thật của Đức Chúa Trời. 10.  Tôi bèn gieo mình xuống dưới chân người đặng thờ lạy; song người phán rằng: Hãy giữ lấy, đừng làm vậy; ta là bạn tôi tớ với ngươi và với anh em ngươi là người cùng giữ lời chứng của Đức Chúa Jêsus. Ngươi hãy thờ lạy Đức Chúa Trời. Vì sự làm chứng cho Đức Chúa Jêsus là đại ý của lời tiên tri. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Bấy giờ tôi thấy trời mở ra, và có một con ngựa bạch hiện ra: Đấng cỡi ngựa ấy gọi là Đấng Trung Tín Và Chân Thật; Ngài lấy lẽ công bình mà xét đoán và chiến đấu. 12.  Mắt Ngài như ngọn lửa; trên đầu có nhiều mão triều thiên, lại có đề một danh, ngoài Ngài ra không ai biết được. 13.  Ngài mặc áo nhúng trong huyết, danh Ngài xưng là Lời Đức Chúa Trời. 14.  Các đạo binh trên trời đều mặc vải gai mịn, trắng và sạch, cỡi ngựa bạch theo Ngài. 15.  Có một lưỡi gươm bén ở miệng Ngài ra, Ngài sẽ lấy nó mà đánh các dân, và cai trị họ bằng một cây gậy sắt. Ngài giày đạp thùng rượu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời toàn năng. 16.  Trên áo tơi và trên đùi Ngài, có đề một danh là Vua Của Các Vua Và Chúa Của Các Chúa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời. Người cất tiếng lớn kêu các chim chóc bay giữa không của trời, mà rằng: Hãy đến, bay hãy nhóm hiệp lại để dự tiệc lớn của Đức Chúa Trời, 18.  hãy đến ăn thịt các vua, thịt các tướng, thịt các dũng sĩ, thịt ngựa cùng kẻ cỡi ngựa, và thịt của mọi người, tự chủ và tôi mọi, nhỏ và lớn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19.  Tôi lại thấy con thú và các vua thế gian cùng những quân đội mình nhóm lại đặng tranh chiến với Đấng cỡi ngựa, và với đạo binh của Ngài. 20.  Nhưng con thú bị bắt và tiên tri giả là kẻ đã làm phép lạ trước mặt con thú, nhờ đó lừa dối những người đã nhận dấu hiệu con thú cùng thờ lạy hình tượng nó, cùng bị bắt với nó nữa; cả hai đều đang sống bị quăng xuống hồ có lửa và diêm cháy bừng bừng. 21.  Những kẻ khác đều bị giết bởi lưỡi gươm ra từ miệng Đấng cỡi ngựa, và hết thảy chim chóc đều được ăn thịt chúng nó no nê. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B66\V02B66C019.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ca Mừng trên Thiên Ðàng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Sau những điều ấy, tôi nghe có tiếng như tiếng của một đám đông rất lớn trên trời hô to rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ha-lê-lu-gia!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ơn cứu rỗi, vinh hiển, và quyền lực đều thuộc về Ðức Chúa Trời chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Vì những phán quyết của Ngài đều là chân chính và công bình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã đoán phạt con điếm trứ danh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kẻ đã làm băng hoại thế gian bằng sự gian dâm của nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã báo thù cho máu của các đầy tớ Ngài bị nó làm đổ ra.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Họ lại nói lần nữa rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ha-lê-lu-gia!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khói từ nó bay lên đời đời vô cùng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Hai mươi bốn vị trưởng lão và bốn Sinh Vật sấp mình xuống và thờ lạy Ðức Chúa Trời, Ðấng đang ngự trên ngai, và nói,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“A-men!  Ha-lê-lu-gia!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Kế đó một tiếng nói từ ngai vang ra, bảo rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Hãy ca ngợi Ðức Chúa Trời chúng ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hỡi các đầy tớ của Ngài và hỡi những người kính sợ Ngài, cả nhỏ lẫn lớn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tiệc Cưới của Chiên Con'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Bấy giờ tôi nghe có tiếng gì như tiếng của một đám đông rất lớn, như tiếng của nhiều dòng nước chảy, và như tiếng của nhiều tiếng sấm nổ vang rền rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ha-lê-lu-gia!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Chúa là Ðức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta trị vì.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Chúng ta hãy vui mừng, hớn hở, và dâng vinh hiển lên Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì hôn lễ của Chiên Con đã đến,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và cô dâu của Ngài đã chuẩn bị cho nàng sẵn sàng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Cô dâu ấy đã được ban cho bộ y phục bằng vải gai mịn, tinh bạch, và rạng ngời để mặc; vì vải gai mịn tượng trưng cho những việc công chính của các thánh đồ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Bấy giờ vị thiên sứ bảo tôi, “Hãy chép điều này, ‘Phước cho những người được mời đến dự tiệc cưới của Chiên Con.’”  Vị thiên sứ ấy lại bảo tôi, “Ðây là những lời chân thật của Ðức Chúa Trời.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Tôi liền sấp mình xuống trước mặt vị thiên sứ ấy để thờ lạy, nhưng vị thiên sứ ấy bảo tôi, “Chớ làm vậy, vì ta cũng chỉ là một đồng bạn làm đầy tớ với ngươi và với anh chị em ngươi, những người giữ vững lời chứng của Ðức Chúa Jesus; hãy thờ phượng Ðức Chúa Trời; vì lời chứng của Ðức Chúa Jesus là linh khí của lời tiên tri.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ðấng Cỡi Ngựa Trắng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Bấy giờ tôi thấy trời mở ra; và kìa, một con ngựa trắng với người cỡi nó được xưng là Ðấng Thành Tín và Chân Thật, và Ngài cứ theo lẽ công chính mà đoán xét và tuyên chiến.  12 Mắt Ngài như ngọn lửa hừng, trên đầu Ngài có nhiều vương miện, và Ngài có một danh được ghi rõ, nhưng không ai biết, ngoại trừ  Ngài.  13 Ngài mặc một áo choàng đã nhúng trong máu, và danh Ngài được xưng là Lời Ðức Chúa Trời.  14 Các đạo binh trên trời mặc quân phục bằng vải gai mịn, trắng ngần, và tinh sạch, cỡi ngựa trắng, đi theo Ngài.  15 Từ miệng Ngài ra một thanh gươm sắc bén, để Ngài dùng nó đánh hạ các nước; Ngài chăn dắt họ bằng một cây gậy sắt; và Ngài đạp nát nho trong bồn ép nho cho thành rượu sủi bọt thịnh nộ phừng phừng của Ðức Chúa Trời Toàn Năng.  16 Trên áo Ngài và nơi đùi Ngài có ghi một danh, “Vua của các vua và Chúa của các chúa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Sau đó tôi thấy một vị thiên sứ đứng trong mặt trời; vị thiên sứ ấy lớn tiếng bảo mọi loài chim bay giữa trời rằng, “Hãy đến! Hãy tụ họp để dự đại tiệc của Ðức Chúa Trời, 18 để các ngươi có thể ăn thịt các vua, thịt các quan tướng, thịt các dũng sĩ, thịt các chiến mã, thịt các kỵ binh, và thịt của mọi người, cả tự do lẫn nô lệ, cả nhỏ lẫn lớn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Bấy giờ tôi thấy Con Thú, các vua trên đất, và các đạo quân của họ tập họp lại để chiến đấu với Ðấng cỡi ngựa trắng và với đạo quân của Ngài.  20 Con Thú và tiên tri giả của nó đều bị bắt sống; tiên tri giả ấy là kẻ đã thực hiện những dấu lạ trước mặt Con Thú; nó đã dùng những dấu lạ để gạt những kẻ đã nhận dấu của Con Thú và những kẻ thờ phượng hình tượng của Con Thú.  Hai kẻ đó bị quăng sống vào lò lửa cháy phừng phừng với lưu huỳnh.  21 Còn những kẻ khác bị giết bằng thanh gươm của Ðấng cỡi trên lưng ngựa, đó là thanh gươm đã ra từ miệng Ngài; và tất cả chim trời được no nê vì thịt của chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B66\V01B66C019.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1926 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền: Chương 18]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Khải Huyền: Chương 20]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* Thánh Kinh Lược Khảo - Nhà Xuất Bản Tin Lành Sài Gòn (1970)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=R%C3%B4-ma:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_8&amp;diff=35642</id>
		<title>Rô-ma: Chương 8</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=R%C3%B4-ma:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_8&amp;diff=35642"/>
		<updated>2026-01-18T22:18:38Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Như vậy, hiện nay không còn sự kết án cho những ai ở trong Ðức Chúa Jesus Christ, là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh. 2. Bởi vì luật của Thánh Linh là Ðấng ban sự sống trong Ðức Chúa Jesus Christ đã giải thoát anh em khỏi luật của tội lỗi và sự chết. 3. Bởi vì điều gì luật pháp bất lực, do xác thịt làm cho suy yếu, thì Ðức Chúa Trời đã làm rồi. Ngài đã sai chính Con Ngài đến trong thân xác giống như xác thịt tội lỗi, và vì cớ tội lỗi, đã đoán phạt tội lỗi trong thân xác đó, 4. để hoàn tất đòi hỏi của luật pháp trên chúng ta, là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Đức Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Thật vậy, những ai theo xác thịt, tâm trí hướng vào những việc thuộc về xác thịt, những ai theo Thánh Linh, thì hướng vào những việc thuộc về Thánh Linh. 6. Như vậy, hướng tâm trí vào xác thịt đưa đến sự chết, nhưng hướng tâm trí vào Thánh Linh dẫn đến sự sống và bình an, 7. bởi vì tâm trí hướng về xác thịt là thù nghịch với Đức Chúa Trời - do không chịu, và cũng không thể, thuận phục luật pháp của Đức Chúa Trời. 8. Những người sống theo xác thịt không thể làm đẹp lòng Ðức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Tuy nhiên, nếu thật sự Thánh Linh của Ðức Chúa Trời đang ở trong anh em, anh em không sống theo xác thịt nhưng theo Thánh Linh. Nếu ai không có Thánh Linh của Ðấng Christ, người ấy không thuộc về Ngài. 10. Tuy nhiên, nếu Ðấng Christ đang ở trong anh em, dù thân thể của anh em chết theo tội lỗi, tâm linh của anh em sống theo sự công chính. 11. Nếu Thánh Linh của Ðấng đã làm cho Ðức Chúa Jesus sống lại từ cõi chết ở trong anh em, thì Ðấng đã làm cho Ðấng Christ sống lại từ cõi chết, cũng sẽ ban sự sống cho thân thể khả tử của anh em qua Thánh Linh của Ngài, là Ðấng đang ngự trong anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Anh em ơi! Như vậy chúng ta không còn mắc nợ xác thịt để sống theo xác thịt nữa. 13. Do đó nếu anh em cứ sống theo xác thịt, anh em chắc chắn sẽ chết; nhưng nếu anh em nhờ Thánh Linh làm chết những hành vi của thân xác, anh em sẽ sống. 14. Bởi vì những ai được Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dẫn dắt đều là con của Ðức Chúa Trời. 15. Do đó anh em không còn nhận tâm linh của một kẻ nô lệ để phải sợ hãi nữa, nhưng anh em đã nhận lấy tâm linh của những người được nhận làm con nuôi của Đấng mà chúng ta gọi là “A-ba, Cha!” 16. Chính Thánh Linh làm chứng cho tâm linh của chúng ta rằng chúng ta là con của Ðức Chúa Trời. 17. Hơn thế nữa, con là những người thừa kế - những người thừa kế của Ðức Chúa Trời và những người đồng thừa kế với Ðấng Christ; nếu thật sự chúng ta chịu khổ với Ngài, chúng ta cũng sẽ cùng được vinh quang. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thật vậy, tôi cho rằng những đau khổ hiện tại không thể so sánh với vinh quang mà tương lai sẽ bày tỏ cho chúng ta. 19. Tạo vật đang chờ đợi và nôn nả trông chờ sự hiển lộ của các con Đức Chúa Trời. 20. Bởi vì tạo vật - không phải tự ý, nhưng bởi Ðấng bắt nó phục tùng - đã khuất phục sự hư không với niềm hy vọng 21. rằng chính tạo vật cũng sẽ được thoát khỏi ách nô lệ của sự hư hoại để được vào trong sự tự do vinh quang của các con của Ðức Chúa Trời. 22. Thật vậy, chúng ta biết tạo vật đang rên siết và đau đớn quằn quại cho đến bây giờ. 23. Không chỉ như thế, nhưng chính chúng ta, là những trái đầu mùa của Ðức Thánh Linh, chúng ta cũng có những quặn thắt của chính mình và trông chờ ngày được trọn quyền làm con, để nhận được sự cứu chuộc thân thể của mình. 24. Vì niềm hy vọng này mà chúng ta được cứu. Hy vọng đã được nhìn thấy thì không còn là hy vọng, bởi vì ai lại trông mong điều mình đang thấy bao giờ? 25. Nhưng nếu chúng ta hy vọng vào điều chúng ta chưa thấy, chúng ta sẽ kiên nhẫn chờ đợi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Cũng vậy, Thánh Linh cũng giúp trong sự yếu đuối của chúng ta, bởi vì chúng ta không biết phải cầu xin điều gì, nhưng chính Thánh Linh dùng những thở than, không thể diễn đạt bằng lời, mà cầu xin cho chúng ta. 27. Đấng dò xét lòng người biết ý tưởng của Thánh Linh, bởi vì Thánh Linh theo ý muốn Đức Chúa Trời mà cầu xin cho các thánh đồ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại đem ích lợi cho những người yêu mến Ðức Chúa Trời, tức là những người được kêu gọi theo mục đích của Ngài. 29. Bởi vì những người Ngài biết trước, Ngài cũng đã định trước để trở nên giống như hình ảnh của Con Ngài - là con đầu lòng ở giữa các em. 30. Những người Ngài đã định trước, Ngài cũng đã kêu gọi; những người Ngài đã kêu gọi, Ngài cũng đã xưng công chính; những người Ngài đã xưng công chính, Ngài cũng làm cho vinh hiển. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31. Như vậy chúng ta sẽ nói gì về những điều nầy? Nếu Ðức Chúa Trời ủng hộ chúng ta, ai có thể chống lại chúng ta?  32. Ngài đã không tiếc chính Con Ngài, nhưng vì tất cả chúng ta, Ngài đã ban Con ấy, lẽ nào Ngài sẽ không ban mọi sự cùng với Con ấy cho chúng ta sao? 33. Ai sẽ tố cáo những người được chọn của Ðức Chúa Trời trong khi Ðức Chúa Trời chính là Ðấng phân xử?  34. Ai sẽ kết án họ khi Ðức Chúa Jesus Christ, là Ðấng đã chết - đúng ra là Ðấng đã sống lại - là Ðấng đang ở bên phải Ðức Chúa Trời, và đang cầu xin cho chúng ta?  35. Ai có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hoặc gươm giáo chăng? 36. Như đã được chép rằng: “Vì cớ Ngài, chúng con đối diện với sự chết cả ngày; chúng con bị xem như chiên để làm thịt.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
37. Trái lại, trong mọi sự đó chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà đắc thắng. 38. Bởi vì tôi tin chắc rằng dù sự chết, sự sống, các thiên sứ, các bậc cầm quyền, việc hiện tại, việc tương lai, những quyền lực, 39. chiều cao, chiều sâu, hoặc một tạo vật nào cũng không thể phân rẽ chúng ta ra khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jesus, là Chúa của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sống Trong Ðức Thánh Linh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, hiện nay không còn sự kết án nào dành cho những người ở trong Ðức Chúa Jesus Christ, tức là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh; bởi vì luật của Thánh Linh – Ðấng ban sự sống trong Ðức Chúa Jesus Christ - đã giải thoát anh em khỏi luật của tội lỗi và sự chết. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì điều gì luật pháp bất lực - do xác thịt làm cho suy yếu - thì Ðức Chúa Trời đã làm rồi. Ngài đã sai chính Con Ngài đến trong thân xác giống như xác thịt tội lỗi, và để giải quyết tội lỗi, Ngài đã đoán phạt tội lỗi trong thân xác đó, nhằm hoàn tất đòi hỏi của luật pháp trên chúng ta, là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những người sống theo xác thịt không thể làm đẹp lòng Ðức Chúa Trời. Thật vậy! Những ai theo xác thịt, hướng tâm trí vào những việc thuộc về xác thịt; những ai theo Thánh Linh, thì hướng tâm trí vào những việc thuộc về Thánh Linh. Do đó, việc hướng tâm trí vào xác thịt đưa đến sự chết, nhưng hướng tâm trí vào Thánh Linh dẫn đến sự sống và bình an; bởi vì tâm trí hướng về xác thịt là thù nghịch với Đức Chúa Trời - do không chịu, và cũng không thể thuận phục luật pháp của Đức Chúa Trời.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên, nếu thật sự Thánh Linh của Ðức Chúa Trời đang ở trong anh em, anh em không sống theo xác thịt nhưng theo Thánh Linh. Nếu ai không có Thánh Linh của Ðấng Christ, người ấy không thuộc về Ngài. Tuy nhiên, nếu Ðấng Christ đang ở trong anh em, dù thân thể của anh em chết theo tội lỗi, tâm linh của anh em vẫn sống theo sự công chính. Nếu Thánh Linh của Ðấng đã làm cho Ðức Chúa Jesus sống lại từ cõi chết ở trong anh em, thì Ðấng đã làm cho Ðấng Christ sống lại từ cõi chết, cũng sẽ ban sự sống cho thân thể phải chết của anh em, qua Thánh Linh của Ngài, là Ðấng đang ngự trong anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Kế Tự Với Đấng Christ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Anh em ơi! Như vậy chúng ta không còn mắc nợ xác thịt để sống theo xác thịt nữa. Do đó nếu anh em cứ sống theo xác thịt, anh em chắc chắn sẽ chết; nhưng nếu anh em nhờ Thánh Linh làm chết những hành vi của xác thịt, anh em sẽ sống. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì những ai được Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dẫn dắt đều là con của Ðức Chúa Trời; do đó anh em không còn nhận tinh thần của một kẻ nô lệ để phải sợ hãi nữa, nhưng anh em đã nhận lấy tinh thần của những người được nhận làm con nuôi của Đấng mà chúng ta gọi là “A-ba, Cha!” Chính Thánh Linh chứng nhận cho tâm linh của chúng ta rằng chúng ta là con của Ðức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hơn nữa, con cái là những người thừa kế: những người thừa kế của Ðức Chúa Trời và những người đồng thừa kế với Ðấng Christ.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tương Lai Vinh Quang'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu thật sự chúng ta chịu khổ với Ngài, chúng ta cũng sẽ cùng được vinh quang. Thật vậy, tôi biết rằng những đau khổ hiện tại không thể so sánh với vinh quang tương lai sẽ được bày tỏ cho chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tạo vật đang chờ đợi, và nôn nả trông chờ, sự hiển lộ của các con Đức Chúa Trời. Bởi vì tạo vật - không phải tự ý, nhưng bởi Ðấng bắt nó phục tùng - đã khuất phục sự hư không  với niềm hy vọng rằng chính tạo vật cũng sẽ được thoát khỏi ách nô lệ của sự hư hoại để được vào trong sự tự do vinh quang của các con của Ðức Chúa Trời.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, chúng ta biết tạo vật đang rên siết và đau đớn quằn quại cho đến bây giờ. Không chỉ như thế, nhưng chính chúng ta, những trái đầu mùa của Ðức Thánh Linh; chúng ta cũng có những quặn thắt của chính mình, và trông chờ ngày được trọn quyền làm con, để nhận được sự cứu chuộc thân thể của mình. Vì niềm hy vọng này mà chúng ta được cứu.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hy vọng đã được nhìn thấy thì không còn là hy vọng - vì ai lại trông mong điều mình đang thấy bao giờ? Nhưng nếu chúng ta hy vọng vào điều chúng ta chưa thấy, chúng ta sẽ kiên nhẫn chờ đợi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cũng vậy, Thánh Linh cũng giúp trong sự yếu đuối của chúng ta, bởi vì chúng ta không biết phải cầu xin điều gì, nhưng chính Thánh Linh dùng những thở than, không thể diễn đạt bằng lời, mà cầu xin cho chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đấng dò xét lòng người biết ý tưởng của Thánh Linh, bởi vì Thánh Linh theo ý muốn Đức Chúa Trời mà cầu thay cho các thánh đồ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tình Yêu Thương Của Ðức Chúa Trời'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại đem ích lợi cho những người yêu mến Ðức Chúa Trời, tức là những người được kêu gọi theo mục đích của Ngài. Bởi vì những người Ngài biết trước, Ngài cũng đã định trước để trở nên giống như hình ảnh của Con Ngài - là con đầu lòng ở giữa các em. Những người Ngài đã định trước, Ngài cũng đã kêu gọi; những người Ngài đã kêu gọi, Ngài cũng đã xưng công chính; những người Ngài đã xưng công chính, Ngài cũng làm cho vinh hiển. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy chúng ta sẽ nói gì về những điều nầy? Nếu Ðức Chúa Trời ủng hộ chúng ta, ai có thể chống lại chúng ta?  Ngài đã không tiếc chính Con Ngài, nhưng vì tất cả chúng ta, Ngài ban người Con đó, lẽ nào Ngài sẽ không ban mọi sự cùng với người Con đó cho chúng ta sao? Ai sẽ tố cáo những người được chọn của Ðức Chúa Trời trong khi Ðức Chúa Trời chính là Ðấng phân xử?  Ai sẽ kết án họ trong khi Ðức Chúa Jesus Christ, Ðấng đã chết - đúng ra là Ðấng đã sống lại - là Ðấng đang ở bên phải Ðức Chúa Trời, và đang cầu xin cho chúng ta?  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ai có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hoặc gươm giáo chăng? Như điều đã chép: “Vì cớ Ngài, chúng con đối diện với sự chết cả ngày; chúng con bị xem như chiên để làm thịt.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trái lại, trong mọi điều đó chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà đắc thắng; bởi vì tôi tin chắc rằng dù sự chết, sự sống, các thiên sứ, các bậc cầm quyền, việc hiện tại, việc tương lai, những quyền lực, chiều cao, chiều sâu, hoặc một tạo vật nào cũng không thể phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ Jesus, là Chúa của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Như vậy, hiện nay không còn sự kết án cho những ai ở trong Ðức Chúa Jesus Christ - là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh. 2. Bởi vì luật của Thánh Linh – Ðấng ban sự sống trong Ðức Chúa Jesus Christ - đã giải thoát anh em khỏi luật của tội lỗi và sự chết. 3. Bởi vì điều gì luật pháp bất lực, do xác thịt làm cho suy yếu, Ðức Chúa Trời đã làm rồi. Ngài đã sai chính Con Ngài đến trong thân xác giống như xác thịt tội lỗi, và vì tội lỗi, đã đoán phạt tội lỗi trong thân xác đó, 4. để hoàn tất đòi hỏi của luật pháp trên chúng ta, là những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Thật vậy, những ai theo xác thịt, tâm trí hướng vào những việc thuộc về xác thịt, những ai theo Thánh Linh, hướng vào những việc thuộc về Thánh Linh. 6. Như vậy, hướng tâm trí vào xác thịt đưa đến sự chết, nhưng hướng tâm trí vào Thánh Linh dẫn đến sự sống và bình an, 7. vì tâm trí hướng về xác thịt là thù nghịch với Đức Chúa Trời - do không chịu, và cũng không thể, thuận phục luật pháp của Đức Chúa Trời. 8. Những người sống theo xác thịt không thể làm đẹp lòng Ðức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Tuy nhiên, nếu thật sự Thánh Linh của Ðức Chúa Trời đang ở trong anh em, anh em không sống theo xác thịt nhưng theo Thánh Linh. Nếu ai không có Thánh Linh của Ðấng Christ, người ấy không thuộc về Ngài. 10. Tuy nhiên, nếu Ðấng Christ đang ở trong anh em, dù thân thể của anh em chết theo tội lỗi, tâm linh của anh em sống theo sự công chính. 11. Nếu Thánh Linh của Ðấng đã làm cho Ðức Chúa Jesus sống lại từ cõi chết ở trong anh em, thì Ðấng đã làm cho Ðấng Christ sống lại từ cõi chết, cũng sẽ ban sự sống cho thân thể phải chết của anh em, qua Thánh Linh của Ngài, là Ðấng đang ngự trong anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Anh em, như vậy chúng ta không còn mắc nợ xác thịt để sống theo xác thịt nữa. 13. Do đó nếu anh em cứ sống theo xác thịt, anh em chắc chắn sẽ chết; nhưng nếu anh em nhờ Thánh Linh làm chết những hành vi của thân xác, anh em sẽ sống. 14. Bởi vì những ai được Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dẫn dắt đều là con của Ðức Chúa Trời. 15. Do đó anh em không còn nhận tâm linh của kẻ nô lệ để phải sợ hãi nữa, nhưng anh em đã nhận lấy tâm linh của những người được nhận làm con nuôi của Đấng mà chúng ta gọi là “A-ba, Cha!” 16. Chính Thánh Linh làm chứng cho tâm linh của chúng ta rằng chúng ta là con của Ðức Chúa Trời. 17. Hơn thế nữa, con là những người thừa kế - những người thừa kế của Ðức Chúa Trời và những người đồng thừa kế với Ðấng Christ; nếu thật sự chúng ta chịu khổ với Ngài, chúng ta cũng sẽ cùng được vinh quang. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thật vậy, tôi cho rằng những đau khổ hiện tại không thể so sánh với vinh quang tương lai sẽ được bày tỏ cho chúng ta. 19. Tạo vật đang chờ đợi, và nôn nả trông chờ, sự hiển lộ của các con Đức Chúa Trời. 20. Bởi vì tạo vật - không phải tự ý, nhưng bởi Ðấng bắt nó phục tùng - đã khuất phục sự hư không với niềm hy vọng 21. rằng chính tạo vật cũng sẽ được thoát khỏi ách nô lệ của sự hư hoại để được vào trong sự tự do vinh quang của các con của Ðức Chúa Trời. 22. Thật vậy, chúng ta biết tạo vật đang rên siết và đau đớn quằn quại cho đến bây giờ. 23. Không chỉ như thế, nhưng chính chúng ta, những trái đầu mùa của Ðức Thánh Linh; chúng ta cũng có những quặn thắt của chính mình, và trông chờ ngày được trọn quyền làm con, để nhận được sự cứu chuộc thân thể của mình. 24. Vì niềm hy vọng này mà chúng ta được cứu - hy vọng đã được nhìn thấy thì không còn là hy vọng, vì ai lại trông mong điều mình đang thấy bao giờ? 25. Nhưng nếu chúng ta hy vọng vào điều chúng ta chưa thấy, chúng ta sẽ kiên nhẫn chờ đợi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Cũng vậy, Thánh Linh cũng giúp trong sự yếu đuối của chúng ta, bởi vì chúng ta không biết phải cầu xin điều gì, nhưng chính Thánh Linh dùng những thở than, không thể diễn đạt bằng lời, mà cầu xin cho chúng ta. 27. Đấng dò xét lòng người biết ý tưởng của Thánh Linh, bởi vì Thánh Linh theo ý muốn Đức Chúa Trời mà cầu xin cho các thánh đồ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại đem ích lợi cho những người yêu mến Ðức Chúa Trời, tức là những người được kêu gọi theo mục đích của Ngài. 29. Bởi vì những người Ngài biết trước, Ngài cũng đã định trước để trở nên giống như hình ảnh của Con Ngài - là con đầu lòng ở giữa các em. 30. Những người Ngài đã định trước, Ngài cũng đã kêu gọi; những người Ngài đã kêu gọi, Ngài cũng đã xưng công chính; những người Ngài đã xưng công chính, Ngài cũng làm cho vinh hiển. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31. Như vậy chúng ta sẽ nói gì về những điều nầy? Nếu Ðức Chúa Trời ủng hộ chúng ta, ai có thể chống lại chúng ta?  32. Ngài đã không tiếc chính Con Ngài, nhưng vì tất cả chúng ta đã ban Con ấy, lẽ nào Ngài sẽ không ban mọi sự cùng với Con ấy cho chúng ta sao? 33. Ai sẽ tố cáo những người được chọn của Ðức Chúa Trời? Ðức Chúa Trời chính là Ðấng phân xử.  34. Ai sẽ kết án họ? Ðức Chúa Jesus Christ, Ðấng đã chết - đúng ra là Ðấng đã sống lại - Ðấng đang ở bên phải Ðức Chúa Trời, và cầu xin cho chúng ta.  35. Ai có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hoặc gươm giáo chăng? 36. Như đã được chép rằng: “Vì cớ Ngài, chúng con đối diện với sự chết cả ngày; chúng con bị xem như chiên để làm thịt.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
37. Trái lại, trong mọi sự đó chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà đắc thắng. 38. Bởi vì tôi tin chắc rằng dù sự chết, sự sống, các thiên sứ, các bậc cầm quyền, việc hiện tại, việc tương lai, các quyền lực, 39. chiều cao, chiều sâu, hoặc một tạo vật nào cũng không thể phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ Jesus, là Chúa của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ; 2.  vì luật pháp của Thánh Linh sự sống đã nhờ Đức Chúa Jêsus Christ buông tha tôi khỏi luật pháp của sự tội và sự chết. 3.  Vì điều chi luật pháp không làm nổi, tại xác thịt làm cho luật pháp ra yếu đuối, thì Đức Chúa Trời đã làm rồi: Ngài đã vì cớ tội lỗi sai chính Con mình lấy xác thịt giống như xác thịt tội lỗi chúng ta, và đã đoán phạt tội lỗi trong xác thịt, 4.  hầu cho sự công bình mà luật pháp buộc phải làm được trọn trong chúng ta, là kẻ chẳng noi theo xác thịt, nhưng noi theo Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Thật thế, kẻ sống theo xác thịt thì chăm những sự thuộc về xác thịt; còn kẻ sống theo Thánh Linh thì chăm những sự thuộc về Thánh Linh. 6.  Vả, chăm về xác thịt sanh ra sự chết, còn chăm về Thánh Linh sanh ra sự sống và bình an; 7.  vì sự chăm về xác thịt nghịch với Đức Chúa Trời, bởi nó không phục dưới luật pháp Đức Chúa Trời, lại cũng không thể phục được. 8.  Vả, những kẻ sống theo xác thịt, thì không thể đẹp lòng Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Về phần anh em, nếu thật quả Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong mình, thì không sống theo xác thịt đâu, nhưng theo Thánh Linh; song nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Christ, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài. 10.  Vậy nếu Đấng Christ ở trong anh em, thì thân thể chết nhân cớ tội lỗi, mà thần linh sống nhân cớ sự công bình. 11.  Lại nếu Thánh Linh của Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết ở trong anh em, thì Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài ở trong anh em mà khiến thân thể hay chết của anh em lại sống. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Vậy, hỡi anh em, chúng ta chẳng mắc nợ xác thịt đâu, đặng sống theo xác thịt. 13.  Thật thế, nếu anh em sống theo xác thịt thì phải chết; song nếu nhờ Thánh Linh, làm cho chết các việc của thân thể, thì anh em sẽ sống. 14.  Vì hết thảy kẻ nào được Thánh Linh của Đức Chúa Trời dắt dẫn, đều là con của Đức Chúa Trời. 15.  Thật anh em đã chẳng nhận lấy thần trí của tôi mọi đặng còn ở trong sự sợ hãi; nhưng đã nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi, và nhờ đó chúng ta kêu rằng: A-ba! Cha! 16.  Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. 17.  Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự: kẻ kế tự Đức Chúa Trời và là kẻ đồng kế tự với Đấng Christ, miễn chúng ta đều chịu đau đớn với Ngài, hầu cho cũng được vinh hiển với Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Vả, tôi tưởng rằng những sự đau đớn bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra trong chúng ta. 19.  Thật thế, muôn vật ước ao, nóng nảy mà trông đợi con cái Đức Chúa Trời được tỏ ra. 20.  Vì muôn vật đã bị bắt phục sự hư không, chẳng phải tự ý mình, bèn là bởi cớ Đấng bắt phục. 21.  Muôn vật mong rằng mình cũng sẽ được giải cứu khỏi làm tôi sự hư nát, đặng dự phần trong sự tự do vinh hiển của con cái Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  Vì chúng ta biết rằng muôn vật đều than thở và chịu khó nhọc cho đến ngày nay; 23.  không những muôn vật thôi, lại chúng ta, là kẻ có trái đầu mùa của Đức Thánh Linh, cũng than thở trong lòng đang khi trông đợi sự làm con nuôi, tức là sự cứu chuộc thân thể chúng ta vậy. 24.  Vì chúng ta được cứu trong sự trông cậy, nhưng khi người ta đã thấy điều mình trông rồi, ấy không phải là trông nữa: mình thấy rồi, sao còn trông làm chi? 25.  Song nếu chúng ta trông điều mình không thấy, ấy là chúng ta chờ đợi điều đó cách nhịn nhục. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Cũng một lẽ ấy, Đức Thánh Linh giúp cho sự yếu đuối chúng ta. Vì chúng ta chẳng biết sự mình phải xin đặng cầu nguyện cho xứng đáng; nhưng chính Đức Thánh Linh lấy sự thở than không thể nói ra được mà cầu khẩn thay cho chúng ta. 27.  Đấng dò xét lòng người hiểu biết ý tưởng của Thánh Linh là thể nào, vì ấy là theo ý Đức Chúa Trời mà Ngài cầu thế cho các thánh đồ vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28.  Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. 29.  Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em; 30.  còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31.  Đã vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao? Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta? 32.  Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao? 33.  Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy. 34.  Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa. Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta. 35.  Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hay là gươm giáo chăng? 36.  Như có chép rằng: Vì cớ Ngài, chúng tôi bị giết cả ngày; Họ coi chúng tôi như chiên định đem đến hàng làm thịt. 37.  Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần. 38.  Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, 39.  bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sống trong Ðức Thánh Linh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Cho nên hiện nay không còn có sự kết tội cho những ai ở trong Ðức Chúa Jesus Christ.  2 Vì luật của Ðức Thánh Linh, Ðấng ban sự sống trong Ðức Chúa Jesus Christ, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội lỗi và sự chết.  3 Vì điều chi Luật Pháp không thực hiện được, do xác thịt làm cho suy yếu, thì Ðức Chúa Trời đã làm rồi.  Ngài đã sai chính Con Ngài lấy xác thịt giống như xác thịt tội lỗi của chúng ta để giải quyết vấn đề tội lỗi; Ngài đã đoán phạt tội lỗi trên thân thể của Con Ngài.  4 Ngài làm như vậy để sự công chính mà Luật Pháp đòi hỏi có thể được thực hiện đầy đủ trong chúng ta, những người không sống theo xác thịt, nhưng sống theo Ðức Thánh Linh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Vì những ai sống theo xác thịt thì để tâm trí họ vào những gì thuộc về xác thịt, nhưng những ai sống theo Ðức Thánh Linh thì để tâm trí họ vào những gì thuộc về Ðức Thánh Linh.  6 Ðể tâm trí vào những gì thuộc về xác thịt dẫn đến sự chết, nhưng để tâm trí vào những gì thuộc về Ðức Thánh Linh dẫn đến sự sống và bình an.  7 Vì tâm trí để vào những gì thuộc về xác thịt là chống nghịch với Ðức Chúa Trời, vì nó không chịu thuận phục dưới luật của Ðức Chúa Trời, đúng ra là nó không thể thuận phục được.  8 Thật vậy, những người sống theo xác thịt không thể nào làm vui lòng Ðức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Tuy nhiên anh chị em không sống theo xác thịt nhưng theo Ðức Thánh Linh, nếu thật sự Ðức Thánh Linh của Ðức Chúa Trời đang ở trong anh chị em.  Ai không có Ðức Thánh Linh của Ðấng Christ, người ấy không thuộc về Ngài.  10 Nhưng nếu Ðấng Christ ở trong anh chị em thì dù thân thể anh chị em sẽ chết vì tội lỗi, nhưng tâm linh vẫn sống vì được xưng công chính.  11 Nếu Ðức Thánh Linh của Ðấng đã làm cho Ðức Chúa Jesus sống lại từ cõi chết ở trong anh chị em, thì Ðấng đã làm cho Ðấng Christ sống lại từ cõi chết cũng sẽ ban sự sống cho thân thể sẽ chết của anh chị em qua Ðức Thánh Linh của Ngài, Ðấng đang ngự trị trong anh chị em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Thế thì thưa anh chị em, chúng ta không còn mắc nợ xác thịt để sống theo xác thịt nữa.  13 Vì nếu anh chị em cứ sống theo xác thịt, anh chị em chắc chắn sẽ chết, nhưng nếu anh chị em nhờ Ðức Thánh Linh làm chết những hành vi của bản ngã xác thịt, anh chị em sẽ sống.  14 Vì tất cả những ai được Ðức Thánh Linh của Ðức Chúa Trời dẫn dắt đều là con của Ðức Chúa Trời.  15 Bởi anh chị em đã không nhận lấy tâm linh của kẻ làm nô lệ để phải sợ hãi nữa, nhưng anh chị em đã nhận lấy tâm linh của người làm con nuôi, để nhờ đó chúng ta có thể thưa một cách dạn dĩ, “A-ba, Cha!”  16 Chính Ðức Thánh Linh làm chứng với tâm linh chúng ta rằng chúng ta là con cái Ðức Chúa Trời.  17 Nếu chúng ta là con cái, chúng ta cũng là những người thừa kế, những người thừa kế của Ðức Chúa Trời và những người đồng thừa kế với Ðấng Christ, nếu chúng ta thật sự chịu khổ với Ngài để chúng ta cũng được vinh hiển với Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Vinh Hiển Tương Lai'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Thật vậy tôi cho rằng những đau khổ hiện tại không đáng sánh với vinh hiển tương lai là vinh hiển sẽ được bày tỏ cho chúng ta.  19 Vì muôn loài thọ tạo đang nôn nóng ngóng trông ngày Ðức Chúa Trời cho các con cái Ngài hiển lộ.  20 Vì muôn vật đã bị khuất phục dưới sự hư ảo, không phải tự ý, nhưng bởi Ðấng bắt chúng phải chịu như vậy, với hy vọng 21 rằng chính muôn vật cũng sẽ được giải thoát khỏi ách nô lệ của sự hư nát để vào hưởng tự do trong vinh hiển với các con cái Ðức Chúa Trời.  22 Vì chúng ta biết rằng muôn vật đang rên rỉ và quằn quại đau đớn như người sắp sinh cho đến bây giờ.  23 Không những muôn vật mà thôi, nhưng cũng có chúng ta nữa, những người có những trái đầu mùa của Ðức Thánh Linh; chính chúng ta rên rỉ trong lòng, nôn nóng trông chờ ngày được hưởng trọn quyền làm con nuôi, tức sự cứu chuộc thân thể mình.  24 Vì trong niềm hy vọng đó chúng ta được cứu; nhưng khi hy vọng đã được thấy thì không còn là hy vọng, vì ai lại trông mong điều mình đang thấy bao giờ?  25 Nhưng nếu chúng ta đặt hy vọng vào điều chúng ta chưa thấy, thì đó mới là điều chúng ta bền chí trông chờ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ðức Thánh Linh Cầu Thay'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Cũng vậy Ðức Thánh Linh giúp chúng ta trong khi chúng ta yếu đuối, vì chúng ta không biết phải cầu nguyện như thế nào cho đúng, nhưng chính Ðức Thánh Linh cầu thay cho chúng ta bằng những tiếng rên rỉ không thể diễn tả bằng lời.  27 Ðấng thấu rõ mọi lòng biết rõ tâm trí của Ðức Thánh Linh, vì Ðức Thánh Linh theo ý muốn Ðức Chúa Trời cầu thay cho các thánh đồ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phước của Người Yêu Kính Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho những người yêu kính Ðức Chúa Trời, tức những người được gọi theo mục đích của Ngài.  29 Vì những người Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định trước để trở nên giống như hình ảnh của Con Ngài, hầu Con ấy có thể làm Con Trưởng giữa một đàn em đông đúc.  30 Những người Ngài đã định trước thì Ngài cũng đã kêu gọi; những người Ngài đã kêu gọi thì Ngài cũng đã xưng công chính; và những người Ngài đã xưng công chính thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tình Yêu của Ðức Chúa Trời Ðối Với Chúng Ta Trong Ðấng Christ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 Như vậy chúng ta sẽ nói gì về những điều ấy?  Nếu Ðức Chúa Trời binh vực chúng ta, ai có thể chống lại chúng ta?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32 Ngài đã không tiếc chính Con Ngài, nhưng vì tất cả chúng ta, mà ban Con ấy, lẽ nào Ngài sẽ không ban cho chúng ta mọi sự cùng với Con ấy sao?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Ai sẽ kiện cáo những người Ðức Chúa Trời chọn?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðã có Ðức Chúa Trời, Ðấng xác nhận họ là công chính.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
34 Ai sẽ kết án họ chăng?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðã có Ðức Chúa Jesus Christ, Ðấng đã chết, đúng hơn là Ðấng đã sống lại, Ðấng đang ở bên phải Ðức Chúa Trời, và Ngài đang cầu thay cho chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 Ai có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðấng Christ?  Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hoặc gươm giáo chăng?  36 Như có chép rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Vì cớ Ngài, chúng con bị giết suốt ngày;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng con bị xem như chiên để đem giết thịt.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
37 Tuy nhiên trong mọi sự ấy, chúng ta đều chiến thắng tất cả nhờ Ðấng yêu thương chúng ta.  38 Vì tôi tin chắc rằng không điều gì, dù sự chết hay sự sống, các thiên sứ hay các quỷ sứ, việc hiện tại hay việc tương lai, hay bất cứ quyền lực nào, 39 điều gì đến từ trời cao hay ra từ vực thẳm, hay bất cứ vật thọ tạo nào, có thể tách rời chúng ta ra khỏi tình yêu của Ðức Chúa Trời trong Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''NGƯỜI DO-THÁI TRONG CHƯƠNG TRÌNH CỨU RỖI CỦA ÐỨC CHÚA TRỜI'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
(9:1 - 11:36)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B45\V01B45C008.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Thư Rô-ma | Giới Thiệu Thư Rô-ma]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Rô-ma]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[KTB45C007 | Chương 7]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[KTB45C009 | Chương 9]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=R%C3%B4-ma:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_6&amp;diff=35641</id>
		<title>Rô-ma: Chương 6</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=R%C3%B4-ma:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_6&amp;diff=35641"/>
		<updated>2026-01-18T22:18:08Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Như vậy chúng ta sẽ nói gì? Chúng ta cứ tiếp tục sống trong tội lỗi để ân điển được dư dật hay sao? 2. Không hề như vậy! Chúng ta đã chết với tội lỗi thì sao vẫn sống trong đó được? 3. Hay là anh em không biết tất cả chúng ta đều đã chịu báp-têm trong Đấng Christ Jesus, đã vào trong sự chết của Ngài để được báp-têm hay sao? 4. Do đó, qua báp-têm chúng ta đã được chôn với Ngài trong sự chết; như Đấng Christ đã được sống lại từ cõi chết nhờ vinh quang của Cha thể nào thì chúng ta cũng bước đi trong đời sống mới cũng như vậy. 5. Bởi vì nếu chúng ta đã được hiệp nhất trong sự chết của Ngài, thì giống như vậy, chúng ta cũng sẽ sống lại. 6. Chúng ta biết rằng con người cũ của chúng ta đã cùng bị đóng đinh trên thập tự với Ngài, để con người tội lỗi bị tiêu diệt khiến chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa. 7. Bởi vì ai đã chết thì được giải thoát khỏi tội lỗi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Tuy nhiên, nếu chúng ta đã cùng chết với Đấng Christ, chúng ta tin rằng mình cũng sẽ cùng sống với Ngài. 9. Chúng ta biết rằng Đấng Christ đã sống lại từ cõi chết, sẽ không bao giờ chết nữa; sự chết không có quyền gì trên Ngài nữa. 10. Bởi vì Ngài đã chết là chết cho tội lỗi một lần đủ cả; nhưng Ngài sống là sống cho Đức Chúa Trời. 11. Vì vậy, anh em cũng phải xem mình đã chết với tội lỗi, và đang sống cho Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jesus.  12. Như vậy, đừng để tội lỗi cai trị trong thân thể khả tử của anh em, khiến anh em phải chiều theo dục vọng của nó. 13. Đừng hiến chi thể của mình làm công cụ bất chính cho tội lỗi, nhưng hãy hiến chính mình cho Đức Chúa Trời - như từ chết sống lại - và dâng chi thể của mình làm công cụ công chính cho Đức Chúa Trời. 14. Thật vậy tội lỗi sẽ không cai trị anh em đâu, bởi vì anh em không ở dưới luật pháp nhưng ở dưới ân điển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Như vậy thì sao? Có phải bởi vì chúng ta không ở dưới luật pháp, nhưng ở dưới ân điển, cho nên chúng ta sẽ cứ phạm tội hay sao? Không phải như vậy! 16. Anh em không biết rằng nếu anh em đem thân làm nô lệ thì phải vâng phục - anh em là nô lệ của người mà mình vâng phục - hoặc của tội lỗi dẫn đến sự chết, hoặc của sự vâng phục dẫn đến sự công chính. 17. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, bởi vì anh em từng là nô lệ cho tội lỗi nhưng nay đang thật lòng vâng phục theo những giáo huấn đã được tín thác cho anh em. 18. Hơn thế nữa, anh em đã được giải phóng khỏi tội lỗi, và trở thành nô lệ cho sự công chính. 19. Bởi vì bản ngã xác thịt của anh em yếu đuối, cho nên tôi nói theo cách loài người: Anh em đã từng hiến những chi thể của mình làm nô lệ cho sự ô uế và sự phi pháp để làm chuyện phi pháp thể nào, thì bây giờ hãy hiến những chi thể của mình làm nô lệ cho sự công chính để được thánh hóa cũng như vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Khi còn là nô lệ cho tội lỗi, anh em không bị ràng buộc với sự công chính. 21. Thế nhưng lúc đó anh em đã đạt được kết quả gì, mà bây giờ anh em phải hổ thẹn? Kết cuộc của những điều đó là sự chết. 22. Tuy nhiên, bây giờ anh em đã được giải phóng khỏi tội lỗi và đã trở thành nô lệ của Đức Chúa Trời, anh em có được sự thánh hóa cho mình; và hơn thế nữa, kết quả cuối cùng là sự sống đời đời. 23. Thật vậy, tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đấng Christ Jesus, là Chúa của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chết Với Tội Lỗi Và Sống Với Chúa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy chúng ta sẽ nói gì? Chúng ta cứ tiếp tục sống trong tội lỗi để ân điển được dư dật hay sao? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không phải như vậy! Chúng ta đã chết với tội lỗi thì sao vẫn sống trong đó được? Hay là anh em không biết tất cả chúng ta đều đã chịu báp-têm trong Đấng Christ Jesus, đã vào trong sự chết của Ngài để được báp-têm hay sao? Do đó, qua báp-têm chúng ta đã được chôn với Ngài trong sự chết. Như Đấng Christ đã được sống lại từ cõi chết nhờ vinh quang của Cha thể nào thì chúng ta cũng bước đi trong đời sống mới như vậy, bởi vì nếu chúng ta đã được hiệp nhất trong sự chết của Ngài, thì giống như vậy, chúng ta cũng sẽ sống lại. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng ta biết rằng con người cũ của chúng ta đã cùng bị đóng đinh trên thập tự với Ngài, để con người tội lỗi bị tiêu diệt, khiến chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa; bởi vì ai đã chết thì được giải thoát khỏi tội lỗi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên, nếu chúng ta đã cùng chết với Đấng Christ, chúng ta tin rằng mình cũng sẽ cùng sống với Ngài. Chúng ta biết rằng Đấng Christ đã sống lại từ cõi chết, sẽ không bao giờ chết nữa; sự chết không có quyền gì trên Ngài nữa. Bởi vì Ngài đã chết là chết cho tội lỗi một lần đủ cả; nhưng Ngài sống là sống cho Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, anh em cũng phải xem mình đã chết với tội lỗi, và đang sống cho Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ Jesus.  Như vậy, đừng để tội lỗi cai trị trong thân thể hay chết của anh em, khiến anh em phải chiều theo dục vọng của nó. Đừng hiến chi thể của mình làm công cụ bất chính cho tội lỗi, nhưng hãy hiến chính mình cho Đức Chúa Trời - như từ cõi chết sống lại - và dâng chi thể mình làm công cụ công chính cho Đức Chúa Trời. Thật vậy, tội lỗi sẽ không cai trị anh em đâu bởi vì anh em không ở dưới luật pháp nhưng ở dưới ân điển.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tiền Công Của Tội Lỗi'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy thì sao? Có phải vì chúng ta không ở dưới luật pháp, nhưng ở dưới ân điển, nên chúng ta sẽ cứ phạm tội hay sao? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không phải như vậy! Anh em không biết rằng nếu anh em đem thân làm nô lệ thì phải vâng phục - anh em là nô lệ của người mà mình vâng phục - hoặc của tội lỗi dẫn đến sự chết, hoặc của sự vâng phục dẫn đến sự công chính. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, bởi vì anh em từng là nô lệ cho tội lỗi nhưng nay đang thật lòng vâng phục theo những giáo huấn đã được tín thác cho anh em. Hơn thế nữa, anh em đã được giải phóng khỏi tội lỗi, trở thành nô lệ cho sự công chính. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì bản ngã xác thịt của anh em yếu đuối, cho nên tôi nói theo cách loài người: Anh em đã từng hiến những chi thể của mình làm nô lệ cho sự ô uế và sự phi pháp để làm chuyện phi pháp thể nào, thì bây giờ hãy hiến những chi thể mình làm nô lệ cho sự công chính để được thánh hóa thể ấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khi còn là nô lệ cho tội lỗi, anh em không bị ràng buộc với sự công chính. Thế nhưng lúc đó anh em đã đạt được kết quả gì, mà bây giờ anh em phải hổ thẹn? Kết cuộc của những điều đó là sự chết. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên, bây giờ anh em đã được giải phóng khỏi tội lỗi và trở thành nô lệ của Đức Chúa Trời, anh em có được sự thánh hóa cho mình; và hơn thế nữa, kết quả cuối cùng là sự sống đời đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đấng Christ Jesus, Chúa của chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Chúng ta phải cứ ở trong tội lỗi, hầu cho ân điển được dư dật chăng? 2.  Chẳng hề như vậy! Chúng ta đã chết về tội lỗi, lẽ nào còn sống trong tội lỗi nữa? 3.  Hay là, anh em chẳng biết rằng chúng ta thảy đều đã chịu phép báp tem trong Đức Chúa Jêsus Christ, tức là chịu phép báp tem trong sự chết Ngài sao? 4.  Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp tem trong sự chết Ngài, hầu cho Đấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5.  Vì nếu chúng ta làm một cùng Ngài bởi sự chết giống như sự chết của Ngài, thì chúng ta cũng sẽ làm một cùng Ngài bởi sự sống lại giống nhau: 6.  vì biết rõ rằng người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh trên thập tự giá với Ngài, hầu cho thân thể của tội lỗi bị tiêu diệt đi, và chúng ta không phục dưới tội lỗi nữa. 7.  Vì ai đã chết thì được thoát khỏi tội lỗi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Vả, nếu chúng ta đã cùng chết với Đấng Christ, thì chúng ta tin rằng mình cũng sẽ sống lại với Ngài, 9.  bởi biết rằng Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, thì chẳng chết nữa; sự chết không còn cai trị trên Ngài. 10.  Vì nếu Ngài đã chết, ấy là chết cho tội lỗi một lần đủ cả; nhưng hiện nay Ngài sống, ấy là sống cho Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Vậy anh em cũng hãy coi mình như chết về tội lỗi và như sống cho Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ. 12.  Vậy, chớ để tội lỗi cai trị trong xác hay chết của anh em, và chớ chiều theo tư dục nó. 13.  Chớ nộp chi thể mình cho tội lỗi, như là đồ dùng gian ác, nhưng hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình. 14.  Vì tội lỗi không cai trị trên anh em đâu; bởi anh em chẳng thuộc dưới luật pháp, mà thuộc dưới ân điển. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15.  Vậy thì làm sao! Vì chúng ta không thuộc dưới luật pháp, nhưng thuộc dưới ân điển, thì chúng ta sẽ phạm tội hay sao? Chẳng hề như vậy! 16.  Anh em há chẳng biết rằng nếu anh em đã nộp mình làm tôi mọi đặng vâng phục kẻ nào, thì là tôi mọi của kẻ mình vâng phục, hoặc của tội lỗi đến sự chết, hoặc của sự vâng phục để được nên công bình hay sao? 17.  Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời, vì sau khi anh em làm tôi mọi tội lỗi, thì đã từ lòng vâng phục đạo lý là sự đã ban làm mực thước cho mình! 18.  Vậy, anh em đã được buông tha khỏi tội lỗi, trở nên tôi mọi của sự công bình rồi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19.  Tôi nói theo cách loài người, vì xác thịt của anh em là yếu đuối. Vậy, anh em từng đặt chi thể mình làm tôi sự ô uế gian ác đặng phạm tội ác thể nào, thì bây giờ, hãy đặt chi thể mình làm tôi sự công bình đặng làm nên thánh cũng thể ấy. 20.  Vả, khi anh em còn làm tôi mọi tội lỗi, thì đối với sự công bình anh em được tự do. 21.  Thế thì anh em đã được kết quả gì? Ấy là quả mà anh em hiện nay đang hổ thẹn; vì sự cuối cùng của những điều đó tứ là sự chết. 22.  Nhưng bây giờ đã được buông tha khỏi tội lỗi và trở nên tôi mọi của Đức Chúa Trời rồi, thì anh em được lấy sự nên thánh làm kết quả, và sự sống đời đời làm cuối cùng. 23.  Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chết Ðối Với Tội Lỗi, Sống Lại Với Ðấng Christ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vậy chúng ta sẽ nói làm sao?  Chúng ta cứ tiếp tục sống trong tội lỗi để ân sủng có thể gia tăng chăng?  2 Chẳng hề như vậy!  Làm thể nào chúng ta đã chết đối với tội lỗi còn có thể tiếp tục sống trong tội lỗi?  3 Hay anh chị em không biết rằng khi tất cả chúng ta chịu báp-têm trong Ðức Chúa Jesus Christ, chúng ta đã chịu báp-têm vào sự chết của Ngài sao?  4 Vậy qua phép báp-têm, chúng ta được chôn với Ngài trong sự chết của Ngài, để như Ðấng Christ nhờ vinh hiển của Ðức Chúa Cha sống lại từ trong cõi chết thể nào, thì chúng ta cũng có thể sống trong đời sống mới thể ấy.  5 Vì nếu chúng ta đã hiệp nhất với Ngài trong sự chết của Ngài thể nào, chắc chắn chúng ta cũng sẽ hiệp nhất với Ngài trong sự sống lại của Ngài thể ấy.  6 Chúng ta biết rằng con người cũ của chúng ta đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Ngài để bản ngã tội lỗi có thể bị tiêu diệt, và để từ đó trở đi chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa.  7 Vì ai đã chết thì đã được giải thoát khỏi quyền lực của tội lỗi.  8 Nếu chúng ta đã cùng chết với Ðấng Christ, chúng ta tin rằng chúng ta cũng sẽ cùng sống với Ngài.  9 Chúng ta biết rằng Ðấng Christ, sau khi đã từ cõi chết sống lại, sẽ không bao giờ chết nữa; sự chết không có quyền gì trên Ngài nữa.  10 Cái chết mà Ngài đã chết, Ngài chết đối với tội lỗi, chỉ một lần đủ cả; nhưng sự sống mà Ngài đang sống, Ngài sống cho Ðức Chúa Trời.  11 Vậy anh chị em cũng hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi và đang sống cho Ðức Chúa Trời trong Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Thế thì xin anh chị em đừng để tội lỗi cầm quyền trong thân thể sẽ chết này của anh chị em, khiến anh chị em vâng theo dục vọng nó.  13 Ðừng để các chi thể anh chị em làm những khí cụ của sự bất chính để phục vụ tội lỗi, nhưng hãy dâng chính mình cho Ðức Chúa Trời như những người đã từ cõi chết sống lại và dâng các chi thể mình làm những khí cụ của sự công chính để phục vụ Ðức Chúa Trời.  14 Vì tội lỗi sẽ không có quyền gì trên anh chị em, bởi anh chị em không còn ở dưới Luật Pháp, nhưng đang ở dưới ân sủng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nô Lệ của Sự Công Chính'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Vậy thì sao?  Chúng ta được phép phạm tội thoải mái, vì chúng ta không còn ở dưới Luật Pháp mà đang ở dưới ân sủng chăng?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chẳng hề như vậy!  16 Anh chị em không biết rằng một khi anh chị em đem thân làm nô lệ để vâng phục ai, anh chị em sẽ làm nô lệ của người mình vâng phục, hoặc của tội lỗi để phải chết, hoặc của sự vâng lời để được trở nên công chính chăng?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Tạ ơn Ðức Chúa Trời, vì trước kia anh chị em vốn là nô lệ của tội lỗi, mà nay lại hết lòng vâng theo khuôn mẫu tín lý đã truyền lại cho mình, 18 và sau khi được giải thoát khỏi tội lỗi, anh chị em đã trở thành nô lệ cho sự công chính.   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Tôi nói theo cách người đời thường nói, vì bản ngã xác thịt của anh chị em vẫn còn yếu đuối.  Như trước kia anh chị em đã trao các chi thể mình để làm nô lệ cho sự ô uế và tội lỗi đến nỗi đã trở nên quá tội lỗi thể nào, nay hãy dâng các chi thể của anh chị em để làm nô lệ cho sự công chính hầu sẽ trở nên thánh cũng thể ấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Vì khi anh chị em còn là nô lệ của tội lỗi thì đối với sự công chính anh chị em thấy mình được tự do.  21 Thế hồi đó anh chị em làm nô lệ cho tội lỗi và đã thu được kết quả gì mà bây giờ anh chị em lại hổ thẹn vậy?  Thì ra kết quả của những việc ấy chỉ là sự chết.  22 Nhưng bây giờ anh chị em đã được giải thoát khỏi tội lỗi và được làm nô lệ cho Ðức Chúa Trời, anh chị em có được kết quả của mình là sự thánh hóa, và cuối cùng là sự sống đời đời.  23 Vì tiền công của tội lỗi là sự chết, nhưng tặng phẩm của Ðức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B45\V01B45C006.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Thư Rô-ma | Giới Thiệu Thư Rô-ma]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Rô-ma]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[KTB45C005 | Chương 5]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[KTB45C007 | Chương 7]].&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_C%C3%B4-rinh-t%C3%B4:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_15&amp;diff=35640</id>
		<title>I Cô-rinh-tô: Chương 15</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_C%C3%B4-rinh-t%C3%B4:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_15&amp;diff=35640"/>
		<updated>2026-01-18T22:15:22Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Thưa anh em, tôi muốn nói rõ cho anh em về Phúc Âm mà tôi đã giảng cho anh em, là Phúc Âm mà anh em đã tiếp nhận và anh em đang đứng vững trong đó, 2. nhờ Phúc Âm đó anh em được cứu rỗi, nếu anh em giữ vững lời tôi đã giảng cho anh em; nếu không, anh em tin cũng vô ích. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Trước hết, tôi đã truyền cho anh em điều mà chính tôi đã nhận, đó là Đấng Christ đã chịu chết vì tội của chúng ta theo lời Kinh Thánh; 4. Ngài đã bị chôn; Ngài đã sống lại vào ngày thứ ba theo lời Kinh Thánh; 5. rồi Ngài đã xuất hiện cho Sê-pha, kế đến là nhóm mười hai sứ đồ. 6. Sau đó, Ngài đã xuất hiện cho hơn năm trăm anh em cùng một lúc; phần lớn trong số đó hiện nay vẫn còn, mặc dù có vài người đã ngủ. 7. Sau đó, Ngài đã xuất hiện cho Gia-cơ, rồi cho tất cả các sứ đồ. 8. Cuối cùng, Ngài cũng hiện ra cho tôi, như một thai nhi được sinh không đúng thời hạn. 9. Bởi vì tôi là người nhỏ nhất trong các sứ đồ - tôi không xứng đáng được gọi là sứ đồ, bởi vì tôi đã bách hại Hội Thánh của Đức Chúa Trời. 10. Nhưng nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, tôi trở thành người như tôi hiện nay, và ân điển của Ngài ban cho tôi không phải là vô ích, bởi vì tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả các sứ đồ; tuy nhiên không phải tôi, nhưng ân điển của Đức Chúa Trời ở với tôi. 11. Vì vậy, dù tôi - hay là các sứ đồ - chúng tôi đang giảng như vậy, và anh em đã tin như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Như vậy, nếu Đấng Christ được giảng là Ngài đã sống lại từ cõi chết, thì tại sao có vài người trong anh em đã nói rằng không có sự sống lại cho những người chết? 13. Nếu không có sự sống lại cho những người chết, thì Đấng Christ đã không sống lại. 14. Và nếu Đấng Christ đã không sống lại thì sự rao giảng của chúng tôi là vô ích, và đức tin của anh em cũng vô ích. 15. Thật vậy, nếu những người chết không sống lại, thì chúng tôi bị coi như là những nhân chứng giả dối cho Đức Chúa Trời - bởi vì chúng tôi đã làm chứng về Đức Chúa Trời rằng Ngài đã khiến Đấng Christ sống lại, trong khi Ngài không khiến Đấng Christ sống lại, nếu những người chết không sống lại. 16. Bởi vì nếu những người chết không sống lại thì Đấng Christ cũng không sống lại. 17. Và nếu Đấng Christ không sống lại thì đức tin của anh em cũng chỉ là vô ích, anh em vẫn còn ở trong tội lỗi của mình. 18. Cũng vậy, những người đã ngủ trong Đấng Christ vẫn bị hư mất. 19. Nếu chúng ta chỉ có hy vọng nơi Đấng Christ trong cuộc sống nầy mà thôi, thì trong tất cả mọi người, chúng ta là những người đáng thương hại hơn hết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Nhưng bây giờ, Đấng Christ đã sống lại từ cõi chết, Ngài là trái đầu mùa của những người đã ngủ. 21. Bởi vì do một người mà có sự chết, thì cũng nhờ một Người mà có sự sống lại từ cõi chết. 22. Như trong A-đam, mọi người đều chết; cũng vậy, trong Đấng Christ, mọi người đều sẽ được làm cho sống lại. 23. Tuy nhiên mỗi người sẽ theo thứ tự riêng của mình: Đấng Christ là trái đầu mùa, rồi đến lượt những người thuộc về Đấng Christ vào lúc Ngài hiện đến. 24. Rồi cuối cùng, sau khi Ngài kết liễu tất cả những sự thống trị, tất cả những quyền thế, và quyền lực; Ngài trao vương quốc cho Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha. 25. Bởi vì Ngài phải cầm quyền cho đến chừng nào Ngài đặt tất cả những kẻ thù ở dưới chân Ngài. 26. Kẻ thù cuối cùng bị hủy diệt là sự chết. 27. Do đó, Đức Chúa Trời đã đặt tất cả mọi vật quy phục ở dưới chân Ngài. Tuy nhiên, khi nói tất cả mọi vật quy phục ở dưới Ngài, thì hiển nhiên không bao gồm Đấng đã đặt mọi vật quy phục ở dưới Ngài. 28. Khi tất cả mọi vật đã quy phục Ngài, thì bấy giờ chính Ngài, là Con, cũng quy phục Đấng đã đặt mọi vật quy phục dưới Ngài, để Đức Chúa Trời là tất cả và trong tất cả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29. Nếu không phải như vậy, thì những người đã nhận báp-têm thay cho người chết là để làm gì? Nếu người chết thật sự không sống lại thì tại sao lại có những người nhận báp-têm thay cho họ? 30. Tại sao chúng tôi - giờ nào cũng phải đối diện với hiểm nguy? 31. Thưa anh em!  Tôi chết mỗi ngày - đó là sự thật - giống như niềm tự hào của tôi về anh em, mà tôi đang có trong Đấng Christ Jesus, Chúa của chúng ta.  32. Nếu nói theo cách của loài người, thì có ích lợi gì cho tôi mà tôi phải chiến đấu với những loài thú hung dữ tại Ê-phê-sô? Nếu người chết không sống lại thì &amp;quot;chúng ta hãy ăn, hãy uống - bởi vì ngày mai chúng ta sẽ chết!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. Đừng để bị mắc lừa: “Bạn bè xấu làm hư tính nết tốt.” 34. Hãy tỉnh táo nhận biết sự công chính trở lại và đừng phạm tội nữa; bởi vì có một số người trong anh em không hiểu biết, và gần gũi Đức Chúa Trời. Tôi nói như vậy để anh em xấu hổ!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35. Nhưng có người sẽ nói: “Người chết sống lại cách nào? Họ sẽ trở lại bằng thân thể nào?” 36. Hỡi người khờ khạo kia ơi! Vật gì anh gieo, nếu trước hết không chết đi, thì sẽ không sống lại. 37. Và vật anh gieo không phải là thân thể sẽ được hình thành, nhưng đơn giản chỉ là một cái hạt - như hạt lúa mì hay vài thứ hạt khác. 38. Nhưng Đức Chúa Trời ban cho nó một thân thể theo ý Ngài muốn, mỗi hạt giống có mỗi thân thể riêng biệt. 39. Không phải mọi thể xác đều giống nhau: thể xác của loài người khác, thể xác của loài thú khác, của loài chim khác, của loài cá khác. 40. Cũng vậy, có những thiên thể và có những vật thể trên đất; nhưng vinh quang của những thiên thể khác với những gì thuộc về đất 41. Vinh quang của mặt trời khác; vinh quang của mặt trăng khác; vinh quang của những vì sao khác; vinh quang của vì sao nầy với vinh quang của vì sao kia cũng khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
42. Sự sống lại của những người chết cũng vậy. Thân thể gieo xuống là hư nát, nhưng sống lại là bất diệt; 43. gieo xuống là nhục, nhưng sống lại là vinh; gieo xuống là yếu đuối, nhưng sống lại là mạnh mẽ; 44. gieo xuống là thân thể vật chất, nhưng sống lại là thân thể thuộc linh. Nếu có thân thể vật chất thì có thân thể thuộc linh. 45. Như có lời chép: “Người đầu tiên&amp;quot; - là A-đam - &amp;quot;đã trở nên một hữu thể sống&amp;quot;, nhưng A-đam sau cùng là &amp;quot;thần linh ban sự sống&amp;quot;.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46. Tuy nhiên, không phải thân thể thiêng liêng đến trước nhưng thân thể thiên nhiên, sau đó mới đến thân thể thiêng liêng. 47. Người đầu tiên thuộc về đất, được làm từ bụi đất; người thứ hai đến từ trời. 48. Những người thuộc về đất thì giống như người đã được làm từ bụi đất; những người thuộc về trời thì giống như Đấng đến từ trời. 49. Giống như chúng ta đã mang hình ảnh của người ra từ bụi đất, thì chúng ta cũng sẽ mang hình ảnh của Đấng đến từ trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50. Thưa anh em, bây giờ tôi nói điều nầy: Thể xác và máu huyết không thể thừa hưởng vương quốc Đức Chúa Trời; và sự hư hoại cũng không thể hưởng sự bất diệt. 51. Này, tôi nói cho anh em một huyền nhiệm: Chúng ta sẽ không ngủ tất cả; tuy nhiên, tất cả sẽ được biến hóa 52. trong khoảnh khắc, trong nháy mắt, vào lúc tiếng kèn cuối cùng. Bởi vì kèn sẽ thổi, người chết sẽ sống lại không bị hư hoại, và chúng ta sẽ được biến hóa. 53. Bởi vì bản chất hư hoại nầy phải mặc lấy bản chất bất diệt; bản chất khả tử nầy phải mặc lấy bản chất bất tử. 54. Khi bản chất hư hoại mặc lấy bản chất bất diệt, bản chất khả tử mặc lấy bản chất bất tử thì lúc đó sẽ ứng nghiệm lời đã được chép: “Sự chết bị nuốt mất trong sự đắc thắng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
55. “Hỡi sự chết, sự đắc thắng của ngươi ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của ngươi ở đâu?”  56. Cái nọc của sự chết là tội lỗi, sức mạnh của tội lỗi là luật pháp. 57. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài đã ban cho chúng ta sự đắc thắng qua Chúa của chúng ta, là Đức Chúa Jesus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
58. Vì vậy, anh em quý mến của tôi! Hãy vững vàng, kiên định, luôn luôn làm công việc của Chúa thật dồi dào bởi vì biết rằng sự lao nhọc của anh em trong Chúa không hề vô ích.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thưa anh em, tôi muốn nói rõ cho anh em về Tin Lành mà tôi đã giảng cho anh em, là Tin Lành mà anh em đã tiếp nhận và anh em đang đứng vững trong đó, nhờ Tin Lành đó anh em được cứu rỗi, nếu anh em giữ vững lời tôi đã giảng cho anh em; nếu không, anh em tin cũng vô ích. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sự phục sinh của Đấng Christ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trước hết, tôi đã truyền cho anh em điều mà chính tôi đã nhận, đó là Đấng Christ đã chịu chết vì tội của chúng ta theo lời Kinh Thánh;  Ngài đã bị chôn; Ngài đã sống lại vào ngày thứ ba theo lời Kinh Thánh;  rồi Ngài đã xuất hiện cho Sê-pha, kế đến là nhóm mười hai sứ đồ.  Sau đó, Ngài đã xuất hiện cho hơn năm trăm anh em cùng một lúc; phần lớn trong số đó hiện nay vẫn còn, mặc dù có vài người đã ngủ.  Sau đó, Ngài đã xuất hiện cho Gia-cơ, rồi cho tất cả các sứ đồ.  Cuối cùng, Ngài cũng hiện ra cho tôi, như một thai nhi được sinh không đúng thời hạn.  Bởi vì tôi là người nhỏ nhất trong các sứ đồ - tôi không xứng đáng được gọi là sứ đồ, vì tôi đã bách hại Hội Thánh của Đức Chúa Trời.  Nhưng nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, tôi trở thành người như tôi hiện nay - và ân điển của Ngài ban cho tôi không phải là vô ích, bởi vì tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả các sứ đồ; tuy nhiên không phải tôi, nhưng ân điển của Đức Chúa Trời ở với tôi.  Vì vậy, dù tôi - hay các sứ đồ - chúng tôi đang giảng như vậy, và anh em đã tin như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sự phục sinh của người chết'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như thế, nếu Đấng Christ được giảng là Ngài đã sống lại từ cõi chết, thì tại sao có vài người trong anh em nói rằng không có sự sống lại cho những người chết?  Nếu không có sự sống lại cho những người chết, thì Đấng Christ đã không sống lại.  Và nếu Đấng Christ đã không sống lại thì sự rao giảng của chúng tôi là vô ích, và đức tin của anh em cũng vô ích.  Thật vậy, nếu những người chết không sống lại, thì chúng tôi bị coi như là những nhân chứng giả dối cho Đức Chúa Trời - bởi vì chúng tôi đã làm chứng về Đức Chúa Trời rằng Ngài đã khiến Đấng Christ sống lại, trong khi Ngài không khiến Đấng Christ sống lại nếu những người chết không sống lại.  Bởi vì nếu những người chết không sống lại thì Đấng Christ cũng không sống lại.  Và nếu Đấng Christ không sống lại thì đức tin của anh em cũng chỉ là vô ích, anh em vẫn còn trong tội lỗi của mình.  Cũng vậy, những người đã ngủ trong Đấng Christ vẫn bị hư mất.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu chúng ta chỉ có hy vọng nơi Đấng Christ trong cuộc sống nầy mà thôi, thì trong tất cả mọi người, chúng ta là những người đáng thương hại hơn hết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Đấng Christ là trái đầu mùa của sự phục sinh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng bây giờ, Đấng Christ đã sống lại từ cõi chết, Ngài là trái đầu mùa của những người đã ngủ.  Bởi vì do một người mà có sự chết, thì cũng nhờ một Người mà có sự sống lại từ cõi chết.  Như trong A-đam, mọi người đều chết; cũng vậy, trong Đấng Christ, mọi người đều sẽ được làm cho sống lại.  Nhưng mỗi người sẽ theo thứ tự riêng của mình: Đấng Christ là trái đầu mùa, rồi đến lượt những người thuộc về Đấng Christ vào lúc Ngài hiện đến.  Rồi cuối cùng, sau khi Ngài kết liễu tất cả những sự thống trị, tất cả những quyền thế, và quyền lực; Ngài trao vương quốc cho Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha.  Bởi vì Ngài phải cầm quyền cho đến chừng nào Đức Chúa Trời đặt tất cả những kẻ thù ở dưới chân của Ngài.  Kẻ thù cuối cùng bị hủy diệt là sự chết.  Do đó, Đức Chúa Trời đã đặt tất cả mọi vật quy phục ở dưới chân của Ngài. Tuy nhiên, khi nói tất cả mọi vật quy phục ở dưới Ngài, thì hiển nhiên không bao gồm Đấng đặt mọi vật quy phục ở dưới của Ngài.  Khi tất cả mọi vật đã quy phục Ngài, thì bấy giờ chính Ngài, là Con, cũng quy phục Đấng đã đặt mọi vật quy phục dưới Ngài, để Đức Chúa Trời là tất cả trong tất cả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Thân thể phục sinh'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu không phải như vậy, thì những người đã nhận báp-têm thay cho người chết là để làm gì? Nếu người chết thật sự không sống lại thì tại sao lại có những người nhận báp-têm thay cho họ?  Tại sao chúng tôi - giờ nào cũng phải đối diện với hiểm nguy?  Thưa anh em!  Tôi chết mỗi ngày - đó là sự thật - giống như niềm tự hào của tôi về anh em, mà tôi có trong Đấng Christ Jesus, Chúa của chúng ta.   Nếu nói theo cách của loài người, có ích lợi gì cho tôi mà tôi phải chiến đấu với những loài thú hung dữ tại Ê-phê-sô? Nếu người chết không sống lại thì &amp;quot;chúng ta hãy ăn, hãy uống - bởi vì ngày mai chúng ta sẽ chết!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đừng để bị mắc lừa: “Bạn bè xấu làm hư tính nết tốt.”  Hãy tỉnh táo nhận biết sự công chính trở lại và đừng phạm tội nữa; bởi vì có một số người trong anh em không hiểu biết, gần gũi Đức Chúa Trời. Tôi nói như vậy để anh em xấu hổ!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sự biến hóa và chiến thắng sau cùng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng có người sẽ nói: “Người chết sống lại cách nào? Họ trở lại bằng thân thể nào?”  Hỡi người khờ khạo kia ơi! Vật gì anh gieo, nếu trước hết không chết đi, thì sẽ không sống lại.  Và vật anh gieo không phải là thân thể sẽ được hình thành, nhưng đơn giản chỉ là một cái hạt - như hạt lúa mì hay vài thứ hạt khác.  Nhưng Đức Chúa Trời ban cho nó một thân thể theo ý Ngài muốn, mỗi hạt giống có mỗi thân thể riêng biệt.  Không phải mọi thể xác đều giống nhau: thể xác của loài người khác, thể xác của loài thú khác, của loài chim khác, của loài cá khác.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cũng vậy, có những thiên thể và có những vật thể trên đất; nhưng vinh quang của những thiên thể khác với những gì thuộc về đất. Vinh quang của mặt trời khác; vinh quang của mặt trăng khác; vinh quang của những vì sao khác; vinh quang của vì sao nầy với vinh quang của vì sao kia cũng khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sự sống lại của những người chết cũng vậy. Thân thể gieo xuống là hư nát, nhưng sống lại là bất diệt;  gieo xuống là nhục, nhưng sống lại là vinh; gieo xuống là yếu đuối, nhưng sống lại là mạnh mẽ;  gieo xuống là thân thể vật chất, nhưng sống lại là thân thể thuộc linh. Nếu có thân thể vật chất thì có thân thể thuộc linh.  Như có lời chép: “Người đầu tiên&amp;quot; - là A-đam - &amp;quot;đã trở nên một hữu thể sống&amp;quot;, nhưng A-đam sau cùng là &amp;quot;thần linh ban sự sống.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên, không phải thân thể thiêng liêng đến trước nhưng thân thể thiên nhiên, sau đó mới đến thân thể thiêng liêng. Người đầu tiên thuộc về đất, được làm từ bụi đất; người thứ hai đến từ trời.  Những người thuộc về đất thì giống như người đã được làm từ bụi đất; những người thuộc về trời thì giống như Đấng đến từ trời.  Như chúng ta đã mang hình ảnh của người ra từ bụi đất, thì chúng ta cũng sẽ mang hình ảnh của Đấng đến từ trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thưa anh em, bây giờ tôi nói điều nầy: thể xác và máu huyết không thể thừa hưởng vương quốc Đức Chúa Trời; và sự hư hoại cũng không thể hưởng sự bất diệt.  Này, tôi nói cho anh em một huyền nhiệm: Chúng ta sẽ không ngủ tất cả; tuy nhiên, tất cả sẽ được biến hóa trong khoảnh khắc, trong nháy mắt, vào lúc tiếng kèn cuối cùng. Bởi vì kèn sẽ thổi, người chết sẽ sống lại không bị hư hoại, và chúng ta sẽ được biến hóa.  Bởi vì bản chất hư hoại nầy phải mặc lấy bản chất bất diệt; bản chất khả tử nầy phải mặc lấy bản chất bất tử. Khi bản chất hư hoại mặc lấy bản chất bất diệt, bản chất khả tử mặc lấy bản chất bất tử thì lúc đó sẽ ứng nghiệm lời đã được chép: “Sự chết bị nuốt mất trong sự đắc thắng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Hỡi sự chết, sự đắc thắng của ngươi ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của ngươi ở đâu?”  Cái nọc của sự chết là tội lỗi, sức mạnh của tội lỗi là luật pháp. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài đã ban cho chúng ta sự đắc thắng qua Chúa của chúng ta, là Đức Chúa Jesus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì vậy, anh em quý mến của tôi! Hãy vững vàng, kiên định, luôn luôn làm công việc của Chúa thật dồi dào vì biết rằng sự lao nhọc của anh em trong Chúa không hề vô ích.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Thưa anh em, tôi muốn nói rõ cho anh em về Tin Lành mà tôi đã giảng cho anh em - là Tin Lành mà anh em đã tiếp nhận và anh em đang đứng vững trong đó - 2. nhờ Tin Lành đó anh em được cứu rỗi nếu anh em giữ vững lời tôi đã giảng cho anh em; nếu không, anh em tin cũng vô ích. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Trước hết, tôi đã truyền cho anh em điều mà chính tôi đã nhận, đó là Đấng Christ đã chịu chết vì tội của chúng ta theo lời Kinh Thánh; 4. Ngài đã bị chôn; Ngài đã sống lại vào ngày thứ ba theo lời Kinh Thánh; 5. rồi Ngài đã xuất hiện cho Sê-pha, kế đến là nhóm mười hai sứ đồ. 6. Sau đó, Ngài đã xuất hiện cho hơn năm trăm anh em cùng một lúc; phần lớn trong số đó hiện nay vẫn còn, mặc dù có vài người đã ngủ. 7. Sau đó, Ngài đã xuất hiện cho Gia-cơ, rồi cho tất cả các sứ đồ. 8. Cuối cùng, Ngài cũng hiện ra cho tôi, như một thai nhi được sinh không đúng thời hạn. 9. Bởi vì tôi là người nhỏ nhất trong các sứ đồ - tôi không xứng đáng được gọi là sứ đồ, vì tôi đã bách hại Hội Thánh của Đức Chúa Trời. 10. Nhưng nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, tôi là người như tôi hiện nay, và ân điển của Ngài ban cho tôi không phải là vô ích; nhưng tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị đó; tuy nhiên không phải tôi, nhưng ân điển của Đức Chúa Trời ở với tôi. 11. Vì vậy, dù tôi - hay là những vị đó - chúng tôi giảng như vậy và anh em đã tin như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Như vậy, nếu Đấng Christ đã được giảng là Ngài đã sống lại từ cõi chết, thì tại sao có vài người trong anh em nói rằng không có sự sống lại cho những người chết? 13. Nếu không có sự sống lại cho những người chết, thì Đấng Christ đã không sống lại. 14. Và nếu Đấng Christ đã không sống lại thì sự rao giảng của chúng tôi là vô ích, và đức tin của anh em cũng vô ích. 15. Thật vậy, nếu những người chết không sống lại, thì chúng tôi bị coi như là những nhân chứng giả dối của Đức Chúa Trời; bởi vì chúng tôi đã làm chứng về Đức Chúa Trời rằng Ngài đã khiến Đấng Christ sống lại - trong khi Ngài không khiến Đấng Christ sống lại nếu những người chết không sống lại. 16. Bởi vì nếu những người chết không sống lại thì Đấng Christ cũng không sống lại. 17. Và nếu Đấng Christ không sống lại thì đức tin của anh em cũng vô ích, anh em vẫn còn trong tội lỗi của mình. 18. Cũng vậy, những người đã ngủ trong Đấng Christ vẫn bị hư mất. 19. Nếu chúng ta chỉ có hy vọng nơi Đấng Christ trong cuộc sống nầy mà thôi, thì trong tất cả mọi người, chúng ta là những người đáng thương hại hơn hết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Nhưng bây giờ, Đấng Christ đã sống lại từ cõi chết, Ngài là trái đầu mùa của những người đã ngủ. 21. Bởi vì do một người mà có sự chết, thì cũng nhờ một Người mà có sự sống lại từ cõi chết. 22. Như trong A-đam, mọi người đều chết; cũng vậy, trong Đấng Christ, mọi người đều sẽ được làm cho sống lại. 23. Nhưng mỗi người theo thứ tự riêng của mình: Đấng Christ là trái đầu mùa, rồi đến lượt những người thuộc về Đấng Christ vào lúc Ngài hiện đến. 24. Rồi cuối cùng, khi Ngài trao vương quốc cho Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha, đó là lúc Ngài kết liễu tất cả những thống trị, tất cả thẩm quyền, và quyền lực. 25. Vì Ngài phải cầm quyền cho đến chừng nào Ngài đặt tất cả những kẻ thù ở dưới chân của Ngài. 26. Kẻ thù cuối cùng bị hủy diệt là sự chết. 27. Do đó, Đấng đặt tất cả mọi vật quy phục ở dưới chân Ngài. Tuy nhiên, khi nói tất cả mọi vật quy phục ở dưới Ngài, thì hiển nhiên không bao gồm Đấng đặt mọi vật quy phục ở dưới Ngài. 28. Khi tất cả mọi vật đã quy phục Ngài, thì bấy giờ chính Ngài, là Con, cũng quy phục Đấng đã đặt mọi vật quy phục dưới Ngài, để Đức Chúa Trời là tất cả trong tất cả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29. Nếu không phải như vậy, những người đã nhận báp-têm thay cho người chết để làm gì? Nếu người chết thật sự không sống lại thì tại sao có những người nhận báp-têm thay cho họ? 30. Tại sao chúng tôi - giờ nào cũng phải đối diện với hiểm nguy? 31. Thưa anh em!  Tôi chết mỗi ngày - đó là sự thật - giống như niềm tự hào của tôi về anh em, mà tôi có trong Đấng Christ Jesus, Chúa của chúng ta.  32. Nếu nói theo cách của loài người, tôi đã chiến đấu với những thú dữ tại Ê-phê-sô, có lợi ích gì cho tôi? Nếu người chết không sống lại thì &amp;quot;chúng ta hãy ăn, hãy uống, bởi vì ngày mai chúng ta sẽ chết!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. Đừng bị mắc lừa: “Bạn bè xấu làm hư tính nết tốt.” 34. Hãy tỉnh táo nhận biết sự công chính trở lại và đừng phạm tội nữa, bởi vì có một số người trong anh em không hiểu biết Đức Chúa Trời. Tôi nói như vậy để anh em xấu hổ!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35. Nhưng có người sẽ nói: “Người chết sống lại cách nào? Họ trở lại với thân thể nào?” 36. Hỡi người khờ dại kia ơi! Vật gì anh gieo, nếu trước hết không chết đi, thì sẽ không sống lại. 37. Và vật anh gieo, không phải là thân thể sẽ được hình thành, nhưng đơn giản chỉ là một cái hạt - như hạt lúa mì hay vài thứ khác. 38. Nhưng Đức Chúa Trời ban cho nó thân thể theo ý Ngài muốn, mỗi hạt giống có mỗi hình thể riêng biệt. 39. Không phải mọi thể xác đều có thể xác giống nhau: thể xác của loài người khác, thể xác của loài thú khác, của loài chim khác, của loài cá khác. 40. Cũng vậy, có những thiên thể và có những vật thể trên đất; nhưng vinh quang của những thiên thể khác với những gì thuộc về đất. 41. Vinh quang của mặt trời khác; vinh quang của mặt trăng khác; vinh quang của những vì sao khác; vinh quang của vì sao nầy với vinh quang của vì sao kia cũng khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
42. Sự sống lại của những người chết cũng vậy. Thân thể gieo xuống là hư nát, nhưng sống lại là bất diệt; 43. gieo xuống là nhục, nhưng sống lại là vinh; gieo xuống là yếu đuối, nhưng sống lại là mạnh mẽ; 44. gieo xuống là thân thể vật chất, nhưng sống lại là thân thể thuộc linh. Nếu có thân thể vật chất thì có thân thể thuộc linh. 45. Như có lời chép: “Người đầu tiên&amp;quot; - là A-đam - &amp;quot;đã trở nên một hữu thể sống&amp;quot;, nhưng A-đam sau cùng là &amp;quot;thần linh ban sự sống.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46. Tuy nhiên, không phải điều thiêng liêng đến trước, nhưng là thiên nhiên; sau đó mới là thiêng liêng. 47. Người đầu tiên thuộc về đất, được làm từ bụi đất; người thứ hai đến từ trời. 48. Những người thuộc về đất thì giống như người đã được làm từ bụi đất; những người thuộc về trời thì giống như Đấng đã đến từ trời. 49. Như chúng ta đã mang hình ảnh của người ra từ bụi đất thì chúng ta cũng sẽ mang hình ảnh của Đấng đến từ trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50. Thưa anh em, bây giờ tôi nói điều nầy: thể xác và máu huyết không thể thừa hưởng vương quốc Đức Chúa Trời; và sự hư hoại cũng không thể hưởng sự bất diệt. 51. Này, tôi nói cho anh em một huyền nhiệm: Chúng ta sẽ không ngủ tất cả; tuy nhiên, tất cả sẽ được biến hóa 52. trong khoảnh khắc, trong nháy mắt, vào lúc tiếng kèn cuối cùng. Bởi vì kèn sẽ thổi, người chết sẽ sống lại không bị hư hoại, và chúng ta sẽ được biến hóa. 53. Bởi vì bản chất hư hoại nầy phải mặc lấy bản chất bất diệt; bản chất khả tử nầy phải mặc lấy bản chất bất tử. 54. Khi bản chất hư hoại mặc lấy bản chất bất diệt, bản chất khả tử mặc lấy bản chất bất tử thì lúc đó sẽ ứng nghiệm lời đã được chép: “Sự chết bị nuốt mất trong sự đắc thắng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
55. “Hỡi sự chết, sự đắc thắng của ngươi ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của ngươi ở đâu?”  56. Cái nọc của sự chết là tội lỗi, sức mạnh của tội lỗi là luật pháp. 57. Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài đã ban cho chúng ta sự đắc thắng qua Chúa của chúng ta, là Đức Chúa Jesus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
58. Vì vậy, anh em quý mến của tôi! Hãy vững vàng, kiên định, luôn luôn làm công việc của Chúa thật dồi dào, vì biết rằng sự lao nhọc của anh em trong Chúa không hề vô ích.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Hỡi anh em, tôi nhắc lại cho anh em Tin Lành mà tôi đã rao giảng và anh em đã nhận lấy, cùng đứng vững vàng trong đạo ấy, 2.  và nhờ đạo ấy, anh em được cứu rỗi, miễn là anh em giữ lấy y như tôi đã giảng cho; bằng không, thì anh em dầu có tin cũng vô ích. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Vả trước hết tôi đã dạy dỗ anh em điều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh; 4.  Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh Thánh; 5.  và Ngài đã hiện ra cho Sê-pha, sau lại hiện ra cho mười hai sứ đồ. 6.  Rồi đó, cùng trong một lần, Ngài hiện ra cho hơn năm trăm anh em xem thấy, phần nhiều người trong số ấy hiện bây giờ còn sống, nhưng có mấy người đã ngủ rồi. 7.  Đoạn, Ngài hiện ra cho Gia-cơ, rồi cho các sứ đồ. 8.  Rồi lại, sau những người ấy, Ngài cũng hiện ra cho tôi xem, như cho một thai sanh non vậy. 9.  Vì tôi là rất hèn mọn trong các sứ đồ, không đáng gọi là sứ đồ, bởi tôi đã bắt bớ Hội thánh của Đức Chúa Trời. 10.  Nhưng tôi nay là người thể nào, là nhờ ơn Đức Chúa Trời, và ơn Ngài ban cho tôi cũng không phải là uổng vậy. Trái lại, tôi đã làm nhiều việc hơn các người khác, nhưng nào phải tôi, bèn là ơn Đức Chúa Trời đã ở cùng tôi. 11.  Ấy vậy, dầu tôi, dầu các người khác, đó là điều chúng tôi giảng dạy, và là điều anh em đã tin. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Vả, nếu giảng dạy rằng Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, thì sao trong anh em có kẻ nói rằng những kẻ chết chẳng sống lại? 13.  Nếu những kẻ không sống lại, thì Đấng Christ cũng đã chẳng sống lại nữa. 14.  Lại nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì sự giảng dạy của chúng tôi ra luống công, và đức tin anh em cũng vô ích. 15.  Lại nếu kẻ chết quả thật không sống lại, thì Đức Chúa Trời đã chẳng khiến Đấng Christ sống lại, mà chúng tôi đã làm chứng trái với Đức Chúa Trời rằng Ngài đã làm cho Đấng Christ sống lại, té ra chúng tôi làm chứng dối cho Đức Chúa Trời. 16.  Vì nếu kẻ chết chẳng sống lại, thì Đấng Christ cũng đã chẳng sống lại nữa. 17.  Và nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em còn ở trong tội lỗi mình. 18.  Vậy, những kẻ ngủ trong Đấng Christ cũng phải hư mất đời đời. 19.  Nếu chúng ta chỉ có sự trông cậy trong Đấng Christ về đời nầy mà thôi, thì trong cả mọi người, chúng ta là kẻ khốn nạn hơn hết. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20.  Nhưng bây giờ, Đấng Christ đã từ kẻ chết sống lại, Ngài là trái đầu mùa của những kẻ ngủ. 21.  Vả, vì chưng bởi một người mà có sự chết, thì cũng bởi một người mà có sự sống lại của những kẻ chết. 22.  Như trong A-đam mọi người đều chết, thì cũng một lẽ ấy, trong Đấng Christ mọi người đều sẽ sống lại, 23.  nhưng mỗi người theo thứ tự riêng của mình: Đấng Christ là trái đầu mùa; rồi tới ngày Đấng Christ đến, những kẻ thuộc về Ngài sẽ sống lại. 24.  Kế đó, cuối cùng sẽ đến là lúc Ngài sẽ giao nước lại cho Đức Chúa Trời là Cha, sau khi Ngài đã phá diệt mọi đế quốc, mọi quyền cai trị, và mọi thế lực; 25.  vì Ngài phải cầm quyền cho đến chừng đặt những kẻ thù nghịch dưới chơn mình. 26.  Kẻ thù bị hủy diệt sau cùng, tức là sự chết. 27.  Vả, Đức Chúa Trời đã để muôn vật dưới chơn Ngài; mà đã nói rằng muôn vật phục Ngài, thì chắc phải trừ ra Đấng làm cho muôn vật phục Ngài. 28.  Khi muôn vật đã phục Ngài, thì bấy giờ chính mình Con sẽ phục Đấng đã làm cho muôn vật phục mình, hầu cho Đức Chúa Trời làm muôn sự trong muôn sự. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29.  Bằng chẳng vậy, những người vì kẻ chết chịu phép báp tem sẽ làm chi? Nếu kẻ chết quả thật không sống lại, thì sao họ vì những kẻ ấy mà chịu phép báp tem? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30.  Lại sao chính mình chúng tôi giờ nào cũng ở trong sự nguy hiểm? 31.  Hỡi anh em, tôi chết hằng ngày, thật cũng như anh em là sự vinh hiển cho tôi trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta. 32.  Nếu tôi theo cách loài người mà đã đánh cùng các loài thú ở thành Ê-phê-sô, thì có ích gì cho tôi? Nếu kẻ chết chẳng sống lại, thì hãy ăn, hãy uống, vì ngày mai chúng ta sẽ chết! 33.  Anh em chớ mắc lừa: bạn bè xấu làm hư thói nết tốt. 34.  Hãy tỉnh biết, theo cách công bình, và chớ phạm tội; vì có người không biết Đức Chúa Trời chút nào, tôi nói vậy để anh em hổ thẹn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35.  Nhưng có kẻ sẽ nói rằng: Người chết sống lại thể nào, lấy xác nào mà trở lại? 36.  Hỡi kẻ dại kia, vật gì ngươi gieo, nếu không chết đi trước đã, thì không sống lại được. 37.  Còn như vật ngươi gieo, ấy không phải là chính hình thể sẽ sanh ra, chẳng qua là một cái hột, như hột lúa mì hay là hột giống nào khác. 38.  Đức Chúa Trời cho nó hình thể tùy ý Ngài lấy làm tốt, mỗi một hột giống, cho một hình thể riêng. 39.  Mọi xác thịt chẳng phải là đồng một xác thịt; nhưng xác thịt loài người khác, xác thịt loài thú khác, loài chim khác, loài cá khác. 40.  Lại cũng có hình thể thuộc về trời, hình thể thuộc về đất, nhưng vinh quang của hình thể thuộc về trời với vinh quang của hình thể thuộc về đất thì khác nhau. 41.  Vinh quang của mặt trời khác, vinh quang của mặt trăng khác, vinh quang của ngôi sao khác; vinh quang của ngôi sao nầy với vinh quang của ngôi sao kia cũng khác. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
42.  Sự sống lại của kẻ chết cũng như vậy. Thân thể đã gieo ra là hay hư nát, mà sống lại là không hay hư nát; 43.  đã gieo ra là nhục, mà sống lại là vinh; đã gieo ra là yếu, mà sống lại là mạnh; 44.  đã gieo ra là thể huyết khí, mà sống lại là thể thiêng liêng. Nếu đã có thể huyết khí, thì cũng có thể thiêng liêng; 45.  ấy vậy, có lời chép rằng: Người thứ nhứt là A-đam đã nên linh hồn sống. A-đam sau hết là thần ban sự sống. 46.  Nhưng chẳng phải thể thiêng liêng đến trước, ấy là thể huyết khí; rồi thể thiêng liêng đến sau. 47.  Người thứ nhứt bởi đất mà ra, là thuộc về đất, người thứ hai bởi trời mà ra. 48.  Người thuộc về đất thể nào, thì những kẻ thuộc về đất cũng thể ấy; người thuộc về trời thể nào, thì những kẻ thuộc về trời cũng thể ấy. 49.  Như chúng ta đã mang ảnh tượng của người thuộc về đất, thì chúng ta cũng sẽ mang ảnh tượng của người thuộc về trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50.  Hỡi anh em, tôi đoán quyết rằng thịt và máu chẳng hưởng nước Đức Chúa Trời được, và sự hay hư nát không hưởng sự không hay hư nát được. 51.  Nầy là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa, 52.  trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa. 53.  Vả, thể hay hư nát nầy phải mặc lấy sự không hay hư nát, và thể hay chết nầy phải mặc lấy sự không hay chết. 54.  Khi nào thể hay hư nát nầy mặc lấy sự không hay hư nát, thể hay chết nầy mặc lấy sự không hay chết, thì được ứng nghiệm lời Kinh Thánh rằng: Sự chết đã bị nuốt mất trong sự thắng. 55.  Hỡi sự chết, sự thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu? 56.  Cái nọc sự chết là tội lỗi, sức mạnh tội lỗi là luật pháp. 57.  Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
58.  Vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng, chớ rúng động, hãy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sự Sống Lại của Ðấng Christ'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Thưa anh chị em, tôi xin nhắc lại Tin Mừng tôi đã rao giảng cho anh chị em, đó là Tin Mừng anh chị em đã nhận lãnh, và anh chị em đang đứng vững trong đó.  2 Nhờ Tin Mừng đó anh chị em được cứu, nếu anh chị em cứ giữ vững sứ điệp tôi đã rao giảng cho anh chị em, bằng không, dù anh chị em tin cũng vô ích.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Trước hết tôi đã truyền lại cho anh chị em những gì chính tôi đã nhận lãnh, đó là Ðấng Christ đã chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh, 4 Ngài đã được chôn, đến ngày thứ ba Ngài đã sống lại theo lời Kinh Thánh, 5 và Ngài đã hiện ra cho Sê-pha và cho nhóm mười hai sứ đồ.  6 Sau đó cùng một lúc Ngài đã hiện ra cho hơn năm trăm anh chị em xem thấy, nhiều người trong số đó hiện nay vẫn còn sống, dù có vài người đã ngủ.  7 Sau đó Ngài đã hiện ra cho Gia-cơ, rồi cho tất cả các sứ đồ.  8 Cuối cùng Ngài cũng đã hiện ra cho tôi, như cho một người sinh sau đẻ muộn.  9 Vì tôi là người hèn mọn nhất trong các sứ đồ, một người không đáng được gọi là sứ đồ, vì tôi đã bắt bớ hội thánh của Ðức Chúa Trời.  10 Nhưng nhờ ân sủng của Ðức Chúa Trời mà ngày nay tôi được như thế này, và ân sủng của Ngài ban cho tôi thật đã không uổng phí, vì tôi đã làm việc vất vả hơn tất cả các vị ấy, nhưng nào phải tôi, đúng ra là ân sủng của Ðức Chúa Trời đã hành động qua tôi.  11 Nhưng bất kể các vị ấy hay tôi, chúng tôi đều rao giảng những điều ấy, và anh chị em cũng đã tin như vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sự Sống Lại của Chúng Ta'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Nếu chúng tôi đã giảng rằng Ðấng Christ đã sống lại, tại sao trong anh chị em lại có người bảo rằng không có việc người chết sống lại?  13 Nếu người chết không sống lại thì Ðấng Christ cũng đã không sống lại.  14 Nếu Ðấng Christ đã không sống lại thì sự giảng dạy của chúng tôi là vô ích, và đức tin của anh chị em cũng vô ích.  15 Ngoài ra chúng tôi bị xem là những kẻ làm chứng dối cho Ðức Chúa Trời, vì chúng tôi đã làm chứng cho Ðức Chúa Trời rằng Ngài đã làm cho Ðấng Christ sống lại trong khi Ngài không làm cho Ðấng Christ sống lại.  16 Vì nếu người chết không sống lại, thì Ðấng Christ cũng đã không sống lại.  17 Và nếu Ðấng Christ đã không sống lại thì đức tin của anh chị em là vô ích; anh chị em vẫn còn sống trong tội lỗi mình.  18 Như vậy những người đã ngủ trong Ðấng Christ đều chết mất.  19 Nếu chúng ta chỉ hy vọng trong Ðấng Christ về đời này mà thôi thì trong mọi người chúng ta là những kẻ đáng thương hại hơn cả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Nhưng sự thật là Ðấng Christ đã từ cõi chết sống lại rồi.  Ngài là trái đầu mùa của những người đã ngủ.  21 Vì bởi một người mà sự chết đã đến, thì cũng bởi một Người, sự sống lại của những người chết cũng sẽ đến.  22 Vì trong A-đam mọi người đều chết thì trong Ðấng Christ mọi người đều sẽ được làm cho sống lại.  23 Nhưng mỗi người sẽ theo thứ tự của mình: Ðấng Christ là trái đầu mùa nên sống lại trước hết, kế đó đến lượt những người thuộc về Ðấng Christ sẽ sống lại trong sự hiện đến của Ngài.  24 Sau đó sự cuối cùng sẽ đến, khi Ngài trao vương quốc lại cho Ðức Chúa Trời là Cha, sau khi Ngài đã phế bỏ tất cả quyền cai trị, tất cả quyền hành và quyền lực.  25 Vì Ngài phải trị vì cho đến khi Ngài đặt mọi kẻ thù của Ngài dưới chân Ngài.  26 Kẻ thù cuối cùng bị tiêu diệt là tử thần.  27 Vì Ðức Chúa Trời sẽ bắt mọi vật phải đầu phục dưới chân Ngài.  Nhưng khi nói “mọi vật phải đầu phục” thì hiển nhiên là ngoại trừ Ðấng bắt mọi vật phải đầu phục Ngài.  28 Khi mọi vật đã đầu phục Ngài rồi, thì chính Ngài là Con, cũng sẽ đầu phục Ðấng đã khiến mọi vật đầu phục Ngài, để Ðức Chúa Trời luôn là Ðấng trị vì tối thượng trong mọi sự và trên mọi loài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29 Nếu không, những người chịu báp-têm thay cho những người chết có hy vọng gì?  Nếu những người chết không sống lại thì tại sao họ chịu báp-têm thay cho những người chết?  30 Và tại sao chúng tôi phải đương đầu với nguy hiểm từng giờ?  31 Tôi chết mỗi ngày, thưa anh chị em; điều đó là thật đối với tôi như niềm hãnh diện của tôi về anh chị em trong Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta, là thật vậy.  32 Nếu chỉ hy vọng nơi con người ở đời này mà thôi thì tôi được lợi gì khi chiến đấu với những thú dữ ở Ê-phê-sô?  Nếu người chết không sống lại thì&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Chúng ta hãy ăn, hãy uống, vì ngày mai chúng ta sẽ chết.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 Ðừng để bị mắc lừa: “Bạn bè xấu làm hư tính nết tốt.”  34 Hãy giác ngộ mà sống ngay lành, và đừng phạm tội nữa, vì có một số người sống như không biết gì về Ðức Chúa Trời.  Tôi nói thế để anh chị em cảm thấy xấu hổ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sự Sống Lại của Thân Thể'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 Nhưng có người sẽ hỏi, “Làm thể nào người chết sống lại được?  Họ lấy thân thể nào mà sống lại?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36 Hỡi người khờ dại! Những gì bạn gieo xuống sẽ không phát sinh sự sống nếu không chết đi.  37 Những gì bạn gieo, không phải bạn gieo thân thể khi mọc lên sẽ có, mà chỉ là một hạt giống, chẳng hạn như hạt lúa mì hay hạt giống gì khác.  38 Ðức Chúa Trời ban cho nó sinh ra một thân thể theo ý Ngài muốn; mỗi hạt giống sinh ra một thân thể riêng.  39 Không phải mọi loài xác thịt đều có xác thịt giống nhau; xác thịt của loài người khác, xác thịt của loài thú khác, xác thịt của loài chim khác, xác thịt của loài cá khác.  40 Có những thân thể thuộc về trời, và có những thân thể thuộc về đất, nhưng vinh quang của thân thể thuộc về trời khác với vinh quang của thân thể thuộc về đất.  41 Vinh quang của mặt trời khác, vinh quang của mặt trăng khác, vinh quang của các vì sao khác, vinh quang của vì sao này với vinh quang của vì sao kia cũng khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
42 Sự sống lại của người chết cũng vậy.  Những gì gieo xuống là hư nát, nhưng sống lại là bất diệt; 43 gieo xuống là nhục nhã, nhưng sống lại là vinh hiển; gieo xuống là yếu đuối, nhưng sống lại là mạnh mẽ; 44 gieo xuống là thân thể thiên nhiên, nhưng sống lại là thân thể thiêng liêng.  Nếu có thân thể thiên nhiên, thì cũng có thân thể thiêng liêng, 45 như có lời chép rằng, &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“A-đam, con người đầu tiên, đã trở thành một linh hồn sống.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
A-đam cuối cùng chính là Thần ban sự sống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
46 Không phải thân thể thiêng liêng đến trước nhưng thân thể thiên nhiên, sau đó mới đến thân thể thiêng liêng.  47 Người thứ nhất ra từ đất nên thuộc về đất; người thứ nhì thì đến từ trời.  48 Người thuộc về đất thế nào, những người thuộc về đất cũng thể ấy; người đến từ trời thế nào, những người thuộc về trời cũng thể ấy.  49 Như chúng ta đã mang hình ảnh của người thuộc về đất thì chúng ta cũng sẽ mang hình ảnh của người đến từ trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
50 Thưa anh chị em, điều tôi muốn nói là thế này: xác thịt và máu huyết không thể thừa hưởng vương quốc Ðức Chúa Trời; những gì hay hư nát không thể thừa hưởng những gì bất diệt.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
51 Này, tôi báo cho anh chị em một huyền nhiệm: không phải tất cả chúng ta sẽ ngủ hết, nhưng tất cả chúng ta sẽ được biến hóa, 52 trong giây lát, trong chớp mắt, lúc tiếng kèn chót thổi, vì tiếng kèn sẽ thổi vang, bấy giờ những người chết sẽ sống lại để hưởng sự bất diệt, và chúng ta sẽ được biến hóa.  53 Vì thân thể sẽ hư nát này phải mặc lấy thân thể bất diệt, và thân thể sẽ chết này phải mặc lấy thân thể bất tử.  54 Khi thân thể sẽ hư nát này mặc lấy thân thể bất diệt, và thân thể sẽ chết này mặc lấy thân thể bất tử, thì lời đã chép sẽ được ứng nghiệm,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Tử thần đã bị sự đắc thắng nuốt mất.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
55 “Hỡi tử thần, chiến thắng của ngươi đâu?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hỡi tử thần, nọc độc của ngươi đâu?” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
56 Nọc độc của tử thần là tội lỗi, và sức mạnh của tội lỗi là Luật Pháp, 57 nhưng tạ ơn Ðức Chúa Trời, Ðấng ban chiến thắng cho chúng ta qua Ðức Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
58 Vậy thưa anh chị em yêu dấu của tôi, hãy vững vàng, đừng rúng động, hãy gia tăng làm công việc Chúa luôn, vì biết rằng công khó của anh chị em trong Chúa không vô ích đâu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B46\V01B46C015.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Rô-ma]]&lt;br /&gt;
:* [[I Cô-rinh-tô]]&lt;br /&gt;
:* [[II Cô-rinh-tô]]&lt;br /&gt;
:* [[I Cô-rinh-tô: Chương 14]]&lt;br /&gt;
:* [[I Cô-rinh-tô: Chương 16]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=II_C%C3%B4-rinh-t%C3%B4:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35639</id>
		<title>II Cô-rinh-tô: Chương 4</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=II_C%C3%B4-rinh-t%C3%B4:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_4&amp;diff=35639"/>
		<updated>2026-01-18T22:11:02Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì chúng tôi đã nhận được sự thương xót, và có được chức vụ nầy, cho nên chúng tôi không ngã lòng. 2. Tuy nhiên chúng tôi đã khước từ những việc làm mờ ám ô nhục; chúng tôi không sống trong sự xảo quyệt hoặc giả mạo lời của Đức Chúa Trời, nhưng bằng cách công bố chân lý, giới thiệu chính chúng tôi cho lương tâm của mọi người trước mặt Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Tuy nhiên, nếu Phúc Âm của chúng tôi có bị che khuất thì chỉ che khuất với những người bị hư mất, 4. trong những con người mà thần của đời nầy làm mù lòa tâm trí, là những con người vô tín, để không đón nhận sự soi sáng của Phúc Âm đang tỏa rạng vinh quang của Đấng Christ: là hình ảnh của Đức Chúa Trời. 5. Bởi vì chúng tôi không rao giảng về chính mình, nhưng về Đức Chúa Jesus Christ: là Chúa; và cũng vì Đức Chúa Jesus, bây giờ chính chúng tôi làm những đầy tớ cho anh em. 6. Bởi vì Đức Chúa Trời là Đấng đã phán: “Ánh sáng phải chiếu ra từ bóng tối” đã soi sáng lòng của chúng tôi bằng ánh sáng của tri thức, để hiểu biết vinh quang của Đức Chúa Trời đang tỏa rạng trên mặt của Đức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Nhưng chúng tôi đang đựng bửu vật nầy trong những cái bình bằng đất, để quyền năng siêu việt nầy đến từ Đức Chúa Trời, chứ không phải từ chúng tôi. 8. Chúng tôi bị chèn ép mọi cách, nhưng không bị nghiền nát; bị bối rối, nhưng không tuyệt vọng; 9. bị bắt bớ, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. 10. Chúng tôi luôn luôn mang sự chết của Đức Chúa Jesus trong thân thể của mình, để sự sống của Đức Chúa Jesus cũng được biểu lộ trong thân thể của chúng tôi. 11. Bởi vì ngay khi đang sống, chúng tôi thường xuyên bị nộp cho sự chết vì cớ Đức Chúa Jesus, để cho sự sống của Đức Chúa Jesus được biểu lộ trong thân thể khả tử của chúng tôi. 12. Như vậy, sự chết hành động trong chúng tôi, nhưng sự sống ở trong anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Vì có cùng một tinh thần về niềm tin như lời đã được chép: “Tôi tin nên tôi nói”, cũng vậy chúng tôi tin nên mới nói; 14. bởi vì biết rằng Đấng đã khiến Chúa, là Đức Chúa Jesus, sống lại cũng sẽ khiến chúng tôi sống lại với Đức Chúa Jesus, và sẽ trình diện với anh em. 15. Tất cả mọi điều là vì anh em, để ân điển được phong phú hơn, qua càng lúc càng nhiều người hơn; khiến sự cảm tạ gia tăng để đem vinh quang cho Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Cho nên, chúng tôi không ngã lòng, mặc dù con người bên ngoài bị phân rã, nhưng con người bên trong càng ngày càng đổi mới hơn. 17. Bởi vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm thời của chúng ta sẽ đem lại cho chúng ta vinh quang cao trọng vĩnh cửu và vô hạn, 18. bởi vì chúng ta không chú tâm đến những điều thấy được, nhưng đến những điều không thấy được. Những điều thấy được chỉ là tạm thời, nhưng những điều không thấy được là vĩnh cửu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì chúng tôi đã nhận được sự thương xót, và rồi có được chức vụ nầy, cho nên chúng tôi không ngã lòng. Tuy nhiên, chúng tôi đã khước từ những việc làm mờ ám ô nhục; chúng tôi không sống trong sự xảo quyệt hoặc giả mạo lời của Đức Chúa Trời, nhưng bằng cách công bố chân lý, giới thiệu chính chúng tôi cho lương tâm của mọi người trước mặt Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên, nếu Phúc Âm của chúng tôi có bị che khuất thì chỉ che khuất với những người bị hư mất, trong những con người mà thần của đời nầy làm mù lòa tâm trí, là những con người vô tín, để không đón nhận sự soi sáng của Phúc Âm đang tỏa rạng vinh quang của Đấng Christ: là hình ảnh của Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì chúng tôi cũng không rao giảng về chính mình, nhưng về Đức Chúa Jesus Christ: là Chúa; và cũng vì Đức Chúa Jesus, bây giờ chính chúng tôi đang làm những người đầy tớ của anh em. Bởi vì Đức Chúa Trời – Đấng đã phán: “Ánh sáng phải chiếu ra từ bóng tối” - đã soi sáng lòng của chúng tôi bằng ánh sáng của tri thức, để hiểu biết vinh quang của Đức Chúa Trời đang tỏa rạng trên mặt của Đức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng chúng tôi đựng bửu vật nầy trong những bình bằng đất, để quyền năng siêu việt nầy đến từ Đức Chúa Trời, chứ không phải từ chúng tôi. Chúng tôi bị chèn ép mọi cách, nhưng không bị nghiền nát; bị bối rối, nhưng không tuyệt vọng; bị bắt bớ, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn luôn mang sự chết của Đức Chúa Jesus trong thân thể của mình, để sự sống của Đức Chúa Jesus cũng được biểu lộ trong thân thể của chúng tôi. Bởi khi đang sống, chúng tôi thường bị nộp cho sự chết vì cớ Đức Chúa Jesus, để cho sự sống của Đức Chúa Jesus được biểu lộ trong thân thể hoại tử của chúng tôi. Như vậy, sự chết hành động trong chúng tôi, nhưng sự sống ở trong anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Do có cùng một tinh thần về niềm tin như lời đã được chép: “Tôi tin nên tôi nói”, cũng vậy chúng tôi tin nên mới nói. Bởi vì biết rằng Đấng đã khiến Chúa, là Đức Chúa Jesus, sống lại cũng sẽ khiến chúng tôi sống lại với Đức Chúa Jesus, và sẽ trình diện với anh em. Tất cả mọi điều là vì anh em, để ân điển được phong phú hơn, qua càng lúc càng nhiều người hơn; khiến sự cảm tạ gia tăng để đem vinh quang cho Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cho nên, chúng tôi không ngã lòng, mặc dù con người bên ngoài bị phân rã, nhưng con người bên trong càng ngày càng đổi mới hơn. Bởi vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm thời của chúng ta sẽ đem lại cho chúng ta vinh quang cao trọng vĩnh cửu và vô hạn – bởi vì chúng ta không chú tâm đến những điều thấy được, nhưng đến những điều không thấy được. Những điều thấy được chỉ là tạm thời, nhưng những điều không thấy được là vĩnh cửu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì chúng tôi đã nhận được sự thương xót, rồi có chức vụ nầy, cho nên chúng tôi không ngã lòng. 2. Tuy nhiên chúng tôi đã khước từ những việc làm mờ ám ô nhục; chúng tôi không bước đi trong sự xảo quyệt hoặc giả mạo lời của Đức Chúa Trời, nhưng bằng cách công bố chân lý, giới thiệu chính chúng tôi cho lương tâm của mọi người trước mặt Đức Chúa Trời. 3. Tuy nhiên, nếu Phúc Âm của chúng tôi bị che khuất, thì chỉ che khuất với những người bị hư mất, 4. trong những con người mà thần của đời nầy làm mù lòa tâm trí - là những người vô tín, để không đón nhận sự soi sáng của Phúc Âm, tỏa rạng vinh quang của Đấng Christ: là hình ảnh của Đức Chúa Trời. 5. Vì chúng tôi cũng không rao giảng về chính mình, nhưng về Đức Chúa Jesus Christ: là Chúa; và giờ đây bản thân chúng tôi làm đầy tớ của anh em cũng vì Đức Chúa Jesus. 6. Bởi vì Đức Chúa Trời – Đấng đã phán: “Ánh sáng phải chiếu ra từ bóng tối” - đã soi sáng lòng của chúng tôi bằng ánh sáng của tri thức để hiểu biết vinh quang của Đức Chúa Trời trên gương mặt của Đức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Nhưng chúng tôi đựng bửu vật nầy trong những bình bằng đất, để quyền năng siêu việt nầy đến từ Đức Chúa Trời, chứ không phải từ chúng tôi, 8. bị chèn ép mọi cách, nhưng không bị nghiền nát; bị bối rối, nhưng không tuyệt vọng; 9. bị bắt bớ, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt; 10. luôn luôn mang sự chết của Đức Chúa Jesus trong thân thể của mình, để sự sống của Đức Chúa Jesus cũng được biểu lộ trong thân thể của chúng tôi. 11. Bởi vì, chúng tôi, khi đang sống, thường bị nộp cho sự chết, vì cớ Đức Chúa Jesus, để cho sự sống của Đức Chúa Jesus được biểu lộ trong thân thể hoại tử của chúng tôi. 12. Như vậy, sự chết hành động trong chúng tôi, nhưng sự sống ở trong anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Nhưng do có cùng một tinh thần về niềm tin, như lời đã được chép: “Tôi tin nên tôi nói”, cũng vậy, chúng tôi tin, nên mới nói. 14. Bởi vì biết rằng Đấng đã khiến Chúa, là Đức Chúa Jesus, sống lại, cũng sẽ khiến chúng tôi sống lại với Đức Chúa Jesus, và sẽ trình diện với anh em. 15. Tất cả mọi điều là vì anh em, để ân điển càng phong phú hơn, qua càng nhiều người hơn; sự cảm tạ gia tăng, để đem vinh quang cho Đức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Cho nên, chúng tôi không ngã lòng, mặc dù con người bên ngoài bị phân rã, nhưng con người bên trong càng ngày càng đổi mới hơn. 17. Bởi vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm thời của chúng ta sẽ đem lại cho chúng ta vinh quang cao trọng vĩnh cửu và vô hạn 18. - vì chúng ta không chú tâm đến những điều thấy được, nhưng đến những điều không thấy được. Những điều thấy được chỉ là tạm thời, nhưng những điều không thấy được là vĩnh cửu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vậy nên, chúng tôi nhờ sự thương xót đã ban cho, mà được chức vụ nầy, thì chúng tôi chẳng ngã lòng; 2.  nhưng chúng tôi từ bỏ mọi điều hổ thẹn giấu kín. Chúng tôi chẳng theo sự dối gạt, và chẳng giả mạo lời Đức Chúa Trời, nhưng trước mặt Đức Chúa Trời chúng tôi tỏ bày lẽ thật, khiến lương tâm mọi người cho chúng tôi là đáng chuộng. 3.  Nếu Tin Lành của chúng tôi còn che khuất, là chỉ che khuất cho những kẻ hư mất, 4.  cho những kẻ chẳng tin mà chúa đời nầy đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không trông thấy sự vinh hiển chói lói của Tin Lành Đấng Christ, là ảnh tượng của Đức Chúa Trời. 5.  Vả, chúng tôi chẳng rao giảng chính mình chúng tôi, nhưng rao giảng Đức Chúa Jêsus Christ, tức là Chúa; và vì tình yêu mến Đức Chúa Jêsus mà chúng tôi xưng mình là tôi tớ của anh em. 6.  Vì Đức Chúa Trời, là Đấng có phán: Sự sáng phải soi từ trong sự tối tăm! đã làm cho sự sáng Ngài chói lòa trong lòng chúng tôi, đặng sự thông biết về vinh hiển Đức Chúa Trời soi sáng nơi mặt Đức Chúa Jêsus Christ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Nhưng chúng tôi đựng của quí nầy trong chậu bằng đất, hầu cho tỏ quyền phép lớn dường ấy là bởi Đức Chúa Trời mà ra, chớ chẳng phải bởi chúng tôi. 8.  Chúng tôi bị ép đủ cách, nhưng không đến cùng; bị túng thế nhưng không ngã lòng; 9.  bị bắt bớ, nhưng không đến bỏ; bị đánh đập, nhưng không đến chết mất. 10.  Chúng tôi thường mang sự chết của Đức Chúa Jêsus trong thân thể mình, hầu cho sự sống của Đức Chúa Jêsus cũng tỏ ra trong thân thể chúng tôi. 11.  Bởi chúng tôi là kẻ sống, vì cớ Đức Chúa Jêsus mà hằng bị nộp cho sự chết, hầu cho sự sống của Đức Chúa Jêsus cũng được tỏ ra trong xác thịt hay chết của chúng tôi; 12.  vậy thì sự chết làm trong chúng tôi, còn sự sống trong anh em. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13.  Vì chúng tôi có đồng một lòng tin, y như lời Kinh Thánh rằng: Ta đã tin, cho nên ta nói, cũng vậy, chúng tôi tin, cho nên mới nói, 14.  vì biết rằng Đấng đã khiến Đức Chúa Jêsus sống lại, cũng sẽ làm cho chúng tôi sống lại với Đức Chúa Jêsus, và làm cho chúng tôi ứng hầu với anh em trước mặt Ngài. 15.  Bởi chưng mọi điều đó xảy đến vì cớ anh em, hầu cho ân điển rải ra cách dư dật, khiến sự tạ ơn nơi nhiều người hơn cũng dư dật, mà thêm vinh hiển cho Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16.  Vậy nên chúng ta chẳng ngã lòng, dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn. 17.  Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng, vô biên, 18.  bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B47\V02B47C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Bửu Vật trong Bình Ðất'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vì vậy nhờ ơn thương xót của Ðức Chúa Trời, chúng tôi được giao cho chức vụ này, nên chúng tôi chẳng ngã lòng. 2 Ngược lại chúng tôi khước từ mọi đường lối ám muội và đáng xấu hổ.  Chúng tôi không sử dụng những phương thức xảo quyệt hoặc giả mạo lời của Ðức Chúa Trời, nhưng cứ thẳng thắn trình bày chân lý và để lương tâm mọi người nhận định về chúng tôi trước mặt Ðức Chúa Trời.  3 Nếu Tin Mừng chúng tôi rao giảng bị che khuất ấy là bị che khuất đối với những kẻ đang chết mất, 4 vì thần của đời này đã làm mù tâm trí những người không tin để họ không trông thấy ánh sáng của Tin Mừng đang tỏa rạng vinh quang của Ðấng Christ, là hình ảnh của Ðức Chúa Trời.  5 Vì chúng tôi chẳng giảng về chính mình nhưng giảng về Ðức Chúa Jesus Christ là Chúa, và vì cớ Ðức Chúa Jesus, chúng tôi là đầy tớ của anh chị em, 6 vì Ðức Chúa Trời là Ðấng đã phán,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ánh sáng hãy chiếu ra từ cõi tối tăm,” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
đã chiếu sáng lòng chúng tôi, ban cho chúng tôi ánh sáng của trí tuệ để nhận biết vinh hiển của Ðức Chúa Trời đang rạng ngời trên gương mặt Ðức Chúa Jesus Christ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Chúng tôi đựng bửu vật này trong những bình bằng đất để bày tỏ rằng quyền năng diệu kỳ là của Ðức Chúa Trời, chứ không phải của chúng tôi.  8 Chúng tôi bị áp lực đủ mọi mặt nhưng không bị nghiền nát, bị bối rối nhưng không hề tuyệt vọng, 9 bị bách hại nhưng không bị bỏ rơi, bị quật ngã nhưng không bị tiêu diệt.  10 Chúng tôi luôn mang sự chết của Ðức Chúa Jesus trong thân thể mình, để sự sống của Ðức Chúa Jesus cũng được thể hiện trong thân thể chúng tôi.  11 Dù chúng tôi đang sống, nhưng vì cớ Ðức Chúa Jesus lúc nào chúng tôi cũng sẵn sàng chết, để sự sống của Ðức Chúa Jesus được thể hiện trong thân thể sẽ chết của chúng tôi.  12 Thế thì sự chết đang hành động trong chúng tôi, nhưng sự sống đang hành động trong anh chị em.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Do có cùng một tinh thần đức tin như lời đã chép,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Tôi tin nên tôi nói,” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
chúng tôi cũng tin nên chúng tôi cũng nói; 14 vì chúng tôi biết rằng Ðấng đã làm cho Ðức Chúa Jesus sống lại cũng sẽ làm cho chúng ta sống lại với Ðức Chúa Jesus và sẽ đem chúng tôi và anh chị em đến trình diện trước mặt Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Vậy mọi sự đã được thực hiện vì cớ anh chị em, để có nhiều người nhận được ân sủng của Ðức Chúa Trời hơn, và sự tạ ơn Ngài nhờ thế được gia tăng nhiều hơn, hầu đem vinh hiển về Ðức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Sống Bởi Ðức Tin'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Vì vậy chúng ta không ngã lòng; dù con người bên ngoài đang tàn tạ, nhưng con người bên trong vẫn mỗi ngày một đổi mới.  17 Vì hoạn nạn tạm và nhẹ của chúng ta hiện nay sẽ đem lại cho chúng ta vinh hiển đời đời vô lượng vô biên, 18 bởi chúng ta không nhìn chăm vào những gì thấy được, nhưng vào những gì không thấy được, vì những gì thấy được chỉ là tạm thời, còn những gì không thấy được mới là đời đời bất diệt.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B47\V01B47C004.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Cùng Học Kinh Thánh==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [https://www.thuvientinlanh.org/2_corinhto_040106  II Cô-rinh-tô 4:1-6] - [http://www.thuvientinlanh.org Thư Viện Tin Lành]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [https://www.thuvientinlanh.org/2_corinhto_040712  II Cô-rinh-tô 4:7-12] - [http://www.thuvientinlanh.org Thư Viện Tin Lành]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [https://www.thuvientinlanh.org/2_corinhto_041318  II Cô-rinh-tô 4:13-18] - [http://www.thuvientinlanh.org Thư Viện Tin Lành]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[I Cô-rinh-tô]]&lt;br /&gt;
:* [[II Cô-rinh-tô]]&lt;br /&gt;
:* [[Ga-la-ti]]&lt;br /&gt;
:* [[II Cô-rinh-tô: Chương 3]]&lt;br /&gt;
:* [[II Cô-rinh-tô: Chương 5]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=H%C3%AA-b%C6%A1-r%C6%A1:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_7&amp;diff=35638</id>
		<title>Hê-bơ-rơ: Chương 7</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=H%C3%AA-b%C6%A1-r%C6%A1:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_7&amp;diff=35638"/>
		<updated>2026-01-18T22:07:54Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vì Mên-chi-xê-đéc nầy là vua của Sa-lem, là tư tế của Đức Chúa Trời Chí Cao, đã gặp và chúc phước cho Áp-ra-ham khi ông chiến thắng các vua trở về; 2. cũng là người mà Áp-ra-ham đã nộp tất cả một phần mười. Tên của vua trước hết có nghĩa là “vua của công chính”, và cũng là vua của Sa-lem, nghĩa là “vua của hòa bình”. 3. Người không có cha, không có mẹ, không có gia phả, không có ngày khởi đầu, và cũng không có ngày kết thúc, nhưng giống như Con của Đức Chúa Trời, vẫn làm tư tế cho đến đời đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Hãy suy xét! Đấng này cao trọng biết dường nào, đến nỗi chính Áp-ra-ham, vị tộc trưởng, đã dâng một phần mười các chiến lợi phẩm cho Đấng ấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Những người thuộc  dòng dõi Lê-vi đã nhận chức vụ tư tế, và theo một mệnh lệnh trong luật pháp, họ là người nhận một phần mười từ dân chúng, tức là từ những anh em của mình, dù chính họ cũng từ Áp-ra-ham mà ra. 6. Nhưng Đấng ấy, vốn không phải là dòng dõi của họ, đã nhận một phần mười từ Áp-ra-ham, và Đấng ấy đã chúc phước cho ông, là người đã nhận những lời hứa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Người cao hơn ban phước cho người thấp hơn, đó là điều không chối cãi được. 8. Trong trường hợp nầy, những người khả tử đã nhận một phần mười đều đã chết; nhưng trong trường hợp kia, Đấng ấy được chứng nhận là hiện đang sống. 9. Vì vậy, có thể nói rằng người Lê-vi nhận một phần mười, qua Áp-ra-ham, cũng dâng một phần mười, 10. bởi vì Lê-vi vẫn còn ở trong lòng tổ phụ, lúc gặp Mên-chi-xê-đéc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Nếu chức vụ tư tế thuộc dòng Lê-vi đã được sự toàn hảo – bởi vì dân chúng đã nhận luật pháp qua chức vụ tư tế này - thì tại sao vẫn cần lập lên một tư tế khác, theo ban Mên-chi-xê-đéc chứ không theo ban A-rôn? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Chức vụ tư tế đã thay đổi thì luật pháp cũng cần phải thay đổi. 13. Bởi vì Đấng mà những lời đó nói đến thuộc về một chi tộc khác, và trong chi tộc đó chưa từng có ai phục vụ nơi bàn thờ. 14. Bởi vì thật rõ ràng, Chúa của chúng ta đã ra từ Giu-đa, một chi tộc mà Môi-se không nói gì về chức vụ tư tế. 15. Điều nầy càng rõ hơn nữa, khi chúng ta thấy một tư tế khác được lập lên, giống như Mên-chi-xê-đéc, 16. là Đấng được thiết lập không theo một mạng lệnh nào trong điều răn xác thịt, nhưng theo quyền năng của sự sống bất diệt. 17. Điều này đã được xác nhận: “Con là tư tế đời đời, theo ban Mên-chi-xê-đéc.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Như vậy, điều răn cũ đang được đặt qua một bên bởi vì sự yếu kém và vô hiệu của nó 19. – bởi vì luật pháp không thể khiến điều gì trở nên toàn hảo – nhưng chỉ là lời mở đầu cho một niềm hy vọng tốt hơn, để qua đó chúng ta được đến gần Đức Chúa Trời. 20. Sự khác biệt rất nhiều này đã được thể hiện trong một lời thề. Thật vậy, những người khác trở nên tư tế mà không có lời thề nào cả; 21. nhưng Ngài có một lời thề, bởi Đấng đã nói với Ngài: “Chúa đã thề, và sẽ không đổi ý: Con là tư tế đời đời.”  22. Vì vậy, Đức Chúa Jesus đã trở thành Đấng bảo đảm cho một giao ước tốt hơn rất nhiều.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Số người đã trở thành tư tế rất nhiều, nhưng vì họ bị chết nên không thể tiếp tục. 24. Tuy nhiên, bởi vì Ngài tồn tại đời đời, cho nên Ngài giữ chức tư tế vĩnh viễn. 25. Vì vậy, Ngài có thể cứu toàn vẹn những người nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, bởi vì Ngài luôn luôn sống để cầu thay cho họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Thật vậy, Ngài là vị thượng tế phù hợp cho chúng ta: thánh khiết, vô tội, không ô uế, tách biệt khỏi những tội nhân, được tôn cao hơn các tầng trời; 27. là Đấng không như những thượng tế khác, phải dâng sinh tế mỗi ngày, trước hết vì tội của mình, sau đó vì tội của dân chúng; vì điều này, Ngài đã dâng chính mình Ngài làm sinh tế một lần đủ cả. 28. Luật pháp lập những người vốn yếu đuối làm những thượng tế; nhưng lời thề, có sau luật pháp, đã lập Con - là Đấng toàn hảo đời đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Đức Chúa Jesus và Mên-chi-xê-đéc'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Mên-chi-xê-đéc nầy là vua của Sa-lem, là tư tế của Đức Chúa Trời Chí Cao, đã gặp và chúc phước cho Áp-ra-ham khi ông chiến thắng các vua trở về; vua cũng là người mà Áp-ra-ham đã nộp tất cả một phần mười; tên của vua trước hết có nghĩa là “vua công chính”, và cũng là vua của Sa-lem, nghĩa là “vua hòa bình”. Người không có cha, không có mẹ, không có gia phả, không có ngày khởi đầu, và cũng không có ngày kết thúc, nhưng giống như Con Đức Chúa Trời, vẫn làm tư tế cho đến đời đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy suy xét! Đấng này cao trọng biết dường nào, đến nỗi chính Áp-ra-ham, vị tộc trưởng, đã dâng một phần mười các chiến lợi phẩm cho Đấng ấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những người thuộc dòng dõi Lê-vi nhận chức vụ tư tế, và theo một mệnh lệnh trong luật pháp, họ là người nhận một phần mười từ dân chúng, tức là từ những anh em của mình, dù chính họ cũng ra từ Áp-ra-ham. Nhưng Đấng ấy, vốn không phải là dòng dõi của họ, đã nhận một phần mười từ Áp-ra-ham, và Đấng ấy đã chúc phước cho ông, là người đã nhận những lời hứa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người cao hơn ban phước cho người thấp hơn, đó là điều không chối cãi được. Trong trường hợp nầy, những người phàm đã nhận một phần mười đều chết; nhưng trong trường hợp kia, Đấng ấy được chứng nhận là hiện đang sống. Vì vậy, có thể nói rằng người Lê-vi nhận một phần mười, qua Áp-ra-ham, cũng dâng một phần mười, bởi vì Lê-vi vẫn còn ở trong lòng tổ phụ, lúc gặp Mên-chi-xê-đéc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chức vụ tư tế của Đấng Christ cao trọng hơn của A-rôn'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nếu chức vụ tư tế thuộc dòng Lê-vi đã được sự toàn hảo – bởi vì dân chúng đã nhận luật pháp qua chức vụ tư tế này - thì tại sao vẫn cần lập lên một tư tế khác, theo ban Mên-chi-xê-đéc chứ không theo ban A-rôn? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chức vụ tư tế đã thay đổi thì luật pháp cũng cần phải thay đổi. Bởi vì Đấng mà những lời đó nói đến thuộc về một chi tộc khác, và trong chi tộc đó chưa từng có ai phục vụ nơi bàn thờ. Bởi vì thật rõ ràng, Chúa của chúng ta đã ra từ Giu-đa, một chi tộc mà Môi-se không nói gì về chức tư tế. Điều nầy càng rõ hơn nữa, khi chúng ta thấy một vị tư tế khác được lập lên, giống như Mên-chi-xê-đéc, là Đấng được thiết lập không theo một mạng lệnh nào trong điều răn xác thịt, nhưng theo quyền năng của sự sống bất diệt. Điều này đã được xác nhận: “Con là tư tế đời đời, theo ban Mên-chi-xê-đéc.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như vậy, điều răn cũ đang được đặt qua một bên bởi vì sự yếu kém và vô hiệu của nó – bởi vì luật pháp không thể khiến điều gì trở nên toàn hảo – nhưng chỉ là lời mở đầu cho một niềm hy vọng tốt hơn, để qua đó chúng ta được đến gần Đức Chúa Trời. Sự khác biệt rất nhiều này đã được thể hiện trong một lời thề. Thật vậy, những người khác trở nên tư tế mà không có lời thề nào cả; nhưng Ngài có một lời thề, bởi Đấng đã nói với Ngài: “Chúa đã thề, và sẽ không đổi ý; Con là tư tế đời đời.”  Vì vậy, Đức Chúa Jesus đã trở thành Đấng bảo đảm cho một giao ước tốt hơn rất nhiều.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Số người đã trở thành tư tế rất nhiều, nhưng vì họ chết nên không thể tiếp tục. Tuy nhiên, bởi vì Ngài tồn tại đời đời, nên Ngài giữ chức tư tế vĩnh viễn. Vì vậy, Ngài có thể cứu toàn vẹn những người nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, bởi vì Ngài luôn luôn sống để cầu thay cho họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy, Ngài là vị thượng tế phù hợp cho chúng ta: thánh khiết, vô tội, không ô uế, tách biệt khỏi những tội nhân, được tôn cao hơn các tầng trời; là Đấng không như những thượng tế khác, phải dâng sinh tế mỗi ngày, trước hết vì tội của mình, sau đó vì tội của dân chúng; vì điều này, Ngài đã dâng chính mình Ngài làm sinh tế một lần đủ cả. Luật pháp lập những người vốn yếu đuối làm những thượng tế; nhưng lời thề, có sau luật pháp, đã lập Con - là Đấng toàn hảo đời đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vả, Mên-chi-xê-đéc đó là vua của Sa-lem, thầy tế lễ của Đức Chúa Trời rất cao, đã đi rước Áp-ra-ham và chúc phước cho, trong khi người thắng trận các vua trở về; 2.  Áp-ra-ham đã lấy một phần mười về mọi của cải mình mà dâng cho vua; theo nghĩa đen tên vua ấy, trước hết là vua sự công bình, lại là vua của Sa-lem nữa, nghĩa là vua bình an; 3.  người không cha, không mẹ, không gia phổ; không có ngày đầu mới sanh, cũng không có ngày rốt qua đời, như vậy là giống Con Đức Chúa Trời, Mên-chi-xê-đéc nầy làm thầy tế lễ đời đời vô cùng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Hãy nghĩ xem, chính tiên tổ là Áp-ra-ham đã lấy một phần mười trong những vật rất tốt của mình chiếm được mà dâng cho vua, thì vua tôn trọng là dường nào. 5.  Những con cháu họ Lê-vi chịu chức tế lễ, theo luật, có phép thâu lấy một phần mười của dân, nghĩa là của anh em mình, vì chính họ cũng từ Áp-ra-ham mà ra. 6.  Nhưng vua vốn không phải đồng họ, cũng lấy một phần mười của Áp-ra-ham và chúc phước cho kẻ được lời hứa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Vả, người bực cao chúc phước cho kẻ bực thấp, ấy là điều không cãi được. 8.  Lại, đằng nầy, những kẻ thâu lấy một phần mười đều là người hay chết: còn đằng kia, ấy là kẻ mà có lời làm chứng cho là người đang sống. 9.  Lại có thể nói rằng Lê-vi là kẻ thâu lấy một phần mười đó, chính mình người cũng bởi Áp-ra-ham mà đóng một phần mười; 10.  vì lúc Mên-chi-xê-đéc đi đón tiên tổ, thì Lê-vi còn ở trong lòng tổ phụ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Nếu có thể được sự trọn vẹn bởi chức tế lễ của người Lê-vi (vì luật pháp ban cho dân đang khi còn dưới quyền chức tế lễ), thì cớ sao còn cần phải dấy lên một thầy tế lễ khác, lập theo ban Mên-chi-xê-đéc, không theo ban A-rôn? 12.  Chức tế lễ đã thay đổi thì luật pháp cũng cần phải thay đổi. 13.  Vả, Đấng mà những lời đó chỉ về, thuộc một chi phái khác, trong chi phái đó chưa từng có ai dự việc nơi bàn thờ. 14.  Vì thật rõ ràng Chúa chúng ta ra từ Giu-đa về chi phái ấy, Môi-se không nói điều chi về chức tế lễ. 15.  Mọi điều đó càng thêm rõ hơn nữa, khi chúng ta thấy một thầy tế lễ khác dấy lên, giống như Mên-chi-xê-đéc, 16.  lập nên không theo luật lệ của điều răn xác thịt, nhưng theo quyền phép của sự sống chẳng hay hư hay hết. 17.  Vả, nầy là lời làm chứng cho Ngài rằng: Con làm thầy tế lễ đời đời Theo ban Mên-chi-xê-đéc. 18.  Như vậy, điều răn trước kia vì không quyền không ích nên đã bị bỏ rồi; 19.  bởi chưng luật pháp không làm trọn chi hết, lại có một sự trông cậy hay hơn đem vào thay cho luật pháp, và bởi sự trông cậy đó chúng ta đến gần Đức Chúa Trời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20.  Vả lại, sự thay đổi nầy chẳng phải là không có lời thề mà được làm ra. Những thầy tế lễ khác không bởi lời thề mà được lập lên, 21.  nhưng Ngài đã được lập lên bằng lời thề, bởi Đấng đã phán cùng Ngài rằng: Chúa đã thề rồi, và không hối lời thề ấy đâu; Con làm thầy tế lễ đến đời đời. 22.  Vì thế, Đức Chúa Jêsus đã trở nên Đấng bảo lãnh cho một cái giao ước rất tôn trọng hơn cái trước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23.  Vả lại, số thầy tế lễ rất nhiều, vì sự chết nên không giữ luôn được chức vụ. 24.  Nhưng Ngài, vì hằng có đời đời, nên giữ lấy chức tế lễ không hề đổi thay. 25.  Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Ấy đó thật là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta có cần dùng, thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội, được cất lên cao hơn các từng trời: 27.  không như những thầy tế lễ thượng phẩm khác, cần phải hằng ngày dâng tế lễ, trước vì tội mình, sau vì tội dân; Ngài làm việc đó một lần thì đủ cả, mà dâng chính mình Ngài làm tế lễ. 28.  Vì luật pháp lập những người vốn yếu đuối làm thầy tế lễ thượng phẩm; nhưng lời thề có sau luật pháp thì lập Con, là Đấng đã nên trọn lành đời đời. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B58\V02B58C007.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Tư Tế Mên-chi-xê-đéc'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vua Mên-chi-xê-đéc ở Sa-lem này là tư tế của Ðức Chúa Trời Tối Cao, là người đã ra nghinh đón Áp-ra-ham và chúc phước cho ông, sau khi ông đánh bại các vua trở về.  2 Áp-ra-ham đã lấy một phần mười của mọi chiến lợi phẩm chia cho vua ấy.  Trước hết tên của vua là “Mên-chi-xê-đéc,” có nghĩa là “Vua Công Chính,” và cũng là vua của Sa-lem, có nghĩa là “Vua Hòa Bình.”  3 Vua không cha, không mẹ, không gia phả, không ngày sinh, không ngày chết, nhưng giống như Con Ðức Chúa Trời, vua cứ làm tư tế đời đời. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Hãy xem, vua ấy cao trọng biết bao!  Ngay cả tổ phụ Áp-ra-ham mà còn dâng một phần mười các chiến lợi phẩm cho vua ấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Các con cháu của Lê-vi, hễ ai nhận được chức vụ làm tư tế thì cứ theo điều lệ đã quy định trong Luật Pháp được quyền nhận một phần mười từ dân, tức từ các anh chị em của họ, dù họ cũng ra từ lòng Áp-ra-ham.  6 Nhưng vua ấy, không thuộc về dòng tộc của họ, lại nhận một phần mười từ Áp-ra-ham, và vua ấy đã chúc phước cho ông, là người có lời hứa.  7 Người bậc thấp được người bậc cao chúc phước là điều không ai thắc mắc.  8 Ðàng này những tư tế nhận một phần mười là những phàm nhân phải qua đời, nhưng đàng kia, vua ấy lại được làm chứng là còn đang sống.  9 Có thể nói rằng, qua Áp-ra-ham, ngay cả Lê-vi, người đã nhận một phần mười, cũng đã dâng một phần mười cho vua ấy, 10 vì Lê-vi còn ở trong lòng tổ phụ ông khi Mên-chi-xê-đéc ra đón gặp tổ phụ ông.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Vậy nếu nhờ chức vụ tư tế của người Lê-vi mà người ta được trở nên trọn vẹn –vì dân nhận được Luật Pháp trên căn bản của chức vụ tư tế ấy– thì tại sao cần phải dấy lên một tư tế khác theo dòng Mên-chi-xê-đéc, mà không là một người theo dòng A-rôn?  12 Vì khi có sự thay đổi về dòng tư tế, thì cũng cần phải thay đổi trong Luật Pháp.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Chức Vụ Tư Tế của Ðấng Christ Cao Trọng Hơn Chức Vụ Tư Tế của A-rôn'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Về Ðấng mà những điều này luận đến lại thuộc về một chi tộc khác, một chi tộc chưa có ai được phục vụ nơi bàn thờ.  14 Vì rõ ràng rằng Chúa chúng ta đã xuất thân từ dòng dõi Giu-đa, mà về chi tộc ấy, Môi-se không nói chi về chức vụ tư tế cả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Ðiều đó càng rõ ràng hơn khi một vị tư tế khác tương tự như Mên-chi-xê-đéc dấy lên, 16 Ðấng ấy không trở thành tư tế dựa trên những quy định trong Luật Pháp về huyết thống, nhưng dựa trên quyền năng của sự sống bất diệt.  17 Vì Ngài đã được chứng rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Con làm tư tế đời đời,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Theo dòng Mên-chi-xê-đéc.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Như vậy trong một phương diện, điều răn trước kia đã bị bãi bỏ vì bất lực và vô dụng 19 (bởi Luật Pháp chẳng làm ai trở nên trọn vẹn), nhưng một phương diện khác, một hy vọng tốt hơn đã được đưa vào thay thế; nhờ hy vọng ấy chúng ta được đến gần Ðức Chúa Trời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Ðiều ấy không phải là không có lời thề xác định.  21 Vì những vị kia trở thành tư tế thì không cần lời thề, nhưng Ngài thì có một lời thề được lập bởi Ðấng đã nói với Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Chúa đã thề và sẽ không đổi ý của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
‘Con làm tư tế đời đời.’” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Theo lời thề ấy thì Ðức Chúa Jesus đã trở thành người bảo đảm cho một giao ước tốt hơn.  23 Ngoài ra có nhiều người đã trở thành tư tế, bởi vì sự chết ngăn trở họ tiếp tục chức vụ, 24 nhưng Ngài thì tồn tại đời đời, nên Ngài có một chức vụ tư tế vĩnh viễn.  25 Do đó Ngài có thể cứu hoàn toàn những ai nhờ Ngài mà đến gần Ðức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Thật vậy chúng ta cần có một Vị Thượng Tế như thế, một Ðấng thánh khiết, vô tội, trong sạch, tách biệt khỏi những kẻ tội lỗi, và được cất lên cao hơn các tầng trời; 27 một Ðấng không có nhu cầu hằng ngày như bao nhiêu vị thượng tế khác, tức dâng con vật hiến tế chuộc tội cho mình và cho dân, vì Ngài đã dâng chính Ngài một lần đủ cả.  28 Vì Luật Pháp lập những con người yếu đuối làm những thượng tế, nhưng lời thề đến sau Luật Pháp thì đã lập Con, Ðấng đã được làm cho trọn vẹn đời đời.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B58\V01B58C007.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Hê-bơ-rơ]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Hê-bơ-rơ: Chương 6]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Hê-bơ-rơ: Chương 8]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Gia-cơ]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Phi-lê-môn]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* Thánh Kinh Lược Khảo - Nhà Xuất Bản Tin Lành Sài Gòn (1970)&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_S%E1%BB%AD_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_5&amp;diff=35637</id>
		<title>I Sử Ký: Chương 5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_S%E1%BB%AD_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_5&amp;diff=35637"/>
		<updated>2026-01-18T22:02:00Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đây là các con trai của Ru-bên, con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên. Ru-bên là con đầu lòng, nhưng vì ông đã làm ô nhơ giường của cha mình, cho nên quyền trưởng nam của ông đã được ban cho các con trai của Giô-sép, là  con trai của Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, ông không được ghi vào gia phả như là con trưởng nam. 2. Mặc dù Giu-đa trổi hơn các anh em của mình, và một lãnh tụ sẽ từ nơi ông mà ra, nhưng quyền trưởng nam vẫn thuộc về Giô-sép.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Đây là các con trai của Ru-bên, con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên: Hê-nóc, Pha-lu, Hết-rôn, và Cạt-mi. 4. Các con trai của Giô-ên là Sê-ma-gia con trai của ông, Gót con trai của ông, Si-mê-i con trai của ông, 5. Mi-ca con của ông, Rê-a-gia con của ông, Ba-anh con của ông, 6. và Bê-ê-ra con của ông. Ông là lãnh đạo của người Ru-bên, và đã bị Tiếc-lát Phin-nê-se, vua của A-si-ri, lưu đày. 7. Các anh em của ông được liệt kê trong gia phả theo gia tộc của họ. Đứng đầu là Giê-i-ên, rồi đến Xa-cha-ri, 8. Bê-la, con trai của A-xa, cháu của Sê-ma, chắt của Giô-ên. Họ cư ngụ tại A-rô-e, cho đến Nê-bô và Ba-anh Mê-ôn. 9. Về phía đông, họ đã tiến vào vùng hoang mạc bên sông Ơ-phơ-rát và định cư tại đó, bởi vì súc vật của họ đã gia tăng rất nhiều tại Ga-la-át. 10. Trong thời Vua Sau-lơ, họ đã đánh nhau với dân Ha-ga-rít, chiến thắng chúng, chiếm các lều trại chúng trong cả vùng phía đông của xứ Ga-la-át.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Các con trai của Gát sống đối diện với họ trong xứ Ba-san, cho đến Sanh-ca. 12. Giô-ên là người lãnh đạo, kế đến là Sa-pham, rồi Gia-nai và Sa-phát tại Ba-san. 13. Các anh em theo gia tộc của họ gồm có Mi-ca-ên, Mê-su-lam, Sê-ba, Giô-rai, Gia-can, Xia và Ê-be. 14. Những người này là con cháu của A-bi-hai, con trai của Hu-ri, con trai của Gia-ô-ra, con trai của Ga-la-át, con trai của Mi-ca-ên, con trai của Giê-si-sai, con trai của Giác-đô, con trai của Bu-xơ; 15. A-hi con trai của Áp-đi-ên, cháu của Gu-ni, là trưởng tộc của họ. 16. Họ sống tại Ga-la-át, Ba-san, trong các thị trấn của họ và những vùng phụ cận của Sa-rôn, cho đến biên cương của họ. 17. Tất cả những người này đều được chép trong gia phả vào thời Giô-tham làm vua của Giu-đa, và vào thời Giê-rô-bô-am làm vua của Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Chi tộc Ru-bên, chi tộc Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se có những người can trường, thông thạo trong việc sử dụng khiên và gươm, cung và tên, lão luyện trong chiến trường. Có bốn mươi bốn ngàn bảy trăm sáu mươi người đã từng ra trận. 19. Họ đã giao chiến với dân Ha-ga-rít, dân Giê-tua, dân Na-phi và dân Nô-đáp. 20. Trong khi giao chiến, họ đã kêu cầu cùng Đức Chúa Trời, và vì họ có lòng tin cậy nơi Ngài cho nên Ngài đã giúp đỡ họ. Ngài đã phó dân Ha-ga-rít và những người theo chúng vào trong tay của họ. 21. Họ đã bắt những bầy súc vật của chúng gồm năm mươi ngàn lạc đà, hai trăm năm mươi ngàn chiên, hai ngàn lừa, và một trăm ngàn người; 22. cùng với rất nhiều người đã ngã chết; bởi vì trận chiến nầy thuộc về Đức Chúa Trời. Họ đã chiếm đất của dân đó, rồi cư ngụ tại đó cho đến khi họ bị lưu đày. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Con cháu của phân nửa chi tộc Ma-na-se đã sống trong xứ. Họ rất đông và định cư từ miền Ba-san cho đến Ba-anh Hẹt-môn, Sê-nia và núi Hẹt-môn. 24. Đây là các tộc trưởng của họ: Ê-phe, Di-si, Ê-li-ên, Ách-ri-ên, Giê-rê-mi, Hô-đa-via và Giắt-đi-ên. Họ là những người dũng mãnh, can trường, danh tiếng, và là những trưởng tộc trong dòng tộc của họ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25. Tuy nhiên họ đã bất trung với Ðức Chúa Trời của tổ tiên họ. Họ đã lang chạ với các thần của những dân trong xứ, mà Ðức Chúa Trời đã tiêu diệt trước mặt họ. 26. Vì vậy, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã khuấy động tâm linh của Phun, vua của A-si-ri, và tâm linh của Tiếc-la Phi-lê-se, vua của A-si-ri, đến bắt người Ru-bên, Gát và phân nửa chi tộc Ma-na-se lưu đày sang Ha-la, Cha-bo, Ha-ra, đến tận sông Gô-sen, cho đến ngày nay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vả, Ru-bên, con trưởng nam của Y-sơ-ra-ên, vì làm ô uế giường của cha mình, nên quyền trưởng tử đã về các con trai Giô-sép, là con trai Y-sơ-ra-ên; dầu vậy, trong gia phổ không chép Giô-sép là trưởng tử; 2.  vì Giu-đa trổi hơn anh em mình, và bởi người mà ra vua chúa; song quyền trưởng tử thì về Giô-sép. 3.  Nầy con trai của Ru-bên, con trưởng nam của Y-sơ-ra-ên, là Hê-nóc, Pha-lu, Hết-rôn, và Cạt-mi. 4.  Con trai của Giô-ên là Sê-ma-gia, con trai của Sê-ma-gia là Gót, con trai của Gót là Si-mê-i, 5.  con trai của Si-mê-i là Mi-ca, con trai của Mi-ca là Rê-a-gia, con trai của Rê-a-gia là Ba-anh, 6.  con trai của Ba-anh là Bê-ê-ra, bị Tiếc-lát-Phin-nê-se, vua nước A-si-ri, bắt làm phu tù; người vốn làm trưởng tộc trong chi phái Ru-bên. 7.  Anh em của Bê-ê-ra theo họ hàng mình, y như đã chép vào sách gia phổ là, Giê-i-ên, trưởng tộc, Xa-cha-ri, 8.  Bê-la, con trai của A-xa, cháu của Sê-ma, chắt của Giô-ên; Bê-la ở tại A-rô-e, cho đến Nê-bô và Ba-anh-Mê-ôn; 9.  về phía đông người ở vào lối đồng vắng cho đến sông Ơ-phơ-rát, vì trong xứ Ga-la-át bầy súc vật chúng có sanh thêm nhiều lắm. 10.  Trong đời vua Sau-lơ, chúng ra đánh giặc với dân Ha-ga-rít, thắng hơn họ, và ở trong trại họ tại khắp miền phía đông xứ Ga-la-át. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Con cháu Gát ở đối ngang chúng nó trong xứ Ba-san, cho đến Sanh-ca. 12.  Giô-ên là trưởng tộc, Sa-pham làm phó; lại có Gia-nai và Sa-phát ở Ba-san. 13.  Anh em tùy theo tông tộc chúng, là bảy người: Mi-ca-ên, Mê-su-lam, Sê-ba, Giô-rai, Gia-can, Xia và Ê-be. 14.  Ấy là các con trai của A-bi-hai, A-bi-hai con trai của Hu-ri. Hu-ri con trai của Gia-rô-a, Gia-rô-a con trai của Ga-la-át, Ga-la-át con trai của Mi-ca-ên, Mi-ca-ên con trai của Giê-si-sai, Giê-si-sai con trai của Giác-đô, Giác-đô con trai của Bu-xơ; 15.  A-hi con trai của Áp-đi-ên, Áp-đi-ên con trai của Gu-ni; A-hi làm trưởng tộc. 16.  Chúng ở nơi Ga-la-át, Ba-san, cùng trong các hương thôn của xứ ấy; lại ở trong cõi Sa-rôn cho đến giới hạn nó. 17.  Những kẻ nầy đã được biên vào sách gia phổ trong đời vua Giô-tham nước Giu-đa, và trong đời vua Giê-rô-bô-am nước Y-sơ-ra-ên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Trong con cháu Ru-bên, người Gát và phân nửa chi phái Ma-na-se, các người lính chiến có tài cầm khiên, cầm gươm, giương cung, và thạo về chinh chiến, là bốn vạn bốn ngàn bảy trăm sáu mươi người, có thể ra trận được. 19.  Chúng giao chiến với dân Ha-ga-rít, dân Giê-tua, dân Na-phi, và dân Nô-đáp. 20.  Trong khi giao chiến, chúng kêu cầu cùng Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời vì chúng có lòng tin cậy Ngài, thì cứu giúp cho, phó dân Ha-ga-rít và cả những kẻ theo nó vào tay chúng. 21.  Chúng bắt được những bầy súc vật của các dân ấy, là năm vạn lạc đà, hai mươi lăm vạn chiên, hai ngàn lừa, và luôn mười vạn người. 22.  Cũng có nhiều người bị chết, vì trận nầy bởi Đức Chúa Trời mà có. Chúng ở thay vào các dân tộc ấy cho đến khi bị bắt dẫn đi làm phu tù. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23.  Người nửa chi phái Mê-na-se ở trong xứ từ Ba-san cho đến Ba-anh-Hẹt-môn, Sê-nia, và núi Hẹt-môn; nhân số họ rất đông. 24.  Đây là các trưởng tộc trong dòng dõi chúng: Ê-phe, Di-si, Ê-li-ên, Ách-ri-ên, Giê-rê-mi, Hô-đa-via, và Giắc-đi-ên, đều là các trưởng tộc, vốn người mạnh dạn, có danh tiếng. 25.  Song chúng phạm tội cùng Đức Chúa Trời của các tổ phụ mình, và thông dâm cùng những thần của các dân tộc của xứ mà Đức Chúa Trời đã hủy hoại trước mặt chúng. 26.  Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên xui giục lòng Phun, vua nước A-si-ri, và Tiếc-lát-Phin-nê-se, cùng vua nước A-si-ri, đến bắt người Ru-bên, người Gát, và nửa chi phái Mê-na-se, đem chúng về ở Ha-la, Cha-bo, Ha-ra, và miền gần sông Gô-xan, là nơi chúng còn ở cho đến ngày nay. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B13\V02B13C005.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Dòng Dõi của Ru-bên'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Sau đây là các con của Ru-bên con đầu lòng của I-sơ-ra-ên.  (Ru-bên tuy là con đầu lòng, nhưng vì ông đã làm ô nhục giường của cha ông, nên quyền trưởng tử của ông đã được ban cho các con của Giô-sép con trai của I-sơ-ra-ên.  Ru-bên đã không được ghi vào gia phả theo thông lệ của người có quyền trưởng tử.  2 Ngoài ra Giu-đa đã trở nên nổi bật giữa vòng anh em của ông, và một người lãnh đạo đã ra từ dòng dõi của ông, dù vậy quyền trưởng tử vẫn thuộc về Giô-sép.)  3 Các con của Ru-bên con đầu lòng của I-sơ-ra-ên là Ha-nóc, Pan-lu, Hê-xơ-rôn, và Cạt-mi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Các con của Giô-ên là Sê-ma-gia con của ông, Gót con của ông, Si-mê-i con của ông, 5 Mi-ca con của ông, Rê-a-gia con của ông, Ba-anh con của ông, 6 và Bê-ê-ra con của ông. Bê-ê-ra là người đã bị Tin-gát Pin-nê-se vua A-sy-ri đem đi lưu đày; ông là thủ lãnh của chi tộc Ru-bên lúc bấy giờ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Các anh em của ông được liệt kê trong gia phả theo từng thị tộc gồm: đứng đầu là Giê-i-ên, kế đến là Xa-cha-ri-a, 8 rồi Bê-la con của A-xa, con của Sê-ma, con của Giô-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chi tộc Ru-bên sống ở miền A-rô-e chạy dài cho đến Nê-bô và Ba-anh Mê-ôn.  9 Con cháu của ông cũng sống lan rộng về hướng đông đến giáp ranh với sa mạc phía bên này Sông Ơ-phơ-rát, bởi vì súc vật của họ sinh sản tăng nhiều trong vùng Ghi-lê-át.  10 Trong thời của Vua Sau-lơ họ đã có chiến tranh với dân Hắc-ri; dân ấy đã bị ngã gục dưới tay họ.  Họ chiếm ngụ trong các lều trại của dân ấy khắp vùng phía đông của Ghi-lê-át.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Dòng Dõi của Gát'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các con của Gát sống đối ngang với họ trong đất Ba-san lan rộng đến Sa-lê-ca: 12 đứng đầu là Giô-ên, thứ nhì là Sa-pham, kế đến là Gia-nai và Sa-phát ở Ba-san.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Các anh em của ông được liệt kê theo từng thị tộc gồm: Mi-ca-ên, Mê-su-lam, Sê-ba, Giô-rai, Gia-can, Xi-a, và Ê-be – bảy người cả thảy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ðây là các con của A-bi-ha-in con của Hu-ri, con của Gia-rô-a, con của Ghi-lê-át, con của Mi-ca-ên, con của Giê-si-sai, con của Gia-đô, con của Bu-xơ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 A-hi con của Áp-đi-ên, con của Gu-ni, là thủ lãnh của chi tộc Gát.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Họ sống trong miền Ghi-lê-át, trong xứ Ba-san, trong các thành của xứ đó, trong các đồng cỏ của miền Sa-rôn, và các miền tận cùng các ranh giới của các đồng cỏ đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Tất cả những người ấy đã đăng bộ theo từng gia phả trong thời của Giô-tham vua Giu-đa và trong thời của Giê-rô-bô-am vua I-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Chi tộc Ru-bên, chi tộc Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se đã có những chiến sĩ dũng mãnh.  Họ thông thạo việc sử dụng khiên và gươm, cung và tên, và họ thật lão luyện trong chiến trường.  Họ có bốn mươi bốn ngàn bảy trăm sáu mươi người sẵn sàng ra trận.  19 Họ đánh nhau với các dân Hắc-ri, Giê-tua, Na-phích, và Nô-đáp.  20 Họ nhận được sự giúp đỡ khi đối phó với quân thù.  Dân Hắc-ri và tất cả các đồng minh của dân ấy đã bị trao vào tay họ, bởi vì khi lâm trận họ kêu cầu Ðức Chúa Trời.  Ngài đã ban cho họ những gì họ cầu xin, vì họ tin cậy Ngài.  21 Họ bắt đi các bầy súc vật của các dân ấy: năm mươi ngàn lạc đà, hai trăm năm mươi ngàn chiên, hai ngàn lừa, và một trăm ngàn tù binh.  22 Nhiều người đã tử trận, bởi vì cuộc chiến ấy thuộc về Ðức Chúa Trời.  Họ đã sống trong lãnh thổ của các dân ấy cho đến khi bị lưu đày.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nửa Chi Tộc Ma-na-se'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Con cháu của phân nửa chi tộc Ma-na-se đã sống trong xứ.  Họ rất đông và định cư từ miền Ba-san cho đến Ba-anh Hẹt-môn, Sê-nia, và Núi Hẹt-môn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Ðây là những thủ lãnh của các thị tộc của họ: Ê-phe, I-si, Ê-li-ên, A-xơ-ri-ên, Giê-rê-mi, Hô-đa-vi-a, và Gia-đi-ên.  Họ là những chiến sĩ dũng mãnh, những người danh tiếng, những người cầm đầu thị tộc của họ.  25 Tuy nhiên họ đã bất trung với Ðức Chúa Trời của tổ tiên họ.  Họ làm điếm bằng cách thờ lạy các thần của các dân trong xứ, những kẻ Ðức Chúa Trời đã tiêu diệt trước mặt họ.  26 Vì thế Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên đã dấy động lòng của Pun vua A-sy-ri, tức lòng của Tin-gát Pin-nê-se vua A-sy-ri, và ông ấy đã bắt họ đem đi; đó là các chi tộc Ru-bên, chi tộc Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se.  Ông ấy đã mang họ đến lưu đày ở Ha-la, Ha-bơ, Ha-ra, và bên bờ Sông Gô-xan cho đến ngày nay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[I Các Vua]]&lt;br /&gt;
:* [[II Các Vua]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sử Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[II Sử Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sử Ký: Chương 4]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sử Ký: Chương 6]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_S%E1%BB%AD_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_5&amp;diff=35636</id>
		<title>I Sử Ký: Chương 5</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_S%E1%BB%AD_K%C3%BD:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_5&amp;diff=35636"/>
		<updated>2026-01-18T22:00:14Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Sau đây là các con trai của Ru-bên, con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên. Ru-bên là con đầu lòng, nhưng vì ông đã làm ô nhơ giường của cha mình, cho nên quyền trưởng nam của ông đã được ban cho các con trai của Giô-sép, là  con trai của Y-sơ-ra-ên. Vì vậy, ông không được ghi vào gia phả như là con trưởng nam. 2. Mặc dù Giu-đa trổi hơn các anh em của mình, và một lãnh tụ sẽ từ nơi ông mà ra, nhưng quyền trưởng nam vẫn thuộc về Giô-sép.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Đây là các con trai của Ru-bên, con đầu lòng của Y-sơ-ra-ên: Hê-nóc, Pha-lu, Hết-rôn, và Cạt-mi. 4. Các con trai của Giô-ên là Sê-ma-gia con trai của ông, Gót con trai của ông, Si-mê-i con trai của ông, 5. Mi-ca con của ông, Rê-a-gia con của ông, Ba-anh con của ông, 6. và Bê-ê-ra con của ông. Ông là lãnh đạo của người Ru-bên, và đã bị Tiếc-lát Phin-nê-se, vua của A-si-ri, lưu đày. 7. Các anh em của ông được liệt kê trong gia phả theo gia tộc của họ. Đứng đầu là Giê-i-ên, rồi đến Xa-cha-ri, 8. Bê-la, con trai của A-xa, cháu của Sê-ma, chắt của Giô-ên. Họ cư ngụ tại A-rô-e, cho đến Nê-bô và Ba-anh Mê-ôn. 9. Về phía đông, họ đã tiến vào vùng hoang mạc bên sông Ơ-phơ-rát và định cư tại đó, bởi vì súc vật của họ đã gia tăng rất nhiều tại Ga-la-át. 10. Trong thời Vua Sau-lơ, họ đã đánh nhau với dân Ha-ga-rít, chiến thắng chúng, chiếm các lều trại chúng trong cả vùng phía đông của xứ Ga-la-át.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Các con trai của Gát sống đối diện với họ trong xứ Ba-san, cho đến Sanh-ca. 12. Giô-ên là người lãnh đạo, kế đến là Sa-pham, rồi Gia-nai và Sa-phát tại Ba-san. 13. Các anh em theo gia tộc của họ gồm có Mi-ca-ên, Mê-su-lam, Sê-ba, Giô-rai, Gia-can, Xia và Ê-be. 14. Những người này là con cháu của A-bi-hai, con trai của Hu-ri, con trai của Gia-ô-ra, con trai của Ga-la-át, con trai của Mi-ca-ên, con trai của Giê-si-sai, con trai của Giác-đô, con trai của Bu-xơ; 15. A-hi con trai của Áp-đi-ên, cháu của Gu-ni, là trưởng tộc của họ. 16. Họ sống tại Ga-la-át, Ba-san, trong các thị trấn của họ và những vùng phụ cận của Sa-rôn, cho đến biên cương của họ. 17. Tất cả những người này đều được chép trong gia phả vào thời Giô-tham làm vua của Giu-đa, và vào thời Giê-rô-bô-am làm vua của Y-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Chi tộc Ru-bên, chi tộc Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se có những người can trường, thông thạo trong việc sử dụng khiên và gươm, cung và tên, lão luyện trong chiến trường. Có bốn mươi bốn ngàn bảy trăm sáu mươi người đã từng ra trận. 19. Họ đã giao chiến với dân Ha-ga-rít, dân Giê-tua, dân Na-phi và dân Nô-đáp. 20. Trong khi giao chiến, họ đã kêu cầu cùng Đức Chúa Trời, và vì họ có lòng tin cậy nơi Ngài cho nên Ngài đã giúp đỡ họ. Ngài đã phó dân Ha-ga-rít và những người theo chúng vào trong tay của họ. 21. Họ đã bắt những bầy súc vật của chúng gồm năm mươi ngàn lạc đà, hai trăm năm mươi ngàn chiên, hai ngàn lừa, và một trăm ngàn người; 22. cùng với rất nhiều người ngã chết; bởi vì trận chiến nầy thuộc về Đức Chúa Trời. Họ đã chiếm đất của dân đó, rồi cư ngụ tại đó cho đến khi họ bị lưu đày. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Con cháu của phân nửa chi tộc Ma-na-se đã sống trong xứ. Họ rất đông và định cư từ miền Ba-san cho đến Ba-anh Hẹt-môn, Sê-nia và núi Hẹt-môn. 24. Đây là các tộc trưởng của họ: Ê-phe, Di-si, Ê-li-ên, Ách-ri-ên, Giê-rê-mi, Hô-đa-via và Giắt-đi-ên. Họ là những người dũng mãnh, can trường, danh tiếng, và là những trưởng tộc trong dòng tộc của họ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25. Tuy nhiên họ đã bất trung với Ðức Chúa Trời của tổ tiên họ. Họ đã lang chạ với các thần của những dân trong xứ, mà Ðức Chúa Trời đã tiêu diệt trước mặt họ. 26. Vì vậy, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã khuấy động tâm linh của Phun, vua của A-si-ri, và tâm linh của Tiếc-la Phi-lê-se, vua của A-si-ri, đến bắt người Ru-bên, Gát và phân nửa chi tộc Ma-na-se lưu đày sang Ha-la, Cha-bo, Ha-ra, đến tận sông Gô-sen, cho đến ngày nay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Vả, Ru-bên, con trưởng nam của Y-sơ-ra-ên, vì làm ô uế giường của cha mình, nên quyền trưởng tử đã về các con trai Giô-sép, là con trai Y-sơ-ra-ên; dầu vậy, trong gia phổ không chép Giô-sép là trưởng tử; 2.  vì Giu-đa trổi hơn anh em mình, và bởi người mà ra vua chúa; song quyền trưởng tử thì về Giô-sép. 3.  Nầy con trai của Ru-bên, con trưởng nam của Y-sơ-ra-ên, là Hê-nóc, Pha-lu, Hết-rôn, và Cạt-mi. 4.  Con trai của Giô-ên là Sê-ma-gia, con trai của Sê-ma-gia là Gót, con trai của Gót là Si-mê-i, 5.  con trai của Si-mê-i là Mi-ca, con trai của Mi-ca là Rê-a-gia, con trai của Rê-a-gia là Ba-anh, 6.  con trai của Ba-anh là Bê-ê-ra, bị Tiếc-lát-Phin-nê-se, vua nước A-si-ri, bắt làm phu tù; người vốn làm trưởng tộc trong chi phái Ru-bên. 7.  Anh em của Bê-ê-ra theo họ hàng mình, y như đã chép vào sách gia phổ là, Giê-i-ên, trưởng tộc, Xa-cha-ri, 8.  Bê-la, con trai của A-xa, cháu của Sê-ma, chắt của Giô-ên; Bê-la ở tại A-rô-e, cho đến Nê-bô và Ba-anh-Mê-ôn; 9.  về phía đông người ở vào lối đồng vắng cho đến sông Ơ-phơ-rát, vì trong xứ Ga-la-át bầy súc vật chúng có sanh thêm nhiều lắm. 10.  Trong đời vua Sau-lơ, chúng ra đánh giặc với dân Ha-ga-rít, thắng hơn họ, và ở trong trại họ tại khắp miền phía đông xứ Ga-la-át. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Con cháu Gát ở đối ngang chúng nó trong xứ Ba-san, cho đến Sanh-ca. 12.  Giô-ên là trưởng tộc, Sa-pham làm phó; lại có Gia-nai và Sa-phát ở Ba-san. 13.  Anh em tùy theo tông tộc chúng, là bảy người: Mi-ca-ên, Mê-su-lam, Sê-ba, Giô-rai, Gia-can, Xia và Ê-be. 14.  Ấy là các con trai của A-bi-hai, A-bi-hai con trai của Hu-ri. Hu-ri con trai của Gia-rô-a, Gia-rô-a con trai của Ga-la-át, Ga-la-át con trai của Mi-ca-ên, Mi-ca-ên con trai của Giê-si-sai, Giê-si-sai con trai của Giác-đô, Giác-đô con trai của Bu-xơ; 15.  A-hi con trai của Áp-đi-ên, Áp-đi-ên con trai của Gu-ni; A-hi làm trưởng tộc. 16.  Chúng ở nơi Ga-la-át, Ba-san, cùng trong các hương thôn của xứ ấy; lại ở trong cõi Sa-rôn cho đến giới hạn nó. 17.  Những kẻ nầy đã được biên vào sách gia phổ trong đời vua Giô-tham nước Giu-đa, và trong đời vua Giê-rô-bô-am nước Y-sơ-ra-ên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Trong con cháu Ru-bên, người Gát và phân nửa chi phái Ma-na-se, các người lính chiến có tài cầm khiên, cầm gươm, giương cung, và thạo về chinh chiến, là bốn vạn bốn ngàn bảy trăm sáu mươi người, có thể ra trận được. 19.  Chúng giao chiến với dân Ha-ga-rít, dân Giê-tua, dân Na-phi, và dân Nô-đáp. 20.  Trong khi giao chiến, chúng kêu cầu cùng Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời vì chúng có lòng tin cậy Ngài, thì cứu giúp cho, phó dân Ha-ga-rít và cả những kẻ theo nó vào tay chúng. 21.  Chúng bắt được những bầy súc vật của các dân ấy, là năm vạn lạc đà, hai mươi lăm vạn chiên, hai ngàn lừa, và luôn mười vạn người. 22.  Cũng có nhiều người bị chết, vì trận nầy bởi Đức Chúa Trời mà có. Chúng ở thay vào các dân tộc ấy cho đến khi bị bắt dẫn đi làm phu tù. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23.  Người nửa chi phái Mê-na-se ở trong xứ từ Ba-san cho đến Ba-anh-Hẹt-môn, Sê-nia, và núi Hẹt-môn; nhân số họ rất đông. 24.  Đây là các trưởng tộc trong dòng dõi chúng: Ê-phe, Di-si, Ê-li-ên, Ách-ri-ên, Giê-rê-mi, Hô-đa-via, và Giắc-đi-ên, đều là các trưởng tộc, vốn người mạnh dạn, có danh tiếng. 25.  Song chúng phạm tội cùng Đức Chúa Trời của các tổ phụ mình, và thông dâm cùng những thần của các dân tộc của xứ mà Đức Chúa Trời đã hủy hoại trước mặt chúng. 26.  Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên xui giục lòng Phun, vua nước A-si-ri, và Tiếc-lát-Phin-nê-se, cùng vua nước A-si-ri, đến bắt người Ru-bên, người Gát, và nửa chi phái Mê-na-se, đem chúng về ở Ha-la, Cha-bo, Ha-ra, và miền gần sông Gô-xan, là nơi chúng còn ở cho đến ngày nay. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B13\V02B13C005.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Dòng Dõi của Ru-bên'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Sau đây là các con của Ru-bên con đầu lòng của I-sơ-ra-ên.  (Ru-bên tuy là con đầu lòng, nhưng vì ông đã làm ô nhục giường của cha ông, nên quyền trưởng tử của ông đã được ban cho các con của Giô-sép con trai của I-sơ-ra-ên.  Ru-bên đã không được ghi vào gia phả theo thông lệ của người có quyền trưởng tử.  2 Ngoài ra Giu-đa đã trở nên nổi bật giữa vòng anh em của ông, và một người lãnh đạo đã ra từ dòng dõi của ông, dù vậy quyền trưởng tử vẫn thuộc về Giô-sép.)  3 Các con của Ru-bên con đầu lòng của I-sơ-ra-ên là Ha-nóc, Pan-lu, Hê-xơ-rôn, và Cạt-mi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Các con của Giô-ên là Sê-ma-gia con của ông, Gót con của ông, Si-mê-i con của ông, 5 Mi-ca con của ông, Rê-a-gia con của ông, Ba-anh con của ông, 6 và Bê-ê-ra con của ông. Bê-ê-ra là người đã bị Tin-gát Pin-nê-se vua A-sy-ri đem đi lưu đày; ông là thủ lãnh của chi tộc Ru-bên lúc bấy giờ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Các anh em của ông được liệt kê trong gia phả theo từng thị tộc gồm: đứng đầu là Giê-i-ên, kế đến là Xa-cha-ri-a, 8 rồi Bê-la con của A-xa, con của Sê-ma, con của Giô-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chi tộc Ru-bên sống ở miền A-rô-e chạy dài cho đến Nê-bô và Ba-anh Mê-ôn.  9 Con cháu của ông cũng sống lan rộng về hướng đông đến giáp ranh với sa mạc phía bên này Sông Ơ-phơ-rát, bởi vì súc vật của họ sinh sản tăng nhiều trong vùng Ghi-lê-át.  10 Trong thời của Vua Sau-lơ họ đã có chiến tranh với dân Hắc-ri; dân ấy đã bị ngã gục dưới tay họ.  Họ chiếm ngụ trong các lều trại của dân ấy khắp vùng phía đông của Ghi-lê-át.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Dòng Dõi của Gát'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Các con của Gát sống đối ngang với họ trong đất Ba-san lan rộng đến Sa-lê-ca: 12 đứng đầu là Giô-ên, thứ nhì là Sa-pham, kế đến là Gia-nai và Sa-phát ở Ba-san.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Các anh em của ông được liệt kê theo từng thị tộc gồm: Mi-ca-ên, Mê-su-lam, Sê-ba, Giô-rai, Gia-can, Xi-a, và Ê-be – bảy người cả thảy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ðây là các con của A-bi-ha-in con của Hu-ri, con của Gia-rô-a, con của Ghi-lê-át, con của Mi-ca-ên, con của Giê-si-sai, con của Gia-đô, con của Bu-xơ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 A-hi con của Áp-đi-ên, con của Gu-ni, là thủ lãnh của chi tộc Gát.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Họ sống trong miền Ghi-lê-át, trong xứ Ba-san, trong các thành của xứ đó, trong các đồng cỏ của miền Sa-rôn, và các miền tận cùng các ranh giới của các đồng cỏ đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Tất cả những người ấy đã đăng bộ theo từng gia phả trong thời của Giô-tham vua Giu-đa và trong thời của Giê-rô-bô-am vua I-sơ-ra-ên.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Chi tộc Ru-bên, chi tộc Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se đã có những chiến sĩ dũng mãnh.  Họ thông thạo việc sử dụng khiên và gươm, cung và tên, và họ thật lão luyện trong chiến trường.  Họ có bốn mươi bốn ngàn bảy trăm sáu mươi người sẵn sàng ra trận.  19 Họ đánh nhau với các dân Hắc-ri, Giê-tua, Na-phích, và Nô-đáp.  20 Họ nhận được sự giúp đỡ khi đối phó với quân thù.  Dân Hắc-ri và tất cả các đồng minh của dân ấy đã bị trao vào tay họ, bởi vì khi lâm trận họ kêu cầu Ðức Chúa Trời.  Ngài đã ban cho họ những gì họ cầu xin, vì họ tin cậy Ngài.  21 Họ bắt đi các bầy súc vật của các dân ấy: năm mươi ngàn lạc đà, hai trăm năm mươi ngàn chiên, hai ngàn lừa, và một trăm ngàn tù binh.  22 Nhiều người đã tử trận, bởi vì cuộc chiến ấy thuộc về Ðức Chúa Trời.  Họ đã sống trong lãnh thổ của các dân ấy cho đến khi bị lưu đày.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Nửa Chi Tộc Ma-na-se'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Con cháu của phân nửa chi tộc Ma-na-se đã sống trong xứ.  Họ rất đông và định cư từ miền Ba-san cho đến Ba-anh Hẹt-môn, Sê-nia, và Núi Hẹt-môn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Ðây là những thủ lãnh của các thị tộc của họ: Ê-phe, I-si, Ê-li-ên, A-xơ-ri-ên, Giê-rê-mi, Hô-đa-vi-a, và Gia-đi-ên.  Họ là những chiến sĩ dũng mãnh, những người danh tiếng, những người cầm đầu thị tộc của họ.  25 Tuy nhiên họ đã bất trung với Ðức Chúa Trời của tổ tiên họ.  Họ làm điếm bằng cách thờ lạy các thần của các dân trong xứ, những kẻ Ðức Chúa Trời đã tiêu diệt trước mặt họ.  26 Vì thế Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên đã dấy động lòng của Pun vua A-sy-ri, tức lòng của Tin-gát Pin-nê-se vua A-sy-ri, và ông ấy đã bắt họ đem đi; đó là các chi tộc Ru-bên, chi tộc Gát, và phân nửa chi tộc Ma-na-se.  Ông ấy đã mang họ đến lưu đày ở Ha-la, Ha-bơ, Ha-ra, và bên bờ Sông Gô-xan cho đến ngày nay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[I Các Vua]]&lt;br /&gt;
:* [[II Các Vua]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sử Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[II Sử Ký]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sử Ký: Chương 4]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sử Ký: Chương 6]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%B4ng_V%E1%BB%A5_C%C3%A1c_S%E1%BB%A9_%C4%90%E1%BB%93:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_24&amp;diff=35635</id>
		<title>Công Vụ Các Sứ Đồ: Chương 24</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=C%C3%B4ng_V%E1%BB%A5_C%C3%A1c_S%E1%BB%A9_%C4%90%E1%BB%93:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_24&amp;diff=35635"/>
		<updated>2026-01-15T04:41:09Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Năm ngày sau, Thượng tế A-na-nia đã đến, cùng với vài trưởng lão, và một luật sư tên Tẹt-tu-lu, để khiếu nại Phao-lô với tổng đốc. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Sau khi Phao-lô được gọi vào, Tẹt-tu-lu bắt đầu tố cáo như sau: &amp;quot;Nhờ ngài mà chúng tôi nhận được nhiều bình an; nhờ viễn tượng của ngài mà nhiều cải cách tốt đẹp đã được thực hiện cho dân tộc nầy.  3. Thưa ngài Phê-lít, bất cứ tại đâu và bất cứ lúc nào, chúng tôi cũng đều ghi nhận những điều đó với lòng tri ân sâu xa. 4. Tuy nhiên để khỏi làm phiền ngài thêm nữa, tôi xin ngài lấy lòng khoan nhân mà nghe lời trình bày ngắn gọn của chúng tôi: 5. Thật vậy, chúng tôi đã gặp người nầy như là một loài ôn dịch đã khuấy rối và gây xích động giữa vòng những người Do Thái khắp thế giới, và hắn cũng là một lãnh đạo của tà giáo Na-xa-rét. 6. Thậm chí hắn cố gắng làm ô uế đền thờ, cho nên chúng tôi đã bắt hắn [và dự định xử theo luật của chúng tôi]. 7. [Tuy nhiên, Ly-si-a, vị chỉ huy, với một lực lượng rất lớn đã đến, bắt hắn khỏi tay của chúng tôi,] 8. [rồi ra lệnh rằng những người tố cáo phải đến gặp ngài.] Xin chính ngài hãy tra hỏi hắn để có thể biết mọi điều mà chúng tôi tố cáo hắn.” 9. Sau đó, những người Do Thái cũng đồng tình, quả quyết những điều này là đúng như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Sau khi tổng đốc ra hiệu cho Phao-lô phúc đáp, ông nói: “Tôi biết ngài làm thẩm phán trong nước nầy đã lâu năm, cho nên tôi rất vui được tự biện hộ về những điều này. 11. Như ngài có thể biết, tôi vừa lên Giê-ru-sa-lem chưa được mười hai ngày để thờ phượng. 12. Người ta không hề thấy tôi tranh cãi với ai, hay xúi giục dân chúng nổi loạn, hoặc trong đền thờ, hoặc nơi hội đường, hay là trong thành phố. 13. Ngay bây giờ, họ cũng không thể đưa ra một bằng chứng nào cho ngài về điều mà họ đã tố cáo tôi. 14. Tuy nhiên tôi thừa nhận với ngài điều nầy: Đó là tôi theo đạo mà họ gọi là tà giáo. Tôi thờ phượng Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi. Tôi tin mọi điều được chép trong luật pháp và các tiên tri. 15. Tôi có một hy vọng nơi Đức Chúa Trời cũng như chính họ vậy: Đó là trông chờ sự sống lại của cả người công chính lẫn người bất chính. 16. Cũng chính vì điều nầy, trong mọi sự, tôi cố gắng để có được một lương tâm không bị cáo trách trước Đức Chúa Trời và trước loài người. 17. Nhiều năm đã trôi qua, bây giờ tôi trở về đất nước, đem theo vật cứu trợ và những sinh lễ. 18. Họ gặp tôi đang làm lễ thanh tẩy trong đền thờ, chứ không có tụ tập đám đông hoặc gây rối loạn gì cả. Tuy nhiên, có một vài người Do Thái từ A-sia, 19. họ là những người đáng lý phải gặp ngài hôm nay để tố cáo tôi, nếu họ tìm thấy tôi có điều gì đáng để tố cáo; 20. còn nếu không, chính những người ở đây hãy nói rằng họ đã thấy điều gì bất chính trong tôi khi tôi đang đứng trước Hội Đồng. 21. Nếu có, chỉ là một lời mà tôi đã thốt lên khi đứng ở giữa họ: ‘Chỉ vì sự sống lại của những người chết mà hôm nay tôi bị xử đoán trước mặt các ông.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Tuy nhiên, Phê-lít biết rất chính xác nhiều điều về đạo, cho nên đã trì hoãn, ông nói: “Khi nào chỉ huy Ly-si-a xuống, ta sẽ xem xét việc nầy cho các ngươi.” 23. Ông ra lệnh cho đội trưởng, là người đang canh giữ Phao-lô, dễ dãi hơn hơn với ông, và đừng ngăn cấm thân nhân của ông đến chăm sóc ông. 24. Vài ngày sau, Phê-lít cùng với Đơ-ru-si, vợ của ông, là một phụ nữ Do Thái, đã đến; ông mời Phao-lô để nghe Phao-lô nói về đức tin trong Đấng Christ Jesus. 25. Tuy nhiên khi Phao-lô nói về sự công chính, sự tiết độ và sự phán xét sẽ đến, thì Phê-lít run sợ và nói: “Bây giờ ông có thể lui; khi nào có dịp, tôi sẽ gọi ông trở lại!” 26. Đồng thời, Phê-lít cũng hy vọng Phao-lô đút lót tiền cho mình, cho nên thường đòi Phao-lô đến và nói chuyện với ông. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Hai năm trôi qua, Pốt-tiu Phê-tu kế nhiệm Phê-lít. Vì muốn được lòng dân Do Thái nên sau khi Phê-lít đi, ông đã giam Phao-lô vào ngục.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Đại Chúng==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Năm ngày sau, Thượng tế A-na-nia đã đến, cùng với vài trưởng lão, và một luật sư tên Tẹt-tu-lu, để khiếu nại Phao-lô với tổng đốc. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi Phao-lô được gọi vào, Tẹt-tu-lu bắt đầu tố cáo như sau: &amp;quot; Thưa ngài Phê-lít! Nhờ ngài mà chúng tôi nhận được nhiều bình an; nhờ viễn tượng của ngài mà nhiều cải cách tốt đẹp đã được thực hiện cho dân tộc nầy.  Bất cứ tại đâu và bất cứ lúc nào, chúng tôi cũng đều ghi nhận những điều đó với lòng tri ân sâu xa. Tuy nhiên để khỏi làm phiền ngài thêm nữa, tôi xin ngài lấy lòng khoan nhân mà nghe lời trình bày ngắn gọn của chúng tôi: Thật vậy, chúng tôi đã gặp người nầy như là một loài ôn dịch đã khuấy rối và gây xích động giữa vòng những người Do Thái khắp thế giới, và hắn cũng là một lãnh đạo của tà giáo Na-xa-rét. Thậm chí hắn cố gắng làm ô uế đền thờ, cho nên chúng tôi đã bắt hắn và dự định xử theo luật của chúng tôi. Tuy nhiên, Ly-si-a, vị chỉ huy, với một lực lượng rất lớn đã đến, bắt hắn khỏi tay của chúng tôi, rồi ra lệnh rằng những người tố cáo phải đến gặp ngài. Xin chính ngài hãy tra hỏi hắn để có thể biết mọi điều mà chúng tôi tố cáo hắn.” Sau đó, những người Do Thái cũng đồng tình, quả quyết những điều này là đúng như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi tổng đốc ra hiệu cho Phao-lô phúc đáp, ông nói: “Tôi biết ngài làm thẩm phán trong nước nầy đã lâu năm, cho nên tôi rất vui được tự biện hộ về những điều này. Như ngài có thể biết, tôi vừa lên Giê-ru-sa-lem chưa được mười hai ngày để thờ phượng. Người ta không hề thấy tôi tranh cãi với ai, hay xúi giục dân chúng nổi loạn, hoặc trong đền thờ, hoặc nơi hội đường, hay là trong thành phố. Ngay bây giờ, họ cũng không thể đưa ra một bằng chứng nào cho ngài về điều mà họ đã tố cáo tôi. Tuy nhiên tôi thừa nhận với ngài điều nầy: Đó là tôi theo đạo mà họ gọi là tà giáo. Tôi thờ phượng Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi. Tôi tin mọi điều được chép trong luật pháp và các tiên tri. Tôi có một hy vọng nơi Đức Chúa Trời cũng như chính họ vậy: Đó là trông chờ sự sống lại của cả người công chính lẫn người bất chính. Cũng chính vì điều nầy, trong mọi sự, tôi cố gắng để có được một lương tâm không bị cáo trách trước Đức Chúa Trời và trước loài người. Nhiều năm đã trôi qua, bây giờ tôi trở về đất nước, đem theo vật cứu trợ và những sinh lễ. Họ gặp tôi đang làm lễ thanh tẩy trong đền thờ, chứ không có tụ tập đám đông hoặc gây rối loạn gì cả. Tuy nhiên, có một vài người Do Thái từ A-sia, họ là những người đáng lý phải gặp ngài hôm nay để tố cáo tôi, nếu họ tìm thấy tôi có điều gì đáng để tố cáo; còn nếu không, chính những người ở đây hãy nói rằng họ đã thấy điều gì bất chính trong tôi khi tôi đang đứng trước Hội Đồng. Nếu có, chỉ là một lời mà tôi đã thốt lên khi đứng ở giữa họ: ‘Chỉ vì sự sống lại của những người chết mà hôm nay tôi bị xử đoán trước mặt các ông.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tuy nhiên, Phê-lít biết rất chính xác nhiều điều về đạo, cho nên đã trì hoãn, ông nói: “Khi nào chỉ huy Ly-si-a xuống, ta sẽ xem xét việc nầy cho các ngươi.” Ông ra lệnh cho đội trưởng, là người đang canh giữ Phao-lô, dễ dãi hơn hơn với ông, và đừng ngăn cấm thân nhân của ông đến chăm sóc ông. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vài ngày sau, Phê-lít cùng với Đơ-ru-si, vợ của ông, là một phụ nữ Do Thái, đã đến; ông mời Phao-lô để nghe Phao-lô nói về đức tin trong Đấng Christ Jesus. Tuy nhiên khi Phao-lô nói về sự công chính, sự tiết độ và sự phán xét sẽ đến, thì Phê-lít run sợ và nói: “Bây giờ ông có thể lui; khi nào có dịp, tôi sẽ gọi ông trở lại!” Đồng thời, Phê-lít cũng hy vọng Phao-lô đút lót tiền cho mình, cho nên thường đòi Phao-lô đến và nói chuyện với ông. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hai năm trôi qua, Pốt-tiu Phê-tu đến kế nhiệm Phê-lít. Vì muốn được lòng dân Do Thái nên sau khi Phê-lít đi, ông đã giam Phao-lô vào ngục.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch Ngữ Căn==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Năm ngày sau, Thượng tế A-na-nia đã đến, cùng với vài trưởng lão, và một luật sư tên Tẹt-tu-lu, để khiếu nại Phao-lô với tổng đốc. 2. Sau khi Phao-lô được gọi vào, Tẹt-tu-lu bắt đầu tố cáo như sau: &amp;quot;Nhờ ngài mà chúng tôi nhận được nhiều bình an; nhờ viễn tượng của ngài mà nhiều cải cách tốt đẹp đã được thực hiện cho dân tộc nầy.  3. Thưa ngài Phê-lít, bất cứ tại đâu và bất cứ lúc nào, chúng tôi cũng đều ghi nhận những điều đó với lòng tri ân sâu xa. 4. Tuy nhiên để khỏi làm phiền ngài thêm nữa, tôi xin ngài lấy lòng khoan nhân mà nghe lời trình bày ngắn gọn của chúng tôi: 5. Thật vậy, chúng tôi đã gặp người nầy như là một loài ôn dịch đã khuấy rối và gây xích động giữa vòng những người Do Thái khắp thế giới, và hắn cũng là một lãnh đạo của tà giáo Na-xa-rét. 6. Thậm chí hắn cố gắng làm ô uế đền thờ, cho nên chúng tôi đã bắt hắn [và dự định xử theo luật của chúng tôi]. 7. [Tuy nhiên, Ly-si-a, vị chỉ huy, với một lực lượng rất lớn đã đến, bắt hắn khỏi tay của chúng tôi,] 8. [rồi ra lệnh rằng những người tố cáo phải đến gặp ngài.] Xin chính ngài hãy tra hỏi hắn để có thể biết mọi điều mà chúng tôi tố cáo hắn.” 9. Sau đó, những người Do Thái cũng đồng tình, quả quyết những điều này là đúng như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Sau khi tổng đốc ra hiệu cho Phao-lô phúc đáp, ông nói: “Tôi biết ngài làm thẩm phán trong nước nầy đã lâu năm, cho nên tôi rất vui được tự biện hộ về những điều này. 11. Như ngài có thể biết, tôi lên Giê-ru-sa-lem chưa được mười hai ngày để thờ phượng. 12. Người ta không hề thấy tôi tranh cãi với ai, hay xúi giục dân chúng nổi loạn, hoặc trong đền thờ, hoặc nơi hội đường, hay là trong thành phố. 13. Ngay bây giờ, họ cũng không thể đưa ra một bằng chứng nào cho ngài về điều họ đã tố cáo tôi. 14. Tuy nhiên tôi thừa nhận với ngài điều nầy: Đó là tôi theo đạo mà họ gọi là tà giáo. Tôi thờ phượng Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi, tôi tin mọi điều được chép trong luật pháp và các tiên tri. 15. Tôi có một hy vọng nơi Đức Chúa Trời cũng như chính họ vậy, đó là trông chờ sự sống lại của cả người công chính lẫn người bất chính. 16. Cũng chính vì điều nầy, trong mọi sự, tôi cố gắng để có một lương tâm không bị cáo trách trước Đức Chúa Trời và trước loài người. 17. Nhiều năm đã trôi qua, bây giờ tôi trở về đất nước, đem theo vật cứu trợ và những sinh lễ. 18. Họ gặp tôi đang làm lễ thanh tẩy trong đền thờ, chứ không có tụ tập đám đông hoặc gây rối loạn gì cả. Tuy nhiên, có một vài người Do Thái từ A-sia, 19. họ là những người đáng lý phải gặp ngài hôm nay để tố cáo tôi, nếu họ tìm thấy tôi có điều gì đáng để tố cáo; 20. còn nếu không, chính những người ở đây hãy nói rằng họ đã thấy điều gì bất chính trong tôi khi tôi đang đứng trước Hội Đồng; 21. nếu có, chỉ là một lời mà tôi đã thốt lên khi đứng ở giữa họ: ‘Chỉ vì sự sống lại của những người chết mà hôm nay tôi bị xử đoán trước mặt các ông.’ ”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Tuy nhiên, Phê-lít biết rất chính xác nhiều điều về đạo, cho nên đã trì hoãn, ông nói: “Khi nào chỉ huy Ly-si-a xuống, ta sẽ xem xét việc nầy cho các ngươi.” 23. Ông ra lệnh cho đội trưởng, là người đang canh giữ Phao-lô, dễ dãi hơn hơn với ông, và đừng ngăn cấm thân nhân của ông đến chăm sóc ông. 24. Vài ngày sau, Phê-lít cùng với Đơ-ru-si, vợ của ông, là một phụ nữ Do Thái, đã đến; ông mời Phao-lô để nghe ông nói về đức tin trong Đấng Christ Jesus. 25. Tuy nhiên khi ông nói về sự công chính, sự tiết độ và sự phán xét sẽ đến, thì Phê-lít run sợ và nói: “Bây giờ ông hãy lui ra; khi nào có dịp, tôi sẽ gọi ông trở lại!” 26. Đồng thời, ông cũng hy vọng Phao-lô đút lót tiền cho mình, cho nên thường đòi ông đến và nói chuyện với ông. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Hai năm trôi qua, Pốt-tiu Phê-tu kế nhiệm Phê-lít. Vì muốn được lòng dân Do Thái nên sau khi Phê-lít đi, ông đã giam Phao-lô vào ngục.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Sau đó năm ngày, có thầy cả thượng phẩm là A-na-nia đến, với vài người trưởng lão cùng một nhà diễn thuyết kia tên là Tẹt-tu-lu, trình đơn kiện Phao-lô trước mặt quan tổng đốc. 2.  Phao-lô bị đòi đến rồi, Tẹt-tu-lu khởi sự cáo người như vầy: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Bẩm quan lớn Phê-lít, nhờ ơn quan mà chúng tôi được hưởng sự bình an trọn vẹn, và nhờ sự khôn ngoan của quan đổi được mọi tình tệ để giúp dân nầy, lúc nào và nơi nào chúng tôi cũng rất cảm tạ biết ơn quan vậy. 4.  Nhưng muốn cho khỏi phiền quan lâu hơn, thì tôi xin quan lấy lòng khoan nhân mà nghe một vài lời chúng tôi nói đây. 5.  Vậy, chúng tôi đã gặp người nầy, như là đồ ôn dịch, đã gây loạn trong hết thảy người Giu-đa trên cả thế giới: nó làm đầu của phe người Na-xa-rét, 6.  cũng đã toan làm ô uế đền thờ, nên chúng tôi đã bắt nó [và chúng tôi có muốn xử nó theo luật pháp chúng tôi. 7.  Nhưng quản cơ Ly-sia đến, bắt nó khỏi tay chúng tôi cách hung bạo, 8.  truyền lịnh cho các người kiện nó hãy đến hầu quan.] Xin chính quan hãy tự tra hỏi hắn, thì sẽ biết được mọi việc chúng tôi đang kiện cáo. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Đến phiên các người Giu-đa cũng hùa theo lời đó, quyết rằng thật có như vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Quan tổng đốc ra dấu biểu Phao-lô nói đi, thì người thưa rằng: Tôi biết quan làm quan án trong nước nầy đã lâu năm, nên tôi dạn dĩ mà binh vực duyên cớ mình. 11.  Quan tra xét thì sẽ biết tôi vừa lên thành Giê-ru-sa-lem mà thờ lạy, chưa được mười hai ngày nay. 12.  Người ta chẳng từng gặp tôi, hoặc trong đền thờ, hoặc trong nhà hội, hoặc trong thành phố, cãi lẫy cùng ai hay xui dân làm loạn bao giờ. 13.  Bây giờ họ cũng chẳng biết lấy chi mà làm chứng cớ về điều họ kiện tôi đó. 14.  Trước mặt quan, tôi nhận rằng theo như đạo mà họ gọi là một phe đảng, tôi thờ phượng Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi, tin mọi điều chép trong sách luật và các sách tiên tri; 15.  và tôi có sự trông cậy nầy nơi Đức Chúa Trời, như chính họ cũng có vậy, tức là sẽ có sự sống lại của người công bình và không công bình. 16.  Cũng vì cớ ấy, nên tôi vẫn gắng sức cho có lương tâm không trách móc trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt loài người. 17.  Vả, đã lâu năm nay tôi đi vắng, rồi mới về bố thí cho bổn quốc tôi và dâng của lễ. 18.  Đang khi ấy, có mấy người Giu-đa quê ở cõi A-si kia gặp tôi ở trong đền thờ, được tinh sạch, chớ chẳng có dân đông hay rối loạn chi. 19.  Nếu họ có điều gì kiện tôi, thì có lẽ đến hầu trước mặt quan mà cáo đi. 20.  Hay là các người ở đây phải nói cho biết đã thấy tôi có sự gì đáng tội, lúc tôi đứng tại tòa công luận, 21.  hoặc có, thì cũng chỉ trách câu tôi nói giữa họ rằng: Ấy vì sự sống lại của kẻ chết mà hôm nay tôi bị xử đoán trước mặt các ông. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22.  Phê-lít vẫn biết rõ ràng về đạo người nói đó, nên giãn việc kiện ra, mà rằng: khi nào quan quản cơ Ly-sia xuống, ta sẽ xét việc nầy. 23.  Đoạn, người truyền cho thầy đội giữ Phao-lô, nhưng phải cho người hơi được thong thả, có kẻ nào thuộc về người đến hầu việc người, thì đừng cấm. 24.  Qua mấy ngày sau, Phê-lít với vợ mình là Đơ-ru-si, người Giu-đa, đến, rồi sai gọi Phao-lô, và nghe người nói về đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ. 25.  Nhưng khi Phao-lô nói về sự công bình, sự tiết độ và sự phán xét ngày sau, thì Phê-lít run sợ, nói rằng: Bây giờ ngươi hãy lui; đợi khi nào ta rảnh, sẽ gọi lại. 26.  Phê-lít cũng trông Phao-lô lót bạc cho mình; nên năng đòi người đến, và nói chuyện cùng người. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27.  Khỏi hai năm, Bốt-tiu Phê-tu đến thay Phê-lít. Bởi cớ Phê-lít muốn làm cho dân Giu-đa bằng lòng, bèn cứ giam Phao-lô nơi ngục. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B44\V02B44C024.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phao-lô Biện Hộ Trước Chính Quyền La-mã tại Sê-sa-rê'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Năm ngày sau Thượng Tế A-na-nia với vài trưởng lão và một luật sư tên Tẹt-tu-lu xuống đệ đơn kiện Phao-lô với quan tổng trấn.  2 Sau khi Phao-lô được gọi đến, Tẹt-tu-lu bắt đầu tố cáo ông rằng:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Tâu quan Phê-lít:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhờ ơn quan, chúng tôi hưởng được thái bình lâu dài, và nhờ sự nhìn xa thấy rộng của quan, nhiều cải tiến đã được thực hiện cho đất nước này.  3 Lúc nào và nơi nào chúng tôi cũng hết lòng tri ơn quan.  4 Ðể khỏi phải làm phiền quan thêm nữa, xin quan nhẫn nại lắng nghe chúng tôi trình bày vắn tắt như sau:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Chúng tôi đã tìm thấy tên này là đồ ôn dịch, một kẻ chuyên gây rối cho người Do-thái khắp nơi trên thế giới, và là tên cầm đầu của phái Na-xa-rét.  6 Vì hắn toan làm ô uế đền thờ nên chúng tôi đã bắt hắn.  Chúng tôi muốn xử hắn theo luật của chúng tôi, 7 nhưng Quan Chỉ Huy Cơ-lau-đi-u Ly-si-a đã đến dùng vũ lực cướp hắn khỏi tay chúng tôi, 8 và truyền cho những ai muốn tố cáo hắn hãy đến hầu quan.  Khi quan đích thân tra xét hắn, chắc chắn quan sẽ rõ mọi điều chúng tôi tố cáo hắn.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Người Do-thái cũng hùa theo và bảo rằng những lời cáo buộc ấy quả đúng như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Khi Phao-lô được quan tổng trấn ra dấu cho phép nói, ông nói:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Tôi biết rằng quan xét xử trong đất nước này đã nhiều năm, nên tôi rất hân hạnh được nói lên những lời để binh vực tôi.  11 Quan có thể cho điều tra để biết rõ rằng tôi đi lên Giê-ru-sa-lem để thờ phượng cách đây chưa được mười hai ngày.   12 Trong đền thờ, trong các hội đường, hoặc trong khắp thành phố, người ta không thấy tôi tranh cãi với ai điều gì và cũng không sách động quần chúng nổi loạn.  13 Họ cũng không thể chứng minh cho quan những điều họ tố cáo tôi hôm nay.  14 Nhưng tôi xin xác nhận với quan về ‘Ðạo’ mà họ gọi là ‘phái’ đó: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tôi phụng sự Ðức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi.  Tôi tin tưởng mọi điều đã chép trong Luật Pháp và Các Tiên Tri.  15 Tôi có lòng hy vọng nơi Ðức Chúa Trời, một niềm hy vọng mà chính họ cũng đồng ý, đó là sẽ có sự sống lại cho người ngay lành và kẻ gian ác.  16 Vì thế tôi luôn luôn cố giữ một lương tâm trong sạch trước mặt Ðức Chúa Trời và mọi người.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Sau nhiều năm xa cách, nay tôi về nước để mang tiền cứu trợ về giúp đất nước tôi và để dâng của tế lễ.  18 Trong khi tôi làm như thế, họ bắt tôi trong đền thờ, lúc tôi sắp hoàn tất nghi lễ tẩy uế, không tụ tập đám đông, và cũng không gây rối chi cả.  19 Nhưng một số người Do-thái ở A-si-a, những người đáng lý phải hầu quan hôm nay để tố cáo tôi, nếu họ tìm thấy tôi có điều gì đáng tố cáo; 20 còn không, xin những người có mặt tại đây nói ra tội trạng của tôi lúc tôi đứng trước Hội Ðồng Lãnh Ðạo, 21 nếu không phải là câu này mà tôi đã tuyên bố khi đứng trước mặt họ, ‘Ấy là vì sự sống lại của người chết mà tôi bị xét xử trước mặt anh em hôm nay.’” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Phao-lô Bị Giam Lỏng tại Sê-sa-rê'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Nhưng Phê-lít, người biết khá rõ về Ðạo mà Phao-lô đề cập, đã cho hoãn lại cuộc xét xử và nói, “Khi nào Quan Chỉ Huy Ly-si-a xuống đây, ta sẽ phán quyết vụ án này cho các ngươi.”  23 Sau đó ông ra lịnh cho viên đại đội trưởng chịu trách nhiệm việc canh giữ Phao-lô phải cho ông được tự do thong thả, và đừng ngăn trở nếu có thân nhân bạn hữu nào đến thăm nuôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Vài ngày sau Phê-lít và vợ ông là Ðơ-ru-si-la, một phụ nữ Do-thái, gọi Phao-lô đến để nghe ông giảng về đức tin nơi Ðức Chúa Jesus Christ.  25 Nhưng khi nghe Phao-lô nói đến sự công chính, sự tiết độ, và sự phán xét sẽ đến, Phê-lít sợ và nói, “Bây giờ ông có thể lui ra, khi nào có thì giờ, tôi sẽ mời ông trở lại.”  26 Ðồng thời Phê-lít cũng mong Phao-lô đút lót tiền bạc cho mình, nên thường mời ông đến đàm đạo.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Sau hai năm, Pọt-xi-u Phê-tu đến thay thế Phê-lít.  Số là vì muốn được lòng người Do-thái, nên Phê-lít cứ giam lỏng Phao-lô trong tù.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V01\B44\V01B44C024.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Công Vụ Các Sứ Đồ]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Công Vụ Các Sứ Đồ: Chương 23]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Công Vụ Các Sứ Đồ: Chương 25]]&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Sa-mu-%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_30&amp;diff=35634</id>
		<title>I Sa-mu-ên: Chương 30</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=I_Sa-mu-%C3%AAn:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_30&amp;diff=35634"/>
		<updated>2026-01-04T01:52:11Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Ba ngày sau, khi Đa-vít và những người của ông đến Xiếc-lác, thì người A-ma-léc đã xâm lăng vào miền Nam và Xiếc-lác. Chúng đã tấn công, rồi dùng lửa đốt Xiếc-lác. 2. Chúng đã bắt những phụ nữ và mọi người sống tại đó, từ nhỏ cho đến lớn. Chúng đã không giết một ai, nhưng dẫn họ theo, rồi lên đường. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Khi Đa-vít và những người của ông đến thành, thì thấy thành đã bị đốt cháy, còn vợ, các con trai, và các con gái của họ, thì đã bị bắt làm tù binh. 4. Đa-vít và những người đang ở với ông đã bật khóc. Họ khóc đến nỗi không còn sức để khóc nữa. 5. Hai người vợ của Đa-vít, là A-hi-nô-am ở Gít-rê-ên, và A-bi-ga-in, trước kia là vợ của Na-banh tại Cạt-mên, cũng bị bắt làm tù binh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Đa-vít lâm vào tình cảnh thật khốn đốn bởi vì người ta định ném đá ông, do tâm hồn của mọi người đều cay đắng khi nghĩ đến các con trai và các con gái của mình. Nhưng Đa-vít có được sức lực nhờ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của ông. 7. Ða-vít đã nói với Tư tế A-bi-a-tha, là con trai của A-hi-mê-léc: “Xin đem ê-phót đến cho tôi.” A-bi-a-tha đã đem ê-phót đến cho Ða-vít. 8. Đa-vít cầu hỏi Đức Giê-hô-va rằng: “Con có nên đuổi theo đội quân nầy hay không? Con sẽ bắt kịp họ hay không?” Đức Giê-hô-va phán: “Chắc chắn ngươi sẽ theo kịp, và sẽ giải cứu tất cả, và không bị thất bại.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Đa-vít đã ra đi cùng với sáu trăm người theo ông. Khi họ đến khe Bê-sô thì một số người đã dừng lại, 10. nhưng Đa-vít cùng với bốn trăm người cứ truy đuổi. Hai trăm người đã dừng lại vì họ đã kiệt sức, không thể vượt qua khe Bê-sô được.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Sau đó, họ tìm thấy một người Ai Cập trong một cánh đồng nên đã mang về cho Đa-vít. Họ cho hắn bánh, hắn đã ăn, rồi họ cho hắn uống nước. 12. Họ cho hắn một miếng bánh trái vả và hai chùm nho khô. Sau khi đã ăn uống, sức lực của hắn được phục hồi, bởi vì đã ba ngày và ba đêm hắn không ăn bánh cũng không uống nước gì cả. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Sau đó Ða-vít đã hỏi hắn: “Ngươi là người của ai, và ngươi từ đâu đến?” Hắn trả lời: “Tôi là một thanh niên Ai Cập, làm đầy tớ cho một người A-ma-léc. Cách đây ba ngày, chủ của tôi đã bỏ tôi bởi vì tôi bị đau. 14. Chúng tôi đã xâm lăng miền nam của Kê-rê-thít cho đến tận Giu-đa, và miền nam của Ca-lép. Chúng tôi đã dùng lửa đốt Xiếc-lác.” 15. Ða-vít nói với hắn: “Ngươi có thể dẫn ta xuống chỗ đạo quân đó được không?” Hắn đáp: “Nếu ngài nhân danh Ðức Chúa Trời mà thề rằng ngài sẽ không giết tôi và không giao nộp tôi vào tay chủ của tôi, thì tôi sẽ dẫn ngài xuống chỗ đạo quân đó.” 16. Sau đó, hắn đã dẫn ông xuống nơi đó. Họ thấy chúng tản ra khắp xứ, ăn, uống, nhảy nhót, bởi vì chúng đã cướp được rất nhiều chiến lợi phẩm từ đất của người Phi-li-tin và từ đất của người Giu-đa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Đa-vít đã đánh giết chúng từ rạng đông đến chiều ngày hôm sau. Không ai trốn thoát ngoại trừ bốn trăm thanh niên đã cưỡi lạc đà chạy trốn. 18. Đa-vít đã thu hồi lại tất cả những gì người A-ma-léc đã mang đi. Ða-vít cũng cứu được hai người vợ của ông. 19. Không một thứ gì của họ bị mất, dù lớn hay nhỏ. Các con trai hay các con gái, chiến lợi phẩm hay bất cứ món gì mà chúng đã cướp của họ, Ða-vít đã lấy lại tất cả. 20. Ða-vít đã lấy tất cả những bầy chiên và những bầy bò của chúng. Những người đi trước, dẫn các đàn súc vật, đã nói rằng: “Ðây là chiến lợi phẩm của Ða-vít.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Khi Ða-vít đến chỗ của hai trăm người, là những người đã kiệt sức đến nỗi họ không thể cùng Ða-vít truy đuổi, tức những người mà họ đã để ở lại tại khe Bê-sô, những người đó đã chạy ra đón Ða-vít và đón những người đi theo ông. Ða-vít đã đến gần những người đó, chào họ và thăm hỏi họ. 22. Tuy nhiên tất cả những kẻ xấu và những tên vô lại trong số những người cùng đi với Ða-vít, đã nói: “Bởi vì họ đã không đi với chúng ta, cho nên chúng ta không cho họ bất cứ chiến lợi phẩm nào mà chúng ta đã lấy được, ngoại trừ vợ con của họ. Họ có thể dắt những người của họ rồi đi đi.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Nhưng Ða-vít nói: “Các anh em của tôi ơi! Xin anh em đừng làm như vậy với những gì mà Đức Giê-hô-va đã ban cho chúng ta. Ngài đã gìn giữ chúng ta và trao những kẻ đã làm hại chúng ta vào tay của chúng ta. 24. Vì ai có thể nghe lời nầy của anh em được, bởi vì phần của người đi vào chiến trường cũng bằng phần của người ở lại giữ đồ đạc. Họ sẽ chia với nhau.” 25. Vì vậy, kể từ đó trở đi, ông đã lập điều đó trở thành luật lệ trong Y-sơ-ra-ên cho đến ngày hôm nay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Khi Đa-vít về đến Xiếc-lác, ông đã gởi một phần chiến lợi phẩm cho các trưởng lão Giu-đa, cho những người bạn của ông, và nói: “Đây là món quà dành cho quý vị, lấy từ chiến lợi phẩm chiếm được từ kẻ thù của Đức Giê-hô-va.” 27. Đó là những người ở Bê-tên, những người ở Ra-mốt Nê-ghép, những người ở Giạt-thia, 28. những người ở A-rô-e, những người ở Síp-mốt, những người ở Ê-thê-mô-a, 29. những người ở Ra-canh, những người ở trong các thành của người Giê-ra-mê-lít, những người ở trong các thành của người Kê-nít, 30. những người ở Họt-ma, những người ở Bọt-a-san, những người ở A-tát, 31. những người ở Hếp-rôn, và cho tất cả những nơi mà chính Đa-vít và những người của ông đã đi qua.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Khỏi ba ngày, khi Đa-vít với những kẻ theo mình đến Xiếc-lác, thì dân A-ma-léc đã loán đến miền nam cùng Xiếc-lác, xông vào Xiếc-lác và đã phóng hỏa nó. 2.  Chúng bắt lấy các người nữ và hết thảy kẻ lớn nhỏ ở tại đó. Chúng nó chẳng giết một ai, song khi đi, có dẫn tù hết thảy. 3.  Khi Đa-vít và những kẻ theo người đến thành, thì thành đã bị lửa cháy; vợ, con trai, con gái của chúng đều đã bị dẫn tù. 4.  Bấy giờ, Đa-vít và những kẻ theo người đều cất tiếng lên khóc, khóc đến đổi không còn sức khóc nữa. 5.  Hai người vợ của Đa-vít cũng bị dẫn tù, tức A-hi-nô-am ở Gít-rê-ên, và A-bi-ga-in trước làm vợ của Na-banh tại Cạt-mên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Đa-vít bị sự hoạn nạn lớn, vì dân sự toan ném đá người, bởi hết thảy đều có tâm hồn đầy cay đắng, vì cớ mất con trai và con gái mình. Nhưng Đa-vít được sức mạnh nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình. 7.  Người nói cùng thầy tế lễ A-bia-tha rằng: Ta xin thầy hãy đem ê-phót cho ta. A-bia-tha đem ê-phót cho Đa-vít. 8.  Đa-vít cầu vấn Đức Giê-hô-va rằng: Tôi phải đuổi theo đạo binh nầy chăng? Tôi sẽ theo kịp chăng? Đức Giê-hô-va phán rằng: Hãy khởi đuổi theo nó; quả thật ngươi sẽ theo kịp, và giải cứu hết thảy những kẻ bị bắt. 9.  Vậy, Đa-vít ra đi cùng sáu trăm người theo mình. Đến khe Bê-sô, những người mệt mỏi bèn dừng lại. 10.  Đa-vít cứ đuổi theo với bốn trăm người, vì hai trăm người kia đã dừng lại, lấy làm mệt nhọc quá, không thể qua khe Bê-sô được. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Bọn của Đa-vít gặp một người Ê-díp-tô trong đồng ruộng, bèn dẫn đến cùng Đa-vít. Người ta cho người nầy bánh ăn nước uống; 12.  cũng ban cho người ăn một cái bánh trái vả khô và hai bánh nho khô. Người ăn, bèn được hồi sức lại; vì trong ba ngày ba đêm người không ăn, không uống chi hết. 13.  Đa-vít hỏi người rằng: Ngươi ở với ai? và ở đâu đến? Người thưa rằng: Tôi là một người Ê-díp-tô tuổi trẻ, làm tôi tớ của một người A-ma-léc; chủ tôi bỏ tôi đã ba ngày rồi, vì tôi đau. 14.  Chúng tôi có loán đến đất miền nam của dân Kê-rê-thít, địa phận Giu-đa, và đến phía nam Ca-lép, và chúng tôi đã đốt Xiếc-lác. 15.  Đa-vít hỏi: Ngươi khứng dẫn ta đến cơ binh nầy chăng? Người đó thưa rằng: Hãy chỉ danh Đức Chúa Trời mà thề cùng tôi rằng ông sẽ chẳng giết tôi, hoặc nộp tôi cho chủ tôi, thì tôi sẽ dẫn ông đến cơ binh đó. 16.  Người Ê-díp-tô dẫn họ đến; họ thấy dân A-ma-léc tràn ra khắp xứ, ăn uống và chơi giỡn, vì cớ của cướp rất nhiều mà chúng nó đã đoạt lấy ở trong xứ Phi-li-tin và trong xứ Giu-đa. 17.  Đa-vít đánh chúng nó từ tảng sáng ngày đó cho đến chiều ngày sau; trừ ra bốn trăm người trai trẻ cỡi lạc đà chạy trốn, thì chẳng một ai thoát khỏi. 18.  Đa-vít thâu lại mọi vật dân A-ma-léc đã cướp lấy, và cũng giải cứu hai vợ mình nữa. 19.  Chẳng thiếu một ai, hoặc nhỏ hay lớn, hoặc gái hay trai, hoặc là một phần hóa tài nào mà dân A-ma-léc đã cướp lấy: Đa-vít đem về hết thảy. 20.  Người cũng bắt lại bò và chiên. Quân lính của Đa-vít đi đầu bầy nầy, mà nói rằng: Nầy là của Đa-vít bắt được. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Đa-vít trở về cùng hai trăm người trước kia bị mệt nhọc quá, theo người không nổi, mà người đã để lại gần bên khe Bê-sô. Hai trăm người ấy đi tới đón Đa-vít và đạo binh theo người. Đa-vít lại gần, hỏi chúng mạnh giỏi chăng. 22.  Nhưng hết thảy kẻ hung ác, kẻ côn đồ ở trong bọn Đa-vít cất tiếng nói rằng: Bởi vì chúng nó không đi cùng chúng ta, chúng ta sẽ không nhường cho chúng nó một phần của cải nào mà chúng ta đã lấy được, chỉ trả lại vợ và con của mỗi người mà thôi. Chúng nó hãy dẫn họ mà đi đi! 23.  Nhưng Đa-vít đáp rằng; Hỡi anh em, chớ làm như vậy về vật mà Đức Giê-hô-va đã ban cho chúng ta; Ngài đã gìn giữ ta, phó cho ta đạo binh đã đến đánh chúng ta. 24.  Vậy, ai theo lời định ước của các ngươi được? Phần của kẻ ra trận và phần của kẻ giữ đồ vật phải bằng nhau; chúng sẽ chia cho nhau vậy. 25.  Kể từ ngày ấy, Đa-vít lập điều đó làm luật và lệ trong Y-sơ-ra-ên, hãy còn đến ngày nay. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Vậy, Đa-vít trở về Xiếc-lác và gởi một phần của cướp cho các trưởng lão Giu-đa, tức là bạn hữu người, mà nói rằng: Nầy là một lễ vật cho các ông do của cướp lấy nơi kẻ thù nghịch Đức Giê-hô-va. 27.  Người gởi cho những người ở Bê-tên, Ra-mốt, miền Nam, Giạt-thia 28.  cho những người ở A-rô-e, Síp-mốt, Ê-thê-mô-a, 29.  cho những người ở Ra-canh và ở các thành của dân Giê-rách-mê-lít, cho người ở các thành Kê-nít, 30.  cho người ở Họt-ma, Bọt-a-san, A-tát, 31.  Hếp-rôn, và cho khắp mọi miền nào Đa-vít đã đi ngang qua với đạo binh mình. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B09\V02B09C030.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Ða-vít Ðánh Bại Quân A-ma-léc'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vào ngày thứ ba, khi Ða-vít và những người theo ông đang trên đường trở về Xích-lắc, thì quân A-ma-léc đã xâm lăng miền nam và Thành Xích-lắc.  Chúng tấn công Xích-lắc và phóng hỏa thành.  2 Ðoạn chúng bắt những phụ nữ và mọi người trong thành, từ trẻ đến già, làm tù binh.  Chúng không giết ai, nhưng dẫn hết thảy đi theo chúng, rồi chúng lên đường.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Khi Ða-vít và những người theo ông về đến thành, thì kìa, thành đã bị đốt cháy, lửa bốc ngút ngàn.  Vợ, các con trai, và các con gái của họ đều đã bị bắt làm tù binh.  4 Bấy giờ Ða-vít và những người theo ông đều bật khóc nức nở.  Họ khóc cho đến khi không còn đủ sức khóc nữa.  5 Hai người vợ của Ða-vít là A-hi-nô-am người Giê-rê-ên và A-bi-ga-in góa phụ của Na-banh người Cạt-mên cũng bị bắt làm tù binh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Bấy giờ Ða-vít ở trong hoàn cảnh cực kỳ khốn đốn, vì người ta tính ném đá ông, bởi linh hồn của họ quá đắng cay sầu khổ khi nghĩ đến số phận của các con trai và các con gái họ.  Nhưng Ða-vít lấy lại sức lực nhờ CHÚA, Ðức Chúa Trời của ông.  7 Ða-vít nói với Tư Tế A-bi-a-tha con trai A-hi-mê-léc, “Xin thầy vui lòng đem ê-phót đến cho tôi.”  A-bi-a-tha đem ê-phót đến cho Ða-vít.  8 Ða-vít cầu hỏi ý CHÚA rằng, “Con có nên đuổi theo đoàn quân ấy không?  Con sẽ đuổi kịp chúng không?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài trả lời ông, “Hãy đuổi theo vì ngươi sẽ đuổi kịp chúng và cứu được tất cả các tù binh.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Vậy Ða-vít ra đi.  Ông cùng sáu trăm người của ông đuổi theo.  Khi họ đến Khe Bê-sơ thì một số người dừng lại, 10 nhưng Ða-vít cứ tiếp tục đuổi theo, ông và bốn trăm người theo ông, còn hai trăm người kia ở lại, vì họ đã quá đuối sức, không lội qua Khe Bê-sơ nổi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Những người đuổi theo bắt gặp một người Ai-cập đang ở trong đồng.  Họ dẫn người ấy đến với Ða-vít.  Họ cho hắn bánh và hắn ăn, rồi họ cho hắn uống nước.  12 Họ lại cho hắn một miếng bánh trái vả và hai chùm nho khô.  Sau khi ăn uống, sức lực hắn được phục hồi, vì đã ba ngày và ba đêm hắn chẳng được ăn uống gì cả.  13 Kế đó Ða-vít hỏi hắn, “Ngươi là người của ai, và ngươi từ đâu đến đây?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hắn trả lời, “Tôi là một thanh niên Ai-cập, làm đầy tớ cho một người A-ma-léc.  Chủ tôi đã bỏ tôi lại, vì ba ngày trước đây tôi đã bị bịnh.  14 Chúng tôi đã xâm lăng miền nam của dân Kê-rê-thi, miền nam của Giu-đa, miền nam của người Ca-lép, và chúng tôi đã phóng hỏa Thành Xích-lắc.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Ða-vít nói với hắn, “Ngươi có thể dẫn ta đến chỗ đạo quân ấy được không?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hắn đáp, “Nếu ngài nhân danh Ðức Chúa Trời mà thề rằng ngài sẽ không giết tôi, và không giao nộp tôi vào tay chủ tôi, thì tôi sẽ dẫn ngài đến chỗ của đạo quân ấy.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Vậy hắn dẫn ông đến chỗ đạo quân ấy đang đóng.  Kìa, chúng đã tản ra khắp miền.  Chúng ăn nhậu, uống rượu say mèm, và nhảy nhót cợt nhả, bởi vì chúng đã cướp được rất nhiều chiến lợi phẩm trong xứ của dân Phi-li-tin và trong xứ của người Giu-đa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Ða-vít xông vào chúng và đánh giết từ lúc chạng vạng tối cho đến chiều tối hôm sau.  Không một người nào của bọn chúng trốn thoát, ngoại trừ bốn trăm người trẻ cỡi lạc đà bỏ chạy.  18 Ða-vít lấy lại tất cả những gì quân A-ma-léc đã cướp đi.  Ða-vít cũng cứu được hai người vợ của ông.  19 Không một thứ gì của họ bị mất, dù lớn hay nhỏ; các con trai hay các con gái, chiến lợi phẩm hay bất cứ món gì chúng đã cướp của họ, Ða-vít đều lấy lại tất cả.  20 Ða-vít cũng lấy luôn tất cả các bầy chiên và bầy bò của chúng.  Người ta đi trước, dẫn các đàn súc vật theo sau và nói, “Ðây là chiến lợi phẩm của Ða-vít.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Khi Ða-vít đến chỗ hai trăm người đã đuối sức và không thể cùng Ða-vít truy đuổi, tức những người đã bị bỏ lại ở Khe Bê-sơ, những người ấy chạy ra đón Ða-vít và những người đi với ông trở về.  Ða-vít đến gần họ và vấn an họ.  22 Nhưng tất cả những kẻ xấu và những tên vô lại trong số những người cùng truy đuổi với Ða-vít lên tiếng và nói, “Vì họ đã không đi với chúng ta, nên chúng ta không cho họ bất cứ chiến lợi phẩm nào chúng ta lấy được, ngoại trừ vợ con của họ.  Họ có thể dắt vợ con của họ mà đi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Nhưng Ða-vít nói, “Thưa anh em, xin anh em đừng làm như vậy với những gì CHÚA đã ban cho chúng ta.  Ngài đã gìn giữ chúng ta và trao vào tay chúng ta quân thù đã làm hại chúng ta.  24 Không ai có thể nghe lời anh em được, vì phần của người ra chiến đấu nơi chiến trường cũng phải bằng phần của người ở nhà giữ đồ đạc.  Họ sẽ chia chiến lợi phẩm bằng nhau.”  25 Vì thế từ ngày ấy trở đi, ông lập điều đó thành một luật, và nó đã trở thành một lệ cho I-sơ-ra-ên đến ngày nay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Khi Ða-vít về đến Xích-lắc, ông lấy một phần chiến lợi phẩm gởi cho các trưởng lão của Giu-đa, cho các bạn của ông, mà rằng, “Ðây là chút quà mọn xin kính biếu quý vị.  Ðó là chiến lợi phẩm lấy được từ những kẻ thù của CHÚA.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Ông gởi cho những người ở Bê-tên, những người ở miền nam Ra-mốt, những người ở Giát-tia, 28 những người ở A-rô-e, những người ở Síp-mốt, những người ở Ếch-tê-mô-a, 29 những người ở Ra-canh, những người ở trong các thành của người Giê-ra-mê-ên, những người ở trong các thành của người Kê-ni, 30 những người ở Họt-ma, những người ở Bô A-san, những người ở A-thạch, 31 những người ở Hếp-rôn, và tất cả những người ở các nơi mà Ða-vít và những người theo ông đã có dịp đi qua.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - [[Bản Dịch 2011]] - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Các Quan Xét]]&lt;br /&gt;
:* [[II Sa-mu-ên]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên: Chương 29]]&lt;br /&gt;
:* [[I Sa-mu-ên: Chương 31]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_50&amp;diff=35633</id>
		<title>Giê-rê-mi: Chương 50</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_50&amp;diff=35633"/>
		<updated>2025-12-31T15:50:25Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Đây là lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Tiên tri Giê-rê-mi về Ba-by-lôn, và về đất của người Canh-đê:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Hãy loan báo giữa các quốc gia. Hãy công bố, hãy giăng biểu ngữ lên để công bố, đừng giấu diếm. Hãy nói: Ba-by-lôn bị chiếm; Bên bị sỉ nhục; Mê-rô-đác bị đập vỡ tan tành; hình ảnh của nó bị sỉ nhục; các pho tượng của nó bị đập vỡ tan tành. 3. Bởi vì có một dân từ phương bắc đến tấn công nó, làm cho xứ sở của nó hoang tàn. Không ai cư trú tại đó - cả người lẫn súc vật đều di chuyển, đều bỏ đi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Đức Giê-hô-va phán: Trong những ngày đó, sẽ có lúc, những con cái của Y-sơ-ra-ên sẽ đến. Chúng cùng với con cái của Giu-đa vừa đi vừa khóc, tìm kiếm Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của họ. 5. Họ sẽ hỏi đường đến Si-ôn, hướng mặt về nơi đó, rồi nói: Hãy đến! Hãy hiệp với chúng tôi trong một giao ước đời đời với Đức Giê-hô-va - một giao ước không bao giờ bị quên lãng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Dân của Ta giống như một bầy chiên đi lạc. Những kẻ chăn bầy của chúng đã làm cho chúng bị tản lạc trên những ngọn núi. Chúng đi từ núi đến đồi, rồi quên mất nơi an nghỉ của chúng. 7. Ai gặp chúng cũng ăn nuốt chúng. Những kẻ thù của chúng nói: Chúng tôi không đáng tội, bởi vì họ đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va là nơi an nghỉ chân thật, là nguồn hy vọng của tổ phụ họ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Hãy rời khỏi Ba-by-lôn, hãy ra khỏi đất của người Canh-đê, hãy như những con dê đầu đàn đi trước bầy. 9. Vì nầy, Ta sẽ dấy lên một liên minh các cường quốc từ phương bắc đến chống lại Ba-by-lôn. Chúng sẽ dàn quân tấn công nó, và nó sẽ bị chiếm. Những mũi tên của chúng giống như những mũi tên ở trong tay một dũng sĩ thiện xạ, không một mũi tên nào trở về không kết quả. 10. Canh-đê sẽ bị cướp phá. Tất cả những kẻ cướp phá nó sẽ được thỏa thuê. Đức Giê-hô-va phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hỡi kẻ cướp sản nghiệp của Ta! Bởi vì các ngươi vui mừng hớn hở, chạy nhảy tung tăng như bò tơ trong đồng cỏ, hí như ngựa mập mạnh, 12. cho nên mẹ của các ngươi sẽ vô cùng xấu hổ - người sinh ra các ngươi sẽ bị sỉ nhục. Hãy xem! Nó đứng chót trong các quốc gia, chỉ là một nơi hoang vu, một chỗ cằn cỗi, một hoang mạc. 13. Vì cơn giận của Đức Giê-hô-va, nó sẽ không có người ở. Nó sẽ trở thành một nơi hoàn toàn hoang vu. Ai đi ngang qua Ba-by-lôn đều sững sờ, xầm xì về những tai họa của nó. 14. Hỡi tất cả những người cầm cung! Hãy dàn quân bao vây Ba-by-lôn. Hãy bắn nó! Đừng tiếc những mũi tên, bởi vì nó đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va. 15. Hãy reo hò từ mọi phía! Nó giơ tay đầu hàng. Các nền móng của nó đã sụp, các tường thành của nó đã ngã, bởi vì đây là sự báo trả của Đức Giê-hô-va! Hãy báo trả nó! Hãy làm cho nó những gì nó đã làm. 16. Hãy loại khỏi Ba-by-lôn người gieo giống và kẻ cầm liềm trong mùa gặt. Vì sợ lưỡi gươm của kẻ đàn áp cho nên mọi người sẽ trở về với dân tộc của mình, mọi người sẽ chạy trốn về quê hương của mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Y-sơ-ra-ên giống như một con chiên lạc bầy, bị các sư tử rượt đuổi nó. Đầu tiên, vua A-si-ri nuốt nó; rồi sau cùng Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, gặm xương nó. 18. Vì vậy, Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Kìa, Ta sẽ trừng phạt vua của Ba-by-lôn và xứ sở của nó, như Ta đã trừng phạt vua của A-si-ri. 19. Nhưng Ta sẽ đem dân Y-sơ-ra-ên trở về trong đồng cỏ của chúng. Chúng sẽ được nuôi dưỡng tại Cạt-mên và Ba-san. Chúng sẽ được thỏa thuê tại Ép-ra-im và Ga-la-át. 20. Đức Giê-hô-va phán: Trong những ngày đó, sẽ có lúc, người ta sẽ tìm tội ác của Y-sơ-ra-ên nhưng không có, tìm lỗi lầm của Giu-đa nhưng không gặp; bởi vì Ta sẽ tha thứ cho những người mà Ta chừa lại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Hãy đi lên xứ Mê-ra-tha-im và tấn công nó. Hãy tấn công cư dân Phê-cốt. Hãy tàn sát, hãy tận diệt chúng. Hãy thi hành tất cả những điều mà Ta truyền cho ngươi. Đức Giê-hô-va phán vậy. 22. Có tiếng của sự giao chiến ở trong xứ và sự hủy hoại khủng khiếp.  23. Làm thế nào cái búa của cả thế giới đã bị chặt và bị bẻ gãy!  Làm thế nào Ba-by-lôn đã trở nên hoang tàn giữa vòng các nước! 24. Hỡi Ba-by-lôn! Ta đã gài bẫy, ngươi đã mắc vào mà không biết. Ngươi đã bị phát hiện và bị bắt, bởi vì đã xách động chống lại Đức Giê-hô-va. 25. Đức Giê-hô-va đã mở kho vũ khí đem khí giới của cơn thịnh nộ ra, bởi vì Chúa, là Đức Giê-hô-va của các đạo quân, có việc phải làm trong đất của người Canh-đê. 26. Từ biên cương xa xôi nhất, hãy đến chống lại nó. Hãy mở toang những kho chứa của nó ra, hãy chất thành đống, rồi diệt trừ tất cả. Đừng để những gì của nó còn sót lại. 27. Hãy giết tất cả những con bò đực của nó. Hãy đưa chúng xuống lò sát sinh. Khốn thay cho chúng, bởi vì thời hạn và ngày đoán phạt của chúng đã đến!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Hãy nghe tiếng của những người đã chạy trốn thoát khỏi Ba-by-lôn, công bố tại Si-ôn về sự báo trả của Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của chúng ta, là sự báo trả cho đền thờ của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29. Hãy triệu tập những kẻ bắn cung để tiến đánh Ba-by-lôn. Tất cả những người cầm cung! Hãy đóng trại chung quanh nó, đừng để một ai trốn thoát. Hãy báo trả cho nó xứng đáng với công việc của nó và tùy theo tất cả những gì nó đã làm; bởi vì nó kiêu căng xúc phạm đến Đức Giê-hô-va, là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên. 30. Vì vậy, trong ngày đó các thanh niên nó sẽ gục ngã trên những quảng trường; tất cả chiến binh của nó sẽ bị tiêu diệt. Đức Giê-hô-va phán vậy. 31. Chúa là Đức Giê-hô-va của các đạo quân phán: Nầy, hỡi kẻ kiêu ngạo nhất! Ta chống lại ngươi, bởi vì ngày và thời điểm Ta trừng phạt ngươi đã đến. 32. Kẻ kiêu ngạo nhất sẽ sẩy chân vấp ngã, không ai đỡ nó dậy. Ta sẽ châm lửa đốt các thành của nó, và lửa sẽ thiêu nuốt mọi thứ chung quanh nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Con cái của Y-sơ-ra-ên và con cái của Giu-đa đã cùng bị áp ức. Tất cả những kẻ bắt chúng đều giữ chúng nghiêm nhặt, không chịu thả chúng đi. 34. Đấng Cứu Chuộc chúng thật quyền uy. Danh Ngài là Đức Giê-hô-va của các đạo quân. Ngài sẽ bênh vực duyên cớ của chúng, để đem an bình cho đất nước của chúng, nhưng sẽ làm rối loạn dân cư Ba-by-lôn. 35. Đức Giê-hô-va phán: Gươm đao sẽ giáng trên người Canh-đê, trên dân cư của Ba-by-lôn, trên các lãnh đạo, và trên những người khôn ngoan của nó. 36. Gươm đao sẽ giáng trên bọn tiên tri giả, là những mê muội. Gươm đao sẽ giáng trên những dũng sĩ, và chúng sẽ kinh hoàng. 37. Gươm đao sẽ giáng trên ngựa, giáng trên các xe chiến mã, giáng trên đám dân ô hợp ở giữa nó, và chúng giống như đàn bà! Gươm đao giáng trên những kho tàng, và chúng sẽ bị cướp sạch! 38. Hạn hán sẽ giáng trên những dòng nước của nó, khiến chúng bị cạn khô, bởi vì đó là xứ của hình tượng, chúng điên cuồng vì những thần tượng. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39. Vì vậy những thú rừng sẽ sống chung với chó rừng tại đó; đà điểu cũng đến sống tại đó. Nơi đó sẽ không bao giờ còn có dân đến cư ngụ nữa - từ đời nầy đến đời kia không ai đến định cư tại đó. 40. Đức Giê-hô-va phán: Như Sô-đôm, Gô-mô-rơ và các thành lân cận đã bị hủy hoại thế nào, thì cũng vậy sẽ không còn lại một người nào tại đó, và cũng không có một con người nào sẽ cư ngụ tại đó.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
41. Nầy, một dân tộc sẽ đến từ phương bắc. Một cường quốc và nhiều vua nổi lên từ những nơi tận cùng của trái đất. 42. Chúng nắm chặt cung và giáo, chúng hung hăng dữ tợn, không có lòng thương xót. Tiếng của chúng thét lên như biển gầm. Chúng cưỡi trên ngựa, chúng dàn trận nhất loạt tấn công ngươi. Hỡi con gái của Ba-by-lôn! 43. Vua Ba-by-lôn nghe báo tin về chúng, tay của hắn liền bủn rủn, nỗi kinh hãi bắt lấy hắn. Hắn đau đớn như sản phụ chuyển dạ. 44. Nầy, giống như một con sư tử từ bụi rậm bên bờ Giô-đanh, nó xông vào những đồng cỏ luôn luôn xanh tốt, nhưng Ta sẽ làm cho nó vội vàng bỏ chạy khỏi nơi đó ngay lập tức. Ai là người sẽ được Ta chọn để bổ nhiệm vào nơi đó? Bởi vì có ai giống như Ta? Ai sẽ ấn định thời hạn cho Ta? Kẻ chăn bầy nào sẽ đứng trước mặt Ta? 45. Vì vậy, hãy lắng nghe chương trình của Đức Giê-hô-va đã lập để chống lại Ba-by-lôn, và các kế hoạch mà Ngài đã lập ra để chống lại đất nước Canh-đê. Thật vậy, không phải những con chiên nhỏ nhất trong bầy cũng sẽ bị kéo đi hay sao? Thật vậy, không phải Ngài sẽ làm cho nơi ở của chúng bị hoang tàn hay sao? 46. Tiếng sụp đổ của Ba-by-lôn làm cho đất rúng động, và tiếng kêu la của chúng thấu đến các nước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Nầy là lời Đức Giê-hô-va bởi tiên tri Giê-rê-mi phán về Ba-by-lôn, về đất của người Canh-đê: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2.  Hãy rao, hãy bảo cho các nước, và dựng cờ xí; hãy rao truyền đi, đừng có giấu! Hãy nói rằng: Ba-by-lôn bị bắt lấy; Bên đầy hổ thẹn; Mê-rô-đác bị kinh hãi; hình tượng nó mang xấu hổ, thần tượng nó bị phá đổ! 3.  Vì một dân đến từ phương bắc nghịch cùng nó, làm cho đất nó ra hoang vu, không có dân ở nữa; người và súc vật đều trốn tránh, và đi mất. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Đức Giê-hô-va phán: Trong những ngày đó, trong kỳ đó, con cái Y-sơ-ra-ên và con cái Giu-đa cùng nhau trở lại, vừa đi vừa khóc, tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình. 5.  Chúng nó hướng mặt về Si-ôn, hỏi thăm về nó mà rằng: Hãy đến, liên kết với Đức Giê-hô-va bởi một giao ước đời đời sẽ không quên! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Dân ta vốn là một bầy chiên lạc mất; những kẻ chăn làm cho lộn đường, để chúng nó lầm lạc trên các núi, đi từ núi qua gò, quên chỗ mình an nghỉ. 7.  Phàm những kẻ gặp, đều vồ nuốt chúng nó; và những kẻ nghịch chúng nó đều nói rằng: Chúng ta không đáng tội, vì chúng nó đã phạm tội nghịch cùng Đức Giê-hô-va, là nơi ở của sự công bình, tức là Đức Giê-hô-va, sự trông cậy của tổ phụ chúng nó. 8.  Hãy trốn ra ngoài Ba-by-lôn, ra khỏi đất người Canh-đê, hãy đi như dê đực đi đầu bầy! 9.  Vì nầy, ta sẽ khiến nhiều dân tộc dấy lên từ xứ phương bắc, và đến nghịch cùng Ba-by-lôn, các dân ấy sẽ dàn trận đánh Ba-by-lôn, và từ đó nó bị hãm lấy. Tên chúng nó bắn như tên của lính chiến giỏi, chẳng trở về không. 10.  Canh-đê sẽ bị cướp lấy, phàm kẻ cướp lấy nó sẽ được no nê, Đức Giê-hô-va phán vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Hỡi kẻ cướp sản nghiệp ta, vì các ngươi vui mừng hớn hở, vì các ngươi buông lung như bò cái tơ đạp lúa, reo hí như ngựa mập mạnh; 12.  bởi vậy, mẹ các ngươi rất mang xấu hổ, kẻ đẻ các ngươi bị thẹn thuồng. Kìa, nó sẽ làm cuối cùng hàng các nước, một đồng vắng, một đất khô khan, một nơi sa mạc. 13.  Bởi cơn giận của Đức Giê-hô-va, nó sẽ không có người ở nữa, chỉ thành ra nơi hoang vu cả; phàm những kẻ đi qua gần Ba-by-lôn sẽ lấy làm lạ, và xỉ báng về các tai nạn nó. 14.  Hỡi các ngươi là kẻ hay giương cung! hãy dàn trận nghịch cùng Ba-by-lôn chung quanh; hãy bắn nó, đừng tiếc tên: vì nó đã phạm tội nghịch cùng Đức Giê-hô-va. 15.  Khá kêu la nghịch cùng nó khắp tư bề. Nó đã hàng đầu, lũy nó sập xuống, tường thành nó nghiêng đổ: ấy là sự báo thù của Đức Giê-hô-va! Hãy trả thù nó: làm cho nó như nó đã làm. 16.  Hãy diệt những kẻ gieo giống trong Ba-by-lôn, cùng kẻ cầm liềm trong mùa gặt; vì sợ gươm kẻ ức hiếp, ai nấy sẽ trở về dân mình, ai nấy sẽ trốn về đất mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Y-sơ-ra-ên là một con chiên tan lạc, bị sư tử đuổi theo. Trước hết vua A-si-ri đã vồ nuốt nó; nay sau hết Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đã làm tan xương nó ra. 18.  Vậy nên, Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Nầy, ta sẽ phạt vua Ba-by-lôn và đất nó, như đã phạt vua A-si-ri. 19.  Đoạn ta sẽ đem Y-sơ-ra-ên về trong đồng cỏ nó. Nó sẽ ăn cỏ trên Cạt-mên và Ba-san, lòng nó sẽ được no nê trên các đồi Ép-ra-im và Ga-la-át. 20.  Đức Giê-hô-va phán: Trong những ngày đó bấy giờ, người ta sẽ tìm sự gian ác của Y-sơ-ra-ên, mà không có nữa; tìm tội lỗi của Giu-đa, mà chẳng thấy nữa đâu; vì ta sẽ tha tội cho những kẻ trong vòng chúng nó mà ta đã chừa lại. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Đức Giê-hô-va phán: Hãy lên đánh đất Mê-ra-tha-im, và dân cư Phê-cốt; hãy giết và diệt hết theo sau nó, và làm y như mọi điều ta đã dặn ngươi! 22.  Tiếng kêu về giặc giã vang động trong đất; tai vạ lớn lắm. 23.  Cái búa của cả đất đã bị bẻ gãy là dường nào! Ba-by-lôn đã trở nên hoang vu giữa các nước là dường nào! 24.  Hỡi Ba-by-lôn, ta đã gài bẫy, và ngươi đã mắc vào mà không biết! Ngươi đã bị tìm và bắt được, vì đã tranh cạnh cùng Đức Giê-hô-va. 25.  Đức Giê-hô-va đã mở kho khí giới mình, lấy binh khí của sự thạnh nộ ra; vì Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, có việc phải làm ra trong đất người Canh-đê. 26.  Hãy đến từ bờ cõi rất xa nghịch cùng nó; hãy mở kho tàng nó ra, chất lên như đống, hãy diệt hết cả, đừng để lại chút gì! 27.  Hãy giết mọi bò đực nó, đem xuống hàng thịt! Khốn nạn cho chúng nó, vì ngày chúng nó đã đến, ấy là kỳ thăm phạt chúng nó! 28.  Hãy nghe tiếng kêu của kẻ đi trốn, của những kẻ thoát khỏi đất Ba-by-lôn, đặng rao ra trong Si-ôn sự báo thù của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, sự báo thù về đền thờ Ngài. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29.  Hãy gọi hết thảy những kẻ cầm cung, mọi người giương cung đến đánh Ba-by-lôn; đóng trại chung quanh nó; đừng để cho ai thoát khỏi! Hãy theo công việc nó mà báo trả, làm cho nó trọn như nó đã làm; vì nó lên mình kiêu ngạo nghịch cùng Đức Giê-hô-va, nghịch cùng Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên. 30.  Vậy nên, bọn trai trẻ nó sẽ ngã trên các đường phố, và trong ngày đó, những người đánh giặc của nó sẽ phải nín lặng, Đức Giê-hô-va phán vậy. 31.  Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, phán: Hỡi dân kiêu ngạo, nầy, ta hờn giận ngươi: vì ngày ngươi đã đến, ấy là kỳ ta sẽ thăm phạt ngươi. 32.  Kẻ kiêu ngạo sẽ xiêu tó, vấp ngã, không ai dựng lại. Ta sẽ đốt lửa nơi các thành nó, thiêu nuốt mọi sự chung quanh. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33.  Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Con cái Y-sơ-ra-ên và con cái Giu-đa thảy cùng nhau chịu hà hiếp. Phàm những kẻ bắt chúng nó đi làm phu tù đều giữ chúng nó lại, chẳng khứng thả ra. 34.  Đấng Cứu chuộc chúng nó là mạnh mẽ, danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân. Ngài sẽ đối nại việc chúng nó chắc chắn, đặng cho cả đất được yên nghĩ, và làm bối rối dân cư Ba-by-lôn. 35.  Đức Giê-hô-va phán: Gươm dao ở trên người Canh-đê, trên dân cư Ba-by-lôn, trên các quan trưởng và các người khôn ngoan nó. 36.  Gươm dao ở trên những người khoe khoang, chúng nó sẽ nên người dại dột! Gươm dao ở trên những kẻ mạnh mẽ, chúng nó sẽ bị kinh khiếp! 37.  Gươm dao ở trên những xe, ngựa, cùng mọi dân lộn giống giữa nó, chúng nó sẽ trở nên như đàn bà! Gươm dao ở trên những kho tàng nó đều bị cướp giựt! 38.  Sự hạn hán ở trên các dòng nước nó đều bị cạn khô! Vì ấy là xứ những tượng chạm, chúng nó vì thần tượng mà điên cuồng. 39.  Vậy nên, những thú rừng nơi sa mạc sẽ cùng chó rừng làm ở tại đó, những chim đà cũng choán làm chỗ ở mình; Ba-by-lôn sẽ không hề có dân cư nữa, vả từ đời nầy đến đời kia người ta sẽ không ở đó. 40.  Đức Giê-hô-va phán: Nó sẽ giống như Sô-đôm, Gô-mô-rơ, và các thành lân cận, khi Đức Chúa Trời hủy diệt các thành ấy; sẽ không có dân ở nữa, chẳng một con người nào đến trú ngụ đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
41.  Nầy, một dân đến từ phương bắc; một nước lớn và nhiều vua từ các phương đất rất xa bị xui giục. 42.  Họ cầm cung và giáo, hung dữ chẳng có lòng thương xót. Tiếng họ giống như biển gầm; hỡi con gái Ba-by-lôn, họ đã cỡi ngựa mà đến, dàn trận để đánh ngươi. 43.  Vua Ba-by-lôn đã nghe tin đó, thì tay người trở nên rả rời; sự buồn rầu bắt lấy người như cơn đau của người đàn bà đang đẻ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
44.  Nầy, kẻ thù như sư tử lên từ các rừng rậm rợp của Giô-đanh mà nghịch cùng chỗ ở kiên cố. Thình lình, ta sẽ làm cho người Canh-đê trốn khỏi, và lập người mà ta đã chọn cai trị nó. Vì, ai giống như ta? ai sẽ định kỳ cho ta? ai là kẻ chăn đứng được trước mắt ta? 45.  Vậy hãy nghe mưu Đức Giê-hô-va đã toan nghịch cùng Ba-by-lôn, và ý định Ngài đã lập nghịch cùng đất người Canh-đê. Thật, những con nhỏ trong bầy chúng nó sẽ bị kéo đi, làm cho nơi ở chúng nó trở nên hoang vu! 46.  Nghe tiếng Ba-by-lôn bị bắt lấy, đất đều rúng động, và có tiếng kêu nghe ra giữa các nước. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B24\V02B24C050.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Án Phạt Ba-by-lôn'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Lời của CHÚA phán liên quan đến Ba-by-lôn, liên quan đến đất nước của người Canh-đê, qua Tiên Tri Giê-rê-mi:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 “Hãy rao báo giữa các quốc gia và hãy công bố;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy giăng biểu ngữ lên để thông báo;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chớ giấu nhẹm tin tức ấy đi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy nói rằng, ‘Ba-by-lôn đã bị thất thủ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thần Bên phải chịu sỉ nhục,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tượng thần Mê-rô-đác đã vỡ tan ra từng mảnh;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các hình tượng của nàng phải chịu sỉ nhục,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các thần tượng của nàng vỡ tan ra từng mảnh.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Vì từ phương bắc, một dân đã nổi lên đánh nàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dân ấy đã biến nàng thành một xứ hoang vu,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một xứ không ai sống;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cả loài người và loài thú đều bỏ xứ ấy trốn đi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 CHÚA phán, “Trong những ngày ấy, vào lúc đó, dân I-sơ-ra-ên sẽ đến, chúng cùng với dân Giu-đa vừa đi vừa khóc.  Chúng sẽ tìm kiếm CHÚA, Ðức Chúa Trời của chúng.  5 Chúng sẽ hỏi đường về Si-ôn.  Chúng sẽ hướng mặt về đó và bảo nhau, ‘Hãy đến, chúng ta hãy kết hiệp với CHÚA trong một giao ước đời đời, không bị lãng quên.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Dân Ta lâu nay là một đàn chiên bị lạc mất; những kẻ chăn dắt chúng đã dẫn chúng đi lạc.  Bọn ấy đã dẫn chúng đi lang thang trên các núi, rồi từ núi chúng dẫn qua đồi; cuối cùng chúng quên mất đường trở về ràn.  7 Tất cả những kẻ gặp chúng đều cắn nuốt chúng.  Quân thù của chúng nói, ‘Chúng ta đâu có lỗi gì.  Ấy chẳng qua là tại chúng đã phạm tội đối với CHÚA, đồng cỏ thật của chúng, và CHÚA chính là niềm hy vọng của tổ tiên chúng.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Hãy trốn khỏi Ba-by-lôn!  Hãy ra khỏi xứ của người Canh-đê!  Hãy giống như các con dê đực đi trước dẫn đàn của chúng.  9 Vì này, từ đất bắc, Ta sẽ dấy lên một liên minh gồm các dân hùng cường và dẫn chúng đến Ba-by-lôn.  Chúng sẽ dàn quân tấn công nàng, và nàng sẽ bị chiếm đoạt.  Các mũi tên của chúng giống như các mũi tên ở trong tay một dũng sĩ thiện xạ, không bao giờ trật mục tiêu.  10 Cả nước Canh-đê sẽ biến thành một chiến lợi phẩm.  Tất cả những kẻ cướp lấy của cải nàng sẽ được no nê thỏa thích,” CHÚA phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 “Hỡi những kẻ cướp đoạt cơ nghiệp của Ta,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì ngươi đã vui mừng, vì ngươi đã cười nói hả hê,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì ngươi đã nhảy cỡn lên như con bò cái tơ trên đồng cỏ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và hí vang như những con ngựa giống,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Nên mẹ ngươi sẽ cực kỳ xấu hổ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Người mang thai ngươi sẽ chuốc lấy nhục nhã ê chề.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Kìa, nó đứng vào hạng chót giữa các dân các nước,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nó sẽ thành một đồng hoang, một đất khô cằn, và một miền hoang mạc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Vì cơn giận của CHÚA nên nó sẽ không có ai ở đó nữa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng nó sẽ thành một nơi hoàn toàn hoang vu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ai qua lại trông thấy Ba-by-lôn đều lấy làm kinh ngạc,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cất tiếng xầm xì chế nhạo khi nhìn thấy những tàn tích thương đau.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Hỡi tất cả những tay xạ tiễn,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy tiến vào vị trí của các ngươi ở chung quanh Ba-by-lôn;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy bắn nó và đừng giữ lại mũi tên nào,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì nó đã đắc tội với CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Khắp bốn phía hãy reo hò xông tới,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nó đã đầu hàng rồi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các pháo đài đã ngã nhào,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các tường thành đã sụp đổ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì đó là sự báo trả của CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các ngươi hãy báo thù nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy làm cho nó những gì nó đã làm cho người khác.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Hãy diệt khỏi Ba-by-lôn những kẻ gieo mạ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và những kẻ cầm liềm gặt lúa trong mùa gặt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì lưỡi gươm của kẻ áp bức tung hoành,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nên mọi người đều quay về với dân tộc mình,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ai nấy đều trốn về xứ của mình.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 I-sơ-ra-ên là con chiên bị bầy sư tử săn đuổi.  Lúc đầu vua A-sy-ri ăn nuốt nó, đến lúc cuối Nê-bu-cát-nê-xa vua Ba-by-lôn cắn nát xương nó.  18 Vì thế, CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán, “Ta sẽ phạt vua Ba-by-lôn và xứ sở của nó như Ta đã phạt vua A-sy-ri.  19 Ta sẽ đem I-sơ-ra-ên trở về đồng cỏ của nó, và nó sẽ được ăn cỏ trên Cạt-mên và Ba-san.  Linh hồn nó sẽ được no thỏa trên các núi đồi ở Ép-ra-im và Ghi-lê-át.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 CHÚA phán, “Trong những ngày đó và vào lúc đó, tội của I-sơ-ra-ên sẽ bị tìm, nhưng chẳng tìm ra được tội gì, lỗi của Giu-đa sẽ bị kiếm, nhưng chẳng kiếm ra được lỗi chi, vì Ta sẽ tha thứ những kẻ Ta đã chừa lại.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 “Hãy đi lên xứ của dân Mê-ra-tha-im;  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy xông lên tấn công nàng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy tiến đánh dân cư ở Pê-cốt,  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy tận diệt đến kẻ cuối cùng,” CHÚA phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Hãy làm mọi điều Ta đã truyền cho các ngươi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Tiếng giao tranh vang lên trong xứ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cơn tàn diệt thật khốc liệt biết bao!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 Cái búa đe dọa cả thế giới bị chặt đứt ra từng khúc và bị đập nát tan tành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ba-by-lôn trở thành một chứng tích kinh hoàng giữa các nước.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Hỡi Ba-by-lôn, Ta đã giăng bẫy bắt ngươi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và ngươi đã bị sập bẫy,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng ngươi không biết;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngươi đã bị tìm được và bị tóm cổ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì ngươi dám chống lại CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25 CHÚA đã mở kho vũ khí của Ngài,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và Ngài lấy các khí giới ra dùng, để trút cơn thịnh nộ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì CHÚA các đạo quân có một việc phải làm,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong đất của dân Canh-đê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Hỡi những kẻ ở các nơi xa xăm hẻo lánh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy đến tấn công nàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy mở các vựa lẫm của nàng ra,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy chất những gì thuộc về nàng thành từng đống như các đống lúa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rồi hãy tận diệt nàng đi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chớ để vật chi thuộc về nàng còn sót lại.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 Hãy giết tất cả các bò mộng của nàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy để chúng đi xuống gặp tay đồ tể.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khốn thay cho chúng!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngày tàn của chúng đến rồi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thời kỳ chúng bị đoán phạt đã đến!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Hãy lắng nghe!  Tiếng những kẻ đào thoát và những kẻ chạy trốn khỏi đất Ba-by-lôn đã về đến Si-ôn công bố về sự báo thù của CHÚA, Ðức Chúa Trời chúng ta, và sự báo thù cho đền thờ của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29 Hãy triệu tập những tay xạ tiễn, tức tất cả những người sử dụng cung tên, để tiến đánh Ba-by-lôn.  Hãy hạ trại đóng quân vây quanh nàng.  Chớ để ai trốn thoát.  Hãy báo trả nàng tùy theo những việc nàng đã làm.  Nàng đã đối với người ta sao, hãy làm cho nàng y như vậy, vì nàng đã kiêu kỳ thách đố CHÚA, Ðấng Thánh của I-sơ-ra-ên.  30 Vì thế các chiến sĩ trẻ tuổi của nàng sẽ ngã chết trong các quảng trường của nàng, và tất cả chiến sĩ của nàng đều bị tiêu diệt trong ngày ấy,” CHÚA phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 CHÚA, Ðức Chúa Trời của các đạo quân, phán,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Này, hỡi kẻ kiêu ngạo, Ta chống lại ngươi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì ngày tàn của ngươi đã đến,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thời kỳ Ta đoán phạt ngươi đã tới rồi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
32 Kẻ kiêu ngạo sẽ vấp và ngã nhào,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chẳng ai đỡ nó dậy;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta sẽ đốt lên một ngọn lửa trong các thành của nó,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngọn lửa ấy sẽ thiêu rụi mọi vật chung quanh nó.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33 CHÚA các đạo quân phán thế này, “Dân I-sơ-ra-ên bị áp bức, và dân Giu-đa cũng bị áp bức.  Những kẻ đã bắt chúng làm tôi cứ giữ chặt lấy chúng và không cho chúng ra đi.  34 Ðấng Cứu Chuộc của chúng thật mạnh mẽ; danh Ngài là CHÚA các đạo quân.  Ngài sẽ đứng ra binh vực chúng, để xứ sở của chúng được nghỉ ngơi, còn dân cư ở Ba-by-lôn thì bị rối loạn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 CHÚA phán,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Gươm đao nghịch lại dân Canh-đê,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nghịch lại dân cư Ba-by-lôn,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nghịch lại các thủ lãnh của nàng và các mưu sĩ của nàng!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36 Gươm đao nghịch lại bọn ba hoa khoác lác của nàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khiến chúng trở nên những kẻ điên dại!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gươm đao nghịch lại các dũng sĩ của nàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khiến chúng bị hoảng sợ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
37 Gươm đao nghịch lại các chiến mã của nàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nghịch lại các xe chiến mã của nàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và nghịch lại tất cả quân ngoại quốc đánh thuê ở giữa nàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khiến chúng trở nên như các phụ nữ yếu đuối.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gươm đao nghịch lại các kho tàng của nàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khiến chúng bị cướp lấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38 Nạn hạn hán nghịch lại các nguồn nước của nàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khiến chúng bị cạn khô,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì đó là một xứ thờ hình tượng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng điên cuồng sùng bái các thần tượng của chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
39 Vì thế các thú rừng sẽ sống chung với chó rừng ở đó; các đà điểu sẽ ở trong đó.  Nàng sẽ không bao giờ có người ở hoặc có ai sống cho đến mọi thế hệ về sau.  40 Giống như khi xưa Ðức Chúa Trời đã lật đổ Sô-đôm và Gô-mô-ra cùng các miền phụ cận của chúng thể nào,” CHÚA phán, “thì nàng sẽ không có ai ở đó và sẽ không có ai đến định cư trong đất của nàng nữa cũng thể ấy.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
41 “Này, một dân đến từ phương bắc, một nước hùng cường,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và nhiều vua dấy lên từ những nơi xa xăm trên đất.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
42 Chúng mang cung tên và giáo mác đến,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng hung tàn và chẳng chút xót thương,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tiếng của chúng vang động như tiếng gào của biển cả;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng cỡi các ngựa chiến;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng dàn quân như các dũng sĩ sắp xông vào chiến trận,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể đánh lại ngươi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hỡi Ái Nữ Ba-by-lôn!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
43 Vua Ba-by-lôn nghe báo tin về chúng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hai tay nó liền bủn rủn;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nỗi thống khổ bắt lấy nó;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nó đau đớn như sản phụ lâm bồn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
44 “Như con sư tử ra khỏi bụi rậm ở bờ sông Giô-đanh đuổi theo con mồi trong đồng cỏ quanh năm tươi tốt, Ta sẽ bất ngờ đuổi chúng rời khỏi nàng, sau đó Ta sẽ lập trên nàng một người cai trị Ta chọn.   Vì ai giống như Ta?  Ai có thể triệu Ta đến?  Kẻ chăn dân nào có thể đứng nổi trước mặt Ta?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
45 “Vậy hãy nghe chương trình CHÚA đã lập để chống lại Ba-by-lôn và các kế hoạch Ngài đã lập ra để chống lại đất của dân Canh-đê: Chắc chắn ngay cả những con chiên nhỏ bé trong đàn cũng sẽ bị lôi đi.  Chắc chắn những ràn của chúng trong đồng cỏ sẽ trở nên tiêu điều vắng vẻ.  46 Khi nghe tin Ba-by-lôn bị thất thủ trái đất sẽ run lên lẩy bẩy, và tiếng khóc la sẽ vang dội khắp muôn dân.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Ê-sai]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 49]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 51]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_46&amp;diff=35632</id>
		<title>Giê-rê-mi: Chương 46</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_46&amp;diff=35632"/>
		<updated>2025-12-31T14:06:06Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Lời của Đức Giê-hô-va truyền cho Tiên Tri Giê-rê-mi về các quốc gia:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Về Ai Cập, liên quan đến quân đội của Pha-ra-ôn Nê-cô, vua của Ai Cập, bị Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, đánh bại tại Cạt-kê-mít, gần sông Ơ-phơ-rát, vào năm thứ tư của triều vua Giê-hô-gia-kim, con trai của Giô-si-a, vua của Giu-đa:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Hãy chuẩn bị thuẫn và khiên để xông vào trận! 4. Hỡi các kỵ binh! Hãy thắng yên ngựa, rồi cưỡi lên! Hãy đứng vào hàng ngũ, đội mũ, mài giáo, mặc áo giáp. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Vì sao Ta thấy chúng hoảng sợ thối lui? Các chiến binh của chúng bị đánh tan tành, chúng vội vã tháo chạy, không dám nhìn trở lại. Nỗi kinh hoàng bao trùm mọi phía! Đức Giê-hô-va phán vậy. 6. Người nhanh chân cũng không trốn kịp, kẻ dũng sĩ cũng không thoát khỏi, chúng quỵ xuống ngã gục về hướng bắc bên sông Ơ-phơ-rát!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Kẻ nào đã dâng trào lên như sông Nin, như những dòng sông nước chảy cuồn cuộn? 8. Ai Cập đã dâng trào lên như sông Nin, như những dòng sông nước chảy cuồn cuộn. Nó nói: Ta sẽ dâng lên, sẽ tràn ngập đất, sẽ tiêu diệt thành phố và dân cư trong đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Những ngựa chiến, hãy xông lên! Những xe chiến mã, hãy lao tới! Các chiến binh dũng mãnh của Cút và Ly-bi cầm khiên, và Ly-đi giương cung, hãy tiến đến! 10. Đây là ngày thuộc về Chúa, là Đức Giê-hô-va của các đạo quân. Đây là ngày báo thù để Ngài báo trả những kẻ thù nghịch của Ngài. Gươm sẽ ăn nuốt thỏa thuê, chúng sẽ say sưa uống máu; bởi vì Chúa, là Đức Giê-hô-va của các đạo quân, đã có một tế lễ trong đất phương bắc, bên sông Ơ-phơ-rát.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Hỡi trinh nữ, con gái của Ai Cập! Hãy lên Ga-la-át, để lấy dầu xoa. Ngươi có dùng nhiều thuốc cũng vô ích. Ngươi sẽ không được chữa lành. 12. Các nước đã nghe về nỗi ô nhục của ngươi. Tiếng kêu khóc của ngươi vang khắp đất, bởi vì các dũng sĩ đã vấp phải dũng sĩ, rồi cả hai cùng ngã nhào.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Đây là lời của Đức Giê-hô-va phán với Tiên Tri Giê-rê-mi về việc Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, sẽ tấn công Ai Cập:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14. Hãy loan báo tại Ai Cập, hãy công bố tại Mít-đôn, hãy công bố tại Nốp và Tác-pha-nết rằng: Các ngươi hãy đứng vào hàng ngũ, hãy chuẩn bị sẵn sàng, bởi vì gươm đang bao quanh để nuốt ngươi. 15. Tại sao các dũng sĩ lại bỏ chạy? Tại sao chúng không đứng nổi? Bởi vì Đức Giê-hô-va đã xua đuổi chúng. 16. Thật vậy, Ngài đã làm cho nhiều người vấp ngã, người nầy ngã trên người khác. Chúng đã nói: Hãy đứng dậy! Chúng ta hãy trở về với dân tộc của mình, hãy trở về mảnh đất nguyên quán của mình, hãy tránh xa gươm của kẻ đàn áp. 17. Tại đó, người ta đã kêu lên rằng: &amp;quot;Pha-ra-ôn, vua của Ai Cập chỉ có tiếng. Thời đại của hắn đã qua rồi.&amp;quot;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Ðức Vua, danh Ngài là Đức Giê-hô-va của các đạo quân, phán: Ta lấy chính mạng sống của Ta mà xác quyết rằng như núi Tha-bô nhô lên giữa những ngọn núi thể nào, như núi Cạt-mên nổi bật nơi bờ biển thể nào, quân giặc cũng sẽ đến như vậy. 19. Hỡi con gái của Ai Cập! Các ngươi hãy chuẩn bị chính mình để bị lưu đày; bởi vì Nốp sẽ bị thiêu hủy, trở nên hoang vu, và không có người ở. 20. Ai Cập giống như một con bò cái tơ xinh đẹp, nhưng bị kẻ đến từ phương bắc chích. 21. Ngay cả quân lính đánh thuê ở giữa họ, giống như những con bò đực mập mạp, cũng quay lưng chạy trốn, không giữ nổi vị trí; bởi vì ngày hoạn nạn đã đến với chúng, là lúc chúng bị trừng phạt.  &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22. Tiếng động của nàng như con rắn bò đi, bởi vì quân thù đang kéo đến. Chúng cầm rìu tấn công nàng như những người chặt củi. 23. Đức Giê-hô-va phán: Chúng sẽ chặt ngã khu rừng của nàng, vì không đi xuyên qua được. Chúng đông hơn cào cào, không thể đếm được. 24. Con gái của Ai Cập sẽ bị làm nhục. Nàng sẽ bị trao vào tay một dân ở phương bắc.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25. Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: Nầy, Ta sẽ trừng phạt A-môn, Nô, Pha-ra-ôn và Ai Cập, cùng các thần và các vua của nó, Pha-ra-ôn và những kẻ nhờ cậy người. 26. Ta sẽ phó chúng vào tay những kẻ tìm hại mạng sống của chúng: Vào tay của Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, và vào tay các thuộc hạ người. Tuy nhiên, nó sẽ có dân cư ngụ như những ngày xưa. - Đức Giê-hô-va phán vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Nhưng ngươi - Gia-cốp, là đầy tớ của Ta! Đừng sợ. Y-sơ-ra-ên! Đừng kinh hãi. Vì nầy, Ta sẽ giải cứu ngươi từ nơi xa xôi, và dòng dõi của người từ chốn lưu đày. Gia-cốp sẽ trở về, nghỉ ngơi, yên tịnh, không còn sợ hãi ai cả.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28. Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Gia-cốp, là đầy tớ của Ta! Ngươi đừng khiếp sợ, vì Ta ở với ngươi. Ta sẽ tiêu diệt tất cả các nước mà Ta đã đuổi ngươi đến. Nhưng với ngươi thì Ta không diệt hết, ngươi sẽ không tránh khỏi hình phạt nhưng Ta sẽ sửa phạt ngươi cách công minh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Có lời của Đức Giê-hô-va phán cho tiên tri Giê-rê-mi, luận về các dân tộc. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2.  Về Ê-díp-tô. Luận về đạo quân của vua Ê-díp-tô, Pha-ra-ôn-Nê-cô, bấy giờ đóng gần sông Ơ-phơ-rát, tại Cạt-kê-mít; tức đạo quân bị Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đánh đuổi, về năm thứ tư đời vua Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua của Giu-đa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Hãy sửa soạn thuẫn lớn thuẫn nhỏ, và đi ra trận! 4.  Hỡi lính kỵ, hãy thắng ngựa, cỡi lên! Khá đội mão trụ và đứng sắp hàng; mài mũi giáo và mặc giáp! 5.  Làm sao ta đã thấy sự đó! Chúng nó bị kinh hãi, đều quay lưng lại; lính chiến vỡ tan, chạy trốn chẳng ngó lại đàng sau. Sự kinh khiếp khắp tứ bề, Đức Giê-hô-va phán vậy. 6.  Người rất lẹ cũng không thể thoát, người rất mạnh cũng không thể trốn. Về phương bắc, trên bờ sông Ơ-phơ-rát, kìa, chúng nó vấp và ngã! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Kìa, kẻ dấy lên như sông Ni-lơ, như sông lớn nổi sóng sôi bọt là ai? 8.  Ấy là Ê-díp-tô dấy lên như sông Ni-lơ, các dòng nước nó sôi bọt như các sông. Nó nói: Ta sẽ dấy lên, bao phủ cả đất; ta sẽ hủy phá các thành và dân cư. 9.  Ngựa, hãy xông tới; xe binh, hãy ruổi mau; hãy kéo tới, lính chiến kia; người Cút và người Phút đều mang thuẫn, còn người Ly-đi cầm cung và giương ra. 10.  Ngày đó thuộc về Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân; ấy là ngày báo thù, Ngài sẽ báo kẻ thù nghịch mình. Gươm nuốt mà no, uống huyết chúng nó cho đầy; vì Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, có sự tế tự trong xứ phương bắc, bên sông Ơ-phơ-rát. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Hỡi nữ đồng trinh, con gái của Ê-díp-tô! hãy lên Ga-la-át, mà lấy nhũ hương; ngươi dùng nhiều thứ thuốc cũng vô ích, chẳng chữa lành cho ngươi được! 12.  Các nước đều nghe sự xấu hổ của ngươi, tiếng rên siếc của ngươi đầy khắp đất; vì lính chiến chạm lính chiến, cả hai cùng ngã với nhau. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13.  Nầy là lời Đức Giê-hô-va phán cho tiên tri Giê-rê-mi, về sự Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, sẽ đến đánh đất Ê-díp-tô: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14.  Hãy rao tin trong Ê-díp-tô; truyền cho Mít-đôn, báo cho Nốp và Tác-pha-nết, nói rằng: Hãy đứng sắp hàng, chực sẵn, vì gươm đã nuốt chung quanh ngươi. 15.  Vì sao những người mạnh của ngươi bị cất mất? Chúng nó không đứng được, vì Đức Giê-hô-va đã đuổi chúng nó. 16.  Ngài làm cho nhiều người đi xiêu tó, người nầy ngã trên kẻ khác, mà rằng: Đi hè, trở về nơi dân ta, trong đất chúng ta sanh ra, xa nơi gươm dao ức hiếp! 17.  Tại đó, họ kêu lên rằng: Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, bị diệt rồi; đã để dịp tiện qua đi. 18.  Đức Vua, danh Ngài là Giê-hô-va vạn quân, phán: Thật như ta sống, kẻ thù đến, như núi Tha-bô dấy lên giữa các núi khác, như Cạt-mên thò ra ngoài biển. 19.  Hỡi gái đồng trinh ở Ê-díp-tô, hãy sắm đồ lề đi làm phu tù; vì Nốp sẽ trở nên hoang vu; sẽ bị đốt, không có dân ở nữa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20.  Ê-díp-tô là một con bò cái tơ đẹp đẽ, nhưng bị ong lỗ từ phương bắc đến chích nó. 21.  Những quân thuê ở giữa nó cũng như bò con béo. Nhưng chúng nó cũng xây lưng lại, thảy cùng nhau trốn tránh, không đứng vững được. Vì ngày tai họa, kỳ thăm phạt, đã đến trên chúng nó rồi. 22.  Tiếng nó như rắn đi; vì quân nghịch nó kéo tới mạnh lắm, cầm búa rìu đến trên nó, như thể thợ rừng. 23.  Đức Giê-hô-va phán: Quân nghịch đốn chặt rừng nó, rừng nó không thể dò xem được. Vì chúng nó đông hơn cào cào, không thể đếm được. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24.  Con gái Ê-díp-tô sẽ mang xấu hổ, sẽ bị nộp trong tay dân phương bắc. 25.  Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán rằng: Nầy, ta sẽ phạt A-môn, là thần của Nô, luôn cả Pha-ra-ôn, và Ê-díp-tô, với các thần và các vua nó: tức Pha-ra-ôn cùng những kẻ nhờ cậy người. 26.  Ta sẽ phó chúng nó trong tay những kẻ đòi mạng chúng nó, tức trong tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, và trong tay tôi tớ người; về sau Ê-díp-tô sẽ còn có dân ở như ngày xưa. Đức Giê-hô-va phán vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27.  Hỡi tôi tớ ta là Gia-cốp, chớ sợ chi; hỡi Y-sơ-ra-ên, chớ kinh hãi! Vì ta sẽ cứu ngươi từ xứ xa, sẽ khiến dòng dõi ngươi ra từ đất mình bị làm phu tù. Gia-cốp sẽ trở về, được bình an yên ổn, chẳng ai làm cho sợ hãi. 28.  Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Gia-cốp tôi tớ ta, ngươi chớ sợ, vì ta ở cùng ngươi. Ta sẽ diệt hết các nước mà ta đã đuổi ngươi đến; còn ngươi, thì ta không diệt hết đâu, nhưng sẽ sửa trị ngươi cách chừng mực, và không thể nào không phạt ngươi. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B24\V02B24C046.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Án Phạt Ai-cập'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Lời của CHÚA đến với Tiên Tri Giê-rê-mi về các quốc gia:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 Về Ai-cập:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Về đạo quân của Pha-ra-ôn Nê-cô vua Ai-cập, là đạo quân đã bị Nê-bu-cát-nê-xa vua Ba-by-lôn đánh bại ở bờ sông Ơ-phơ-rát tại trận Cạt-kê-mít, vào năm thứ tư của triều đại Giê-hô-gia-kim con của Giô-si-a vua Giu-đa:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 “Hãy chuẩn bị mộc và khiên mà xông ra chiến trận!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Hãy thắng ngựa và lên yên!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy đứng vào đội ngũ với mũ sắt trên đầu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy giũa mài giáo mác và mặc áo giáp vào!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Tại sao Ta thấy chúng hoảng sợ?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng đang triệt thoái;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các chiến sĩ của chúng bị đánh bại tả tơi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng vội vàng chạy trốn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng chẳng quay nhìn lại – Kinh hoàng tứ phía!” CHÚA phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 “Kẻ nhanh chân cũng không sao chạy thoát,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chiến sĩ can trường cũng chẳng thể thoát thân;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ở phương bắc, bên bờ sông Ơ-phơ-rát,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng lảo đảo và ngã nhào.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Người này là ai mà nổi lên như nước sông trong mùa nước lũ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chảy tràn lan như nước lụt tuôn tràn?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Ai-cập đã nổi lên như nước sông trong mùa nước lũ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chảy tràn lan lai láng khắp nơi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nó nói, ‘Ta sẽ dâng nước lên và bao trùm khắp đất,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta sẽ tiêu diệt các thành và dân chúng ở trong.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Hỡi các chiến mã, hãy xông vào trận mạc,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hỡi các xe chiến mã, hãy nộ khí lao vào;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy để các dũng sĩ tiến lên:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nào quân Cút và quân Pút cầm khiên mang thuẫn,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nào quân Lút giương cung nhắm bắn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Ngày hôm ấy là ngày của Chúa, CHÚA các đạo quân,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một ngày báo trả,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một ngày trị tội những kẻ thù của Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gươm giáo sẽ tàn sát và no nê,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng sẽ say sưa uống máu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Chúa, CHÚA các đạo quân, có một cuộc hiến tế trong đất bắc bên bờ sông Ơ-phơ-rát.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Hỡi trinh nữ, người con gái của Ai-cập, hãy đi lên Ghi-lê-át và lấy dầu mà thoa bóp;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngươi có dùng bao nhiêu thuốc cũng chỉ vô ích mà thôi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngươi sẽ không được chữa lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Các nước đã nghe biết nỗi xấu hổ của ngươi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tiếng kêu la của ngươi đã thấu cùng khắp đất;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì dũng sĩ đã ngã nhào trên dũng sĩ;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Cả hai cùng gục ngã với nhau.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ba-by-lôn Sẽ Tấn Công Ai-cập'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Lời của CHÚA phán với Tiên Tri Giê-rê-mi về việc Nê-bu-cát-nê-xa vua Ba-by-lôn sẽ tấn công Ai-cập:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 “Hãy rao báo trong Ai-cập,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy công bố tại Mích-đôn,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy rao truyền ở Mêm-phít và Ta-pan-he; &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy bảo, ‘Hãy đứng vào vị trí chiến đấu, và hãy chuẩn bị sẵn sàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì gươm giáo sẽ ăn nuốt những kẻ chung quanh ngươi.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Sao các dũng sĩ lại bỏ chạy?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sao con bò mộng mà không đứng nổi?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì CHÚA đã xô nó xuống.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Phải, quân đội đông đúc của ngươi sẽ ngã nhào và chồng chất lên nhau;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ai nấy bảo nhau, ‘Hãy đứng dậy, chúng ta hãy trở về với gia đình và bà con bạn hữu mình,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy trở về nơi sinh quán của mình,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðể thoát khỏi sự tàn sát của gươm đao.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Hãy ban cho Pha-ra-ôn vua Ai-cập một danh hiệu:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
‘Kẻ khoác lác đã mất cơ hội.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 Ðức Vua, danh Ngài là CHÚA các đạo quân, phán,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ta lấy chính mạng sống Ta mà xác quyết rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như Núi Ta-bô nhô lên giữa các núi thể nào,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Như Núi Cạt-mên nổi bật nơi bờ biển thể nào,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Quân giặc cũng sẽ đến thể ấy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Hỡi Ái Nữ của Ai-cập, hãy chuẩn bị khăn gói để đi lưu đày!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Mêm-phít sẽ trở thành một nơi hoang phế,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một chốn điêu tàn, không người ở.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Ai-cập là một con bò cái tơ đẹp đẽ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bị ruồi mòng từ phương bắc đến tấn công.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Ngay cả quân đánh thuê ở giữa nàng vốn được nuôi béo như một đàn bò mập,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thế mà chúng đã xây lưng và cùng nhau bỏ chạy;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng chẳng đứng lại để cự địch;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Bởi vì ngày tai họa của chúng đã đến,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thời điểm đoán phạt của chúng đã tới rồi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Nàng lên tiếng khè khè như con rắn rồi lủi đi;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì quân thù của nàng đã hùng dũng tiến đến;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng mang rìu đến tấn công nàng;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng đốn ngã nàng như các thợ đốn cây ra tay.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 CHÚA phán,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Chúng sẽ đốn phá các rừng cây của nàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mặc dù các rừng ấy rậm rạp khó vào được;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng vì quân giặc tiến đến đông hơn cào cào;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật khó có thể đếm hết chúng được.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Nàng Ái Nữ Ai-cập sẽ bị làm nhục;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nàng sẽ bị trao vào tay một dân ở phương bắc.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25 CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán, “Này, Ta sẽ trừng phạt Thần A-môn của Thê-be, Pha-ra-ôn, Ai-cập, các thần của nàng, các vua của nàng, tức phạt Pha-ra-ôn và mọi người tin cậy nó.  26 Ta sẽ phó chúng vào tay những kẻ tìm cách lấy mạng chúng, tức vào tay Nê-bu-cát-nê-xa vua Ba-by-lôn và các tôi tớ nó.  Tuy nhiên sau đó Ai-cập sẽ có người ở, giống như thời xa xưa,” CHÚA phán. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Ðức Chúa Trời Sẽ Cứu I-sơ-ra-ên'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 “Về phần ngươi, đừng sợ, hỡi tôi tớ Ta Gia-cốp,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngươi chớ hoảng kinh, hỡi I-sơ-ra-ên,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì này, Ta sẽ cứu ngươi từ các miền xa xôi hẻo lánh,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và cứu con cháu ngươi từ những xứ chúng đến sống lưu đày.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Gia-cốp sẽ trở về, sống an lành và thoải mái,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Không ai sẽ làm nó lo sợ nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
28 Về phần ngươi, đừng sợ, hỡi tôi tớ Ta, Gia-cốp,” CHÚA phán,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Vì Ta ở với ngươi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta sẽ tiêu diệt mọi nước Ta đã xua ngươi đến,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng phần ngươi Ta sẽ chẳng tiêu diệt ngươi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta sẽ sửa phạt ngươi đúng mức,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nhưng đừng mong Ta sẽ không sửa phạt ngươi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Ê-sai]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 45]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 47]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_44&amp;diff=35631</id>
		<title>Giê-rê-mi: Chương 44</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_44&amp;diff=35631"/>
		<updated>2025-12-31T14:04:08Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Có lời phán cùng Giê-rê-mi - về tất cả những người Giu-đa đang cư ngụ trong xứ Ai Cập, tức là những người cư ngụ tại Mít-đôn, Tác-pha-nết, Nốp, và vùng Pha-trốt - rằng: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Các ngươi đã thấy tất cả những tai họa mà Ta đã giáng trên Giê-ru-sa-lem, và trên tất cả các thành của Giu-đa. Hãy xem! Ngày nay chúng đã trở nên hoang vu và không còn người cư trú tại đó. 3. Nguyên nhân là do tội ác mà chúng đã phạm để chọc giận Ta. Chúng đã đốt hương và thờ lạy các thần khác tại đó mà chính chúng, cũng như các ngươi và tổ phụ của các ngươi cũng chưa từng biết. 4. Mặc dầu Ta đã dậy sớm sai tất cả những đầy tớ của Ta, là các tiên tri, đến bảo các ngươi rằng: Ồ! Đừng làm điều kinh tởm mà Ta ghét. 5. Nhưng chúng không nghe, không lắng tai, không từ bỏ điều gian ác, nhưng cứ đốt hương cho các thần khác. 6. Vì vậy, Ta trút cơn thịnh nộ và giận dữ thiêu đốt các thành của Giu-đa và các đường phố của Giê-ru-sa-lem, khiến chúng trở nên hoang tàn, và đổ nát như  ngày nay.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Vì vậy, bây giờ Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Tại sao các ngươi lại phạm tội lớn lao như vậy để tự làm hại chính mình? Đến nỗi từ đàn ông, đàn bà, trẻ con, cho đến trẻ thơ đang bú đều bị tiêu diệt khỏi Giu-đa, không còn sót lại người nào. 8. Các ngươi đang chọc giận Ta bằng những công việc từ tay của các ngươi, qua việc đốt hương cho các thần khác trong đất Ai Cập, tại nơi các ngươi đang định cư. Các ngươi tự diệt chính mình, bị nguyền rủa và bị sỉ nhục giữa mọi dân trên đất. 9. Có phải các ngươi đã quên điều gian ác của tổ phụ các ngươi, điều gian ác của các vua Giu-đa, điều gian ác của những người vợ của họ, điều gian ác của chính các ngươi, và điều gian ác của vợ các ngươi đã phạm trong đất Giu-đa và trong những đường phố của Giê-ru-sa-lem? 10. Thậm chí cho đến ngày nay lòng chúng cũng không tan vỡ và cũng không kính sợ. Chúng không bước đi theo luật pháp và mạng lệnh mà Ta đã lập trước mặt các ngươi và tổ phụ của các ngươi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Vì vậy, Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Nầy! Ta hướng mặt của Ta để chống lại các ngươi, để giáng tai họa và tiêu diệt cả Giu-đa. 12. Ta sẽ cất bỏ những kẻ còn sót lại của Giu-đa, là những kẻ đã hướng mặt của họ đi xuống Ai Cập để trú ngụ tại đó. Tất cả bọn chúng sẽ bị kết liễu tại Ai Cập. Chúng sẽ gục ngã bởi gươm đao hay đói kém. Từ trẻ con cho đến người lớn đều sẽ chết vì gươm hay đói kém. Chúng sẽ trở thành lời nguyền rủa, nỗi kinh hoàng, bị chửi rủa và sỉ nhục. 13. Ta sẽ trừng phạt những kẻ cư ngụ tại xứ Ai Cập, như đã trừng phạt Giê-ru-sa-lem bằng gươm đao, đói kém, và dịch bệnh. 14. Trong số những người Giu-đa còn sót lại đã xuống cư ngụ tại Ai Cập, sẽ không có một người nào thoát khỏi hoặc còn sống để trở về Giu-đa, là nơi chúng hằng mong mỏi quay về để cư ngụ tại đó, bởi vì không ai sẽ trở về, ngoại trừ những người trốn thoát.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Bấy giờ, tất cả những người biết vợ mình đã đốt hương cho các thần khác, và tất cả những phụ nữ có mặt tại đó, cùng với tất cả dân chúng cư ngụ tại Pha-trốt trong đất Ai Cập - một đám đông - đã nói với Giê-rê-mi rằng: 16. Lời mà ông nhân danh Đức Giê-hô-va nói với chúng tôi, chúng tôi sẽ không nghe ông. 17. Nhưng chúng tôi chắc chắn sẽ làm những gì miệng chúng tôi đã khấn hứa, để đốt hương cho nữ hoàng trên trời, rót lễ quán để cúng tế bà, như chúng tôi, tổ tiên của chúng tôi, các vua của chúng tôi, và các lãnh đạo của chúng tôi đã làm trong các thành tại Giu-đa và trong các đường phố của Giê-ru-sa-lem - Chúng tôi đã có thực phẩm sung túc, được thịnh vượng, và không thấy hoạn nạn gì cả. 18. Nhưng từ khi chúng tôi ngưng đốt hương và không rót lễ quán cho nữ vương trên trời, thì chúng tôi thiếu thốn mọi thứ, và rồi bị diệt bởi gươm đao và đói kém. 19. Hơn nữa, khi chúng tôi đốt hương và rót lễ quán cho nữ vương trên trời, không phải chúng tôi đã được phép của chồng mình để làm bánh và dâng lễ quán để thờ phượng bà hay sao?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Giê-rê-mi đã nói với toàn thể dân chúng, đàn ông, đàn bà, cùng những người đã đối đáp với ông rằng: 21. Không phải việc các ngươi, tổ phụ của các ngươi, các vua, các lãnh đạo của các ngươi, cùng dân chúng trong xứ đã đốt hương trong các thành của Giu-đa và trên những đường phố của Giê-ru-sa-lem đã được Đức Giê-hô-va ghi nhớ trong tâm trí của Ngài hay sao? 22. Đức Giê-hô-va không thể chịu được những việc làm gian ác của các ngươi và những việc kinh tởm mà các ngươi đã phạm lâu hơn nữa, cho nên xứ sở của các ngươi đã bị hoang vu, là nỗi kinh hoàng, bị nguyền rủa, và không có người cư trú cho đến ngày hôm nay. 23. Bởi vì các ngươi đã đốt hương và phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, không vâng theo tiếng của Đức Giê-hô-va, và cũng không bước đi theo luật pháp, mạng lệnh, và lời răn dạy của Ngài, cho nên ngày nay tai họa nầy đã giáng trên các ngươi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24. Giê-rê-mi lại nói với toàn thể dân chúng và tất cả những phụ nữ: Hỡi tất cả những người Giu-đa đang sống trong xứ Ai Cập! Hãy lắng nghe lời của Đức Giê-hô-va! 25. Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Thật vậy, các ngươi và vợ của các ngươi, miệng đã nói và tay đã làm. Các ngươi đã nói: Chúng tôi sẽ thực hiện lời chúng tôi đã khấn nguyện, sẽ đốt hương, và rót lễ quán cho nữ vương trên trời. Thật vậy, các ngươi sẽ giữ sự hứa nguyện của các ngươi, và sẽ hoàn thành những lời hứa của các ngươi. 26. Vì vậy, tất cả những người Giu-đa đang cư ngụ trong đất Ai Cập! Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va phán: Nầy Ta lấy danh vĩ đại của Ta mà thề rằng   &amp;quot;Thật như Chúa Giê-hô-va hằng sống&amp;quot;, danh của Ta sẽ không bao giờ được nhắc đến trong miệng của một người Giu-đa nào đang sống trong cả xứ Ai Cập. 27. Nầy, Ta sẽ theo dõi chúng để giáng họa chứ không phải để ban phước. Tất cả những người Giu-đa sống trong đất Ai Cập sẽ bị diệt bởi gươm đao và đói kém cho đến khi chúng bị kết liễu. 28. Chỉ có một số ít người từ Ai Cập thoát khỏi gươm đao sẽ trở về đất Giu-đa; và những người còn lại của Giu-đa, là những kẻ đã đến trú ngụ trong đất Ai Cập, sẽ biết lời nào được nghiệm: Lời của Ta hay lời của chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29. Đức Giê-hô-va phán: Đây là dấu hiệu cho các ngươi để biết rằng Ta sẽ trừng phạt các ngươi tại nơi nầy, để các ngươi biết rằng những lời Ta phán về tai họa nghịch cùng các ngươi chắc chắn được thực hiện. 30. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nầy, Ta sẽ phó Pha-ra-ôn Hốp-ra, vua của Ai Cập, vào tay những kẻ thù của nó, tức là vào tay của những kẻ tìm cách lấy mạng nó - giống như Ta đã phó Sê-đê-kia, vua của Giu-đa, vào tay của Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, là kẻ thù và đã tìm kiếm mạng sống của nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Có lời truyền cho Giê-rê-mi về hết thảy người Giu-đa ở trong đất Ê-díp-tô, tại Mít-đôn, Tác-pha-nết, Nốp, và trong xứ Pha-trốt, rằng: 2.  Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Các ngươi có thấy mọi tai vạ mà ta đã giáng cho Giê-ru-sa-lem và các thành của Giu-đa. Kìa, những thành ấy ngày nay hoang vu không dân ở, 3.  vì cớ tội ác dân chúng nó đã phạm để chọc giận ta, đi đốt hương và hầu việc các thần khác mà chúng nó và các ngươi cùng tổ phụ các ngươi cũng chưa từng biết đến. 4.  Dầu vậy, ta đã sai mọi tôi tớ ta, tức các tiên tri, đến cùng các ngươi; ta dậy sớm sai họ đến đặng bảo các ngươi rằng: Ôi! sự gớm ghiếc mà ta ghét đó thì đừng phạm đến. 5.  Nhưng chúng nó chẳng nghe, chẳng để tai vào, chẳng chừa sự dữ, và cứ đốt hương cho các thần khác. 6.  Vì vậy cơn giận và sự thạnh nộ của ta đã đổ ra như lửa đốt nơi các thành của Giu-đa và các đường phố của Giê-ru-sa-lem; và chúng nó bị đổ nát hoang vu như có ngày nay. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Bây giờ Giê-hô-va, Đức Chúa Trời vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Sao các ngươi phạm tội trọng dường ấy nghịch cùng mạng sống mình, để cho đàn ông, đàn bà, trẻ con, trẻ đang bú, bị cất khỏi giữa Giu-đa, đến nỗi dân các ngươi không còn lại chút nào; 8.  bởi các ngươi chọc giận ta bằng những việc tay mình làm ra, đốt hương cho các thần khác trong đất Ê-díp-tô, là nơi các ngươi mới đến trú ngụ; đến nỗi các ngươi chuốc lấy sự hủy diệt cho mình, đem mình làm cớ rủa sả sỉ nhục giữa các dân thiên hạ? 9.  Các ngươi đã quên điều ác của tổ phụ mình, điều ác của các vua Giu-đa, điều ác của các hoàng hậu, điều ác của chính các ngươi cùng vợ mình đã phạm trong đất Giu-đa và trong các đường phố Giê-ru-sa-lem hay sao? 10.  Chúng nó chẳng hạ mình xuống cho đến ngày nay, chẳng kính sợ, chẳng bước theo luật pháp mạng lịnh ta đã để trước mặt các ngươi và tổ phụ các ngươi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Vậy nên Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Nầy, ta sẽ để mặt ta nghịch cùng các ngươi mà giáng họa cho, và diệt cả Giu-đa. 12.  Ta sẽ lấy dân Giu-đa sót lại, tức những kẻ đã xây mặt vào đất Ê-díp-tô đặng trú ngụ ở đó; chúng nó sẽ bị diệt tại đó hết thảy. Chúng nó sẽ ngã trên đất Ê-díp-tô, chết dưới gươm hay là bởi đói kém. Kẻ nhỏ người lớn sẽ đều chết vì gươm vì đói kém, là cớ cho người ta trù ẻo, gở lạ, rủa sả, sỉ nhục. 13.  Ta sẽ phạt những kẻ ở trong đất Ê-díp-tô, như đã phạt Giê-ru-sa-lem bằng gươm dao, đói kém, và ôn dịch; 14.  đến nỗi trong những dân Giu-đa sót lại đến Ê-díp-tô đặng trú ngụ, thì chẳng có ai thoát khỏi, hay sót lại, đặng trở về đất Giu-đa, là nơi chúng nó còn mong trở về ở. Chúng nó sẽ không trở về được, trừ ra những kẻ tránh khỏi mà thôi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15.  Bấy giờ, hết thảy những người biết vợ mình đốt hương cho các thần khác, hết thảy đàn bà đứng tại đó nhóm thành một hội đông, tức mọi dân sự ở trong đất Ê-díp-tô, tại Pha-trốt, đáp cùng Giê-rê-mi rằng: 16.  Về sự ông nhân danh Đức Giê-hô-va mà nói cùng chúng tôi, thì chúng tôi không khứng nghe đâu. 17.  Nhưng chúng ta chắc sẽ làm trọn mọi lời đã ra từ miệng chúng tôi, sẽ đốt hương và làm lễ quán cho nữ vương trên trời, như chúng tôi cùng tổ phụ, vua, quan trưởng chúng tôi đã làm trong các thành của Giu-đa và các đường phố Giê-ru-sa-lem; vì lúc bấy giờ chúng tôi có bánh đặng no mình, hưởng phước, chẳng thấy tai vạ gì. 18.  Nhưng, từ khi chúng tôi thôi đốt hương và làm lễ quán cho nữ vương trên trời, thì chúng tôi thiếu thốn mọi sự, và bị nuốt bởi gươm dao đói kém. 19.  Vả lại, khi chúng tôi đốt hương và làm lễ quán cho nữ vương trên trời, chúng tôi làm bánh để thờ lạy người, và dâng lễ quán cho người nữa, thì chồng chúng tôi há chẳng biết hay sao? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20.  Giê-rê-mi bèn nói cùng cả dân sự, đàn ông, đàn bà, và mọi kẻ đã trả lời cho người như vậy, rằng: 21.  Các ngươi cùng tổ phụ, các vua các quan trưởng mình, và dân trong đất, đã đốt hương trong các thành Giu-đa và trong các đường phố Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-hô-va há chẳng đã nhớ lấy và đã ghi trong ý tưởng Ngài sao? 22.  Vì cớ sự hung ác của việc làm các ngươi và sự gớm ghiếc các ngươi đã phạm, nên Đức Giê-hô-va không chịu được nữa. Vì vậy đất các ngươi đã trở nên hoang vu, gở lạ, và sự rủa sả, chẳng có ai ở, như có ngày nay. 23.  Ấy là bởi các ngươi đã đốt hương và đã phạm tội nghịch cùng Đức Giê-hô-va, bởi các ngươi chẳng vâng theo tiếng Đức Giê-hô-va, và không bước theo luật pháp, mạng lịnh, và sự dạy dỗ của Ngài, nên tai vạ nầy đã đến cho các ngươi, như có ngày nay. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24.  Giê-rê-mi lại nói cùng dân sự và mọi người đàn bà rằng: Hỡi cả dân Giu-đa hiện ở trong đất Ê-díp-tô, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. 25.  Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Các ngươi và vợ các ngươi đã nói ra từ miệng mình, và lấy tay làm trọn điều mình đã nói rằng: Thật chúng ta sẽ làm thành lời mình đã khấn nguyện, đốt hương, và làm lễ quán cho nữ vương trên trời. Vậy các ngươi khá giữ vững lời nguyện mình và làm trọn lời nguyện. 26.  Cho nên, hỡi cả dân Giu-đa hiện ở trong đất Ê-díp-tô, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va có phán: Nầy ta lấy danh lớn mình mà thề, trong khắp đất Ê-díp-tô sẽ chẳng có một người Giu-đa nào còn mở miệng xưng danh ta nữa, mà rằng: Thật như Chúa Giê-hô-va hằng sống! 27.  Nầy, ta sẽ tỉnh thức đặng xuống họa cho chúng nó mà không xuống phước; mọi người Giu-đa ở trong đất Ê-díp-tô sẽ đều bị vồ nuốt bởi gươm dao đói kém cho đến đã diệt hết. 28.  Chỉ có một số rất ít người sẽ được thoát khỏi gươm dao, từ đất Ê-díp-tô trở về trong đất Giu-đa; và mọi người Giu-đa còn sót lại, tức những kẻ đã đến đặng trú ngụ trong đất Ê-díp-tô nầy, thì sẽ biết lời nào được nghiệm, lời của ta hay là lời của chúng nó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29.  Đức Giê-hô-va phán: Nầy là dấu mà các ngươi bởi đó biết ta sẽ hình phạt các ngươi trong nơi nầy, để các ngươi biết rằng lời ta phán về tai họa các ngươi chắc ứng nghiệm. 30.  Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ phó Pha-ra-ôn-Hốp-ra, vua Ê-díp-tô, trong tay kẻ thù nó và kẻ đòi mạng nó, như đã phó Sê-đê-kia, vua Giu-đa, trong tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, là kẻ thù và đòi mạng Sê-đê-kia. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B24\V02B24C044.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Cảnh Cáo về Tội Thờ Thần Tượng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Lời của CHÚA đến với Giê-rê-mi liên quan đến tất cả người Do-thái sống ở đất Ai-cập, đó là những người sống ở Mích-đôn, Ta-pan-he, Mêm-phít, và trong đất Pát-rô, 2 “CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này, ‘Các ngươi đã thấy tất cả các tai họa Ta đã giáng trên Giê-ru-sa-lem và trên tất cả các thành của Giu-đa.  Này, ngày nay chúng đã trở nên hoang vu và không người ở, 3 bởi vì tội lỗi chúng đã phạm.  Chúng đã chọc giận Ta bằng cách dâng hương và thờ phượng các thần khác, là các thần chúng không biết, các ngươi không biết, và tổ tiên các ngươi cũng không biết.  4 Ta đã không ngừng sai tất cả tôi tớ Ta, tức các tiên tri, đến với các ngươi, bảo rằng, ‘Ôi, chớ làm điều gớm ghiếc mà Ta ghét.’  5 Nhưng chúng chẳng nghe và cũng chẳng để tai vào; chúng chẳng lìa bỏ tội lỗi và chẳng chấm dứt việc dâng hương cho các thần khác.  6 Vì thế cơn giận và cơn thịnh nộ của Ta đã đổ ra như lửa và đã bùng cháy trong các thành của Giu-đa và trong các đường phố của Giê-ru-sa-lem, và chúng đã trở nên hoang tàn đổ nát như ngày nay.’  7 Vậy bây giờ CHÚA, Ðức Chúa Trời các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này, ‘Tại sao các ngươi muốn tái phạm tội trọng ấy để hại chính mình, tức tự diệt hết đàn ông, đàn bà, trẻ em, và ấu nhi khỏi Giu-đa, mà không chừa sót lại một người nào vậy?  8 Tại sao các ngươi cứ chọc giận Ta bằng những việc do tay các ngươi gây ra, qua việc dâng hương cho các thần khác trong đất Ai-cập, nơi các ngươi đến định cư như thế?  Các ngươi có biết rằng làm như thế là các ngươi sẽ tự diệt mình và tự biến thành một đối tượng để bị nguyền rủa và sỉ nhục giữa mọi dân trên đất chăng?  9 Chẳng lẽ các ngươi đã quên mất những tội lỗi của tổ tiên các ngươi, những tội lỗi của các vua Giu-đa, những tội lỗi của các vợ chúng, những tội lỗi của chính các ngươi, và những tội lỗi của vợ các ngươi đã phạm trong đất Giu-đa và trong các đường phố ở Giê-ru-sa-lem rồi sao?  10 Cho đến ngày nay chúng vẫn chưa tỏ ra thái độ hạ mình ăn năn sám hối hay sợ hãi gì cả.  Chúng cũng không đi trong luật pháp và các luật lệ mà Ta đã đặt trước mặt các ngươi và trước mặt tổ tiên các ngươi.’   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Vì thế CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này, ‘Ta sẽ đích thân giáng họa trên các ngươi, để tuyệt diệt toàn thể Giu-đa.  12 Ta sẽ làm cho những kẻ còn sót lại của Giu-đa, những kẻ đã quyết tâm di cư vào Ai-cập để sống ở đó, chết mất, không chừa lại ai.  Tất cả chúng sẽ ngã chết trong đất Ai-cập.  Chúng sẽ chết vì gươm đao và vì nạn đói.  Chúng sẽ trở thành một đối tượng để bị khinh bỉ, kinh tởm, nguyền rủa, và sỉ nhục.  13 Ta sẽ phạt những kẻ đến sống trong đất Ai-cập như Ta đã phạt Giê-ru-sa-lem bằng gươm giáo, nạn đói, và ôn dịch, 14 để không kẻ nào còn sót lại của Giu-đa đến sống trong đất Ai-cập thoát khỏi hoặc sống còn hoặc về lại đất Giu-đa, mặc dù chúng rất ao ước được trở về đó sống, nhưng chúng không thể trở về được, ngoại trừ một vài kẻ bỏ trốn.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 Bấy giờ tất cả các ông vốn biết vợ họ đã dâng hương cho các thần khác, cùng tất cả các bà đứng bên cạnh, đông như một đại hội, và mọi người đã sống tại Pát-rô trong đất Ai-cập trả lời với Giê-rê-mi rằng, 16 “Những lời ông nhân danh CHÚA nói với chúng tôi, chúng tôi không nghe đâu.  17 Nhưng chúng tôi chắc chắn sẽ làm những gì miệng chúng tôi đã khấn hứa.  Chúng tôi sẽ dâng hương cho nữ hoàng trên trời và đổ lễ quán để cúng tế ngài, giống như chúng tôi, tổ tiên của chúng tôi, các vua của chúng tôi, và các quan của chúng tôi đã thường làm trong các thành ở Giu-đa và trong các đường phố ở Giê-ru-sa-lem.  Chúng tôi đã từng có dư thừa thực phẩm, thịnh vượng, và chẳng thấy có rủi ro hoạn nạn gì.  18 Nhưng từ khi chúng tôi ngừng dâng hương cho nữ hoàng trên trời và đổ lễ quán để cúng tế ngài, chúng tôi bị thiếu thốn đủ mọi sự và còn bị tiêu diệt bằng gươm giáo và nạn đói nữa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Các bà cũng phụ họa theo, “Chúng tôi nhất định sẽ dâng hương cho nữ hoàng trên trời và đổ lễ quán để cúng tế ngài.  Quý vị nghĩ chúng tôi có nên làm các bánh với hình nữ thần trên mặt để dâng cho ngài và đổ lễ quán để cúng tế ngài, mà không cần chồng chúng tôi tham gia không?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Bấy giờ Giê-rê-mi nói với mọi người, nam và nữ, cùng mọi người đã trả lời ông, thế này, 21 “Những thức hương anh chị em đã dâng trong các thành ở Giu-đa và trong các đường phố ở Giê-ru-sa-lem, anh chị em và tổ tiên anh chị em, các vua và các quan của anh chị em, và dân trong xứ đã dâng, CHÚA há không nhớ đến và không bận tâm hay sao?  22 CHÚA đã không thể chịu đựng nổi các hành vi tội lỗi của anh chị em, những việc gớm ghiếc anh chị em đã phạm.  Vì thế mà xứ sở của anh chị em đã trở nên hoang vắng, điêu tàn, thành một lời nguyền rủa, và không người ở như đã thấy ngày nay.  23 Sở dĩ đất nước chúng ta đã ra như thế là vì anh chị em đã dâng hương cho các thần tượng, và vì anh chị em đã phạm tội đối với CHÚA, không vâng theo tiếng CHÚA, không bước đi trong luật pháp, các luật lệ, và các thánh chỉ của Ngài, cho nên tai họa này đã giáng trên anh chị em, như anh chị em đã thấy ngày nay.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Giê-rê-mi lại nói với mọi người và với tất cả phụ nữ ở đó, “Hãy nghe lời của CHÚA, hỡi mọi người Giu-đa sống trong đất Ai-cập.  25 CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này, ‘Các ngươi và vợ các ngươi cứ làm những điều các ngươi đã nói đi.  Các ngươi đã nói rằng, “Chúng tôi nhất định sẽ thực hiện những điều chúng tôi đã khấn hứa, tức dâng hương cho nữ hoàng trên trời và đổ lễ quán để cúng tế ngài,” thì bằng mọi cách, khá giữ lời khấn hứa của các ngươi và cứ đổ lễ quán để cúng tế nó đi!’  26 Bây giờ hãy nghe lời của CHÚA, hỡi mọi người Giu-đa sống trong đất Ai-cập.  Này, CHÚA phán, ‘Ta lấy danh lớn lao cao cả của Ta mà thề rằng danh Ta sẽ không được phép nói đến trên môi của bất cứ người Giu-đa nào sống trong cả nước Ai-cập nữa.  Chẳng ai sẽ được nói “Nguyện CHÚA, Ðức Chúa Trời hằng sống, làm chứng cho” nữa.  27 Ta sẽ theo dõi chúng để giáng họa chứ không phải để ban phước.  Tất cả những người Giu-đa sống trong đất Ai-cập sẽ bị diệt mất bằng gươm giáo và nạn đói cho đến khi không còn sót lại người nào.  28 Chỉ có một số ít sẽ thoát khỏi gươm giáo và bỏ đất Ai-cập để trở về đất Giu-đa mà thôi.  Bấy giờ những người Giu-đa sống sót, những kẻ đã từng đến định cư trong đất Ai-cập, sẽ biết lời của ai đúng, lời Ta hay lời của chúng.’  29 CHÚA phán, ‘Ðây sẽ là một dấu hiệu cho các ngươi, để các ngươi biết rằng Ta sẽ đoán phạt các ngươi trong đất nước này, hầu các ngươi sẽ biết rõ rằng những lời Ta đã phán nghịch lại các ngươi chắc chắn sẽ được ứng nghiệm.’  30 CHÚA phán thế này, ‘Ta sẽ trao Pha-ra-ôn Hóp-ra vua Ai-cập vào tay những kẻ thù của nó, những kẻ đang tìm cách lấy mạng nó, giống như Ta đã trao Xê-đê-ki-a vua Giu-đa vào tay Nê-bu-cát-nê-xa vua Ba-by-lôn, kẻ thù của nó, kẻ tìm cách lấy mạng nó vậy.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Ê-sai]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 43]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 45]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_43&amp;diff=35630</id>
		<title>Giê-rê-mi: Chương 43</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_43&amp;diff=35630"/>
		<updated>2025-12-31T13:59:22Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Ngay sau khi Giê-rê-mi chấm dứt nói cho mọi người tất cả những lời của Giê-hô-va Đức Chúa Trời - tức là tất cả những lời mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ đã sai ông nói cho họ - là những lời đã nói ở phần trước; 2. thì A-xa-ria - con trai của Hô-sa-gia, và Giô-ha-nan - con trai của Ca-rê-át, cùng với tất cả những kẻ ngạo mạn, nói với Giê-rê-mi: Ông nói dối! Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng tôi không sai ông nói với chúng tôi: &amp;quot;Đừng đến Ai Cập trú ngụ tại đó.&amp;quot; 3. Nhưng Ba-rúc - con trai của Nê-ri-gia, đã xúi giục ông chống lại chúng tôi, nộp chúng tôi vào tay của người Canh-đê, để họ có thể giết chúng tôi hoặc lưu đày chúng tôi sang Ba-by-lôn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Vì vậy, Giô-ha-nan - con trai của Ca-rê-át, cùng với tất cả những chỉ huy của các lực lượng, và tất cả dân chúng đã không vâng theo lệnh của Đức Giê-hô-va truyền phải ở lại trong đất Giu-đa. 5. Nhưng Giô-ha-nan, con trai của Ca-rê-át, cùng với tất cả những chỉ huy của các lực lượng, đã bắt tất cả những người còn sót lại tại Giu-đa - tức là những người đã trở về từ mọi nước mà họ đã bị đưa đến, và hiện đang sống tại Giu-đa - 6. gồm đàn ông, đàn bà, trẻ em, những con gái của vua, và mọi người mà Nê-ba-xa-a-đan, quan chỉ huy vệ binh, đã để lại cho Ghê-đa-lia, con trai của A-hi-cam, cháu của Sa-phan, cùng với Tiên tri Giê-rê-mi, và Ba-rúc, con trai của Nê-ri-gia. 7. Vì họ không vâng lời của Đức Giê-hô-va, họ đã vào xứ Ai Cập, đến tận Tác-pha-nết.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi tại Tác-pha-nết: 9. Ngươi hãy cầm trong tay của ngươi một số viên đá lớn, rồi giấu dưới lớp gạch làm bằng đất sét trên lối vào lâu đài của Pha-ra-ôn tại Tác-pha-nết, trước mắt những người Giu-đa. 10. Rồi hãy nói với chúng: Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Ta sẽ gọi và đem đầy tớ của Ta là Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, đến. Ta sẽ đặt ngai của người trên những viên đá mà Ta mới vừa giấu. Người sẽ căng màn của hoàng đế bên trên chúng. 11. Người sẽ đến tiến đánh Ai Cập. Người nào đáng chết thì bị chết, người nào đáng bị lưu đày thì bị lưu đày, người nào đáng bị gươm chém thì bị gươm đâm. 12. Ta sẽ nhóm lửa, rồi người sẽ đốt các đền miếu của các thần của Ai Cập. Người sẽ thiêu hủy những nơi đó, rồi đem chúng đi lưu đày. Người thâu tóm cho mình cả xứ Ai Cập, giống như một người chăn chiên bỏ gọn vào trong áo của mình, rồi ra đi một cách bình an. 13. Người sẽ đập vỡ các trụ thờ Bết Sê-mết trong xứ Ai Cập, và sẽ thiêu hủy những đền miếu của các thần của Ai Cập.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Khi Giê-rê-mi đã thuật hết cho cả dân sự mọi lời mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng nó, là lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng nó đã sai người nói cho chúng nghe, tức là những lời nầy, 2.  thì A-xa-ria, con trai Hô-sa-gia, và Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, cùng mọi người kiêu ngạo nói với Giê-rê-mi rằng: Ngươi nói dối! Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta chưa hề sai ngươi truyền cho chúng ta rằng: Chớ sang nước Ê-díp-tô mà trú ngụ; 3.  nhưng ấy là Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia, xui ngươi nghịch cùng chúng ta, để nộp chúng ta trong tay người Canh-đê, đặng giết chúng ta hay là điệu về làm phu tù nước Ba-by-lôn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Ấy vậy, Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, các đầu đảng và mọi dân sự, chẳng vâng theo tiếng Đức Giê-hô-va truyền cho mình ở lại trong đất Giu-đa. 5.  Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, và các đầu đảng đem những người Giu-đa còn sót lại, tức hết thảy những kẻ trở về từ cả các nước khác mà mình đã bị đuổi đến, mà ở trong đất Giu-đa, 6.  đàn ông, đàn bà, trẻ con, cùng các con gá i nhà vua, và mọi người mà Nê-ba-xa-A-đan, quan làm đầu thị vệ, đã để lại cho Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, cháu Sa-phan, lại cũng đem luôn tiên tri Giê-rê-mi và Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia, 7.  vào đất Ê-díp-tô, đến Tác-pha-nết; vì họ không vâng theo tiếng Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Tại Tác-pha-nết, có lời Đức Giê-hô-va phán cho Giê-rê-mi như vầy: 9.  Hãy lấy trong tay ngươi những cục đá lớn, đem giấu trong đất sét làm gạch trước cửa nhà Pha-ra-ôn, tại Tác-pha-nết, trước mắt người Giu-đa đều thấy. 10.  Ngươi khá bảo họ rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Nầy, ta sẽ sai và lấy tôi tớ ta là Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, và đặt ngai vua ấy trên những đá nầy mà ta mới vừa giấu; vua ấy sẽ căng màn mình lên trên. 11.  Vua ấy sẽ đến, đánh đất Ê-díp-tô; những kẻ phải chết thì làm cho chết, những kẻ phải bị phu tù thì bắt làm phu tù, những kẻ phải bị gươm giáo thì cho gươm giáo! 12.  Ta sẽ đốt lửa nơi các chùa miễu của các thần Ê-díp-tô; Nê-bu-cát-nết-sa sẽ đốt đi hết, và đem đi làm phu tù; vua ấy lấy đất Ê-díp-tô mặc cho mình cũng như kẻ chăn chiên mặc áo mình, và vua ấy sẽ đi ra cách bình an. 13.  Người sẽ bẻ gãy các cột của Bết-Sê-mết trong đất Ê-díp-tô, và sẽ lấy lửa đốt các chùa miễu của các thần Ê-díp-tô. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B24\V02B24C043.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Giê-rê-mi Bị Mang Qua Ai-cập'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Khi Giê-rê-mi nói xong cho mọi người tất cả những lời ấy của CHÚA, Ðức Chúa Trời của họ, tức tất cả những lời mà CHÚA, Ðức Chúa Trời của họ, đã sai ông rao báo cho họ, 2 A-xa-ri-a con của Hô-sai-a, Giô-ha-nan con của Ca-rê-a, và tất cả những kẻ ngang tàn nói với Giê-rê-mi, “Ông nói láo.  CHÚA, Ðức Chúa Trời của chúng tôi, không sai ông nói, ‘Chớ đi xuống Ai-cập để sống ở đó.’  3 Nhưng Ba-rúc con của Nê-ri-a đã xúi giục ông chống lại chúng tôi để nộp chúng tôi vào tay quân Canh-đê hầu chúng sẽ giết chúng tôi hoặc đem chúng tôi qua lưu đày ở Ba-by-lôn.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Vậy Giô-ha-nan con của Ca-rê-a, tất cả lãnh tụ các lực lượng kháng chiến, và toàn dân lúc đó quyết định không vâng theo tiếng CHÚA để ở lại trong xứ Giu-đa.  5 Nhưng Giô-ha-nan con của Ca-rê-a và tất cả lãnh tụ các lực lượng kháng chiến đã bắt tất cả những người Giu-đa còn sót lại, tức tất cả những người đã bị xua đến các nước khác đã trở về tái lập cư trong xứ Giu-đa, 6 gồm đàn ông, đàn bà, trẻ em, các công chúa, và mọi người mà Nê-bu-xa-ra-đan quan chỉ huy quân thị vệ đã để ở lại với Ghê-đa-li-a con của A-hi-cam con của Sa-phan, kể cả Tiên Tri Giê-rê-mi và Ba-rúc con của Nê-ri-a.  7 Họ dẫn tất cả những người ấy vào đất Ai-cập, vì họ không vâng theo tiếng CHÚA; và họ đã đến tại Ta-pan-he.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Cảnh Cáo về Tai Họa'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Bấy giờ có lời của CHÚA đến với Giê-rê-mi ở Ta-pan-he, 9 “Hãy bê một ít đá lớn và mang đến chôn dưới nền lát gạch ở lối vào cung điện của Pha-ra-ôn ở Ta-pan-he.  Hãy làm sao để dân Giu-đa thấy việc của ngươi làm, 10 rồi nói với chúng, ‘CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này, “Này, Ta sẽ sai và dẫn Nê-bu-cát-nê-xa vua Ba-by-lôn đầy tớ Ta đến nơi này.  Nó sẽ đặt ngai nó trên những đá này, những đá Ta đã chôn giấu.  Nó sẽ căng vương trại của nó trên những đá ấy.  11 Nó sẽ đến, tàn phá đất Ai-cập, và làm cho&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những kẻ bị định phải chết vì ôn dịch sẽ chết vì ôn dịch,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những kẻ bị định phải đi lưu đày sẽ bị bắt đem đi lưu đày,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những kẻ bị định phải chết bằng gươm sẽ bị giết bằng gươm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Nó sẽ nổi lửa đốt rụi các đền thờ các thần tượng ở Ai-cập.  Nó sẽ thiêu rụi các đền thờ ấy và mang các thần tượng ấy đem lưu đày.  Nó sẽ làm sạch đất Ai-cập như người chăn chiên làm sạch bọ chét chấy rận khỏi áo quần mình; rồi nó sẽ ra đi khỏi đó bình an.  13 Nó sẽ đập nát các trụ đá thờ Bết Sê-mếch trong đất Ai-cập.  Nó sẽ thiêu rụi các đền thờ các thần tượng của Ai-cập trong lửa.”’”   &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Ê-sai]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 42]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 44]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_42&amp;diff=35629</id>
		<title>Giê-rê-mi: Chương 42</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_42&amp;diff=35629"/>
		<updated>2025-12-31T13:58:13Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Tất cả chỉ huy của các lực lượng, cùng với Giô-ha-nan - con trai của Ca-rê-át, Giê-xa-nia - con trai của Hô-sa-gia, và toàn thể dân chúng từ nhỏ nhất cho đến lớn nhất, 2. đã nói với Tiên tri Giê-rê-mi rằng: Xin ông hãy nhận lời thỉnh cầu của chúng tôi mà cầu nguyện với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông cho chúng tôi, là những người còn sót lại đây. Như ông có thể thấy, chúng tôi chỉ còn lại rất ít không nhiều. 3. Xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông chỉ cho chúng tôi con đường chúng tôi phải đi, và điều chúng tôi phải làm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Tiên tri Giê-rê-mi nói với họ: Ta đã nghe lời thỉnh cầu.  Thật vậy, ta sẽ cầu xin cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi theo những lời của các ngươi. Và rồi, điều gì mà Đức Giê-hô-va trả lời cho các ngươi, ta sẽ công bố cho các ngươi, không giữ lại một lời nào với các ngươi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5. Vì vậy, họ đã nói với Giê-rê-mi: Cầu xin Đức Giê-hô-va chân thật và thành tín làm chứng giữa chúng ta nếu chúng tôi không làm theo mọi lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông đã sai ông báo cho chúng tôi. 6. Dù lành hay dữ, chúng tôi sẽ vâng theo tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta, là Đấng mà chúng tôi cử ông đến, để chúng tôi sẽ được phước khi vâng theo tiếng của Giê-hô-va Ðức Chúa Trời của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Mười ngày trôi qua, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi. 8. Ông gọi Giô-ha-nan - con trai của Ca-rê-át, và tất cả những chỉ huy của các lực lượng theo hắn, cùng toàn thể dân chúng từ người nhỏ nhất cho đến người lớn nhất, 9. rồi nói với họ rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng mà các ngươi đã nhờ ta trình dâng lời cầu xin trước mặt Ngài, phán như thế nầy: &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Nếu các ngươi cứ ở lại trong xứ thì Ta sẽ xây dựng các ngươi chứ không triệt hạ. Ta sẽ trồng các ngươi, chứ không nhổ các ngươi, bởi vì Ta lấy làm tiếc về tai họa mà Ta đã giáng trên các ngươi. 11. Đừng sợ vua Ba-by-lôn, là người mà các ngươi đang sợ. Đừng sợ hắn. Đức Giê-hô-va phán: Bởi vì Ta ở với các ngươi, để cứu vớt các ngươi, và giải thoát các ngươi khỏi tay của hắn. 12. Ta sẽ thương xót các ngươi và khiến hắn cũng thương xót các ngươi, và cho các ngươi được trở về xứ của mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13. Nhưng nếu các ngươi nói: &amp;quot;Chúng tôi không muốn ở trong xứ nầy, cũng không vâng theo tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời của mình.&amp;quot; 14. Các ngươi nói rằng: &amp;quot;Không! Chúng tôi sẽ đi đến đất Ai Cập, là nơi chúng tôi sẽ không thấy chiến tranh, không nghe tiếng kèn, cũng không đói khát thức ăn. Chúng tôi sẽ sống tại đó!&amp;quot; 15. Vì vậy, hỡi dân Giu-đa còn sót lại kia, hãy lắng nghe lời của Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Nếu các ngươi quyết định hướng mặt vào Ai Cập rồi đến định cư tại đó, 16. thì gươm đao mà các ngươi khiếp sợ sẽ đuổi kịp các ngươi trong xứ Ai Cập; đói kém mà các ngươi sợ hãi cũng sẽ theo sát các ngươi tại Ai Cập, và rồi các ngươi sẽ chết tại đó. 17. Vì vậy, tất cả những kẻ hướng mặt vào Ai Cập để đến định cư tại đó sẽ chết bởi gươm đao, đói kém, và dịch bệnh. Không một ai trong họ sẽ tồn tại hay thoát khỏi tai họa mà Ta sẽ giáng trên chúng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18. Thật vậy, Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Như Ta đã trút cơn giận và thịnh nộ trên dân cư Giê-ru-sa-lem thể nào, thì khi các ngươi vào Ai Cập, Ta cũng sẽ trút cơn thịnh nộ của Ta trên các ngươi như vậy. Các ngươi sẽ thành lời trù ẻo và nỗi kinh hoàng, lời nguyền rủa và nỗi sỉ nhục. Các ngươi sẽ không còn thấy nơi nầy nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19. Hỡi những người còn sót lại của Giu-đa! Đức Giê-hô-va đã phán cùng các ngươi: &amp;quot;Đừng đi đến Ai Cập!&amp;quot; Các ngươi hãy biết rằng ngày nay ta đã cảnh cáo các ngươi. 20. Các ngươi đã giả dối trong lòng. Các ngươi đã nhờ ta đến với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi và nói với ta: &amp;quot;Xin vì chúng tôi mà khẩn cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta. Tất cả những gì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta phán, xin cho chúng tôi biết, thì chúng tôi sẽ thực hiện.&amp;quot; 21. Hôm nay ta đã công bố cho các ngươi, nhưng các ngươi không vâng theo tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời và cũng không làm theo điều nào mà Ngài đã sai ta truyền cho các ngươi. 22. Vì vậy, hãy biết chắc rằng các ngươi sẽ chết bởi gươm đao, đói kém và dịch bệnh tại chính nơi mà các ngươi muốn đến cư ngụ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Bấy giờ các người đầu đảng, Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, Giê-xa-nia, con trai Hô-sa-gia, và cả dân sự kẻ nhỏ người lớn, 2.  đều đến nói cùng tiên tri Giê-rê-mi rằng: Xin nhậm lời chúng tôi nài xin, và cầu thay Giê-hô-va Đức Chúa Trời ông cho chúng tôi, tức là những kẻ còn sót lại. Vả, chúng tôi trước vốn đông người, nay còn lại rất ít, như mắt ông có thấy. 3.  Xin Giê-hô-va Đức Chúa Trời ông, chỉ cho chúng tôi đường phải theo và sự phải làm! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Tiên tri Giê-rê-mi bèn đáp rằng: Ta nghe rồi. Nầy, ta sẽ cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, theo lời các ngươi đã xin. Phàm điều chi Đức Giê-hô-va trả lời, ta sẽ cho các ngươi biết, không giấu chút nào. 5.  Các người ấy nói cùng Giê-rê-mi rằng: Nếu chúng tôi không làm theo mọi lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời ông sẽ sai ông bảo cho chúng tôi, nguyền xin Đức Giê-hô-va làm chứng trung tín thật thà giữa chúng ta! 6.  Không cứ điều lành hoặc điều dữ, chúng tôi sẽ vâng theo tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, là Đấng mà chúng tôi sai ông đến; để khi vâng lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, thì chúng tôi sẽ được phước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Khỏi mười ngày, có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi. 8.  Người gọi Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, hết thảy các đầu đảng và cả dân sự, kẻ nhỏ người lớn đều đến, 9.  mà nói cùng họ rằng: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng các ngươi đã sai ta đến để tỏ lời cầu xin trước mặt Ngài, phán như vầy: 10.  Nếu các ngươi cứ ở trong đất nầy, thì ta sẽ gây dựng cho mà không phá đi, vun trồng cho mà không nhổ đi; vì ta ăn năn về sự họa mà ta đã giáng cho các ngươi. 11.  Chớ sợ vua Ba-by-lôn, là người các ngươi đang sợ; Đức Giê-hô-va phán, đừng sợ vua ấy, vì ta ở với các ngươi đặng cứu vớt và giải thoát các ngươi khỏi tay người. 12.  Ta sẽ thương xót các ngươi, hầu cho vua ấy cũng thương xót các ngươi, và cho các ngươi trở về trong đất mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13.  Nhưng nếu các ngươi nói rằng: Chúng tôi không khứng ở trong đất nầy; mà các ngươi không vâng theo tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, 14.  mà nói rằng: Không, chúng tôi muốn đi trong đất Ê-díp-tô, là nơi chúng tôi sẽ không thấy giặc giã nữa, sẽ không nghe tiếng kèn nữa, tại đó chúng tôi sẽ không thiếu bánh; ấy là nơi chúng tôi sẽ đến ở, 15.  thì, hỡi các ngươi, là dân Giu-đa còn sót kia, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Khi các ngươi xây mặt vào Ê-díp-tô đặng trú ngụ ở đó, 16.  thì gươm dao mà các ngươi sợ hãi sẽ đuổi kịp các ngươi trong đất Ê-díp-tô; sự đói kém mà các ngươi kinh khiếp cũng sẽ đuổi theo các ngươi trong Ê-díp-tô, và các ngươi sẽ chết tại đó. 17.  Ấy vậy, phàm những kẻ xây mặt vào Ê-díp-tô đặng trú ngụ ở đó, thì sẽ chết bởi gươm dao, đói kém, và ôn dịch. Trong bọn họ, chẳng có ai sống sót lại; chẳng có ai thoát khỏi họa mà ta sẽ giáng cho. 18.  Thật thế, Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Như cơn giận và sự thạnh nộ của ta đã đổ ra cho dân cư Giê-ru-sa-lem thể nào, thì, khi các ngươi vào Ê-díp-tô, cơn giận của ta cũng sẽ đổ ra cho các ngươi thể ấy; tại đó các ngươi sẽ làm cớ cho người ta trù ẻo, gở lạ, rủa sả, và sỉ nhục; và các ngươi sẽ chẳng lại thấy chỗ nầy nữa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19.  Hỡi các ngươi, là dân Giu-đa còn sót lại, Đức Giê-hô-va đã phán về các ngươi rằng: Chớ qua nước Ê-díp-tô; hãy biết rõ rằng ngày nay ta đã đối chứng cho các ngươi. 20.  Vì chính các ngươi làm sự dối trá nghịch cùng linh hồn mình; các ngươi đã sai ta đến cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, mà nói cùng ta rằng: Khá vì chúng tôi cầu thay nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi, và cho chúng tôi biết mọi điều Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi sẽ nói cùng ông; thì chúng tôi sẽ làm theo. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Vả, ngày nay ta đã bảo các ngươi rồi; nhưng các ngươi chẳng vâng theo tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi trong điều nào mà Ngài cậy ta truyền cho các ngươi. 22.  Bây giờ, hãy biết rõ rằng các ngươi sẽ chết bởi gươm dao, đói kém, ôn dịch, trong chỗ mà các ngươi muốn đến trú ngụ tại đó. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B24\V02B24C042.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''CHÚA Bảo Chớ Xuống Ai-cập'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Bấy giờ tất cả lãnh tụ các lực lượng kháng chiến, Giô-ha-nan con của Ca-rê-a, A-xa-ri-a con của Hô-sai-a, và mọi người từ nhỏ đến lớn, đều đến với 2 Tiên Tri Giê-rê-mi và nói, “Xin ông nhận lời yêu cầu của chúng tôi và làm ơn cầu nguyện với CHÚA, Ðức Chúa Trời của ông, cho chúng tôi, là tất cả những người còn sót lại đây, vì từ một dân đông đúc mà bây giờ chúng tôi chỉ còn lại một ít người này, như mắt ông đã thấy.  3 Nguyện CHÚA, Ðức Chúa Trời của ông, chỉ cho chúng tôi biết chúng tôi phải đi đâu và làm gì.” &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Tiên Tri Giê-rê-mi trả lời họ, “Ðược.  Này, tôi sẽ cầu nguyện với CHÚA, Ðức Chúa Trời của anh chị em, cho anh chị em, như lời anh chị em yêu cầu.  Hễ CHÚA trả lời cho anh chị em như thế nào, tôi sẽ nói lại cho anh chị em thể ấy.  Tôi sẽ không giữ lại điều gì mà không nói ra hết cho anh chị em biết.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Họ nói lại với Giê-rê-mi, “Nguyện CHÚA, Ðấng chân thật và thành tín, làm chứng cho chúng ta nếu chúng tôi không làm theo mọi điều mà CHÚA, Ðức Chúa Trời của ông, đã sai ông báo cho chúng tôi.  6 Bất kể việc đó lành hay dữ thế nào chúng tôi quyết sẽ vâng theo tiếng CHÚA, Ðức Chúa Trời chúng ta, Ðấng chúng tôi đã nhờ ông cầu thay, để chúng tôi sẽ được phước khi vâng theo tiếng CHÚA, Ðức Chúa Trời chúng ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Sau mười ngày, lời của CHÚA đến với Giê-rê-mi.  8 Bấy giờ ông mời Giô-ha-nan con của Ca-rê-a, tất cả lãnh tụ các lực lượng kháng chiến đi với ông ấy, và mọi người từ nhỏ đến lớn đến, 9 rồi ông nói với họ, “CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, Ðấng anh chị em đã nhờ tôi trình dâng lời cầu xin của anh chị em trước mặt Ngài, phán thế này, 10 ‘Nếu các ngươi cứ ở lại trong xứ thì Ta sẽ xây dựng các ngươi lên chứ không kéo đổ các ngươi xuống.  Ta sẽ trồng ngươi xuống, chứ không nhổ các ngươi lên, vì Ta lấy làm tiếc về tai họa Ta đã giáng trên các ngươi.  11 Chớ sợ vua Ba-by-lôn như các ngươi đang sợ; chớ sợ nó,’ CHÚA phán, ‘vì Ta ở với các ngươi, để cứu các ngươi và giải thoát các ngươi khỏi tay nó.  12 Ta sẽ thương xót các ngươi, và khiến nó thương xót các ngươi và cho các ngươi trở về xứ của các ngươi.  13 Nhưng nếu các ngươi nói, “Chúng tôi sẽ không ở trong xứ này đâu,” như thế các ngươi không vâng theo tiếng CHÚA, Ðức Chúa Trời của các ngươi, 14 và nói rằng, “Không, chúng tôi sẽ đi đến đất Ai-cập, nơi đó chúng tôi sẽ không còn thấy chiến tranh, hoặc phải nghe tiếng kèn xung trận, hoặc phải lo không có bánh ăn, và đó là nơi chúng tôi sẽ đến ở.”’  15 Nếu thế thì hỡi những kẻ còn sót lại của Giu-đa, hãy nghe lời của CHÚA.  CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên phán thế này, ‘Nếu các ngươi quyết định di cư vào Ai-cập và đến định cư ở đó, 16 thì gươm giáo các ngươi sợ sẽ đuổi theo các ngươi đến đó, trong đất Ai-cập, nạn đói các ngươi sợ sẽ theo sát các ngươi vào Ai-cập, và các ngươi sẽ chết tại đó.  17 Tất cả những kẻ quyết định đi đến Ai-cập để sống ở đó sẽ bị gươm giáo, nạn đói, và ôn dịch mà chết ở đó.  Sẽ không còn ai sống sót hoặc thoát khỏi tai họa Ta sẽ giáng trên chúng.’  18 Vì CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên phán thế này, ‘Như cơn giận của Ta và cơn thịnh nộ của Ta giáng xuống trên dân cư Giê-ru-sa-lem thể nào, cơn thịnh nộ của Ta cũng sẽ giáng xuống trên các ngươi khi các ngươi đi đến Ai-cập cũng thể ấy.  Các ngươi sẽ thành một đối tượng để bị khinh bỉ, gớm ghiếc, nguyền rủa, và sỉ nhục.  Các ngươi sẽ không được thấy xứ này nữa.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Hỡi những người còn sót lại của Giu-đa, CHÚA phán với anh chị em, ‘Chớ đi đến Ai-cập.’  Hãy biết rằng ngày nay tôi đã báo trước cho anh chị em rồi.  20 Anh chị em đã sai lầm rất nghiêm trọng, vì anh chị em đã nhờ tôi đến với CHÚA, Ðức Chúa Trời của anh chị em, mà rằng, ‘Hãy cầu nguyện với CHÚA, Ðức Chúa Trời chúng ta, cho chúng tôi.  Bất cứ điều gì CHÚA, Ðức Chúa Trời chúng ta, phán bảo, xin nói lại với chúng tôi, chúng tôi sẽ làm theo.’  21 Thế nhưng ngày nay sau khi tôi nói lại với anh chị em, anh chị em lại quyết định không vâng lời của CHÚA, Ðức Chúa Trời của anh chị em, mà không làm theo bất cứ điều gì Ngài sai tôi nói với anh chị em.  22 Vì vậy khá biết rằng anh chị em sẽ chết bằng gươm giáo, nạn đói, và ôn dịch ở nơi anh chị em muốn đến và định cư.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Ê-sai]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 41]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 43]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_41&amp;diff=35628</id>
		<title>Giê-rê-mi: Chương 41</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_41&amp;diff=35628"/>
		<updated>2025-12-31T13:56:19Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vào tháng Bảy, Ích-ma-ên - con trai của Nê-tha-nia, cháu của Ê-li-sa-ma, thuộc hoàng tộc, và là một quan lớn của vua - đã cùng với mười người đến gặp Ghê-đa-lia, con trai của A-hi-cam, tại Mích-ba. Họ đã cùng ăn với nhau tại Mích-pa. 2. Ích-ma-ên - con của trai Nê-tha-nia, cùng với mười người đi theo ông, đã đứng dậy dùng gươm giết chết Ghê-đa-lia - con trai của A-hi-cam, cháu của Sa-phan - là người mà vua Ba-by-lôn đã lập làm tổng trấn trong xứ. 3. Ích-ma-ên cũng giết tất cả những người Giu-đa đang ở với Ghê-đa-lia tại Mích-ba, và những binh lính Canh-đê đang ở đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4. Đến ngày thứ hai sau khi ám sát Ghê-đa-lia, lúc đó vẫn chưa ai biết, 5. có tám mươi người từ Si-chem, Si-lô, Sa-ma-ri đến. Họ cạo râu, mặc áo rách, tự rạch thân mình, tay mang những tế lễ chay và nhũ hương để dâng trong nhà của Đức Giê-hô-va. 6. Ích-ma-ên - con trai của Nê-tha-nia, từ Mích-ba đi ra đón họ, ông vừa đi vừa khóc. Khi gặp họ, Ích-ma-ên nói: Hãy đến gặp Ghê-đa-lia - con trai của A-hi-cam. 7. Khi họ đã vào giữa thành, Ích-ma-ên - con trai Nê-tha-nia, cùng với những người theo ông, đã giết họ rồi quăng xác xuống một cái hố. 8. Nhưng có mười người trong số họ nói với Ích-ma-ên: Xin đừng giết chúng tôi, bởi vì chúng tôi có những kho ngoài đồng, chứa lúa mì, tiểu mạch, dầu, và mật ong. Vì vậy, Ích-ma-ên đã ngưng lại, không giết họ như những anh em của họ. 9. Cái hố mà Ích-ma-ên - con trai của Nê-tha-nia, quăng xác của những người mình đã giết về việc Ghê-đa-lia, là cái hố mà vua A-sa đã đào vì sợ Ba-ê-sa, vua của Y-sơ-ra-ên. Ích-ma-ên - con trai của Nê-tha-nia, đã lấp đầy hố đó với những người bị giết. 10. Ích-ma-ên đã bắt tất cả những người còn lại tại Mích-ba, thậm chí các công chúa, tức là hết thảy dân chúng mà Nê-bu-xa-a-đan, chỉ huy quân thị vệ, chừa lại tại Mích-ba, dưới quyền cai trị của Ghê-đa-lia - con trai A-hi-cam. Ích-ma-ên - con trai của Nê-tha-nia, đã bắt họ, rồi dẫn về xứ của dân Am-môn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Giô-ha-nan - con trai của Ca-rê-át, cùng với tất cả những chỉ huy của các lực lượng theo ông, đã nghe tất cả những việc tàn ác mà Ích-ma-ên - con trai của Nê-tha-nia, đã làm. 12. Họ đã tập họp tất cả nhân lực đi đánh Ích-ma-ên - con trai của Nê-tha-nia. Họ đã gặp hắn gần những ao lớn tại Ghi-bê-ôn. 13. Vì vậy, khi đoàn dân đang ở với Ích-ma-ên thấy Giô-ha-nan - con trai của Ca-rê-át, và những chỉ huy dưới quyền của ông, thì họ vui mừng. 14. Tất cả những người, bị Ích-ma-ên bắt dẫn đi từ Mích-ba, đã quay lại và đi theo Giô-ha-nan - con trai của Ca-rê-át. 15. Ích-ma-ên - con trai của Nê-tha-nia, cùng với tám người, đã thoát khỏi tay của Giô-ha-nan, chạy về với dân Am-môn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Giô-ha-nan - con trai của Ca-rê-át, cùng với tất cả chỉ huy của những lực lượng theo ông, đã dẫn tất cả những người còn lại mà họ giải cứu khỏi tay Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-mia, bị dẫn đi từ Mích-ba sau khi giết Ghê-đa-lia - con trai của A-hi-cam, gồm những chiến binh, phụ nữ, trẻ em, và những hoạn quan -  là những người ông đã đem trở lại từ Ga-ba-ôn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Họ đã khởi hành, rồi dừng lại tại Ghê-rút Kim-ham, gần Bết-lê-hem, trên đường xuống Ai Cập. 18. Họ sợ người Canh-đê bởi vì Ích-ma-ên - con trai của Nê-tha-nia, đã ám sát Ghê-đa-lia - con trai của A-hi-cam, là người mà vua Ba-by-lôn đã lập làm tổng trấn trong xứ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Tháng bảy, Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, cháu Ê-li-sa-ma, vốn dòng tôn thất, và làm một bật đại thần của vua, đem mười người với mình đến cùng Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, tại Mích-ba. Họ ăn bánh với nhau tại đó. 2.  Đoạn, Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, cùng mười người đi với mình đứng dậy lấy gươm đánh Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, cháu Sa-phan, và giết người, tức là người mà vua Ba-by-lôn lập làm tổng đốc trong đất như vậy. 3.  Ích-ma-ên cũng giết luôn mọi người Giu-đa đang ở với Ghê-đa-lia tại Mích-ba, và lính chiến người Canh-đê ở đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4.  Ngày thứ hai sau khi người đã giết Ghê-đa-lia, chưa ai biết sự đó, 5.  thì có tám mươi người cạo râu, mặc áo rách, tự cắt mình, từ Si-chem, Si-lô, Sa-ma-ri mà đến, cầm những của lễ chay và nhũ hương trong tay mình đặng đem đến nhà Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, từ Mích-ba ra đón các người ấy, vừa đi vừa khóc. Khi đến cùng họ rồi, nói rằng: Hãy đến cùng Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam. 7.  Vừa khi những người đó đi đến giữa thành, Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, cùng những kẻ đi với mình, giết bọn họ và quăng thây xuống hố. 8.  Nhưng trong bọn họ có mười người nói với Ích-ma-ên rằng: Chớ giết chúng tôi, vì chúng tôi có những đồ lương thực giấu trong đồng; lúa mì, tiểu mạch, dầu, và mật. Ích-ma-ên bèn thôi, không giết họ luôn với anh em họ. 9.  Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, quăng những thây mình đã giết vào trong hố, ở kề bên Ghê-đa-lia, tức là hố vua A-sa đã đào, vì sợ Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên. Ấy là cùng một cái hố đó mà Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, đã lấp đầy xác chết. 10.  Đoạn, Ích-ma-ên bắt hết thảy dân sự còn sót lại tại Mích-ba đem đi làm phu tù; tức các con gái vua, và cả dân bỏ lại ở Mích-ba mà quan làm đầu thị vệ Nê-bu-xa-A-đan đã giao phó cho Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam. Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, bắt những người ấy điệu đi làm phu tù, và đi qua nơi con cái Am-môn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Khi Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, và các người đầu đảng theo mình, nghe mọi điều ác mà Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, đã làm, 12.  thì nhóm mọi thủ hạ mình lại và khởi đi đánh Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, và đuổi kịp tại nơi gần hồ lớn Ga-ba-ôn. 13.  Có xảy ra, khi đội quân theo Ích-ma-ên ngó thấy Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, và hết thảy các tướng đầu đảng ở với người thì thảy đều vui mừng. 14.  Cả dân mà Ích-ma-ên đã điệu đi từ Mích-ba đều trở mặt về với Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át. 15.  Còn Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, thì cùng tám người trốn khỏi Giô-ha-nan và đi đến nơi con cái Am-môn. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16.  Giô-ha-nan, con trai Ca-rê-át, cùng các tướng đầu đảng theo mình chiếm lấy đội binh mới vừa giải cứu khỏi tay Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-mia, khi Ích-ma-ên kéo đi từ Mích-ba sau lúc giết Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam. Hết thảy những lính chiến, đàn bà, trẻ con hoạn quan, Giô-ha-nan đều từ Ga-ba-ôn đem về. 17.  Họ khởi đi và đỗ tại trạm Kim-ham, gần Bết-lê-hem, đặng rút qua Ê-díp-tô, 18.  xa người Canh-đê; vì sợ người Canh-đê, bởi cớ Ích-ma-ên, con trai Nê-tha-nia, giết Ghê-đa-lia, con trai A-hi-cam, là người mà vua Ba-by-lôn đã lập làm tổng đốc trong đất. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B24\V02B24C041.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Ghê-đa-li-a Bị Ám Sát'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vào tháng bảy, Ích-ma-ên con của Nê-tha-ni-a con của Ê-li-sa-ma, một người trong hoàng tộc, cũng là một trong các đại thần của vua, dẫn mười người đến gặp Ghê-đa-li-a con của A-hi-cam ở Mích-pa.  Ðang khi họ dùng bữa với nhau tại Mích-pa, 2 Ích-ma-ên con của Nê-tha-ni-a và mười người đi với ông đứng dậy dùng gươm đánh hạ và giết chết Ghê-đa-li-a con của A-hi-cam con của Sa-phan, bởi vì vua Ba-by-lôn đã lập ông ấy làm tổng trấn trong xứ.  3 Ích-ma-ên cũng giết luôn mọi người Giu-đa đang ở với Ghê-đa-li-a tại Mích-pa, ngoài ra ông cũng giết các chiến sĩ của quân Canh-đê tình cờ có mặt tại đó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Ngày hôm sau, sau ngày Ghê-đa-li-a bị giết, trước khi ai biết gì về việc ấy, 5 có tám mươi người từ Si-chem, Si-lô, và Sa-ma-ri, râu cạo sạch, quần áo xé rách, mình đầy vết rạch, mang các của lễ chay và hương thơm đến nhà CHÚA để dâng.  6 Ích-ma-ên con của Nê-tha-ni-a từ Mích-pa đi ra đón họ.  Ông vừa đi vừa khóc.  Khi gặp họ ông nói với họ, “Xin mời vào gặp Ghê-đa-li-a con của A-hi-cam.”  7 Khi họ vào giữa thành, Ích-ma-ên con của Nê-tha-ni-a và các thuộc hạ của ông đã bất thần tấn công, giết những người ấy, rồi quăng xác họ vào một cái hố.  8 Nhưng trong số những người ấy có mười người đã nói với Ích-ma-ên, “Xin đừng giết chúng tôi.  Chúng tôi có giấu lúa mì, lúa mạch, dầu, và mật trong các cánh đồng.”  Vì thế ông dừng tay lại và không giết họ chung với những người cùng đi với họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Cái hố mà Ích-ma-ên đã quăng xác của những người ông giết cùng với Ghê-đa-li-a là một hố lớn do Vua A-sa đã đào trước kia để làm công sự phòng thủ nhằm đối phó với Vua Ba-a-sa của I-sơ-ra-ên.  Ích-ma-ên con của Nê-tha-ni-a lấp đầy hố đó bằng xác của những người ông giết.  10 Ích-ma-ên bắt làm tù binh tất cả những người còn lại ở Mích-pa, gồm các công chúa và tất cả những người còn lại ở Mích-pa, tức những người do Nê-bu-xa-ra-đan quan chỉ huy quân thị vệ đã trao cho Ghê-đa-li-a con của A-hi-cam lãnh đạo.  Ích-ma-ên con của Nê-tha-ni-a bắt họ làm tù binh, rồi dẫn họ đi qua xứ của dân Am-môn.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Khi Giô-ha-nan con của Ca-rê-a và tất cả lãnh tụ các lực lượng kháng chiến đi với ông nghe các việc ác Ích-ma-ên con của Nê-tha-ni-a đã làm, 12 họ đem toàn lực lượng đi đánh Ích-ma-ên con của Nê-tha-ni-a.  Họ đuổi theo và gặp ông ấy tại một ao lớn ở Ghi-bê-ôn.  13 Khi mọi người đã bị Ích-ma-ên bắt làm tù binh thấy Giô-ha-nan con của Ca-rê-a và tất cả lãnh tụ các lực lượng kháng chiến đi với ông họ rất mừng.  14 Tất cả những người đã bị Ích-ma-ên bắt làm tù binh ở Mích-pa liền quay lại, trở về, và đi theo Giô-ha-nan con của Ca-rê-a.  15 Nhưng Ích-ma-ên con của Nê-tha-ni-a cùng với tám người của ông ấy đã chạy thoát khỏi Giô-ha-nan và đến với dân Am-môn.  16 Giô-ha-nan con của Ca-rê-a và tất cả lãnh tụ các lực lượng kháng chiến đi với ông tiếp thu tất cả những người còn sót lại mà Ích-ma-ên con của Nê-tha-ni-a đã bắt làm tù binh ở Mích-pa sau khi ông ấy đã giết chết Ghê-đa-li-a con của A-hi-cam; đó là các binh sĩ, các phụ nữ, các trẻ em, và các thái giám; họ là những người Giô-ha-nan dẫn từ Ghi-bê-ôn trở về.  17 Họ lên đường và dừng lại ở Ghê-rút Kim-ham gần Bết-lê-hem.  Họ dự tính sẽ đi xuống Ai-cập, 18 vì họ sợ quân Canh-đê.  Sở dĩ họ sợ quân Canh-đê vì Ích-ma-ên con của Nê-tha-ni-a đã giết chết Ghê-đa-li-a con của A-hi-cam, người đã được vua Ba-by-lôn lập làm tổng trấn trong xứ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Ê-sai]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 40]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 42]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_37&amp;diff=35627</id>
		<title>Giê-rê-mi: Chương 37</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_37&amp;diff=35627"/>
		<updated>2025-12-31T13:55:43Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, đã lập Sê-đê-kia, con trai của Giô-si-a, làm vua Giu-đa thay cho Giê-cô-nia, con trai của Giê-hô-gia-kim. 2. Nhưng ông, triều thần của ông, và dân chúng trong xứ đều không nghe lời của Đức Giê-hô-va phán qua Tiên tri Giê-rê-mi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Vua Sê-đê-kia sai Giê-hu-can, con trai của Sê-lê-mia, và Tư tế Sô-phô-ni, con trai của Ma-a-xê-gia, đến nói với Tiên tri Giê-rê-mi: &amp;quot;Xin ông hãy vì chúng tôi cầu khẩn Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta.” 4. Lúc nầy Giê-rê-mi còn đi lại giữa dân chúng, vì họ chưa giam ông vào tù. 5. Khi đó, quân đội của Pha-ra-ôn đã rời khỏi Ai Cập. Khi người Canh-đê đang bao vây Giê-ru-sa-lem nghe tin nầy, họ đã rời khỏi Giê-ru-sa-lem.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Sau đó, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Tiên tri Giê-rê-mi rằng: 7. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán: Các ngươi hãy nói lại với vua Giu-đa, là người đã sai các ngươi đến cầu hỏi Ta, rằng: Hãy xem! Quân đội của Pha-ra-ôn - đã đi lên để cứu các ngươi - sẽ quay về xứ sở của chúng là Ai Cập. 8. Sau đó, người Canh-đê sẽ quay lại đánh thành nầy. Chúng sẽ chiếm và phóng hỏa đốt thành. 9. Đức Giê-hô-va phán: Các ngươi đừng tự lừa dối với chính mình rằng: &amp;quot;Người Canh-đê chắc chắn sẽ rút khỏi chúng ta&amp;quot; - Bởi vì chúng sẽ không rút đi. 10. Dù các ngươi có đánh bại cả đạo quân Canh-đê, là những người đã giao chiến với các ngươi, thì số người còn sót lại của chúng, là những người bị thương trong trại của mình, thì mỗi người cũng sẽ trỗi dậy phóng hỏa đốt thành nầy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11. Sau đó, quân đội Canh-đê đã rút khỏi Giê-ru-sa-lem vì sợ quân đội của Pha-ra-ôn. 12. Giê-rê-mi đã rời khỏi Giê-ru-sa-lem, đến xứ Bên-gia-min để nhận phần sản nghiệp của mình giữa vòng dân chúng tại đó. 13. Nhưng khi ông đến cổng Bên-gia-min, viên chỉ huy canh gác tên là Gi-rê-gia, con trai của Sê-lê-mia, cháu của Ha-na-nia đã bắt ông, rồi nói: &amp;quot;Ngươi đào tẩu theo người Canh-đê!&amp;quot; 14. Giê-rê-mi trả lời: “Nói láo! Ta không đào tẩu theo người Canh-đê.” Nhưng Gi-rê-gia không nghe, nên bắt Giê-rê-mi, rồi giải về cho các quan chức. 15. Các quan chức nổi giận với Giê-rê-mi. Họ chúng đánh ông, rồi giam ông trong nhà của Giô-na-than - viên ký lục, bởi vì họ đã dùng căn nhà đó làm nhà tù. 16. Giê-rê-mi đã bị nhốt trong một hầm tối trong nhà ngục. Giê-rê-mi đã ở tại đó nhiều ngày.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Sau đó, vua Sê-đê-kia sai đưa ông ra khỏi nơi đó, rồi bí mật hỏi ông trong cung điện rằng: “Có sứ điệp nào từ Đức Giê-hô-va hay không?” Giê-rê-mi trả lời: “Thưa có!” Rồi ông nói: “Ngài sẽ bị nộp vào tay của vua Ba-by-lôn.” 18. Giê-rê-mi cũng nói với vua Sê-đê-kia: “Tôi đã làm điều gì xúc phạm với ngài, quần thần của ngài, hay với dân nầy, mà ngài đã giam tôi trong tù?&amp;quot; 19. Các tiên tri của ngài, là những người đã nói tiên tri với ngài rằng &amp;quot;Vua Ba-by-lôn sẽ không đến tấn công ngài và đất nước nầy&amp;quot;, bây giờ họ ở đâu rồi? 20. Bây giờ, xin vua là chúa của tôi, vui lòng lắng nghe và chấp nhận lời thỉnh cầu của tôi. Xin đừng trả tôi trở về nhà của Giô-na-than, là viên ký lục. Xin đừng để tôi chết tại đó.”  21. Vua Sê-đê-kia đã truyền cho họ giữ Giê-rê-mi tại sân của vệ binh, mỗi ngày họ cấp cho ông một chiếc bánh từ phố hàng bánh, cho đến khi bánh trong thành không còn nữa. Vì vậy, Giê-rê-mi đã ở lại trong sân của vệ binh.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Sê-đê-kia, con trai Giô-si-a, trị vì thay cho Giê-cô-nia, con trai Giê-hô-gia-kim, vì vua của Ba-by-lôn là Nê-bu-cát-nết-sa đã lập người lên làm vua đất Giu-đa. 2.  Nhưng vua cùng bầy tôi và dân sự trong đất đều không nghe những lời mà Đức Giê-hô-va đã phán bởi miệng tiên tri Giê-rê-mi. 3.  Vua Sê-đê-kia sai Giê-hu-can, con trai Sê-lê-mia, và Sô-phô-ni, con trai thầy tế lễ Ma-a-sê-gia, đến cùng tiên tri Giê-rê-mi mà nói rằng: Xin vì chúng tôi cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta. 4.  Bấy giờ Giê-rê-mi còn đang đi lại trong dân sự, chưa bị bỏ tù. 5.  Đạo binh của Pha-ra-ôn đã ra từ Ê-díp-tô; những người Canh-đê đang vây thành Giê-ru-sa-lem nghe tin đó, thì mở vây khỏi thành ấy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Bấy giờ, có lời Đức Giê-hô-va phán cho tiên tri Giê-rê-mi rằng: 7.  Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Các ngươi khá tâu cùng vua Giu-đa, là người đã sai các ngươi đến hỏi ta, rằng: Nầy, đạo binh của Pha-ra-ôn đã ra cứu các ngươi, thì sẽ lui về đất mình, tức trong Ê-díp-tô. 8.  Những người Canh-đê sẽ trở lại, đánh thành nầy, chiếm lấy, và dùng lửa đốt đi. 9.  Đức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi chớ tự dối mình mà rằng: Người Canh-đê chắc sẽ đi khỏi chúng ta; vì chúng nó sẽ không dời khỏi đâu. 10.  Dầu các ngươi đánh cả đạo binh của người Canh-đê đến đánh trận nghịch cùng các ngươi, trong chúng nó chỉ còn lại những kẻ bị thương tích, nhưng ai nấy cũng sẽ từ trong trại mình dấy lên mà dùng lửa đốt thành nầy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11.  Khi đạo binh người Canh-đê mở vây khỏi thành Giê-ru-sa-lem, vì sợ đạo binh Pha-ra-ôn, 12.  thì Giê-rê-mi ra khỏi Giê-ru-sa-lem đặng đi trong đất Bên-gia-min, để nhận phần của mình giữa dân đó. 13.  Nhưng lúc đến cửa Bên-gia-min, thì có người đốc canh tên là Gi-rê-gia, con trai Sê-lê-mia, cháu Ha-na-nia, ở đó; tên nầy bắt tiên tri Giê-rê-mi mà rằng: Ngươi là kẻ hàng đầu người Canh-đê! 14.  Giê-rê-mi đáp rằng: Nói bướng! ta không hàng đầu người Canh-đê đâu. Nhưng Gi-rê-gia không nghe, cứ bắt Giê-rê-mi mà dắt đến trước mặt các quan trưởng. 15.  Các quan trưởng giận Giê-rê-mi; bèn đánh đòn và giam trong nhà thơ ký Giô-na-than; vì người ta lấy nhà đó làm cái ngục. 16.  Giê-rê-mi bị bỏ trong ngục, trong buồng tối như vậy, và người ở đó lâu ngày. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Đoạn, vua Sê-đê-kia sai đem Giê-rê-mi ra, và hỏi kín người tại trong cung mình, rằng: Đức Giê-hô-va có phán lời gì chăng? Giê-rê-mi thưa: Có, đoạn tiếp rằng: Vua sẽ bị nộp trong tay vua Ba-by-lôn. 18.  Kế đó, Giê-rê-mi nói cùng vua Sê-đê-kia rằng: Tôi có phạm tội gì nghịch cùng vua, bầy tôi của vua, và dân nầy, mà bỏ tù tôi? 19.  Các tiên tri đã nói tiên tri rằng: Vua Ba-by-lôn sẽ không đến đánh các ngươi, đánh đất nầy, thì nay ở đâu? 20.  Bây giờ, Hỡi vua, chúa tôi, xin hãy nghe, mong rằng lời cầu xin của tôi được vua nhận lấy! Xin chớ giao tôi lại trong nhà thơ ký Giô-na-than, kẻo tôi sẽ chết tại đó. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Vua Sê-đê-kia bèn truyền giữ Giê-rê-mi trong nơi hành lang lính canh, mỗi ngày phát cho một chiếc bánh của phố hàng bánh, cho đến chừng bánh trong thành hết trơn. Giê-rê-mi ở trong hành lang lính canh là như vậy. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B24\V02B24C037.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Xê-đê-ki-a Hy Vọng Hão Huyền'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Xê-đê-ki-a con của Giô-si-a, người được Nê-bu-cát-nê-xa vua Ba-by-lôn lập lên làm vua trị vì nước Giu-đa, thế vị cho Cô-ni-a con của Giê-hô-gia-kim.  2 Nhưng ông, triều thần của ông, và dân trong nước đều không muốn nghe lời của CHÚA đã phán qua Tiên Tri Giê-rê-mi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 Vua Xê-đê-ki-a sai Giê-hu-canh con của Sê-lê-mi-a và Tư Tế Sô-phô-ni-a con của Ma-a-sê-gia đến gặp Tiên Tri Giê-rê-mi, nói rằng, “Xin ông cầu nguyện với CHÚA, Ðức Chúa Trời chúng ta, cho chúng tôi.”  4 Vả lúc ấy Giê-rê-mi vẫn còn được tự do đi lại giữa dân, chứ chưa bị giam vào tù.  5 Khi ấy quân đội của Pha-ra-ôn đã kéo ra khỏi Ai-cập.  Khi quân Canh-đê đang bao vây Giê-ru-sa-lem nghe tin ấy, họ rút đi khỏi Giê-ru-sa-lem.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Bấy giờ có lời của CHÚA đến với Tiên Tri Giê-rê-mi: 7 “CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này, ‘Ðây là những gì quý vị hãy tâu lại với vua Giu-đa, người đã sai quý vị đến với tôi để hỏi tôi, “Này, quân đội của Pha-ra-ôn đã kéo ra để giúp đỡ quý vị sẽ rút về xứ của họ ở Ai-cập.  8 Quân Canh-đê sẽ trở lại và công phá thành này.  Chúng sẽ chiếm lấy thành và phóng hỏa thành.”’  9 CHÚA phán thế này, ‘Chớ tự dối mình mà bảo rằng, “Quân Canh-đê chắc chắn sẽ bỏ chúng ta mà đi,” vì chúng sẽ không bỏ đi.  10 Ví dù các người có thể đánh bại toàn thể đội quân Canh-đê đi nữa, thì chỉ những kẻ bị thương nằm dưỡng thương trong các trại của chúng cũng có thể trỗi dậy mà thiêu rụi thành này trong lửa.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giê-rê-mi Bị Tù vì Nói Thật'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Lúc ấy quân Canh-đê đã rút ra khỏi Giê-ru-sa-lem để đối phó với quân của Pha-ra-ôn đang tiến gần; 12 nhân cơ hội đó Giê-rê-mi rời khỏi Giê-ru-sa-lem, đến lãnh thổ của chi tộc Bên-gia-min, để nhận lấy phần bất động sản của ông ở giữa chi tộc của ông ở đó.  13 Nhưng khi ông vừa đến Cổng Bên-gia-min, quan chỉ huy ở đó tên là I-ri-gia con của Sê-lê-mi-a con của Ha-na-ni-a liền bắt Tiên Tri Giê-rê-mi và buộc tội rằng, “Ông định bỏ trốn qua với quân Canh-đê.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Giê-rê-mi đáp, “Ông nói không đúng sự thật.  Tôi không hề có ý định trốn qua với quân Canh-đê.”  Nhưng I-ri-gia chẳng thèm nghe ông.  Ông ấy cứ bắt Giê-rê-mi và đem nộp ông cho các quan trưởng.  15 Các quan trưởng nổi giận với Giê-rê-mi, họ đánh ông, rồi nhốt ông vào ngục, trong dinh của quan Thư Ký Giô-na-than, vì dinh ấy đã được biến thành một nhà tù.  16 Thế là Giê-rê-mi bị giam dưới hầm, trong ngục thất; và ông bị giam giữ ở đó nhiều ngày.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Sau đó Vua Xê-đê-ki-a sai người đến mời ông và tiếp riêng ông.  Vua hỏi riêng ông trong cung điện mình rằng, “Có lời gì của CHÚA cho tôi không?”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Giê-rê-mi đáp, “Có!” Ông nói tiếp, “Ngài sẽ bị phó vào tay vua Ba-by-lôn.”  18 Giê-rê-mi cũng nói với Vua Xê-đê-ki-a, “Tôi đã làm điều gì sai đối với ngài, hoặc đối với bầy tôi của ngài, hoặc đối với dân này mà ngài đã bắt giam tôi vào ngục?  19 Các tiên tri của ngài, những người đã nói tiên tri với ngài rằng, ‘Vua Ba-by-lôn sẽ không đến tấn công ngài và đất nước này’ bây giờ đâu rồi?  20 Vậy bây giờ xin chúa thượng đoái nghe điều tôi cầu xin ngài: xin đừng trả tôi lại dinh của quan Thư Ký Giô-na-than, kẻo tôi sẽ chết ở đó.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 Vua Xê-đê-ki-a ra lịnh, và họ đem Giê-rê-mi đến giam trong nhà giam ở doanh trại của đội quân thị vệ.  Mỗi ngày người ta cấp cho ông một ổ bánh do Phố Hàng Bánh cung cấp cho đến khi bánh trong thành không còn nữa.  Vậy Giê-rê-mi được giữ lại trong nhà giam ở doanh trại của đội quân thị vệ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Ê-sai]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 36]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 38]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_34&amp;diff=35626</id>
		<title>Giê-rê-mi: Chương 34</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_34&amp;diff=35626"/>
		<updated>2025-12-31T13:55:05Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Khi Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn, cùng toàn thể quân lực của vua, tất cả những vương quốc trên đất dưới quyền tể trị của vua và tất cả những dân tộc dưới quyền tể trị của vua, tấn công Giê-ru-sa-lem và những thành trực thuộc, có lời từ Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi rằng: 2. Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Ngươi hãy đến nói với Sê-đê-kia, vua của Giu-đa. Hãy bảo người rằng Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nầy, Ta sẽ phó thành nầy vào tay của vua Ba-by-lôn, người sẽ dùng lửa đốt nó. 3. Ngươi sẽ không thoát khỏi tay của người, nhưng chắc chắn ngươi sẽ bị bắt, và bị nộp vào tay người. Ngươi sẽ thấy vua Ba-by-lôn mắt tận mắt và nói chuyện với người mặt tận mặt, rồi ngươi sẽ đi qua Ba-by-lôn. 4. Hỡi Sê-đê-kia, vua của Giu-đa. Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Ngươi sẽ không chết vì gươm. 5. Ngươi sẽ chết cách bình an. Người ta đã đốt hương để tưởng nhớ đến tổ tiên của ngươi, tức các vua trước ngươi, họ cũng sẽ đốt hương cho ngươi và thương tiếc ngươi: “Ôi, chúa thượng!” Vì chính Ta phán những điều nầy. Đức Giê-hô-va phán như vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Tiên tri Giê-rê-mi đã thuật lại cho Sê-đê-kia, vua Giu-đa, tất cả những lời nầy tại Giê-ru-sa-lem, 7. trong khi quân đội của vua Ba-by-lôn đang đánh Giê-ru-sa-lem, và tấn công những thành còn lại của Giu-đa: tấn công La-ki, tấn công A-xê-ca, bởi vì đó là những thành kiên cố còn sót lại của Giu-đa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Sau khi vua Sê-đê-kia lập giao ước với toàn thể dân chúng tại Giê-ru-sa-lem, công bố sự tự do cho họ, thì có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi rằng: 9. Mỗi người phải phóng thích nam nô lệ và nữ nô lệ của mình, là người Hê-bơ-rơ nam và người Hê-bơ-rơ nữ, để không một người anh em Do-thái nào còn bị giữ để làm nô lệ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Tất cả các quan chức và dân chúng, là những người tham dự vào giao ước nầy, khi nghe mỗi người phải trả tự do cho nam nô lệ và nữ nô lệ của mình, không ai được giữ lại nô lệ nữa. Họ đã vâng lời và phóng thích những người đó. 11. Nhưng sau đó họ đã đổi ý. Họ bắt lại những nam nô lệ và nữ nô lệ mà họ đã phóng thích, buộc họ phải làm nam nô lệ và nữ nô lệ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Vì vậy, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi. 13. Giê-hô-va, Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Ta đã lập giao ước với tổ phụ của các ngươi khi Ta đem họ ra khỏi đất Ai Cập, khỏi nhà nô lệ. Ta đã truyền: 14. Đến năm thứ bảy, mỗi người trong các ngươi phải trả tự do cho những đồng hương người Hê-bơ-rơ đã bị bán cho mình làm nô lệ. Ngươi phải trả tự do cho người đã phục vụ ngươi sáu năm. Tuy nhiên, tổ phụ các ngươi đã không vâng lời Ta và cũng không lắng tai nghe. 15. Gần đây, các ngươi đã trở lại, làm một điều đúng trước mặt Ta. Mỗi người công bố sự phóng thích những đồng hương của mình. Các ngươi đã lập một giao ước trước mặt Ta trong nhà được gọi bằng danh của Ta. 16. Nhưng các ngươi đã thay đổi, đã làm nhục danh của Ta, mỗi người đã bắt lại nam nô lệ và nữ nô lệ đã được phóng thích theo lòng mong ước của họ. Các ngươi đã buộc họ làm nam nô lệ và nữ nô lệ cho các ngươi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Các ngươi đã không vâng lời Ta công bố sự phóng thích những người đồng chủng tộc với các ngươi và những người thân cận với các ngươi để họ được tự do. Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ phóng thích những thứ nầy để chúng được tự do đến với các ngươi là gươm đao, ôn dịch, và nạn đói. Ta sẽ khiến các ngươi bị kinh tởm trong mọi vương quốc trên đất. 18. Những người vi phạm giao ước của Ta, không thực hiện những lời trong giao ước mà chúng đã lập trước mặt Ta, khi chúng xẻ đôi con bò con để đi ngang qua giữa hai phần. 19. Các lãnh đạo của Giu-đa, các lãnh đạo của Giê-ru-sa-lem, các thái giám, các tư tế, và tất cả những kẻ ở trong xứ đã đi ngang qua giữa những phần của con bò con. 20. Ta sẽ trao chúng vào tay những kẻ thù của chúng, tức là vào tay những kẻ tìm cách lấy sinh mạng của chúng. Thây của chúng sẽ làm thức ăn cho chim trời và thú dữ trên đất. 21. Ta sẽ trao Sê-đê-kia, vua của Giu-đa, cùng với những triều thần vào tay quân thù của chúng, vào tay những kẻ tìm cách lấy sinh mạng của chúng, vào tay quân đội của vua Ba-by-lôn đã rút khỏi các ngươi. 22. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, Ta sẽ truyền cho chúng quay trở lại thành nầy. Chúng sẽ đánh, sẽ chiếm, rồi phóng hỏa đốt thành. Ta sẽ làm cho các thành của Giu-đa trở nên hoang tàn không có người cư ngụ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Nầy là lời từ nơi Đức Giê-hô-va phán cho Giê-rê-mi, khi Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, cùng cả đạo binh người, mọi nước trong thế gian phục về người, và mọi dân, đang đánh thành Giê-ru-sa-lem và các thành khác thuộc về nó. 2.  Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Hãy đi nói cùng Sê-đê-kia, vua Giu-đa, rằng: Đức Giê-hô-va có phán: Nầy, ta sẽ phó thành nầy vào tay vua Ba-by-lôn, người sẽ lấy lửa đốt đi. 3.  Chính ngươi sẽ chẳng thoát khỏi tay người; mà chắc sẽ bị bắt, phó vào tay người. Mắt ngươi sẽ nhìn mắt của vua Ba-by-lôn; ngươi sẽ lấy miệng đối miệng mà nói cùng người, và ngươi sẽ đi qua nước Ba-by-lôn. 4.  Dầu vậy, hỡi Sê-đê-kia, vua Giu-đa, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va! Về ngươi, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ngươi sẽ không chết bởi gươm đâu. 5.  Ngươi sẽ bình an mà chết; người ta sẽ thiêu đốt cho ngươi, cũng như đã thiêu đốt cho tổ phụ ngươi, tức các vua trước ngươi; và sẽ thương khóc ngươi mà rằng: Ối Chúa ôi! Ấy chính ta đã phán lời nầy, Đức Giê-hô-va phán vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Tiên tri Giê-rê-mi bèn nói mọi lời ấy cùng Sê-đê-kia, vua Giu-đa, tại Giê-ru-sa-lem, 7.  trong khi đạo binh của vua Ba-by-lôn đánh Giê-ru-sa-lem và các thành của Giu-đa còn sót lại, tức thành La-ki và thành A-xê-ca; vì trong các thành của Giu-đa chỉ hai thành bền vững đó còn lại. 8.  Lời phán cho Giê-rê-mi bởi Đức Giê-hô-va, sau khi vua Sê-đê-kia đã lập giao ước với cả dân tại Giê-ru-sa-lem, đặng rao sự tự do cho dân đó, 9.  hầu cho ai nấy thả kẻ nô hoặc tì, tức là người nam hoặc nữ Hê-bơ-rơ, cho được thong thả, chẳng ai được lại giữ người Giu-đa anh em mình làm tôi mọi nữa. 10.  Hết thảy quan trưởng và cả dân đã dự vào giao ước ấy, mỗi người vâng lời phải thả đầy tớ trai mình, mỗi người phải thả đầy tớ gái mình được thong thả, không còn giữ lại làm tôi mọi nữa. Họ đều ưng theo và thả nô tì ra. 11.  Nhưng rồi lại đổi ý; bắt những kẻ tôi đòi mà mình đã tha cho được thong thả, lại trở về phục sự mình làm tôi đòi. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12.  Bấy giờ, có lời của Đức Giê-hô-va phán cho Giê-rê-mi rằng: 13.  Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Ta đã lập giao ước với tổ phụ các ngươi trong ngày ta đem họ ra khỏi đất Ê-díp-tô, khỏi nhà nô lệ, và đã truyền cho rằng: 14.  Khi đã hết bảy năm, trong các ngươi ai nấy phải buông tha người anh em, là người Hê-bơ-rơ, đã bán cho mình và đã phục dịch mình sáu năm rồi, ngươi hãy buông ra khỏi ngươi cho được thong thả. Nhưng tổ phụ các ngươi chẳng nghe ta, cũng không lắng tai mình. 15.  Còn các ngươi, đã trở lại và làm điều đẹp mắt ta, mỗi người rao cho kẻ lân cận mình được thong thả; và đã lập giao ước trước mặt ta, tức trong nhà được xưng bằng danh ta. 16.  Nhưng các ngươi đã trở ý, đã làm ô uế danh ta; các ngươi lại bắt tôi đòi mà mình đã buông tha cho tự do tùy ý chúng nó trở về, và ép phải lại làm tôi đòi mình như trước. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17.  Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi đã chẳng nghe ta, mỗi người rao cho anh em mình, kẻ lân cận mình được tự do. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, ta rao sự tự do cho các ngươi, tức thả các ngươi ra cho gươm dao, ôn dịch, đói kém, khiến các ngươi bị ném đi ném lại giữa các nước thế gian. 18.  Ta sẽ phó những người nam đã phạm giao ước ta, không làm theo những lời giao ước đã lập trước mặt ta, khi chúng nó mổ bò con làm đôi, và đi qua giữa hai phần nửa nó; 19.  thật, ta sẽ phó các quan trưởng Giu-đa và các quan trưởng Giê-ru-sa-lem, hoạn quan, thầy tế lễ, và phàm những người trong đất đã đi qua giữa hai phần nửa bò con; 20.  ta sẽ phó chúng nó trong tay kẻ thù, kẻ muốn hại mạng chúng nó; thây chúng nó sẽ làm đồ ăn cho loài chim trời và loài thú đất. 21.  Ta cũng sẽ phó Sê-đê-kia vua Giu-đa, với các quan trưởng người, trong tay kẻ thù và kẻ muốn hại mạng, tức trong tay đạo binh vua Ba-by-lôn mới lìa khỏi các ngươi. 22.  Đức Giê-hô-va phán: Nầy, ta sẽ truyền lịnh và khiến chúng nó trở về thành nầy; chúng nó sẽ đánh, sẽ chiếm lấy, và lấy lửa đốt đi. Ta sẽ làm cho các thành Giu-đa trở nên hoang vu, không có dân ở. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B24\V02B24C034.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Lời Báo Trước về Xê-đê-ki-a Sẽ Chết ở Chốn Lưu Ðày'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Lời của CHÚA đến với Giê-rê-mi khi Nê-bu-cát-nê-xa vua Ba-by-lôn cùng tất cả quân đội của ông –tức quân của mọi vương quốc trên đất dưới quyền thống lĩnh của ông, thuộc mọi dân tộc trong đế quốc của ông– đến tấn công Giê-ru-sa-lem và tất cả các thành trực thuộc quyền chỉ huy của thành ấy:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này, “Hãy đi và nói với Xê-đê-ki-a vua Giu-đa, hãy bảo nó, ‘CHÚA phán thế này, “Này, Ta sẽ ban thành này vào tay vua Ba-by-lôn, và nó sẽ phóng hỏa thành ấy.  3 Còn ngươi, ngươi sẽ không thoát khỏi tay nó đâu, nhưng chắc chắn ngươi sẽ bị bắt và bị nộp vào tay nó.  Ngươi sẽ thấy vua Ba-by-lôn mắt tận mắt và nói chuyện với nó mặt tận mặt, rồi ngươi sẽ bị dẫn qua Ba-by-lôn.”’  4 Tuy nhiên, hỡi Xê-đê-ki-a vua Giu-đa, hãy nghe lời của CHÚA.  CHÚA phán thế này về ngươi, ‘Ngươi sẽ không chết bằng gươm.  5 Ngươi sẽ chết cách bình an.  Như người ta đã đốt hương để tưởng nhớ đến tổ tiên ngươi, tức các vua trước ngươi, thể nào, họ cũng sẽ đốt hương để tưởng nhớ ngươi và thương tiếc ngươi thể ấy, rằng, “Than ôi, chúa thượng!” Vì chính Ta phán những điều này,’” CHÚA phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Bấy giờ Tiên Tri Giê-rê-mi nói lại những lời ấy với Xê-đê-ki-a vua Giu-đa ở Giê-ru-sa-lem, 7 trong khi quân của vua Ba-by-lôn đang tấn công Giê-ru-sa-lem và tấn công tất cả các thành của Giu-đa còn lại, đặc biệt là các thành La-kích và A-xê-ca, vì đó là các thành kiên cố của Giu-đa còn lại lúc bấy giờ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Các Nô Lệ Bị Gạt'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Có lời từ CHÚA đến với Giê-rê-mi sau khi Vua Xê-đê-ki-a đã lập một giao ước với toàn dân tại Giê-ru-sa-lem để công bố cho họ được tự do.  9 Mỗi người phải phóng thích những người Hê-bơ-rơ làm nô lệ cho mình, bất luận nam hay nữ, để không một người Do-thái nào còn bị giữ làm nô lệ.  10 Lúc đó họ đều đồng ý; tất cả các quan chức và mọi người có nô lệ đều quyết tâm lập giao ước rằng ai nấy phải trả tự do cho các nô lệ của mình, và họ đã phóng thích các nô lệ của họ.  11 Tuy nhiên sau đó họ đổi ý và bắt lại các nam nữ nô lệ mà họ đã phóng thích; họ buộc những người ấy phải làm nô lệ và phục tùng họ như trước.  12 Vì thế có lời từ CHÚA đến với Giê-rê-mi: 13 CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này, “Chính Ta đã lập giao ước với tổ tiên các ngươi khi Ta đem chúng ra khỏi đất Ai-cập, khỏi nhà nô lệ, rằng, 14 ‘Mỗi đầu năm thứ bảy ai nấy trong các ngươi phải phóng thích bất cứ người Hê-bơ-rơ nào làm nô lệ cho mình, tức những người đã bị bán cho các ngươi và đã phục vụ các ngươi sáu năm.  Các ngươi phải trả tự do cho những người ấy để họ không phải phục vụ các ngươi nữa.’  Nhưng tổ tiên các ngươi đã không nghe Ta và cũng chẳng để tai đến lệnh Ta.  15 Nhưng mới đây các ngươi đã ăn năn và làm một điều đúng trước mặt Ta, đó là công bố phóng thích các nô lệ của mình.  Các ngươi đã lập một giao ước trước mặt Ta trong nhà được gọi bằng danh Ta.  16 Tuy nhiên sau đó các ngươi đã đổi ý và đã làm nhục danh Ta khi ai nấy trong các ngươi bắt lại những người nam và nữ nô lệ đã được phóng thích theo lòng mong ước của họ, và các ngươi đã buộc họ phải tiếp tục làm nô lệ cho các ngươi.”  17 Vì vậy CHÚA phán thế này, “Các ngươi đã không vâng lời Ta mà phóng thích anh chị em các ngươi và đồng bào các ngươi để họ được tự do,” Vì thế CHÚA phán, “Ta sẽ phóng thích những thứ này để chúng được tự do đến với các ngươi: gươm giáo, ôn dịch, và nạn đói.  Ta sẽ biến các ngươi thành một cớ kinh hoàng cho mọi nước trên đất.  18 Những kẻ đã vi phạm giao ước Ta và không giữ những điều khoản trong giao ước đã lập trước mặt Ta thì Ta sẽ làm cho chúng giống như con bò tơ bị xẻ đôi, tức con bò bị xẻ thịt rồi sắp thịt ra hai bên để các ngươi đi qua ở giữa hầu xác quyết lời thệ ước của mình.  19 Các quan chức ở Giu-đa, các quan chức ở Giê-ru-sa-lem, các thái giám, các tư tế, và tất cả những kẻ trong xứ đi ngang qua ở giữa các phần thịt bò tế 20 sẽ bị trao vào tay quân thù của chúng, tức những kẻ tìm cách lấy mạng chúng.  Thân xác chúng sẽ trở thành thức ăn cho chim trời và thú hoang trên đất.  21 Còn về phần Xê-đê-ki-a vua Giu-đa và triều thần của nó, Ta sẽ trao chúng vào tay quân thù của chúng, những kẻ tìm cách lấy mạng chúng, tức vào tay đạo quân của vua Ba-by-lôn đã rút khỏi các ngươi.”  22 CHÚA phán, “Ta sẽ ra lịnh và đem chúng trở lại thành này.  Chúng sẽ tấn công thành, chiếm lấy nó, và phóng hỏa nó.  Ta sẽ biến các thành của Giu-đa trở nên những nơi hoang phế không người.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Ê-sai]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 33]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 35]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_32&amp;diff=35625</id>
		<title>Giê-rê-mi: Chương 32</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_32&amp;diff=35625"/>
		<updated>2025-12-31T13:54:23Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Vào năm thứ mười khi Sê-đê-kia làm vua của Giu-đa, tức là năm thứ mười tám của triều đại Nê-bu-cát-nết-sa, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi. 2. Lúc đó quân đội của vua Ba-by-lôn đang bao vây Giê-ru-sa-lem và Tiên tri Giê-rê-mi đang bị giam giữ trong sân của vệ binh tại cung điện của vua Giu-đa. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3. Sê-đê-kia, vua của Giu-đa, đã giam ông và nói: Tại sao ngươi dám nói tiên tri là Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, Ta sẽ phó thành nầy vào tay của vua Ba-by-lôn và người sẽ chiếm thành. 4. Sê-đê-kia, vua của Giu-đa, sẽ không thoát khỏi tay của người Canh-đê, nhưng sẽ bị nộp vào tay của vua Ba-by-lôn. Ông sẽ nhìn thấy người tận mắt và sẽ nói chuyện mặt đối mặt. 5. Người sẽ giải Sê-đê-kia sang Ba-by-lôn, và sẽ ở đó cho đến khi Ta thăm viếng.  Dù các ngươi có kháng cự người Canh-đê, cũng sẽ không thành công. Đức Giê-hô-va phán vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6. Giê-rê-mi nói: Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: 7. Nầy, Ha-na-mê-ên, con trai của Sa-lum - chú của ngươi, sẽ đến nói với ngươi rằng: Anh hãy mua cánh đồng của tôi tại A-na-tốt, bởi vì đó là quyền của anh để mua chuộc nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Sau đó, đúng như lời của Đức Giê-hô-va, Ha-na-mê-ên, con trai của chú tôi, đã đến gặp tôi bị giam giữ trong sân của vệ binh, rồi nói: &amp;quot;Xin anh hãy mua lại cánh đồng của tôi tại A-na-tốt trong xứ Bên-gia-min, bởi vì anh có quyền chuộc và sở hữu nó. Xin hãy mua nó cho chính anh.&amp;quot; Khi đó, tôi biết rằng đó là lời của Đức Giê-hô-va.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Vì vậy, tôi đã mua cánh đồng của Ha-na-mê-ên, con trai của chú tôi, tại A-na-tốt. Tôi đã cân cho mười bảy siếc-lơ bạc cho người. 10. Tôi đã ký giấy chủ quyền, và niêm phong lại trước những nhân chứng, rồi cân bạc để trả. 11. Tôi nhận giấy chủ quyền đã mua, được niêm phong với những điều khoản quy định, và một bản để ngỏ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12. Tôi trao cho Ba-rúc, con trai của Nê-ri-gia, cháu của Ma-a-xê-gia, trước sự hiện diện của Ha-na-mê-ên, con trai của chú tôi, và trước sự hiện diện của những người làm chứng đã ký tên vào giấy chủ quyền đã mua, cũng như trước mặt tất cả những người Giu-đa đang ngồi tại nơi bị giam giữ trong sân của vệ binh. 13. Trước mặt những người đó, tôi ra lệnh cho Ba-rúc rằng: 14. Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như thế nầy: Hãy đem những giấy chủ quyền nầy, cả giấy chủ quyền đã mua được niêm phong lẫn giấy chủ quyền để ngỏ, cất vào một chiếc bình bằng đất, để chúng được bảo quản lâu ngày. 15. Vì Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán: Người ta sẽ mua nhà, ruộng, và vườn nho trong xứ nầy trở lại. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Sau khi tôi trao giấy chủ quyền đã mua cho Ba-rúc, con của Nê-ri-a, tôi đã cầu nguyện với Đức Giê-hô-va rằng: 17. Lạy Chúa là Đức Giê-hô-va. Ngài đã dựng nên trời và đất bằng quyền năng lớn lao và bằng cánh tay giang ra của Ngài. Không có việc gì khó quá cho Ngài. 18. Ngài bày tỏ lòng nhân từ cho hằng ngàn đời, nhưng chỉ phạt tội của cha ông đến đời con cháu. Đức Chúa Trời vĩ đại quyền uy! Danh của Ngài là Đức Giê-hô-va của các đạo quân. 19. Kế hoạch của Ngài thật lớn lao, công việc của Ngài thật quyền năng. Mắt của Ngài nhìn thấy mọi đường lối của con cái loài người để báo trả cho mỗi người tùy theo đường lối của họ và tùy theo hậu quả của việc họ làm. 20. Ngài đã thực hiện những dấu kỳ phép lạ trong đất Ai Cập, và cho đến ngày nay,  trong Y-sơ-ra-ên và trong những nơi khác. Ngài đã làm cho danh của Ngài nổi tiếng như hiện nay. 21. Ngài đã đem Y-sơ-ra-ên, là dân của Ngài ra khỏi đất Ai Cập bằng những dấu kỳ và phép lạ, bằng bàn tay quyền năng và cánh tay giang ra với sự kinh khiếp lớn lao. 22. Ngài đã ban cho họ xứ nầy, là xứ mà Ngài đã thề ban cho tổ phụ của họ, một vùng đất đượm sữa và mật. 23. Họ đã vào và nhận nó làm sản nghiệp, nhưng họ không vâng theo tiếng của Ngài, hay đi theo luật pháp của Ngài. Họ không thực hành một điều nào trong tất cả những điều mà Ngài truyền cho họ. Vì vậy, Ngài đã giáng tất cả những tai ương nầy trên họ. 24. Kìa! Những ụ đất tấn công đã vươn tới thành để chiếm lấy nó. Vì gươm đao, đói kém, dịch bệnh, nên thành bị trao vào tay của người Canh-đê đang tranh chiến với nó. Điều Ngài phán đã xảy ra, và Ngài thấy  điều đó. 25. Lạy Chúa, là Giê-hô-va! Ngài đã bảo con: “Hãy lấy bạc mua cánh đồng, và mời người làm chứng”, nhưng thành đã rơi vào tay của người Canh-đê.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Sau đó, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giê-rê-mi rằng: 27. Nầy, Ta là Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của mọi loài xác thịt. Có việc gì quá khó cho Ta chăng? 28. Vì vậy, Đức Giê-hô-va phán: Nầy, Ta sẽ phó thành nầy vào tay của người Canh-đê, vào tay của Nê-bu-cát-nết-sa, vua của Ba-by-lôn. Người sẽ chiếm thành. 29. Những người Canh-đê đang tấn công thành nầy sẽ tiến vào, phóng hỏa đốt thành nầy, thiêu hủy những căn nhà mà người ta đã dâng hương cho Ba-anh trên mái và làm lễ quán cho các thần khác, để chọc giận Ta. 30. Vì con cái của Y-sơ-ra-ên và con cái của Giu-đa từ thời niên thiếu, chỉ biết làm điều gian ác trước mặt Ta. Thật vậy, con cái của Y-sơ-ra-ên chỉ biết chọc giận Ta bằng những công việc của tay chúng. Đức Giê-hô-va phán vậy. 31. Từ ngày được dựng lên cho đến bây giờ, thành nầy đã làm cho Ta bực tức và giận dữ. Ta sẽ loại bỏ nó khỏi mặt của Ta. 32. Bởi vì tất cả những gian ác mà con cái Y-sơ-ra-ên và con cái Giu-đa đã làm để chọc giận Ta - Chúng nó, các vua của chúng nó, các lãnh đạo của chúng nó, các tiên tri của chúng nó, các tư tế của chúng nó, dân Giu-đa, và dân cư tại Giê-ru-sa-lem 33. không quay mặt nhưng quay lưng lại với Ta. Dù Ta có dạy chúng, dậy sớm để hướng dẫn chúng, chúng vẫn không nghe và không tiếp nhận lời dạy dỗ. 34. Chúng đã đặt những vật kinh tởm trong nhà được gọi bằng danh của Ta, để làm cho nơi đó bị ô uế. 35. Chúng đã xây những nơi cao cho Ba-anh trong thung lũng Ben Hi-nôm để dâng con trai con gái mình cho Mo-lóc. Đó là điều mà Ta không truyền dạy, cũng không nghĩ rằng chúng có thể làm điều ghê tởm như thế, để làm cho Giu-đa phạm tội.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36. Vì vậy, bây giờ Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán về thành nầy, mà các ngươi nói rằng nó sẽ rơi vào tay của vua Ba-by-lôn bởi gươm đao, đói kém, dịch bệnh, như sau: 37. Nầy, Ta sẽ tập hợp chúng từ mọi nước mà Ta đã đưa chúng đến đó trong cơn nóng giận, thịnh nộ và phẫn nộ của Ta. Ta sẽ đem chúng trở về nơi nầy và cho chúng sống bình yên. 38. Chúng sẽ làm dân của Ta, và Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của chúng. 39. Ta sẽ ban cho chúng một tấm lòng, một đường lối, để chúng luôn luôn kính sợ Ta, vì lợi ích của chúng và con cháu hậu tự của chúng. 40. Ta sẽ lập với chúng một giao ước đời đời. Ta sẽ không lìa bỏ chúng nhưng ban phước cho chúng. Ta sẽ đặt sự kính sợ Ta vào trong lòng của chúng để chúng không lìa bỏ Ta. 41. Ta sẽ lấy làm vui mà ban phước cho chúng. Với tất cả tấm lòng và tất cả tâm trí, chắc chắn Ta sẽ trồng chúng trong đất này. 42. Đức Giê-hô-va phán: Như Ta đã giáng tất cả những tai vạ khủng khiếp trên dân nầy, Ta cũng sẽ giáng trên chúng mọi phước lành mà Ta đã hứa với chúng. 43. Người ta sẽ mua ruộng trong xứ nầy, là xứ mà các ngươi nói rằng: Đó là một nơi hoang vu, không có loài người, cũng không có loài thú, đã bị trao vào tay của người Canh-đê. 44. Người ta sẽ dùng bạc để mua ruộng, ký giấy chủ quyền, rồi niêm phong lại trước những nhân chứng trong đất Bên-gia-min, trong các miền chung quanh Giê-ru-sa-lem, trong các thành của Giu-đa, trong các thành trên các cao nguyên, trong các thành dưới các thung lũng, và trong các thành ở miền nam, vì Ta sẽ đem những kẻ bị lưu đày của họ trở về. Đức Giê-hô-va phán vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Năm thứ mười về đời vua Sê-đê-kia nước Giu-đa, có lời Đức Giê-hô-va phán cho Giê-rê-mi. Ấy là năm thứ mười tám về đời vua Nê-bu-cát-nết-sa. 2.  Bấy giờ đạo binh của vua Ba-by-lôn vây thành Giê-ru-sa-lem; còn tiên tri Giê-rê-mi thì đã bị giam nơi hành lang lính canh trong cung vua Giu-đa. 3.  Vì Sê-đê-kia, vua Giu-đa, đã giam người, nói rằng: Làm sao ngươi nói tiên tri rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ phó thành nầy vào tay vua Ba-by-lôn, người sẽ chiếm lấy; 4.  Sê-đê-kia, vua Giu-đa, sẽ chẳng tránh khỏi tay người Canh-đê, nhưng chắc sẽ bị nộp trong tay vua Ba-by-lôn, sẽ nói cùng vua ấy miệng đối miệng, mắt nhìn mắt; 5.  vua ấy sẽ bắt Sê-đê-kia về Ba-by-lôn, người sẽ ở đó cho đến chừng nào ta thăm viếng nó, Đức Giê-hô-va phán vậy; các ngươi dầu đánh với người Canh-đê sẽ chẳng được may mắn? &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6.  Giê-rê-mi nói: Có lời của Đức Giê-hô-va phán cho tôi rằng: 7.  Nầy, Ha-na-mê-ên, con trai Sa-lum chú ngươi, sẽ đến nơi ngươi mà nói rằng: Hãy mua ruộng của ta tại A-na-tốt; vì ngươi có phép chuộc để mua lấy. 8.  Ha-na-mê-ên, con trai chú tôi, bèn theo lời Đức Giê-hô-va, đến thăm tôi trong hành lang lính canh, và nói rằng: Ta xin ngươi hãy mua ruộng của ta ở A-na-tốt, trong đất Bên-gia-min, vì ngươi có phép hưởng gia tài và chuộc lấy, khá mua lấy cho mình. Bấy giờ tôi nhìn biết rằng ấy là lời của Đức Giê-hô-va. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9.  Vậy tôi mua ruộng ở A-na-tốt của Ha-na-mê-ên, con trai chú tôi, và tôi cân mười bảy siếc-lơ bạc cho người. 10.  Tôi viết khế và niêm phong, mời người làm chứng và cân bạc trong cái cân. 11.  Tôi liền lấy tờ khế bán, cả khế đã niêm phong theo lề luật và thói tục, và khế để ngỏ nữa. 12.  Tôi trao khế mua cho Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia, cháu Ma-a-sê-gia, trước mặt Ha-na-mê-ên, con trai chú tôi, và trước mặt những kẻ làm chứng có ký tên vào khế nữa, cũng ở trước mặt mọi người Giu-đa đang ngồi trong hành lang lính canh. 13.  Đoạn, tại trước mặt họ tôi dặn Ba-rúc rằng: 14.  Đức Giê-hô-va vạn quân Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Hãy lấy những tờ khế nầy, khế mua niêm phong, và khế để ngỏ, và để trong một cái bình đất, đặng những tờ khế ấy còn được lâu ngày. 15.  Vì Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Người ta sẽ còn mua nhà, ruộng, và vườn nho trong đất nầy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16.  Khi tôi đã trao tờ khế mua cho Ba-rúc, con trai Nê-ri-gia, thì tôi cầu nguyện cùng Đức Giê-hô-va rằng: 17.  Ôi! Hỡi Chúa Giê-hô-va! Chính Ngài đã dùng quyền phép lớn và cánh tay giơ ra mà làm nên trời và đất; chẳng có sự gì là khó quá cho Ngài cả. 18.  Ngài to sự thương xót ra cho muôn vàn, báo trả sự gian ác ông cha vào mình con cháu nối sau. Ngài là Đức Chúa Trời lớn, là Đấng toàn năng, danh Ngài là Đức Giê-hô-va vạn quân. 19.  Mưu mô Ngài lớn lao, và công việc thì có phép tắc. Mắt Ngài mở soi trên mọi đường lối con trai loài người, đặng báo cho mỗi người theo đường lối nó, và theo quả của việc làm. 20.  Ngài đã làm nên những dấu lại sự lạ trong đất Ê-díp-tô, cho đến ngày nay, trong Y-sơ-ra-ên cũng như trong những người khác, Ngài đã được danh tiếng như mình hiện có. 21.  Ngài đã dùng dấu lạ, sự lạ, tay mạnh, và cánh tay giơ ra cùng sự kinh khiếp lớn mà đem dân Y-sơ-ra-ên mình ra khỏi đất Ê-díp-tô. 22.  Ngài ban cho họ đất nầy, là đất đượm sữa và mật, mà Ngài đã thề ban cho tổ phụ họ xưa kia. 23.  Họ đã vào lấy đất nầy làm sản nghiệp, nhưng không vâng theo tiếng Ngài, không bước theo luật Ngài, chẳng hề làm một điều gì về mọi sự mà Ngài đã dặn phải làm. Vì vậy Ngài đã giáng mọi tai vạ nầy trên họ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24.  Nầy, những đồn lũy! chúng nó đã bước tới thành, để chiếm lấy nó. Vì cớ gươm dao, đói kém, ôn dịch, nên thành bị nộp trong tay người Canh-đê đang tranh chiến với nó. Điều Ngài phán thì đã xảy đến, và nầy, Ngài thấy! 25.  Hỡi Chúa Giê-hô-va, Ngài đã phán cùng tôi rằng: Hãy dùng giá bạc mua ruộng nầy, và mời những người làm chứng. Mà kìa, thành đã nộp trong tay người Canh-đê! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26.  Có lời Đức Giê-hô-va được phán cho Giê-rê-mi như vầy: 27.  Nầy, ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của mọi xác thịt; có sự gì khó quá cho ta chăng? 28.  Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ phó thành nầy vào tay người Canh-đê, vào tay Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, người sẽ chiếm lấy. 29.  Những người Canh-đê đang đánh thành nầy thì sẽ đến, đặt lửa và đốt đi, đốt luôn những nhà mà người ta dâng hương cho Ba-anh tại trên mái, và làm lễ quán cho các thần khác, đặng chọc giận ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30.  Vả, con cái Y-sơ-ra-ên và con cái Giu-đa, từ thuở còn trẻ, chỉ làm điều dữ trước mặt ta; vì con cái Y-sơ-ra-ên chỉ lấy việc làm của tay mình mà chọc giận ta, Đức Giê-hô-va phán vậy. 31.  Thành nầy đã làm cớ cho ta giận và tức, từ ngày đã xây lên cho đến ngày nay. Vậy nên, ta muốn cất nó đi khỏi trước mặt ta, 32.  vì cớ mọi điều ác mà con cái Y-sơ-ra-ên và con cái Giu-đa đã làm đặng chọc giận ta, chúng nó, vua, quan trưởng, thầy tế lễ, kẻ tiên tri chúng nó, người Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem nữa. 33.  Chúng nó không xây mặt lại ta, trở xây lưng lại. Dầu ta đã dạy chúng nó, dậy sớm mà răn bảo, nhưng chúng nó không nghe, chẳng nhận sự dạy dỗ. 34.  Chúng nó đã để những vật gớm ghiếc trong nhà được xưng bởi danh ta, để làm cho ô uế. 35.  Chúng nó đã xây các nơi cao của Ba-anh trong nơi trũng con trai Hi-nôm, khiến con trai con gái mình qua lửa, dâng cho Mô-lóc, là điều ta không truyền dạy; ta chẳng hề nghĩ đến rằng chúng nó có thể phạm một sự gớm ghiếc dường ấy mà làm cho Giu-đa phạm tội. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36.  Nên bấy giờ, về thành nầy, mà các ngươi nói rằng nó đã phó trong tay vua Ba-by-lôn bởi gươm dao, đói kém, ôn dịch, thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: 37.  Nầy, ta sẽ thâu nhóm chúng nó từ mọi nước mà ta đã nhân giận, thạnh nộ, tức mình quá mà đuổi chúng nó đến; ta sẽ đem chúng nó về trong chỗ nầy, khiến chúng nó ở yên ổn. 38.  Chúng nó sẽ làm dân ta, và ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó. 39.  Ta sẽ ban cho chúng nó một lòng một đường lối như nhau, hầu cho kính sợ ta đời đời, để chúng nó và con cháu nối sau đều được phước. 40.  Ta sẽ lập giao ước đời đời với chúng nó rằng: ta sẽ không xây khỏi chúng nó để làm phước cho; và ta sẽ đặt sự kính sợ ta vào lòng, để chúng nó không còn lìa khỏi ta. 41.  Ta sẽ lấy làm vui mà làm phước cho, và chắc hết lòng hết linh hồn trồng chúng nó trong đất nầy. 42.  Đức Giê-hô-va phán: Như ta đã giáng mọi tai vạ lớn trên dân nầy, ta cũng sẽ giáng cho mọi sự lành ta đã hứa. 43.  Người ta sẽ mua ruộng trong đất nầy mà các ngươi nói rằng: Ấy là một nơi hoang vu, không có loài người, cũng không có loài thú, đã bị nộp trong tay người Canh-đê. 44.  Người ta sẽ dùng giá bạc mua ruộng tại đó, viết khế bán, niêm phong lại, mời người làm chứng, trong đất Bên-gia-min và chung quanh Giê-ru-sa-lem, trong các thành Giu-đa và trong các thành miền núi, trong các thành đồng bằng và các thành phương nam. Vì ta sẽ khiến những phu tù trở về, Đức Giê-hô-va phán vậy. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B24\V02B24C032.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Giê-rê-mi Mua Cánh Ðồng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Có lời của CHÚA đến với Giê-rê-mi vào năm thứ mười của triều đại Xê-đê-ki-a vua Giu-đa, tức năm thứ mười tám triều đại Nê-bu-cát-nê-xa.  2 Lúc đó quân đội của vua Ba-by-lôn đang bao vây Giê-ru-sa-lem, và Tiên Tri Giê-rê-mi đang bị giam trong doanh trại của đội quân thị vệ của vua Giu-đa, 3 bởi vì Xê-đê-ki-a vua Giu-đa đã ra lịnh giam ông ở đó.  Số là Xê-đê-ki-a nói, “Tại sao ông nói tiên tri và bảo rằng, ‘CHÚA phán thế này, Ta sẽ ban thành này vào tay vua Ba-by-lôn, và hắn sẽ chiếm lấy thành.  4 Xê-đê-ki-a vua Giu-đa sẽ không thoát khỏi tay quân Canh-đê, nhưng chắc chắn sẽ bị trao vào tay vua Ba-by-lôn.  Nó sẽ nói chuyện trực tiếp với hắn, mặt đối mặt.  5 Hắn sẽ bắt Xê-đê-ki-a đem qua Ba-by-lôn, và nó sẽ cứ ở đó cho đến khi Ta thăm viếng nó,’ CHÚA phán.  ‘Vì thế việc các ngươi chiến đấu chống lại quân Canh-đê sẽ thành công sao?’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Giê-rê-mi nói, “Có lời của CHÚA đến với tôi, 7 ‘Ha-na-mên con của Sanh-lum chú của ngươi sẽ đến gặp ngươi và nói, “Xin anh mua cánh đồng của em ở A-na-thốt đi, vì anh là người có quyền mua nó.”’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Quả đúng y như vậy, Ha-na-mên người em chú bác của tôi đã đến thăm tôi trong doanh trại của đội quân thị vệ y như lời của CHÚA đã phán, và chú ấy nói với tôi, “Xin anh mua cánh đồng của em ở A-na-thốt trong lãnh thổ của chi tộc Bên-gia-min, vì quyền được mua và làm chủ cánh đồng đó thuộc về anh; xin anh mua nó cho anh đi.”  Bấy giờ tôi biết chắc đó là lời của CHÚA.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Vậy tôi mua cánh đồng ở A-na-thốt của Ha-na-mên em chú bác của tôi.  Tôi đã cân tiền và trao cho chú ấy.  Cả thảy là mười bảy sê-ken bạc.  10 Tôi ký giấy chủ quyền, nhờ đóng ấn thị thực vào, nhờ người ký vào làm chứng, và cân bạc trả tiền.  11 Sau đó tôi lấy giấy chủ quyền có ghi rõ các điều khoản niêm phong lại và cũng làm một bản sao nữa.  12 Ðoạn tôi trao văn tự mua bán ấy cho Ba-rúc con của Nê-ri-a quê ở Mát-sê-a, trước mặt Ha-na-mên em chú bác của tôi, trước mặt các nhân chứng đã ký tên vào giấy chủ quyền, và trước mặt mọi người Giu-đa đang ngồi chứng kiến trong doanh trại của đội quân thị vệ.  13 Trước mặt những người ấy tôi ra lệnh cho Ba-rúc rằng, 14 “CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán, ‘Hãy đem các văn kiện pháp lý này, tức bản chính và bản sao giấy chủ quyền bất động sản, cất chúng vào một cái hũ sành, để chúng có thể được giữ khỏi bị hư lâu ngày,’ 15 vì CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này, ‘Nhà cửa, ruộng rẫy, và vườn nho sẽ lại được mua bán trong xứ này.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Cầu Xin Ðược Thông Hiểu'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 Sau khi tôi trao giấy chủ quyền cho Ba-rúc con của Nê-ri-a, tôi cầu nguyện với CHÚA rằng, 17 “Lạy CHÚA Hằng Hữu, kìa, chính Ngài đã dựng nên trời và đất bằng quyền năng lớn lao và bằng cánh tay đưa ra của Ngài.  Không có việc gì Ngài chẳng làm được.  18 Ngài bày tỏ lòng nhân từ với muôn ngàn người và báo trả tội lỗi của ông bà cha mẹ trên con cháu họ.  Ðức Chúa Trời là Ðấng quyền năng vĩ đại; danh Ngài là CHÚA các đạo quân.  19 Ý định Ngài thật lớn lao; công việc Ngài thể hiện quyền năng diệu kỳ.  Mắt Ngài nhìn thấy mọi đường lối của con cái loài người để báo trả cho mỗi người tùy theo đường lối của họ và tùy theo kết quả của việc họ làm.  20 Ngài đã thực hiện những dấu kỳ và phép lạ trong đất Ai-cập mà cho đến nay người ta vẫn nhớ.  Trong I-sơ-ra-ên và giữa mọi người trên đất, Ngài đã làm danh Ngài được tôn kính như đã thấy ngày nay.  21 Ngài đã đem dân I-sơ-ra-ên của Ngài ra khỏi đất Ai-cập bằng những dấu kỳ và phép lạ, bằng bàn tay quyền năng và cánh tay đưa ra thực hiện những việc khủng khiếp kinh hoàng.  22 Ngài đã ban cho họ xứ này, xứ mà Ngài đã thề ban cho tổ tiên họ, một xứ đượm sữa và mật.  23 Họ đã vào và chiếm lấy xứ ấy, nhưng họ chẳng vâng theo tiếng Ngài, hay đi theo luật pháp Ngài.  Họ chẳng làm theo những điều Ngài dạy bảo họ phải làm.  Vì thế Ngài đã cho tai họa này xảy đến trên họ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Kìa là những ụ đất tấn công thành!  Chúng đến để chiếm lấy thành.  Vì gươm giáo, nạn đói, và ôn dịch, thành sẽ bị trao vào tay người Canh-đê, những kẻ công phá nó.  Những gì Ngài đã phán đều xảy ra như Ngài đang thấy.  25 Lạy CHÚA Hằng Hữu, Ngài đã phán với con, ‘Hãy lấy tiền mua cánh đồng và tìm những người làm chứng.’  Thế nhưng thành lại bị trao vào tay người Canh-đê!”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Lời Hứa về Sự Hồi Hương'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Bấy giờ có lời của CHÚA đến với Giê-rê-mi, 27 “Này, Ta là CHÚA, Ðức Chúa Trời của mọi loài xác thịt.  Có điều gì khó quá cho Ta chăng?”  28 Vậy nên CHÚA phán thế này, “Này, Ta sẽ ban thành này vào tay người Canh-đê, vào tay của Nê-bu-cát-nê-xa vua Ba-by-lôn; nó sẽ chiếm lấy thành ấy.  29 Người Canh-đê sẽ đánh hạ thành này.  Chúng sẽ đến, phóng hỏa thành, và thiêu rụi nó.  Chúng sẽ thiêu rụi những nhà mà dân thành đã dùng sân thượng để dâng của tế lễ cho Ba-anh và đổ rượu dâng của lễ quán cho các thần khác, khiến cho Ta nổi giận, 30 bởi vì dân I-sơ-ra-ên và dân Giu-đa chỉ làm những điều tội lỗi trước mặt Ta từ khi chúng lập quốc đến giờ, và bởi vì dân I-sơ-ra-ên chỉ chọc giận Ta bằng những việc do tay chúng làm ra,” CHÚA phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 “Từ ngày thành này được dựng nên cho đến nay, nó cứ liên tục chọc cho Ta giận và phải nổi cơn thịnh nộ, cho nên Ta sẽ dẹp bỏ nó cho khuất mắt Ta.  32 Thật vậy dân I-sơ-ra-ên và dân Giu-đa đã làm mọi điều tội lỗi để chọc giận Ta – tức chúng, các vua của chúng, các quan của chúng, các tiên tri của chúng, các tư tế của chúng, dân Giu-đa, và dân cư Giê-ru-sa-lem.  33 Chúng đã xây lưng lại với Ta chứ không quay mặt hướng về Ta, dù ngày nào Ta cũng kiên trì dạy bảo chúng, nhưng chúng chẳng thèm nghe để ghi nhận sự chỉ bảo của Ta.  34 Chúng đem những thần tượng gớm ghiếc dựng lên trong nhà được gọi bằng danh Ta và làm cho nhà ấy ra ô uế.  35 Chúng xây những nơi cao để thờ phượng Ba-anh trong Thung Lũng của Con Trai Hin-nôm, và để dâng các con trai và các con gái của chúng cho Mô-lếch, và khiến cho Giu-đa phạm tội, dù Ta không hề sai bảo chúng, và Ta cũng chẳng hề nghĩ rằng chúng sẽ làm những việc gớm ghiếc như thế.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36 Vì thế bây giờ, CHÚA, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này về thành này mà các ngươi nói, “Nó bị trao vào tay của vua Ba-by-lôn bằng gươm giáo, nạn đói, và ôn dịch.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
37 “Này, Ta sẽ gom nhóm chúng về từ những xứ mà Ta đã xua chúng đến trong cơn giận, trong cơn thịnh nộ, và trong cơn cực kỳ phẫn nộ của Ta.  Ta sẽ đem chúng về lại nơi này, và Ta sẽ cho chúng được an cư lạc nghiệp ở đây.  38 Bấy giờ chúng sẽ là dân Ta, và Ta sẽ là Ðức Chúa Trời của chúng.  39 Ta sẽ ban cho chúng một tấm lòng và một đường lối, để chúng sẽ kính sợ Ta luôn luôn, hầu chúng sẽ được phước và con cháu của chúng sau này sẽ được phước.  40 Ta sẽ lập với chúng một giao ước đời đời rằng Ta sẽ không ngừng ban phước cho chúng.  Ta sẽ đặt sự kính sợ Ta vào lòng chúng, để chúng không lìa bỏ Ta nữa.  41 Ta sẽ lấy làm vui mà ban phước cho chúng, và Ta sẽ lấy sự thành tín mà hết lòng và hết linh hồn trồng chúng xuống trong đất này.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
42 CHÚA phán thế này, “Như Ta đã đem mọi tai họa giáng trên dân này, Ta cũng sẽ đem mọi phước hạnh Ta đã hứa để ban cho chúng.  43 Ruộng vườn sẽ được mua trong xứ này, nơi các ngươi bảo rằng đó là xứ hoang vu không người và không súc vật ở, một xứ đã bị phó vào tay dân Canh-đê.  44 Người ta sẽ lấy tiền mua ruộng tậu vườn.  Các giấy chủ quyền sẽ được ký tên, đóng dấu, và thị thực trong đất Bên-gia-min, trong các miền chung quanh Giê-ru-sa-lem, trong các thành của Giu-đa, trong các thành trên các cao nguyên, trong các thành dưới các thung lũng, và trong các thành ở miền nam, vì Ta sẽ đem những kẻ bị lưu đày của chúng trở về,” CHÚA phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Ê-sai]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 31]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 33]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
	<entry>
		<id>https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_31&amp;diff=35624</id>
		<title>Giê-rê-mi: Chương 31</title>
		<link rel="alternate" type="text/html" href="https://www.wiki.thuvientinlanh.org/index.php?title=Gi%C3%AA-r%C3%AA-mi:_Ch%C6%B0%C6%A1ng_31&amp;diff=35624"/>
		<updated>2025-12-31T13:53:26Z</updated>

		<summary type="html">&lt;p&gt;Admin: &lt;/p&gt;
&lt;hr /&gt;
&lt;div&gt;==Bản Dịch Việt Ngữ==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1. Đức Giê-hô-va phán: Lúc đó, Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của tất cả các gia tộc của Y-sơ-ra-ên, và chúng sẽ làm dân của Ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Những kẻ thoát khỏi gươm đao đã tìm được ân huệ trong nơi hoang vắng. Ta đã đến để ban cho Y-sơ-ra-ên được an nghỉ. 3. Từ xưa, Đức Giê-hô-va đã hiện ra cùng tôi: Ta đã yêu thương ngươi bằng một tình yêu đời đời. Vì vậy, Ta lấy lòng nhân từ mà thu hút ngươi. 4. Ta sẽ xây dựng ngươi trở lại, rồi ngươi sẽ được xây dựng lại. Hỡi trinh nữ của Y-sơ-ra-ên! Ngươi hãy trang hoàng các trống tay, rồi đi ra nhảy múa cách vui mừng. 5. Ngươi sẽ trồng các vườn nho trở lại trên những ngọn núi tại Sa-ma-ri. Các nông dân sẽ trồng trọt và họ sẽ vui hưởng hoa lợi của mình. 6. Bởi vì sẽ có ngày những người canh giữ những ngọn núi của Ép-ra-im sẽ hô lên: Hãy chỗi dậy! Chúng ta hãy đi lên Si-ôn để đến cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7. Vì Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hãy trỗi tiếng hoan ca về Gia-cốp. Hãy reo hò về lãnh tụ của các dân tộc. Hãy công bố, hãy ca ngợi, rồi nói rằng: Đức Giê-hô-va ôi! Xin giải cứu dân của Ngài - là những người còn sót lại của Y-sơ-ra-ên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8. Nầy, Ta sẽ đem chúng từ đất phương bắc trở về. Ta sẽ tụ họp chúng từ các nơi tận cùng của trái đất. Giữa vòng họ, có người mù, người què, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang chuyển bụng. Họ sẽ hợp thành một đoàn người đông đảo để trở về nơi nầy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9. Họ sẽ đến, khóc lóc, và thỉnh cầu. Ta sẽ dẫn họ đi bên cạnh những dòng nước, trên con đường ngay thẳng để họ không bị vấp ngã; bởi vì Ta là cha của Y-sơ-ra-ên, và Ép-ra-im là con đầu lòng của Ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10. Hỡi các dân tộc! Hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Hãy công bố lời của Ngài cho các hải đảo xa xôi rằng Đấng đã làm tan lạc Y-sơ-ra-ên sẽ tập trung chúng lại. Ngài sẽ chăn giữ họ như người chăn canh giữ bầy chiên; 11. bởi vì Đức Giê-hô-va đã chuộc Gia-cốp, Ngài đã giải cứu họ khỏi tay kẻ mạnh hơn họ. 12. Họ sẽ đến hát trên đỉnh Si-ôn. Họ sẽ rạng rỡ vì những phước hạnh của Đức Giê-hô-va, về lúa mì, rượu mới, và dầu, chiên con và bò con. Tâm hồn của họ sẽ như một khu vườn năng tưới. Họ không còn u sầu nữa. 13. Bấy giờ, các trinh nữ sẽ vui mừng nhảy múa, thanh niên và bô lão sẽ hiệp với nhau. Ta sẽ biến tang chế ra vui mừng. Ta sẽ an ủi họ, ban cho họ niềm vui thay vì thảm sầu. 14. Ta sẽ ban cho các tư tế được thỏa thuê dư dật. Dân của Ta sẽ đầy dẫy những vật tốt lành. Đức Giê-hô-va phán vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Tiếng than khóc nghe vang từ Ra-ma. Ra-chên đang khóc các con cháu của mình cách cay đắng. Nàng khước từ an ủi bởi vì con cháu của nàng không còn nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Hãy ngừng khóc than! Hãy kiềm chế nước mắt, bởi vì công việc của ngươi sẽ được tưởng thưởng. Từ xứ sở của kẻ thù, họ sẽ trở về. Đức Giê-hô-va phán vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17. Đức Giê-hô-va phán: Có hy vọng cho tương lai. Con cháu của ngươi sẽ trở về những bờ cõi của chúng. 18. Thật vậy, Ta đã nghe tiếng thở than của Ép-ra-im: Ngài đã sửa phạt con.  Con bị sửa phạt giống như một con bò tơ chưa quen ách. Xin phục hồi con, thì con sẽ được trở về, bởi vì Ngài là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của con. 19. Thật vậy, sau khi con tẻ hướng, con đã ăn năn. Sau khi con hiểu biết, con đã vỗ đùi tiếc nuối. Con bị xấu hổ thậm chí bị sỉ nhục. Con đã bị khiển trách vì những lỗi lầm cưu mang trong thời niên thiếu của con. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20. Ép-ra-im không phải là con yêu dấu của Ta hay sao? Nó không phải là đứa con mà Ta yêu thích hay sao? Dù Ta thường la rầy nó, Ta vẫn luôn nhớ nó tha thiết và lòng Ta mong chờ nó. Thật vậy, Ta sẽ thương xót nó. Đức Giê-hô-va phán vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21. Hãy dựng những bảng chỉ đường. Ngươi hãy làm những vật đánh dấu cho chính mình. Hãy nhớ lại con đường chính, và con đường mà ngươi đã đi qua. Hỡi các trinh nữ Y-sơ-ra-ên, hãy trở về. Hãy trở về những thành phố của ngươi. 22. Đứa con gái bội nghịch ơi! Ngươi còn do dự cho đến bao giờ? Vì Đức Giê-hô-va đã làm một điều mới trên đất: Người nữ sẽ bảo bọc người nam.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23. Đức Giê-hô-va của các đạo quân, là Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên, phán: Khi Ta đem những người lưu đày trở về, thì lời nầy sẽ được dùng trở lại trong xứ Giu-đa và trong các thành của nó: &amp;quot;Hỡi nơi ngự của sự công chính! Hỡi núi thánh! Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi!&amp;quot; 24. Giu-đa cùng với tất cả những thành của nó tự sống với nhau cùng với các nông dân và những người chăn bầy. 25. Bởi vì Ta đã làm cho những tấm lòng mệt mỏi được tươi mới, và mọi người kiệt quệ được bồi bổ.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26. Đến đây, tôi thức giấc, nhìn chung quanh, và giấc ngủ của tôi thật tốt lành.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27. Đức Giê-hô-va phán: Trong những ngày đến, Ta sẽ lấy giống người và giống thú vật mà gieo trong nhà của Y-sơ-ra-ên và trong nhà của Giu-đa. 28. Như Ta đã canh chừng để chúng bị bứng gốc, bị phá sập, bị triệt hạ, bị tiêu diệt và bị giáng họa thế nào, thì Ta cũng sẽ canh chừng để chúng được xây dựng, được vun trồng cũng như vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Đức Giê-hô-va phán: 29. Trong những ngày đó, người ta sẽ không còn nói: &amp;quot;Ông cha ăn nho chua mà con cháu bị ê buốt răng.&amp;quot; 30. Nhưng mỗi người sẽ chết vì sự sai phạm của chính mình. Người nào ăn nho chua thì răng của người đó bị ê buốt.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, trong những ngày đến, Ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa. 32. Giao ước nầy sẽ không giống như giao ước mà Ta đã lập với tổ phụ của chúng trong ngày Ta cầm tay dắt chúng ra khỏi đất Ai Cập. Chúng đã phá vỡ giao ước của Ta, dù Ta là Chồng của chúng. Đức Giê-hô-va phán vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33. Sau những ngày đó, đây là giao ước mà Ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên - Đức Giê-hô-va phán - Ta sẽ đặt luật pháp của Ta vào tâm trí của chúng, và khắc ghi lên tấm lòng của chúng. Ta sẽ là Đức Chúa Trời của chúng và chúng sẽ là dân của Ta. 34. Chúng sẽ không còn phải dạy bảo từng người lân cận của mình hay từng anh em của mình rằng: &amp;quot;Hãy nhận biết Đức Giê-hô-va!&amp;quot; - bởi vì tất cả sẽ biết Ta, từ người nhỏ nhất đến người lớn nhất. Đức Giê-hô-va phán: Bởi vì Ta sẽ tha thứ những sai phạm của chúng và không nhớ đến tội lỗi của chúng nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Đấng ban mặt trời làm ánh sáng ban ngày, ban những quy luật cho mặt trăng, các ngôi sao soi sáng ban đêm, và khuấy động biển cả cho sóng của nó gào thét - Danh của Ngài là Đức Giê-hô-va của các đạo quân. 36. Khi nào những quy luật đó lìa khỏi trước mặt Ta, thì khi đó dòng giống Y-sơ-ra-ên mới vĩnh viễn không còn là một dân tộc trước mặt của Ta nữa. Đức Giê-hô-va phán vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
37. Đức Giê-hô-va phán như thế nầy: Nếu các tầng trời trên cao có thể đo được, hay những nền tảng bên dưới đất có thể thăm dò được; thì Ta sẽ từ bỏ tất cả dòng giống Y-sơ-ra-ên vì tất cả những việc mà chúng đã làm. Đức Giê-hô-va phán vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38. Đức Giê-hô-va phán: Nầy, trong những ngày đến, khi thành được xây lại cho Đức Giê-hô-va, từ tháp Ha-na-nê-ên cho đến Cổng Góc, 39. nhưng dây đo sẽ đi ra xa hơn chạy thẳng đến đồi Ga-rép, rồi vòng qua Gô-a. 40. Cả thung lũng đầy xác chết và tro, cả cánh đồng chạy đến suối Xết-rôn và đến góc Cổng Ngựa về phía đông sẽ được biệt ra thánh cho Đức Giê-hô-va. Nó sẽ vĩnh viễn không bị đào lên hay triệt hạ nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 1925==&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1.  Đức Giê-hô-va phán: Trong lúc đó, ta sẽ làm Đức Chúa Trời của hết thảy họ hàng Y-sơ-ra-ên; chúng nó sẽ làm dân ta. 2.  Đức Giê-hô-va phán như vầy: Dân sót lại thoát khỏi gươm dao, tức là Y-sơ-ra-ên, đã được ơn trong đồng vắng, khi ta đi khiến chúng nó được yên nghỉ. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3.  Đức Giê-hô-va từ thuở xưa hiện ra cùng tôi và phán rằng: Phải, ta đã lấy sự yêu thương đời đời mà yêu ngươi; nên đã lấy sự nhân từ mà kéo ngươi đến. 4.  Ta sẽ dựng lại ngươi, thì ngươi sẽ được dựng, hỡi gái đồng trinh Y-sơ-ra-ên! Ngươi sẽ lại cầm trống cơm làm trang sức, đi làm một với những người nhảy múa vui vẻ. 5.  Ngươi sẽ lại trồng vườn nho trên núi Sa-ma-ri, những kẻ trồng sẽ trồng và sẽ được hái trái. 6.  Sẽ có ngày, những kẻ canh trên các núi Ép-ra-im kêu rằng: Hãy chổi dậy, chúng ta hãy lên núi Si-ôn, đến cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta! &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7.  Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy trổi tiếng reo vui vì Gia-cốp; hãy hò hét lên vì dân làm đầu các nước. Khá rao truyền ngợi khen mà rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy cứu dân Ngài, là dân còn sót của Y-sơ-ra-ên. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8.  Nầy, ta sẽ đem chúng nó về từ xứ phương bắc, nhóm lại từ các đầu cùng đất. Trong vòng chúng nó sẽ có kẻ đui, kẻ què, đàn bà có nghén, đàn bà đẻ, hiệp nên một hội lớn mà trở về đây. 9.  Chúng nó khóc lóc mà đến, và ta sẽ dắt dẫn trong khi chúng nó nài xin ta; ta sẽ đưa chúng nó đi dọc bờ các sông, theo đường bằng thẳng, chẳng bị vấp ngã. Vì ta làm cha cho Y-sơ-ra-ên, còn Ép-ra-im là con đầu lòng ta. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10.  Hỡi các nước, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va; hãy reo lời ấy ra trong các cù lao xa! Khá nói rằng: Đấng đã làm tan lạc Y-sơ-ra-ên sẽ thâu nhóm nó lại, sẽ giữ như kẻ chăn giữ bầy chiên mình. 11.  Vì Đức Giê-hô-va đã chuộc Gia-cốp, cứu khỏi tay kẻ mạnh hơn. 12.  Họ sẽ đến và hát trên nơi cao của Si-ôn; sẽ trôi chảy đến ơn phước của Đức Giê-hô-va, đến lúa mì, rượu mới, dầu, và con nhỏ của chiên và bò; lòng họ sẽ như vườn đượm nhuần, chẳng buồn rầu chi nữa hết. 13.  Bấy giờ gái đồng trinh sẽ vui mừng nhảy múa, các người trai trẻ và các ông già cũng sẽ vui chung; vì ta sẽ đổi sự sầu thảm chúng nó ra vui mừng, yên ủi chúng nó, khiến được hớn hở khỏi buồn rầu. 14.  Ta sẽ làm cho lòng các thầy tế lễ chán chê vì đồ ăn béo; dân ta sẽ no nê về ơn phước của ta, Đức Giê-hô-va phán vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15.  Đức Giê-hô-va phán như vầy: Tại Ra-ma nghe có tiếng than thở, khóc lóc đắng cay. Ra-chên khóc con cái mình, mà không chịu yên ủi về con cái mình, vì chúng nó không còn nữa! 16.  Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy nín tiếng ngươi, đừng than khóc, mắt ngươi đừng sa lụy, vì công việc của ngươi sẽ được thưởng; chúng nó sẽ trở về từ xứ kẻ thù, Đức Giê-hô-va phán vậy. 17.  Đức Giê-hô-va phán: Sẽ có sự trông mong cho kỳ sau rốt của ngươi; con cái ngươi sẽ trở về bờ cõi mình. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18.  Ta nghe Ép-ra-im vì mình than thở rằng: Ngài đã sửa phạt tôi, tôi bị sửa phạt như con bò tơ chưa quen ách. Xin Chúa cho tôi trở lại, thì tôi sẽ được trở lại; vì Chúa là Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi! 19.  Thật, sau khi tôi bị trở lại, tôi đã ăn năn; sau khi tôi được dạy dỗ, tôi đã vỗ đùi. Tôi nhuốc nhơ hổ thẹn, vì đã mang sự sỉ nhục của tuổi trẻ. 20.  Vậy thì Ép-ra-im há là con rất thiết của ta, là con mà ta ưa thích sao? Mỗi khi ta nói nghịch cùng nó, ta còn nhớ đến nó lắm. Cho nên ta đã động lòng vì nó; phải, ta sẽ thương xót nó, Đức Giê-hô-va phán vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21.  Hãy dựng nêu, đặt trụ chỉ lối; hãy để lòng về đường cái, nơi đường ngươi đã noi theo. Hỡi gái đồng trinh Y-sơ-ra-ên, hãy trở về các thành nầy thuộc về ngươi! 22.  Hỡi gái bội nghịch, ngươi sẽ đi dông dài cho đến chừng nào? Vì Đức Giê-hô-va đã dựng nên một sự mới trên đất: ấy là người nữ sẽ bao bọc người nam. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23.  Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Khi ta đã đem những phu tù trở về, thì trong đất Giu-đa và các thành nó, người ta sẽ còn nói lời nầy: Hỡi chỗ ở của sự công bình, núi của sự thánh khiết kia, nguyền xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi! 24.  Giu-đa cùng mọi thành nó, những người làm ruộng và những kẻ dẫn bầy sẽ ở chung tại đó. 25.  Vì ta đã làm cho lòng mệt mỏi được no nê, và mỗi lòng buồn rầu lại được đầy dẫy. 26.  Bấy giờ tôi thức dậy, thấy giấc ngủ tôi ngon lắm. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27.  Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lấy giống người và giống thú vật mà gieo nơi nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa. 28.  Như ta đã canh giữ chúng nó đặng nhổ, phá, đổ, diệt và làm khốn khổ thể nào, thì ta cũng sẽ canh giữ để dựng và trồng thể ấy, Đức Giê-hô-va phán vậy. 29.  Trong những ngày đó, người ta sẽ không còn nói: Ông cha ăn trái nho chua mà con cháu phải ghê răng. 30.  Nhưng mỗi người sẽ chết vì sự gian ác mình; hễ ai ăn trái nho chua, thì nấy phải ghê răng vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31.  Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa. 32.  Giao ước nầy sẽ không theo giao ước mà ta đã kết với tổ phụ chúng nó trong ngày ta nắm tay dắt ra khỏi đất Ê-díp-tô, tức giao ước mà chúng nó đã phá đi, dầu rằng ta làm chồng chúng nó, Đức Giê-hô-va phán vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
33.  Đức Giê-hô-va phán: Nầy là giao ước mà ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta. 34.  Chúng nó ai nấy sẽ chẳng dạy kẻ lân cận mình hay là anh em mình, mà rằng: Hãy nhận biết Đức Giê-hô-va! vì chúng nó thảy đều sẽ biết ta, kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa. 35.  Đức Giê-hô-va, là Đấng đã ban mặt trời làm sự sáng ban ngày, ban thứ tự mặt trăng và ngôi sao soi ban đêm, lật biển lên, đến nỗi sóng nó gầm thét, Đức Giê-hô-va vạn quân là danh của Ngài phán rằng: 36.  Nếu lệ luật đó mất đi khỏi trước mặt ta, thì bấy giờ dòng giống Y-sơ-ra-ên cũng sẽ thôi không làm một nước trước mặt ta đời đời, Đức Giê-hô-va phán vậy. 37.  Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu trên có thể đo được trời, dưới có thể dò được nền đất; thì cũng vậy, ta sẽ bỏ trọn cả dòng giống Y-sơ-ra-ên vì cớ mọi đều chúng nó đã làm, Đức Giê-hô-va phán vậy. &lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38.  Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, khi thành sẽ được xây lại cho Đức Giê-hô-va, từ tháp Ha-na-nê-ên cho đến cửa góc. 39. Dây đo sẽ giăng thẳng qua trên đồi Ga-rép, và vòng quanh đến đất Gô-a. 40.  Cả nơi trũng của thây chết và tro, hết thảy đồng ruộng cho đến khe Xết-rôn và đến góc cửa ngựa về phía đông, đều sẽ được biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, và đời đời sẽ không bị nhổ đi và đổ xuống nữa. &amp;lt;br/&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
:&amp;lt;html5media height=&amp;quot;520&amp;quot; width=&amp;quot;1280&amp;quot;&amp;gt;https://thuvientinlanh.org/audio/Bible/read/V02\B24\V02B24C031.mp3&amp;lt;/html5media&amp;gt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Bản Dịch 2011==&lt;br /&gt;
'''Những Người Bị Lưu Ðày Ðược Hồi Hương'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
1 Vào lúc đó, CHÚA phán,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ta sẽ là Ðức Chúa Trời của tất cả các gia tộc I-sơ-ra-ên, và chúng sẽ là dân Ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
2 CHÚA phán thế này,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Những kẻ thoát khỏi lưỡi gươm đã tìm được ân huệ trong đồng hoang;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta đã đến để ban cho I-sơ-ra-ên được nghỉ ngơi.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
3 CHÚA của thời xa xưa đã hiện ra với tôi phán bảo,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ta đã yêu thương ngươi bằng một tình yêu đời đời;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì thế Ta sẽ tiếp tục bày tỏ lòng thành tín của Ta đối với ngươi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
4 Ta sẽ xây dựng ngươi lại, và ngươi sẽ được xây dựng lại,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hỡi Trinh Nữ I-sơ-ra-ên!&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngươi sẽ trang điểm cho mình bằng những trống cơm,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và đi ra nhảy múa vũ điệu của những kẻ vui mừng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
5 Ngươi sẽ trồng các vườn nho trở lại trên các dãy núi ở Sa-ma-ri,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những kẻ trồng trọt sẽ trồng trọt trở lại, và chúng sẽ vui mừng hưởng hoa lợi mình.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
6 Vì sẽ có ngày những kẻ canh gác sẽ hô hào trong miền đồi núi Ép-ra-im rằng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
‘Hãy đến. Chúng ta hãy đi lên Si-ôn, đến với CHÚA,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðức Chúa Trời chúng ta.’”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
7 Vì CHÚA phán thế này,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Hãy lớn tiếng vui ca cho Gia-cốp,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Khá trỗi tiếng ca vang cho thủ lãnh các quốc gia.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy tuyên bố, hãy chúc tụng, và hãy nói,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
‘Lạy CHÚA, xin giải cứu dân Ngài, những người còn sót lại của I-sơ-ra-ên.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
8 Này, Ta sẽ đem chúng từ đất bắc trở về,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta sẽ gom nhóm chúng từ những miền xa xăm tận cùng trái đất.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong số chúng sẽ có những kẻ mù và kẻ què,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Có những kẻ tay bế con thơ và những kẻ chuyển bụng lâm bồn,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Chúng sẽ họp nhau thành một đoàn người đông đúc,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và chúng sẽ trở về đây.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
9 Chúng sẽ đến với nước mắt vui mừng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta sẽ dẫn chúng về giữa những lời cầu nguyện,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta sẽ dắt chúng đi dọc theo những dòng nước,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Trong một con đường bằng phẳng để chúng không vấp ngã;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì đối với I-sơ-ra-ên, Ta là cha,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và Ép-ra-im là con trưởng của Ta.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
10 Hỡi các quốc gia, hãy nghe lời của CHÚA,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy công bố về nó cho những ai ở các hải đảo xa xăm,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Rằng ‘Ðấng tung rải I-sơ-ra-ên ra sẽ gom nhóm nó về,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài sẽ chăn giữ nó như người chăn bầy chăn giữ đàn chiên.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
11 Vì CHÚA đã cứu chuộc Gia-cốp,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ngài đã chuộc mua nó khỏi tay những kẻ quá mạnh đối với nó.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
12 Chúng sẽ đến và reo mừng trên đỉnh Si-ôn,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Mặt mày ai nấy đều rạng rỡ vì lòng tốt của CHÚA;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nào lúa gạo, rượu, và dầu,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nào các con nhỏ của đàn chiên và đàn bò;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Linh hồn chúng vui thỏa như vườn được tưới nước,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và chúng sẽ không bao giờ sầu não nữa.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
13 Các thiếu nữ sẽ vui ca nhảy múa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Các thanh niên và các bô lão sẽ hớn hở vui mừng.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta sẽ biến nỗi sầu thảm của chúng thành niềm vui,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta sẽ an ủi chúng và làm cho chúng vui vẻ thay cho âu sầu.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
14 Ta sẽ cho linh hồn các tư tế của chúng no nê với thức ăn béo bổ,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Con dân Ta sẽ no thỏa với phước hạnh dồi dào của Ta,” CHÚA phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
15 CHÚA phán thế này,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Người ta nghe có tiếng ai oán ở Ra-ma,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tiếng than khóc và rên rỉ rất thê lương,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Tiếng Ra-chên than khóc các con nàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nàng từ chối không để ai an ủi nàng về các con nàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì chúng không còn nữa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
16 CHÚA phán thế này,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ðừng khóc nữa,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy lau khô giọt lệ trên mi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì những gì ngươi làm sẽ được ban thưởng,” CHÚA phán,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Chúng sẽ từ xứ của kẻ thù trở về.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
17 Tương lai ngươi sẽ tràn trề hy vọng,” CHÚA phán,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Con cái ngươi sẽ trở về lại đất nước của chúng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
18 “Thật vậy, Ta nghe có tiếng rên rỉ của Ép-ra-im:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
‘Ngài đã sửa phạt con, và con đã nhận sự sửa phạt;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Con vốn như con bò tơ chưa hề bị mang ách.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Xin đem con trở về, xin cho con được trở về,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì Ngài là CHÚA, Ðức Chúa Trời của con.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
19 Sau khi con bỏ đi, con đã ăn năn,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Sau khi con tỉnh ngộ, con đã tự đập lấy đùi mình;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Con cảm thấy xấu hổ và lấy làm hổ thẹn,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì phải mang lấy sự xấu hổ về những việc mình làm lúc tuổi thanh xuân.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
20 Ép-ra-im há chẳng phải là con trai yêu quý của Ta sao?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Nó chẳng phải là đứa con Ta yêu thích sao?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dù Ta thường phàn nàn về nó, Ta vẫn luôn nhớ thương nó khôn nguôi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Thật vậy lòng Ta bồi hồi xúc động vì nó;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Dĩ nhiên Ta sẽ bày tỏ lòng thương xót đối với nó,” CHÚA phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
21 “Ngươi hãy chuẩn bị các bảng chỉ đường cho sẵn sàng,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy làm cho mình các cột để dựng các bảng chỉ đường;&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy nghiên cứu kỹ đại lộ, tức con đường ngươi đã đi qua.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hỡi Trinh Nữ I-sơ-ra-ên, hãy trở về,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hãy trở về những nơi này, các thành của ngươi.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
22 Ngươi còn chần chừ bao lâu nữa, hỡi đứa con gái ngổ nghịch không vâng lời kia?&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Vì CHÚA đã làm một việc mới trên đất:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Một người đàn bà vây lấy một người đàn ông.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
''''''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
23 CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán thế này, “Những người sống trong xứ Giu-đa và trong các thành của nó sẽ sử dụng lại những lời chúc này khi Ta tái lập vận mạng của nó:&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
‘Cầu xin CHÚA ban phước cho ngươi,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hỡi nơi ở của sự công chính,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Hỡi núi thánh!’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
24 Giu-đa và các thành của nó sẽ sống với nhau trong xứ đó; các nông dân và những người du mục chăn các đàn súc vật của họ cũng làm vậy.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
25 Ta sẽ làm cho những kẻ mệt mỏi được phục hồi sức lực,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Những kẻ ngã lòng được bồi bổ tâm linh.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
26 Ðến đây tôi chợt thức giấc; tôi nhìn quanh và cảm thấy giấc ngủ của tôi thật êm đềm.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
27 “Này, những ngày đến,” CHÚA phán, “Ta sẽ gieo trong nhà Giu-đa và nhà I-sơ-ra-ên những hạt giống của loài người và những hạt giống của thú vật.  28 Giống như khi Ta trông coi việc nhổ chúng lên, đập tan chúng, lật đổ chúng, tiêu diệt chúng, và giáng họa cho chúng thể nào, Ta cũng sẽ trông coi việc xây dựng chúng và trồng chúng xuống trở lại thể ấy,” CHÚA phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Trách Nhiệm Cá Nhân'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
29 “Trong những ngày ấy chúng sẽ không còn nói, ‘Cha mẹ ăn nho chua, mà con cái bị ghê răng.’&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
30 Nhưng mỗi người sẽ chết vì tội của mình.  Kẻ nào ăn nho chua, kẻ ấy sẽ bị ghê răng.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giao Ước Mới'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
31 “Này, những ngày đến,” CHÚA phán, “Ta sẽ lập với nhà I-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa một giao ước mới.  32 Nó sẽ không như giao ước Ta đã lập với tổ tiên chúng trong ngày Ta nắm tay chúng đem chúng ra khỏi đất Ai-cập – đó là một giao ước mà chúng đã bội ước mặc dù đối với chúng, Ta là người chồng.” CHÚA phán.  33 “Nhưng đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà I-sơ-ra-ên sau những ngày ấy,” CHÚA phán, “Ta sẽ đặt luật pháp Ta trong tâm trí chúng.  Ta sẽ ghi chép nó vào lòng chúng.  Ta sẽ là Ðức Chúa Trời của chúng, và chúng sẽ là dân Ta.  34 Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau hay nói với nhau, ‘Hãy biết CHÚA,’ vì tất cả chúng đều biết Ta, từ kẻ nhỏ nhất cho đến người lớn nhất,” CHÚA phán, “Vì Ta sẽ tha thứ tội của chúng và sẽ không nhớ đến tội của chúng nữa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
35 CHÚA phán thế này,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Ðấng ban ánh sáng cho mặt trời ban ngày,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và ấn định trật tự của mặt trăng và các vì sao để tỏa sáng ban đêm,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ðấng khuấy động biển khơi cho ba đào gầm thét – CHÚA các đạo quân là danh Ngài.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
36 Khi nào các định luật ấn định cho các tinh tú bị chấm dứt trước mặt Ta,” CHÚA phán,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Bấy giờ dòng dõi của I-sơ-ra-ên mới vĩnh viễn không còn là một quốc gia trước mặt Ta.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
37 CHÚA phán thế này,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
“Nếu các từng trời trên không gian cao kia có thể được đo hết,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Và nếu tất cả các nền của trái đất bên dưới có thể được dò thấu,&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
Ta sẽ bằng lòng loại bỏ tất cả dòng dõi I-sơ-ra-ên, vì mọi điều chúng đã làm,” CHÚA phán.&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
'''Giê-ru-sa-lem Ðược Nới Rộng'''&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
38 “Này, những ngày đến,” CHÚA phán, “kinh thành sẽ được xây dựng lại cho CHÚA, từ Tháp Ha-na-nên cho đến Cổng Góc.  39 Dây đo sẽ kéo ra xa hơn, chạy thẳng đến Ðồi Ga-rếp, rồi quay về hướng Gô-a.  40 Toàn thể thung lũng dành để chôn các tử thi và đổ tro hỏa táng, tất cả các cánh đồng chạy dài đến Khe Kít-rôn, đến góc của Cổng Ngựa về hướng đông, sẽ được biệt riêng ra thánh cho CHÚA.  Thành ấy sẽ không bao giờ bị nhổ lên hay bị lật đổ nữa.”&lt;br /&gt;
&lt;br /&gt;
==Tài Liệu==&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 1925 - Thánh Kinh Hội Anh Quốc và Hải Ngoại&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch 2011 - Mục sư Đặng Ngọc Báu&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Việt Ngữ - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Đại Chúng - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Kinh Thánh]] - Bản Dịch Ngữ Căn - Thư Viện Tin Lành&lt;br /&gt;
:* [[Ê-sai]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 30]]&lt;br /&gt;
:* [[Giê-rê-mi: Chương 32]]&lt;br /&gt;
:* [[Bách Khoa Từ Điển Tin Lành]]&lt;/div&gt;</summary>
		<author><name>Admin</name></author>
		
	</entry>
</feed>